Còn đối với những tội danh khác, để tránh sự nhầm lẫn trong việc xác định t- cách của ng-ời bị hại với ng-ời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án th-ờng căn cứ vào mối quan hệ nhân
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
Ng-êi h-íng dÉn khoa häc: TS NguyÔn Ngäc ChÝ
Trang 2mục lục
Lời cam đoan
Danh mục các chữ viết tắt
Ch-ơng 1: Những vấn đề lý luận về ng-ời bị hại trong tố tụng
hình sự Việt Nam
6
1.2 Phân biệt khái niệm ng-ời bị hại với một số khái niệm có liên quan 11
1.2.2 Phân biệt khái niệm ng-ời bị hại với đối t-ợng tác động của tội phạm 12
1.2.3 Phân biệt khái niệm ng-ời bị hại với ng-ời có quyền, nghĩa vụ liên quan 12
1.4.2 Ng-ời bị hại trong luật tố tụng hình sự Cộng hoà Liên bang Nga 26
1.4.3 Ng-ời bị hại Trong luật tố tụng hình sự Cộng hoà nhân dân Trung Hoa 30
Ch-ơng 2: Những quy định của pháp luật tố tụng hình sự Việt
Nam về ng-ời bị hại và thực trạng tham gia tố tụng hình sự
của ng-ời bị hại những năm gần đây
32
2.1 Quy định của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam về ng-ời bị hại 32
2.1.1 Quy định của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam về ng-ời bị hại từ năm 1945 đến tr-ớc
năm 2003
32 2.1.2 Quy định của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam về ng-ời bị hại từ năm 2003 đến nay 37
2.2 Thực tiễn và những v-ớng mắc tham gia tố tụng hình sự của ng-ời bị hại trong những năm
gần đây
45
2.2.1 Tình hình thụ lý giải quyết các vụ án hình sự của Toà án trong những năm gần đây 45
2.2.2 Thực tiễn và những v-ớng mắc tham gia TTHS của ng-ời bị hại trong những năm gần đây 49
Ch-ơng 3: Hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự về ng-ời bị hại
và những giải pháp đảm bảo sự tham gia có hiệu quả của
ng-ời bị hại trong quá trình giải quyết vụ án
68
3.2 Những giải pháp đảm bảo sự tham gia có hiệu quả của ng-ời bị hại trong quá trình giải
Luật TTHS Việt nam coi ng-ời bị hại là con ng-ời cụ thể bị hành
vi trực tiếp xâm hại về thể chất, tinh thần hoặc tài sản Pháp luật một số n-ớc cũng có quy định chỉ coi ng-ời bị hại là con ng-ời cụ thể bị tội phạm gây thiệt hại về thể chất, tinh thần tài sản, chẳng hạn khoản 1
điều 43 BLTTHS của Tiệp Khắc trước đây quy định: “người bị hại là ng-ời bị tội phạm gây thiệt hại về sức khoẻ hoặc tài sản, tinh thần hoặc những thiệt hại khác” BLTTHS Rumani cũng có quy định t-ơng tự Một số n-ớc cũng quy định ng-ời bị hại là cá nhân, hoặc pháp nhân, tổ chức mà quyền mà lợi ích hợp pháp bị xâm hại nh- tại khoản 1 Điều
40 BLTTHS Ba Lan quy định ng-ời bị hại là ng-ời hoặc pháp nhân mà lợi ích hợp pháp của họ bị hậu quả của tội phạm trực tiếp xâm hại hoặc
bị đe doạ Điều 53 BLTTHS Hungari cũng có quan điểm t-ơng tự hay tại khoản 1 điều 42 BLTTHS Liên bang Nga thì ng-ời bị hại là thể nhân, bị thiệt hại về thể chất tinh thần, tài sản do tội phạm gây ra, cũng nh- pháp nhân trong tr-ờng hợp bị thiệt hại về tài sản và uy tín do tội phạm gây ra
Theo quan điểm của chúng tôi là ngoài cá nhân là ng-ời bị hại, trong tr-ờng hợp tổ chức, pháp nhân bị tội phạm trực tiếp gây thiệt hại thì phải xem tổ chức hoặc pháp nhân đó là ng-ời bị hại Cần quan niệm khái niệm ng-ời bị hại theo nghĩa rộng của từ này Những ng-ời theo quan điểm này cho rằng trong thực tế hành vi phạm tội không chỉ gây thiệt hại cho cá nhân mà hành vi phạm tội trong thực tế còn nhằm đến
để gây thiệt hại cho cơ quan, tổ chức Thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra cho cơ quan, tổ chức là rất đa dạng, không thuần tuý là thiệt hại
về tài sản Trong thực tế, tổ chức, pháp nhân có thể bị thiệt hại về vật
Trang 3chất và tinh thần, chẳng hạn nh- một doanh nghiệp bị giả mạo về
th-ơng hiệu, bị vu không làm mất uy tín trong kinh doanh
Để xác định ng-ời bị hại thì thiệt hại mà tội phạm gây ra phải là
thiệt hại trực tiếp Điều đó thể hiện: thể chất, tinh thần hoặc tài sản
phải là đối t-ợng của sự xâm hại Nếu đối t-ợng tác động tác động
ch-a bị xâm hại thì không có thiệt hại xảy ra Đã không có thiệt hại
xảy ra thì không có ng-ời bị hại Nh-ng thiệt hại xảy ra phải là hậu
quả của hành vi phạm tội thì mới đ-ợc coi là thiệt hại trực tiếp Trong
tr-ờng hợp này sự thiệt hại gây ra cho ng-ời bị hại phải là những thiệt
hại cụ thể, thiệt hại đó phải có tính hiện tại và xác định; sự thiệt hại
không thể không cụ thể, ch-a xác định, hoặc có tính chất mơ hồ, ch-a
hoặc sắp xảy ra Sự thiệt hại đó phải là trực tiếp do chính tội phạm gây
ra, thiệt hại có mối liên hệ nhân quả với hành vi phạm tội Điều cơ bản
khi xác định thiệt hại của ng-ời bị hại là sự thiệt hại do một tội phạm
đ-ợc luật hình sự quy định, xâm hại đến quyền, lợi ích hợp pháp và
chính đáng của ng-ời bị thiệt hại, các quyền đ-ợc pháp luật bảo vệ
Đồng thời sự thiệt hại mà ng-ời bị hại phải gánh chịu không phải có
nguồn gốc từ hành vi không phù hợp pháp luật của ng-ời bị thiệt hại
Điều này cũng đồng nghĩa với việc không chấp nhận quan điểm cho
rằng thiệt hại do tội phạm gây ra cũng là thiệt hại gián tiếp, thiệt hại đó
có thể không có mối liên hệ nhân quả với hành vi phạm tội
Ng-ời bị thiệt hại về thể chất, tinh thần, tài sản do tội phạm gây ra
nh-ng phải đ-ợc CQTHTT xác định là ng-ời bị hại thì ng-ời đó mới
đ-ợc coi là ng-ời bị hại
Từ những phân tích trên theo quan điểm của tôi có thể đ-a ra khái
niệm về ng-ời bị hại là: “Người bị hại là cá nhân hoặc cơ quan, tổ chức
bị thiệt hại về thể chất, tinh thần, tài sản do tội phạm gây ra đ-ợc
CQTHTT công nhận”
Khái niệm này bao hàm các đặc điểm của ng-ời bị hại nh- sau:
- Thứ nhất, về chủ thể, ng-ời bị hại là cá nhân, pháp nhân, cơ quan Nhà n-ớc hoặc tổ chức khác;
- Thứ hai, thiệt hại do tội phạm gây ra có thể là thiệt hại về vật chất, thiệt hại về tinh thần, thiệt hại về vật chất Tuy nhiên, cần l-u ý hậu quả của sự thiệt hại không phải là điều kiện bắt buộc trong các tr-ờng hợp
- Thứ ba, thiệt hại của ng-ời bị hại phải là đối t-ợng tác động của tội phạm, tức là phải có liên hệ nhân quả giữa hành vi phạm tội với hậu quả gây ra cho ng-ời bị hại
- Thứ t-, ng-ời bị thiệt hại chỉ đ-ợc tham gia tố tụng với t- cách là ng-ời bị hại khi và chỉ khi đ-ợc CQTHTT công nhận
1.2 Phân biệt khái niệm ng-ời bị hại với một số khái niệm có liên quan
12.1 Phân biệt khái niệm ng-ời bị hại với khái niệm nạn nhân
Có quan điểm cho rằng ng-ời bị hại chính là nạn nhận của tội phạm Theo quan điểm của chúng tôi điều đó cũng nh-ng ch-a đủ Nội dung khái niệm của ng-ời bị hại có nội hàm hẹp hơn khái niệm nạn nhân của tội phạm Nh- đã biết, hành vi phạm tội luôn gây ra hoặc đe doạ gây ra những thiệt hại đáng kể cho các quan hệ xã hội đ-ợc Luật hình sự bảo
vệ Để gây ra những thiệt hại cho những quan hệ này, hành vi phạm tội
đã tác động gây thiệt hại cho cá nhân, tổ chức Nh- vậy, nạn nhân của tội phạm ngoài cá nhân còn có thể là tổ chức, pháp nhân, thiệt hại của nạn nhân không chỉ về tinh thần, về thể chất, tài sản mà còn có thể bao hàm những quyền, lợi ích hợp pháp khác, thiệt hại đó có thể bao gồm thiệt hại gián tiếp; hơn nữa nạn nhân chỉ khi tham gia vào quan hệ TTHS mới đ-ợc xem là ng-ời bị hại Còn nếu nạn không tham gia vào TTHS hay không đ-ợc cộng nhận thì họ không phải là ng-ời bị hại trong TTHS
Trang 41.2.2 Phân biệt khái niệm ng-ời bị hại với khái niệm đối t-ợng
tác động của tội phạm
Đối t-ợng tác động của tội phạm là một bộ phận khách thể của tội
phạm bị hành vi phạm tác động đến, gây thiệt hại hoặc đe doạ gây thiệt
hại Đối t-ợng tác động của tội phạm không chỉ là con ng-ời mà còn
bao gồm các đối t-ợng vật chất khác và các hoạt động bình th-ờng của
chủ thể Trong khi ng-ời bị hại là ng-ời bị thiệt hại về thể chất, tinh
thần hoặc tài sản do hành vi phạm tội gây ra, họ chính là một trong số
các đối t-ợng tác động của tội phạm Nh-ng không phải vụ án nào
cũng có đối t-ợng tác động là con ng-ời, là tài sản Mà đối t-ợng tác
động có thể là hoạt động bình th-ờng của chủ thể, là trật tự nơi công
cộng, trật tự quản lý hành chính Nh- vậy có thể khẳng định khái niệm
ng-ời bị hại, đối t-ợng tác động của tội phạm mặc dù có những điểm
tương đồng, chồng lấn… nh-ng về bản chất, đặc tr-ng của chúng là
hoàn toàn khác nhau Khái niệm đối t-ợng tác động của tội phạm rộng
hơn khái niệm về ng-ời bị hại
1.2.3 Phân biệt khái niệm ng-ời bị hại với khái niệm ng-ời có
quyền, nghĩa vụ liên quan
Qua phân tích các dấu hiệu đặc điểm, chúng tôi có thể đ-a ra một
dấu hiệu để phân biệt ng-ời bị hại với ng-ời có quyền nghĩa vụ liên
quan
Trong những tr-ờng hợp cụ thể để xác định ng-ời bị hại và ng-ời
có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án đối với những tội danh mà
ngay tên tội đã thể hiện đối t-ợng tác động (là tính mạng, sức khỏe,
danh dự, tài sản…) thì người bị thiệt hại được xác định là người bị hại
Còn đối với những tội danh khác, để tránh sự nhầm lẫn trong việc
xác định t- cách của ng-ời bị hại với ng-ời có quyền lợi, nghĩa vụ liên
quan đến vụ án th-ờng căn cứ vào mối quan hệ nhân quả giữa thiệt hại
với hành vi mà ng-ời phạm tội đã thực hiện
- Nếu thiệt hại là kết quả trực tiếp của hành vi phạm tội, phù hợp với mục đích của ng-ời phạm tội thì ng-ời bị thiệt hại đ-ợc xác định là ng-ời bị hại
- Nếu thiệt hại không phải là kết quả trực tiếp của hành vi phạm tội, không có mối liên hệ mật thiết với hành vi phạm tội, không phù hợp với mục đíchcủa ng-ời phạm tội thì ng-ời bị thiệt hại đ-ợc xác
định là ng-ời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án
1.2.4 Phân biệt khái niệm ng-ời bị hại và khái niệm nguyên
đơn dân sự
Ng-ời bị hại là ng-ời bị thiệt hại về thể chất, tinh thần, tài sản Để
đ-ợc xác định là ng-ời bị hại thì thể chất, tinh thần, tài sản của một ng-ời phải là đối t-ợng tác động của tội phạm Cũng là đối t-ợng tác
động của tội phạm, nh-ng là tài sản của cơ quan, tổ chức thì cơ quan,
họ có thể là ng-ời chứng kiến hành vi phạm tội (nh- ng-ời bị gây thương tích, bị cướp tài sản…) Họ tham gia tố tụng không chỉ giúp CQTHTT làm rõ hành vi của ng-ời phạm tội mà còn tham gia vì quyền lợi của chính họ Khác với điều đó, nguyên đơn dân sự chỉ tham gia tố tụng khi có đơn yêu cầu bồi th-ờng Hậu quả đối với nguyên đơn dân
sự không phải là tình tiết định tội, không có ý nghĩa với việc xem xét trách nhiệm hình sự cho bị cáo,
Phân biệt ng-ời bị hại với nguyên đơn dân sự là phân biệt hai loại ng-ời tham gia tố tụng với hai t- cách khác nhau Cơ quan, tổ chức bị thiệt hại không thuộc phạm vi để xem xét trong luận văn, vì trong thực
Trang 5tế không có sự nhầm lẫn đối với tr-ờng hợp này mà chỉ nhầm lẫn khi
họ là cá nhân
Ng-ời bị hại, nguyên đơn dân sự chỉ tham gia tố tụng khi có thiệt
hại xảy ra Thiệt hại của ng-ời bị hại là thiệt hại trực tiếp về thể chất,
tinh thần, tài sản từ hành vi phạm tội
Ví dụ: Do có mâu thuẫn với nhau từ tr-ớc A đã dùng dao để chém
B Anh C là ng-ời có mặt tại đó đã vào can ngăn Trong lúc vật lộn với
A để t-ớc đoạt con dao anh C đã vị vỡ chiếc đồng hồ A bị truy tố về
tội “cố ý gây thương tích” anh B tham gia với tư cách người bị hại
Anh C có đơn yêu cầu bồi th-ờng chiếc đồng hồ bị vỡ, anh đ-ợc xác
định là nguyên đơn dân sự Trong vụ án này, mục đích của A là gây
th-ơng tích cho B, đối t-ợng tác động mà A nhằm h-ớng tới là sức
khỏe của B chứ không phải là tài sản của anh C Tỷ lệ th-ơng tích của
anh B là hậu quả mà CQTHTT xem xét để quyết định truy tố và có ý
nghĩa nhất định trong việc quyết định hình phạt đối với A Còn thiệt
hại về tài sản của anh C chỉ là hậu quả cần phải khắc phục, không có ý
nghĩa gì với việc xem xét tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho
bị cáo A Bởi lẽ, nếu thiệt hại của anh C đã đủ yếu tố cấu thành một tội
phạm khác, độc lập với tội danh mà A bị xét xử thì A ngoài việc chịu
trách nhiệm hình sự về tội “cố ý gây thương tích” còn phải chịu trách
nhiệm hình sự về tội đã gây nên thiệt hại cho anh C Lúc này hậu quả
mà bị cáo A đã gây ra đối với anh C sẽ đ-ợc xem là một trong những
yếu tố cấu thành tội phạm
Trong tr-ờng hợp khác, cá nhân đ-ợc xác định là nguyên đơn dân
sự do có sự thiệt hại về tài sản mà sự thiệt hại này là hậu quả tiếp theo
từ hậu quả mà ng-ời phạm tội đã gây cho ng-ời bị hại: nh- một ng-ời
phải nghỉ việc để chăm sóc nạn nhân, những ng-ời th-ờng xuyên đ-ợc
cấp d-ỡng nay ng-ời cấp d-ỡng bị chết Dấu hiệu để phân biệt ng-ời bị
hại với nguyên đơn dân sự (là cá nhân)
1.3 Vị trí, quyền và nghĩa vụ của ng-ời bị hại trong luật TTHS
Theo tinh thần cải cải cách t- pháp của Nghị quyết 49 ngày 02/6/2005 của Bộ chính trị về chiến l-ợc cải cách t- pháp đến năm
2020 xác định: “xác định rõ hơn vị trí, quyền hạn trách nhiệm của ng-ời tiến hành tố tụng và ng-ời tham gia tố tụng theo h-ớng đảm bảo công khai, dân chủ, nghiêm minh” Từ đó cho thấy việc xác định người tham gia tố tụng trong đó có ng-ời bị hại có vị trí rất quan trọng trong quá trình giải quyết vụ án hình sự Việc xác định đúng và đ-a họ tham gia đúng t- cách sẽ bảo vệ đ-ợc quyền và lợi ích hợp pháp của họ và sẽ nhằm giải quyết kịp thời nhanh chóng các thiệt hại do tội phạm gây ra
đối với ng-ời bị hại Hơn nữa ng-ời bị hại còn cung cấp các tài liệu, chứng cứ để chứng minh tội phạm Từ đó xác định đúng hành vi phạm tội và góp phần giải quyết vụ án nhanh chóng, khách quan
Qua phân tích các quyền và nghĩa vụ của ng-ời bị hại trong luật TTHS Việt Nam cho thấy, ng-ời bị hại có một vị trí, ý nghĩa rất quan trọng trong vụ án hình sự Vì họ là ng-ời trực tiếp bị tội phạm xâm hại
có thể là về thể chất (như sức khoẻ, tính mạng…), tinh thần (như bị lăng mạ, làm nhục, vu khống, hiếp dâm…) hay về tài sản (như bị chiếm đoạt tiền, vàng và các tài sản khác…) Họ cũng là người biết được sự thật của
vụ án và họ cũng góp phần vào việc chứng minh tội phạm, làm sáng tỏ
sự thật khách quan của vụ án Việc xác định ng-ời tham gia tố tụng trong đó có ng-ời bị hại có vị trí rất quan trọng trong quá trình giải quyết vụ án hình sự Việc xác định đúng và đ-a họ tham gia đúng t- cách sẽ bảo vệ đ-ợc quyền và lợi ích hợp pháp của họ và sẽ nhằm giải quyết kịp thời nhanh chóng các thiệt hại do tội phạm gây ra đối với ng-ời bị hại Hơn nữa ng-ời bị hại còn cung cấp các tài liệu, chứng cứ
để chứng minh tội phạm Từ đó xác định đúng hành vi phạm tội và góp phần giải quyết vụ án nhanh chóng, khách quan
1.4 Ng-ời bị hại trong luật tố tụng hình sự một số n-ớc 1.4.1 Ng-ời bị hại trong luật tố tụng hình sự Đức
Trang 6Theo luật tố tụng hình sự Đức thì các đối t-ợng tham gia vào
quan hệ tố tụng để giải quyết vụ án đều là chủ thể tham gia tố tụng
Tuỳ theo loại ng-ời có những vai trò khác nhau trong tố tụng hình sự
mà pháp luật quy định quyền và nghĩa vụ của họ tham gia giải quyết
vụ án Trong luật tố tụng hình sự hình sự Đức thì ng-ời bị hại là nạn
nhân của tội phạm tr-ớc đây có vai trò không đáng kể trong tố tụng
hình sự Đức Về mặt hình phạt của tội phạm, lợi ích của họ đ-ợc coi là
phụ so với lợi ích công chúng và vai trò của họ đơn thuần chỉ là
nguyên đơn kiện bồi th-ờng các thiệt hại về dân sự Địa vị pháp lý của
ng-ời bị hại đã đ-ợc cải thiện một cách đáng kể với sự ra đời của luật
bảo vệ nạn nhân năm 1986 mà theo đó luật tố tụng hình sự cũng đã sửa
đổi Sự tham gia của ng-ời bị hại trong tiến trình tố tụng đ-ợc quy định
thành một phần riêng trong BLTTHS Ng-ời bị hại của các tội phạm
nghiêm trọng đ-ợc bảo vệ tốt hơn và đ-ợc bổ sung một số quyền của
một bên tham gia tố tụng
1.4.2 Ng-ời bị hại trong luật tố tụng hình sự Liên bang Nga
Theo BLTTHS liên bang Nga đ-ợc DUMA quốc gia thông qua
ngày 22/11/2001 thì chủ thể tham gia tố tụng hình sự gồm: Toà án, các
chủ thể tham gia tố tụng thuộc bên buộc tội, các chủ thể tham gia tố
tụng hình sự thuộc bên bào chữa và những chủ thể khác tham gia tố
tụng hình sự Trong đó, kiểm sát viên, Dự thẩm viên, Thủ tr-ởng cơ
quan điều tra, nhân viên điều tra, người bị hại, nguyên đơn dân sự…
thì thuộc nhóm chủ thể tham gia tố tụng hình sự thuộc bên bào chữa
Tuỳ theo loại ng-ời có những vai trò khác nhau trong tố tụng hình sự
mà pháp luật Liên bang Nga có quy định quyền và nghĩa vụ của họ
tham gia giải quyết vụ án Theo khoản 1 điều 42 BLTTHS Liên bang
Nga thì ng-ời bị hại là thể nhân, bị thiệt hại về thể chất tinh thần, tài
sản do tội phạm gây ra, cũng nh- pháp nhân trong tr-ờng hợp bị thiệt
hại về tài sản và uy tín do tội phạm gây ra Ng-ời bị hại đ-ợc công
nhận bằng quyết định công nhận ng-ời bị hại của kiểm sát viên, dự
thẩm viên hoặc Toà án Địa vị pháp lý của ng-ời bị hại trong Luật tố
tụng hình sự Liên bang nga đ-ợc quy định bằng các quyền và nghĩa vụ rất cụ thể Nh- theo khoản 2 Điều 42 BLTTHS liên bang Nga quy định
về quyền của ng-ời bị hại
Tại khoản 3 Điều 42 BLTTHS Liên bang Nga còn quy định về quyền đ-ợc đ-ợc đảm bảo, đ-ợc bồi th-ờng thiệt hại do tội phạm gây ra
và những chi phí trong việc họ tham gia trong quá trình điều tra và xét
xử vụ án Còn theo khoản 4 thì việc bồi th-ờng bằng tiền đối với thiệt hại về tinh thần đã gây ra cho họ, mức bồi th-ờng thì đ-ợc giải quyết trong cùng một vụ án hoặc đ-ợc giải quyết theo tố tụng dân sự
Theo quy định tại khoản 5 Điều 43 BLTTHS Liên bang Nga bên cạnh các quy định về quyền của ng-ời bị hại, còn quy định về nghĩa vụ ng-ời bị hại
1.4.3 Ng-ời bị hại trong luật tố tụng hình sự n-ớc Công hoà nhân dân Trung hoa
Theo luật tố tụng hình sự của n-ớc Cộng hoà nhân dân Trung Hoa thì các đối t-ợng tham gia vào quan hệ tố tụng đều là chủ thể tham gia tố tụng Ng-ời bị hại trong tố tụng hình n-ớc công hoà nhân dân Trung Hoa đ-ợc phân thành hai loại là ng-ời bị hại trong vụ án thuộc công tố
và ng-ời bị hại trong vụ án thuộc t- tố Ng-ời bị hại trong vụ án thuộc công tố từ ngày vụ án đ-ợc chuyển giao để thẩm tra tr-ớc khi truy tố, có quyền chỉ định ng-ời đại diện liên quan đến vụ án Ng-ời bị hại chịu thiệt hại vật chất do hành vi phạm tội của bị cáo có quyền nộp đơn kiện dân sự trong quá trình tố tụng và đ-ợc giải quyết đồng thời với vụ án hình sự Đối với những vụ án mà viện kiểm sát miễn tố có ng-ời bị hại thì ng-ời bị hại có quyền đ-ợc nhận quyết định miễn tố Nếu ng-ời bị hại không tán thành quyết định thì ng-ời bị hại có quyền khiếu nại lên Viện kiểm sát nhân dân cấp trên trực tiếp và yêu cầu truy tố Trong tr-ờng Viện kiêm sát nhân dân cấp trên đồng ý với quyết định miễn tố thì ng-ời bị hại có thể kiện ra Toà án nhân dân Ng-ời bị hại cũng có thể trực tiếp kiện ra Toà án nhân dân mà không cần phải khiếu nại tr-ớc
Trang 7quyết định miễn tố của Viện kiểm sát nhân dân Đối với vụ án t- tố
ng-ời bị hại có quyền chỉ định ng-ời đại diện pháp lý cho mình và có
quyền trực tiếp đ-a vụ án ra tr-ớc toà Nếu ng-ời bị hại chết hoặc mất
khả năng hành động, ng-ời đại diện pháp lý và họ hàng thân thích có
quyền đ-a vụ án ra tr-ớc toà
* *
*
Nh- vậy, qua phân tích ở trên chúng tôi đã đ-a ra đ-ợc khái
niệm, đặc điểm về ng-ời bị hại Trên cơ sở đó chúng tôi đ-a ra các tiêu
chí để phân biệt khái niệm ng-ời bị hại với một số khái niệm có liên
quan nh- khái niệm nạn nhân, đối t-ợng tác động của tội phạm,
nguyên đơn dân sự và ng-ời có quyền, nghĩa vụ liên quan Từ đó để
xác định đúng vị trí, quyền và nghĩa vụ của ng-ời bị hại trong việc giải
quyết vụ án có ý nghĩa quan trọng nhằm đảm bảo quyền và lợi ích của
công dân và cũng góp phần chứng minh tội phạm và làm sáng tỏ sự
thật khách quan của vụ án Nhằm góp phần làm sáng tỏ những vấn đề
về ng-ời bị hại trong luật TTHS Việt Nam chúng tôi có nêu các quy
định về ng-ời bị hại của một số n-ớc nh- Cộng hoà liên bang Đức,
Cộng hoà liên bang Nga, Cộng hoà nhân dân Trung Hoa để so sánh
làm sáng tỏ vấn đề và bản chất của ng-ời bị hại
Việc xác định đúng và đ-a ng-ời bị hại tham gia tố tụng
đúng t- cách sẽ bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ng-ời bị hại sẽ
giúp giải quyết vụ án kịp thời nhanh chóng các thiệt hại do tội phạm
gây ra đối với ng-ời bị hại Hơn nữa ng-ời bị hại còn cung cấp các tài
liệu chứng cứ để chứng minh tội phạm Từ đó xác định đúng hành vi
phạm tội và góp phần giải quyết vụ án nhanh chóng, khách quan
Tuy nhiên, trong thực tiễn xét xử và giải quyết vụ án quy
định về ng-ời bị hại vẫn còn một số v-ớng mắc Vấn đề này chúng tôi
sẽ đ-ợc nêu ra ở ch-ơng 2 của luận văn
Ch-ơng 2:
Những quy định của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam về ng-ời bị hại và thực trạng tham gia tố tụng hình sự của ng-ời bị hại những
Sau chiến thắng Điện Biên Phủ, Hiệp định Giơnevơ đã đ-ợc ký kết, miền bắc hoàn toàn đ-ợc giải phóng, Miền Nam tạm thời bị đế quốc Mỹ và bọn tay sai thống trị Pháp luật tố tụng hình sự hình sự thời
kỳ này phải phục vụ thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ chiến l-ợc cách mạng Tuy nhiên pháp luật tố tụng hình sự hình sự thời kỳ này cũng quan tâm đến địa vị pháp lý của ng-ời tham gia tố tụng trong đó có ng-ời bị hại Lần đầu tiên định nghĩa pháp lý đã đ-ợc đề cập Trong bản h-ớng dẫn về trình tự tố tụng sơ thẩm kèm theo thông t- 16/TATC ngày 27-9-1974 của Toà án nhân dân tối cao lần đầu tiên định nghĩa pháp lý của khái niệm ng-ời bị hại đã đ-ợc đề cập
Ngoài ra trong bản h-ớng dẫn về trình tự tố tụng sơ thẩm về hình
sự kèm theo thông t- số 16/TATC ngày 27-9-1974 của Toà án nhân dân tối cao có đề cập đến ng-ời đại diện của bị hại và một số ng-ời tham gia tố tụng khác
Đến khi có BLTTHS của n-ớc ta đ-ợc Quốc hội thồng qua ngày 28/6/1988, có hiệu thi hành từ ngày 01-01-1989 Đây là BLTTHS đầu
Trang 8tiên ở n-ớc ta Trong BLTTHS năm 1988, thì vấn đề ng-ời bị hại đã
đ-ợc quan tâm và quy định đầy đủ nh- về định nghĩa thế nào là ng-ời
bị hại, quyền và nghĩa vụ của ng-ời bị hại cũng đ-ợc quy định t-ơng
đối rộng chẳng hạn nh- có quyền yêu cầu, cung cấp tài liệu, đ-a ra
chứng cứ; tham gia phiên toà, có quyền yêu cầu thay đổi ng-ời tiến
hành tố tụng, người giám định, người phiên dịch… mà pháp luật tố
tụng hình sự của n-ớc ta thời kỳ tr-ớc không quy định Hơn nữa,
BLTTHS năm 1988, đã có quy định khá mới so với luật tố tụng hình sự
Việt nam đó là quyền yêu cầu khởi tố theo yêu cầu của ng-ời bị hại
Ngoài ra còn quy định cả quyền rút yêu cầu của ng-ời bị hại nh-ng
phải tr-ớc ngày mở phiên toà Luật sửa đổi bổ sung BLTTHS năm
1990 đã bổ sung Điều 42a Ng-ời bảo vệ quyền lợi của đ-ơng sự
Ng-ời bảo vệ quyền lợi cho ng-ời bị hại có quyền cơ bản giống
nh- quyền của ng-ời bị hại Ngoài ra điều luật còn quy định trong
tr-ờng hợp ng-ời bị hại là ng-ời ch-a thành niên, ng-ời có nh-ợc điểm
về thể chất hoặc tâm thần, thì ng-ời bảo vệ quyền lợi của họ có quyền
có mặt khi CQTHTT lấy lời khai của ng-ời mà mình bảo vệ; có quyền
kháng cáo bản án, quyết định của Toà án có liên quan đến quyền lợi,
nghĩa vụ của ng-ời mà mình bảo vệ
2.1.2 Quy định về ng-ời bị hại của Bộ luật tố tụng hình sự
năm 2003
Theo quy định tại Điều 51 BLTTHS năm 2003 quy định: Ng-ời bị
hại là ng-ời bị thiệt hại về thể chất, tinh thần, tài sản do tội phạm gây ra
So với quy định của BLTTHS năm 1988 quy định về ng-ời bị hại
cũng không có thay đổi bổ sung gì hơn với quy định về ng-ời bị hại trong
BLTTHS năm 2003 Theo đó, BLTTHS Việt Nam 2003 vẫn xác định ng-ời
bị hại là ng-ời bị thiệt hại về thể chất, tinh thần, tài sản do tội phạm gây ra
Nh- vậy tiêu chí để xác định ng-ời bị hại gồm những tiêu chí sau:
- Tr-ớc hết họ phải là con ng-ời cụ thể chứ không phải là cơ quan
đề ng-ời bị hại, ng-ời đại diện hợp pháp của họ nh- Điều 217, 231 của BLTTHS
Nh- vậy, những quy định của luật TTHS Việt Nam - hay BLTTHS Việt Nam về ng-ời bị hại trong vụ án hình sự không chỉ là những quy định ở Điều 51, Điều 59 BLTTHS mà còn những quy định ở những Điều luật khác trong BLTTHS
2.2 Thực trạng tham gia tố tụng của ng-ời bị hại trong những năm gần đây
2.2.1 Tình hình thụ lý, giải quyết các vụ án hình sự của Toà
án trong những năm gần đây
Hàng năm, ngành Toà án nhân dân thành phố Hà Nội (bao gồm cả tỉnh Hà Tây cũ) đã xét
xử một số l-ợng rất lớn án hình sự (thống kê tại bảng 2.1), số l-ợng án phải giải quyết theo h-ớng tăng dần, năm sau cao hơn năm tr-ớc
Đây thực là những con số biết nói, đáng để những ng-ời nghiên cứu luật và làm luật chúng ta phải suy nghĩ
thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm của ngành Tòa án từ
2004-2008
Trang 9Số vụ án có KC,
KN, GĐT,TT (2)
Kết quả giải quyết PT, GĐT,TT
Qua nghiên cứu các biểu mẫu và báo cáo về công tác xét xử của
ngành Toà án nhân dân ch-a có báo cáo thống kê nào về thực trạng
tham gia của ng-ời tham gia tố tụng nói chung và ng-ời bị hại nói
riêng hại trong TTHS Nên việc lấy số liệu để đánh giá về thực trạng
ng-ời bị hại tham gia, thực hiện các quyền và nghĩa vụ tố tụng của
mình tại phiên toà gặp rất nhiều khó khăn Do đó, chúng tôi chỉ lấy số
liệu, báo cáo, thống kê của Toà án nhân dân huyện Đông Anh, thành
phố Hà Nội về các thực trạng tham gia TTHS và việc thực hiện các
quyền của ng-ời bị hại từ năm 2004 đến năm 2008 để minh chứng
Qua theo dõi tình hình xét xử của Toà án nhân dân huyện Đông
Anh nói riêng và toàn ngành Toà án nhân dân thành phố Hà Nội nói
chung thì số l-ợng các vụ án Toà án phải giải quyết hàng năm tăng lên
và các tội phạm xâm phạm đến tính mạng, danh dự, nhân phẩm, tài sản
của công dân chiếm một tỷ lệ lớn trong tổng số các vụ án mà Toà án đã
giải quyết Nếu nh- năm 2000, Toà án nhân dân huyện Đông Anh giải
quyết đ-ợc 124 vụ án hình sự thì trong đó có đến 85 vụ án hình sự mà
đối t-ợng tác động của tội phạm là tính mạng, sức khoẻ danh dự, nhân phẩm và tài sản của công dân chiếm 68% thì năm 2005 đã giải quyết
đ-ợc 152 vụ án hình sự trong đó các tội xâm phạm đến tính mạng, sức khoẻ, danh dự nhân phẩm và tài sản là 98 vụ tăng 13 vụ Qua thống kê các năm thì số l-ợng vụ án hình sự Toà án giải quyết qua các năm thì thấy, các tội xâm phạm đến tính mạng, sức khoẻ, danh dự nhân phẩm, tài sản đều chiếm một tỷ lệ rất cao trong số các vụ án Toà án đã giải quyết Tình hình tội phạm cũng diễn biến rất phức tạp và có nhiều thủ
đoạn tinh vi Theo thống kê của chúng tôi, trong số các vụ án mà có ng-ời bị hại tham gia tố tụng thì số vụ án mà ng-ời bị hại có mặt tại phiên toà để tham gia phiên toà, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình là rất ít chiếm tỷ lệ không cao, số vụ án mà có ng-ời bị hại kháng cáo lên toà cấp phúc thẩm để xem xét lại theo yêu cầu của mình cũng
ít mà chủ yếu là bị cáo kháng cáo xin h-ởng án treo họăc xin giảm hình phạt cho bị cáo; số vụ án có luật s- tham gia để bảo vệ quyền lợi cho ng-ời bị hại hoặc đại diện hợp pháp cho ng-ời bị hại cũng chiếm một tỷ ch-a cao Đánh giá về việc ng-ời tham gia tố tụng không tham gia phiên toà một phần cũng là do ý thức của ng-ời bị hại không còn liên quan gì nữa nh- phần dân sự đã giải quyết xong, do không nhận
đ-ợc giấy triệu tập của Toà án, do sợ trả thù (trong những vụ án gây thương tích liên quan đến xã hội đen)… nên không dám đến tham gia
tố tụng hoặc không dám đến trình báo
2.2.2.Thực tiễn và những v-ớng mắc tham gia tố tụng hình sự của ng-ời bị hại trong những năm gần đây
Qua phân tích đánh giá ở trên cho thấy, thực tiễn xét xử cho thấy
có nhiều vụ án xác định không đúng t- cách ng-ời bị hại hoặc liên quan đến sự có mặt của ng-ời bị hại hoặc ng-ời đại diện cho ng-ời bị hại tại phiên toà đã dẫn đến cho việc giải quyết vụ án không đúng, kéo dài, xâm phạm đến quyền và lợi ích của ng-ời bị hại nói riêng và ng-ời tham gia tố tụng trong vụ án hình sự nói chung
Trang 10Trong thực tiễn công tác điều tra, truy tố, xét xử việc xác định
không đúng ng-ời bị hại trong vụ án hình sự th-ờng xảy ra trong các
tr-ờng hợp sau:
Xác định ng-ời có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là ng-ời bị hại
Ví dụ: Tại bản án hình sơ thẩm của Toà án nhân huyện G xét xử có
nội dung nh- sau: Vào khoảng 8h30 ngày 16/3/2004, chị Nguyễn Thị
T-, chị Nguyễn Thị Mậu cùng cháu là con gái chị T- mang hoa quả
đến nhà Nguyễn Thạc mơ là anh trai để thắp h-ơng nhân ngày giỗ mẹ
Vì chị T-, chị Mậu có mâu thuẫn với gia đình Nguyễn Thạc Mơ từ
tr-ớc dẫn đến việc Mơ đuổi chị T-, chị Mậu ra khỏi nhà, hai bên lời
quan tiếng lại dẫn đến xô xát Nguyễn Thị Duyên là vợ của Mơ thấy
thế xũng lao vào xô xát, hai bên túm tóc Giằng co, xô đẩy Nguyễn
Thị Duyên tún tóc chị T- đấm vào ng-ời, cào cấu chị T- Sau đó vụ
việc đ-ợc can ngăn Đến 11 giờ cùng ngày Nguyễn Thạc Dũng con của
Mơ đi mua thuốc lá thì bị Nguyễn Thị Tân, Nguyễn Thị T- giữ xe dân
đến xô xát Nguyễn Thạc Mơ ở trong nhà thấy thế liền cầm 01 chiếc
cán chổi bằng tre ra đánh chị Tân 01 cái trúng vào tay làm chị Tân bị
th-ơng phải đi khám bệnh ở bệnh viện Đức Giang, sau đó chuyểnn
bệnh viện Việt Đức Chị Tân đi giám định bị tổn hại 25% sức khoẻ;
chị T- bị tổn hại 9% sức khoẻ Trong vụ án này Toà án nhân huyện
Gia Lâm xác định chị Nguyễn Thị T- là ng-ời bị hại và xét xử phạt bị
cáo Mơ, và buộc chị Duyên phải bồi th-ờng cho chị T-
Qua vụ án trên cho thấy, Toà án xác định chị T- là ng-ời bị hại
trong vụ án là không đúng Vì ng-ời bị hại là ng-ời trực tiếp bị thiệt
hại do tội phạm gây ra có thể về tính mạng sức khoẻ, danh dự, nhân
phẩm, hoặc tài sản Trong tr-ờng hợp này th-ơng tích của chị T-
không phải do Nguyễn Thạc Mơ trực tiếp gây lên mà do Duyên gây
lên Do đó, Chị T- chỉ là ng-ời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
Xác định ng-ời mà theo quy định của Bộ luật hình sự thì tội phạm
đó không có ng-ời bị hại
Ví dụ 1: A, B, C đang ngồi uống bia tại quán bia của chị M thì xảy
ra xô xát với D và một số thanh niên trong quán bia dẫn đến đánh nhau Trong lúc đánh nhau các bị cáo đã dùng chai bia, cốc bia, bàn ghế ném nhau gây thiệt hại cho chị M tổng giá trị là 2.800.000 đồng A, B, C, D
đều bị truy tố về tội gây rối trật tự công cộng theo khoản 2 Điều 245 BLHS Khi xét xử Toà án đã xác định chị M là ng-ời bị hại trong vụ án vì cho rằng các bị cáo đã gây thiệt hại cho chị M do hành vi gây rối trật
tự công cộng của các bị cáo Trong vụ án này, chị M không phải là ng-ời bị hại vì theo quy định của BLTTHS thì tội gây rối trật tự công cộng không có bị hại Chị M chỉ là ng-ời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án
Ví dụ 2: Trong vụ án các bị cáo bị truy tố về tội chống ng-ời thi hành công vụ thì ng-ời thi hành công vụ không phải là ng-ời bị hại trong vụ án hình sự Tuy nhiên, nếu ng-ời thi hành công vụ bị gây th-ờng tích có tỷ lệ th-ơng tật thì lại là ng-ời bị hại trong vụ án nh-ng
là ng-ời bị hại đối với bị cáo phạm tội cố ý gây th-ơng tích chứ không phải ng-ời bị hại đối với bị cáo phạm tội chống ng-ời thi hành công
vi xâm phạm đó
- Vấn đề liên quan đến việc quy định và thực hiện các quyền của ng-ời bị hại:
Trang 11Tại điểm e khoản 2 Điều 51 BLTTHS quy định: ng-ời bị hại có
quyền kháng cáo bản án, quyết định của Toà án về phần bồi th-ờng
cũng nh- về phần hình phạt đối với bị cáo Trong khi đó tại Điều 231
BLTTHS lại quy định: ng-ời bị hại và ng-ời đại diện hợp pháp của họ
có quyền kháng cáo bản án và quyết định của Toà án Nh- vậy theo
quy định này thì ng-ời bị hại có quyền kháng cáo toàn bộ bản án hoặc
quyết định sơ thẩm về tất cả các vấn đề nh- là hình phạt, tội danh, tình
tiết định khung, án phí, xử lý vật chứng của bản án hay quyết định của
Toà án Điều luật này không thể hiện bất cứ sự giới hạn nào nh- tinh
thần của Điều 51 BLTTHS Do hai điều luật quy định không thống
nhất nên trong thực tiễn áp dụng đã có những ý kiến khác nhau về
quyền kháng cáo của ng-ời bị hại và đại điện hợp pháp của họ theo
h-ớng tăng nặng đối với bị cáo
Theo quan điểm của chúng tôi, nếu theo quy định tại điểm e khoản
2 Điều 51 BLTTHS thì chỉ có quyền kháng cáo về phần bồi th-ờng và
hình phạt đối với bị cáo là ch-a đầy đủ, quá hẹp, không tạo điều kiện
cho ng-ời bị hại bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, làm phát
sinh v-ớng mắc khi áp dụng; chẳng hạn nh- trong vụ án Toà án xét xử
bị cáo về tôi Cố ý gây th-ớc tích theo khoản 3 Điều 104 BLHS nh-ng
ng-ời bị hại hoặc ng-ời đại diện hợp pháp của họ không đồng ý và
kháng cáo lên Toà án cấp phúc thẩm để yêu cầu xét xử bị cáo về tội
“Giết người” Như vậy theo điểm e khoản 2 Điều 51 BLTTHS thì người
bị hại không có quyền về tội danh đối với bị cáo Nh-ng việc quy định
về quyền kháng cáo của họ theo điều 231 BLTTHS thì ng-ời bị hại có
quyền kháng cáo toàn bộ bản án, quyết định sơ thẩm của Toà án là
không hợp lý, quá rộng vì nếu cho phép họ kháng cáo toàn bộ bản án
thì vô hình chung cho phép họ kháng cáo cả quyết định của bản sơ
thẩm không liên quan gì họ nh- quyết định bồi th-ờng thiệt hại cho
những người khác, quyết định về xử lý vật chứng, án phí… Do đó, dù
có h-ớng dẫn của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao cũng
không thể đáp ứng đ-ợc những khiếm khuyết của hai điều luật trên
- Đối với ng-ời đại diện hợp pháp của ng-ời bị hại:
Ng-ời đại diện hợp pháp của ng-ời bị hại là ng-ời mà theo quy
định của pháp luật hoặc theo uỷ quyền họ tham gia tố tụng để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ng-ời bị hại hoặc của chính bản thân họ Ng-ời đại diện hợp pháp của ng-ời bị hại phải là một con ng-ời cụ thể chứ không thể là cơ quan tổ chức, Họ là ng-ời đã thành niên và đủ năng lực hành vi để tham gia tố tụng và không thuộc tr-ờng hợp pháp luật cấm chẳng hạn một ng-ời bị pháp luật t-ớc quyền làm cha, mẹ đối với ng-ời con thì không thể làm ng-ời đại diện hợp pháp cho ng-ời con này nếu ng-ời con là ng-ời bị hại Một ng-ời bị mắc bệnh tâm thần hoặc một bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng
điều khiển hành vi của mình thì không thể là ng-ời đại diện hợp pháp của ng-ời bị hại
Thực tiễn xét xử có nhiều tr-ờng hợp Toà xác định ng-ời đại diện hợp pháp của ng-ời bị hại không đúng nên bản án đã bị Toà án cấp phúc thẩm hoặc Toà án cấp giám đốc thẩm huỷ để xét xử lại nh-: Tại bản án hình sự sơ thẩm của Toà án nhân dân tỉnh Đ xét xử đối với Phạm Văn Ngà và đồng phạm về tội Cố ý gây th-ơng tích theo khoản 3 Điều 104 và tội khác Nội dụng vụ án nh- sau: Khoảng 13h ngày 10-4-2003, phạm Văn Ngà và một số ng-ời đang ngôi uống bia, Trong khi đang ngồi uống bia thì có Nguyễn Huy Hoàng đi vào quán Ngà chửi Hoàng vì tr-ớc đó Ngà và Hoàng đã có mâu thuẫn nên xảy ra xô xát và đ-ợc can ngăn Khoảng 15 phút sau thì Ngà rủ một số ng-ời
đến đánh Hoàng Sau đó hại bên xông vào đánh nhau, hậu quả là anh Hoàng phải đi cấp cứu và đến ngày 01/5/2009, anh Hoàng bị chết Anh Hoàng chết đi, còn có vợ và các con, mẹ đẻ là bà Sâm Trong quá trình điều tra, bà Sâm đã uỷ quyền cho ông Nguyễn ánh Hồng là chú ruột liên hệ với cơ qaun điều tra và Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đ đề giải quyết sự việc