Tại hội nghị chống đói nghèo khu vực Châu Á – Thái Bình Dương do ESCAP tổ chức tại Băng Cốc – Thái Lan 9/1993 đã đưa ra định nghĩa chung như sau: Nghèo là tình trạng một bộ phân dân cư k
Trang 1CHƯƠNG I: LÝ LUẬN CHUNG VỀ CHÊNH LỆCH GIÀU NGHÈO
1 Các khái niệm “giàu”, “nghèo” và “chuẩn nghèo”
1.1 Quan điểm về “giàu”, “nghèo”
-Có nhiều quan điểm khác nhau về giàu, mỗi quan niệm đánh giá hộ gia đình là giàu dưới nhiều góc độ khác nhau Nhưng tựu chung lại các quan niệm này đều dựa trên một hoặc một số tiêu chí nhất định để xem xét như: tài sản, nhà cửa, đất đai, đồ dùng phục vụ cho sinh hoạt, thu nhập hoặc chi tiêu
-Nghèo là tình trạng bị thiếu thốn ở nhiều phương diện như: thu nhập hạn chế hoặc thiếu cơ hội tạo thu nhập, thiếu tài sản để đảm bảo tiêu dùng những lúc khó khăn và dễ bị tổn thương trước những đột biến, ít được tham gia vào quá trình ra quyết định,… Như vậy, nghèo khổ được định nghĩa trên nhiều khía cạnh khác nhau
Tại hội nghị chống đói nghèo khu vực Châu Á – Thái Bình Dương do ESCAP tổ chức
tại Băng Cốc – Thái Lan (9/1993) đã đưa ra định nghĩa chung như sau: Nghèo là tình trạng một bộ phân dân cư không được hưởng và thỏa mãn các nhu cầu cơ bản của con người mà những nhu cầu này đã được xã hội thừa nhận tùy theo trình độ phát triển khinh
tế xã hội và phong tục tập quán của địa phương Định nghĩa hiện được nhiều quốc gia sử
dụng, trong đó là Việt Nam
1.2 Khái niệm “Chuẩn nghèo”
Chuẩn nghèo (hay còn gọi là ngưỡng nghèo) là ranh giới để phân biệt giữa người nghèo và người không nghèo Nó có thể là một ngưỡng tình bằng tiền (ví dụ, một mức tiêu dùng hay thu nhập nào đó), hay phi tiền tệ (ví dụ, một trình độ học vấn nhất định) Ngưỡng nghèo gồm có ngưỡng nghèo tuyệt đối và tương đối, trong đó:
• Ngưỡng nghèo tương đối : được xác định theo phân phối thu nhập hoặc tiêu dùng
chung trong cả nước để phản ánh tình trạng của một bộ phân dân cư sống dưới mức trung bình của cộng đồng (ví dụ, ngưỡng nghèo tương đối có theer là 50% mức thu nhập trung bình của cả nước)
• Ngưỡng nghèo tuyệt đối : là chuẩn tuyệt đối về mức ống được coi là tối thiểu cần
thiết để cá nhân hoặc hộ gia đình có thể tồn tại khỏe mạnh
Phương pháp chung để xác định ngưỡng nghèo tuyệt là sử dụng một rổ các loại lương thực được coi là cần thiếu để đảm bảo mức độ dinh dưỡng tốt cho con người Rổ lương thực đó sẽ tinh đến cả cơ cấu tiêu dùng lương thực của các hộ gia đình đặc thù trong cả
nước Trên cơ sở đó, hai ngưỡng nghèo tuyệt đối sẽ được tính ra Thứ nhất, ngưỡng
Trang 2nghèo lương thực thực phẩm là số tiền cần thiết để mua một rổ lương thực hàng ngày mà không tính đến chi tiêu cho các sản phẩm phi lương thực Thứ hai, ngưỡng nghèo chung
bao gồm chi tiêu cho cả các sản phẩm lương thực và phi lương thực
• Ngưỡng nghèo Quốc tế (Phương pháp của Ngân hàng Thế giới)
Phương pháp mà Ngân hàng thế giới đã sử dụng ở nhiều nước đang phát triển là dựa vào ngưỡng chi tiêu tính bằng đôla mỗi ngày Ngưỡng nghèo thường dùng hiện nay
là 1 đôla và 2 đôla/ngày (theo sức mua tương đương) Đây là ngưỡng chi tiêu có thể đảm bảo cung cấp năng lượng tối thiếu cần thiết cho con người, mức chuẩn đó là 2100
calo/người/ngày
Ngưỡng nghèo này là ngưỡng nghèo lương thực, thực phẩm vì mức chi tiêu này chỉ đảm bảo mức chuẩn về cung cấp năng lượng mà không đủ chi tiêu cho những hàng hóa phi lương thực Những người có mức chi tiêu dưới mức chi cần thiết để đạt 2100 calo/ngày gọi là “nghèo về lương thực, thực phẩm”
• Ngưỡng nghèo của Việt Nam
Ngưỡng nghèo Tổng cục Thống kê: Ngưỡng nghèo TCTK bao gồm ngưỡng nghèo lương thực thực phẩm và ngưỡng nghèo chung
Từ năm 1993 đến nay, ngưỡng nghèo TCTK được thể hiện qua bảng sau:
Đơn vị: đồng
(Nguồn: Ước tính dựa trên VLSS93, VLSS98, VLSS98 và VHLSS 2002, 2004, 2008,
2010).
Trang 3- Ngưỡng nghèo Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội (chuẩn nghèo quốc gia) Sau 5 lần điều chỉnh chuẩn nghèo quốc gia công bố được thể hiện qua bảng sau:
Giai đoạn 1992 – 1995
Hộ đói nông thôn TNBQ đầu người dưới 8kg gạo/tháng
Hộ đói thành thị TNBQ đầu người dưới 13kg gạo/tháng
Hộ ngèo nông thôn TNBQ đầu người dưới 13kg gạo/tháng
Hộ nghèo thành thị TNBQ đầu người dưới 20kg gạo/tháng
Giai đoạn 1996 – 2000
Hộ đói TNBQ đầu người dưới 13 kg gạo/tháng (tương đương dưới
45.000đ) tính chung cho cả nông thôn và thành thị
Hộ nghèo nông thôn
miền núi, hải đảo TNBQ đầu người dưới 15kg gạo/tháng (tương đương dưới 55.000đ)
Hộ nghèo nông thôn
đồng bằng
TNBQ đầu người dưới 20kg gạo/tháng (tương đương dưới 70.000đ)
Hộ nghèo thành thị TNBQ đầu người dưới 25kg gạo/tháng (tương đương dưới
90.000đ)
Giai đoạn 2001 – 2005 (hộ nghèo)
Nông thôn miền núi,
hải đảo TNBQ đầu người dưới 80.000đ/tháng hay 960.000 đ/người/năm
Nông thôn đồng bằng TNBQ đầu người dưới 100.000đ/tháng hay 1.200.000
đ/người/năm Thành thị TNBQ đầu người dưới 150.000đ/tháng hay 1.800.000
đ/người/năm
Giai đoạn 2006 – 2010 (hộ nghèo)
Nông thôn TNBQ đầu người dưới 200.000đ/tháng hay 2.400.000
đ/người/năm Thành thị TNBQ đầu người dưới 260.000đ/tháng hay 3.1200.000
đ/người/năm
Giai đoạn 2011 – 2015 (hộ nghèo)
Nông thôn TNBQ đầu người dưới 400.000đ/tháng hay 4.800.000
đ/người/năm Thành thị TNBQ đầu người dưới 500.000đ/tháng hay 6.000.000
đ/người/năm
Giai đoạn 2016 – 2020 (hộ nghèo)
Nông thôn TNBQ đầu người dưới 700.000đ/tháng hay 8.400.000
đ/người/năm Thành thị TNBQ đầu người dưới 1.000.000đ/tháng hay 12.000.000
đ/người/năm
Trang 42 Khái niệm và nhân tố tác động đến phân hóa giàu nghèo
2.1 Cơ sở lý thuyết về chênh lệch giàu nghèo
Lý thuyết của Karl Marx: Marx đã nghiên cứu về phân tầng xã hội hay phân hóa giàu nghèo dựa trên sự phân hóa giai cấp Ông cho rằng sự phân hóa thành các tầng lớp, các giai cấp trong xã hội đều bắt nguồn từ sự khác biệt về sở hữu tài sản
Lý thuyết của Max Weber: Ông cho rằng nguyên nhân của sự bất bình đẳng là do quyền lực kinh tế, chính trị và uy tín xã hội
Lý thuyết hiện đại: Nghiên cứu sự bất bình đẳng dựa trên nhiều khía cạnh mới, khác nhau hơn Mà các khía cạnh này ko tác động một cách độc lập mà luôn có mối quan
hệ qua lại gắn kết với nhau
2.2 Khái niệm “ Phân hóa giàu nghèo”
Trong quá trình chuyển đổi từ một nền kinh tế kém phát triển sang nền kinh tế thị trường, xu hướng biến động của cơ cấu xã hội ở nước ta hiện nay, ngày càng trở nên rõ nét.Từ thực trạng đó, đã có một số luận điểm có quan hệ đến quan niệm sự phân hoá giàu nghèo
• PHGN gắn liền với bất bình đẳng xã hội và phân công lao động
• PHGN giàu nghèo là sự phân cực về kinh tế
• PHGN là kết quả tất yếu của quá trình tăng trưởng và phát triển kinh tế và đến lượt mình sự phân hoá đó lại trở thành nguyên nhân kìm hãm sự tăng trưởng và phát triển kinh tế
• PHGN là một hiện tượng xã hội phản ánh quá trình phân chia xã hội thành các nhóm xã hội có điều kiện kinh tế khác biệt nhau PHGN là phân tầng xã hội về mặt kinh
tế, thể hiện trong xã hội có nhóm giàu tầng đỉnh, nhóm nghèo tầng đáy Giữa nhóm giàu
và nhóm nghèo là khoảng cách về thu nhập và mức sống
Vậy PHGN là một hiện tượng xã hội phản ánh quá trình phân chia xã hội thành các nhóm xã hội có điều kiện kinh tế và chất lượng sống khác biệt nhau; là sự phân tầng
xã hội chủ yếu về mặt kinh tế, thể hiện sự chênh lệch giữa các nhóm này về tài sản, thu nhập, mức sống
Trang 52.3 Yếu tố tác động đến phân hóa giàu nghèo
a Kinh tế thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế
Kinh tế thị trường
Cạnh tranh gay gắt tất yếu dẫn đến phân hóa giàu nghèo.Trong kinh tế thị trường,
sự phát triển và tồn tại của mỗi cá nhân tổ chức là tự họ quyết đinh Trong quá trình cánh tranh đó, cạnh tranh bằng trí tuệ là cạnh tranh khốc liệt nhất và tạo ra sự phát triển bền vững Ai có trí tuệ sẽ phát triển nhanh hơn, bền vững hơn, có cơ hội tìm kiếm công ăn việc làm nâng cao mức sông hơn Ai không có tri thức sẽ khó có công ăn việc làm và thu nhập cao Cơ chế thị trường tạo ra cơ hội bình đẳng cho mọi người cạnh tranh Những cơ hội đó chỉ có thể phát huy khi có người biết vận dụng nó Những ai không có năng lực vận dụng đó sẽ rơi vào yếu thế Trong nền kinh tế thị trường, ai cạnh tranh thắng lợi sẽ tồn tại và phát triển Ngược lại sẽ bị loại ra khỏi cuộc chơi, sẽ thất bại Đó chính là tác nhân dẫn đến phân hóa giàu nghèo
Những nhóm xã hội (doanh nghiệp) người sản xuất có lợi thế về kinh tế về tiềm năng sẽ tồn tại phát triển những nhóm yếu thế thường sẽ bị chèn ép và tệ hơn nữa là phá sản Trong kinh tế thị trường, ai có nhiều tiền của, giàu sang thì có cơ hội phát triển hơn, thỏa mãn đc nhu cầu cuộc sống của mình Ngược lại, ai nghèo khó thì khó có cơ hội phát triển, khó có cơ hội vươn lên ngang bằng địa vị xã hội vs người giàu Người giàu có cơ hội càng giàu lên còn người nghèo thì có nguy cơ càng nghèo đi, khoảng cách giàu nghèo ngày càng dãn ra
Hội nhập kinh tế quốc tế
Quá trình hội nhập làm tác động mạnh đến xã hội Và đương nhiên, những cá nhân
tổ chức nào năng động, có lợi thế, nắm bắt được cơ hội sẽ chiếm vị trí cao trong sản xuất kinh doanh Những cá nhân, tổ chức nào kém năng động, thụ động, ỷ lại hoặc trình độ tay nghề, năng lực kinh doanh hạn chế sẽ rơi vào yếu thế
Khi hội nhập, giao lưu văn hóa, giao tiếp với các nền văn hóa đa dạng, tiên tiến là điều tất yếu sẽ xảy ra Phong tục tập quán lạc hậu sẽ dần thay đổi và được xóa bỏ Nhưng những cộng đồng ít có điều kiện tiếp cận với tiến bộ khoa học kỹ thuật hiện đại và văn minh nhân loại sẽ khó xóa bỏ những phong tục, tập quán, thói quen lạc hậu và do đó khó
có điều kiện vươn lên ngang bằng với các nhóm xã hội khác có trình độ văn minh hơn
Và thêm một lần nữa trí thức là nhân tố quyết định khẳng định vị thế của người lao động Đặc biệt, khi hội nhập, tri thức đóng 1 vai trò quan trọng trong việc phát triển đất nước Nên ai có tri thức hơn, nắm nhiều tri thức hơn sẽ có cơ hội phát triển, có khả năng
Trang 6sáng tạo và do đó được đánh giá cao hơn Ngược lại, những ng không nắm giữ được tri thức, không sử dụng và phát huy được tri thức sẽ bị thua thiệt, bị tụt lại phía sau
b Nhóm yếu tố thuộc hệ thống chính sách, thể chế pháp luật
Đây là yếu tố hết sức quan trọng tác động đến nền kinh tế xã hội nói chung và xã hội nói riêng Những yếu tố này là những đảm bảo cho quá trình hội nhập, phân tầng xã hội, phân hóa giàu nghèo vẫn nằm trong khuôn khổ có thể chấp nhận được (kiểm soát được) Đặc biệt là nông thôn, vùng sâu cùng xã nơi chiếm 90% người nghèo của cả nước
c Những yếu tố thuộc về nhóm yếu tố vùng môi trường tự nhiên, cơ sở hạ tầng
Yếu tố nông thôn thành thị cũng là những yếu tố tác động đến phân hóa giàu nghèo
Cơ cấu nghề nghiệp cũng ảnh hưởng đến thu nhập mức sống Những vùng nông thôn chủ yếu chỉ phát triển thuần nông, độc canh cây lúa thường nghèo những làng xã hội phát triển đa ngành, đa nghề hoặc chuyển đổi canh tác sang phi nông hoặc nông- thương thường dễ làm giàu Những làng xã phát triển làng nghề, kinh doanh tổng hợp, kết hợp nhiều nghề, nhiều lao động phi nông thì giàu
Yếu tố địa lý, môi trường tự nhiên Cư dân sông ở những nơi đất đai màu mỡ, thời tiết thuận hòa, thiên nhiên ưu đãi, giao lưu thuận tiện sẽ có thuận lợi cho việc phát triển sản xuất, vươn tới cuộc sống nó đủ, khá giả Ngược lại có nhiều người dân sông ở những vùng đất có địa hình nhều sườn dốc, thời tiết khắc nghiệt, nhiều giông bão, lũ lụt, hạn hán, lũ quét Họ sống, sản xuất hết sức khó khăn, lại thường xuyên phải chống chọi với thiên tai, dịch bệnh Họ rất khó có được cuộc sống no đủ, khá giả
Cơ sở hạ tầng những cư dân sống ở vùng có cơ sở hạ tầng tốt, ven thị trấn, thành phố, điều kiện giao thông thuận lợi, dịch cụ sản xuất, dịch vụ thương mại, dịch vụ sinh hoạt, dịch vụ y tế - giáo dục tốt sẽ có điều kiện học hành, giao lưu học hỏi, phát triển nghề nghiệp Ho sẽ có cơ hội phát triển, khá giả hơn những cư dân sống ở nơi cơ sở hạ tầng thấp kém
d Nhóm yếu tố thuộc về đặc trưng cá nhân
• Nguồn gốc xã hội
• Trình độ học vấn
• Loại nghề nghiệp và trình độ nghề nghiệp
• Yếu tố sức khỏe
• Một số yếu tố khác: vị thế xã hội, quan hệ xã hội, tâm lý, phong tục tập quán,
…
Trang 73 Các chỉ tiêu đánh giá chênh lệch giàu nghèo
Trên thế giới có rất nhiều phương pháp đo lường bất bình đẳng thu nhập, sau đây là một
số phương pháp phổ biến:
3.1 Đường Lorenz
Một cách phổ biến khác để phân tích số liệu thống kê về thu nhập cá nhân là xây dựng đường Lorenz mang tên nhà kinh tế học người Mỹ Coral Lorenz (1905)
Đường Lorenz được vẽ trong một hình vuông mà trục hoành biểu thị phần trăm dân số có thu nhập, còn trục tung biểu thị tỷ trọng thu nhập của các nhóm tương ứng Đường chéo được vẽ từ gốc tọa độ biểu thị tỷ lệ phần trăm thu nhập nhận được đúng bằng tỷ lệ phần trăm của số người có thu nhập Nói cách khác, đường chéo đại diện cho
sự “công bằng hoàn hảo” của phân phối thu nhập theo quy mô: mọi người có mức thu nhập giống nhau Còn đường Lorenz biểu thị mối quan hệ định lượng thực tế giữa tỷ lệ phần trăm của số người có thu nhập và tỷ lệ phần trăm thu nhập mà họ nhận được Như vậy, đường cong Lorenz mô phỏng một cách dễ hiểu tương quan giữa nhóm thu nhập cao nhất với nhóm thu nhập thấp nhất Đường Lorenz càng xa đường chéo thì thu nhập được phân phối càng bất bình đẳng
% Dân số cộng dồn
Hình 1: Đường cong Lorenz
% Dân số cộng dồn
Hình 1
100%
Đường bình đẳng tuyệt đối
A
% Thu nhập cộng dồn
Đường Loenz B
100%
Trang 8Ưu điểm:
• Đường Lorenz là một công cụ tiện lợi, giúp xem xét mức độ bất bình đẳng
trong phân phối thu nhập thông qua quan sát hình dạng của đường cong
• Cho phép so sánh tình trạng bất bình đẳng trong phân phối thu nhập giữa các nước
• Dễ sử dụng, dễ phân tích
Nhược điểm:
• Chưa lượng hóa thành chỉ số để cho phép so sánh mức độ trầm trọng về bất bình đẳng trong phân phối thu nhập
• Khó phân tích nếu so sánh nhiều nước cùng lúc
• Không so sánh được nếu 2 đường Lorenz giao nhau
3.2 Hệ số Gini
Hệ số Gini, mang tên nhà thống kê học người Italia (C Gini), được tính trên cơ sở đường Lorenz Đây là một thước đo tổng hợp về sự bất bình đẳng Nó được tính bằng tỷ
số của phần diện tích nằm giữa đường chéo và đường Lorenz so với tổng diện tích của nửa hình vuông chứa đường cong đó Trong Hình 1 đó là tỷ lệ giữa phần diện tích A so với tổng diện tích A+B
Hệ số Gini có thể dao động trong phạm vi từ 0 đến 1 Hệ số Gini = 0 khi diện tích
A = 0, có nghĩa đường Lorenz và đường chéo trùng nhau, chúng ta có bình đẳng tuyệt đối: mọi người có mức thu nhập giống nhau Ngược lại, hệ số Gini = 1 khi diện tích B =
0, có nghĩa đường Lorenz nằm xa đường chéo nhất, chúng ta có bất bình đẳng tuyệt đối: một số ít người nhận được tất cả, còn những người khác không nhận được gì)
Căn cứ vào hệ số Gini, người ta chia các quốc gia thành 3 nhóm bất bình đẳng thu nhập Các quốc gia có mức độ bất bình đẳng thu nhập thấp khi Gini < 0,4; bất bình đẳng thu nhập trung bình khi 0,4 ≤ Gini ≤ 0,5; và bất bình đẳng thu nhập cao khi Gini > 0,5
Ưu điểm:
• Hệ số Gini khắc phục được nhược điểm của đường Lorenz là nó lượng hóa được mức độ bất bình đẳng thu nhập và do đó dễ dàng so sánh mức độ bất bình đẳng thu nhập theo thời gian cũng như giữa các khu vực, vùng và quốc gia
Nhược điểm:
Trang 9• Thước đo này cũng có hạn chế bởi vì Gini có thể giống nhau khi diện tích A như nhau nhưng sự phân bố các nhóm dân cư có thu nhập khác nhau (đường Lorenz có hình dáng khác nhau)
• Không khắc phục được nhược điểm về sự không nhất quán khi 2 đường L cắt nhau
• Chưa tách được sự BBĐ chung thành các nguyên nhân khác nhau gây ra sự BBĐ đó
3.3 Chỉ số Theil L
Là đại lượng xác định sự bất bình đẳngdựa trên lý thuyết thông tin/ xác suất
L=
yi: Thu nhập cá nhân thứ i
N: số người trong nhóm
Y: tổng thu nhập của nhóm
Chỉ số Theil L biến thiên từ 0 đến vô cùng Nhưng thực tế, chỉ số này thường nhỏ hơn 1 Chỉ số Theil L càng lớn thì chứng tỏ sự bất bình đẳng càng cao
Ưu điểm:
• Làm tăng trọng số của những người có thu nhập thấp
• Phân tách sự bất bình đẳng chung thành bất bình đẳng trong từng nhóm nhỏ
Điều này khiến chỉ số Theil L rất hữu ích vì nó xem xét các yếu tố dẫn tới những thay đổi trong sự bất bình đẳng ở cấp quốc gia
3.4 Tỷ trọng thu nhập/tiêu dùng của x% dân số nghèo nhất ( Nghiên cứu tiêu chuẩn 40 của ngân hàng thế giới)
Ngân hàng Thế giới (2003) đề xuất chỉ tiêu đánh giá tình trạng bất bình đẳng: tỷ trọng thu nhập của 40% dân số có thu nhập thấp nhất trong tổng số thu nhập toàn bộ dân
cư Theo chỉ tiêu này có 3 mức độ bất bình đẳng cụ thể sau: Nếu tỷ trọng này nhỏ hơn 12% là có sự bất bình đẳng cao về thu nhập; trong khoảng 12% – 17% có sự bất bình đẳng trung bình và lớn hơn 17% là bất bình đẳng thấp
Khắc phục được nhược điểm của hệ số GINI và đường Loenz khi phân bổ thu nhập thay đổi ở đỉnh
Trang 103.5 Chỉ số Kuznets ( Nghiên cứu tỷ lệ Q5/Q1)
Tỉ số giữa tỷ trọng thu nhập của x% người giàu nhất chia cho y% người nghèo nhất Những tỷ số này thực chất là những mẩu nằm trên đường Lorenz
Một phương pháp thường được sử dụng là chia dân số thành 5 nhóm có quy mô như nhau theo mức thu nhập tăng dần, rồi xác định xem mỗi nhóm nhận được bao nhiêu phần trăm của tổng thu nhập Nếu thu nhập được phân phối đều cho các gia đình, thì mỗi nhóm gia đình sẽ nhận được 20% thu nhập Nếu tất cả thu nhập chỉ tập trung vào một vài gia đình, thì hai mươi phần trăm gia đình giàu nhất sẽ nhận được tất cả thu nhập, và các nhóm gia đình khác không nhận được gì
Tất nhiên, nền kinh tế thực tế nằm ở đâu đó giữa hai thái cực này Một chỉ tiêu đơn giản nhất để đo lường mức độ bất bình đẳng về thu nhập là tỷ lệ giữa thu nhập
bình quân của nhóm 20% hộ gia đình giàu nhất với thu nhập bình quân của nhóm 20% hộ gia đình nghèo nhất (Q5/Q1)
Ưu điểm:
• Chỉ tiêu này đơn giản, dễ tính và dễ sử dụng
• Hệ số này hiệu quả khi thiếu những thông tin chi tiết về phân phối thu nhập
Nhược điểm:
• Chỉ tính thu nhập của hai nhóm giàu nhất và nghèo nhất mà không phản ánh được toàn bộ bức tranh về phân phối thu nhập của tất cả dân cư
• Chỉ số này không quan tâm đến những người nằm giữa các phân vị giàu nhất và nghèo nhất
Các thước đo bất bình đẳng ở trên không chỉ tính theo thu nhập, mà còn tính theo chi tiêu, hay sở hữu tài sản như đất đai Bất bình đẳng có thể tính riêng cho các vùng hay các nhóm dân cư Trong phân tích tĩnh, các đặc trưng của hộ gia đình và cá nhân như giáo dục, giới, nghề nghiệp cũng có thể được tính đến
4 Tác động của sự phân hóa giàu nghèo đến nền kinh tế xã hội của nước ta hiện nay
4.1 Mặt tích cực: