Vai trò của nhà nước đối với việc giảm nghèo nhanh và bền vững tại các huyện miền núi vùng cao
Trang 1Vai trò Nhà nước đối với giảm nghèo nhanh và bền vững
ở các huyện miền núi vùng cao
Nguyễn Thị Cẩm Hà – CQ52/62.01
Miền núi Việt Nam chiếm 2/3 diện tích đất đai trong cả nước, là nơi cư trú của hơn 50 tộc người, cũng là nơi tập trung nhiều tài nguyên sinh học, khoáng sản và năng lượng có giá trị Miền núi có vai trò quan trọng trong an ninh quốc phòng và chiếm một vị trí đặc biệt trong chiến lược phát triển của đất nước Để phát triển toàn diện mọi mặt về kinh tế - xã hội đất nước thì giảm nghèo đặc biệt là giảm nghèo ở các huyện miền núi vùng cao là điều vô vùng cần thiết Tỷ lệ đói nghèo ở các huyện miền núi vùng cao đang ngày càng giảm, tuy nhiên để giảm nhanh chóng và bền vững thì nhà nước đóng vai trò rất quan trọng
Thực trạng vai trò của nhà nước đối với giảm nghèo nhanh và bền vững ở các huyện miền núi vùng cao trong thời gian qua
Thực trạng vai trò của nhà nước đối với giảm nghèo
Xóa đói, giảm nghèo ở nước ta vẫn đang là vấn đề bức xúc được Đảng và Nhà nước hết sức quan tâm Xóa đói, giảm nghèo toàn diện, bền vững là mục tiêu xuyên suốt trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội và là một trong những nhiệm vụ quan trọng, góp phần thực hiện phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa
Những năm gần đây, nhờ chính sách đổi mới, kinh tế nước ta tăng trưởng nhanh, đời sống đại bộ phận nhân dân đã được nâng lên một cách rõ rệt
Nhà nước ta luôn nỗ lực và cố gắng ,thay đổi chuẩn nghèo để phù hợp với xu thế phát triển, nhờ thực hiện thành công Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội
XĐGN từ chỗ là phong trào (giai đoạn 1990-1997) đến năm 1998 đã trở thành một chương trình mục tiêu quốc gia Qua 7 năm thực hiện phong trào và 10 năm thực hiện chương trình xóa đói giảm nghèo, đối với khu vực huyện nghèo miền núi :
- “Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo giai đọan 2001-2005” quy định hộ gia đình có thu nhập bình quân đầu người từ 80.000 đồng/người/tháng (960.000 đồng/người/năm) trở xuống là hộ nghèo ở khu vực nông thôn, miền núi và hải đảo
Trang 2- Năm 2005 Thủ tướng chính phủ ban hành nghị quyết số 170/2005/QĐ-TTg ngày 8 tháng 7 năm 2006 về việc ban hành chuẩn nghèo áp dụng cho giai đọan 2006-2010 ,quy định hộ nghèo ở khu vực nông thôn có mức thu nhập bình quân từ 200.000 đồng/tháng/năm (dưới 3.200.000 đồng/người/năm) trở xuống Quy định chuẩn nghèo này vẫn giữ cho đến nay
- Chương trình phát triển kinh tế - xã hội các xã đặc biệt khó khăn vùng đồng bào dân tộc, miền núi (Chương trình 135)
- Chương trình hỗ trợ giảm nghèo nhanh và bền vững đối với 62 huyện nghèo (Nghị quyết số 30a) và các chương trình kinh tế - xã hội khác hướng vào mục tiêu giảm nghèo
Thực trạng phát triển kinh tế - xã hội ở các huyện miền núi vùng cao
Nước ta có 61 huyện nghèo ( nay là 64 huyện ) bao gồm 797 xã và thị trấn, phần lớn tại khu vực miền núi và biên giới Khu vực có tỷ lệ hộ nghèo và cận nghèo cao nhất
là vùng miền núi Tây Bắc với trên 55% tổng số hộ dân, tiếp đến là miền núi Đông Bắc với hơn 29% Đồng bằng sông Hồng và Đông Nam Bộ là dưới 10% Các khu vực khác có
tỷ lệ này từ 12-24%
Nhìn chung ( từ năm 2005 ) tỷ lệ hộ nghèo cả nước đã giảm nhanh từ 22% xuống
còn 11,3% (năm 2009) và còn 9,45% (năm 2010), bình quân mỗi năm giảm 2% - 3% tỷ
lệ nghèo trong đó có có các huyện nghèo vùng cao
Thực trạng điều kiện tự nhiên và tình hình phát triển kinh tế xã hội ở các huyện miền núi vùng cao đan xen những thuân lợi và thách thức Cho đến nay các vùng nông thôn , huyện miền núi của một số tỉnh đã có những sự đổi thay tích cực Đặc biệt là hệ thống cơ sở hạ tầng được đầu tư nâng cấp cơ bản, góp phần rất lớn trong công cuộc giảm nghèo bền vững của địa phương Người nghèo đã được tiếp cận tốt hơn các nguồn lực kinh tế (vốn, đất đai, công nghệ, thị trường ) và các dịch vụ xã hội cơ bản như: giáo dục,
y tế, nước sạch, trợ giúp pháp lý Đời sống của người nghèo được cải thiện rõ rệt Tỷ lệ
hộ nghèo giảm nhanh,diện mạo nông thôn, miền núi thay đổi đáng kể, đó là những kết quả đáng mừng trong,công tác giảm nghèo của nước ta
Bên cạnh đó nhiều địa phương đã tận dụng được tối đa, sử dụng hiệu quả các nguồn vốn hỗ trợ của Chính phủ, tạo mọi điều kiện thuận lợi cho người dân tiếp cận với nguồn vốn NHCSXH Nhiều năm qua các huyện ở miền núi đã từng bước quy hoạch
Trang 3vùng sản xuất chuyên canh, với sản lượng hàng hóa khá lớn, như cây mía, cây mì, rừng quế và rừng keo nguyên liệu Các cây này không chỉ khai thác, cải tạo được diện tích đất trồng, thích hợp với thổ nhưỡng mà còn phù hợp với trình độ người dân, mang lại hiệu quả kinh tế cao
Mặc dù vậy, một bộ phận không nhỏ dân cư, đặc biệt là ở các vùng cao, vùng sâu, vùng xa vẫn đang chịu cảnh đói nghèo, chưa đảm bảo được những điều kiện tối thiểu của cuộc sống Với địa hình phức tạp, cơ sở hạ tầng chưa được đầu tư đầy đủ, đồng bộ, phong tục tập quán lạc hậu, nặng nề, trình độ dân trí chưa cao nên dù nhận được sự hỗ trợ rất lợn
từ chính phủ các huyện nghèo miền núi vùng cao vẫn gặp rất nhiều trở ngại Tỷ lệ hộ nghèo khu vực miền núi vẫn cao gấp 3,5 lần mức bình quân của cả nước Dân số các huyện nghèo là 2,4 triệu người, trong đó có tới 90% là người các dân tộc thiểu số Thu nhập bình quân đầu người ở đây chỉ khoảng 2,5 triệu đồng/năm, có được chủ yếu là nhờ sản xuất nông nghiệp lạc hậu Với mức thu ngân sách bình quân hàng năm là 3 tỷ đồng, chính quyền huyện không đủ nguồn lực tài chính để xóa đói giảm nghèo cho các hộ
Vấn đề phân hóa giàu nghèo nổi lên rõ rệt giữa các vùng, đời sống người dân các huyện nghèo miền núi còn hết sức khó khăn
Nguyên nhân hạn chế
Thứ nhất, Yếu tố địa lý là một yếu tổ cản trở, đối với các vùng ,các huyện miền
núi đại hình hiểm trở khó khăn,ít được đi xa nên đa số người lao động có trình độ học vấn hạn chế, trình độ dân trí chưa cao, trình độ chuyên môn gần như không có,chưa được đào tạo tập huấn thì việc tiếp cận sự giúp đỡ của nhà nước còn gặp nhiều khó khăn
Thứ hai, tình trạng tái nghèo, tỷ lệ hộ nghèo cần hỗ trợ lớn, trong khi nguồn ngân
sách chưa thể đáp ứng được tất cả các vùng miền, cũng như từng đối tượng thụ hưởng
Do đó nguồn vốn đầu tư cho giảm nghèo đã ít lại phải phân bổ dàn trải, thiếu trọng tâm, trọng điểm, còn chồng chéo trong quá trình thực hiện
Thứ ba, Sự thay đổi các tiêu chí về chuẩn nghèo cũng là một nguyên nhân khiến
số đối tượng nghèo tăng lên Trong khi người nghèo tại khu vực đô thị gia tăng do tốc độ
đô thị hóa nhanh, các biến động về tự nhiên như lụt bão… đã làm gia tăng nguy cơ tái nghèo
Trang 4Thứ tư, vấn đề “Tái nghèo” vẫn còn xảy ra Sau mỗi lần thay đổi chuẩn nghèo thì
số hộ nghèo tăng lên bằng hoặc gần bằng mức cũ Các hộ cận nghèo rất dễ quay lại hộ nghèo nếu không tiếp tục được hỗ trợ đầu tư và sự vận động một cách mãnh liệt vươn lên của chính bản thân và gia đình họ
Thứ năm, Ngoài một số nguyên nhân bất khả kháng do bệnh tật, thiên tai làm kiệt
gia sản, tài nguyên đẩy một số hộ dân vào cảnh nghèo khó thì một nguyên nhân quan
trọng là sự htụ động, ỷ lại, trông chờ vào sự giúp đỡ của nhà nước, sự giúp đỡ của cộng đồng Nhiều hộ dân chưa biết cách thức làm ăn, không chịu khó học hỏi, lao động sản xuất nên cảnh nghèo vẫn tiếp diễn Để thực hiện hiệu quả nhất các chính sách giúp đỡ giảm nghèo Quốc gia thì không chỉ nhà nước mà người dân lao động cũng cần chủ động
và cố gắng
Thứ sáu, Chất lượng hoạt động của đội ngũ cán bộ làm công tác khuyến nông,
lâm, ngư ở cơ sở còn yếu kém, các mô hình trình diễn chưa phù hợp với điều kiện thực tế của nhân dân
Giải pháp nhằm nâng cao vai trò của nhà nước đối với giảm nghèo nhanh và bền vững ở các huyện miền núi vùng cao trong thời gian tới
Để tiếp tục đẩy mạnh công cuộc giảm nghèo và thực hiện mục tiêu giảm nghèo bền vững, hạn chế tốc độ gia tăng khoảng cách chênh lệch giàu nghèo, định hướng giảm nghèo như sau:
Thứ nhất, Nhà nước cần tăng cường hơn nữa, kiên trì với mục tiêu đã định để chỉ
đạo, giúp đỡ, khâu nối ,phối hợp mọi nguồn lực đầu tư để đạt kết quả giảm nghèo nhanh
và bền vững, tránh tái nghèo như đã đề ra
Thứ hai, Cân thiết phải có những định hướng chính sách phù hợp, không thể dàn
trải Nhà nước cần rà soát, nghiên cứu và giảm bớt các chính sách mang tính trợ cấp cho không, gắn với điều kiện khuyến khích sự chủ động vươn lên của người nghèo, không tiếp tục tạo ra sự trông chờ, ỷ lại vào Nhà nước Đồng thời cần có các chính sách đồng bộ
để tạo việc làm để tăng thu nhập cho người nghèo… các chính sách giảm nghèo thường xuyên sẽ được hệ thống lại, trên cơ sở rà soát, đánh giá lại toàn bộ các chính sách hiện hành do các bộ, ngành được giao trách nhiệm chủ trì tổ chức thực hiện, hướng vào đối
Trang 5tượng người nghèo, hộ nghèo Trên cơ sở đó, Chính phủ sẽ ban hành nghị quyết về định hướng giảm nghèo bền vững hỗ trợ trực tiếp đối với hộ nghèo, người nghèo; chính sách đặc thù cho địa bàn khó khăn nhất
Thứ ba, tiếp tục thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững.
Chính phủ sẽ tập trung ưu tiên nguồn lực đầu tư từ ngân sách trung ương để đẩy nhanh tốc độ giảm nghèo ở các địa bàn đặc biệt khó khăn, trong đó tập trung vào các nội dung: tăng cường đầu tư kết cấu hạ tầng ở các địa bàn đặc biệt khó khăn; hỗ trợ sản xuất, tăng thu nhập cho người nghèo, đồng bào dân tộc thiểu số; xây dựng và nhân rộng mô hình giảm nghèo bền vững, các dự án đầu tư xây dựng hạ tầng chuyên ngành như giao thong, thủy lợi, điện và các công trình được đầu tư với quy mô lớn, kiên cố phục vụ cho các huyện miền núi vùng cao
Thứ tư, Phát triển kinh tế và xã hội cần đi đôi với nhau Bên cạnh việc quan tâm
phát triển kinh tế thì đời sống của nhân dân cũng rất quan trọng Bảo đảm các điều kiện
thiết yếu về nhà ở, nước sinh hoạt, tiếp cận các dịch vụ y tế, chăm sóc sức khỏe Có chính sách giáo dục, dạy nghề, đời sống văn hóa, tinh thần, tiếp cận dịch vụ trợ giúp pháp lý miễn phí cho các hộ nghèo.Quan tâm đến đào tạo dạy nghề,kĩ thuật sản xuất, nâng cao dân trí Kết cấu hạ tầng thiết yếu phục vụ sản xuất và dân sinh ở các huyện nghèo, xã,
thôn, bản đặc biệt khó khăn đạt chuẩn theo tiêu chí nông thôn mới
Thứ năm , Nhà nước cần đẩy mạnh hơn trong phong trào tuyên truyền vận động
các hộ nghèo tích cực, chủ động giảm nghèo nhanh và bền vững Xác định tư tưởng và trách nhiệm cho chính những nguời được hưởng xóa đói giảm nghèo, yêu cầu nhìn nhận một cách nghiêm túc vai trò ,vị trí của mình trong công cuộc xóa đói giảm nghèo nhanh
và phải tự cố gắng vươn lên để thoát nghèo bền vững Nhà nước và các tổ chức, các nhà hảo tâm chỉ cho họ cần câu, còn muốn có cá ăn thì người nghèo phải tự câu lấy
Thứ sáu, thực hiện cơ chế phân cấp, trao quyền, hỗ trợ trọn gói có mục tiêu cho
địa phương, đi đôi với nâng cao năng lực và tăng cường sự tham gia của người dân
Thứ bảy, Quản lý chặt chẽ, bồi dưỡng và nâng cao trình độ đào tạo đội ngũ cán bộ
địa phương một cách bài bản hơn Đội ngũ cán bộ cần ý thức được trách nhiệm, lòng nhiệt tình và tâm huyết với công việc được giao Để mang lại hiệu quả tốt nhất cần phải
Trang 6có sự chỉ đạo quyết liệt hơn từ mọi cấp ngành đặc biệt là cấp huyện và cơ sở, tăng cường
sự giúp đỡ các hộ nghèo cần phải đẩy mạnh vai trò giúp đỡ hỗ trợ của các đội ngũ cán bộ trực tiếp phân công hướng dẫn tận tình, cầm tay chỉ việc xóa đói giảm nghèo với nhân dân
Thứ tám, Nhà nước động nguồn lực và bố trí ngân sách tại chỗ để đầu tư Khuyến
khích , tạo điều kiện và có chính sách ưu đãi thu hút các tổ chức, nhà khoa học trực tiếp nghiên cứu, ứng dụng ,chuyển giao tiến bộ khoa học kĩ thuât công nghệ trên địa bàn Đối với các huyện miền núi thì việc tuyển chọn ,chuyển giao giống cây trồng, giống vật nuôi
là rất quan trọng Khuyến khích ,hỗ trợ các doanh nghiệp ,hợp tác xã, trang trại dầu tư sản xuất, chế biến kinh doanh trên địa bàn huyện nghèo miền núi để vừa phát triển kinh tế, vừa là tấm gương đưa tiến bộ khoa học kĩ thuật vào sản xuất ,hỗ trợ việc làm, thu hút lao động tại chỗ, thu mua sản phẩm cho nông dân
KẾT LUẬN
Đói nghèo không chỉ làm cho hàng triệu người không có cơ hội được hưởng những thành quả văn minh tiến bộ của loài người mà còn gây ra những hậu quả nghiêm trọng về kinh tế xã hội đối với sự phát triển, tàn phá môi trường sinh thái Vì vậy nếu đói nghèo không được giải quyết, thì không một mục tiêu nào mà cộng đồng quốc tế, cũng như quốc gia đặt ra như tăng trưởng kinh tế, cải thiện đời sống, hoà bình ổn định, bảo đảm các quyền con người được thực hiện Giải quyết vấn đề nghèo đói là nhiệm vụ khó khăn, lâu dài, bền bỉ của toàn Đảng, toàn dân ta, để bảo đảm an sinh xã hội, thực hiện mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” Giảm nghèo nhanh và bền vững là một trong những nhiệm vụ trọng tâm ưu tiên trong Chiến lược phát triển kinh
tế - xã hội đất nước, cũng như trong chỉ đạo và tổ chức thực hiện của Chính phủ, chính quyền các cấp nhằm phát huy nội lực của toàn xã hội cũng như sự nỗ lực, vươn lên của người nghèo Vai trò của nhà nước đôi với đảm giảm nghèo nhanh và bền vững ở các huyện nghèo đặc biệt là huyện nghèo miền núi là vô cùng quan trọng
Tài liệu tham khảo
Trang 7http://phunuvietnam.vn/thoi-cuoc/tay-bac-co-ty-le-ho-ngheo-cao-nhat-nuoc-post6369.html
http://moj.gov.vn/vbpq/lists/vn%20bn%20php%20lut/view_detail.aspx?itemid=23450 http://moj.gov.vn/vbpq/lists/vn%20bn%20php%20lut/view_detail.aspx?itemid=12476 http://www.moj.gov.vn/vbpq/lists/vn%20bn%20php%20lut/view_detail.aspx?
itemid=18067
http://voer.edu.vn/m/chuong-trinh-phat-trien-kinh-te-xa-hoi-cac-xa-dac-biet-kho-khan-vung-dan-toc-thieu-so-va-mien-nui/afbd0089