Tại Điều 2 Hiến pháp 1992 Được sửa đổi, bổ sung theo Nghị quyết số 51/2001/QH10 của Quốc hội Khoá X, kỳ họp thứ 10 thông qua ngày 25/12/2001 quy định “Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
TRẦN PHỤNG VƯƠNG
NÂNG CAO VỊ TRÍ, VAI TRÒ CÙA TÒA ÁN NHÂN DÂN ĐÁP ỨNG YÊU CẦU XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN
VIỆT NAM HIỆN NAY
Chuyên ngành : Lý luận và lịch sử nhà nước và pháp luật
Mã số : 60 38 01
TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - 2012
Trang 2Công trình đƣợc hoàn thành tại Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội
Người hướng dẫn khoa học: GS, TS NGUYỄN ĐĂNG DUNG
Vào hồi giờ , ngày tháng năm 2012
Có thể tìm hiểu luận văn tại
Trung tâm tƣ liệu Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội
Trung tâm tƣ liệu - Thƣ viện Đại học Quốc gia Hà Nội
Trang 3MỤC LỤC
Trang
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VỊ TRÍ, VAI TRÒ
CỦA TOÀ ÁN TRONG NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN 6
1.2 Vị trí, vai trò của toà án trong nhà nước pháp quyền 7
Chương 2: THỰC TRẠNG VỊ TRÍ, VAI TRÒ CỦA
2.1 Quá trình hình thành và phát triển ngành toà án và vị trí vai
trò của toà án nhân dân ở Việt Nam 7 2.2 Vị trí, vai trò của toà án nhân dân ở Việt Nam hiện nay 12 2.3 Những bất cập ảnh hưởng đến vị trí, vai trò của tòa án
Chương 3: QUAN ĐIỂM, GIẢI PHÁP NÂNG CAO VỊ
TRÍ, VAI TRÒ CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN ĐÁP ỨNG
YÊU CẦU XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN Ở
3.1 Quan điểm nâng cao vị trí, vai trò của Tòa án nhân dân 18 3.2 Giải pháp nâng cao vị trí, vai trò của Tòa án nhân dân đáp ứng
yêu cầu xây dựng nhà nước pháp quyền Việt Nam hiện nay 19
Trang 4MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Ở Việt Nam, ngay từ khi Cách mạng Tháng Tám thành công, thành lập nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, Đảng và Nhà nước ta đã nhận thức
rõ tầm quan trọng của ngành tòa án Trải qua các giai đoạn cách mạng, các quy định về ngành Tòa án nhân dân (TAND) đã nhiều lần được cải cách, sửa đổi, đã dần hoàn thiện và nâng cao vị trí, vai trò của ngành Tòa án, góp phần củng cố, từng bước xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa
Tại Điều 2 Hiến pháp 1992 (Được sửa đổi, bổ sung theo Nghị quyết
số 51/2001/QH10 của Quốc hội Khoá X, kỳ họp thứ 10 thông qua ngày
25/12/2001) quy định “Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là
Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công và phối hợp giữa các cơ quan Nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp”[36, tr.13]
Thực hiện quyền tư pháp mà chủ yếu là quyền xét xử là một trong những chức năng rất quan trọng của Nhà nước Việt Nam và được giao cho TAND Do vậy, TAND có vị trí rất quan trọng trong bộ máy nhà nước
Tòa án có vị trí trung tâm trong các cơ quan tư pháp Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02-6-2005 của Bộ Chính trị “Về Chiến lược Cải cách tư
pháp đến năm 2020” đã khẳng định: “Tổ chức các cơ quan tư pháp và các
chế định bổ trợ tư pháp hợp lý, khoa học và hiện đại về cơ cấu tổ chức và điều kiện, phương tiện làm việc; trong đó xác định Tòa án có vị trí trung tâm và xét xử là hoạt động trọng tâm” [5, tr.3]
Vị trí và vai trò của Tòa án biểu hiện qua chức năng, nhiệm vụ và thẩm quyền của Tòa án được quy định trong Hiến pháp 1992, Luật tổ chức TAND, Bộ luật tố tụng hình sự, Bộ luật Tố tụng Dân sự, Luật tố tụng hành chính và các văn bản pháp luật khác
Theo quy định của những văn bản pháp luật nêu trên thì Tòa án là cơ quan xét xử duy nhất của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, chức năng xét xử của Tòa án là chức năng cơ bản và quan trọng nhất, nó bao trùm và xuyên suốt quá trình hoạt động của Tòa án; Tòa án xét xử những
Trang 5vụ án hình sự, dân sự, hôn nhân và gia đình, lao động, kinh tế, hành chính
và giải quyết những việc khác theo quy định của pháp luật
Chỉ có Tòa án mới có quyền nhân danh Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam tuyên bố một người có tội hay vô tội;
Trong phạm vi chức năng của mình, Tòa án có nhiệm vụ bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa; bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa và quyền làm chủ của nhân dân; bảo vệ tài sản của Nhà nước, của tập thể; bảo vệ tính mạng, tài sản, tự do, danh dự và nhân phẩm của công dân;
Tòa án là nơi thực hiện chức năng tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật có hiệu quả nhất Bằng việc xét xử công khai, ngoài tác dụng răn
đe, giáo dục, phòng ngừa riêng và phòng ngừa chung, còn có tác dụng tuyên truyền, giới thiệu, giải thích cho quần chúng nhân dân về pháp luật, góp phần giáo dục công dân trung thành với Tổ quốc, chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật, tôn trọng những quy tắc của cuộc sống xã hội, ý thức đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm, các vi phạm pháp luật khác; TAND
có vai trò quan trọng trong việc giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn
xã hội, tạo môi trường ổn định cho sự phát triển kinh tế, hội nhập quốc tế, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
Tuy nhiên trong thực tiễn xét xử của ngành TAND vẫn còn những mặt tồn tại không mang tính pháp quyền, làm ảnh hưởng đến vị trí, vai trò của ngành Tòa án như: chất lượng xét xử chưa đáp ứng yêu cầu, tình trạng các Bản án, Quyết định đã có hiệu lực pháp luật bị hủy tuy ít nhưng không giảm mà có xu hướng tăng, vẫn còn án tồn đọng, đặc biệt ở khâu xem xét đơn yêu cầu theo trình tự giám đốc thẩm, tái thẩm Mặt khác, vị thế của ngành Tòa án trong bộ máy nhà nước chưa được xứng tầm Tình trạng lãnh đạo địa phương coi Tòa án như một sở, một phòng vẫn còn khá phổ biến, dù mức độ biểu hiện khác nhau Nhiều bản án có hiệu lực pháp luật không được thực thi, trong đó không ít nguyên nhân là việc cản trở đến từ các cơ quan nhà nước khác; Quy định về tiêu chuẩn bổ nhiệm, nhiệm kỳ
bỏ nhiệm, quy trình bổ nhiệm thẩm phán cùng với việc hệ thống Tòa án hoạt động theo địa bàn, không độc lập hoàn Tòan theo hệ thống ngành dọc ảnh hưởng không ít đến nguyên tắc “xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật” của Tòa án; Tình trạng cán bộ tòa án, có cả các thẩm phán có những
Trang 6hành vi vi phạm pháp luật, chạy án, bị dư luận lên án cũng là nguyên nhân gây tâm lý mất lòng tin của người dân vào Tòa án tùy tiện, không công bằng
Do đó, việc nghiên cứu nhằm “nâng cao vị trí, vai trò của tòa án nhân dân đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam hiện nay”
là vấn đề cấp thiết cả về mặt lý luận và thực tiễn Vì vậy, tôi chọn đề tài này làm luận văn thạc sỹ luật học
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Cho đến nay đã có một số bài viết và công trình khoa học nghiên cứu liên quan đến vấn đề này Như vấn đề: “Cải cách các cơ quan tư pháp, hoàn thiện hệ thống các thủ tục tư pháp nâng cao hiệu quả và hiệu lực xét
xử của Tòa án nhân dân trong Nhà nước pháp quyền XHCN của dân, do dân, vì dân” Đề tài khoa học cấp nhà nước mã số KX.04.06 do TS Uông Chu Lưu chủ nhiệm đề tài; “Tính độc lập của tòa án” của TS Tô Văn Hòa, sách tham khảo, Nhà xuất bản Lao động, năm 2007; Vai trò của Tòa án trong hệ thống tư pháp của TS Phạm Hồng Hải, Tạp chí TAND, số 1/2001;
“Về quyền tư pháp trong nhà nước pháp quyền XHCN của dân, do dân, vì dân ở Việt Nam” của GS.TS Võ Khánh Vinh, Tạp chí Nhà nước và pháp luật số 8 năm 2003; “Thể chế tư pháp trong nhà nước pháp quyền” của GS,
TS Nguyến Đăng Dung, NXB Tư pháp, năm 2004; “Cải cách tư pháp trong tổ chức quyền lực nhà nước” của GS Nguyễn Đăng Dung, Tạp chí Khoa học Đại học Quốc gia Hà Nội số 25 năm 2009; Vai trò giải thích pháp luật của tòa án hiến pháp của Cao Vũ Minh, Đại học Luật Thành phố
Hồ Chí Minh; Đổi mới tổ chức và hoạt động của toà án nhân dân của LS
Phạm Quý Tỵ; Chương trình khoa học xã hội cấp Nhà nước Đề tài KX 04-02
về “mô hình tổ chức và hoạt động của nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân ở nước ta trong thời kỳ công nghiêp hoá, hiện đại hoá đất nước”…
Các công trình trên đã đề cập một phần đến vấn đề này, tuy nhiên nhìn chung chưa có công trình nào nghiên cứu một cách đầy đủ, hoàn thiện vấn đề: nâng cao vị trí, vai trò của TAND đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam hiện nay Luận văn sẽ tiếp thu có chọn lọc những kết quả nghiên cứu của các công trình khoa học pháp lý có liên quan để phát triển và hoàn chỉnh vấn đề nghiên cứu của mình
Trang 73 Mục đớch và nhiệm vụ của Luận văn
3.1 Mục đích của luận văn: Luận giải những vấn đề lý luận và thực
tiễn và đ-a ra những quan điểm và đề xuất những giải pháp pháp lý nhằm nõng cao vị trớ, vai trũ của TAND đỏp ứng yờu cầu xõy dựng Nhà nước phỏp quyền Việt Nam hiện nay
3.2 Nhiệm vụ của luận văn: Hệ thống hóa, làm rõ cơ sở lý luận về
vị trớ, vai trũ của TAND trong Nhà nước phỏp quyền Việt Nam; Phân tích
và đánh giá thực trạng về vị trớ, vai trũ của TAND; Đề xuất những quan
điểm và giải pháp pháp lý cơ bản nhằm nõng cao vị trớ, vai trũ của TAND đỏp ứng yờu cầu xõy dựng Nhà nước phỏp quyền Việt Nam hiện nay
4 Đối t-ợng và phạm vi nghiên cứu
Trong khuôn khổ luận văn thạc sỹ tác giả chỉ tập trung nghiên cứu các quy định pháp luật về vị trí, vai trò của toà án nhân dân từ khi có Luật tổ chức TAND năm 2002 đến nay qua thực tiễn hoạt động của ngành Toà án trên phạm vi cả n-ớc.Vị trí, vai trò của Toà án nhân dân d-ới các góc độ phi pháp
lý (kinh tế, chính trị) không đề cập trực tiếp trong luận văn này
5 Cơ sở lý luận và ph-ơng pháp nghiên cứu
Việc nghiên cứu đề tài dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Lênin và t- t-ởng Hồ Chí Minh về nhà n-ớc và pháp luật, quan điểm của
Mác-Đảng và Nhà n-ớc ta về nhà n-ớc và pháp luật và yêu cầu của việc xây dựng Nhà n-ớc pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa, của dân, do dân, vì dân
Việc nghiên cứu đề tài dựa trên các ph-ơng pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch sử, đồng thời sử dụng tổng hợp các ph-ơng pháp phân tích, tổng hợp, ph-ơng pháp so sánh, tổng kết thực tiễn
6 Đóng góp về lý luận và thực tiễn của luận văn
Thông qua việc nghiên cứu đề tài này luận văn góp phần làm sáng tỏ cơ sở lý luận và thực tiễn; đánh giá có hệ thống thực trạng các quy định của pháp luật về vị trớ, vai trũ của TAND Đề xuất một số quan điểm và giải pháp pháp lý cơ bản góp phần nõng cao vị trớ, vai trũ của TAND đỏp ứng yờu cầu xõy dựng Nhà nước phỏp quyền Việt Nam hiện nay
7 Kết cấu của Luận văn: Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 ch-ơng, 7 tiết
Trang 8Chương 1
CƠ SỞ Lí LUẬN VỀ VỊ TRÍ, VAI TRề CỦA TềA ÁN
TRONG NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN 1.1 Nhà nước phỏp quyền
Nhà n-ớc pháp quyền là một hiện t-ợng chính trị pháp lý phức tạp, th-ờng đ-ợc hiểu theo nhiều cấp độ Cho đến nay ch-a có một định nghĩa bao quát hết nội dung của nó Tuy vậy, bao trùm lên tất cả, nhà n-ớc pháp quyền là: nhà n-ớc tuân theo pháp luật và quản lý bằng pháp luật, xem pháp luật có vị trí chi phối mọi hành vi của cơ quan công quyền và công dân”, hoặc nh¯ nước pháp quyền l¯ nh¯ nước phục tùng pháp luật, nhấn mạnh vào chủ thể tuân theo pháp luật tr-ớc hết là nhà n-ớc, cơ quan nhà nước, viên chức nh¯ nước chỉ được l¯m những điều pháp luật cho phép”, nhằm chống xu h-ớng tuỳ tiện, chuyên quyền, độc đoán trong hoạt động của bộ máy nhà n-ớc
Những đặc điểm cơ bản nhất của nhà nước phỏp quyền như sau:
- Nhà nước phỏp quyền là nhà nước đảm bảo tớnh tối cao của Hiến phỏp và phỏp luật trong đời sống xó hội Phỏp luật chi phối và cú hiệu lực phỏp lý tối thượng trong xó hội, phỏp luật phản ỏnh ý chớ chung của nhõn dõn, phản ỏnh lợi ớch chung của xó hội
- Trong nhà nước phỏp quyền, quyền lực nhà nước được tổ chức khoa học, bảo đảm nguyờn tắc phõn quyền và yờu cầu về sự độc lập của tư phỏp Tức nhà nước phải cú hỡnh thức tổ chức quyền lực nhà nước thớch hợp và cú cơ chế hữu hiệu giỏm sỏt sự tuõn thủ phỏp luật, xử lý cỏc vi phạm phỏp luật, bảo đảm cho phỏp luật được thực hiện
- Phỏp luật trong nhà nước phỏp quyền phải được ỏp dụng cụng bằng, nhất quỏn, bảo đảm tớnh cụng khai, minh bạch, dễ tiếp cận, ỏp dụng kịp thời
- Trong nhà nước phỏp quyền khụng chỉ cụng dõn cú nghĩa vụ với nhà nước mà nhà nước cũng phải cú nghĩa vụ với cụng dõn Quyền của cụng dõn là trỏch nhiệm của nhà nước và ngược lại, quyền của nhà nước là trỏch nhiệm của cụng dõn
- Nhà nước phỏp quyền tụn trọng và bảo vệ quyền cụng dõn và quyền con người Nhà nước phỏp quyền khụng chỉ cụng nhận và tuyờn bố cỏc quyền tự do của cụng dõn, mà con phải bảo đảm thực hiện và bảo vệ cỏc
Trang 9quyền đó khi chúng bị xâm hại Tự do của một người là được làm những
gì mà pháp luật không cấm trong khuôn khổ không xâm hại đến tự do của người khác
1.2 Vị trí, vai trò của Tòa án trong nhà nước pháp quyền
Trong nhà nước pháp quyền, Tòa án được giao quyền xét xử, quyền chủ yếu trong quyền tư pháp một trong ba quyền lực nhà nước là quyền lập pháp, quyền hành pháp, quyền tư pháp Tòa án là cơ quan độc lập có thẩm quyền riêng biệt do luật định, chuyên thực hiện việc xét xử bằng hoạt động
tố tụng tư pháp tương ứng về hiến pháp, hình sự, hành chính, dân sự, kinh
tế để bảo vệ chế độ hiến định, nhân thân, các quyền và tự do của con người
và của công dân Vai trò của Tòa án trong nhà nước pháp quyền thể hiện ở một số điểm sau:
Thứ nhất, khẳng định trong thực tiễn nguyên tắc phân công quyền
lực trong nhà nước pháp quyền
Thứ hai, khẳng định trên thực tiễn nguyên tắc về tính phối hợp, chế
ước, kiểm tra lẫn nhau của ba nhánh quyền lực nhà nước trong nhà nước pháp quyền
Thứ ba, khẳng định nguyên tắc về tính tối cao của pháp luật, pháp
luật ngự trị trong các lĩnh vực của đời sống xã hội
Thứ tư, Tòa án thông qua hoạt động xét xử có vai trò bảo vệ chế độ
hiến định, nhân thân, các quyền và tự do của con người và của công dân trong nhà nước pháp quyền
Chương 2 THỰC TRẠNG VỊ TRÍ, VAI TRÒ CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN Ở VIỆT NAM
2.1 Quá trình hình thành và phát triển ngành Tòa án và vị trí vai trò của TAND ở Việt Nam
2.1.1 TAND trong giai đoạn từ năm 1945 đến năm 1959
Ngày 13-9-1945, Chủ tịch Chính phủ lâm thời Việt Nam Dân chủ Cộng hoà đã ra Sắc lệnh thiết lập các Tòa án quân sự, đánh dấu sự ra đời của TAND ở nước ta
Trang 10Ngày 24-1-1946, Chủ tịch Chính phủ lâm thời Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã ra Sắc lệnh số 13/SL về tổ chức các Tòa án và các ngạch thẩm phán Theo Sắc lệnh này, mô hình hệ thống Tòa án tổ chức theo cấp xét xử lần đầu tiên được hình thành ở nước ta gồm: Tòa án sơ cấp, Tòa án
đệ nhị cấp và Tòa thượng thẩm
Bản Hiến pháp đầu tiên của nước ta (được Quốc hội nước Việt Nam dân chủ Cộng hoà thông qua ngày 09-11-1946) ghi nhận hầu hết các nguyên tắc cơ bản về tổ chức và hoạt động của Tòa án, đồng thời, mô hình
hệ thống Tòa án đã có những thay đổi quan trọng Theo đó, các cơ quan tư pháp được tổ chức theo ba cấp gồm: Tòa án Tối cao; các Tòa án phúc thẩm; các Tòa án đệ nhị cấp và sơ cấp
Trong giai đoạn từ năm 1945 đến năm 1959, có thể thấy bước phát triển về tổ chức và hoạt động của TAND Các Tòa án quân sự, Tòa án binh thực hiện tốt chức năng xét xử được giao, đã đóng vai trò quan trọng trong việc trừng trị trấn áp bọn phản cách mạng, góp phần bảo vệ chính quyền non trẻ của đất nước; Tòa án góp phần đập tan âm mưu và hành động chống phá cách mạng của đế quốc Mỹ và bọn phản động tay sai của chúng Ngăn chặn có hiệu quả tư tưởng cầu an, hưởng lạc, công thần, địa vị, thu vén cá nhân, giảm sút ý chí chiến đấu dẫn đến phạm tội gây thiệt hại cho Nhà nước và xâm phạm đến sức mạnh chiến đấu của quân đội Đồng thời, thông qua hoạt động xét xử tuyên truyền giáo dục pháp luật, góp phần nâng cao hiểu biết pháp luật, ý thức đấu tranh phòng chống tội phạm, ngăn chặn kịp thời hiệu quả hoạt động phá hoại của bọn phản động, những hành vi trốn tránh nhiệm vụ như đào ngũ, kháng lệnh, đầu hàng, phản bội hoặc chạy theo địch, xâm phạm tài sản của Nhà nước, của công dân
2.1.2 TAND trong giai đoạn từ năm 1959 đến năm 1980
Tháng 4-1958, Quốc hội quyết định thành lập TAND Tối cao và Viện Công tố nhân dân Trung ương, tách hệ thống TAND và Viện công tố
ra khỏi Bộ Tư pháp, đã đánh dấu bước cải cách tiếp theo về tổ chức và hoạt động của TAND Kể từ thời điểm này, hệ thống TAND không còn trực thuộc Hội đồng Chính phủ mà chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất, đó là Quốc hội
Trang 11Ngày 31-12-1959, Quốc hội thông qua bản Hiến pháp năm 1959, trong đó quy định hệ thống TAND bao gồm TAND Tối cao, các TAND địa phương, các Tòa án quân sự Trong trường hợp cần xét xử những vụ án đặc biệt, Quốc hội có thể quyết định thành lập Tòa án đặc biệt Đồng thời, quy định các nguyên tắc cơ bản về tổ chức và hoạt động của Tòa án TAND Tối cao chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước Quốc hội, trong thời gian Quốc hội không họp thì chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước Uỷ ban thường vụ Quốc hội Các TAND địa phương chịu trách nhiệm
và báo cáo công tác trước hội đồng nhân dân địa phương
Ngành TAND đã tăng cường đấu tranh trấn áp bọn phản cách mạng, trừng trị kịp thời và nghiêm khắc mọi hoạt động phản cách mạng, đặc biệt
là đối với các hoạt động gián điệp, biệt kích, hoạt động tổ chức phản cách mạng, hoạt động chiến tranh tâm lý, phát huy đến mức cao nhất tác dụng chính trị của việc xét xử, góp phần tiêu diệt bọn phản cách mạng ở miền Bắc, đồng thời nêu cao tính ưu việt của chế độ xã hội chủ nghĩa, gây ảnh hưởng chính trị tốt đối với miền nam
Bên cạnh việc đấu tranh trấn áp bọn phản cách mạng, TAND đóng vai trò quan trọng trong việc trừng trị những hành vi xâm phạm tài sản XHCN,
vi phạm các nguyên tắc, chính sách, chế độ, thể lệ quản lý kinh tế tài chính, quản lý thị trường cũng như trong việc trừng trị các hành vi xâm phạm trật tự trị an và an toàn xã hội, vi phạm các chính sách lớn của thời chiến Góp phần bảo vệ an ninh Tổ quốc, bảo vệ tài sản xã hội chủ nghĩa, bảo vệ trật tự công cộng và an Tòan xã hội, xây dựng cuộc sống mới, con người mới
2.1.3 TAND giai đoạn từ năm 1980 đến năm 1992
Ngày 18- 12-1980, Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá IV, kỳ họp thứ 7 đã thông qua Hiến pháp của nước Việt Nam thống nhất Theo các quy định của bản Hiếp pháp này thì hầu hết các nguyên tắc cơ bản về tổ chức và hoạt động của TAND quy định tại Hiến pháp năm 1959 vẫn tiếp tục được ghi nhận và bổ sung thêm hai nguyên tắc quan trọng là "TAND xét xử tập thể và quyết định theo đa số" và "các bản
án và quyết định của TAND đã có hiệu lực pháp luật phải được các cơ quan nhà nước, các tổ chức và mọi công dân tôn trọng; những người và đơn vị hữu quan phải nghiêm chỉnh chấp hành"
Trang 12Ngày 3-7-1981, Quốc hội khoá IV đã thông qua Luật tổ chức TAND (sau
đó được sửa đổi, bổ sung theo Luật sửa đổi, bổ sung Luật tổ chức TAND được Quốc hội thông qua ngày 22-12-1988) Theo quy định của Luật này thì hệ thống TAND gồm: TAND Tối cao; các TAND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; các TAND huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh; các Tòa án quân sự; trong trường hợp đặc biệt hoặc trong trường hợp cần xét xử những vụ
án đặc biệt, Quốc hội hoặc Hội đồng Nhà nước có thể quyết định thành lập Tòa
án đặc biệt
Trong giai đoạn này, ngành Tòa án đã cùng toàn Đảng, Tòan dân, toàn quân phát huy những nhân tố tích cực, khắc phục khó khăn giành nhiều thắng lợi to lớn Ngành Tòa án đã giữ vai trò quan trọng trong công cuộc đấu tranh phòng và chống tội phạm, đẩy mạnh việc phổ biến giáo dục pháp luật, xét xử kịp thời nghiêm khắc đúng pháp luật nhiều vụ án phản cách mạng, nhiều vụ án về kinh tế và trật tự, an toàn xã hội Góp phần tấn công truy quét bọn phạm tội, nghiêm trị bọn lưu manh, côn đồ, bọn cướp của, xâm phạm tính mạng, sức khỏe của nhân dân, giữ vững trật tự, an Tòan xã hội
2.1.4 TAND giai đoạn từ năm 1992 đến năm 2002
Ngày 15/4/1992, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa VIII, kỳ hợp thứ 11 đã thông qua Hiến pháp năm 1992 Một số quy định mới của Hiến pháp năm 1992 đã tạo cơ sở cho việc đổi mới các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của cơ quan Tòa án Trên cơ sở Hiến pháp năm 1992, ngày 6-10-1992, Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá IX, kỳ họp thứ nhất đã thông qua Luật tổ chức TAND năm
1992 (sau đó được sửa đổi, bổ sung theo các Luật sửa đổi, bổ sưng một số điều của Luật tổ chức TAND, được Quốc hội thông qua ngày 28-12-1993 và ngày 28-l0-1995) Đồng thời, ngày 19-4-1993, Uỷ ban thường vụ Quốc hội thông qua Pháp lệnh tổ chức Tòa án quân sự và ngày 14-5-1993 thông qua Pháp lệnh về Thẩm phán và Hội thẩm TAND Với việc ban hành các văn bản pháp luật này, tổ chức và hoạt động của TAND đã được kiện toàn và đổi mới một bước để phù hợp với yêu cầu, nhiệm vụ xây dựng nền kinh tế thị trường
xã hội chủ nghĩa, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam
và công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước theo các Nghị quyết của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá VII và khoá VIII
Trang 13Tương ứng với sự thay đổi về nhiệm vụ, thẩm quyền của TAND, cơ cấu tổ chức của các TAND có sự bổ sung căn bản so với các quy định của pháp luật trong các giai đoạn trước năm 1992 Cụ thể, về cơ cấu tổ chức của TAND Tối cao gồm có: Hội đồng Thẩm phán TAND Tối cao; Uỷ ban Thẩm phán TAND Tối cao; Tòa án quân sự Trung ương, Tòa hình sự, Tòa dân sự, Tòa kinh tế, Tòa lao động, Tòa hành chính, các Tòa phúc thẩm của TAND Tối cao và bộ máy giúp việc của TAND Tối cao
TAND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, cơ cấu tổ chức của Tòa
án cấp này gồm: Uỷ ban Thẩm phán, Tòa hình sự, Tòa dân sự, Tòa kinh tế, Tòa lao động, Tòa hành chính và bộ máy giúp việc của TAND tỉnh
Đối với cơ cấu tổ chức của TAND huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh mặc dù được giao thêm thẩm quyền xét xử các vụ án kinh tế, lao động, hành chính nhưng vẫn giữ nguyên như trước đây, không có Uỷ ban Thẩm phán và cũng không có các Tòa chuyên trách
Có thể thấy, hệ thống Tòa án đã có những cải cách nhất định cả về tổ
chức và hoạt động, bước đầu đáp ứng với yêu cầu, nhiệm vụ của Tòa án trong công cuộc đổi mới đất nước và phù hợp với thực tiễn đời sống kinh
tế, chính trị, xã hội ở nước ta trong thời kỳ đổi mới Kết quả đổi mới tổ chức và hoạt động của Tòa án thể hiện ở việc Tòa án đã được giao thêm thẩm quyền giải quyết, xét xử các vụ án kinh tế, lao động, hành chính và giải quyết các yêu cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp; trong cơ cấu tổ chức của TAND Tối cao và Tòa án cấp tỉnh thành lập các Tòa chuyên trách tương ứng để thực hiện việc xét xử các loại vụ mới thuộc thẩm quyền của Tòa án; chế độ bổ nhiệm thẩm phán theo tiêu chuẩn cụ thể với nhiệm
kỳ 5 năm thay cho chế độ bầu thẩm phán, đồng thời để bảo đảm cho việc
bổ nhiệm thẩm phán đúng và có chất lượng đã thành lập hội đồng tuyển chọn thẩm phán Tòa án các cấp góp phần nâng cao chất lượng đội ngũ cán
bộ làm công tác xét xử Có bước tiến mới bên cạnh việc cải cách chế độ tiền lương đối với thẩm phán, thể hiện sự đánh giá lao động xét xử là một loại lao động quan trọng, cần được sự ưu đãi của nhà nước Bên cạnh đó,
cơ sở vật chất, phương tiện làm việc của các Tòa án đã được quan tâm và cải thiện một bước