Nghiên cứu phát hiện một số đột biến gen ty thể trên bệnh nhân cơ não người Việt Nam Trương Thị Huệ Trường Đại học Khoa học Tự nhiên Luận văn ThS Chuyên ngành: Hóa sinh học; Mã số 62 4
Trang 1Nghiên cứu phát hiện một số đột biến gen ty thể trên bệnh nhân cơ não người Việt Nam
Trương Thị Huệ
Trường Đại học Khoa học Tự nhiên Luận văn ThS Chuyên ngành: Hóa sinh học; Mã số 62 42 30 15
Người hướng dẫn: PGS TS Phan Tuấn Nghĩa; PGS TS Nguyễn Thi ̣ Vân Anh
Năm bảo vệ: 2013
Abstract Thu thập mẫu bệnh phẩm và tách chiết DNA tổng số từ các bệnh nhân nghi
bị bệnh do rối loạn ty thể đến khám và điều trị tại Bệnh viện Nhi Trung ương Thiết kế mồi đặc hiệu và lựa chọn enzyme giới hạn phù hợp cho việc sàng lọc phát hiện đột biến gen ty thể bằng kỹ thuật PCR-RFLP Xây dựng cách thức phát hiện một số đột biến gen ty thể phổ biến và áp dụng cách thức thiết lập được để sàng lọc các đột biến này ở người Việt Nam, nghiên cứu đột biến gen ty thể ở mức độ gia đình Định lượng
số bản sao mang đột biến bằng phương pháp real-time PCR sử dụng mẫu dò huỳnh quang cải tiến, tìm hiểu sự liên quan giữa mức độ không đồng nhất và tình trạng bệnh
lý của một loại đột biến gen ty thể
Keywords Hóa sinh học; Đột biến gen; Bệnh cơ não; Người Việt Nam
Content
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Ty thể là bào quan có mă ̣t trong h ầu hết các tế bào nhân chu ẩn với chức năng chính là sản xuất năng lượng dưới dạng ATP cho tế bào Ty thể tạo ra năng lượng bằng cách oxy hóa các acid hữu cơ và acid béo thông qua quá trình phosphoryl hóa oxy hóa xảy ra bên trong ty thể ATP là nguồn năng lượng lớn được sử dụng cho tất cả các quá trình trao đổi chất cần thiết bên trong tế bào
Trang 2Ty thể có hệ gen riêng, có cấu trúc sợi đôi, DNA mạch vòng với kích thước 16.569 bp, gồm 37 gen mã hóa cho 13 chuỗi polypeptide của chuỗi vận chuyển điện tử, 22 RNA vận chuyển (tRNA) và 2 RNA ribosome (rRNA) khác nhau liên quan đến hoạt động chức năng của ty thể So với DNA của nhân tế bào thì DNA của ty thể dễ bị tổn thương do ty thể là một môi trường giàu chất oxy phản ứng và do thiếu cơ chế sửa chữa hiệu quả dẫn đến nhiều đột biến xuất hiện trong hệ gen ty thể Năm 1988, Wallace và tập thể đã công bố đột biến điểm đầu tiên trên hệ gen ty thể người gây bệnh liên quan đến thần kinh thị giác di truyền theo Leber (Leber’s hereditary optic neuropathy - LHON) Sự mất đoạn mtDNA cũng được tìm thấy ở mô cơ của bệnh nhân liệt cơ mắt ngoài tiến triển mãn tính (chronic progressive external ophthalmoplegia - CPEO) và hội chứng Kearns-Sayre (KSS) cũng được phát hiện vào cùng năm 1988 Cho đến nay, hơn 300 đột biến khác nhau trong hệ gen ty thể người đã được xác định, trong đó có hơn 200 đột biến có khả năng gây bệnh và kèm theo nhiều hội chứng khác nhau
Gần như tất cả các tế bào đều dựa vào nguồn năng lượng ổn định do ty thể cung cấp,
do đó những sai hỏng trong DNA của ty thể có thể gây ra sự rối loạn đa hệ thống ảnh hưởng đến nhiều loại tế bào, nhiều loại mô và tổ chức Các bệnh do đột biến gen ty thể có thể khởi phát ở mọi lứa tuổi với diễn biến khác nhau Mức độ nghiêm trọng của bệnh ty thể tăng theo
độ tuổi và tỷ lệ DNA ty thể (mtDNA) đột biến có mặt trong các mô bị tác động Biểu hiện lâm sàng do các rối loạn ty thể thay đổi rất lớn, có thể liên quan đến nhiều cơ quan phức tạp hoặc đặc trưng cho từng mô Các triệu chứng lâm sàng hay thấy ở não, cơ, mắt và giác quan Các triệu chứng đó có thể kết hợp với nhau trong các hội chứng riêng biệt như hội chứng KSS, hội chứng não giật cơ kèm theo sợi cơ đỏ xé rách (myoclonic epilepsy with ragged-red fibres – MERRF), hội chứng não giật cơ, tăng acid lactic máu và giả tai biến mạch (mitochondrial encephalopathy, lactic acidosis and stroke-like episodes – MELAS) hoặc viêm não tủy cấp di truyền theo Leigh (hội chứng Leigh) Tuy nhiên các triệu chứng đó cũng có thể không nằm trong một bệnh cảnh cụ thể nào, một vài đột biến thể hiện kiểu hình tương tự nhau làm cho việc chẩn đoán bệnh dựa trên lâm sàng trở nên rất khó khăn Vì vậy bệnh do đột biến gen ty thể khó có được những chẩn đoán chính xác nếu chỉ dựa vào các triệu chứng lâm sàng và các chỉ tiêu cận lâm sàng Hiện nay, phân tích DNA là những phương pháp hiện đại nhất cho phép phát hiện nhanh và chính xác các đột biến gen gây bệnh Nghiên cứu các đột biến trong hệ gen ty thể cho phép phát hiện ra nguyên nhân của nhiều bệnh khác nhau
Hiện nay, trên thế giới đã có nhiều công trình nghiên cứu về bệnh do đột biến gen ty thể Tuy nhiên, do tính phức tạp trong tác động lâm sàng, mô bệnh học, cơ chế phát sinh và
Trang 3biểu hiện bệnh nên sự sai sót trong hệ gen ty thể ở nhiều bệnh nhân vẫn chưa được phát hiện
và không có phương pháp điều trị hiệu quả
Ở Việt Nam, bệnh do đột biến gen ty thể còn ít được nghiên cứu, cho đến nay chỉ mới
có một vài công trình mang tính chất khởi đầu trong phát hiện bệnh ty thể ở mức độ gen và protein Đặc biệt, chưa có công trình nào đi sâu nghiên cứu mức độ không đồng nhất (heteroplasmy) của đột biến gen ty thể cũng như sự liên quan giữa mức độ không đồng nhất
với triệu chứng lâm sàng của bệnh
Đề tài luận án của chúng tôi được đặt ra với mục tiêu áp dụng và thiết lập phương pháp phân tích chính xác và xác định mức độ không đồng nhất một số đột biến gen ty thể ở các bệnh nhân người Việt Nam nhằm góp phần vào công tác khám và điều trị các bệnh do rối loạn hệ gen ty thể
2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
- Xây dựng được cách thức phát hiện một số đột biến gen ty thể phổ biến và sàng lọc các đột biến gen ty thể này ở bệnh nhân cơ não (encephalomyopathy)
- Thiết lập được phương pháp xác định mức độ không đồng nhất của một loại đột biến gen ty
thể (MELAS) để bước đầu tìm hiểu mối liên quan giữa mức độ không đồng nhất và tình trạng
bệnh lý
3 Đối tượng và nội dung nghiên cứu của đề tài
Đối tượng nghiên cứu của đề tài:
Các bệnh nhân nghi bị bệnh do rối loạn ty thể đến khám và điều trị tại Bệnh viện Nhi Trung ương
Nội dung nghiên cứu của đề tài:
- Thu thập mẫu bệnh phẩm và tách chiết DNA tổng số từ các bệnh nhân nghi bị bệnh
do rối loạn ty thể đến khám và điều trị tại Bệnh viện Nhi Trung ương
- Thiết kế mồi đặc hiệu và lựa chọn enzyme giới hạn phù hợp cho việc sàng lọc phát hiện đột biến gen ty thể bằng kỹ thuật PCR-RFLP
- Xây dựng cách thức phát hiện một số đột biến gen ty thể phổ biến và áp dụng cách thức thiết lập được để sàng lọc các đột biến này ở người Việt Nam, nghiên cứu đột biến gen ty thể ở mức độ gia đình
Trang 4- Định lượng số bản sao mang đột biến bằng phương pháp real-time PCR sử dụng mẫu
dò huỳnh quang cải tiến, tìm hiểu sự liên quan giữa mức độ không đồng nhất và tình trạng bệnh lý của một loại đột biến gen ty thể
4 Địa điểm thực hiện đề tài
Các nghiên cứu của luận án được thực hiện tại Phòng Thí nghiệm trọng điểm Công nghệ Enzym và Protein, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội
5 Đóng góp mới của đề tài
- Đã thiết lập được cách thức phát hiện 15 loại đột biến điểm trong hệ gen ty thể ở người Việt Nam bao gồm: các đột biến T3271C và T3291C (hội chứng MELAS); A8344G và T8356C (hội chứng MERRF); G11778A, G3460A và T14484C (hội chứng LHON); T8993G/C và T9176G (hội chứng Leigh), A1555G (hội chứng điếc) và các đột biến G4298A,
T10010C, T14727C, T14728C và T14709C (hội chứng cơ não nói chung)
- Thiết lập được phương pháp phát hiện và định lượng mức độ không đồng nhất của đột biến A3243G thuộc hội chứng MELAS và bước đầu cho thấy mối liên quan giữa mức độ không đồng nhất và tình trạng bệnh lý
- Là công trình đầu tiên phát hiện thấy đột biến mới T14727C trên gen MTTE mã hóa cho tRNA Glu ở bệnh nhân cơ não
6 Ứng dụng thực tiễn của đề tài
Cách thức phát hiện các đột biến gen ty thể đã được tạo ra trong nghiên cứu này có thể
dễ dàng phát triển thành các quy trình để áp dụng vào việc xét nghiệm bệnh do rối loạn ty thể
ở các bệnh viện
Reference
TÀI LIỆU THAM KHẢO
I Tài liệu Tiếng Việt
1 Lê Đức Hinh, Lê Văn Thính, Nguyễn Vượng, Trần Thị Minh Nguyệt, Nguyễn Bích
Nhi, Phan Văn Chi (2007), “Hội chứng MELAS”, Y học lâm sàng 18, tr 27-31
2 Nguyễn Nam Long, Nguyễn Bích Nhi, Phạm Vân Anh, Phan Văn Chi (2006), “Phân tích hệ protein huyết thanh của bệnh nhân mang đột biến A3243G trong gen tRNALeu ty
thể”, Y học Việt Nam 4, tr 24-28
Trang 53 Trần Thị Minh Nguyệt, Nguyễn Bích Nhi, Lê Đức Hinh, Phan Văn Chi (2007), “Báo cáo trường hợp: một bệnh nhân MELAS Việt Nam mang đột biến A3243G hệ gen tRNALeu ty thể”, Tạp chí Y học Việt Nam 1, tr 4-9
4 Trịnh Lê Phương, Chu Văn Mẫn, Phan Tuấn Nghĩa (2009), “Phát hiện đột biến gen
A3243G của hội chứng MELAS bằng phương pháp PCR-RFLP cải tiến”, Tạp chí Di truyền và ứng dụng 4, tr 6-9
5 Lê Thị Bích Thảo, Đỗ Quỳnh Hoa, Nguyễn Bích Nhi, Nông Văn Hải, Phan Văn Chi, Phạm Thị Vân Anh, Ninh Thị Ứng (2004), “Xác định đột biến A3243G trên gen tRNALeu ty thể từ các bệnh nhân mắc bệnh ty thể”, Báo cáo khoa học Hội nghị khoa học toàn quốc Những vấn đề nghiên cứu cơ bản trong khoa học sự sống, tr 463-465
II Tài liệu Tiếng Anh
6 Aharoni S , Traves T.A., Melamed E., Cohen S., Silver E.L (2010), “MELAS syndrome associated with both A3243G-tRNALeu mutation and multiple mitochondrial
DNA deletions”, J Neurol Sci 296, pp 101–103
7 Akagi M., Inui K., Tsukamoto H., Sakai N., Muramatsu T., Yamada M., Matsuzaki K., Goto Y., Nonaka I., Okada S (2002), “A point mutation of mitochondrial ATPase 6
gene in Leigh syndrome”, Neuromuscul Disord 12, pp 53-55
8 Alston C.L., Lowe J., Turnbull D.M., Maddison P., Taylor R.W (2010), “A novel mitochondrial tRNAGlu (MTTE) gene mutation causing chronic progressive external
ophthalmoplegia at low levels of heteroplasmy in muscle”, J Neurol Sci 98, pp
140-144
9 Anderson S., Bankier A.T., Barrell B.G., deBruijin M.H., Coulson A.R., Drouin J., Eperon I.C., Nierlich D.P., Rose B.A., Sanger F., Schreier P.H., Smith A.J.H., Staden R., Young I G (1981), “Sequence and organization of the human mitochondrial
genome”, Nature 290, pp 457-465
10 Andreu A.L., Bruno C., Dunne T.C., Tanjik K., Shanske S., Sue C.M., Krishna S., Hadjigeorgiou G.M., Shtilbans A., Bonilla E., DiMauro S (1999), “A nonsense mutation (G15059A) in the cytochrome b gene in a patient with exercise intolerance and
myoglobinuria”, Ann Neurol 45, pp 127-130
11 Andreu A.L., Hanna M.G., Reichmann H., Bruno C., Penn A.S., Tanji K Panllotti F., Iwata S., Bonilla E., Lach B., Morgan-Hughes J., Dimauro S (1999), “Exercise
intolerance due to mutations in the cytochrome b gene of mitochondrial DNA”, New Engl J Med 341, pp 1037-1044
Trang 612 Ayed I.B., Chamkha I., Mkaouar-Rebai E., Kammoun T., Mezghani N., Chabchoub I., Aloulou H., Hachicha M., Fakhfakh F (2011), “A Tunisian patient with Pearson syndrome harboring the 4.977 kb common deletion associated to two novel large-scale
mitochondrial deletions”, Biochem Biophys Res Commun 411, pp 381-386
13 Bai R.K., Wong L.J.C (2004), “Detection and quantification of heteroplasmic mutant mitochondrial DNA by real-time amplification refractory mutation system quantitative
PCR analysis: A single-step approach”, Clin Chem 50, pp 996–1001
14 Ballinger S.W., Schurr T.G., Torroni A., Gan Y.Y., Hodge J.A., Hassan K., Chen K.H., Wallace D.C (1992), “Southeast Asian mitochondrial DNA analysis reveals genetic
continuity of ancient Mogoloid migrations”, Genetics 130, pp 139-152
15 Baughman J.M., Mootha V.K (2006), “Buffering mitochondrial DNA variation”,
Nature Genet 38, pp 1232 – 1233
16 Berdanier C D (2005), Mitochondria in healthy and disease, CRC Press
17 Black G.C.M., Morten K., Laborde A., Poulton J (1996), “Leber's hereditary optic neuropathy: heteroplasmy is likely to be significant in the expression of LHON in families with the 3460 ND1 mutation”, Br J Ophthalmol
80, pp 915-917
18 Boulet L., Karpati G., Shoubridge E.A (1992), “Distribution and threshold expression
of the tRNALys mutation in skeletal muscle of patients with myoclonic epilepsy and
ragged-red fibers (MERRF)”, Am J Hum Genet 51, pp 1187-1200
19 Budowle B., Chakraborty R., Giusti A.M., Eisenberg A.J., Allen R.C (1991), “Analysis
of the VNTR locus D1S80 by the PCR followed by high-resolution PAGE”, Am J Hum Genet 48, pp 137-144
20 Calvaruso M.A., Willemsen M.A., Rodenburg R.J., Brand M.V.D., Smeitink J.A.M., Nijtmans L (2011), “New mitochondrial tRNAHIS
mutation in a family with lactic
acidosis and stroke-like episodes (MELAS)”, Mitochondrion 11, pp 778-782
21 Chinnery P.F., Brown D.T., Andrews R.M., Singh-Kler R., Riordan-Eva P., Lindley J., Applegarth D.A., Turnbull D.M., Howell N (2001), “The mitochondrial ND6 gene is a
hot spot for mutations that cause Leber’s hereditary optic neuropathy”, Brain 124, pp
209-218
22 Chinnery P.F (2002), “Inheritance of mitochondrial disorders”, Mitochondrion 2, pp
149-155
23 Chinnery P.F (2006) “Mitochondrial DNA in Homo Sapiens”, Nucleic Acids Mol Biol 18, pp 3-11
Trang 724 Cao Y., Ma Y., Zhang Y., Li Y., Fang F., Wang S., Bu D., Xu Y., Pei P., Li L., Xiao Y., Wua H, Yang Y., Zou L., Qi Y (2010), “Detection of eight frequently encountered point mutations in mitochondria in Chinese patients suggestive of mitochondrial
encephalomyopathies”, Mitochondrion 10, pp 330–334
25 De Coo I.F., Renier W.O., Ruitenbeek W., Ter Laak H.J., Bakker M., Schagger H., Van Oost B.A., Smeets H.J (1999), “A 4-base pair deletion in the mitochondrial cytochrome
b gene associated with parkinsonism/Melas overlap syndrome”, Ann Neurol 45, pp
130-133
26 Deschauer M., Wieser T., Neudecker S., Lindner A., Zierz S (1999), “Mitochondrial A3243G mutation (MELAS mutation) associated with painful muscle stiffness”,
Neuromuscul Disord 9, pp 305-307
27 Du W., Li W., Chen G., Cao H., Tang H., Tang X., Jin Q., Sun Z., Zhao H., Zhou W.,
He S., Lva Y., Zhao J., Zhang X (2009), “Detection of known base substitution mutations in human mitochondrial DNA of MERRF and MELAS by biochip
technology”, Biosen Bioelectron 24, pp 2371-2376
28 Enns G.M., Bai R.K., Beck A.E., Wong L.J (2006), “Molecular–clinical correlations in
a family with variable tissue mitochondrial DNA T8993G mutant load”, Mol Genet Metab 88, pp 364–371
29 Fan H., Civalier C., Booker J.K., Gulley M.L., Prior T.W, Farber R.A (2006),
“Detection of common disease-causing mutations in mitochondrial DNA
(Mitochondrial encephalomyopathy, lactic acidosis with stroke-like episodes MTTL1 A3243G and myoclonic epilepsy associated with ragged-red fibers MTTK A8344G) by real-time polymerase chain reaction”, J Mol Diagn 8, pp 277-281
30 Fawcett D.W (1981), The Cell, W B Saunders Company, NewYork
31 Gal A., Komlosi K., Maasz A., Pentelenyi K., Remenyi V., Ovary C., Valikovics A., Dioszeghy P., Bereczki D., Melegh B., Molnár M.J (2010), “Analysis of mtDNA
A3243G mutation frequency in Hungary”, Cent Eur J Med 5, pp 322-328
32 Genasetti A., Valentino M.L., Carelli V., Vigetti D., Viola M., Karousou E.G., d’Eril G.V.M., De Luca G., Passi A., Pallotti F (2007), “Assessing heteroplasmic load in Leber’s hereditary optic neuropathy mutation G3460A/MT-ND1 with a real-time PCR
quantitative approach”, J Mol Diagn 9, pp 538-545
33 Glatz C., D’Aco K., Smith S., Sondheimer N (2011), “Mutation in the mitochondrial tRNAVal causes mitochondrial encephalopathy, lactic acidosis and stroke-like
episodes”, Mitochondrion 11, pp 615–619
Trang 834 Goto Y., Nonaka I., Horai S (1990), “A mutation in the tRNALeu(UUR) gene
associated with the MELAS subgroup of mitochondrial encephalomyopathies”, Nature
348, pp 651-653
35 Gropman A.L (2001), “Diagnosis and treatment of childhood mitochondrial diseases”,
Pediatr Neurol 1, pp 185-194
36 Gropman A.L (2004), “The neurological presentations of childhood and adult mitochondrial disease: established syndromes and phenotypic variations”,
Mitochondrion 4, pp 503–520
37 Guan M.X (2011), “Mitochondrial 12S rRNA mutations associated with
aminoglycoside ototoxicity”, Mitochondrion 11, pp 237–245
38 Gvozdjáková A (2008), Mitochondrial medicine, Springer Science + Business Media
B.V
39 Handoko H Y., Lum J K., Rismalia G., Kartapradja H., Sofro A S M., Marzuki S (2001),
“Length variations in the COII-tRNALys intergenic region of mitochondrial DNA in
Indonesian populations”, Hum Biol 73, pp 205-223
40 Holt I.J (2003), Genetics of mitochondrial disease, Oxford University Press Inc.,
NewYork
41 Horvath R., Kemp J.P., Tuppen H.A.L., Hudson G., Oldfors A., Marie S.K.N., Moslemi A.R., Servidei S., Holme E., Shanske S., Kollberg G., Jayakar P., Pyle A., Marks H.M., Holinski-Feder E., Scavina M., Walter M.C., Coku J., Gunther-Scholz A., Smith P.M., McFarland R., Chrzanowska-Lightowlers Z.M.A., Lightowlers R.N., Hirano M., Lochmuller H., Taylor R.W., Chinnery P.F., Tulinius M., DiMauro S (2009),
“Molecular basis of infantile reversible Cyt c oxidase deficiency myopathy”, Brain 132,
pp 3165–3174
42 Houten B.V., Woshner V., Santos J.H (2006), “Role of mitochondrial DNA in toxic
responses to oxidative stress”, DNA Repair 5, pp 145–152
43 Ida H., Rennert O.M., Iwasawa K., Kobayashi M., Eto Y (1999), “Clinical and genetic
studies of Japanese homozygotes for the Gaucher disease L444P mutation”, Hum Genet 105, pp 120-126
44 Ivanova R., Astrinidis A., Lepage V., Djoulah S., Wijnen E., Vu-Trieu A., Hors J., Charron D (1999), “Mitochondrial DNA polymorphism in the Vietnamese population”,
Eur J Immunogenet 26, pp 417- 422
45 Jacobi F.K., Meyer J., Pusch C.M., Wissinger B (2001), “Quantitation of heteroplasmy
in mitochondrial DNA mutations by primer extension using VentR ®(exo-) DNA
polymerase and RFLP analysis”, Mut Res 478, pp 141–151
Trang 946 Keightley J.A., Anitori R., Burton M.D., Quan F., Buist N.R., Kennaway N.G (2000),
“Mitochondrial encephalomyopathy and complex III deficiency associated with a
stop-codon mutation in the cytochrome b gene”, Am J Hum Genet 67, pp 1400-1410
47 Kim D.S., Jung D.S., Park K.H., Kim I.J., Kim C.M., Lee W.H., Rho S.K (2002),
“Histochemical and molecular genetic study of MELAS and MERRF in Korean
patients”, J Korean Med Sci 17, pp 103-112
48 Kirby D.M., Milovac T., Thorburn D.R (1998), “A failse -positive diagnosis for the common MELAS (A3243G) mutation caused a novel variant (A3426G) in the ND1
gene mitochondria DNA”, Mol Diagn 3, pp 211-216
49 Kolesnikova O.A., Entelis N.S., Mireau H., Fox T.D., Martin R.P., Tarassov I.A
(2000), “Suppression of mutations in mitochondrial DNA by tRNAs imported from the
cytoplasm”, Science 289, pp 1931-1933
50 Legros F., Chatzoglou E., Frachon P., Ogier De Baulny H., Laforet P., Jardel C., Godinot C., Lombes A (2001), “Functional characterization of novel mutations in the
human cytochrome b gene”, Eur J Hum Genet 9, pp 510-518
51 Letertre C., Perelle S., Dilasser F., Arar K., Fach P (2003), “Evaluation of the
performance of LNA and MGB probes in 5’ nuclease PCR assays” Mol Cell Probes 17,
pp 307-311
52 Liu V.W.S., Shi H.H., Cheung A.N.Y., Chiu P.M., Leung T.W., Nagley P., Wong L.C., Ngan H.Y.S (2001), “High incidence of somatic mitochondrial DNA mutations in
human ovarian carcinomas”, Cancer Res 61, pp 5998-6001
53 Liu C.S., Cheng W.L., Chen Y.Y., Ma Y.S., Pang C.Y., Wei Y.H (2005), “High
prevalence of the COII/tRNALys intergenic 9-bp deletion in mitochondrial DNA of
Taiwanese patients with MELAS or MERRF syndrome”, Ann N.Y Acad Sci 1042,
pp 82-87
54 Loeb L.A., Wallace D.C., Martin G.M (2005), “The mitochondrial theory of aging and
its relationship to reactive oxygen species damage and somatic mtDNA mutations”, Nat Acad Sci 102, pp 18769-18770
55 Lorenzoni P.J., Scola R.H., Kay C.S.K., Arndt R.C., Freund A.A., Bruck I., Santos
M.L.S.F., Lineu C., Werneck L.C (2009), “MELAS-Clinical features, muscle biopsy
and molecular genetics”, Arq Neuropsiquiatr 67, pp 668-676
56 Lu C.Y., Tso D.J, Yang T., Jong Y.J., Wei Y.H (2002), “Detection of DNA mutations
associated with mitochondrial diseases by Agilent 2100 bioanalyzer”, Clin Chimica Acta 318, pp 97-105
Trang 1057 Lu J., Wang D., Li R., Li W., Ji J., Zhao J., Ye W., Yang L., Qian Y., Zhu Y., Guan M.X (2006), “Maternally transmitted diabetes mellitus associated with the mitochondrial tRNALeu(UUR) A3243G mutation in a four-generation Han Chinese
family”, Biochem Biophys Res Commun 348, pp 115–119
58 Ma Y., Fang F., Yang Y., Zou L., Zhang Y., Wang S., Xu Y., Pei P., Qi Y., (2009),
“The study of mitochondrial A3243G mutation in different samples”, Mitochondrion 9,
pp 139-143
59 Ma Y , Fang F., Cao Y., Yang Y., Zou L., Zhang Y., Wang S., Zhu S., Xu Y., Pei P.,
Qi Y (2010), “Clinical features of mitochondrial DNA m.3243A>G mutation in 47
Chinese families”, J Neurol Sci 291, pp 17–21
60 Mancuso M., Ferraris S., Nishigaki Y., Azan G., Mauro A., Sammarco P., Krishna S., Tay S.K.H., Bonilla E., Romansky S.G., Hirano M., DiMauro S (2005), “Congenital or
late-onset myopathy in patients with the T14709C mtDNA mutation”, J Neurol Sci
228, pp 93-97
61 Martin-Kleiner I., Gabrilovac J., Bradvica M., Vidovi T., Cerovski B., Fumic K., Borani
M (2006), “Leber’s hereditary optic neuroretinopathy (LHON) associated with
mitochondrial DNA point mutation G11778A in two Croatian families”, Coll Antropol
30, pp.171–174
62 Mashima Y., Saga M., Hiida Y., Oguchi Y., Wakakura M., Kudoh J., Shimizu N
(1995), “Quantitative determination of heteroplasmy in Leber's hereditary optic neuropathy by single-strand conformation polymorphism”, Invest Ophthalmol Vis Sci 36, pp 1714-1720
63 Masoro E.J., Austad S.N (2006), Handbook of the biology of aging, 6th Edition, Academic Press, USA
64 McFarland R., Schaefer A.M., Gardner J.L., Lynn S., Hayes C.M., Barron M.J., Walker M., Chinnery P.F., Taylor R.W., Turnbull D.M (2004), “Familial myopathy: new
insights into the T14709C mitochondrial tRNA mutation”, Ann Neurol 55 (4), pp
478-484
65 Mezghania N., Mkaouar-Rebaia E., Mnif M., Charfi N., Rekik N., Youssef S., Abid M., Fakhfakha F (2010), “The heteroplasmic m.14709TNC mutation in the tRNAGlu
gene in two Tunisian families with mitochondrial diabetes”, J Diab Compl 24, pp
270-277
66 Miller F.J., Losenfeldt F.L., Zhang C., Linnane A.W., Nagley P (2003), “Precise
determination of mitochondrial DNA copy number in human skeletal and cardiac
muscle by a PCR-based assay”, Nucleic Acids Res 31, pp 1-7