1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Người giúp sức trong đồng phạm theo luật hình sự Việt Nam (Trên cơ sở nghiên cứu thực tiễn địa bàn thành phố Hà Nội)

26 409 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 26
Dung lượng 671,62 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

59 Chương 3: HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VÀ NHỮNG GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ ÁP DỤNG CÁC QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM NĂM 1999 VỀ NGƯỜI GIÚP SỨC TRONG ĐỒNG PHẠM .... Những giải pháp

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

Lấ THỊ LOAN

NGƯờI GIúP SứC TRONG ĐồNG PHạM THEO LUậT HìNH Sự VIệT NAM

(Trên cơ sở nghiên cứu thực tiễn địa bàn Thành phố Hà Nội)

Chuyờn ngành: Luật hỡnh sự

Mó số: 60 38 40

TểM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI - 2014

Trang 2

Công trình được hoàn thành tại Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội

Cán bộ hướng dẫn khoa học: GS TSKH LÊ VĂN CẢM

Phản biện 1:

Phản biện 2:

Luận văn được bảo vệ tại Hội đồng chấm luận văn, họp tại

Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội

Vào hồi giờ , ngày tháng năm 2014

Có thể tìm hiểu luận văn tại

Trung tâm tư liệu Khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội Trung tâm Thông tin – Thư viện, Đại học Quốc gia Hà Nội

Trang 3

MỤC LỤC CỦA LUẬN VĂN

Trang

Trang phụ bìa

Lời cam đoan

Mục lục

Danh mục chữ viết tắt

Danh mục bảng

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ NGƯỜI GIÚP SỨC TRONG ĐỒNG PHẠM THEO LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM 9

1.1 Khái niệm đồng phạm và các hình thức đồng phạm 9

1.1.1 Khái niệm đồng phạm 9

1.1.2 Các hình thức đồng phạm 12

1.2 Khái niệm người giúp sức trong đồng phạm và ý nghĩa của việc xác định đúng vai trò người giúp sức trong đồng phạm 18

1.2.1 Khái niệm người giúp sức trong đồng phạm trong Luật hình sự Việt Nam 18

1.2.2 Ý nghĩa của việc xác định đúng vai trò của người giúp sức trong đồng phạm 20

1.2.3 Phân biệt người giúp sức với những đồng phạm khác 22

1.3 Người giúp sức theo quy định trong Bộ luật hình sự một số nước trên thế giới 27

Chương 2: NGƯỜI GIÚP SỨC THEO CÁC QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM NĂM 1999 VÀ THỰC TIỄN XÉT XỬ CÁC VỤ ÁN ĐỒNG PHẠM CÓ LIÊN QUAN ĐẾN NGƯỜI GIÚP SỨC TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI 29

2.1 Người giúp sức theo các quy định của Bộ luật hình sự Việt Nam năm 1999 29

2.1.1 Các dấu hiệu pháp lý hình sự 29

2.1.2 Trách nhiệm hình sự đối với người giúp sức trong đồng phạm 47

2.2 Thực tiễn áp dụng các quy định về người giúp sức trong đồng phạm trên địa bàn thành phố Hà Nội 55

2.2.1 Một số đặc điểm về tình hình chính trị - quốc phòng, kinh tế - xã hội, văn hóa của địa bàn thành phố Hà Nội 55

Trang 4

2.2.2 Tình hình xét xử người giúp sức trong đồng phạm trên địa bàn

thành phố Hà Nội và những tồn tại, hạn chế 56 2.2.3 Nguyên nhân cơ bản của những tồn tại, hạn chế trong thực tiễn

xét xử người giúp sức trong đồng phạm 59

Chương 3: HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VÀ NHỮNG GIẢI

PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ ÁP DỤNG CÁC QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM NĂM 1999

VỀ NGƯỜI GIÚP SỨC TRONG ĐỒNG PHẠM 62 3.1 Sự cần thiết, ý nghĩa và cơ sở của việc hoàn thiện các quy

định của Bộ luật hình sự Việt Nam năm 1999 về người giúp sức trong đồng phạm 62

3.1.1 Sự cần thiết của việc hoàn thiện các quy định của Bộ luật hình

sự Việt Nam năm 1999 về người giúp sức trong đồng phạm 62 3.1.2 Ý nghĩa của việc hoàn thiện các quy định của Bộ luật hình sự

Việt Nam năm 1999 về người giúp sức trong đồng phạm 63 3.1.3 Cơ sở của việc hoàn thiện các quy định của Bộ luật hình sự

Việt Nam năm 1999 về người giúp sức trong đồng phạm 63

3.2 Nội dung hoàn thiện các quy định của Bộ luật hình sự việt

Nam năm 1999 về người giúp sức trong đồng phạm 64

3.2.1 Nhận xét chung 64 3.2.2 Nội dung sửa đổi, bổ sung 66

3.3 Những giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng các quy định

của Bộ luật hình sự Việt Nam năm 1999 về người giúp sức trong đồng phạm 70

3.3.1 Về mặt lập pháp 70 3.3.2 Tăng cường giải thích pháp luật, hướng dẫn áp dụng pháp luật 71 3.3.3 Nâng cao năng lực, trình độ chuyên môn nghiệp vụ, ý thức

pháp luật và trách nhiệm nghề nghiệp của đội ngũ thẩm phán Tòa án các cấp 72 3.3.4 Tăng cường kiểm sát việc áp dụng pháp luật hình sự liên quan

đến những loại người đồng phạm của Viện kiểm sát nhân dân 73

KẾT LUẬN 74 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 76

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu

Tội phạm có tổ chức ngày càng phát triển và trở lên nguy hiểm, mang yếu tố quốc tế, có tổ chức, xuyên quốc gia và sử dụng công nghệ cao Thủ đoạn hoạt động tinh vi, phương thức hoạt động xảo quyệt, manh động, liều lĩnh Tội phạm hình sự có tổ chức, băng nhóm “xã hội đen” gây

án nghiêm trọng, băng nhóm tội phạm ma túy có vũ trang ở khu vực biên giới, tội phạm tham nhũng và tội phạm kinh tế trong lĩnh vực tài chính - ngân hàng, đầu tư, quản lý, sử dụng đất đai và thương mại, tội phạm và vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường vẫn hết sức nhức nhối Xu hướng tội phạm cấu kết với nhau hình thành các tập đoàn tội phạm lớn hoạt động đa lĩnh vực, liên tỉnh, xuyên quốc gia, nếu không được đấu tranh ngăn chặn,

có thể trở thành hiện thực Tội phạm do suy thoái đạo đức xã hội, đạo đức gia đình có xu hướng gia tăng, trực tiếp đe dọa phá vỡ nền tảng đạo đức, văn hóa của xã hội

Trong đề tài này, tác giả đi sâu nghiên cứu"người giúp sức trong đồng phạm".Tác giả phân tích, khái quát lịch sự hình thành và phát triển của luật hình sự Việt Nam từ năm 1945 đến nay và thực tiễn xét xử các vụ án có đồng phạm ở thành phố Hà Nội trong giai đoạn (2009 - 2013) để trên cơ sở

đó, tìm giải pháp hoàn thiện hệ thống pháp luật hình sự và giải pháp về mặt thực tiễn nhằm góp phần phòng, chống các tội phạm có đồng phạm, bảo đảm an ninh trật tự, an toàn xã hội Đây cũng là lý do để học viên quyết

định lựa chọn đề tài: "Người giúp sức trong đồng phạm theo luật hình sự

Việt Nam (Trên cơ sở nghiên cứu thực tiễn địa bàn thành phố Hà Nội)"

làm đề tài luận văn của mình

2 Tình hình nghiên cứu

Dưới góc độ khoa học pháp lý, trong thời gian qua việc nghiên cứu

về đồng phạm đã thu hút được sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu lý luận, luật gia hình sự và cán bộ thực tiễn Đến nay, đã có nhiều công trình nghiên cứu được công bố dưới các góc độ và mức độ khác nhau như:

* Dưới góc độ luận án tiễn sĩ, luận văn thạc sĩ luật học, có các công trình sau: “Đồng phạm trong Luật hình sự Việt Nam” của tác giả Trần

Trang 6

Quang Tiệp, Luận án Tiến sĩ Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội năm 2000; “Các hình thức đồng phạm trong Luật hình sự Việt Nam”của tác giả Nguyễn Thị Liên, Luận văn thạc sỹ luật học năm 2009 của Khoa Luật

Trường Đại học Quốc gia Hà Nội; “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về những loại người đồng phạm trong luật hình sự Việt Nam” của tác giả Mai Lan Ngọc, luận văn thạc sỹ luật học năm 2012, Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội

* Dưới góc độ đề tài khoa học, bài viết trên báo, tạp chí, có nhiều

công trình, bài viết như: “Về chế định đồng phạm” của GS.TSKH Lê Văn Cảm, Tạp chí Tòa án nhân dân, số 2 năm 1998; “Trần Quốc Dũng phạm

tội gỉ? Bàn về giai đoạn phạm tội và vấn đề cộng phạm” của tác giả

Nguyễn Ngọc Hòa, Tạp chí Tòa án nhân dân, số 2 năm 1980; “Đồng

phạm và một số vấn đề về thực tiễn xét xử” của tác giả Đoàn Văn Hường,

Tạp chí Tòa án nhân dân, số 4 năm 2003; “Vấn đề đồng phạm” của tác giả Đặng Văn Doãn, Nhà xuất bản Pháp lý Hà Nội năm 1986; “Đồng

phạm trong Luật hình sự Việt Nam” của TS Trần Quang Tiệp, Tạp chí

nhà xuất bản Tư pháp năm 2007; “Chế định đồng phạm trong pháp luật

hình sự ở một số nước trên thế giới”của tác giả Trần Quang Tiệp; Tạp chí

Nhà nước và pháp luật số 11 năm 1997; “Về các giai đoạn thực hiện hành

vi đồng phạm” Của tác giả Lê Thị Sơn, Tạp chí Luật học, số 3 năm 1998; Phạm tội có giúp sức trong luật hình sự Việt Nam - Một số vấn đề lý luận

và thực tiễn” của tác giả Nguyễn Trung Thành, Tạp chí Nhà nước và

pháp luật, số 9 năm 1999; “Phân biệt đồng phạm với che dấu tội phạm và

không tố giác tội phạm” của tác giả Dương Văn Tiến, Tạp chí Nhà nước

và pháp luật, số 1 năm 1985; “Các hình thức đồng phạm và trách nhiệm

hình sự của những người đồng phạm” của tác giả Dương Văn Tiến, Tạp

chí Nhà nước và pháp luật, số 1 năm 1986; “Phân biệt phạm tội có giúp

sức, giúp sức phạm tội và tội phạm có giúp sức” của tác giả Đỗ Ngọc

Quang, Tạp chí Luật học, số 3 năm 1997; „Bình luận khoa học BLHS năm

1999 (Phần chung) của tác giả Đinh Văn Quế, Nhà xuất bản Thành phố

hồ Chí Minh, năm 2004;

Như vậy, các công trình nghiên cứu nói trên đã đề cập đến vấn đề về Người giúp sức trong đồng phạm trong Luật hình sự Việt Nam Tuy nhiên,

Trang 7

về phương diện nghiên cứu lý luận chuyên sâu và thực tiễn xét xử trên một địa bàn cụ thể thì vẫn chưa được quan tâm một cách đúng mức

Vì lý do đó, đề tài "Người giúp sức trong đồng phạm theo Luật hình

sự Việt Nam (Trên cơ sở nghiên cứu thực tiễn địa bàn thành phố Hà Nội)" nhằm nghiên cứu các dấu hiệu pháp lý hình sự và hình phạt, lý giải

nguyên nhân phạm tội, những đặc điểm nhân thân người phạm tội Ở phạm

vi luận văn này, tác giả nghiên cứu dựa trên thực tiễn tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xét xử vụ án có người giúp sức trong đồng phạm, giai đoạn 05 năm (2009 - 2013) để từ đó đưa ra các biện pháp hoàn thiện quy định của BLHS, đồng thời nâng cao hiệu quả đấu tranh phòng chống tội phạm trên địa bàn thành phố Hà Nội

3 Mục đích và đối tượng nghiên cứu của luận văn

3.1 Mục đích nghiên cứu

Luận văn nghiên cứu một cách tương đối có hệ thống về những vấn

đề pháp lý cơ bản của người giúp sức trong đồng phạm như: Khái niệm; các dấu hiệu pháp lý; trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội; phân biệt người giúp sức với các hình thức đồng phạm khác Trên cơ sở đó, luận chỉ ra một số vướng mắc, tồn tại trong xác định vai trò người giúp sức tham gia đồng phạm, cũng như xác định trách nhiệm hình sự của họ để đề xuất một số kiến nghị, giải pháp hoàn thiện pháp luật và những giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng các quy định của BLHS Việt Nam về xử lý đối tượng này

3.2 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn đúng như tên gọi của đề tài:

"Người giúp sức trong đồng phạm theo Luật hình sự Việt Nam (Trên cơ

sở nghiên cứu thực tiễn địa bàn thành phố Hà Nội)"

Đối tượng nghiên cứu của luận văn được các định gồm 02 vấn đề chính:

- Các vấn đề lý luận về người giúp sức trong chế định đồng phạm theo quy định của Luật hình sự Việt Nam

- Các vấn đề về thực tiễn áp dụng các quy định đối với người giúp sức trong vụ án có đồng phạm theo quy định của Luật hình sự Việt Nam (trên địa bàn thành phố Hà Nội từ năm 2009 đến năm 2013)

Trang 8

4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

Luận văn được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lenin, tư tưởng Hồ Chí Minh và những chủ trương, đường lối của Đảng, Nhà nước ta về đấu tranh phòng, chống tội phạm

Quá trình nghiên cứu trong đề tài còn sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể như: phân tích, tổng hợp và thống kê xã hội học; phương pháp so sánh, đối chiếu; phân tích thuần túy quy phạm pháp luật; nghiên cứu, điều tra án điển hình để phân tích và luận chứng các vấn đề khoa học cần nghiên cứu trong luận văn này Trong quá trình thực hiện đề tài luận văn, học viên đã tiếp thu có chọn lọc kết quả của các công trình đã công bố; các đánh giá, tổng kết của các cơ quan chuyên môn và các chuyên gia về những vấn đề có liên quan đến các vấn đề nghiên cứu trong luận văn

5 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài

Dưới góc độ lý luận, kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần hoàn thiện lý luận về chế định đồng phạm trong khoa học Luật hình sự Việt Nam Cụ thể, đã làm rõ các vấn đề chung về người giúp sức trong đồng phạm trong Luật hình sự Việt Nam, phân tích khái quát lịch sử hình thành

và phát triển của các quy định pháp luật hình sự nước ta về người giúp sức trong đồng phạm từ năm 1945 đến nay, phân biệt hình thức đồng phạm này với một số hình thức đồng phạm khác mà hiện nay thường có sự nhầm lẫn trong thực tiễn; làm sáng tỏ chế định đồng phạm quy định của Bộ luật hình sự năm 1999; phân tích thông qua nghiên cứu thực tiễn xét xử trên địa bàn thành phố Hà Nội từ năm 2009 đến năm 2013 và trên toàn quốc để

so sánh, qua đó chỉ ra những mâu thuẫn, bất cập của các quy định hiện hành; chỉ ra các sai sót trong quá trình áp dụng các quy định đó cũng như đưa ra nguyên nhân để tìm giải pháp khắc phục, nâng cao hiệu quả áp dụng các quy định của Bộ luật hình sự về người giúp sức trong chế định đồng phạm ở khía cạnh lập pháp và việc áp dụng trong thực tiễn

Về thực tiễn, luận văn còn có ý nghĩa làm tài liệu tham khảo lý luận,

có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo, nghiên cứu, học tập Những đề xuất, kiến nghị của luận văn sẽ cung cấp những luận cứ khoa học phục vụ cho công tác lập pháp và hoạt động thực tiễn áp dụng Bộ luật hình sự (BLHS) Việt Nam liên quan đến việc xác định người giúp sức trong đồng phạm,

Trang 9

qua đó góp phần nâng cao hiệu quả công tác đấu tranh phòng, chống các tội phạm có sự tham gia của người giúp sức hiện nay và sắp tới

6 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn bao gồm 3 chương như sau:

Chương 1: Một số vấn đề lý luận về người giúp sức trong đồng

phạm theo Luật hình sự Việt Nam

Chương 2: Người giúp sức theo quy định của Bộ luật hình sự Việt

Nam năm 1999 và thực tiễn xét xử các vụ án đồng phạm

có liên quan đến người giúp sức trên địa bàn Thành phố

Hà Nội (giai đoạn từ năm 1995 đến năm 2013)

Chương 3: Hoàn thiện pháp luật và những giải pháp nâng cao hiệu

quả áp dụng các quy định của Bộ luật hình sự Việt Nam năm 1999 về các vụ án đồng phạm có liên quan đến người giúp sức

Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ NGƯỜI GIÚP SỨC

TRONG ĐỒNG PHẠM THEO LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM 1.1 Khái niệm đồng phạm và các hình thức đồng phạm

1.1.1 Khái niệm đồng phạm

Luật hình sự các nước trên thế giới đều có quy định về đồng phạm Bộ luật sự của nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa 1979 tại Điều 22 quy định:

“Hai hay nhiều người cố ý cùng thực hiện một tội phạm là đồng phạm” Theo

Điều 33 Bộ luật hình sự của Liên Bang Nga cũng có quy định: “Hai hay

nhiều người cùng cố ý thực hiện một tội cố ý là đồng phạm” Pháp luật

hình sự của các nước trên thế giới có những quy định rất đa dạng về đồng phạm Nhưng điều mà chúng ta quan tâm hơn cả đó chính là những quy định trong pháp luật hình sự Việt Nam về trường hợp nhiều người cùng tham gia vụ đồng phạm

Trang 10

1.1.2 Các hình thức đồng phạm

 Đồng phạm không có thông mưu trước

Hình thức này được hiểu như sau: “Đồng phạm không có thông mưu

trước là hình thức đồng phạm trong đó không có sự thoả thuận bàn bạc với nhau trước giữa những người đồng phạm hoặc là có sự thoả thuận nhưng không đáng kể"

 Đồng phạm có thông mưu trước

“Đồng phạm có thông mưu trước là hình thức đồng phạm trong đó những người đồng phạm đã có sự thoả thuận bàn bạc trước với nhau về tội phạm cùng thực hiện”

 Phân loại theo dấu hiệu khách quan

Dựa vào những đặc điểm về mặt khách quan có thể chia đồng phạm thành hai loại là đồng phạm giản đơn và đồng phạm phức tạp

 Đồng phạm phức tạp

“Đồng phạm phức tạp là hình thức đồng phạm trong đó có một hoặc một số người tham gia giữ vai trò là người thực hành, còn những người khác giữ vai trò xúi giục, tổ chức hay giúp sức”

Trong đồng phạm phức tạp giữa những người đồng phạm có sự bàn bạc trước về kế hoạch phạm tội và giữa những người đồng phạm cũng có

sự phân công vai trò, điều này tạo nên mối liên hệ tương đối chặt chẽ ở họ

Ở hình thức đồng phạm này không chỉ có người thực hành thực hiện hành

vi được mô tả trong CTTP mà còn có hành vi của người tổ chức, người xúi giục hay người giúp sức

Trang 11

 Phạm tội có tổ chức

Phạm tội có tổ chức là hình thức đồng phạm đặc biệt mà định nghĩa pháp lý của nó đã được các nhà làm luật nước ta ghi nhận trong pháp luật hình sự hiện hành tại Khoản 3 Điều 20 BLHS năm 1999 sửa đổi bổ sung:

“Phạm tội có tổ chức là trường hợp đồng phạm có sự cấu kết chặt chẽ giữa những người cùng thực hiện tội phạm”

Trong đồng phạm có tổ chức, giữa những người đồng phạm vừa có

sự liên kết chặt chẽ với nhau vừa có sự phân hoá vai trò, phân công nhiệm

vụ tương đối rõ rệt, cụ thể Chúng ta có thể xác định đồng phạm có tổ chức dựa vào các đặc điểm của nó như sau:

1.2 Khái niệm người giúp sức trong đồng phạm và ý nghĩa của

việc xác định đúng vai trò người giúp sức trong đồng phạm

1.2.1 Khái niệm người giúp sức trong đồng phạm trong Luật hình

sự Việt Nam

Theo Th.S Mai Lan Ngọc thì “thuật ngữ người giúp sức đã sớm

được đề cập và nhắc tới trong lịch sử lập pháp hình sự nước ta cho đến trước pháp điển hóa lần thứ nhất BLHS năm 1985 với các tên gọi khác như: tòng phạm, người giúp sức”

Theo quy định tại khoản 2 Điều 17 BLHS năm 1985 và khoản 2 Điều

20 BLHS 1999 sửa đổi bổ sung thì “Người giúp sức là người tạo những

điều kiện tinh thần hoặc vật chất cho việc thực hiện tội phạm”

1.2.2 Ý nghĩa của việc xác định đúng vai trò của người giúp sức trong đồng phạm

Người giúp sức là một trong những loại người đồng phạm vì thế việc xác định đúng vai trò của người giúp sức trong đồng phạm là cơ sở quan trọng trong việc định tội danh và trách nhiệm hình sự Và để hiểu hết dược vai trò của người giúp sức tác giả hướng tới việc tìm hiểu về đồng phạm nói chung

1.2.3 Phân biệt người giúp sức với những đồng phạm khác

Để đưa ra được những tiêu chí phân biệt người giúp sức với những người đồng phạm khác, trong phần này tác giả trình bày về các loại người trong đồng phạm:

Trang 12

1.2.3.1 Các loại người đồng phạm

Người thực hành, người tổ chức, người xúi giục, người giúp sức đều

là người đồng phạm Hành vi của những người đồng phạm khác như: người tổ chức, người xúi giục, người giúp sức có sự liên kết thống nhất với hành vi của người thực hành cả về mặt khách quan, chủ quan và tạo thành một hoạt động phạm tội chung có mối quan hệ nhân quả với hậu quả phạm tội Cơ sở để phân biệt người thực hành với người tổ chức, người xúi giục, người giúp sức là tính chất sự tham gia của họ vào việc thực hiện tội phạm

* Người giúp sức

Khoản 2 Điều 20 BLHS 1999 quy định: “Người giúp sức là người

tạo điều kiện tinh thần hay vật chất cho việc thực hiện tội phạm”

- Giúp sức về tinh thần: có thể là những hành vi cung cấp những gì tuy

không có tính vật chất nhưng cũng tạo ra cho người thực hành thực hiện tội phạm được thuận lợi hơn như: Chỉ dẫn, góp ý kiến, cung cấp tình hình

- Giúp sức về vật chất: là hành vi cung cấp công cụ, phương tiện

phạm tội, khắc phục những trở ngại để người thực hành thực hiện tội phạm được một cách thuận lợi và dễ dàng hơn

1.2.3.2 Phân biệt người giúp sức với các loại người khác trong đồng phạm

* Sự giống nhau:

- Người giúp sức và những người đồng phạm khác đều có chung ý chí thực hiện tội phạm

- Người giúp sức và mỗi người đồng phạm đều có những hành động

cụ thể nhằm mục đích chung là thực hiện tội phạm

- Họ đều phải chịu trách nhiệm về hậu quả chung mà họ và đồng phạm gây ra

* Sự khác biệt:

- Hành vi của người giúp sức khác với lại hành vi của người thực

hành và người xúi giục ở chỗ là: hành vi của người giúp sức có thể là trực tiếp hoặc gián tiếp, tuy nhiên hành vi của người thực hành và người xúi giục bắt buộc phải là trực tiếp

1.3 Người giúp sức theo quy định trong Bộ luật hình sự một số nước trên thế giới

Theo Điều 33 Bộ luật hình sự của Liên Bang Nga cũng có quy định:

Trang 13

“Hai hay nhiều người cùng cố ý thực hiện một tội cố ý là đồng phạm” Pháp

luật hình sự của các nước trên thế giới có những quy định rất đa dạng về đồng phạm Nhưng chỉ có một số ít các quốc gia trong đó có Việt nam quy định về các loại người đồng phạm và người thực hành trong đồng phạm

Trong luật hình sự của CHLB Đức, nhà làm luật không ghi nhận các định nghĩa pháp lý của các khái niệm đồng phạm, các loại người đồng phạm và các hình thức đồng phạm, mà chỉ quy định việc trừng phạt về hình sự hành vi thực hành, xúi giục, giúp sức và phạm tội chưa đạt trong

đồng phạm Về người thực hành điều 47 quy định: “Nhiều người thực hiện

một hành vi phạm tội, mỗi người trong số họ sẽ bị trừng phạt với vai trò người thực hành”

Chương 2 NGƯỜI GIÚP SỨC THEO CÁC QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM NĂM 1999 VÀ THỰC TIỄN XÉT XỬ CÁC

VỤ ÁN ĐỒNG PHẠM CÓ LIÊN QUAN ĐẾN NGƯỜI GIÚP SỨC

TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI

2.1 Người giúp sức theo các quy định của Bộ luật hình sự Việt Nam năm 1999

2.1.1 Các dấu hiệu pháp lý hình sự

2.1.1.1 Về mặt khách quan của đồng phạm:

Dấu hiệu thứ nhất thuộc mặt khách quan của đồng phạm đòi hỏi phải

có ít nhất hai người trở lên có đủ điều kiện chủ thể tham gia thực hiện một tội phạm độc lập

Nói hai người trở lên là nói về những người có hành vi nguy hiểm cho xã hội đến một mức độ nhất định nào đó cùng thực hiện một tội phạm

Theo TSKH.PGS Lê Cảm thì “Phải có sự cùng tham gia của từ hai người

trở lên vào việc thực hiện tội phạm (nói như vậy mới đảm bảo sự chính xác

vì nếu nói là “cùng thực hiện” thì có nghĩa là mới chỉ đề cập tới hành vi của một loại người đồng phạm – người thực hành mà thôi)”

- Quan điểm thứ nhất cho rằng, Hoàng Tiến H phạm tội không tố

giác tội phạm theo Điều 314 Bộ luật Hình sự

Ngày đăng: 23/10/2016, 21:15

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm