1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

NCKH CAC YEU TO ANH HUONG DEN y DINH KHOI NGHIEP KINH DOANH CUA SINH VIEN VIET NAM

113 1,4K 16

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 113
Dung lượng 2,42 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Giới thiệu tóm tắt công trình nghiên cứu Dựa trên cơ sở lý thuyết về dự định khởi sự kinh doanh, nghiên cứu này kiểm định tác động của các yếu tố trải nghiệm cá nhân (trong đó có các trải nghiệm trong quá trình học tập tại trường đại học) và một số yếu tố môi trường tới tiềm năng khởi sự kinh doanh thể hiện bằng 2 chỉ báo cảm nhận về mong muốn khởi sự kinh doanh và tự tin khởi sự kinh doanh của sinh viên đại học ở Việt Nam. .Ý kiến người xung quanh có mức độ tác động mạnh nhất tới cảm nhận về mong muốn khởi sự kinh doanh, trong khiyếu tố kinh nghiệm cá nhân có mức độ tác động mạnh hơn tới tự tin khởi sự kinh doanh. Từ kết quả này tác giả gợi ý một số gợi ý khuyến nghị cho các trường đại học và các cơ quan quản lý vĩ mô để thúc đẩy tiềm năng khởi sự kinh doanh của sinh viên đại học ở Việt Nam. Lý do lựa chọn đề tài nghiên cứu Xuất phát từ nhu cầu thực tiễn Khởi sự kinh doanh qua việc tạo lập các doanh nghiệp mới là động lực cho phát triển kinh tế.Một nền kinh tế phát triển được là nhờ sự phát triển về cả số lượng và chất lượng của các doanh nghiệp

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

NHÓM NGÀNH KHOA HỌC XÃ HỘI (XH)

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI CHÍNH - MARKETING

NHÓM NGÀNH KHOA HỌC XÃ HỘI (XH) Nhóm sinh viên: Khoa Thương Mại

Họ và tên sinh viên:

1 NGUYỄN TUẤN ANH

Ngành học: Thương mại quốc tế

2 Diệp Minh Phương

Ngành học: Kinh doanh quốc tế

3 Huỳnh Thảo Trinh

Ngành học: Thương mại quốc tế

Người hướng dẫn: TS NGUYỄN XUÂN HIỆP

Trang 3

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

LỜI CAM ĐOAN

Em xin cam đoan Công trình nghiên cứu khoa học “Các yếu tố ảnh hưởng đến ý

định khởi nghiệp kinh doanh của sinh viên: Nghiên cứu trường hợp sinh viên các

trường đại học tại TP Hồ Chí Minh” là công trình nghiên cứu của nhóm chúng em

Các đoạn trích dẫn và số liệu sử dụng trong công trình nghiên cứu đều được trích

dẫn đúng nguồn Các kết quả nghiên cứu trong Công trình là trung thực và chưa từng được

công bố trong bất cứ công trình nào khác

Công trình nghiên cứu khoa học

TP Hồ Chí Minh, ngày 05 tháng 05 năm 2014

Trưởng nhóm

(Đã ký)

NGUYỄN TUẤN ANH

Trang 4

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

MỤC LỤC ii

DANH MỤC CÁC BẢNG SỐ LIỆU v

DANH MỤC CÁC HÌNH vi

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT VÀ KÝ HIỆU vii

TÓM TẮT viii

CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU 1

1.1 Xác định vấn đề nghiên cứu 1

1.2 Mục tiêu nghiên cứu và câu hỏi nghiên cứu 3

1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4

1.4 Phương pháp nghiên cứu 5

1.5 Ý nghĩa và những đóng góp mới của nghiên cứu 6

1.6 Kết cấu của báo cáo nghiên cứu 7

CHƯƠNG 2 CƠ SỞ KHOA HỌC VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 8

2.1 Doanh nhân và ý định khởi nghiệp kinh doanh 8

2.1.1 Doanh nhân 8

2.1.2 Ý định khởi nghiệp kinh doanh (ý định kinh doanh) 10

2.2 Lý thuyết về ý định hành vi và ý định khởi nghiệp kinh doanh 11

2.2.1 Thuyết hành động hợp lý (TRA) 11

2.2.2 Thuyết hành vi hoạch định (TPB) 13

2.2.3 Mô hình các sự kiện kinh doanh (SEE) 15

2.2.4 Mô hình cấu trúc ý định kinh doanh 17

2.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp kinh doanh 19

2.3.1 Mô hình nghiên cứu của Erkko Autio và cộng sự (2001) 19

2.3.2 Mô hình nghiên cứu của Francisco Linan (2004) 20

2.3.3 Mô hình nghiên cứu của Sofia Karali (2013) 21

2.4 Đề xuất mô hình nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp kinh doanh của sinh viên Việt Nam 21

Trang 5

2.4.1 Thái độ đối với hành vi kinh doanh 24

2.4.2 Chuẩn chủ quan (Nhận thức về chuẩn xã hội) 25

2.4.3 Nhận thức tính khả thi (Nhận thức kiểm soát hành vi) 26

2.4.4 Đặc điểm tính cách 26

2.4.5 Giáo dục kinh doanh 28

Tóm tắt chương 2 29

CHƯƠNG 3 THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU 31

3.1 Qui trình nghiên cứu 31

3.2 Phát triển thang đo nháp 1 32

3.3 Nghiên cứu sơ bộ 34

3.3.1 Thiết kế nghiên cứu 34

3.3.2 Kết quả nghiên cứu sơ bộ 35

3.4 Nghiên cứu chính thức 36

3.4.1 Thiết kế mẫu nghiên cứu 36

3.4.2 Thu thập thông tin mẫu nghiên cứu 37

3.4.3 Phương pháp phân tích dữ liệu nghiên cứu 38

3.4.3.1 Đánh giá sơ bộ thang đo 38

3.4.3.2 Kiểm định thang đo bằng phân tích nhân tố khẳng định (CFA) 40

3.4.3.3 Kiểm định mô hình nghiên cứu và các giả thuyết nghiên cứu 42

3.4.4 Phân tích cấu trúc đa nhóm 42

Tóm tắc chương 3 43

CHƯƠNG 4 PHÂN TÍCH DỮ LIỆU NGHIÊN CỨU 45

4.1 Thông tin về mẫu nghiên cứu 45

4.2 Kết quả đánh giá sơ bộ thang đo bằng Cronbach’s alpha và EFA 46

4.3 Kiểm định thang đo bằng CFA 47

4.4 Kiểm định mô hình nghiên cứu 49

4.4.1 Kiểm định mô hình lý thuyết chính thức bằng SEM 49

4.4.2 Kiểm định ước lượng mô hình lý thuyết bằng bootstrap 52

4.4.3 Kiểm định các giả thuyết nghiên cứu 52

Trang 6

4.5 Kiểm định sự khác biệt của mô hình lý thuyết chính thức theo các đặc điểm nhân

khẩu học của sinh viên 54

4.5.1 Kiểm định sự khác biệt theo giới tính của sinh viên 54

4.5.2 Kiểm định sự khác biệt theo hộ khẩu thường trú của sinh viên 55

4.5.3 Kiểm định sự khác biệt theo nghề nghiệp của bố mẹ sinh viên 56

4.5.4 Kiểm định sự khác biệt theo loại hình trường đại học 57

4.5.5 Kiểm định sự khác biệt theo khối ngành đào tạo 58

4.6 Thảo luận kết quả nghiên cứu 59

Tóm tắt chương 4 61

CHƯƠNG 5 KẾT LUẬN VÀ MỘT SỐ HÀM Ý CHÍNH SÁCH 63

5.1 Kết luận 63

5.2 Một số hàm ý chính sách rút ra từ kết quả nghiên cứu 67

5.3 Hạn chế của nghiên cứu và hướng nghiên cứu tiếp theo 69 TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 7

DANH MỤC CÁC BẢNG SỐ LIỆU

Bảng 1.1: Sinh viên các trường đại học được chọn mẫu nghiên cứu 4

Bảng 4.1: Thông tin mẫu nghiên cứu theo đặc điểm nhân khẩu học 45

Bảng 4.2: Kết quả đánh giá sơ bộ các thang đo bằng Cronbach’s alpha 46

Bảng 4.3: Kết quả EFA thang đo các khái niệm của mô hình nghiên cứu 47

Bảng 4.4: Kết quả kiểm định độ tin cậy của các thang đo 49

Bảng 4.5: Kết quả kiểm định mối quan hệ nhân quả giữa các khái niệm trong mô hình lý thuyết (chuẩn hóa) 51

Bảng 4.6: Kết quả ước lượng bootstrap so với ước lượng ML 52

Bảng 4.7: Sự khác biệt giữa các chỉ tiêu tương thích giữa mô hình khả biến và mô hình bất biến từng phần theo giới tính của sinh viên 54

Bảng 4.8: Ước lượng mối quan hệ giữa các khái niệm trong mô hình khả biến theo giới tính của sinh viên 55

Bảng 4.9: Sự khác biệt giữa các chỉ tiêu tương thích giữa mô hình khả biến với bất biến từng phần theo hộ khẩu thường trú của sinh viên 56

Bảng 4.10: Sự khác biệt giữa các chỉ tiêu tương thích giữa mô hình khả biến với bất biến từng phần theo nghề nghiệp của bố mẹ 57

Bảng 4.11: Sự khác biệt giữa các chỉ tiêu tương thích giữa mô hình khả biến với bất biến từng phần theo loại hình trường đại học 58

Bảng 4.12: Sự khác biệt giữa các chỉ tiêu tương thích giữa mô hình khả biến với bất biến từng phần theo khối ngành đào tạo 59

Bảng 5.1: Tổng hợp mức độ ảnh hưởng của các yếu tố đến ý định khởi nghiệp kinh doanh của sinh viên các trường đại học tại TP HCM 66

Bảng 5.2: Tương quan giữa mức độ quan trọng với giá trị thực trọng các yếu tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp kinh doanh của sinh viên 67

Bảng 5.3: Mức độ giải thích (R2) của các khái niệm trong mô hình lý thuyết 69

Trang 8

DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 2.1: Mô hình thuyết hành động hợp lý (TRA) 12

Hình 2.2: Mô hình thuyết hành vi hoạch định (TPB) 13

Hình 2.3: Mô hình các sự kiện kinh doanh (SEE) 16

Hình 2.4: Mô hình cấu trúc ý định kinh doanh 18

Hình 2.5: Mô hình ý định kinh doanh giữa các sinh viên ở Bắc Âu và ở Mỹ 19

Hình 2.6: Mô hình ý định kinh doanh dựa trên giáo dục tinh thần kinh doanh 20

Hình 2.7: Mô hình tác động của các chương trình giáo dục kinh doanh đến ý định kinh doanh 21

Hình 2.8: Mô hình lý thuyết các yếu tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp kinh doanh của sinh viên 23

Hình 3.1: Qui trình nghiên cứu 31

Hình 3.2: Mô hình lý thuyết các yếu tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp của sinh viên (hiệu chỉnh từ kết quả nghiên cứu định tính) 36

Hình 4.1: Kết quả CFA mô hình tới hạn 48

Hình 4.2: Kết quả SEM mô hình lý thuyết (chuẩn hóa) 50

Hình 4.3: Kết quả SEM mô hình lý thuyết chính thức (chuẩn hóa) 51

Trang 9

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT VÀ KÝ HIỆU

TP HCM : (Ho Chi Minh City) Thành phố Hồ Chí Minh

Trang 10

TÓM TẮT

Nghiên cứu này nhằm khám phá và đo lường mức độ tác động (tầm quan trọng) của các yếu tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp kinh doanh của sinh viên Việt Nam - Kiểm định cho trường hợp sinh viên các trường đại học tại TP HCM, từ đó đề xuất một số hàm

ý chính sách nhằm tạo lập môi trường và kích thích tinh thần khởi nghiệp kinh doanh của sinh viên Quá trình nghiên cứu trọng tâm vào các nội dung và đạt được các kết quả sau đây:

Thứ nhất, tổng kết các lý thuyết ý định hành vi và ý định kinh doanh bao gồm:

Thuyết hành động hợp lý (TRA) của Ajzen và Fishbein (1975); Thuyết hành vi hoạch định (TPB) của Ajzen (1991); Mô hình tổ chức sự kiện kinh doanh (SEE) của Shapero (1975); Krueger và cộng sự (2000); Mô hình cấu trúc ý định kinh doanh của Luthje và Franke (2003); các mô hình nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến ý định kinh doanh của sinh viên bao gồm: Mô hình ý định kinh doanh của các sinh viên Bắc Âu và Mỹ của Autio và cộng sự (2001); Mô hình ý định kinh doanh dựa trên giáo dục tinh thần kinh doanh của Linan (2004); Mô hình tác động của các chương trình giáo dục kinh doanh đến ý định kinh doanh của Sofia Karali (2013) Kết hợp phân tích các đặc điểm của sinh viên các trường đại học ở Việt Nam, nhóm nghiên cứu đề xuất mô hình lý thuyết về các yếu tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp kinh doanh của sinh viên các trường đại học ở Việt Nam gồm 05 yếu tố: (1) Thái độ đối với hành vi kinh doanh; (2) Chuẩn chủ quan; (3) Nhận thức tính khả thi; (4) Đặc điểm tính cách và (5) Giáo dục kinh doanh; cùng 10 giả thuyết nghiên cứu

kinh doanh của sinh viên, đồng thời phát triển thang đo nháp 1 các yếu tố này và khái niệm ý định khởi nghiệp kinh doanh của sinh viên gồm 29 biến quan sát

Thứ hai, nghiên cứu sơ bộ là một nghiên cứu định tính sử dụng kỹ thuật thảo luận

nhóm tập trung (gồm 2 nhóm sinh viên có ý định khởi nghiệp kinh doanh, mỗi nhóm 10 người) và phỏng vấn sâu (12 sinh viên có ý định khởi nghiệp kinh doanh) Kết quả cho thấy các yếu tố được nhóm nghiên cứu đề xuất trong mô hình lý thuyết trên đây là những yếu tố chính ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp kinh doanh của sinh viên các trường đại học tại TP HCM; thang đo nháp 1 đã phản ánh được các thuộc tính cơ bản của các yếu tố này, đồng thời bổ sung giả thuyết H11 (Giáo dục kinh doanh có ảnh hưởng cùng chiều đến đặc điểm tính cách của sinh viên)

Trang 11

Thứ ba, nghiên cứu chính thức là một nghiên cứu định lượng Dữ liệu nghiên cứu

được thu thập bằng hình thức phỏng vấn trực tiếp 773 sinh viên (sau khi đã gạn lọc) của

06 trường đại học tại TP HCM có số lượng sinh viên khởi nghiệp cao là: Trường Đại học Kinh tế TP HCM; Trường Đại học Luật TP HCM; Trường Đại học Công nghệ TP HCM; Trường Đại học Bách khoa TP HCM; Trường Đại học Tài chính – Marketing; Trường Đại học Hoa Sen, theo phương pháp lấy mẫu thuận tiện

Kết quả nghiên cứu định lượng bằng các kỹ thuật: phân tích Cronbach’s alpha; phân tích nhân tố khám phá (EFA); phân tích nhân tố khẳng định (CFA); phân tích mô hình cấu trúc tuyến tích (SEM), cho thấy:

- Mô hình lý thuyết đề xuất được hiệu chỉnh trong giai đoạn nghiên cứu sơ bộ được

chấp nhận, ngoại trừ giả thuyết H5 (Đặc điểm tính cách có ảnh hưởng cùng chiều đến chuẩn chủ quan của sinh viên) bị từ chối Nghĩa là, các yếu tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp của sinh viên bao gồm: (1) Thái độ đối với hành vi kinh doanh; (2) Chuẩn chủ quan; (3) Nhận thức tính khả thi; (4) Đặc điểm tính cách và (5) Giáo dục kinh doanh Trong đó, phát hiện mới của nghiên cứu này so với các các nghiên cứu trước là đặc điểm tính cách không chỉ ảnh hưởng gián tiếp đến ý định định khởi nghiệp kinh doanh thông qua thái độ đối với hành vi kinh doanh, mà còn gián tiếp thông qua nhận thức tính khả thi; đồng thời giáo dục kinh doanh còn ảnh hưởng gián tiếp đến đến ý định khởi nghiệp kinh doanh thông qua đặc điểm tính cách

- Hiện tại, chưa tìm thấy sự khác biệt về các yếu tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp giữa các nhóm sinh viên theo các đặc điểm nhân học là: hộ khẩu thường trú; nghề nghiệp của bố mẹ; loại hình trường đại học và khối ngành đào tạo, nhưng có sự khác biệt giữa nhóm sinh viên nam và nhóm sinh viên nữ Đó là nếu như mô hình giải thích của nhóm sinh viên nam tương đồng với mô hình lý thuyết chính thức (chuẩn hóa), thì trong

mô hình giải thích của nhóm sinh viên nữ chưa tìm thấy ảnh hưởng của đặc điểm tính cách đến thái độ đối với hành vi kinh doanh; ảnh hưởng trực tiếp của giáo dục kinh doanh và thái độ đối với hành vi kinh doanh đến ý định khởi nghiệp

Thứ tư, dựa vào kết quả này và liên hệ với thực tiễn, nhóm nghiên cứu đề xuất một

số hàm ý chính sách như sau:

Một là, nâng cao ý thức khởi nghiệp kinh doanh và tinh thần doanh nhân cho sinh

viên bằng cách đẩy mạnh và nâng cao chất lượng công tác giáo dục, tuyên truyền nhằm làm cho sinh viên và các bậc phụ huynh nhận thức sâu sắc vấn đề khởi nghiệp kinh doanh;

Trang 12

tầm quan trọng của nó và vai trò của doanh nhân để từ đó làm thay đổi tư duy về vấn đề khởi nghiệp của sinh viên trước và sau khi tốt nghiệp

Hai là, đưa các khóa học doanh nhân vào trường đại học, kết hợp gia tăng thời

lượng và nâng cao chất lượng chương trình giáo dục kinh doanh trong các trường đại học Trong đó, nội dung chương trình phải chuẩn hóa theo hướng trọng tâm là trang bị những kiến thức và kỹ năng vận dụng hơn là tập trung vào lý thuyết; đội ngũ giảng viên giảng dạy chủ lực phải là các doanh nhân thành đạt, hoặc những người am hiểu sâu sắc, hoặc có kinh nghiệm thực tiễn về nội dung chương trình của môn học mà họ giảng dạy

Ba là, các trường đại học cần có các chính sách khuyến khích, động viên tinh thần

doanh nhân và khởi nghiệp của sinh viên, đặc biệt là sinh viên nữ thông qua việc tạo lập sân chơi phát triển ý tưởng kinh doanh và khởi nghiệp cho sinh viên

Bốn là, Nhà nước cần có các chính sách khuyến khích và hỗ trợ sinh viên khởi

nghiệp dưới các hình thức như cấp tín dụng lãi suất ưu đãi; chính sách miễn, giảm thuế thu nhập doanh nghiệp cho đối tượng sinh viên khởi nghiệp trong những năm đầu sau khi tốt nghiệp; xây dựng các chương trình dự án kinh doanh dành riêng cho sinh viên khởi nghiệp, vv

Trang 13

CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU

1.1 Xác định vấn đề nghiên cứu

Ngày nay, kinh doanh trở thành nhân tố quyết định sự phát triển đối với tất cả các quốc gia kể từ giai đoạn toàn cầu hóa Vì, phát triển hoạt động kinh doanh sẽ giúp tạo ra công ăn việc làm cho xã hội, giảm tỷ lệ thất nghiệp (Abdullah Azhar, Javaid, Mohsin Rehman và Asma Hyder 2010); đồng thời, tốc độ tăng trưởng doanh nhân có tầm quan trọng quyết định sức cạnh tranh của nền kinh tế của mỗi quốc gia (Dickson, Solomon và Mark Weaver 2008) Tuy nhiên, ngay từ những năm 1970, nhiều nước phương Tây đã chia sẻ kinh nghiệm rằng các công ty lớn đã không còn có thể tạo ra sự gia tăng ròng trong việc làm Điều này đã dẫn đến mức độ thường xuyên thất nghiệp cao và do đó các công ty nhỏ và mới có tầm quan trọng trong việc tạo ra công ăn việc làm đã được khẳng định (Aiginger và Tichy 1991; Davidsson 1995) Và đây chính là nền tảng cho sự quan tâm đến vai trò quan trọng của các doanh nhân trong các doanh nghiệp vừa và nhỏ với niềm tin rằng những doanh nhân tiềm năng sẽ có những đóng góp lớn vào phát triển chung của nền kinh tế đất nước Nhiều cuộc hội thảo, hội nghị được tổ chức hàng năm trên thế giới đã nhấn mạnh tầm quan trọng của tinh thần kinh doanh (tinh thần doanh nhân) đối với đất nước, xã hội cũng như sự phát triển của cá nhân (Bechard và Toulouse 1998; Schaper và Volery 2004; Matlay và Westhead 2005) Trong đó, đối với hầu hết mọi người, sự phổ biến của tinh thần kinh doanh phần lớn có tác động tích cực như một chất xúc tác tạo ra sự giàu có và các cơ hội việc làm (Postigo và Tamborini 2002; Othman, Ghazali và cộng sự 2005; Gurol và Atsan 2006 ); đối với một quốc gia, tinh thần kinh doanh là một động lực chính thúc đẩy tăng trưởng kinh tế của nhiều quốc gia, đổi mới và nâng cao năng lực cạnh tranh (Scarborough và Zimmerer 2003; Kuratko và Hodgetts 2004) Vì thế, tinh thần kinh doanh được xem là một trong những chiến lược tốt nhất để phát triển kinh tế của đất nước

và duy trì khả năng cạnh tranh của đất nước phải đối mặt trước xu thế toàn cầu hóa ngày càng tăng (Schaper và Volery 2004; Venkatachalam và Waqif 2005)

Hệ quả là kinh doanh nói chung và doanh nhân nói riêng, vì thế đã thu hút sự quan của các nhà hoạch định chính sách, các nhà kinh tế, các học giả và các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước Đã có nhiều công trình nghiên cứu khởi nghiệp kinh doanh từ nhiều thập kỷ trước tại các nước phát triển như: Hà Lan, Anh, Thụy Điển, Phần Lan, Na Uy,

Mỹ, Tây Ban Nha, Italia, Trung Quốc, Đài Loan, vv và những năm gần đây tại các nước ở

Trang 14

khu vực Đông Nam Á như: Singapore, Thái Lan, Malaysia, vv Mỗi nghiên cứu có một ý nghĩa và kết quả riêng tùy thuộc vào nhiều yếu tố như vị trí địa lý, văn hóa, trình độ phát triển của nền kinh tế, vv nhưng về tổng thể đều kết luận về tầm quan trọng quyết định là yếu tố con người

Đồng thời, cũng chính vì tầm quan trọng của kinh doanh và doanh nhân mà giáo dục tinh thần kinh doanh cho sinh viên đại học đã trở thành một chủ đề quan trọng Các trường đại học là hạt nhân giúp sinh viên tìm thấy ý tưởng kinh doanh hướng đến sự khởi nghiệp Trong nhiều thập kỷ qua, các nhà nghiên cứu khác nhau (ví du: Luthje và Franke 2003; Linan 2004; Linan và Chen 2009) đã nhận ra vai trò quan trọng của các trường đại học trong việc làm sự nảy nở và phát triển ý tưởng kinh doanh Luthje và Franke (2003, p.136) cho rằng: “Các trường đại học có tác động đến sự thành công trong hoạt động kinh doanh” Trong khi đó, nhiều kết quả (ví dụ: Linan 2004; Tam 2009; Ooi và cộng sự 2011) khẳng định giáo dục kinh doanh có vai trò quan trọng trong việc tạo cảm hứng cho sinh viên hướng đến kinh doanh và chỉ ra rằng các trường đại học, các tổ chức giáo dục bậc cao

là nền tảng trong việc phát triển và khai thác đội ngũ doanh nhân tiềm năng Bởi vậy, các trường đại học là một phần quan trọng trong mô hình cấu trúc ý tưởng kinh doanh và ý định khởi nghiệp của sinh viên cần được nhìn nhận và xem xét đặt cơ sở cho việc hoạch định chiến lược đào tạo của các trường đại học; kiến tạo môi trường học tập kích thích nảy

nở ý tưởng kinh doanh sáng tạo và tinh thần khởi nghiệp để huy động tối đa nguồn lực trẻ

và trí tuệ của sinh viên vào sự nghiệp phát triển kinh tế, xã hội của đất nước

Tại Việt Nam, cho đến thời điểm hiện tại chỉ mới có một ít bài viết về tinh thần doanh nhân được đăng tải trên một số tạp chí khoa học trong nước nhưng chỉ dưới giác độ chia sẻ kinh nghiệm về tinh thần doanh nhân trong và ngoài nước, hoặc xây dựng hệ giá trị văn hóa doanh nhân Việt Nam cho giới kinh doanh Trong đó, có giá trị đáng kể là công

trình nghiên cứu: “Các yếu tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp kinh doanh của sinh viên

Đại học Quốc gia TP HCM” của nhóm sinh viên1 Trường Đại học Kinh tế - Luật thực hiện Tuy nhiên, nghiên cứu này chưa dựa trên cơ sở lý thuyết khoa học đầy đủ để làm sáng tỏ vấn đề và mô hình nghiên cứu Hơn nữa, nghiên cứu này chỉ kiểm định cho Trường Đại học Kinh tế - Luật, vì thế kết quả nghiên cứu ít có tính tổng quát hóa

Về mặt thực tiễn, Việt Nam là quốc gia có dân số đông, các trường đại học tập trung chủ yếu ở các thành phố lớn Trong đó, tại TP HCM là trung tâm kinh tế - thương

1

Nguyễn Thị Yến, Trần Trọng Nghĩa, Nguyễn Quang Phú, Nguyễn Thị Ngọc Tài (2011)

Trang 15

mại và khoa học – công nghệ lớn nhất của cả nước, có 90 trường đại học, cao đẳng, với hơn 600 ngàn sinh viên hội tụ từ tất cả các vùng, miền trên phạm vi cả nước, chiếm tỷ lệ 1/5 số lượng trường đại học, cao đẳng và 1/4 số lượng sinh viên cả nước Tuy nhiên, số lượng và tỉ lệ sinh viên khởi nghiệp kinh doanh của Việt Nam nói chung và của TP HCM nói riêng trên số lượng sinh viên và tổng dân số còn rất thấp Lý giải vấn đề này, nhiều nghiên cứu cũng như các doanh nhân thành công khẳng định giữa doanh nhân – doanh nghiệp – tăng trưởng kinh tế có mối quan hệ mật thiết với nhau Trong đó, giáo dục kinh doanh cho các đối tượng có ý định khởi nghiệp nhằm phát triển số lượng và tạo ra đội ngũ doanh nhân thành công có một vai trò đặc biệt quan trọng (Linan 2004; Ooi, Selvarajah và Meyer 2011; Tam 2009) Tuy nhiên, hiện tại ở Việt Nam vấn đề này chỉ mới dừng lại ở cuộc thi các ý tưởng về kinh doanh, doanh nhân trong lực lượng trí thức trẻ; các câu lạc

bộ về khởi nghiệp kinh doanh, các diễn đàn - website điện tử doanh nhân, các buổi hội thảo được tổ chức trong nhiều trường đại học, các tổ chức doanh nhân Vì thế, dường như chưa đủ mạnh để kích thích tinh thần doanh nhân Hơn nữa, cũng cần nói rằng ở các nước,

để nhận định về tinh thần doanh nhân thì chỉ số tỷ lệ khởi nghiệp kinh doanh là công cụ hiệu quả để đo lường, từ đó có những giải pháp can thiệp khi cần thiết, nhưng tại Việt Nam chỉ số này dường như chưa được quan tâm hoặc không có một số liệu chính xác để nhận định

Bởi vậy, việc khám phá và đo lường các yếu tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp kinh doanh của sinh viên đặt cơ sở khoa học cho việc hoạch định các chính sách tạo lập môi trường và các giải pháp kích thích tinh thần khởi nghiệp kinh doanh của sinh viên là

có tính cấp thiết và tầm quan trọng đặc biệt trong bối cảnh hiện nay Nhóm nghiên cứu

cho rằng, đây cũng chính là lý do để chúng em thực hiện đề tài nghiên cứu: “Các yếu tố

ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp kinh doanh của sinh viên: Nghiên cứu trường hợp sinh viên các trường đại học tại TP Hồ Chí Minh”

1.2 Mục tiêu nghiên cứu và câu hỏi nghiên cứu

 Mục tiêu nghiên cứu:

Thứ nhất, khám phá các yếu tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp kinh doanh của

sinh viên và phát triển thang đo những yếu tố này

Thứ hai, xây dựng và kiểm định mô hình lý thuyết về mối quan hệ giữa các yếu tố

ảnh hưởng và ý định khởi nghiệp kinh doanh của sinh viên các trường đại học tại TP HCM, từ đó đo lường mức độ tác động (tầm quan trọng) và giá trị thực trạng của các yếu

tố này

Trang 16

Thứ ba, đề xuất một số hàm ý rút ra từ kết quả nghiên cứu cho việc hoạch định

chính sách nhằm tạo lập môi trường và kích thích tinh thần khởi nghiệp kinh doanh của sinh viên

 Câu hỏi nghiên cứu:

1 Ý định khởi nghiệp kinh doanh là gì?

2 Những yếu tố nào ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp kinh doanh của sinh viên và đo lường chúng như thế nào?

3 Áp dụng cho trường hợp sinh viên các trường đại học tại TP HCM, các yếu tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp kinh doanh của sinh viên được xác định như thế nào?

4 Cần làm gì để kích thích tinh thần khởi nghiệp kinh doanh của sinh viên?

1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Là ý định khởi nghiệp kinh doanh và các yếu tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp kinh doanh: lý thuyết và thực tiễn kiểm định cho trường hợp sinh viên các trường đại học tại TP HCM Cụ thể là:

- Các lý thuyết về ý định hành vi; các lý thuyết, các nghiên cứu về ý định khởi nghiệp kinh doanh và các yếu tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp kinh doanh của sinh viên

- Qui trình xây dựng và kiểm định mô hình nghiên cứu lý thuyết về các yếu tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp của sinh viên – kiểm định cho trường hợp sinh viên các trường đại học tại TP HCM

Bảng 1.1: Sinh viên các trường đại học được chọn mẫu nghiên cứu

Khung chọn mẫu

nghiên cứu

Các trường đại học khối công lập

Các trường đại học khối dân lập Các trường đại học

khối kinh tế và luật

Trường ĐH Kinh tế TP HCM;

Trường ĐH Tài chính-Marketing;

Trường ĐH Luật TP HCM;

Trường ĐH Hoa Sen

Các trường đại học khối

kỹ thuật và công nghệ Trường ĐH Bách khoa TP HCM Trường ĐH Công

nghệ TP HCM

(Nguồn: đề xuất của nhóm nghiên cứu)

- Đối tượng khảo sát là những sinh viên có ý định khởi nghiệp kinh doanh của các trường đại học trên địa bàn TP HCM Đó là những sinh viên năm cuối (năm 4) đang theo học tại các trường đại học tại TP HCM Tuy nhiên, để thuận lợi cho việc thu thập dữ liệu nghiên cứu nhưng vẫn đảm bảo được tính đại diện của mẫu nghiên cứu, nhóm nghiên cứu

Trang 17

chọn đối tượng khảo sát là sinh viên thuộc các trường đại học có số lượng sinh viên khởi nghiệp cao trong những năm gần đây theo nhận định của nhiều doanh nhân và được cơ cấu theo loại hình trường đại học (công lập và dân lập) và khối ngành đào tạo (kinh tế - luật và kỹ thuật - công nghệ) như trên (bảng 1.1)

Thời gian thực hiện nghiên cứu được tiến hành từ tháng 08/2013 đến tháng 05/2014

1.4 Phương pháp nghiên cứu

Quá trình nghiên cứu gồm hai giai đoạn chính là nghiên cứu sơ bộ và nghiên cứu chính thức:

- Nghiên cứu sơ bộ là một nghiên cứu định tính được thực hiện bằng kỹ thuật thảo luận nhóm tập trung, với sự tham gia của giảng viên hướng dẫn, nhóm tác giả và 2 nhóm sinh viên có ý định khởi nghiệp kinh doanh (mỗi nhóm 10 người), theo dàn bài thảo luận nhóm tập trung do tác giả xây dựng (phụ lục 1.1), nhằm vừa khám phá vừa khẳng định các yếu tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp kinh doanh của sinh viên, cùng các biến quan sát

đo lường những yếu tố này

- Nghiên cứu chính thức là một nghiên cứu định lượng được thực hiện nhằm đánh giá độ tin cậy và giá trị (giá trị hội tụ và phân biệt) của các thang đo các yếu tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp kinh doanh của sinh viên; kiểm định mô hình thang đo, mô hình lý thuyết và các giả thuyết nghiên cứu, kiểm định có hay không có sự khác biệt về các yếu tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp kinh doanh của sinh viên theo các đặc điểm nhân khẩu học của sinh viên thông qua mẫu nghiên cứu

Nghiên cứu chính thức được thực hiện qua các giai đoạn:

+ Thu thập dữ liệu nghiên cứu bằng hình thức phỏng vấn trực tiếp các sinh viên (năm cuối) có ý định khởi nghiệp kinh doanh theo phương pháp lấy mẫu thuận tiện Kích thước mẫu n=773 sinh viên thuộc các trường đại học tại TP HCM được chọn ra từ khung mẫu nghiên cứu

+ Đánh giá sơ bộ độ tin cậy và giá trị của thang đo bằng hệ số tin cậy Cronbach’s alpha và phân tích nhân tố khám phá EFA (Exploratory Factor Analysis) thông qua phần mềm xử lý SPSS 16., qua đó loại bỏ các biến quan sát không đạt độ tin cậy; đồng thời tái cấu trúc các biến quan sát còn lại vào các nhân tố (thành phần đo lường) phù hợp, đặt cơ

sở cho việc hiệu chỉnh mô hình nghiên cứu và các giả thuyết nghiên cứu, các nội dung phân tích và kiểm định tiếp theo

Trang 18

+ Phương pháp phân tích nhân tố khẳng định CFA (Confirmatory Factor Analysis) được sử dụng để kiểm định độ phù hợp của mô hình thang đo với dữ liệu thị trường

+ Phương pháp phân tích cấu trúc tuyến tính SEM (Structural Equation Modelling) được sử dụng để kiểm định độ phù hợp mô hình lý thuyết và các giả thuyết nghiên cứu;

+ Phương pháp bootstrap được sử dụng để ước lượng lại các tham số của mô hình

đã được ước lượng bằng phương pháp ước lượng tối ưu ML (Maximum Likelihood)

+ Phương pháp phân tích cấu trúc đa nhóm (multigroup analysis) khả biến và bất biến từng phần (partial invariance) được sử dụng để kiểm định có hay không sự khác biệt

về mô hình lý thuyết các yếu tố đến ý định khởi nghiệp kinh doanh của sinh viên trên địa bàn TP HCM theo các đặc điểm nhân khẩu học của sinh viên thông qua mẫu nghiên cứu

Ngoài ra, nghiên cứu còn sử dụng các phương pháp hệ thống hóa, phân tích so sánh, đối chứng, điều tra xã hội học để tổng kết các lý thuyết ý định hành vi; các lý thuyết

và các nghiên cứu trên thế giới về ý định khởi nghiệp kinh doanh và ý định khởi nghiệp kinh doanh của sinh viên, đồng thời đề xuất một số hàm ý rút ra từ kết quả nghiên cứu cho việc hoạch định chính sách tạo lập môi trường và các giải pháp kích thích tinh thần khởi nghiệp kinh doanh của sinh viên

1.5 Ý nghĩa và những đóng góp mới của nghiên cứu

Một là, nghiên cứu là quá trình tổng kết lý thuyết các khái niệm nghiên cứu; phát

triển hệ thống thang đo, kiểm định mô hình lý thuyết và các giả thuyết nghiên cứu về các yếu tố chính ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp kinh doanh của sinh viên tại TP HCM Vì thế, hy vọng nghiên cứu sẽ góp phần vào việc phát triển lý thuyết và bổ sung vào hệ thống thang đo còn thiếu tại các nước đang phát triển để thiết lập hệ thống tương đương về đo lường như Craig & Douglas (2000) đã khẳng định; đồng thời hình thành khung nghiên cứu

để triển khai các nghiên cứu khác tương tự

Hai là, phát hiện mới của nghiên cứu này so với các các nghiên cứu trước là đặc

điểm tính cách không chỉ ảnh hưởng gián tiếp đến ý định định khởi nghiệp kinh doanh thông qua thái độ đối với hành vi kinh doanh, mà còn gián tiếp thông qua yếu tố nhận thức tính khả thi; đồng thời giáo dục kinh doanh còn ảnh hưởng gián tiếp đến đến ý định khởi nghiệp kinh doanh thông qua đặc điểm tính cách

Ba là, kết quả của nghiên cứu giúp cho các nhà hoạch định chính sách và các

trường đại học có cách nhìn đầy đủ và toàn diện về các yếu tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp kinh doanh của sinh viên Vì thế, hy vọng kết quả nghiên cứu này sẽ đặt cơ sở cho

Trang 19

việc hoạch định chiến lược đào tạo của các trường đại học và kiến tạo môi trường học tập kích thích nảy nở ý tưởng kinh doanh sáng tạo và tinh thần khởi nghiệp của sinh viên

Bốn là, nghiên cứu này là một thể nghiệm vận dụng tổng hợp nhiều phương pháp

nghiên cứu, từ những phương pháp truyền thống như: hệ thống hóa, phân tích so sánh, đối chứng, điều tra xã hội học, vv., đến các phương pháp hiện đại sử dụng kỹ thuật định tính

và định lượng như: thảo luận nhóm tập trung, phân tích Cronbach’s alpha, phân tích nhân

tố khám phá EFA, phân tích nhân tố khẳng định CFA, phân tích mô hình cấu trúc tuyến tính SEM, kiểm định bootstrap, phân tích cấu trúc đa nhóm Vì vậy, hy vọng nghiên cứu này sẽ là nguồn tài liệu tham khảo về phương pháp luận, thiết kế nghiên cứu, thang đo, mô hình nghiên cứu và xử lý dữ liệu nghiên cứu cho cho sinh viên, học viên khối ngành kinh

tế, Quản trị kinh doanh

1.6 Kết cấu của báo cáo nghiên cứu

Ngoài phần tóm tắt, tài liệu tham khảo và phụ lục, báo cáo nghiên cứu được kết cấu thành 05 chương:

Chương 1: Giới thiệu: trình bày các vấn đề tổng quan về nghiên cứu, bao gồm: cơ

sở xác định đề tài nghiên cứu; mục tiêu nghiên cứu; đối tượng và phạm vi nghiên cứu; phương pháp nghiên cứu

Chương 2: Cơ sở khoa học và mô hình nghiên cứu: trình bày cơ sở lý thuyết và

thực tiễn của nghiên cứu cho việc đề xuất mô hình nghiên cứu lý thuyết và các giả thuyết nghiên cứu

Chương 3: Thiết kế nghiên cứu: trình bày qui trình thực hiện các phương pháp

nghiên cứu đặt cơ sở cho việc hiệu chỉnh, bổ sung và kiểm định mô hình nghiên cứu lý thuyết và các giả thuyết nghiên cứu đã được đề xuất ở chương 2

Chương 4: Phân tích dữ liệu và kết quả nghiên cứu: trình bày quá trình phân tích

dữ liệu nghiên cứu và kết quả kiểm định mô hình nghiên cứu lý thuyết, các giả thuyết nghiên cứu và thảo luận kết quả nghiên cứu

Chương 5: Kết luận và một số hàm ý chính sách: tổng hợp quá trình và kết quả

nghiên cứu; đồng thời đề xuất một số hàm ý chính sách rút ra từ kết quả nghiên cứu

Trang 20

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ KHOA HỌC VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU

2.1 Doanh nhân và ý định khởi nghiệp kinh doanh

về mặt tài chính”2

Theo từ điển tiếng Việt (2006, tr 246) của Viện Ngôn ngữ học, nhà kinh doanh là

“Người tổ chức việc sản xuất, buôn bán dịch vụ nhằm mục đích sinh lợi” Tuy nhiên, theo nhiều học giả, định nghĩa này nên được áp dụng cho nhà quản trị doanh nghiệp thì thích hợp hơn, bởi lẽ nó thiếu hẳn hai yếu tố hết sức quan trọng của “nhà kinh doanh hay doanh nhân” đó là tinh thần khởi nghiệp và thái độ chấp nhận rủi ro

Trong giới học thuật, theo Autio và cộng sự (2001), các nhà nghiên cứu đã đưa ra nhiều định nghĩa khác nhau về nhà kinh doanh Trong số này, có thể phân biệt ba loại chính: loại định nghĩa nhấn mạnh đến thái độ chấp nhận rủi ro (risk); loại nhấn mạnh đến

sự đổi mới (innovation) và loại nhấn mạnh đến sự khởi nghiệp (new venture startup) Mỗi định nghĩa thường tập trung vào một số đặc trưng hoặc một số hoạt động nhất định, chẳng hạn như coi nhà kinh doanh là người phối hợp các yếu tố sản xuất nhằm tạo ra sản phẩm

và lợi nhuận (Jean Baptiste Say 1816); người tạo ra những doanh nghiệp mới (Gartner 1988), người thực hiện những sáng kiến mới (Joseph Schumpeter 1934), người đi tìm những cơ hội thị trường mới (Penrose 1963 và Israel Kirzner 1979) hay là người dám đương đầu với những bất định của thị trường (Frank Knight 1921)

Cũng theo Autio và cộng sự (2001), khái niệm doanh nhân được chính thức đề cập đến trong lý thuyết kinh tế vào giữa thế kỷ 18 bởi nhà kinh tế học người Pháp Richard Cantillon (1755) trong cuốn “Essai sur la nature de commerce en general” Theo Richard Cantillon, doanh nhân là người chấp nhận rủi ro để mang về lợi nhuận (hoặc thua lỗ) cho mình

2 Quoted as: Autio et al (2001), Entrepreneurial Intent among Students in Scandinavia and in the USA, Enterprise

and Innovation Management Studies, Vol 2, No 2, 2001, p 152

Trang 21

Từ điển từ và ngữ Hán – Việt của Nguyễn Lân (2003, tr.168) chú giải từ “doanh” theo ba nghĩa: (1) doanh là lo toan làm ăn; (2) là đầy đủ và (3) là biển lớn Hiểu theo nghĩa (1), thì doanh nhân có nghĩa rất rộng, gồm tất cả những người biết lo toan làm ăn; là tất cả những người làm việc trong lĩnh vực kinh tế, trước hết là nhóm những người làm công việc quản lý kinh tế và những người hoạt động trong các doanh nghiệp, cả doanh nghiệp công ích không có mục tiêu vị lợi lẫn doanh nghiệp kinh doanh vị lợi Quan niệm này được nhiều học giả cho là quá rộng, không phân biệt được doanh nhân với những dạng người khác cùng trong lĩnh vực hoạt động kinh tế

Theo Nguyễn Đức Thạc: “Doanh nhân là những người làm chủ thực sự những quan

hệ kinh tế trong các cơ sở sản xuất, các doanh nghiệp tư nhân, từ quan hệ sở hữu đến quan

hệ điều hành và quan hệ phân phối Doanh nhân là những ông chủ doanh nghiệp tư

đình và trong doanh nghiệp nhà nước khỏi khái niệm doanh nhân Nói cách khác, doanh nhân chỉ bao gồm các ông chủ doanh nghiệp tư nhân

con thuyền doanh nghiệp mà điểm khác biệt của doanh nhân với những người khác là ở chỗ họ là người biết mạo hiểm và dám chấp nhận rủi ro khi dấn thân vào con đường kinh

nhân

Như vậy, xét về bản chất, khái niệm doanh nhân hàm chứa các thuộc tính tương tự như: người theo đuổi cơ hội bất chấp các nguồn lực mà họ đang kiểm soát được

2010); có tính mới mẻ; làm việc có tổ chức; sáng tạo, biết mạo hiểm và dám chấp nhận rủi

ro Nghĩa là, tựu trung lại chúng ta có thể hiểu: doanh nhân là những người chủ của doanh

nghiệp; người sáng lập, điều hành doanh nghiệp; biết mạo hiểm và dám đương đầu với những rủi ro và tận dụng các cơ hội để tối đa hóa lợi nhuận; là những người có tố chất sáng tạo, nắm vững những kiến thức kinh doanh và kỹ năng cần thiết, đồng thời biết kết hợp các nguồn lực lại với nhau để tạo ra lợi thế cạnh tranh cho họ trước các đối thủ và đem lại giá trị cho khách hàng

Chủ tịch Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam

5 Dẫn từ Dương Thị Liễu (Chủ biên) (2006), Giáo trình Văn hóa kinh doanh, NXB Đại học kinh tế quốc dân, Hà

Nội, tr 38

6

Dẫn từ Barringer và Ireland (2010)

Trang 22

2.1.2 Ý định khởi nghiệp kinh doanh (ý định kinh doanh)

Doanh nhân và khởi nghiệp kinh doanh có mối quan hệ mật thiết với nhau, đó là những thuật ngữ xuất hiện khá lâu trên thế giới và cũng đã được sử dụng khá nhiều trong các bài viết của nhiều học giả ở Việt Nam những năm gần đây

Các nhà nghiên cứu nước ngoài, nhất là các nhà nghiên cứu phương Tây như Josheph Schumpeter – được coi là người đầu tiên sử dụng thuật ngữ “tinh thần kinh doanh” Trong nhiều nghiên cứu, tinh thần kinh doanh (entrepreneurship) hay tinh thần doanh nhân còn được định nghĩa như ý định kinh doanh hay ý định khởi nghiệp

Theo từ điển tiếng Anh của Đại học Cambridge (Cambridge Dictionary 2011) “Ý định” (Intention) là những ý tưởng, những công việc mà người ta lên kế hoạch từ trước và mong muốn thực hiện Theo từ điển Tiếng Anh của Đại học Oxford (Oxford Advanced

gắng đạt được và hành vi là kết quả sau cùng của ý định hành vi Điều này cho thấy, mọi hành vi thực hiện điều xuất phát từ ý định Những ý định rõ ràng và mạnh mẽ chính là động lực làm cho cá nhân dám thực hiện hành vi mình muốn

Theo Ajzen (1991, p 439), ý định là tiền đề trực tiếp của hành vi Theo Ajzen hành

vi không thực hiện vô thức, mà theo một cách hợp lý và nhất quán từ các thông tin có liên quan đến hành vi và được củng cố bởi sự kiện bổ ích

Cá nhân muốn tự tạo việc làm khi họ cảm nhận rằng ý định kinh doanh là một con đường sự nghiệp tương lai thích hợp cho họ (Davidsson 1995), là một cách để họ đạt được mục tiêu cá nhân của họ là theo đuổi những ý tưởng riêng của mình và nhận được phần thưởng là lợi nhuận (Barringer và Ireland 2010, p 31)

Ý định kinh doanh được định nghĩa như sự sẵn sàng của cá nhân trong thực hiện hành vi kinh doanh, tham gia vào các hoạt động kinh doanh, để tự tạo việc làm, hoặc thành lập doanh nghiệp mới (Dell 2008; Dhose và Walter 2010) Nó thường liên quan đến yếu tố bên trong, khát vọng và cảm giác được tự đứng bằng đôi chân mình (Zain, Akram

và Ghani 2010) Một cá nhân có thể có tiềm năng trở thành doanh nhân nhưng có thể không thực hiện kinh doanh hướng vào doanh nghiệp, trừ khi họ có ý định trở thành doanh nhân (Mohammad Ismail và cộng sự 2009)

Các học giả thử nghiệm và chứng minh rằng ý định kinh doanh là một yếu tố dự báo hợp lệ cho hành vi kinh doanh và trở thành doanh nhân Vì thế, hành động kinh doanh

7 Quoted as: Autio et al (2001), Entrepreneurial Intent among Students in Scandinavia and in the USA, Enterprise

and Innovation Management Studies, Vol 2, No 2, 2001, p 151

Trang 23

luôn luôn rơi vào thể loại của hành vi cố ý, đồng thời nghiên cứu ý định kinh doanh cung cấp hiểu biết về quá trình kinh doanh và dự báo hoạt động kinh doanh theo cách tốt hơn thông qua việc xác định tiền đề của ý định kinh doanh (Davidsson 1995; Autio và cộng sự 2001; Krueger và cộng sự 2000; Linan 2004; Dell 2008; Mohammad Ismail và cộng sự 2009)

Theo Reynolds (1994, p 448), “Khởi nghiệp kinh doanh là tìm ra các cơ hội và bắt đầu hoạt động kinh tế thông qua việc tạo ra các tổ chức kinh doanh mới” Theo Nguyễn Như Ý (2007) “Đại từ điển Tiếng Việt” định nghĩa “Khởi nghiệp kinh doanh được hiểu là bắt đầu sự nghiệp từ đầu tư vốn kinh doanh hay mở cửa hàng kinh doanh” Tức là, kinh doanh chính là việc làm của doanh nhân và khởi nghiệp kinh doanh là sự khởi đầu thực hiện vai trò ấy trước khi trở thành doanh nhân

Theo Drucker (2001, tr 11), tinh thần kinh doanh (hay ý định khởi nghiệp kinh doanh) là cốt lõi cho hành động của doanh nhân – người biến những cảm nhận nhạy bén

về kinh doanh, tài chính và sự đổi mới thành những sản phẩm hàng hóa mang tính kinh tế

Theo Robbins (1994), tinh thần kinh doanh hay ý định khởi nghiệp kinh doanh là tố chất dũng cảm, có tính chất đổi mới và sáng tạo, sẵn sàng nhận thấy rủi ro, chấp nhận mạo

Như vậy tựu trung lại, mặc tồn tại nhiều cách biểu đạt khác nhau, song chúng ta có

thể hiểu: Ý định khởi nghiệp kinh doanh (hay ý định kinh doanh) là tiền đề và yếu tố cốt

lõi, hay một sự dự báo, sự sẵn sàng thực hiện hành vi kinh doanh có chủ ý của một người nào đó với mong muốn tạo ra giá trị, sản phẩm, dịch vụ đáp ứng nhu cầu xã hội Người có

ý định kinh doanh hay khởi nghiệp là tiền đề để trở thành doanh nhân Họ là nhà đầu tư,

là người chủ quản lý, chấp nhận bỏ vốn, sức lực và trí tuệ để hiện thực hóa ý tưởng kinh doanh nhằm mục tiêu lợi nhuận Họ là những người nhạy bén với thị trường, đồng thời có

tố chất dũng cảm, biết mạo hiểm và dám chấp nhận rủi ro để đương đầu với những bất định của thị trường

2.2 Lý thuyết về ý định hành vi và ý định khởi nghiệp kinh doanh

2.2.1 Thuyết hành động hợp lý (TRA)

Thuyết hành động hợp lý (Theory of Reasoned Action - TRA) được Ajzen và Fishbein xây dựng từ cuối thập niên 60 của thế kỷ 20, được hiệu chỉnh mở rộng trong thập niên 70 và được xem là học thuyết tiên phong trong lĩnh vực nghiên cứu tâm lý xã hội

8 Dẫn theo: Lê Lưu (Chủ biên) (2008), Văn hóa doanh nhân - Lý luận và thực tiễn, NXB Hội Nhà văn, Hà Nội, trang

110-111

Trang 24

(Eagly và Chaiken 1993; Olson và Zanna 1993; Sheppard, Hartwick và Warshaw 1988)9 Thuyết TRA được sử dụng để dự báo hành vi tự nguyện và giúp đỡ những người khác trong việc nhận ra yếu tố tâm lý của mình Nó được thiết kế dựa trên giả định rằng con người thường hành động một cách hợp lý, họ xem xét các thông tin có sẵn xung quanh và những hậu quả từ hành động của họ

trạng thái nhận thức ngay trước khi thực hiện hành vi; là một yếu tố dẫn đến thực hiện hành vi Vì thế, ý định hành vi (Behavior Intention - BI) là yếu tố quan trọng nhất dự đoán hành vi và chịu ảnh hưởng bởi hai yếu tố là thái độ đối với hành vi (Attitude Toward Behavior - AB) và chuẩn chủ quan (Subjective Norm - SN), đóng vai trò như các chức năng để một người dẫn đến thực hiện hành vi (Hình 2.1)

Hình 2.1: Mô hình thuyết hành động hợp lý (TRA)

(Nguồn: Ajzen và Fishbein 1975)

Nghĩa là, ý định hành vi (BI) là một hàm gồm thái độ đối với hành vi và chuẩn chủ quan đối với hành vi đó

BI = W1.AB + W2.SN

Trong đó, W1 và W2 là các trọng số của thái độ (AB) và chuẩn chủ quan (SN) Thái độ (Attitude Toward Behavior) là yếu tố cá nhân thể hiện niềm tin tích cực hay tiêu cực, đồng tình hay phản đối của một người đối với hành vi và sự đánh giá đối với kết quả của hành vi đó Chuẩn chủ quan (Subjective Norms) là nhận thức, suy nghĩ về những người ảnh hưởng (có quan hệ gần gũi với người có ý định thực hiện hành vi như:

Niềm tin quy chuẩn

về hành vi

Ảnh hưởng Phản hồi

Trang 25

người thân trong gia đình, bạn bè, đồng nghiệp) cho rằng nên thực hiện hay không nên thực hiện hành vi (Ajzen 1991, tr 188)

nhân đặt dưới sự kiểm soát của ý định Nghĩa là, thuyết này chỉ áp dụng đối với những trường hợp cá nhân có ý thức trước khi thực hiện hành vi Vì thế, thuyết này không giải thích được trong các trường hợp: hành vi không hợp lý, hành động theo thói quen, hoặc hành vi được coi là không ý thức (Ajzen 1985)

2.2.2 Thuyết hành vi hoạch định (TPB)

Trên cơ sở thuyết hành động hợp lý của Ajzen và Fishbein (1975), Ajzen (1991) phát triển Thuyết hành vi hoạch định (Theory of Planed Behavior - TPB) để dự báo và làm sáng tỏ hành vi con người trong một bối cảnh cụ thể Nó sẽ cho phép dự đoán cả những hành vi không hoàn toàn điều khiển được với giả định một hành vi có thể được dự báo hoặc được giải thích bởi ý định để thực hiện hành vi đó (Kolvereid 1996) Theo đó, TPB cho rằng ý định là nhân tố động cơ dẫn đến hành vi và được định nghĩa như là mức độ nỗ lực cá nhân để thực hiện hành vi Trong đó, ý định kinh doanh là một yếu tố có trước, quyết định việc thực hiện hành vi kinh doanh (Fayolle và Gailly, 2004; Kolvereid 1997)

Ý định là tiền đề gần nhất của hành vi và được dự đoán lần lượt bởi thái độ; chuẩn chủ quan và nhận thức kiểm soát hành vi (hình 2.2)

Hình 2.2: Mô hình thuyết hành vi hoạch định (TPB)

(Nguồn: Ajzen, I., The Theory of Planned Behaviour, 1991, tr 182)

KỲ VỌNG

Niềm tin về chuẩn

chủ quan

Nhận thức kiểm soát hành vi

Niềm tin về kiểm soát Niềm tin về hành vi

Trang 26

Trong đó:

- Thái độ (Attitude Toward Behavior - AB) được hiểu như là cảm xúc tích cực hay

tiêu cực cá nhân bị ảnh hưởng bởi các yếu tố tâm lý và các tình huống đang gặp phải Một sinh viên có thể có một thái độ tích cực đối với công việc kinh doanh vì cha hoặc mẹ của sinh viên đó là một doanh nhân Các yếu tố khác ảnh hưởng đến thái độ đối với hành vi kinh doanh, như: sẵn sàng chấp nhận rủi ro, quỹ tích kiểm soát, sự tự do, độc lập, vv (Krueger và cộng sự 2000)

- Chuẩn chủ quan (Subjective Norm - SN) hay nhận thức về ảnh hưởng từ phía

cộng đồng xã hội được định nghĩa là “nhận thức về áp lực xã hội đến thực hiện hoặc không thực hiện hành vi” (Ajzen 1991) Đó là ảnh hưởng của những người quan trọng và gần gũi có thể tác động đến cá nhân thực hiện hành vi Ví dụ như các bậc cha mẹ gặp phải những vấn đề tiêu cực với ý định kinh doanh, có thể gây áp lực cho con cái của họ những khó khăn khi bắt đầu quá trình khởi nghiệp

- Nhận thức kiểm soát hành vi (Perceived Behavirol Control - PBC) phản ánh việc

dễ dàng hay khó khăn khi thực hiện hành vi và việc thực hiện hành vi đó có bị kiểm soát, hạn chế hay không Ajzen (1991) đề nghị rằng nhân tố kiểm soát hành vi tác động trực tiếp đến ý định thực hiện hành vi và nếu chính xác trong nhận thức của mình, thì kiểm soát hành vi còn dự báo cả hành vi

TPB giả định thêm rằng những phần hợp thành ý định lần lượt được xác định bởi

kỳ vọng nổi bật nhất và ước lượng kỳ vọng cho mỗi thành phần đó Trong đó, kỳ vọng về thái độ đối với một hành vi có sẵn, hoặc kỳ vọng cụ thể về kết quả của việc thực hiện hành vi; kỳ vọng về chuẩn chủ quan đó là nhận thức của những người quan trọng khác là tán thành hay không tán thành thực hiện hành vi; kỳ vọng về nhận thức kiểm soát hành vi liên

khẳng định những kỳ vọng này là những thông tin nền tảng của hành vi và nguyên nhân dẫn đến hành vi một cách cơ bản là bởi những kỳ vọng này (Scholten, Kemp và Ompta 2004) Vì thế, sự thay đổi một trong những kỳ vọng trên có thể dẫn đến sự thay đổi về hành vi Dựa vào nguyên nhân căn bản này, một số nhà nghiên cứu đã tạo ra sự can thiệp

để thay đổi kỳ vọng để xác định xem người ta có thay đổi hành vi hay không Một số khác

đã khám phá sự ảnh hưởng của chính sách can thiệp bằng cách kiểm tra sự thay đổi kỳ vọng sau khi áp dụng chính sách

TPB đã được áp dụng thành công để dự đoán và giải thích các hành vi khác nhau như: quyết định bỏ phiếu, giảm cân, ngừng hút thuốc, vi phạm giao thông, vv Trong lĩnh

Trang 27

vực kinh doanh, các nhà nghiên cứu thường chọn TPB làm khung lý thuyết cho các nghiên cứu của họ về ý định kinh doanh (ví dụ: Autio và cộng sự 2001; Luthje và Franke 2003)

Thứ nhất, TPB như là một sự thay thế cho giới hạn kiểm soát ý chí của TRA và

cho rằng hành vi là có chủ ý và có kế hoạch Tuy nhiên TPB dựa trên niềm tin rằng mọi người đều có suy nghĩ hợp lý và đưa ra những quyết định hợp lý dựa trên thông tin sẵn có

Vì thế, động cơ vô thức không được đưa vào xem xét trong mô hình TPB Nghĩa là, TPB chưa khắc phục được hết những hạn chế của TRA (Krueger và cộng sự 2000)

Thứ hai, thực tế các yếu tố để xác định ý định không giới hạn bởi thái độ, chuẩn

chủ quan và kiểm soát hành vi như Ajzen (1991) Vì thế, nhiều nghiên cứu thực nghiệm cho thấy rằng chỉ có 40% biến thiên ý định của hành vi có thể được giải thích bằng TPB của Ajzen (1991) Do đó, đã xuất hiện các biến thể của TPB, chẳng hạn Davidson (1995)

đã bổ sung thành phần “niềm tin kinh doanh" và chứng minh là một yếu tố ảnh hưởng đến

ý định kinh doanh

2.2.3 Mô hình các sự kiện kinh doanh (SEE)

Mô hình tổ chức sự kiện kinh doanh của Shapero (1975) là mô hình đề cập đến giá trị hành vi, theo đó hành vi kinh doanh là một kết quả của ý định kinh doanh (Krueger 1993) Shapero (1975) giải thích, ý định bắt đầu một doanh nghiệp phụ thuộc vào mức độ hấp dẫn của hoạt động thay thế và xu hướng hành động theo cơ hội Trong đó, mức độ hấp dẫn của hành vi được giải thích bởi hai yếu tố là mong muốn nhận thức và nhận thức tính khả thi Shapero (1975) cho rằng mong muốn nhận thức có tầm quan trọng trong việc dự đoán ý định hành vi; đồng thời nhấn mạnh, các doanh nhân tiềm năng thường được phát hiện khi tương tác với môi trường kinh doanh thực tế

Krueger và cộng sự (2000, p 413) cho rằng hoạt động kinh doanh là hành vi có kế hoạch Các nhà nghiên cứu cho rằng một hành vi có kế hoạch tốt nhất có thể được dự đoán bằng cách quan sát những ý định đối với nó chứ không phải quan sát bằng thái độ, niềm tin, cá tính hoặc các yếu tố nhân khẩu học Krueger và cộng sự (2000, p 413) đã thử nghiệm và so sánh hai mô hình TPB và SEE về hiệu quả của chúng trong việc dự đoán ý định kinh doanh, trên cơ sở đó đã phát triển mô hình Shapero thành mô hình Shapero -

Trang 28

Hình 2.3: Mô hình các sự kiện kinh doanh (SEE)

(Nguồn: Shapero - Krueger từ Krueger và cộng sự 2000, p.419)

Trong đó:

- Nhận thức mong muốn thể hiện “tính hấp dẫn của hành vi kinh doanh đối với cá

nhân bắt đầu khởi nghiệp” Nó tương tự như thái độ đối với hành vi trong mô hình của Ajzen (1991) Nó cũng được mô tả như là thái độ cá nhân đối với các kết quả của hành vi (Krueger và cộng sự 2000, p 416)

- Nhận thức tính khả thi là “mức độ mà một người cảm thấy cá nhân có khả năng

khởi nghiệp” (Krueger và cộng sự 2000, p 419) Nghĩa là, nhận thức tính khả thi cũng tương tự như nhận thức kiểm soát hành vi trong mô hình của Ajzen (Krueger và cộng sự

2000, p 416) Hisrich và Peters (2002, p 58) cho rằng nhận thức về tính khả thi đề cập đến tính tự hiệu quả của doanh nghiệp, đó là “niềm tin rằng một trong những thành công

có thể thực hiện bởi quá trình kinh doanh” Những người chủ động cao tính tự hiệu quả cao và liên tục nỗ lực để dẫn đến nâng cao kết quả kinh doanh

- Xu hướng hành động là “khuynh hướng của cá nhân thực hiện hành động dựa

trên quyết định của người khác” (Krueger và cộng sự, 2000, p 419)

Mô hình phát triển của Krueger (2000, p 423) giải thích khoảng 50% sự khác biệt

về ý định kinh doanh Trong đó, mong muốn nhận thức được đánh giá là chỉ số dự báo tốt nhất cho ý định hành vi Krueger và cộng sự (2000, p 423) nhận thấy rằng ý định kinh doanh có tương quan đáng kể với mong muốn nhận thức và nhận thức tính khả thi Họ cũng nhận thấy rằng ý định được dự báo bởi xu hướng hành động và nhận thức tính khả thi tương quan với nhận thức tự hiệu quả

Reitan (1997) cho rằng mô hình SEE của Shapero (1975) và TPB của Ajzen (1991) rất quan trọng để giải thích những yếu tố nào đã ảnh hưởng đến ý định kinh doanh Do đó,

Ý ĐỊNH HÀNH VI

Xu hướng hành động

Nhận thức mong muốn

Mong muốn

cụ thể

Nhận thức tính khả thi

Tự nhận thức hiệu quả

Trang 29

một sự kết hợp đã được thử nghiệm trên một nhóm người Na Uy và Reitan (1997) kết luận rằng biến tình huống (các yếu tố khác ảnh hưởng gián tiếp đến ý định như: kinh nghiệm làm việc, kiến thức kinh doanh, giáo dục kinh doanh) có vai trò quan trọng giải thích những ý định kinh doanh ngắn hạn hơn so với những ý định lâu dài Vì thế, theo Reitan (1997), các yếu tố tình huống (đặc điểm tính cách, giáo dục kinh doanh, đặc điểm nhân khẩu học) cũng nên được sử dụng để giải thích ý định kinh doanh

Hạn chế của mô hình SEE

Thứ nhất, theo mô hình SEE, để hành vi kinh doanh là kết quả của ý định kinh

doanh thì ý định đó phải phụ thuộc vào mức độ hấp dẫn của hoạt động thay thế và xu hướng hành động theo cơ hội (Shapero 1975) Mặc khác, hành vi được thay đổi bởi sự kiện bên ngoài tích cực hay tiêu cực (Krueger 1993) Bởi vậy, một khi ý định trong trường hợp không có xu hướng hành động, hay có những tác động tiêu cực từ bên ngoài vào nhận thức của một cá nhân thì nhận thức tính khả thi sẽ là không có khả năng khởi nghiệp

Thứ hai, mô hình đề cập đến giá trị hành vi của Shapero (1975) khác với TPB là

hành vi cần có sự chủ ý và có kế hoạch Vì thế, SEE không được sử dụng để dự đoán hành

vi kinh doanh khi chưa có nhận thức về hành vi đó (Krueger và cộng sự 2000)

2.2.4 Mô hình cấu trúc ý định kinh doanh

Luthje và Franke (2003, p.136) cho rằng: “Các trường đại học có tác động đến sự thành công trong kinh doanh” Vì vậy, các trường đại học là một phần quan trọng trong

mô hình cấu trúc ý định kinh doanh của Luthje và Franke Mô hình nghiên cứu thể hiện mối liên hệ giữa đặc điểm tính cách nói chung và hành vi kinh doanh với giả định rằng các đặc điểm cá nhân gián tiếp ảnh hưởng đến ý định kinh doanh để trở thành doanh nhân thông qua thái độ

Mô hình cấu trúc ý định kinh doanh của Luthje và Franke (2003) được thiết kế tập trung vào bốn cấu trúc để dự đoán xu hướng để bắt đầu một doanh nghiệp mới Đó là xu hướng chấp nhận rủi ro; quỹ tích kiểm soát nội bộ; hỗ trợ nhận thức từ môi trường và các rào cản theo hoàn cảnh (hình 2.4)

Trong đó:

- Xu hướng chấp nhận rủi ro: là khả năng sẵn sàng chấp nhận những tổn thất do

rủi ro gây ra trong quá trình kinh doanh gây ra cho người khởi nghiệp (Luthje và Franke 2004; Taramisi Sama-Ae 2009)

Trang 30

Hình 2.4: Mô hình cấu trúc ý định kinh doanh

(Nguồn: Luthje và Franke 2003, p.138)

- Quỹ tích kiểm soát nội bộ: là mức độ mà một cá nhân tin rằng họ có quyền lực

đối với các sự kiện trong cuộc sống của họ; đồng thời, kiểm soát được các hành vi kinh doanh và kết quả của hành vi đó (Luthje và Franke 2003) Nghĩa là, sinh viên có quỹ tích kiểm soát cao, càng có khả năng hạn chế những rủi ro để trở thành một doanh nhân (Khan

và cộng sự 2011)

- Rào cản nhận thức: là những cản trở trong quá trình nhận thức, phản ánh và tái

hiện trong tiềm thức của cá nhân có ý định kinh doanh những khó khăn từ phía môi trường kinh doanh cản trở hành vi kinh doanh (Luthje và Franke 2003) Vì thế, một nền kinh tế năng động và môi trường kinh doanh thuận lợi luôn có sức hút làm nảy nở ý định kinh doanh

- Hỗ trợ nhận thức: là những trợ giúp bên ngoài nhằm tăng cường và củng cố ý

định kinh doanh của một cá nhân (Luthje và Franke 2003) Hỗ trợ có thể về kiến thức, tài chính, chia sẻ kinh nghiệm, vv của chính phủ, cơ quan ban ngành, trường học và các tổ chức doanh nghiệp

Mô hình cấu trúc ý định kinh doanh của Luthje và Franke (2003) cho thấy, ý định kinh doanh là kết quả trực tiếp của thái độ đối với kinh doanh cùng các rào cản nhận thức

và các yếu tố hỗ trợ Các trường đại học thuộc về yếu tố hỗ trợ nhận thức, là một phần của yếu tố hoàn cảnh Đặc điểm tính cách có một tác động mạnh đến thái độ đối với kinh doanh và đến lượt thái độ lại có ảnh hưởng mạnh mẽ đến ý định để bắt đầu một doanh nghiệp mới Do đó, đặc điểm tính cách của sinh viên có tác động gián tiếp đến ý định kinh doanh, ý định kinh doanh bị ảnh hưởng trực tiếp bởi những rào cản và các yếu tố hỗ trợ

Đặc điểm tích cách

Đặc điểm tính cách

Biến nội sinh

Biến nội sinh

Thái độ đối với kinh doanh

Ý định kinh doanh

Yếu tố hoàn cảnh

Yếu tố hoàn cảnh

Các rào cản nhận thức

Hỗ trợ nhận thức

Trang 31

trong bối cảnh kinh doanh có liên quan Bởi vậy, các trường đại học và chính phủ nên có những ảnh hưởng tích cực đến hình ảnh tinh thần kinh doanh trong giới sinh viên Tuy nhiên, Luthje và Franke (2003) cũng nhấn mạnh rằng các yếu tố hoàn cảnh kích thích nhiều nhất đến ý định kinh doanh của các sinh viên có xu hướng mạo hiểm và quỹ tích kiểm soát nội bộ cao Vì thế, cần xác định những sinh viên này và giới thiệu họ với các chương trình kinh doanh dường như là cách tốt nhất để kích thích những ý định kinh doanh của sinh viên trong các trường đại học

2.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp kinh doanh

2.3.1 Mô hình nghiên cứu của Erkko Autio10 và cộng sự (2001)

Autio và cộng sự (2001) đã ứng dụng lý thuyết hành vi hoạch định (Ajzen 1991), đồng thời kế thừa và phát triển các nghiên cứu ứng dụng (Ví dụ: Davidsson 1995; Reitan 1997; Kolvereid 1997) để phân tích các yếu tố ảnh hưởng trong ý định kinh doanh giữa các sinh viên đại học ở Bắc Âu và ở Mỹ Nghiên cứu sử dụng một mẫu có kích thước lớn (3.445 sinh viên đại học) từ Phần Lan (Đại học Công nghệ Helsinki), Thụy Điển (Đại học Linkoping), Hoa Kỳ (Đại học Stanford, Đại học Colorado - Colorado Springs) và Vương quốc Anh (Trường kinh doanh London) Kết quả nghiên cứu so sánh khẳng định các yếu

tố từ mô hình lý thuyết của Ajzen (1991), trong đó, nhận thức kiểm soát hành vi nổi lên như là yếu tố quyết định quan trọng nhất ảnh hưởng đến ý định kinh doanh (hình 2.5)

Hình 2.5 : Mô hình ý định kinh doanh giữa các sinh viên ở Bắc Âu và ở Mỹ

(Nguồn: Autio và cộng sự 2001)

10 Giáo sư Viện chiến lược và kinh doanh quốc tế, Đại học Công nghệ Helsinki, Phần Lan Giáo sư Erkko Autio hiện ông còn là chủ tịch Doanh nhân và Công nghệ Mạo hiểm tại trường kinh doanh Imperial College London, giám đốc chương trình Tiến sĩ tại trường kinh doanh Imperial College London, giáo sư thỉnh giảng tại Đại học Aalto Trường Khoa học và Công nghệ, Vương Quốc Anh

Ý ĐỊNH KINH DOANH

Thái độ đối với hành vi

Chuẩn chủ quan

Nhận thức kiểm soát hành vi

Đặc điểm nhân khẩu học

Trang 32

2.3.2 Mô hình nghiên cứu của Francisco Linan 11 (2004)

Linan (2004) đã tích hợp hai lý thuyết Ajzen (1991) và Shapero và Sokol (1982) vào một mô hình ý định kinh doanh Theo đó, tiền đề của ý định kinh doanh được xác định bởi: kiến thức kinh doanh, mong muốn nhận thức (thái độ cá nhân và chuẩn mực xã hội)

và nhận thức tính khả thi (tự hiệu quả) Mô hình giả định rằng các biến bên ngoài (nhân khẩu học) không trực tiếp ảnh hưởng đến ý định thực hiện hành vi tương tự như Ajzen (1991); Kolvereid (1996) (hình 2.6)

Hình 2.6: Mô hình ý định kinh doanh dựa trên giáo dục tinh thần kinh doanh

(Nguồn: Linan 2004) Linan (2004) sử dụng mô hình này làm cơ sở để xây dựng chương trình giáo dục tinh thần kinh doanh và phân loại giáo dục tinh thần kinh doanh thành: giáo dục nhận thức kinh doanh, giáo dục khởi động, giáo dục tính năng động trong kinh doanh và giáo dục cho các doanh nhân Việc phân loại các hoạt động giáo dục sẽ giúp làm tăng thêm ý định thực hiện hành vi kinh doanh và xác định các biến thực hiện ý định hành vi Linan (2004) còn cho biết thêm, giáo dục tinh thần kinh doanh cho phép làm rõ vai trò của người giáo dục với người kinh doanh, tăng cường ý định kinh doanh để phát triển thành những hành

vi kinh doanh Trong đó, giáo dục sự năng động kinh doanh không chỉ để thúc đẩy mục đích trở thành một doanh nhân, mà còn phát triển tính năng động kinh doanh cho các hành

vi sau giai đoạn khởi nghiệp

11 Giáo sư Khoa Kinh tế ứng dụng, Trường Đại học Seville, Tây Ban Nha.

Kiến thức kinh doanh

Ý định kinh doanh

Nhận thức tính khả thi (tự hiệu quả)

Mong muốn nhận thức Thái độ

cá nhân

Cá nh Nhận thức theo chuẩn xã hội

Trang 33

2.3.3 Mô hình nghiên cứu của Sofia Karali (2013)

Dựa trên lý thuyết hành vi hoạch định (Ajzen 1991), nghiên cứu của Karali (2013)

đã khám phá ảnh hưởng của các chương trình kinh doanh vào ý định kinh doanh của sinh

mẫu nghiên cứu được tổng hợp từ các sinh viên đến từ 11 trường đại học (WO) và 9 trường đại học khoa học ứng dụng (HBO) Kết quả cho thấy những người tham gia các chương trình giáo dục kinh doanh có xu hướng kinh doanh cao hơn so với những người không tham gia (Peterman và Kennedy 2003; Fayolle và cộng sự 2006) Các yếu tố thái độ đối với kinh doanh, chuẩn chủ quan và nhận thức kiểm soát hành vi không chỉ ảnh hưởng trực tiếp đến ý định kinh doanh mà còn làm trung gian cho mối quan hệ về ảnh hưởng của các chương trình giáo dục kinh doanh đến ý định kinh doanh (hình 2.7)

Hình 2.7: Mô hình tác động của các chương trình giáo dục kinh doanh

đến ý định kinh doanh (Nguồn: Karali 2013)

2.4 Đề xuất mô hình nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp kinh doanh của sinh viên Việt Nam

Tổng kết các lý thuyết về ý định hành vi và ý định khởi nghiệp kinh doanh (mục 2.2) và các yếu tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp kinh doanh (mục 2.3) cho thấy, mặc

dù chưa có sự đồng nhất quan điểm của các nhà nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến đến ý định khởi nghiệp kinh doanh của sinh viên, ngay cả tên gọi của chúng, nhưng có thể chia các yếu tố này làm 3 nhóm: (1) các yếu tố ảnh hưởng trực tiếp; (2) các yếu tố ảnh hưởng gián tiếp; (3) các yếu tố vừa ảnh hưởng trực tiếp lẫn gián tiếp Trong đó:

- Nhóm các yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến ý định kinh doanh của sinh viên được xác định trong hầu hết các lý thuyết và mô hình nghiên cứu gồm 3 yếu chính: (1) Thái độ

12

Một dự án quốc tế khảo sát tinh thần kinh doanh của sinh viên trên toàn thế giới

Thái độ đối với hành vi

Chuẩn chủ quan

Nhận thức kiểm soát hành vi

Ý ĐỊNH KINH DOANH

Tham gia các

chương trình giáo

dục kinh doanh

Trang 34

đối với hành vi kinh doanh (còn được gọi là “Nhận thức mong muốn” trong mô hình SEE của Krueger và cộng sự 2000); (2) Chuẩn chủ quan (còn được gọi là “Nhận thức theo

chuẩn xã hội” trong mô hình ý định kinh doanh dựa trên giáo dục tinh thần kinh doanh của Francisco Linan 2004, hay “Xu hướng hành động” trong mô hình SEE của Krueger và

cộng sự 2000); (3) Nhận thức kiểm soát hành vi (còn được gọi là “Nhận thức tính khả thi” trong mô hình của Krueger và công sự 2000 và Linan 2004)

qua 3 yếu tố: thái độ đối với hành vi kinh doanh; chuẩn chủ quan; nhận thức kiểm soát hành vi) bao gồm các đặc điểm tính cách cá nhân là xu hướng rủi ro và quỹ tích kiểm soát nội bộ (của Retian 1997; Luthje và Franke 2000) và các đặc điểm nhân khẩu học (của Retian 1997; Karali 2013) Hai yếu tố này cũng được Nishantha (2009) khẳng định trong trong nghiên cứu ảnh hưởng của đặc điểm tính cách và nhân khẩu học của sinh viên đại học đến động lực thúc đẩy kinh doanh

- Nhóm các yếu tố ảnh hưởng trực tiếp lẫn gián tiếp (thông qua 3 yếu tố: thái độ đối với hành vi kinh doanh; chuẩn chủ quan; nhận thức kiểm soát hành vi) đến ý định kinh doanh của sinh viên bao gồm kiến thức kinh doanh (của Linan 2004); các chương trình giáo dục kinh doanh (của Karali 2013; Retian 1997) Tuy nhiên, với đối tượng sinh viên, kiến thức kinh doanh chủ yếu là kết quả của các chương trình giáo dục kinh doanh trong nhà trường Hơn nữa, mục đích của các chương trình giáo dục kinh doanh không những trang bị kiến thức kinh doanh mà còn là giáo dục tính năng động và tinh thần doanh nhân cho sinh viên Nghĩa là, so với kiến thức kinh doanh (của Linan 2004), các chương trình giáo dục kinh doanh của Karali (2013) và Retian (1997) có tính phổ quát hơn và tiệm cận hơn với yếu tố hoàn cảnh (bao gồm hỗ trợ nhận thức và rào cản nhận thức) trong mô hình cấu trúc ý định kinh doanh của Luthje và Franke (2000)

Áp dụng cho trường hợp nghiên cứu này, kết quả thảo luận nhóm tập trung với hai nhóm sinh viên và tham khảo ý kiến một số giảng viên, thì sinh viên Việt Nam nói chung

và sinh viên các trường đại học tại TP HCM có các đặc điểm:

- Hầu hết sinh viên đều có tinh thần học hỏi và sáng tạo, đồng thời mong muốn có

cơ hội để khẳng định khả năng của mình và vai trò của bản thân đối với gia đình, bạn bè

và xã hội Môi trường kinh doanh chính là điều kiện để sinh viên hiện thực hóa hoài bão

đó, vì thế họ đều có thái độ tích cực đối với hành vi kinh doanh

- Sinh ra từ nôi văn hóa Á Đông, người Việt có câu ngạn ngữ: “đối với người mẹ dù người con đã 50 tuổi nhưng vẫn là trẻ con”, nên hầu hết sinh viên đều được sự che chở

Trang 35

quá mức của bố mẹ và những người thân trong gia đình, đặc biệt là rơi vào trường hợp

“cậu quý tử” Vì thế, đa số viên sinh viên ít có tính tự lập, đại bộ phận còn lại phụ thuộc vào gia đình, trước hết là về kinh tế Điều này đã ảnh hưởng lớn đến ý định khởi nghiệp kinh doanh của sinh viên không chỉ góc độ chuẩn chủ quan, nhận thức kiểm soát hành vi,

mà cả điều kiện kinh tế tối thiểu cho hành vi khởi nghiệp

- Do phần lớn sinh viên ở các trường đại học đều có độ tuổi trẻ (dưới tuổi 25), toàn

bộ kiến thức và tinh thần doanh nhân của họ dường như chỉ được trang bị trong các trường đại học Bởi thế, giáo dục kinh doanh trong các trường đại học là kiến tạo môi trường kích thích nảy nở ý tưởng kinh doanh sáng tạo và tinh thần khởi nghiệp của sinh viên; là nền tảng để hình thành, phát triển và khai thác đội ngũ doanh nhân tiềm năng như nhiều kết quả nghiên cứu (ví dụ: Linan 2004; Tam 2009; Ooi và cộng sự 2011) đã khẳng định

- Tại Việt Nam, các trường đại học nằm tập trung tại các thành phố, trong đó chủ yếu là hai trung tâm kinh tế, chính trị, khoa học và công nghệ lớn nhất của cả nước là Hà Nội và TP HCM Vì thế, các trường đại học là nơi hội tụ sinh viên từ tất cả các vùng, miền trên cả nước có các đặc thù văn hóa; giáo dục gia đình; điều kiện kinh tế và mức độ giao lưu xã hội rất khác nhau Hệ quả là có sự khác biệt khá lớn về đặc điểm tính cách theo các đặc điểm nhân khẩu học giữa các nhóm sinh viên

Hình 2.8: Mô hình lý thuyết các yếu tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp

của sinh viên (Nguồn: đề xuất của nhóm nghiên cứu)

Nghĩa là, các đặc điểm của sinh viên Việt Nam đã được phản ánh trong các yếu tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp kinh doanh của sinh viên được tổng kết từ các lý thuyết

và các nghiên cứu ở các nước trên đây Vì thế, nhóm nghiên cứu đề xuất các yếu tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp của sinh viên Việt Nam bao gồm: (1) Thái độ đối với hành

H4

KHỞI NGHIỆP

Thái độ đối với hành vi kinh doanh

Chuẩn chủ quan

Nhận thức tính khả thi

Trang 36

vi kinh doanh; (2) Chuẩn chủ quan; (3) Nhận thức tính khả thi; (4) Đặc điểm tính cách; (5) Giáo dục kinh doanh (hình 2.8)

2.4.1 Thái độ đối với hành vi kinh doanh

Thể hiện sự đánh giá tích cực hay tiêu cực, ủng hộ hay phản đối của một cá nhân

về hành vi dự định thực hiện (Ajzen 1991) Trong nghiên cứu này, đó là sự đánh giá tích cực hay tiêu cực, ủng hộ hay phản đối của một người có ý định khởi nghiệp đối với hành

vi kinh doanh mà họ hướng tới

Theo Carayannis, Evans và Hanson (2003), thái độ đối với hành vi kinh doanh được đo lường ở hai khía cạnh (1) lợi thế cá nhân khi là doanh nhân, (2) có lợi cho xã hội khi là doanh nhân Trong khi đó, hầu hết các nghiên cứu đánh giá thái độ ở khía cạnh cá nhân người có ý định kinh doanh Chẳng hạn, nghiên cứu của Linan (2004) về ý định kinh doanh dựa trên giáo dục tinh thần kinh doanh đo lường thái độ đối với hành vi kinh doanh bằng 4 biến: (1) là một doanh nhân sẽ hơn công dân phổ thông, (2) là một doanh nhân sẽ hơn là một nhân viên, (3) lựa chọn được nghề nghiệp yêu thích, (4) có được sự hài lòng ngay sau khi tốt nghiệp; nghiên cứu của Karali (2013) về tác động của các chương trình giáo dục kinh doanh đến ý định kinh doanh của sinh viên các trường đại học ở Hà Lan đo lường thái độ đối với hành vi kinh doanh bằng 4 biến: (1) là một doanh nhân có lợi hơn bất lợi, (2) nghề nghiệp của doanh nhân là hấp dẫn; (3) sẽ trở thành doanh nhân khi có cơ

hội và nguồn lực, (4) cho phép thỏa mãn các đòi hỏi của bản thân

Áp dụng cho nghiên cứu này, nhóm tác giả cho rằng thái độ với hành vi kinh doanh của sinh viên Việt Nam cần được đo lường ở phương diện cá nhân người có ý định kinh doanh trên cơ sở kế thừa thang đo của Linan (2004), Karali (2013), kết hợp phương diện xã hội tương tự như Carayannis, Evans và Hanson (2003)

Về tính chất ảnh hưởng, các lý thuyết và các nghiên cứu của Ajzen (1991); Autio (2001); Linan (2004); Karali (2013); Nishantha (2009); Sagiri và Appolloni (2009) và nhiều nghiên cứu khác cho thấy thái độ là yếu tố tâm lý, khi thái độ ổn định và được kích thích thì càng thúc đẩy sinh viên phát sinh ý tưởng hướng đến khởi nghiệp kinh doanh Vì thế, cho phép phát biểu giả thuyết H1:

H1: Thái độ đối với hành vi kinh doanh có ảnh hưởng cùng chiều đến ý định khởi nghiệp kinh doanh của sinh viên

Trang 37

2.4.2 Chuẩn chủ quan (nhận thức về chuẩn xã hội)

nên thực hiện hành vi (Ajzen 1991) Nó bao gồm các ảnh hưởng bên trong là ý kiến từ gia đình, bạn bè và đồng nghiệp và các ảnh hưởng bên ngoài là các trào lưu xã hội (Pavlou và Chai 2002) Nghiên cứu sự khác nhau về ý định kinh doanh giữa các sinh viên ở Bắc Âu

và ở Mỹ của Autio và cộng sự (2001) đo lường chuẩn chủ quan bằng 4 biến: (1) quan điểm của người thân trong gia đình; (2) quan điểm của bạn bè; (3) quan điểm của đồng nghiệp; (4) quan điểm của những người thân gần gũi khác Nghiên cứu của Lee và cộng sự (2012) về ý định kinh doanh của sinh viên năm cuối của Đại học Tunku Abdul Rahman (UTAR) đo lường chuẩn chủ quan bằng 5 biến: (1) quan điểm của bố mẹ; (2) quan điểm của bạn bè ; (3) quan điểm của sinh viên; (4) quan điểm của những người quan trọng khác;

(5) sự hỗ trợ của cơ sở hạ tầng trong nhà trường

Áp dụng cho nghiên cứu này, nhóm tác giả cho rằng chuẩn chủ quan cần được đo lường bởi các biến: (1) quan điểm của người thân trong gia đình; (2) quan điểm của bạn bè sinh viên; (3) khích lệ của nhà trường và Thầy Cô; (4) chính sách khuyến khích của nhà nước, trên cơ sở thang đo của Autio và cộng sự (2001); Lee và cộng sự (2012) Bởi vì:

- Gia đình là chỗ dựa tinh thần vững chắc, động lực tinh thần thúc đẩy hay trì hoãn

quyết định khởi nghiệp của con mình; đồng thời gia đình có nền tảng kinh doanh sẽ kích thích tinh thần hướng tới kinh doanh của chính con, em họ

- Bạn bè cùng học, có cùng chung cảm nghĩ về ý tưởng, hoặc có ý định khởi nghiệp

kinh doanh Họ có cùng nhận thức rằng khởi nghiệp là cách tốt nhất giúp họ hướng đến thành công thì sẽ tạo ra động lực thúc đẩy sinh viên viên đến với ý định khởi nghiệp

- Sự khích lệ của nhà trường và vai trò dẫn đắt và động viên của các Thầy giáo, Cô

giáo sẽ giúp sinh viên có niềm tin vào sự thành công sau khi khởi nghiệp

- Nhà nước thông qua chính sách khuyến khích có vai trò quan trọng trong việc tạo

lập môi trường kinh doanh thuận lợi và hỗ trợ tài chính, vì thế sẽ là động lực quan trọng kích thích sinh viên khởi nghiệp kinh doanh để tạo việc làm cho mình và góp phần phát triển kinh tế, xã hội

Về tính chất ảnh hưởng, chuẩn chủ quan được tìm thấy có ảnh hưởng trực tiếp và tích cực đến ý định của sinh viên tham gia vào khởi nghiệp kinh doanh (Ajzen 1991; Autio 2001; Linan 2004, Kolvereid 1996; Karali 2013) Vì thế, cho phép phát biểu giả thuyết

H2: Chuẩn chủ quan có ảnh hưởng cùng chiều đến ý định khởi nghiệp kinh doanh của sinh viên

Trang 38

2.4.3 Nhận thức tính khả thi (nhận thức kiểm soát hành vi)

Là đề cập đến nhận thức của cá nhân về mức độ dễ dàng hay khó khăn; có bị kiểm soát, hạn chế hay không khi thực hiện hành vi (Ajzen 1991, tr 183); là mức độ tự tin của một cá nhân về khả năng thực hiện các hành vi (Ajzen 2006) Trong nghiên cứu này đó là cảm nhận của cá nhân về khả năng khởi nghiệp

Theo Autio và cộng sự (2001), nhận thức tính khả thi về ý định khởi nghiệp được

đo lường bằng 4 biến: (1) tự tin sẽ thành công nếu khởi nghiệp; (2) khởi nghiệp là dễ dàng, (3) khởi nghiệp là phương thức tốt nhất tận dụng lợi thế giáo dục, (4) có đủ kỹ năng

và khả năng trở thành doanh nhân thành đạt

Nghiên cứu của Lee và cộng sự (2012) về ý định kinh doanh của sinh viên đo lường chuẩn chủ quan bằng 6 biến: (1) khởi nghiệp là dễ dàng (2); duy trì hoạt động sau khởi nghiệp là dễ dàng; (3) biết cách phát triển các dự án kinh doanh; (4) tự tin khởi nghiệp là thành công; (5) khởi nghiệp sẽ trở thành lao động tự do; (6) khởi nghiệp là phương thức tốt nhất tận dụng lợi thế giáo dục

Áp dụng cho nghiên cứu này, nhóm tác giả cho rằng nhận thức tính khả thi được đo lường bởi các biến trên cơ sở thang đo của Autio và cộng sự (2001); Lee và cộng sự (2012): (1) tự tin sẽ thành công nếu khởi nghiệp, (2) khởi nghiệp là dễ dàng, (3) khởi nghiệp là phương thức tốt nhất tận dụng lợi thế giáo dục; (4) tự tin biết cách phát triển kinh doanh, (5) có đủ khả năng trở thành doanh nhân thành công

Về tính chất ảnh hưởng, các lý thuyết, các nghiên cứu của Ajzen (1991); Linan (2004); Karali (2013) cho thấy nhân thức tính khả thi có ảnh hưởng trực tiếp đến ý định hành vi Nghiên cứu của Autio và cộng sự (2001) chứng minh nhận thức kiểm soát hành

vi nổi lên như là yếu tố quyết định quan trọng nhất ảnh hưởng tích cực đến ý định kinh

doanh Vì thế, cho phép phát biểu giả thuyết H3:

H3: Nhận thức tính khả thi có ảnh hưởng cùng chiều đến ý định khởi nghiệp kinh doanh của sinh viên

2.4.4 Đặc điểm tính cách

Là đề cập đến đặc điểm cá nhân nói lên tính cách của doanh nhân Nó đã được chứng minh là dự đoán cho ý định khởi nghiệp kinh doanh (Shaver và Scott 1991) Tuy nhiên, khác với Luthje và Franke (2003), Shaver và Scott (1991) cho rằng đặc điểm tính cách ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp theo 3 khía cạnh: Nhu cầu thành đạt; quỹ tích kiểm soát nội bộ và chấp nhận rủi ro Trong đó:

Trang 39

- Nhu cầu thành đạt: phản ánh mong muốn thành đạt của cá nhân có ý định khởi

nghiệp Kết quả nghiên cứu của Tong và cộng sự (2011), nhu cầu thành đạt là yếu tố tính cách dự báo mạnh nhất về ý định kinh doanh

- Quỹ tích của kiểm soát nội bộ: thể hiện mức độ tự tin và quyền lực của cá nhân

trong việc kiểm soát các hành vi kinh doanh và kết quả của hành vi đó Khan và cộng sự (2011) cho thấy khi quỹ tích nội bộ được kiểm soát cao, các sinh viên sẽ có thái độ chống

lại rủi ro và có khả năng cao để trở thành một doanh nhân

- Chấp nhận rủi ro: thể hiện sự sẵn sàng chấp nhận những tổn thất do rủi ro gây ra

trong quá trình thực hiện hành vi kinh doanh cho người khởi nghiệp Luthje và Franke

(2004); Taramisi Sama-Ae (2009) cho rằng chấp nhận rủi ro là xu hướng ảnh hưởng đáng

Về đo lường đặc điểm tính cách, theo Kickul và Gundry (2002), đặc điểm tính cách được đo lường bởi 5 biến: (1) dám đối mặt và vượt qua trở ngại, (2) coi kinh doanh là thú

vị, (3) coi kinh doanh là năng lực vượt trội, (4) thích thách thức với hiện trạng, (5) có cơ hội tốt trước những người khác Hisrich và Peters (2002) thực hiện đo lường đặc điểm tính cách bằng 3 biến: (1) chấp nhận rủi ro, (2) có xu hướng sáng tạo, (3) thích khám phá cái mới

Lee và cộng sự (2012) đo lường đặc điểm tính cách bằng 6 biến; (1) thích khám phá việc làm mới; (2) có xu hướng sử dụng những cách làm mới lạ; (3) sẽ khởi nghiệp khi

có cơ hội; (4) tự tin có đủ kỹ năng và khả năng để khởi nghiệp; (5) có kỹ năng lãnh đạo cần thiết để trở thành doanh nhân; (6) có sự trưởng thành về trí tuệ để trở thành doanh nhân

Trang 40

Áp dụng cho nghiên cứu này, trên cơ sở đối chứng với nội hàm của khái niệm đặc điểm tính cách, nhóm tác giả cho rằng đặc điểm tính cách của sinh viên cần được đo lường bằng năm biến, đó là: (1) có xu hướng chọn những nghề nghiệp đòi hỏi sự khám phá, sáng tạo; (2) coi kinh doanh là thú vị, vì thách thức, (3) dám đối mặt và vượt qua trở ngại, (4) chấp nhận rủi ro (5) có đủ năng lực và bản lĩnh để quản lý công ty

2.4.5 Giáo dục kinh doanh

Giáo dục kinh doanh (giáo dục tinh thần kinh doanh) liên quan đến chương trình, các bài giảng ngoại khóa hoặc các khóa học cung cấp cho sinh viên những kiến thức, kỹ năng và thái độ để theo đuổi sự nghiệp kinh doanh (Clouse 1990; Ekpoh và Edet 2011; Ooi, Selvarajah và Meyer 2011)

Nhiều nghiên cứu thực nghiệm (ví dụ: Linan 2004; Fayolle và Gailly 2004; Ooi và cộng sự 2011) đã kiểm chứng giáo dục kinh doanh và ý định kinh doanh có mối liên kết tích cực với nhau; giáo dục tinh thần kinh doanh là một phương tiện hiệu quả trong việc gây cảm hứng sinh viên có ý định khởi nghiệp kinh doanh, hành động kinh doanh và tăng

tỷ lệ sinh viên dám mạo hiểm trong kinh doanh Bởi vì, giáo dục kinh doanh trang bị cho sinh viên những kiến thức, kỹ năng kinh doanh cần thiết để tạo dựng tinh thần doanh nhân; giúp họ dám đối mặt với những khó khăn trong kinh doanh ở tương lai; giúp họ trở thành doanh nhân khi họ có kiến thức cơ bản về quản lý kinh doanh, đồng thời giảm thiểu các rào cản nguy cơ (Izquierdo và Buelens 2008; Ahmed và cộng sự 2010; Ekpoh và Edet 2011) Các nghiên cứu của Dell (2008); Tam (2009) cho rằng giáo dục kinh doanh có tác dụng cải thiện thái độ của sinh viên đối với kinh doanh và tự tin trong hành động, dẫn đến tăng ý định kinh doanh Nghĩa là, giáo dục kinh doanh có ảnh hưởng trực tiếp và tích cực đến ý định kinh doanh của sinh viên; đến thái độ đối với hành vi kinh doanh, chuẩn chủ quan, nhận thức tính khả thi về hành vi kinh doanh của sinh viên như mô hình nghiên cứu của Karali (2013) Vì thế, cho phép phát biểu giả thuyết H7, H8, H9, H10:

H7: Giáo dục kinh doanh có ảnh hưởng cùng chiều đến ý định khởi nghiệp kinh doanh của sinh viên

H8: Giáo dục kinh doanh có ảnh hưởng cùng chiều đến thái độ đối với hành vi kinh doanh của sinh viên

H9: Giáo dục kinh doanh có ảnh hưởng cùng chiều đến chuẩn chủ quan của sinh viên H10: Giáo dục kinh doanh có ảnh hưởng cùng chiều đến nhận thức tính khả thi của sinh viên

Ngày đăng: 22/10/2016, 23:12

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 2.1: Mô hình thuyết hành động hợp lý (TRA) - NCKH CAC YEU TO ANH HUONG DEN y DINH KHOI NGHIEP KINH DOANH CUA SINH VIEN VIET NAM
Hình 2.1 Mô hình thuyết hành động hợp lý (TRA) (Trang 24)
Hình 2.3: Mô hình các sự kiện kinh doanh (SEE) - NCKH CAC YEU TO ANH HUONG DEN y DINH KHOI NGHIEP KINH DOANH CUA SINH VIEN VIET NAM
Hình 2.3 Mô hình các sự kiện kinh doanh (SEE) (Trang 28)
Hình 2.5 : Mô hình ý định kinh doanh giữa các sinh viên ở Bắc Âu và ở Mỹ - NCKH CAC YEU TO ANH HUONG DEN y DINH KHOI NGHIEP KINH DOANH CUA SINH VIEN VIET NAM
Hình 2.5 Mô hình ý định kinh doanh giữa các sinh viên ở Bắc Âu và ở Mỹ (Trang 31)
Hình 2.6: Mô hình ý định kinh doanh dựa trên giáo dục tinh thần kinh doanh - NCKH CAC YEU TO ANH HUONG DEN y DINH KHOI NGHIEP KINH DOANH CUA SINH VIEN VIET NAM
Hình 2.6 Mô hình ý định kinh doanh dựa trên giáo dục tinh thần kinh doanh (Trang 32)
Hình 2.7: Mô hình tác động của các chương trình giáo dục kinh doanh - NCKH CAC YEU TO ANH HUONG DEN y DINH KHOI NGHIEP KINH DOANH CUA SINH VIEN VIET NAM
Hình 2.7 Mô hình tác động của các chương trình giáo dục kinh doanh (Trang 33)
Hình 2.8: Mô hình lý thuyết các yếu tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp - NCKH CAC YEU TO ANH HUONG DEN y DINH KHOI NGHIEP KINH DOANH CUA SINH VIEN VIET NAM
Hình 2.8 Mô hình lý thuyết các yếu tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp (Trang 35)
Hình 3.1: Qui trình nghiên cứu - NCKH CAC YEU TO ANH HUONG DEN y DINH KHOI NGHIEP KINH DOANH CUA SINH VIEN VIET NAM
Hình 3.1 Qui trình nghiên cứu (Trang 43)
Bảng 4.1: Thông tin mẫu nghiên cứu theo các đặc điểm nhân khẩu học - NCKH CAC YEU TO ANH HUONG DEN y DINH KHOI NGHIEP KINH DOANH CUA SINH VIEN VIET NAM
Bảng 4.1 Thông tin mẫu nghiên cứu theo các đặc điểm nhân khẩu học (Trang 57)
Bảng 4.4: Kết quả kiểm định độ tin cậy của các thang đo - NCKH CAC YEU TO ANH HUONG DEN y DINH KHOI NGHIEP KINH DOANH CUA SINH VIEN VIET NAM
Bảng 4.4 Kết quả kiểm định độ tin cậy của các thang đo (Trang 61)
Hình 4.2: Kết quả SEM mô hình lý thuyết (chuẩn hóa) - NCKH CAC YEU TO ANH HUONG DEN y DINH KHOI NGHIEP KINH DOANH CUA SINH VIEN VIET NAM
Hình 4.2 Kết quả SEM mô hình lý thuyết (chuẩn hóa) (Trang 62)
Hình 4.3: Kết quả SEM mô hình lý thuyết chính thức (chuẩn hóa) - NCKH CAC YEU TO ANH HUONG DEN y DINH KHOI NGHIEP KINH DOANH CUA SINH VIEN VIET NAM
Hình 4.3 Kết quả SEM mô hình lý thuyết chính thức (chuẩn hóa) (Trang 63)
Bảng 4.6: Kết quả ước lượng bootstrap so với ước lượng ML - NCKH CAC YEU TO ANH HUONG DEN y DINH KHOI NGHIEP KINH DOANH CUA SINH VIEN VIET NAM
Bảng 4.6 Kết quả ước lượng bootstrap so với ước lượng ML (Trang 64)
Bảng 4.8: Ước lượng mối quan hệ giữa các khái niệm trong mô hình - NCKH CAC YEU TO ANH HUONG DEN y DINH KHOI NGHIEP KINH DOANH CUA SINH VIEN VIET NAM
Bảng 4.8 Ước lượng mối quan hệ giữa các khái niệm trong mô hình (Trang 67)
Bộ (chương 3, hình 3.2) được chấp nhận, ngoại trừ giả thuyết H5 (Đặc điểm tính cách có  ảnh hưởng cùng chiều đến chuẩn chủ quan của sinh viên) bị từ chối - NCKH CAC YEU TO ANH HUONG DEN y DINH KHOI NGHIEP KINH DOANH CUA SINH VIEN VIET NAM
ch ương 3, hình 3.2) được chấp nhận, ngoại trừ giả thuyết H5 (Đặc điểm tính cách có ảnh hưởng cùng chiều đến chuẩn chủ quan của sinh viên) bị từ chối (Trang 78)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w