Phân biệt tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy với tội cưỡng bức, lôi kéo người khác sử dụng trái Chương 3: THỰC TIỄN XÉT XỬ, NHỮNG GIẢI PHÁP TIẾP TỤC HOÀN THIỆN CÁC QUY ĐỊNH CỦA B
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
HOÀNG THỊ THU CHANG
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
VỀ TỘI TỔ CHỨC SỬ DỤNG TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY
TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
Chuyên ngành : Luật hình sự
Mã số : 60 38 40
TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - 2012
Trang 23 4
Công trình được hoàn thành tại Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội
Người hướng dẫn khoa học: TS Trịnh Quốc Toản
Phản biện 1:
Phản biện 2:
Luận văn được bảo vệ tại Hội đồng chấm luận văn, họp tại Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội
Vào hồi giờ , ngày tháng năm 2012
Có thể tìm hiểu luận văn tại Trung tâm tư liệu - Thư viện Đại học Quốc gia Hà Nội Trung tâm tư liệu - Khoa Luật Đại học Quốc
gia Hà Nội
Trang 3MỤC LỤC CỦA LUẬN VĂN
Trang
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục các bảng
Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TỘI TỔ CHỨC SỬ DỤNG TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY
TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
7
1.1 Khái niệm và ý nghĩa của việc quy định tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy trong luật hình sự
1.1.2 Ý nghĩa của việc quy định tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy trong Luật Hình sự Việt Nam 14 1.2 Khái quát lịch sử lập pháp hình sự việt nam quy định tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy 18 1.2.1 Giai đoạn từ sau Cách mạng tháng tám năm 1945 cho đến trước khi ban hành Bộ luật hình sự năm 1985 18 1.2.2 Giai đoạn từ sau khi ban hành Bộ luật hình sự năm 1985 đến trước khi ban hành Bộ luật hình sự năm
1999
20
1.3 Nghiên cứu so sánh các quy định về tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy trỏng luật hình sự Việt
Chương 2: CÁC QUY ĐỊNH VỀ TỘI TỔ CHỨC SỬ DỤNG TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY THEO BỘ
34
2.2.1 Phạm tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy không có các tình tiết là yếu tố định khung hình phạt 52 2.2.2 Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 197
2.2.3 Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 197
2.2.4 Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp quy định tại khoản 4 Điều 197
2.3 )hân biệt tội phạm tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy với một số tội phạm về ma túy khác trong luật
2.3.1 Phân biệt tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy và tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc
2.3.2 Phân biệt tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy và tội sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, mua bán các phương
tiện, dụng cụ dùng vào việc sản xuất hoặc sử dụng trái phép chất ma túy (Điều 196 Bộ luật hình sự) 67 2.3.3 Phân biệt tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy với tội chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy
2.3.4 Phân biệt tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy với tội cưỡng bức, lôi kéo người khác sử dụng trái
Chương 3: THỰC TIỄN XÉT XỬ, NHỮNG GIẢI PHÁP TIẾP TỤC HOÀN THIỆN CÁC QUY ĐỊNH CỦA
BỘ LUẬT HÌNH SỰ HIỆN HÀNH VỀ TỘI TỔ CHỨC SỬ DỤNG TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY VÀ
73
3.1.1 Đánh giá, phân tích tình hình xét xử tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy trong 6 năm (từ năm
3.2.1 Sự cần thiết và ý nghĩa của việc hoàn thiện các quy định của Bộ luật hình sự về tội tổ chức sử dụng trái
3.2.2 Những giải pháp tiếp tục hoàn thiện các quy định của Bộ luật hình sự về tội tổ chức sử dụng trái phép
3.3 Những giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng các quy định của Bộ luật hình sự về tội tổ chức sử dụng
3.3.1 Tăng cường công tác hướng dẫn, giải thích các quy định của Bộ luật hình sự hiện hành trong tương
quan với các văn bản pháp luật khác về tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy 94
3.3.3 Phối hợp các cơ quan, tổ chức với các cơ quan bảo vệ pháp luật và Tòa án để phòng ngừa, ngăn chặn và
3.3.4 Giải pháp nâng cao năng lực, trách nhiệm và tăng cường điều kiện cơ sở vật chất, trang thiết bị, công cụ 98
Trang 47 8
hỗ trợ cho đội ngũ cán bộ trực tiếp làm công tác điều tra, truy tố, xét xử và cán bộ làm công tác đấu tranh phòng chống tội phạm ma túy
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Từ những năm cuối thế kỷ XX đến nay, cộng đồng quốc tế đang phải đối phó với nhiều vấn đề nghiêm trọng như nạn khủng bố, nạn buôn bán trẻ em… trong đó có vấn đề ma túy Ma túy đã trở thành thảm họa chung của nhân loại, gây tác hại nhiều mặt, làm gia tăng tội phạm, bạo lực và nhiều tệ nạn xã hội khác Ma túy còn kéo theo việc hủy hoại sức khỏe lao động và những tiềm năng quý báu khác mà lẽ ra phải được huy động cho việc phát triển kinh tế - xã hội, đem lại hạnh phúc cho mọi người Không những thế, ma túy còn đang làm suy thoái nhân cách, phẩm giá con người, tàn phá cuộc sống yên vui của nhiều gia đình, gây xói mòn đạo lý xã hội, ảnh hưởng xấu đến sự ổn định của một quốc gia và là tác nhân chủ yếu thúc đẩy căn bệnh HIV/AIDS phát triển
Sau khi Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), việc giao lưu buôn bán quốc tế ngày càng phát triển thì tình hình mua bán, vận chuyển, tàng trữ càng khó kiểm soát hơn, tình hình nghiện hút, tiêm chích và tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy ngày càng diễn biến phức tạp Đối tượng phạm tội ma túy quan hệ, móc nối với người nước ngoài, buôn bán, vận chuyển ma túy từ nước ngoài vào Việt Nam và một số nước khác
Trước thực trạng nghiêm trọng nêu trên, Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều chủ trương, chính sách nhằm ngăn chặn
và đẩy lùi tệ nạn này Một trong những biện pháp nhằm đấu tranh phòng, chống tệ nạn ma túy là việc xử lý các hành vi phạm tội về ma túy, nhất là tội phạm tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy Loại tội phạm này không chỉ tăng về số lượng mà cả về đối tượng phạm tội Phương thức, thủ đoạn phạm tội ngày càng tinh vi, xảo quyệt; tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội ngày càng lớn hơn Đây là nguyên nhân quan trọng làm cho tệ nạn ma túy ngày càng gia tăng và phức tạp hơn, đồng thời còn gây khó khăn thách thức đối với các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong việc điều tra, truy tố, xét xử cũng như trong chủ động phòng ngừa, ngăn chặn, đấu tranh và phòng chống tội phạm, bảo đảm phát hiện chính xác, nhanh chóng và xử lý công minh, kịp thời mọi hành vi phạm tội, không bỏ lọt tội phạm, không làm oan người vô tội
Tuy nhiên, các quy định của luật hình sự Việt nam về tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy còn chưa hoàn thiện, nhất là thiếu quy phạm định nghĩa và một số quy định liên quan các yếu tố định tội và định khung hình phạt chưa rõ ràng nên dẫn đến nhiều cách hiểu khác nhau, không thống nhất trong việc nhận thức về dấu hiệu pháp lý, đường lối xử lý và định tội danh đối với tội phạm tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy Vì vậy, trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử loại tội phạm này còn nhiều nhận định khác nhau giữa những cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng về việc định tội danh
và định khung hình phạt hoặc không phân biệt được sự khác nhau giữa tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy với một
số tội phạm về ma túy khác trong Bộ luật hình sự năm 1999
Từ những lý do nêu trên, việc tác giả quyết định lựa chọn đề tài nghiên cứu "Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về
tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy trong Luật hình sự Việt Nam" làm luận văn thạc sĩ Luật học
2 Tình hình nghiên cứu
Dưới góc độ khoa học pháp lý, trong thời gian qua việc nghiên cứu các tội phạm về ma túy nói chung bắt đầu đã được triển khai sâu rộng và đã thu hút được sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu lý luận, luật gia hình sự và cán bộ thực tiễn Đến nay, ở các mức độ khác nhau, trực tiếp và gián tiếp đã có nhiều công trình nghiên cứu được công bố, đồng thời được thể hiện ở
một số luận văn, luận án, sách chuyên khảo, tham khảo, bình luận và giáo trình như: GS.TSKH Lê Văn Cảm (2004), Sách chuyên khảo Sau đại học: Những vấn đề cơ bản trong khoa học Luật hình sự (Phần chung)", Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội; Tập thể tác giả do TSKH.PGS Lê Văn Cảm (chủ biên) (2003), Giáo trình Luật Hình sự Việt Nam (Phần các tội phạm), Nxb
Đại học Quốc gia Hà Nội Ngoài ra, các vấn đề lý luận và thực tiễn xét xử còn được nghiên cứu trong một số công trình nghiên
cứu của Ths Đinh Văn Quế, Bình luận khoa học Bộ luật hình sự, Tập IV: Các tội phạm về ma túy, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh, 2006 Bên cạnh đó, còn có các bài viết của các tác giả như TS Nguyễn Tuyết Mai, Một số đặc điểm cần chú ý về nhân thân của người phạm tội về ma túy ở Việt Nam, Tạp chí Luật học, số 11/2006; Hoàng Ngọc Bích, Ma túy - con đường hình thành và phát triển ở Việt Nam, Tạp chí Tòa án nhân dân, số 6/1999; Phạm Gia Khiêm, Ma túy đã tiếp thêm nhiên liệu cho một nền kinh tế phi pháp và ảnh hưởng đến an ninh xã hội, Tạp chí Phòng chống ma túy, số 10/2000 Bên cạnh đó, còn phải kể
đến một số luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ Luật học chuyên ngành Tư pháp hình sự và một số báo pháp lý hình sự có liên quan đến các tội phạm về ma túy
Trang 611 12
Tuy nhiên, qua nghiên cứu cho thấy một số công trình có phạm vi nghiên cứu rộng và chung cả nhóm tội, trong đó tội phạm tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy chỉ là một phần nhỏ trong nội dung nghiên cứu của các tác giả trong các giáo trình, sách bình luận, luận văn, luận án Việc nghiên cứu độc lập tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy chỉ được đề cập gián tiếp qua một số tài liệu luật học hay qua một số bài viết đơn lẻ về các điểm mới và nhận định mới trên các tạp chí Chưa
có công trình nghiên cứu nào phân tích sâu về mặt lý luận và thực tiễn, đặc biệt là nghiên cứu độc lập và đánh giá thực tiễn xét xử của Tòa án ở nước ta về tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy trong thời gian từ 2005 - 2010
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là nghiên cứu một số vấn đề chung về tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy trong
luật hình sự Việt Nam; phân tích và làm sáng tỏ dấu hiệu pháp lý của tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy theo quy định của pháp luật hiện hành và thực tiễn xét xử Đề xuất một số ý kiến hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả áp dụng các quy định về tội phạm tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, đồng thời đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác đấu tranh phòng chống tội phạm này ở Việt nam trong giai đoạn hiện nay
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Trong khuôn khổ một luận văn thạc sĩ, luận văn làm sáng tỏ các dấu hiệu pháp lý của tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, phân biệt tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy với một số tội phạm khác, nghiên cứu lịch sử hình thành
và phát triển về tội phạm này, đánh giá thực tiễn xét xử loại tội phạm này ở nước ta trong thời gian từ năm 2005 - 2010, trên cơ sở đó chỉ ra một số tồn tại, hạn chế trong lý luận và thực tiễn, các nguyên nhân cơ bản, qua đó tìm giải pháp về mặt thực tiễn để góp phần phòng, chống tội phạm này
4 Mục đích nghiên cứu của luận văn
Mục đích của luận văn là nhằm làm rõ nội dung pháp lý của tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, dựa trên những vấn đề lý luận và thực tiễn xét xử ở Việt Nam Trên cơ sở đó đưa ra những ý kiến của cá nhân nhằm góp phần hoàn thiện các quy định của pháp luật, tăng cường hiệu quả công tác đấu tranh phòng chống tội phạm ma túy ở Việt nam trong giai đoạn hiện nay
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Cơ sở lý luận
Luận văn được thực hiện dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và những chủ trương, đường lối của Đảng, Nhà nước ta về đấu tranh phòng chống tội phạm
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Quá trình nghiên cứu trong luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể như: phân tích, tổng hợp và thống
kê xã hội học; phương pháp so sánh, đối chiếu; phân tích thuần túy quy phạm pháp luật, khảo sát thực tiễn; nghiên cứu, điều tra án điển hình…để phân tích và luận chứng các vấn đề khoa học cần nghiên cứu trong luận văn này Trong quá trình thực hiện đề tài luận văn, tác giả tiếp thu có chọn lọc kết quả nghiên cứu của các công trình khoa học đã công bố; các đánh giá, tổng kết của các cơ quan chuyên môn và các chuyên gia về những vấn đề có liên quan đến các vấn đề nghiên cứu trong luận văn
6 Những đóng góp mới của luận văn
6.1 Về mặt lý luận
Kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần hoàn thiện lý luận về tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy trong khoa học luật hình sự Việt Nam Góp phần làm rõ các vấn đề chung về tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy trong luật hình sự Việt Nam; khái quát lịch sử hình thành và phát triển về tội phạm này từ Cách mạng tháng Tám năm 1945 đến nay; phân biệt tội phạm này với một số tội phạm khác thường có sự nhầm lẫn trong thực tiễn điều tra, truy tố, xét xử; làm sáng tỏ các quy định của Bộ luật hình sự năm 1999 về tội phạm này; phân tích số liệu thực tiễn xét xử trên địa bàn toàn quốc từ năm 2005 - 2010 và nghiên cứu một số bản án hình sự của Tòa án để đánh giá, qua đó chỉ ra những mâu thuẫn, bất cập của các quy định hiện hành, các sai sót trong quá trình áp dụng các quy định đó, cũng như đưa ra các nguyên nhân để tìm giải pháp khắc phục, đề xuất những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng các quy định của Bluật hình
sự về tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy ở khía cạnh lập pháp và việc áp dụng trong thực tiễn
6.2 Về mặt thực tiễn
Trang 7Luận văn còn có ý nghĩa làm tài liệu tham khảo lý luận, nghiên cứu, học tập Những đề xuất, kiến nghị của luận văn góp phần cung cấp những luận cứ khoa học phục vụ cho công tác lập pháp và hoạt động thực tiễn áp dụng Bộ luật hình
sự Việt Nam liên quan đến tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, qua đó góp phần nâng cao hiệu quả công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm này
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Một số vấn đề chung về tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy trong Luật hình sự Việt Nam
Chương 2: Các quy định về tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy theo Bộ luật hình sự Việt Nam hiện hành
Chương 3: Thực tiễn xét xử, những giải pháp tiếp tục hoàn thiện các quy định của Bộ luật hình sự hiện hành về tội
tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy và nâng cao hiệu quả áp dụng
Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TỘI TỔ CHỨC SỬ DỤNG TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM 1.1 Khái niệm và ý nghĩa của việc quy định tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy trong luật hình sự Việt Nam
1.1.1 Khái niệm tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
Trên cơ sở tiếp thu có chọn lọc những quan điểm khác nhau về định nghĩa khái niệm tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy và căn cứ vào các quy định về tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy trong pháp luật hình sự Việt Nam, có
thể đưa ra định nghĩa khoa học của khái niệm tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy như sau: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy là hành vi cố ý của một hoặc nhiều người trở lên, có năng lực trách nhiệm hình sự và đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự thực hiện, bao gồm: chỉ huy, phân công, điều hành các hoạt động đưa trái phép chất ma túy vào cơ thể người khác hoặc chỉ huy, phân công, điều hành việc chuẩn bị, cung cấp chất ma túy, địa điểm, phương tiện, dụng cụ, dùng vào việc sử dụng trái phép chất ma túy, tìm người sử dụng trái phép chất ma túy để đưa trái phép chất ma túy vào
cơ thể người khác một cách thuận lợi
1.1.2 Ý nghĩa của việc quy định tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy trong luật hình sự Việt Nam
Thứ nhất, dưới góc độ chính trị - xã hội, đã góp phần cụ thể hóa các quy định của Hiến pháp về việc bảo vệ chế độ
độc quyền quản lý, sử dụng các chất ma túy của Nhà nước, bảo vệ tính mạng, sức khỏe con người, an ninh trật tự an toàn
xã hội vào Bộ luật hình sự
Thứ hai, về mặt lý luận, là cơ sở pháp lý hình sự đầy đủ và thống nhất để các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến
hành tố tụng có căn cứ để tiến hành điều tra, truy tố, xét xử các hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy đúng người, đúng tội, không bỏ lọt tội phạm, không xử oan người vô tội
Thứ ba, việc quy định tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy với các tình tiết tăng nặng định khung hình phạt
tương ứng với các mức độ phạm tội khác nhau không những chỉ trừng trị và giáo dục chính bản thân người phạm tội không phạm tội mới mà còn có mục đích răn đe, giáo dục đối với các thành viên khác trong xã hội nhất là đối với những công dân không vững vàng, dễ bị lôi kéo; qua đó bồi dưỡng cho mọi công dân tinh thần, ý thức tuân thủ pháp luật, chủ động tham gia phòng ngừa và chống tội phạm tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
1.2 Khái quát lịch sử lập pháp hình sự Việt Nam quy định tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
1.2.1 Giai đoạn từ sau Cách mạng tháng tám năm 1945 cho đến trước khi ban hành Bộ luật hình sự năm 1985 1.2.2 Giai đoạn từ sau khi ban hành Bộ luật hình sự năm 1985 đến trước khi ban hành Bộ luật hình sự năm
1999
1.2.3 Giai đoạn từ sau khi ban hành Bộ luật hình sự năm 1999 đến nay
1.3 Nghiên cứu so sánh các quy định về tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy trong luật hình sự Việt Nam với Luật hình sự một số nước
1.3.1 Bộ luật hình sự Nhật Bản
Trang 815 16
1.3.2 Bộ luật hình sự Canada
1.3.3 Bộ luật hình sự Liên bang Nga
Chương 2
CÁC QUY ĐỊNH VỀ TỘI TỔ CHỨC SỬ DỤNG TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY THEO BỘ LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM HIỆN HÀNH 2.1 Các dấu hiệu pháp lý đặc trưng của tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
2.1.1 Khách thể của tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
Khách thể trực tiếp của tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy là chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về việc
sử dụng các chất ma túy Ngoài ra, hành vi phạm tội còn xâm hại đến các quan hệ xã hội khác như: ảnh hưởng đến tính mạng, sức khỏe cộng đồng và lan tràn tệ nạn nghiện hút ma túy, ảnh hưởng đến trật tự an toàn xã hội
2.1.2 Mặt khách quan của tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
Hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy được quy định tại Điều 197của Bộ luật hình sự hiện hành là tội phạm có dấu hiệu "có tổ chức" là đặc điểm bắt buộc của hành vi phạm tội và ở cả phương thức thực hiện hành vi phạm tội Người phạm tội có hành vi tổ chức cho người khác thực hiện hành vi sử dụng trái phép chất ma túy hoặc đưa trái phép chất ma túy vào cơ thể người khác, bao gồm các hành vi: Chỉ huy, phân công, điều hành các hoạt động đưa trái phép chất ma túy vào cơ thể người khác; Chỉ huy, phân công, điều hành việc chuẩn bị, cung cấp chất ma túy, địa điểm, phương tiện, dụng cụ, dùng vào việc sử dụng trái phép chất ma túy, tìm người sử dụng trái phép chất ma túy Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây theo
sự chỉ huy, phân công, điều hành của người khác thì bị coi là "đồng phạm" về tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy: đưa trái phép chất ma túy vào cơ thể người khác; cung cấp trái phép chất ma túy cho người khác để họ sử dụng trái phép chất ma túy; chuẩn bị chất ma túy dưới bất kỳ hình thức nào (mua, xin, tàng trữ, sản xuất, …) nhằm đưa trái phép chất ma túy vào
cơ thể người khác; chuẩn bị địa điểm (thuê địa điểm, mượn địa điểm, sử dụng địa điểm không thuộc quyền chiếm hữu của mình hoặc đang do mình quản lý để làm nơi đưa trái phép chất ma túy vào cơ thể người khác; chuẩn bị dụng cụ, phương tiện dùng vào việc sử dụng trái phép chất ma túy dưới bất kỳ hình thức nào (mua, xin, tàng trữ, v.v ) nhằm sử dụng để đưa trái phép chất ma túy vào cơ thể người khác; tìm người sử dụng chất ma túy để đưa trái phép chất ma túy vào cơ thể của họ
Hậu quả của hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy là những thiệt hại cho xã hội, trong đó trực tiếp gây ra những thiệt hại về trật tự an toàn xã hội, tính mạng, sức khỏe của chính người sử dụng trái phép chất ma túy Tuy nhiên, hậu quả của tội phạm này không phải là dấu hiệu bắt buộc của cấu thành tội phạm Tội phạm được coi là hoàn thành từ thời điểm thực hiện một trong các hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy nếu trên
2.1.3 Chủ thể của tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
Chủ thể tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy thuộc khoản 1 Điều 197 Bộ luật hình sự là người từ đủ 16 tuổi trở lên và có năng lực trách nhiệm hình sự, do khoản 1 Điều 197 là tội phạm nghiêm trọng (mức án cao nhất là 7 năm tù); và theo khoản 2, khoản 3, khoản 4 thì chủ thể là người từ đủ 14 tuổi trở lên và có năng lực trách nhiệm hình sự, vì các trường hợp phạm tội này là tội phạm rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng
2.1.4 Mặt chủ quan của tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
Đối với tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, lỗi của người phạm tội luôn là lỗi cố ý trực tiếp Mục đích của người phạm tội tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy là nhằm đưa chất ma túy vào cơ thể người khác trái phép Trong nhiều tội phạm, dấu hiệu mục đích được quy định là dấu hiệu tùy nghi nhưng đối với tội phạm tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy thì dấu hiệu mục đích lại là dấu hiệu bắt buộc của tội phạm
Người phạm tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy có nhiều động cơ khác nhau nhưng chủ yếu là vì vụ lợi, do ma túy
là mặt hàng mang lại lợi nhuận rất cao, nhưng cũng có thể do nhiều động cơ khác rất nguy hiểm như thù hằn cá nhân, động
cơ đê hèn nên muốn đưa chất ma túy vào cơ thể người khác để gây nghiện
2.2 Các trường hợp phạm tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy cụ thể
2.2.1 Phạm tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy không có các tình tiết là yếu tố định khung hình phạt
Trang 9Đây là khung cơ bản của tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, áp dụng cho các trường hợp người phạm tội thực hiện một trong các hành vi như đã nêu ở mặt khách quan nhưng không có các tình tiết là yếu tố định khung hình phạt Với mức hình phạt cao nhất là 7 năm tù, ngay tại khung cơ bản đã thể hiện mức độ nghiêm trọng của loại tội này, đồng thời thể hiện thái độ nghiêm khắc và kiên quyết đấu tranh chống tội phạm ma túy của Nhà nước ta
2.2.2 Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 197 Bộ luật hình sự
Theo khoản 2 Điều 197 Bộ luật hình sự, tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây thì
bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm: a) Phạm tội nhiều lần; b) Đối với nhiều người; c) Đối với người chưa thành niên từ
đủ 13 tuổi trở lên; d) Đối với phụ nữ mà biết là đang có thai; đ) Đối với người đang cai nghiện; e) Gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 31% đến 60%; g) Gây bệnh nguy hiểm cho nhiều người; h) Tái phạm nguy hiểm
2.2.3 Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 197 Bộ luật hình sự
Theo khoản 3 Điều 197 Bộ luật hình sự, tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ mười lăm năm đến hai mươi năm: a) Gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 61% trở lên hoặc gây chết người; b) Gây tổn hại cho sức khỏe của nhiều người mà tỷ lệ thương tật từ 31% đến 60%; c) Gây bệnh nguy hiểm cho nhiều người; d) Đối với trẻ em dưới 13 tuổi
2.2.4 Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp quy định tại khoản 4 Điều 197 Bộ luật hình sự
Theo khoản 4 Điều 197 Bộ luật hình sự, tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau
đây thì bị phạt tù hai mươi năm hoặc tù chung thân: Gây tổn hại cho sức khỏe nhiều người mà tỷ lệ thương tật từ 61% trở
lên; b) Gây chết nhiều người hoặc gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng khác
2.3 Phân biệt tội phạm tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy với một số tội phạm về ma túy khác trong luật hình sự Việt Nam
2.3.1 Phân biệt tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy và tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy (Điều 194)
2.3.2 Phân biệt tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy và tội sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, mua bán các phương tiện, dụng cụ dùng vào việc sản xuất hoặc sử dụng trái phép chất ma túy (Điều 196)
2.3.3 Phân biệt tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy với tội chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy (Điều 198)
2.3.4 Phân biệt tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy với tội cưỡng bức, lôi kéo người khác sử dụng trái phép chất ma túy (Điều 200)
Chương 3
THỰC TIỄN XÉT XỬ, NHỮNG GIẢI PHÁP TIẾP TỤC HOÀN THIỆN CÁC QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT HÌNH
SỰ HIỆN HÀNH VỀ TỘI TỔ CHỨC SỬ DỤNG TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ ÁP DỤNG 3.1 Thực tiễn xét xử tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy ở nước ta
3.1.1 Đánh giá, phân tích tình hình xét xử tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy trong 6 năm (từ năm 2005 đến năm 2010) của các Tòa án các cấp
Qua số liệu thống kê của Tòa án nhân dân tối cao về tình hình xét xử sơ thẩm tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
ở nước ta (thống kê cấp tỉnh/huyện) trong thời gian từ năm 2005 - 2010 cho thấy:
Một là, về tổng số vụ, số bị cáo Tòa án nhân dân các cấp đưa ra xét xử sơ thẩm về tội tổ chức sử dụng trái phép chất
ma túy trên tổng số vụ án, số bị cáo đưa ra xét xử sơ thẩm toàn quốc từ năm 2005 đến năm 2010 cho thấy: tổng số vụ án đưa ra xét xử là 368.761 vụ án và tổng số bị cáo bị đưa ra xét xử là 634.874 bị cáo; tổng số vụ án đưa ra xét xử về tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy là 247 vụ án (chiếm tỷ lệ là 0,067%) và tổng số bị cáo đưa ra xét xử về tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy là 450 bị cáo (chiếm tỷ lệ là 0,071%) Tỷ lệ này cao nhất là năm 2009 với 0,123% số vụ án và 0,14% số bị cáo
Trang 1019 20
Hai là, về tổng số vụ, số bị cáo bị Tòa án xét xử về tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy từ năm 2005 - 2010
cho thấy: số vụ án phải xét xử về tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy có tổng số 247 vụ án và tổng số 450 bị cáo, trong đó số vụ án đã xét xử là 221 vụ án và 406 bị cáo, số vụ án trả lại Viện kiểm sát là 16 vụ án và 32 bị cáo, số vụ án bị đình chỉ là 02 vụ án và 02 bị cáo, số vụ án còn lại là 08 vụ án và 10 bị cáo Trung bình số vụ án mỗi năm phải xét xử là
41 vụ án và 75 bị cáo về tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy Năm có số vụ án phải xét xử cao nhất là năm 2009 với
82 vụ án, năm thấp nhất là năm 2010 với 14 vụ án Năm có số bị cáo phải xét xử cao nhất là năm 2009 với 165 bị cáo, năm thấp nhất là năm 2010 với 17 bị cáo Trung bình số vụ án phải hoàn trả Viện kiểm sát là 03 vụ án/năm và 5 bị cáo/năm về tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy Số vụ án bị đình chỉ ít, chỉ có trong năm 2007, 2009 với 02 vụ án
và 02 bị cáo Số vụ án còn lại chưa xét xử là 08 vụ án và 10 bị cáo
Ba là, về tổng số vụ án, số bị cáo do Tòa án xét xử về tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy trong tương quan với các
tội phạm về ma túy trong 6 năm (2005-2010): trong tổng số 62.659 vụ án và tổng số 83.972 bị cáo các Tòa án phải xét xử về các tội phạm về ma túy, thì số vụ án và số bị cáo các Tòa án phải xét xử về tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy là 247 vụ
án và 450 bị cáo, chiếm tỷ lệ 0,39 % số vụ án và 0,54 % số bị cáo Trong khi đó, tổng số vụ án và tổng số bị cáo các Tòa án đã xét xử là 59.690 vụ và 66.374 bị cáo về các tội ma túy, thì tổng số vụ án và tổng số bị cáo các tòa án đã xét xử về tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy là 221 vụ án và 406 bị cáo, chiếm tỷ lệ 0,37% số vụ án và 0,61% số bị cáo
Năm có tổng số vụ án và số bị cáo bị đưa ra xét xử về các tội ma túy cao nhất là năm 2010 với 11.826 vụ án và 15.099 bị cáo Trong khi đó, năm có tổng số vụ án và số bị cáo bị đưa ra xét xử về tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy cao nhất là năm 2009 với 82 vụ án và 165 bị cáo, thấp nhất là năm 2010 với 14 vụ án với 17 bị cáo
Bốn là, phân tích hình phạt và các biện pháp tha miễn trách nhiệm hình sự và hình phạt (như: miễn trách hình sự,
miễn hình phạt, không có tội, áp dụng kèm theo hình phạt bổ sung, v.v ) đối với bị cáo bị Tòa án xét xử về tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy trong 06 năm (2005-2010): không có trường hợp nào bị cáo bị tuyên không có tội hoặc miễn trách nhiệm hình sự hoặc miễn hình phạt hoặc cảnh cáo, hình phạt tử hình cũng không có trường hợp nào Việc áp dụng hình phạt đối với các bị cáo phạm tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy chủ yếu là 02 biện pháp: thứ nhất, hình phạt tù có thời hạn từ 7 năm trở xuống với 188 trường hợp và tù từ 7 năm đến 15 năm là 100 trường hợp và thứ hai là miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện - án treo với 43 trường hợp Việc áp dụng hình phạt bổ sung hầu như không thực hiện, hoặc chỉ có 01 trường hợp năm 2008
Năm là, phân tích đặc điểm nhân thân của các bị cáo bị Tòa án xét xử về tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy từ
năm 2005 -2010: cán bộ công chức, đảng viên, cấp ủy viên (từ cấp huyện trở lên) không có trường hợp nào phạm tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy mà chủ yếu tập trung vào 02 loại đối tượng là người nghiện ma túy 69 trường hợp (trung bình mỗi năm 10 trường hợp) và người có độ tuổi từ đủ 18 đến 30 tuổi là 96 trường hợp (trung bình 16 trường hợp) Ngoài ra, về giới tính nữ tham gia phạm tội này cũng nhiều là 41 trường hợp, dân tộc thiểu số là 31 trường hợp
3.1.2 Một số tồn tại, hạn chế trong thực tiễn xét xử và những nguyên nhân cơ bản
* Một số tồn tại, hạn chế trong thực tiễn xét xử
Thứ nhất, một số trường hợp phân hóa trách nhiệm hình sự và quyết định hình phạt trong trường hợp phạm tội tổ
chức sử dụng trái phép chất ma túy nặng quá hoặc nhẹ quá
Thứ hai, một số vụ án có số lượng đông người tham gia, còn bỏ lọt nhiều tội phạm
Thứ ba, có sự nhận thức không thống nhất về các quy định của pháp luật hình sự trong thực tiễn áp dụng đối với tội
tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy dẫn đến nhiều ý kiến khác nhau khi định tội danh trong một vụ án
Thứ tư, công tác điều tra, truy tố, xét xử vẫn còn tình trạng hồ sơ vụ án phải trả lại Viện kiểm sát để điều tra bổ sung
hoặc bị đình chỉ, tồn đọng
Thứ năm, hình phạt áp dụng đối với tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy còn hạn hẹp, không đa dạng, chủ yếu
áp dụng hình phạt tù từ 7 năm trở xuống, tù từ 7 năm đến 15 năm và án treo, còn các hình phạt khác ít khi được áp dụng hoặc không áp dụng như miễn trách nhiệm hình sự hoặc miễn hình phạt hoặc cảnh cáo, tử hình Việc áp dụng hình phạt
bổ sung hầu như không thực hiện, hoặc chỉ có 01 trường hợp năm 2008
* Những nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế
Một là, khái niệm tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy trong Bộ
luật hình sự năm 1999 chưa được quy định cụ thể, rõ ràng trong Luật hình sự hiện hành và các văn bản hướng dẫn thi hành