1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

SKKN sáng kiến kinh ngiệm luyện nói cho học sinh trong môn ngữ văn lớp 8 ở trường THCS lý thường kiệt –nha trang qua thảo luận nhóm và trò chơi

68 628 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 68
Dung lượng 753 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Do đặc thù củaphương pháp dạy học mới: lấy người học làm trung tâm nên tôi mạnh dạn nghiên cứu về “Luyện nói cho học sinh trong môn Ngữ Văn lớp 8/1, 9/3và 9/5 ở trường THCS Lý Thường Kiệ

Trang 1

PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TP NHA TRANG

TRƯỜNG THCS LÝ THƯỜNG KIỆT

********************

ĐỀ TÀI:

LUYỆN NĨI CHO HỌC SINH TRONG MƠN NGỮ VĂN LỚP 8/1, 9/3

VÀ 9/5 Ở TRƯỜNG THCS LÝ THƯỜNG KIỆT - NHA TRANG QUA

THẢO LUẬN NHĨM VÀ TRỊ CHƠI

Giáo viên : Phan Huy Lương

Năm học : 2014 - 2015

Trang 2

Nhận xét, xếp loại

- Nhận xét: ……… ……… ………

……… ……… ………

……… ……… ……… …

……… ……… ……… ……

……… ……… ……….……… ………

……… ……… ……… ………

……… ……… ……… ………

……… ……… ……….……….………

……… ……… ……… ……

……… ……… ……… …………

……… ……….……….……… ………

……… ……… ……… ………

……… ……… ……… ………

……… ……….……….………

……… ……… ………

……… …… ……… ………

……… ……… …….……….………

……… ……… ……… ………

……… ……… ………

……… ……….……….………

……… ………… ……….……… ………

……….……… ………

……… ……… ……… ………

……… ……… ………

……… ……… ……… ….

……… ………

- Xếp loại: …………

Ngày .…… tháng .…… năm .……

HIỆU TRƯỞNG

Trang 3

MỤC LỤC

Trang

MỤC LỤC 1

DANH MỤC CHỮ CÁI VIẾT TẮT 2

LỜI GIỚI THIỆU 3

I ĐẶT VẤN ĐỀ: 4

I.1 Lý do chọn đề tài: 4

I.2 Qua quá trình nghiên cứu, tôi đã tiến hành các phương pháp nghiên cứu sau: 9

I.3 Phạm vi đối tượng và kế hoạch nghiên cứu: 10

II GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ: 10

1 Cơ sở lí luận của đề tài: 10

2 Thực trạng của đề tài 11

3 Một số yêu cầu của tiết luyện nói: 12

4 Các biện pháp tiến hành: 15

4.1 Luyện nói cho HS trong môn ngữ văn lớp 8/1, 9/3 và 9/5 ở trường THCS Lý Thường Kiệt – Nha Trang qua thảo luận nhóm 15

4.1.1.Thảo luận nhóm là gì? 15

4.1.2 Một số kỹ thuật dạy học khi sử dụng phương pháp thảo luận nhóm: .16

4.1.3 Cách thức tổ chức thảo luận nhóm trong tiết luyện nói Ngữ văn 8,9 ở trường THCS Lý Thường Kiệt TP Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa: 19

4.2 Luyện nói cho HS trong môn ngữ văn lớp 8/1, 9/3 và 9/5 ở trường THCS Lý Thường Kiệt – Nha Trang qua một số trò chơi 25

4.2.1.Tác dụng của trò chơi trong dạy học Ngữ văn: 25

4.2.2 Một số hình thức tổ chức trò chơi trong tiết luyện nói Ngữ văn 8,9 ở trường THCS Lý Thường Kiệt: 26

5 Hiệu quả đạt được 31

III KẾT LUẬN 41

TÀI LIỆU THAM KHẢO 43

PHỤ LỤC 44

Trang 4

DANH MỤC CHỮ CÁI VIẾT TẮT.

SKKN:……… Sáng kiến kinh nghiệm

GV:……… Giáo viên

HS:………Học sinh

THCS:……… Trung học cơ sở

TP:………Thành phố

Trang 5

LỜI GIỚI THIỆU

Luyện nói cho học sinh trong chương trình Ngữ Văn lớp 8/1,9/3 và 9/5qua hoạt động nhóm và trò chơi đã có nhiều đề tài nghiên cứu Do đặc thù củaphương pháp dạy học mới: lấy người học làm trung tâm nên tôi mạnh dạn

nghiên cứu về “Luyện nói cho học sinh trong môn Ngữ Văn lớp 8/1, 9/3và 9/5 ở

trường THCS Lý Thường Kiệt –Nha Trang qua thảo luận nhóm và trò chơi”

nhằm giúp GV có cái nhìn nhận mới về tiết luyện nói, qua đó có thể áp dụngtrong việc giảng dạy bộ môn Ngữ văn trong trường THCS Thành phố Nha Trangtỉnh Khánh Hòa Sáng kiến bao gồm những nội dung sau:

Phần I: Đặt vấn đề

Phần II: Giải quyết vấn đề

+ Cơ sở lí luận của đề tài:

Trang 6

ĐỀ TÀI:

LUYỆN NÓI CHO HỌC SINH TRONG MÔN NGỮ VĂN LỚP 8/1, 9/3

VÀ 9/5 Ở TRƯỜNG THCS LÝ THƯỜNG KIỆT - NHA TRANG QUA

THẢO LUẬN NHÓM VÀ TRÒ CHƠI

Đặc thù của bộ môn Ngữ văn là hình thành những con người có ý thức, có tưtưởng tình cảm cao đẹp, có năng lực cảm thụ các giá trị chân, thiện, mỹ và đặc biệt

là có khả năng, kĩ năng thích ứng với cuộc sống năng động trong xã hội hiện đại

Có 4 kĩ năng: nghe – nói – đọc – viết trong bộ môn Ngữ văn thì kĩ năng nói là quantrọng cần hình thành cho học sinh để các em hòa nhập với cuộc sống hiện đại

Luyện nói trong nhà trường là để nói theo chủ đề, vấn đề không quen thuộctrong đời sống hằng ngày, lại yêu cầu nói mạch lạc, liên kết không tùy tiện, do đócần phải luyện nói trong một môi trường giao tiếp khác, môi trường xã hội, tập thểcông chúng Ngôn ngữ nói là phương tiện giao tiếp có âm thanh, có ngữ điệu sốngđộng, có sức truyền cảm trực tiếp, có sự biểu đạt của tư thế, nét mặt, âm lượng, có

Trang 7

sự giao cảm trực tiếp giữa người nói với người nghe Vì vậy hình thành được kĩnăng này giúp cho các em có công cụ sắc bén trong giao tiếp xã hội.

b Về thực trạng:

Khi tiến hành làm sáng kiến kinh nghiệm này tôi đã xây dựng hệ thống câu

hỏi để đánh giá về sự phản ứng của học sinh trong tiết luyện nói thông qua hoạtđộng nhóm và một số trò chơi cũng như làm thước đo về mức độ chuyển biếncủa HS trước và sau khi áp dụng kiểu dạy học này Dưới đây là tổng hợp kếtquả trắc nghiệm Tôi dựa vào đó như một cơ sở cùng với quá trình thực dạy ởlớp để đánh giá thực trạng dạy học tiết luyện nói lớp 8/1,9/3 và 9/5 ở trườngTHCS Lý Thường Kiệt TP Nha Trang Để trả lời cho các câu hỏi của bài nghiêncứu đã được tôi đề cập ở trên, tôi đã chọn phương pháp điều tra thực nghiệm đốivới 87 học sinh lớp 8/1,9/3 và 9/5 ở trường THCS Lý Thường Kiệt –TP NhaTrang với mục đích có thêm những ý kiến và những đóng góp cho việc áp dụngphương pháp thảo luận nhóm và trò chơi trong tiết luyện nói Ngữ văn 8,9 Ởphiếu điều tra, tôi đã đưa ra các đáp án lựa chọn khác nhau cho mỗi loại câu hỏi(câu hỏi nhiều lựa chọn) để giúp học sinh có thể dễ dàng lựa chọn cũng như dễdàng cho công việc phân tích sau này của tôi

PHIẾU THĂM DÒ Ý KIẾN CỦA HỌC SINH (Trước khi tiến hành dạy thực nghiệm)

Em hãy đánh dấu X vào ô bên cạnh để trả lời các câu hỏi sau:

Câu1:Em thường xuyên gặp

khó khăn trong việc học kĩ

năng:

-Nghe-Nói-Đọc-Viết

Câu 2 : Theo em, tại sao học

sinh ít thực hành nói và ngại

nói trong các tiết học luyện

nói, vì: (có thể chọn lựa

nhiều lựa chọn)

-Rụt rè, nhút nhát trước đám đông-Thiếu hiểu biết và ý kiến

-Thiếu tự tin vào năng lực bản thân-Sợ mắc lỗi

-Không có thói quen thực hành nói nhiều

Trang 8

-Đáp án khác

Câu 3 : Để bổ trợ việc dạy

và học kĩ năng nói trong tiết

luyện nói Ngữ văn 8,9,

phương pháp nào đem lại

hiệu quả?

-Sử dụng các dụng cụ trực quan sinh động,máy chiếu, tranh ảnh, chuyện tranh

-Tổ chức các trò chơi đóng vai, đóng kịch,thi hùng biện

-Tổ chức các buổi thảo luận-Đáp án khác

và thuyết trình trước đám đông

-Để làm dễ dàng việc học nói, hứng thú hơnvới môn học

-Chúng góp phần cải thiện quan hệ thầy côvới học sinh, và giữa bạn bè với nhau

-Phát huy khả năng sáng tạo và chủ độngtrong nhiều tình huống

-Sự thiếu nhiệt tình và sự rè rặt của các bạnhọc sinh trong lớp

Trang 9

*Số liệu được lấy từ thống kê hai mặt giáo dục đầu năm học 2013-2014 của trường THCS Lý Thường Kiệt

Trình độ học lực của học sinh không đồng đều, điều này gây khó khăncho việc dạy tiết luyện nói, bởi vì đây là kiểu học đòi hỏi HS có năng lực tư duytốt, năng lực cảm thụ văn chương ở mức độ chấp nhận được Theo thống kê tỷ lệhọc sinh khá giỏi là 39/87 HS (44,8 %), tỷ lệ HS trung bình là 47/87 (54,0%)

và tỷ lệ HS Yếu là 11/87 (12,6%) Điều đó ảnh hưởng đến tinh thần thái độ họctập bộ môn của học sinh và kể cả tinh thần giảng dạy của GV

Rèn kỹ năng nói cho học sinh trong chương trình Ngữ Văn lớp 8 và 9thông qua hoạt động nhóm và một số trò chơi không mới đối với giáo viên vàhọc sinh, nhưng không thường xuyên sử dụng trong các môn học cũng như mônNgữ văn, do vậy cách làm việc thực hành nói của học sinh trước lớp còn e ngại,chưa thành kỹ năng nói một cách tự nhiên Qua điều tra HS khi được hỏi đến

Giáo viên dạy Ngữ văn có bao giờ tổ chức cho các em thảo luận và trò chơi trong tiết luyện nói không ? Thì có đến: 3/87 HS (3,4%) trả lời thường xuyên;

53/87HS (61%) trả lời thỉnh thoảng và số còn lại là 31/87HS(35,6%) trả lời rất íthoặc thỉnh thoảng Điều đó chứng tỏ trong quá trình dạy học GV còn vận dụngphương pháp dạy học thảo luận nhóm và tổ chức trò chơi chưa đồng bộ Nhưvậy, khi GV đưa ra yêu cầu hoạt động nhóm khi luyện nói trước lớp thì một số

HS còn e ngại, ngượng nghịu

Qua điều tra HS thông qua câu hỏi Theo em, nếu thầy, cô áp dụng những

trò chơi như trên, những khó khăn mà các em có thể gặp phải:thì có đến

52/87HS (59,7% ) trả lời câu là thiếu thời gian Có 34/87 HS (39,0%) trả lời

câu hỏi Thiếu cơ sở vật chất, không gian thực hành trò chơi Như vậy vấn đề

thời gian, cơ sở vật chất của nhà trường cũng là một cản trở không hề nhỏ đểcho GV áp dụng phương pháp dạy học này

Khi được hỏi Em thường xuyên gặp khó khăn trong việc học kĩ năng:

(Nghe, nói, đọc, viết) Thì có đến: 42/87 HS (48,4%) trả lời là kỹ năng viết;53/87HS (61%) trả lời kỹ năng nói Điều đó chứng tỏ kỹ năng nói của học sinhchưa cao

Trang 10

Học sinh khi chuẩn bị bài mới còn thụ động, làm việc đối phó, ít chuẩn bị bài mới một cách chu đáo, ít chịu đọc thêm các tài liệu, sách tham khảo, và các nguồn thông tin khác để bổ sung tri thức

b, Về giáo viên:

Việc dạy và học hiện nay đã có cải thiện rõ rệt Tuy nhiên khó khăn chungtrong tiết luyện nói còn là vấn đề trăn trở của nhiều giáo viên Nhiều giáo viêncảm thấy giờ làm văn miệng còn tẻ nhạt và nhàm chán Chỉ có giáo viên và họcsinh được “chỉ định” hoạt động còn đa phần “im lặng”, không chú ý và hứng thúvới giờ học nội dung giờ làm văn miệng thường bị bỏ qua, thay vào đó là nhữnggiờ làm văn viết kéo dài, hoặc có chăng chủ yếu cũng chỉ là việc đơn điệu, giáoviên ra ,một đề bài, cho HS chuẩn bị 10-20 phút rồi gọi một đến hai HS lên trìnhbày HS nào nhận xét thì tốt, nếu không giáo viên cho dàn bài mẫu và kết thúc

Sở dĩ tồn tại thực trạng trên vì giáo viên chưa nhận thức đúng tầm quan trọng vàđặc thù của giờ luyện nói

So với làm văn viết, làm văn nói có những đực thù riêng.Thời gian cho

HS chuẩn bị tương đối ít HS phải trực tiếp với một đối tượng giao tiếp trướcmặt, phải nói ngay sau khi suy nghĩ, đòi hỏi sự nhanh nhạy, llinh hoạt, cơ độngtrong chọn từ, sắp xếp ý và diễn đạt trước bạn bè, thầy cô Hơn thế nữa văn nóicòn phải ó sự kết hợp nhuẫn nhuyễn giữa ngôn ngữ và cử chỉ (phi ngôn ngữ) -ngôn ngữ hình thể Đó là cái khó của giờ làm văn nói nhưng lại tạo sự hứng khởikhác biệt: dễ kích ứng và làm cho các em năng động, sáng tạo hơn mà giờ vănviết không có được.Ngôn ngữ nói là hình thức giao tiếp diễn ra hàng ngày trongđời sống con người, là phương thức giao tiếp chủ yếu của con người Kết quảcủa HS được cảm nhận ngay trên lớp.Thấy rõ được đặc thù của tiết luyện nói vàhiểu được đặc điểm tâm lý của HS tôi tin chắc giáo viên sẽ tiến hành có hiệuquả Qua đây giáo viên và HS cởi mở, thân thiện và hiểu nhau nhiều hơn, tránh

sự xa cách và tiết học trở nên nhẹ nhàng, hứng khởi hơn Vì vậy việc đổi mớiphương pháp dạy và học là rất cần thiết Qua đó GV nhận xét HS thông quacách HS trình bày suy luận, ý kiến của mình, giúp cho quá trình dạy và học có

Trang 11

tính sáng tạo cao và nghiên cứu sâu hơn nhằm đào tạo ra thế hệ vừa “hồng” vừa

“chuyên” cho tương lai

Bên cạnh đó vẫn còn đa số GV sử dụng phương pháp dạy học thuần túy:

ít sử dụng phương pháp, thảo luận, tổ chức trò chơi mà chủ yếu sử dụng phươngpháp thuyết trình Tồn tại đó còn có nguyên nhân khách quan: cơ sở vật chất cònthiếu thốn, nội dung chương trình còn quá sức so với HS; GV sợ “cháy” giáo án

do áp lực về thời gian, sợ HS không làm được bài thi cuối kì hoặc tốt nghiệp nên không mạnh dạn thay đổi phương pháp dạy học mới

Trong quá dạy học thiếu sự hợp tác giữa thầy với trò và giữa trò với trò.Mỗi cá nhân trong quá trình học tập thường có sự hạn chế, chỉ tập trung vào một

số điểm, bỏ qua, không đánh giá hết đươc ý nghĩa đầy đủ của kiến thức Trongđiều kiện đó nếu biết hợp tác giữa giáo viên(GV) và HS, giữa HS với HS có thểnhắc nhở, bổ sung cho nhau những điểm thiếu sót, làm cho kiến thức được khắcsâu và hiểu được toàn diện hơn

Hơn thế nữa HS học thụ động, thiếu sáng tạo và không biết cách tự học

Từ đó HS thiếu hứng thú, đam mê, thiếu lửa trong học tập bộ môn Để đạt hiệuquả trong tiết luyện nói GV phải biết cách biến hóa, phối hợp và sử dụng linhhoạt các biện pháp, hình thức tổ chức dạy học truyền thống với hiện đại

I.2 Qua quá trình nghiên cứu, tôi đã tiến hành các phương pháp nghiên cứu sau:

Phương pháp nghên cứu tài liệu: đọc, phân tích, tổng hợp, hệ thống hóatài liệu, sách báo về vấn đề liên quan đến nội dung nghiên cứu nhằm làm sáng tỏ

cơ sở lí luận của đề tài

Phương pháp quan sát: thông qua giảng dạy trực tiếp bộ môn ngữ văn 8,9tại trường THCS Lý Thường Kiệt TP Nha Trang tỉnh Khánh Hòa, thông qua cácbuổi sinh hoạt tổ nhóm chuyên môn, dự giờ đồng nghiệp

Phương pháp điều tra: để nắm được thực trạng vấn đề nghiên cứu mộtcách khách quan, có hệ thống

Phương pháp đàm thoại: trò chuyện, thăm dò ý kiến với GV, HS liênquan đến dạy học nhóm và tổ chức trò chơi trong tiết luyện nói Ngữ văn 8,9

Trang 12

I.3 Phạm vi đối tượng và kế hoạch nghiên cứu:

- Sỹ số 87 HS, trong đó lớp 8/1 (29HS) ; 9/3 (29HS) và lớp 9/5(29HS) năm học 2014 - 2015 của trường THCS Lý Thường Kiệt TP Nha Trang tỉnh Kháng Hòa

- Thời gian nghiên cứu sáng kiến kinh nghiệm này bắt đầu từ ngày 10 tháng 9 năm 2014 đến ngày 21 tháng 4 năm 2015 Cụ thể như sau:

+Từ ngày 10-9-2014 đến ngày 15-10-2014: nghiên cứu hệ thống câu hỏi trắc nghiệm

+Từ ngày 15-9-2014 đến ngày 24-3-2015: tiến hành khảo sát học sinh.+ Từ ngày -9-2014 đến ngày 21-4-2015: tính toán số liệu và hoàn thành sáng kiến kinh nghiệm

II GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ:

1 Cơ sở lí luận của đề tài:

Nói là hình thức giao tiếp tự nhiên của con người Luyện nói trước lớp nóigiữa thầy cô và bạn bè với mọi người cũng là hình thức giao tiếp tự nhiên hằngngày, bất cứ ai cũng thực hiện trong đời sống của mình Luyện nói là hoạt độngphát ngôn trực tiếp, đòi hỏi người nghe trực tiếp Một người nói thì mọi người kháccùng nghe Rèn luyện kỹ năng nói cho học sinh trong giờ dạy học Tập làm văn làtăng tính thực hành ứng dụng cho chương trình Ngữ văn đối với học sinh THCS vàkhắc phục hạn chế quá chú trọng đến việc đọc viết hơn nghe nói của chương trình

và sách giáo khoa cải cách giáo dục

Trọng tâm của việc rèn luyện kỹ năng nói trong chương trình Ngữ vănTHCS là giúp cho học sinh có được kỹ năng nghe, nói, đọc, viết tiếng Việt tươngđối thành thạo Đây cũng là sự cụ thể thể hoá tư tưởng dạy học theo lý thuyết giaotiếp và thực tiễn dạy học môn phân môn Tập làm văn ở trường phổ thông Điểmmới mẻ và cần lưu ý là chú trọng hơn tới cách tổ chức cho học sinh hoạt động đểphát triển kỹ năng nói trong giờ Tập làm văn Luyện nói tốt sẽ giúp học sinh biếtbộc lộ tư tưởng, truyền đạt thông tin trong hoàn cảnh giao tiếp khác nhau

Như vậy có nhiều cách trình bày khác nhau nhưng tất cả đều nhấn mạnhlàm thế nào để học sinh nói tốt, nói trôi chảy, tự tin để hòa nhập

Trang 13

2 Thực trạng của đề tài

Về lý thuyêt, luyện nói đã được hình thành ở lớp 6, 7 lên lớp 8,9 các em

có vốn kinh nghiệm và kĩ năng nói nhưng thực tế càng lên lớp trên các em càngngại nói, ngại phát biểu trước tập thể Kết quả là ngay cả khi đã trưởng thành cóthể nắm giữ chức vụ quan trọng của một cơ quan nào đó, nhiều người vẫn ít khi

“dám nói” trước đám đông một cách mạnh dạn, tự tin mà tỏ ra xấu hổ, lúngtúng, trình bày lí nhí, lắp bắp trong cổ, hoặc nói không mạch lạc, rõ rang,… Vớibất kì ngôn ngữ nào để phát triển một cách tự nhiên thì kĩ năng “nói” và “nghe”luôn là kĩ năng cần hình thành sớm nhất trước cả kĩ năng “đọc” và “viết”.Nhưng dường như chúng ta lại làm ngược quy luật của ngôn ngữ, chú trọng đọc,viết trước, nghe, nói sau

Qua những năm thực hiện chương trình thay sách giáo khoa, ở bộ môn Ngữvăn, tiết dạy “Luyện nói” mặc dù nhiều giáo viên cũng đã cố gắng hết sức nhưngcũng ít người thành công qua tiết dạy Bởi vì kinh nghiệm rèn luyện kỹ năng nóicho học sinh chưa nhiều so với rèn luyện kỹ năng viết Học sinh không tự tin khinói trước đám đông Thời gian luyện nói lại có hạn (45 phút) không tạo được điềukiện cho tất cả học sinh được nói Và sách giáo viên cũng chưa có hướng dẫn cụthể cho việc dạy rèn luyện kỹ năng nói Do vậy mà trong một tiết luyện nói chỉ tậptrung vào những em khá, giỏi, chăm còn những học sinh lười sẽ thụ động, khôngphát huy được Dù có hoạt động thảo luận nhóm thì những em yếu cũng ngồi im.Kết quả yếu vẫn yếu, lười vẫn lười Tâm lý chung, giáo viên rất ngại dạy tiếtluyện nói, nhất là trình độ học sinh ở vùng ven biển như HS trường THCS LýThường Kiệt thì kĩ năng nói sẽ không được phụ huynh quan tâm nhiều So vớiyêu cầu của phương pháp dạy mới và những định hướng của sách giáo viên thìtiết dạy “luyện nói” và hoạt động nói của học sinh qua tiết dạy còn nhiều lúngtúng chưa đạt yêu cầu

Trong thực tế giảng dạy ở trường thuộc địa bàn ven biển, đa số học sinhchưa có kỹ năng nói trước tập thể, rất ngại nói, không tự tin khi nói trước đôngngười gia đình chưa thật sự quan tâm đến học tập của con em

Trang 14

Nhiều giáo viên có chú ý rèn kĩ năng nói cho học sinh song còn lúng túngtrong khâu soạn giảng cũng như qui trình các hoạt động lên lớp Một phần cũng dosách giáo viên không có hướng dẫn cụ thể Khi giáo viên có sự đầu tư cho tiết dạy

và hướng dẫn cho học sinh chuẩn bị chu đáo thì việc tổ chức cho học sinh luyệnnói trong tiết luyện nói đạt hiệu quả cao Không khí học tập của học sinh khác hẳnkhi giáo viên thuyết giảng Ở các em lộ rõ sự thích thú, tất cả như có một luồngđiện vô hình nào đó được lan truyền cho cả lớp làm nóng lên không khí học tập.Nhiều em giơ tay xin được trình bày kết quả, cảm nhận tổng hợp và thật là thoảmãn với những kiến thức được chắt lọc rút ra từ chính sự hiểu biết của các em Đócũng là lúc giáo viên có điều kiện để điều chỉnh và phấn khích các em học tập, thực

tế niềm vui đựợc giáo viên quan tâm sẽ cho các em thêm sự tự tin vào khả năng củamình là phải học tập tốt hơn, cố gắng hơn để được phát biểu, nói trước lớp tronglần sau

Để tạo được động lực niềm tin nhằm kích thích ý thức học tập bộ môn Ngữvăn của các em trước hết người thầy giáo phải là người tìm ra được những biệnpháp tối ưu kích thích khả năng nói để học sinh nói ra được những điều mình tưduy, cảm thụ trong giờ học văn bản cũng như trong tiết luyện nói Đây cũng là kĩnăng vừa giúp các em thể hiện mình, tự bày tỏ những suy nghĩ cảm xúc những điềucảm thụ, phân tích, đánh giá một cách tự tin trứơc tập thể Vừa là biện pháp có khảnăng khắc phục đựơc những khó khăn, thực trạng mà chúng ta đang quan tâm Từ

đó nâng cao chất lượng dạy học môn Ngữ văn

3 Một số yêu cầu của tiết luyện nói:

a Xác định mục đích yêu cầu của việc luyện nói:

Để cho học sinh có thể thực hiện tốt tiết luyện nói, giáo viên cho trước đề tàicho các em về nhà soạn, hướng dẫn các em: Giúp các em chuẩn bị tốt nội dung,yêu cầu bài nói để các em xác định đề tài (Nói cái gì ?); xác định đối tượng giaotiếp (Nói trong hoàn cảnh nào ?); xác định mục đích giao tiếp (Nói để làm gì ?);cách thức giao tiếp (Nói cho thuyết phục người nghe); nói cho có hiệu quả (Phảithu thập, lựa chọn điều cần nói); tạo tâm thế vững vàng khi nói: Tự tin, mạnh dạn;

Trang 15

Tác phong tự nhiên, giọng rõ ràng quán xuyến người nghe; Yêu cầu tập thể lớp chú

ý lắng nghe, theo dõi ghi chép, nhận xét

b Hướng dẫn học sinh soạn bài trước ở nhà:

Mỗi em đều phải soạn bài vào vở bài tập của mình ở nhà Tới lớp, trướckhi tiến hành luyện nói, lớp trưởng kiểm tra việc soạn bài của lớp thông qua tổtrưởng, nhóm trưởng, sau đó báo cáo cho giáo viên Giáo viên nên kiểm tra lạikhoảng từ năm đến mười em

c Tổ chức triển khai thực hiện giờ luyện nói trên lớp:

Bước 1: Kiểm tra khâu chuẩn bị ở nhà của học sinh.

Bước này giáo viên phải đặc biệt chú ý, không thể bỏ qua hay lơ là được vìđây là cơ sở cho tiết luyện nói Mặt khác, kiểm tra chặt chẽ khâu chuẩn bị ở nhà sẽtạo thói quen học tập, tự giác cho học sinh và có biện pháp kịp thời đối với nhữnghọc sinh yếu hoặc lười học

Bước 2: Thống nhất lại dàn bài chung.

Phần này giáo viên không đi lại từng bước nhỏ như phần chuẩn bị bài vì sẽ

mất thời gian Giáo viên chỉ đưa ra những câu hỏi, những vấn đề có tính chất giảiđáp vướng mắc mà các em gặp phải trong phần chuẩn bị bài Trên cơ sở đó, xâydựng dàn bài chung làm yêu cầu về kiến thức để đánh giá nội dung bài nói của học

sinh GV cũng cần nhắc lại lý thuyết mà bài nói cần tuân thủ

Bước 3: Yêu cầu cho bài nói của học sinh.

Giáo viên nêu yêu cầu luyện nói chung để học sinh rõ (chỉ áp dụng cho tiếtluyện nói đầu tiên của từng khối lớp, những tiết sau, bước này sẽ do học sinh tựnhắc lại trước lớp)

- Nội dung: Nói phải đúng trọng tâm, yêu cầu đề bài Dựa vào dàn bài thốngnhất để trình bày theo ý cho hệ thống

- Kỹ thuật nói: Trình bày rõ ràng, mạch lạc, nói thành câu trọn vẹn Lời nói

có ngữ điệu, diễn tả thái độ, tình cảm tự nhiên, phù hợp

- Tác phong: bình tĩnh, đĩnh đạc, tự tin Trước khi nói phải có lời thưa gửi,kết thúc phải có lời cảm ơn

Trang 16

Bước 4: Bước chuẩn bị của học sinh trước khi nói: GV động viên, bạn bè

chú ý nhằm tạo tâm thế thoải mái, bình tĩnh, tự tin trước khi nói

Giáo viên dành thời gian khoảng 5 phút để học sinh chuẩn bị trình bày bài nói

Bước 5: Học sinh trình bày bài nói.

Để cho học sinh có điều kiện trình bày bài nói của mình một cách tựnhiên, hiệu quả, giáo viên nên lựa chọn nhiều hình thức, nhiều cách trình bày bàinói khác nhau

- Trình bày bài nói theo từng phần: mở bài, thân bài, kết bài đến cả bài

- Trình bày bài nói theo sự phân công của tổ, nhóm (chọn học sinh khá của

tổ nhóm trình bày trước, để học sinh yếu có điều kiện học tập và chuẩn bị)

- Học sinh trình bày bài nói theo thứ tự luân phiên (Đa phần học sinh đều cóthể trình bày bài nói)

- Học sinh trình bày bài nói theo yêu cầu dựa vào các mức độ khác nhau :giỏi, khá, trung bình, yếu

Bước 6: Nhận xét, đánh giá.

Nếu để cho học sinh thay phiên nhau lên trình bày bài nói của mình màkhông có sự nhận xét, đánh giá, góp ý của thầy cô, bạn bè thì tiết luyện nói sẽ phảntác dụng Trong tiết luyện nói, học sinh giữ vai trò chủ động, tích cực thì giáo viênphải thể hiện rõ vai trò của người chủ đạo, hướng dẫn Trong tiết luyện nói ngườigiáo viên thực sự trở thành một người dẫn chương trình gần gũi và thân mật vớihọc sinh thì sẽ nâng cao hiệu quả tiết học

Hướng dẫn học sinh theo dõi, nhận xét, đánh giá từng phần, từng nội dung

cụ thể

Giáo viên tổng hợp ý kiến từ học sinh, chỉ ra ưu điểm và những điểmchưa tốt cũng như mặt mạnh, mặt yếu của từng em để kịp thời phát huy và sủachữa, uốn nắn

Lời đánh giá của giáo viên phải chính xác, rõ ràng, nhẹ nhàng, tế nhị; luôntạo không khí thân ái, gần gũi để học sinh trao đổi, trình bày ý kiến của mình được

tự nhiên hơn Giáo viên nên chọn ưu điểm nổi bật của từng học sinh và căn cứ theotừng mức độ: giỏi, khá, trung bình, yếu mà tuyên dương, động viên, khuyến khích

Trang 17

Nhất là sự tiến bộ của học sinh yếu (dù chỉ là sự tiến bộ rất nhỏ) Vì lời khen củagiáo viên không chỉ là động lực thúc đẩy sự cố gắng phấn đấu của học sinh mà còn

là đòn bẩy, thúc đẩy giờ luyện nói thành công

Tóm lại tuỳ thuộc vào điều kiện, mức độ của từng lớp, hoạt động của giờluyện nói có thể có những hình thức khác nhau Hình thức rất phong phú đa dạng.Điều quan trọng là phải nắm vững đặc trưng giờ luyện nói để đảm bảo yêu cầu mộtgiờ học Ngữ văn trong nhà trường THCS

4 Các biện pháp tiến hành:

4.1 Luyện nói cho HS trong môn ngữ văn lớp 8/1, 9/3 và 9/5 ở trường THCS Lý Thường Kiệt – Nha Trang qua thảo luận nhóm.

4.1.1.Thảo luận nhóm là gì?

Thảo luận nhóm là phương pháp dạy học, trong đó giáo viên chia lớp

thành nhiều nhóm nhỏ (có thể 2 hoặc 4, hoặc 6 – không nên chia nhóm lẻ) Các thành viên trong nhóm đều phải làm việc, trao đổi từ đó đưa ra ý kiến chung của

cả nhóm về vấn đề được giao Nhằm phát huy tính tích cực, chủ động sáng tạo

của học sinh trong quá trình khám phá và lĩnh hội tri thức, hình thành kỹ năng tưduy, kỹ năng hợp tác trao đổi lẫn nhau thì thảo luận nhóm có vai trò tích cựcnhất Giáo viên có thể mời bất kì HS của nhóm lên trình bày trước lớp.Trongdạy học tích cực, thảo luận nhóm là phương pháp có nhiều ưu điểm Trong đó, người học được phát huy tối đa được bộc lộ những khả năng của bản thân.Đồng thời qua đó, các em còn có điều kiện học hỏi lẫn nhau, tạo không khí thoảimái trong học tập Điều đặc biệt là luôn có được cảm giác tự do, thoải máikhông bị áp đặt (khác với kiểu dạy học truyền thống- kiểu truyền thụ một chiều:thầy nói trò nghe Trong tiết luyện nói, giáo viên cần tổ chức thảo luận nhóm,hướng dẫn các em tranh luận vấn đề cần nói, làm sao để HS nào cũng được nói

ra suy nghĩ của mình bằng ngôn ngữ nói Sau đó nhóm trưởng tổng hợp ý kiến

và xây dựng dàn ý, chuẩn bị nói trước lớp Tuy nhiên giáo viên cần lưu ý đểtránh bị động về thời gian, lớp học đông khó quản lí, bao quát lớp, một số HS ỷlại không tích cực khi thảo luận

Trang 18

Khi chia nhóm cần chú ý:Cần phải chia đều về số lượng và năng lực làmviệc giữa các nhóm với nhau Không chia nhóm này quá nhiều, nhóm kia quá ít;nhóm này tập trung học sinh giỏi, nhóm kia phần đông là yếu kém, ý thức họctập chưa cao.

Không nên chia nhóm lẻ.Nếu vấn đề đặt ra trong bài học không nhiều,giáo viên có thể cho hai nhóm cùng thảo luận một vấn đề Nhưng sau đó giáoviên có thể linh hoạt cho nhóm này báo cáo, nhóm kia đặt ra câu hỏi phản biện

Vì thế, ngoài việc phải năng động, tích cực, các em cần được hướng dẫn

cụ thể trước khi tiến hành thảo luận và ngay cả khi chuẩn bị soạn bài ở nhà trongtiết học trước

4.1.2 Một số kỹ thuật dạy học khi sử dụng phương pháp thảo luận nhóm:

a Kỹ thuật XYZ (Còn gọi là kỹ thuật 635)

Kỹ thuật XYZ là một kỹ thuật làm việc nhóm nhằm phát huy tính tíchcực của mỗi thành viên trong nhóm, trong đó mỗi nhóm có X thành viên, mỗithành viên cần đưa ra Y ý kiến trong khoảng thời gian Z Mô hình thông thường

mỗi nhóm có 6 thành viên, mỗi thành viên cần đưa ra 3 ý kiến trong khoảng thời gian 5 phút, do vậy, kỹ thuật này còn gọi là kỹ thuật 635.

Dụng cụ:

Giấy bút cho các thành viên

Thực hiện:

Giáo viên chia nhóm, giao chủ đề cho nhóm, quy định số lượng ý tưởng

và thời gian theo đúng quy tắc XYZ

Các thành viên trình bày ý kiến của mình, hoặc gởi ý kiến về cho thư kýtổng hợp, sau đó tiến hành đánh giá và lựa chọn, sắp xếp thành dàn ý một đoạn,một bài văn nói phù hợp

Lưu ý:

Số lượng thành viên trong nhóm nên tuân thủ đúng quy tắc để tạo tính tươngđồng về thời gian, giáo viên quy định thời gian và theo dõi thời gian cụ thể

Ưu điểm:

Trang 19

Có yêu cầu cụ thể nên buộc các thành viên đều phải làm việc, ai cũng phảiđưa ra ý kiến, nói trước nhóm để thư kí tổng hợp.

Hạn chế:

Cần dành nhiều thời gian cho hoạt động nhóm, nhất là quá trình tổng hợp

ý kiến và đánh giá ý kiến

b Khăn phủ bàn

Kĩ thuật "khăn phủ bàn" là hình thức tổ chức hoạt động mang tính hợp táckết hợp giữa hoạt động cá nhân và hoạt động nhóm nhằm kích thích, thúc đẩy sựtham gia tích cực, tăng cường tính độc lập, trách nhiệm của người học và pháttriển mô hình có sự tương tác giữa người học với người học

c Kỹ thuật chia sẻ nhóm đôi (Think-Pair-Share)

Chia sẻ nhóm đôi (Think, Pair, Share) là một kỹ thuật do giáo sư FrankLyman đại học Maryland giới thiệu năm 1981 Kỹ thuật này giới thiệu hoạtđộng làm việc nhóm đôi, phát triển năng lực tư duy của từng cá nhân trong giảiquyết vấn đề

Dụng cụ:

Trang 20

Hoạt động này phát triển kỹ năng nghe và nói nên không cần thiết sửdụng các dụng cụ hỗ trợ.

Thực hiện:

Giáo viên giới thiệu vấn đề, đặt câu hỏi mở, dành thời gian để học sinhsuy nghĩ Sau đó học sinh thành lập nhóm đôi và chia sẻ ý tưởng, thảo luận,phân loại

Nhóm đôi này lại chia sẻ tiếp với nhóm đôi khác hoặc với cả lớp

Hạn chế:

Học sinh dễ dàng trao đổi những nội dung không liên quan đến bài học dogiáo viên không thể bao quát hết hoạt động của cả lớp

d Sơ đồ tư duy

Sơ đồ tư duy là một hình thức ghi chép có thể sử dụng màu sắc và hìnhảnh để mở rộng và đào sâu các ý tưởng Nhờ sự kết nối giữa các nhánh, ý tưởngđược liên kết, do vậy bao quát được phạm vi sâu rộng

Ưu điểm:

Trang 21

Khi vẽ sơ đồ tư duy, học sinh học được quá trình tổ chức thông tin, ýtưởng cũng như giải thích được thông tin và kết nối thông tin với cách hiểu biếtcủa mình Phù hợp tâm lý học sinh, đơn giản, dễ hiểu Rất thích hợp cho các nộidung ôn tập, liên kết lý thuyết với thực tế.

Hạn chế:

Các sơ đồ giấy thường khó lưu trữ, thay đổi, chỉnh sửa, tốn kém chi phí

Sơ đồ do học sinh tự xây dựng sẽ giúp học sinh nhớ bài tốt hơn là sơ đồ do giáoviên xây dựng, Sau đây là nội dung cụ thể cho việc tổ chức thảo luận nhóm

4.1.3 Cách thức tổ chức thảo luận nhóm trong tiết luyện nói Ngữ văn 8,9 ở trường THCS Lý Thường Kiệt TP Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa:

a Xác định nội dung nói cho mỗi nhóm:

Giờ làm văn luyện nói phải có mục đích rõ ràng, có nội dung cụ thể củamỗi bài học, mỗi hoạt động nội dung nói ở giờ tập làm văn gắn liền với nộidung đang học, không phải nói tự do HS phải nói có lớp có lang, có bài bản và

có sửa chữa, uốn nắn, nhận xét của thầy cô và các bạn trong lớp Vì vậy GV cầngiao nhiệm vụ cụ thể để các em xác định đề tài (Nói cái gì ?); xác định đối tượnggiao tiếp (Nói trong hoàn cảnh nào ?); xác định mục đích giao tiếp (Nói để làm

gì ?); cách thức giao tiếp (Nói cho thuyết phục người nghe); nói cho có hiệu quả(Phải thu thập, lựa chọn điều cần nói)

Vì thế, khi tổ chức chia nhóm, cần chú ý giao nhiệm vụ cụ thể cho mỗinhóm, nhất là các thành viên trong nhóm Mỗi nhóm phải có thư kí để tổng hợp

Trang 22

ý kiến của các thành viên trong nhóm Học sinh được giao nhiệm vụ này phải lànhững học sinh khá – giỏi, tích cực, năng động, có khả năng tổng hợp và trìnhbày vấn đề trước tập thể Đây là kỹ năng quan trọng cần được rèn luyện thườngxuyên Kỹ năng này rất có ích cho các em sau này khi bước vào đời Vì thế, giáoviên cũng nên tạo cơ hội cho tất cả được thử sức, không nên quá tập trung vàomột số em.

Ví dụ LỚP 8: Tiết: 54 LUYỆN NÓI: THUYẾT MINH VỀ MỘT THỨ ĐỒ DÙNG

Chia nhóm thảo luận theo kỹ thuật XYZ kết hợp kỹ thuật “ khăn trải bàn” Tìm hiểu Lập dàn ý cho đề văn thuyết minh về cái phích nước:

-Kỹ thuật XYZ: Trong đó mỗi nhóm có X thành viên, mỗi thành viên cần

đưa ra Y ý kiến trong khoảng thời gian Z Mô hình thông thường mỗi nhóm có 6 thành viên, mỗi thành viên cần đưa ra 3 ý kiến trong khoảng thời gian 5 phút,

do vậy, kỹ thuật này còn gọi là kỹ thuật 635

-Kĩ thuật "khăn trải bàn" là hình thức tổ chức hoạt động mang tính hợp táckết hợp giữa hoạt động cá nhân và hoạt động nhóm nhằm kích thích, thúc đẩy sựtham gia tích cực, tăng cường tính độc lập, trách nhiệm của người học và pháttriển mô hình có sự tương tác giữa người học với người học

Nhóm 1: ? Để thuyết minh về cái phích nước thì phần mở bài em cần giới thiệu như thế nào? (HS nói phần mở bài)

Trang 23

HS: Giới thiệu chung về cái phích nước là một vật dụng quen thuộc trongmỗi gia đình.

Nhóm 2:? Đề bài yêu cầu thuyết minh cái phích nước Vậy đối tượng thuyết minh được đặt ra là một đồ vật Theo em, phần thân bài của đề bài này ta cần nêu lên những ý nào?

- Xuất xứ của phích nước

- Hình dáng, cấu tạo.

- Cách sử dụng

- Cách bảo quản

- Lợi ích

?Các em đã chuẩn bị đề bài này ở nhà Vậy hãy cho thầy biết xuất xứ

ra đời của cái phích nước?

? Qua quan sát phích nước, em hãy trình bày những hiểu biết của em

về hình dáng và cấu tạo của nó?

Hình dáng, kích cỡ phích nước có nhiều loại khác nhau nhưng nhìn chung chúng thường có hình trụ.

Cấu tạo gồm cấu tạo trong và cấu tạo ngoài.

Cấu tạo bên ngoài của phích nước gồm vỏ phích , quai cầm, tay xách và nắp phích.

- Nếu nhà có trẻ cần để phích vào những nơi kín đáo, xa tầm tay trẻ nhỏ

để đảm bảo an toàn.…

? Theo em phích nước có những lợi ích, công dụng nào?

Trang 24

Nước nóng được chứa trong phích để pha trà, pha sữa, pha cà phê… Cuộc sống vốn bận rộn, tiết kiệm thời gian là một tiêu chí cần thiết của mỗi

người

Nhóm 4:? Nội dung của phần kết bài cần nêu những ý gì?

HS: Vai trò của phích nước trong đời sống và chúng ta cần có ý thức bảo

vệ tài sản

*GV đợi HS ghi hoàn chỉnh dàn ý vào vở.

? Bằng sự hiểu biết của mình, em hãy nêu lên những yêu cầu về mặt hình thức trong tiết học luyện nói?

VÍ DỤ - LỚP 9:TIẾT 140 LUYỆN NÓI: NGHỊ LUẬN VỀ MỘT ĐOẠN THƠ, BÀI THƠ

dạy học này trong thảo luận nhóm sẽ phát huy tối đa khả năng nói cho từng cặp

và nhóm HS Từ đó các em mạnh dạn xây dựng cho mình cách nói tự tin, hoạtbát trước lớp

Kỹ thuật chia sẻ nhóm đôi (Think-Pair-Share)

Kỹ thuật này giới thiệu hoạt động làm việc nhóm đôi, phát triển năng lực

tư duy của từng cá nhân trong giải quyết vấn đề

Dụng cụ:

Hoạt động này phát triển kỹ năng nghe và nói nên chỉ cần thiết sử dụngbảng phụ hoặc không cần các dụng cụ hỗ trợ

Trang 25

Thực hiện:

Giáo viên giới thiệu vấn đề, đặt câu hỏi mở, dành thời gian để học sinhsuy nghĩ Sau đó học sinh thành lập nhóm đôi và chia sẻ ý tưởng, thảo luận,phân loại

Nhóm đôi này lại chia sẻ tiếp với nhóm đôi khác hoặc với cả lớp

+ Nhóm 1( nhóm lớn 4 người): thảo luận nhóm phần - Mở bài : giới thiệu tác giả, tác phẩm

-Nhóm đôi 2 HS: Giới thiệu tác giả : Thanh Hải một nhà thơ cách mạng,

suốt đời cống hiến cho sự nghiệp chung của Tổ quốc

- Nhóm đôi 2 HS: Giới thiệu bài thơ : Bài “Mùa xuân nho nhỏ” được

viết vào tháng 11-1980 lúc tác giả đang nằm trên giường bệnh, tác giả nguyệngóp “Mùa xuân nho nhỏ” vào mùa xuân lớn của đất nước

B- Thân bài :

+Nhóm 2: thảo luận nội dung:? Cảm nhận về mùa xuân

Cảm nhận về mùa xuân:

Nhóm đôi 2 HS:

- Ở vẻ đẹp : “Dòng sông xanh”, “bông hoa tím”

- Ở niềm vui : Tiếng chim hót vang, một bức tranh xuân sinh động như khúc hát mùa xuân

Nhóm đôi 2 HS - Cảm xúc về mùa xuân : tiếng chim hót – từng giọt –

đưa tay hứng

+Nhóm 3:- Nhiệm vụ bảo vệ và xây dựng mùa xuân đất nước

Nhóm đôi 2 HS - “Người cầm súng”, làm nhiệm vụ bảo vệ đất nước

trong vòng lá ngụy trang

- “Người ra đồng”làm nhiệm vụ sản xuất xây dựng đất nước

Nhóm đôi 2 HS - Lịch sử đất nước : Đất nước với bao thử thách chồng chất +Nhóm 4- Sự cống hiến của mỗi người:

Sự cống hiến của mỗi người

Nhóm đôi 2 HS -Mỗi người là một mùa xuân nho nhỏ thật am thầm, lặng

lẽ không phô trương

Trang 26

Nhóm đôi 2 HS - Cống hiến suốt cả cuộc đời,không ngừng, không nghỉ

từ tuổi thanh xuân cho đến khi tóc bạc

+Nhóm 5:Tiếng hát mùa xuân :

- Khúc hát của quê hương đất nước là một khúc hát của sự trường tồn, bất diệt

+Nhóm 6:- Kết bài :

Nhóm đôi 2 HS - Bài thơ là lời tâm tình của nhà thơ Đây là lời nhắn nhủ

sau cùng của tác giả đối với thế hệ trẻ

Nhóm đôi 2 HS - Bài thơ chan hòa cả màu sắc, âm thanh của thiên nhiên,

đất trời cùng sức trẻ đầy sôi động

d.Giám sát hoạt động của từng nhóm.

Do đa phần học sinh của chúng ta có ý thức học tập không cao, năng lựchọc tập không đều Thường với một nhóm đông thành viên, rất dễ dẫn đến nhiều

em không tập trung, làm việc riêng Hoặc trong quá trình thảo luận, có khi dolúng túng không hiểu rõ yêu cầu của vấn đề cần thảo luận dẫn đến làm lệchhướng, không đáp ứng yêu cầu đặt ra Vì thế, giáo viên phải giám sát thườngxuyên, kịp thời uốn nắn, có thể hướng dẫn, gợi ý giúp đỡ các em những khókhăn, thắc mắc của các nhóm

e.Trình bày kết quả thảo luận

Khi kết thúc quá trình thảo luận, mỗi nhóm cử đại diện trình bày kết quảthảo luận của nhóm Thường, công việc này do thư kí nhóm trình bày Tùy vàođiều kiện, giáo viên có thể cho các nhóm tham gia phản biện Khi ấy, giáo viênchính là trọng tài có nhiệm vụ dẫn dắt, định hướng vào đề tài, tránh lệch hướng.Điềucần chú ý, tất cả các nhóm phải được trình bày kết quả thảo luận của mình Khôngnên vì sợ mất thời gian mà cắt phần trình bày của nhóm khác Nhóm còn lại, hoặctiết sau trình bày hoặc tự rút kinh nghiệm từ các nhóm trước

f.Tổng kết đánh giá

Giáo viên nên cho các nhóm tự đưa ra lời nhận xét, đành giá lẫn nhau,nhận xét cụ thể, khách quan Chú ý hướng dẫn các em nhận xét về: nội dungtrình bày được chính xác theo yêu cầu chưa, tác phong nói trước lớp: cử chỉ, nétmặt, ánh mắt, lời nói có mạch lạc, thu hút người nghe không, biểu cảm trên

Trang 27

gương mặt, và cuối cùng là nhận xét của GV nên nhận xét khích lệ, động viên

HS, không nên chỉ trích để tránh các em tự ti, mặc cảm không dám lên nói lầnsau Cuối cùng GV cho điểm, tràng pháo tay, biểu tượng “mặt cười”, bông hoađiểm tốt,… để khích lệ tinh thần học tập của các em

4.2 Luyện nói cho HS trong môn ngữ văn lớp 8/1, 9/3 và 9/5 ở trường THCS Lý Thường Kiệt – Nha Trang qua một số trò chơi.

4.2.1.Tác dụng của trò chơi trong dạy học Ngữ văn:

Trò chơi là một hoạt động mang tính con người nhất Cũng như lao động,học tập, trò chơi là một loại hình hoạt động sống của con người.Trò chơi cóchứa đựng những chủ đề, nội dung nhất định, có những quy chế nhất định màngười chơi phải tuân thủ Trò chơi vừa mang tính chất vui chơi, giải trí songđồng thời lại có ý nghĩa giáo dưỡng và giáo dục lớn lao

Đặc biệt đối với HS chơi có nghĩa là học, là khám phá thế giới muôn màuxung quanh, là khơi dậy trong mình những cảm giác và ước mơ, là cố gắng đểthực hiện những ước mơ đó Đúng như nhận định của nhà giáo dục hàng đầu thếgiới Arngoroki: "Trò chơi là con đường để trẻ em nhận thức thế giới, là nơichúng đang sống và là cái chúng nhận thấy cần phải thay đổi"

Trò chơi học tập" (Play -based learning) là phương pháp giáo dục truyền tảimột thông điệp hay một nội dung cụ thể đến người tham gia thông qua hình thứctrò chơi, làm cho người tham gia tự khám ra nội dung bài học đó một cách chủđộng, thích thú và ghi nhớ được kiến thức một cách tự nhiên và sâu sắc nhất

Những ưu điểm mà trò chơi mang lại cho HS:

- Được tự do khám phá những điều mình thích, từ đó niềm yêu thích học tập phát triển;

- Không có stress, không lo lắng, không sợ thất bại, không bị áp lực phảiđạt được thành tích vì không có những câu trả lời "đúng" hoặc "sai" với các "tròchơi học tập";

- Biết cách tự đặt câu hỏi và đặt ra các giả thuyết thử nghiệm để phân tích

và giải quyết vấn đề;

Trang 28

- Có những suy nghĩ trìu tượng bằng cách thao tác các đối tượng thực.Các em sử dụng các vật liệu để chơi các trò chơi và sáng tạo nó thành nhữnghiện vật độc đáo;

- Giúp HS mang những hiểu biết của mình vận dụng vào các tình huốngkhác nhau và cụ thể hóa những hiểu biết đó thành những khái niệm;

- Kích thích sự sáng tạo không ngại rủi ro để tìm ra phương pháp thể hiện

và giải quyết vấn đề đó;

- Thỏa mãn những nhu cầu bẩm sinh của trẻ em là sự khám phá, thích tìmhiểu và ham thích vận động Nó không đỏi hỏi các em phải ngồi yên một chỗ vàhoàn thành nhiệm vụ được xác định bởi người khác;

- Phát triển những "kỹ năng sống thông minh" trong xã hội hiện đại nhưhọc cách hợp tác, chia sẻ và thử nghiệm các ý tưởng, tự tin thảo luận về các lựachọn thay thế, xác định lỗi ;

-Và quan trọng nhất là "Trò chơi học tập" dựa trên sự vui vẻ! Các em cần

có niềm vui Cuộc sống cần phải vui vẻ

4.2.2 Một số hình thức tổ chức trò chơi trong tiết luyện nói Ngữ văn 8,9 ở trường THCS Lý Thường Kiệt:

a Trò chơi “Sắm vai” :

Ví dụ 1:Thi tìm hiểu về thế giới đồ dùng quanh em.

Sử dụng trong chương trình Ngữ văn 8: Thuyết minh về một thứ đồ dùng:

Trò chơi này tổ chức nhằm thu hút HS rụt rè, nhút nhát, tuy có khả năngviết nhưng khả năng nói trước tập thể lại chưa tốt Vì vậy cần rèn cho HS kĩnăng phản xạ nói linh hoạt, rõ ràng, rành mạch Thông qua trò chơi giúp HSmạnh dạn, tự tin nói trước tập thể

Chuẩn bị:

- Chuẩn bị của GV :

+ Câu hỏi, bài tập, bảng giá, máy chiếu

+ Tranh ảnh, một số đồ dùng: Kính đeo mắt, bút bi, cái phích nước(bìnhthủy), chiếc áo dài Việt Nam

+ Chuẩn bị một vài món quà nhỏ, hoa điểm mười, mặt cười

Trang 29

+ Hướng dẫn đề tài cho HS tìm hiểu trước ở nhà

- Chuẩn bị của HS:

+ Chuẩn bị kĩ nội dung GV yêu cầu ở nhà

+ Sưu tầm, mang theo một số vật dụng quen thuộc theo yêu cầu đề bài (nếu có thể): Kính đeo mắt, áo dài, bút bi

+ Cử HS dẫn chương trình hay, lôi cuốn

Các bước tiến hành:

- Chia cuộc chơi thành 2-3 chặng, sắp xếp câu hỏi, nội dung cho phù hợp

- Tiến hành nhận xét sau mỗi đội chơi

- GV làm ban giám khảo: thống nhất thang điểm, cử HS làm thư kí tổng hợp điểm của từng đội chơi

- Cuối buổi: GV tổng kết, củng cố lại phương pháp tạo lập văn bản, nhận xét, khen thưởng các đội chơi

Ví dụ:

- Sau khi thống nhất chọn đề bài trong SGK (sách giáo khoa), GV hướng dẫn,chia lớp thành 4 đội chơi Các đội chơi tìm hiểu trước ở nhà theo nội dung sau:

Đội 1: Thuyết minh về kính đeo mắt

Đội 2: Thuyết minh về cây bút bi

Đội 3: Thuyết minh về cái phích nước (bình thủy)

Đội 4: Thuyết minh về chiếc áo dài Việt Nam

- GV hướng dẫn HS làm theo đơn vị đội

+ Lên chương trình, phân công sắm vai các thành viên trong tổ

+ Yêu cầu HS tham khảo tài liệu, tri thức về thứ đồ dùng mà đội mình cầnthuyết minh.Mỗi đội tự chuẩn bị về thứ đồ dùng, vật dụng, tranh ảnh

+ Làm dàn bài, ghi lên bảng phụ

Trình tự thực hiện trong tiết luyện nói:

+ GV yêu cầu, nêu rõ nội dung tiết luyện nói: Thi tìm hiểu về thế giới đồdùng quanh em

Đội 1: gồm 6 HS tham gia thực hiện chương trình: Cửa hàng thời trang

(đóng vai một nhóm HS dạo quanh cửa hàng và muốn tìm mua đôi kính mắt)

Trang 30

Đội 2: gồm 6 HS tham gia chương trình: Tìm hiểu về sự ra đời và tác

dụng của cây bút bi (đóng vai nhà báo đến phỏng vấn xưởng sản xuất và HS cáctrường học để lấy tư liệu)

Đội 3: gồm 6 HS tham gia chương trình: Áo dài Việt Nam- tinh hoa Việt

(đóng vai nhóm nhà thiết kế trẻ đến xưởng thiết kế của Minh Hạnh- người nổitiếng với những mẫu áo dài của Việt Nam để tìm hiểu về chiếc áo dài)

Đội 4: gồm 6 HS tham gia chương trình truyền hình: Nhà sản xuất tự giới

thiệu (đóng vai nhóm nhân viên tự Maketting về sản phẩm của công ty mình vềcái phích nước với khách hàng)

Kết thúc trò chơi:

GV nhận xét, củng cố lại phương pháp tạo lập văn thuyết minh, cho HSnhận xét chéo giữa các đội chơi GV tổng hợp, đánh giá, nhận xét, cho điểm,phát quà cho mỗi đội chơi

Ví dụ 2: Tiết 42 lớp 8 bài Luyện nói: Kể chuyện theo ngôi kể kết hợp với miêu tả và biểu cảm

Tổ chức trò chơi “sắm vai” đóng vai nhân vật chị Dậu kể lại câu trích đoạn chị Dậu đánh lại người nhà lý trưởng trong tác phẩm “Tắt đèn” mục 2 SGK /110

GV: Phân vai ( đã phân công vai diễn theo 4 nhóm: 5 nhân vật: người dẫn chuyện, Chị Dậu, anh Dậu, cai lệ, người nhà Lý trưởng)

b.Trò chơi “Nhà hùng biện nhí” : Thi hùng biện

Trò chơi này GV hướng dẫn HS tìm hiểu và chuẩn bị tập nói sẵn ở nhà theoyêu cầu và gợi ý của GV, thảo luận nói trong tổ, nhóm, sau đó lên nói trước lớp

GV chia lớp thành 4-6 nhóm theo sở thích hoặc theo tháng sinh Sau đó tổchức thi đua giữa các nhóm trên lớp để tạo không khí thi đua sôi nổi cho tiết học

Trò chơi này các em khá, giỏi sẽ có ưu thế thể hiện khả năng nói hay, lưuloát, mạch lạc trước lớp Qua đó GV sẽ tìm ra nhân tố cho các cuộc thi cấptrường về lĩnh vực nói, nhân rộng điển hình giữa các khối lớp, tạo phong tràothi đua sôi nổi trong lớp học và nhà trường

Trang 31

Chuẩn bị:

- Chuẩn bị của GV:

+ Thông báo hình thức hoạt động để HS chuẩn bị

+ GV nêu yêu cầu nội dung cần nói cho HS về nhà chuẩn bị và phân côngcông việc cho nhóm, thành viên của nhóm

+ Sưu tầm tranh ảnh, vật dụng cần thiết, hoặc hình ảnh trên máy chiếu để minh họa

+ Chuẩn bị một số phần quà nhỏ

+ Hướng dẫn cho HS nội dung dẫn chương trình, cách dẫn (chọn HS linh hoạt, nhanh nhẹn, có khả năng nói thu hút, hấp dẫn)

- Chuẩn bị của nhóm HS:

+ Các nhóm chuẩn bị bài ở nhà theo yêu cầu của GV

+ Sưu tầm hiểu biết của mình về nội dung cần trình bày

+ Sưu tầm tranh ảnh, vật dụng cần thiết cho bài thi hùng biện

+ Chuẩn bị cuộc thi 2 vòng: Thi trước nhóm (chọn HS nói hay nhất) để thitrước lớp

Trang 32

Nội dung- dàn ý: Tiết 140 Luyện nói: Nghị luận về một đoạn thơ, bài thơ.

-2- Nhiệm vụ bảo vệ và xây dựng đất nước

“Người cầm súng”, làm nhiệm vụ bảo vệ đất nước trong vòng là ngụy trang “Người ra đồng”làm nhiệm vụ sản xuất - Lịch sử đất nước : Đất nước vớibao thử thách chồng chất

Nhóm 4:

-3- Sự hòa nhập và dâng hiến của mỗi người :

- Cống hiến suốt cả cuộc đời,không ngừng, không nghỉ từ tuổi thanh xuâncho đến khi tóc bạc

Nhóm 5:

-4- Tiếng hát mùa xuân :

- Khúc hát của quê hương đất nước là một khúc hát của sự trường tồn, bất diệtNhóm 6:

Kết bài :

- Bài thơ là lời tâm tình của nhà thơ Đây là lời trăn trối, lời nhắn nhủ sau cùng của tác giả đối với thế hệ trẻ

- GV hướng dẫn HS làm theo đơn vị nhóm

+ Lên chương trình, phân công sắm vai các thành viên trong nhóm

+ Yêu cầu HS tham khảo tài liệu về nội dung Mỗi độ tự chuẩn bị về thứ

đồ dùng, vật dụng, tranh ảnh

+Làm dàn bài, ghi lên bảng phụ

Trang 33

- GV chốt lại kĩ năng bình thơ (máy chiếu)

- Có thể chuẩn bị sẵn một bài nói của HS rồi thu âm sau đó phát cho HS thưởng thức để kết thúc tiết học

- Tổ chức cho HS nhận xét lẫn nhau và GV chốt lại, khen ngợi, tuyên dương những nhóm làm việc hiệu quả, khen thưởng HS xuất sắc nhất cuộc thi

5 Hiệu quả đạt được.

* Thông qua câu hỏi test HS và GV ở phần phụ lục.

1 Về giáo viên.

Hiểu sâu sắc về việc sử dụng phương pháp thảo luận nhóm, các kỹ thuậtdạy học thường kết hợp khi tổ chức thảo luận nhóm cho HS ;các bước tiến hànhluyện nói cho HS môn Ngữ văn lớp 8/1,9/3,9/5 và một số trò chơi được vậndụng trong việc rèn kỹ năng nói cho HS Qua đó GV nhận thức đúng đắn hơn vềphương pháp thảo luận nhóm và trò chơi trong tiết rèn kỹ năng nói

Xác định được những khó khăn khi thực hiện rèn kỹ năng nói cho HS lớp8/1,9/3,9/5 ở trường THCS Lý Thường Kiệt thông qua thảo luận nhóm và trò chơi

4.Từ đó có những giải pháp, đề xuất để tiếp tục mở rộng phương phápdạy học này ở nhà trường để nâng cao chất lượng dạy – học

Trang 34

2 Về học sinh.

chọn Tỷ lệ

Câu 1- Lớp 8,9 em đã

được thầy (cô ) giáo tổ

chức mấy tiết luyện nói

thông qua thảo luận

nhóm và trò chơi (so

với cách tổ chức tiết

luỵên nói trước đây :

mỗi HS tự chuẩn bị bài

đánh giá như thế nào về

những tiết luyện nói

thông qua thảo luận và

trò chơi ?

A- Sôi nổi, hấp dẫn, bổ ích 51 58,6%B- Tẻ nhạt, chán ngắt, vô bổ 6 6,8%C- Bổ ích nhưng hình thức tổ chức

D- Sôi nổi, hấp dẫn nhưng không bổ

Câu 3- Lợi ích của

những tiết luyện nói

thông qua thảo luận

C- Giúp em và các bạn chủ động phát huy tính tích cực, tư duy sáng tạo;

đồng thời luyện được phong cách làm

Ngày đăng: 23/10/2016, 13:04

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ tư duy - SKKN sáng kiến kinh ngiệm luyện nói cho học sinh trong môn ngữ văn lớp 8 ở trường THCS lý thường kiệt –nha trang  qua thảo luận nhóm và trò chơi
Sơ đồ t ư duy (Trang 49)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w