và trong nước quan tâm, thì những công trình nghiên cứu về nghèo trong mỗi mộtcộng đồng dân tộc thiểu số cụ thể vẫn còn hạn chế, việc nghiên cứu về nghèo trongcộng đồng dân tộc Ê đê ở Tâ
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA
HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ XÃ HỘI HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS TRƯƠNG XUÂN TRƯỜNG
HÀ NỘI, năm 2016
Trang 2PHẦN MỞ ĐẦU 1
PHẦN NỘI DUNG 22
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN 22
1.1
Một số khái niệm 22
1.2
Các chuẩn đánh giá nghèo ở Việt Nam 26
1.3
Các lý thuyết được vận dụng 28
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG NGHÈO CỦA ĐỒNG BÀO DÂN TỘC Ê ĐÊ XÃ TÂM THẮNG VÀ THỊ TRẤN EATLING, HUYỆN CƯ JÚT, TỈNH ĐĂK NÔNG 33
2.1 Khái quát tình hình kinh tế- xã hội xã Tâm Thắng 33 2.2 Khái quát tình hình kinh tế- xã hội thị trấn Eatling 37
2.3 Khái quát về cộng đồng dân tộc Ê đê 40
2.4 Kết quả thực hiện chính sách 42
2.5 Thực trạng nghèo của các hộ gia đình trong cộng đồng Ê đê 45
CHƯƠNG 3 CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN TÌNH TRẠNG NGHÈO CỦA CỘNG ĐỒNG DÂN TỘC Ê ĐÊ Ở XÃ TÂM THẮNG 50
3.1 Vốn con người 50
3.2 Vốn xã hội 54
3.3 Vốn tự nhiên (tài nguyên thiên nhiên) 59
3.4 Vốn vật chất 61
3.5 Vốn tài chính 63
Trang 33.6 Bối cảnh toàn cầu hóa, đô thị hóa gây bất lợi 67
3.7 Chính sách của Nhà nước 68
PHẦN KẾT LUẬN VÀ GỢI Ý CHÍNH SÁCH 71
TÀI LIỆU THAM KHẢO 74
Bảng 2.1 : Thực trạng phát triển kinh tế của xã giai đoạn 2010 - 2014 (giá cố định 2010) 34
Bảng 2.2: Thực trạng phát triển ngành TTCN - TMDV 35
Bảng 2.3: Thực trạng các trang trại, tổ hợp tác trên địa bàn xã 36
Bảng 2.4: Thực trạng lao động trên địa bàn xã năm 2014 37 Bảng 2.5: Tổng hợp hỗ trợ đất ở, đất sản xuất 43
Bảng 2.6: Tổng hợp hỗ trợ nhà ở, nước sinh hoạt 44
Bảng 2.7: Tổng hợp vay vốn Ngân hàng CSXH xã Tâm Thắng 45
Bảng 2.8: Tổng hợp hộ nghèo trong cộng đồng Ê đê xã Tâm Thắng giai đoạn 2011 - 2016 46 Bảng 3.1 Số lượng lao động ở các Buôn 51
Bảng 3.2: Tổng hợp số người tham gia các tổ chức CT - XH 56
Bảng 3.3: Tổng hợp cơ sở hạ tầng và tiện ích phục vụ sản xuất 62
Bảng 3.4: Tổng hợp vay vốn NHCSXH của cộng đồng Ê đê 64 Hộp 3.1 Đánh giá về nguồn lao động trong cộng đồng Ê đê tại địa bàn nghiên cứu 52
Trang 4PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Đói nghèo là một vấn đề mang tính chất toàn cầu, là một vấn đề kinh tế - xãhội, tồn tại phổ biến ở nhiều quốc gia, dân tộc trên thế giới Đói nghèo là một trongnhững nguyên nhân gây mất ổn định về kinh tế, chính trị, xã hội Sự đói nghèokhông chỉ là biểu hiện ở mức thu nhập thấp mà còn được thể hiện cả trong đời sốngvật chất và tinh thần, trình độ học vấn, sức khỏe cộng đồng, tình trạng thiếu vốn,thiếu đất, người dân sống trong cảnh thiếu thốn Giải quyết vấn đề nghèo đói là điềukiện để xã hội phát triển ngày càng tốt đẹp
Ở Việt Nam, ngay từ khi thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa năm
1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã coi đói nghèo là một thứ “giặc” và cần phải tiêu diệt.Người đưa ra mục tiêu của đất nước đó là “Diệt giặc đói, diệt giặc dốt, diệt giặcngoại xâm”
Vấn đề dân tộc được quan tâm đặc biệt, là chính sách nhất quán của Đảng vàNhà nước ta nhằm thực hiện: “Các dân tộc bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúpnhau cùng phát triển ” Theo điều 5, Hiến pháp năm 2013
Cùng với phát triển kinh tế, Việt Nam đã đặc biệt chú ý và phân bổ nguồn lựccho giảm nghèo và phát triển xã hội Những nỗ lực tích cực và cam kết mạnh mẽ này
đã đem lại những kết quả đáng chú ý Trong vòng 1 thập niên, tỷ lệ nghèo tính trênchi tiêu đã giảm từ 58,1% năm 1993 xuống còn 19,5% năm 2004, giúp đưa 20 triệungười thoát nghèo Theo chuẩn nghèo giai đoạn 2011 - 2015, tỷ lệ nghèo cũng giảmxuống đáng kể tử 14,2% năm 2010 còn 9,8% năm 2013[25, tr 16]
Tuy nhiên, Việt Nam đang phải đối mặt với nhiều thách thức trong việc giảmnghèo trong giai đoạn mới và bảo đảm tính bền vững của kết quả đã đạt được Có thểthấy, khi đời sống của phần lớn người dân đã cơ bản ổn định và phát triển thì đờisống của một bộ phận không nhỏ dân cư bị tụt lại phía sau trong quá trình phát triển,đặc biệt là các hộ gia đình đồng bào dân tộc thiểu số, người dân sống ở v ng sâu, v
Trang 52014, toàn tỉnh có 19.081 hộ nghèo, chiếm tỷ lệ 13,75%, trong đó: hộ nghèo là đồngbào dân tộc thiểu số 11.764 hộ chiếm tỷ lệ 61,6% Đối với huyện Cư Jút theo kết quảđiều tra hộ nghèo năm 2014 là 1.869 hộ, chiếm 8.93%, tuy nhiên, tỷ lệ hộ nghèo làđồng bào dân tộc thiểu số là 1.216 hộ chiếm 65% tổng số hộ nghèo trên địa bànhuyện Đây là một tỷ lệ rất cao so với tỷ lệ hộ nghèo dân tộc thiểu số bình quânchung toàn quốc năm 2014 là 46,66% Mặc dù, Chính phủ đã ban hành rất nhiềuchính sách bao phủ tất cả các mặt của đời sống kinh tế xã hội v ng dân tộc thiểu số,vùng sâu, vùng xa Tính đến năm 2012 đã có 87 chính sách ở cấp trung ương doChính phủ hoặc Thủ tướng Chính phủ ban hành, trong đó, nhóm chính sách do Chínhphủ ban hành gồm 44 Nghị định/Nghị quyết có nội dung bao tr m nhiều lĩnh vựcnhư: xóa đói giảm nghèo, đất đai, tín dụng, thương mại, giáo dục đào tạo, văn hóa, ytế; nhóm chính sách do Thủ tướng Chính phủ ban hành gồm 143 Quyết định [35, tr.25], từ đầu tư cơ sở hạ tầng, giao thông, vận tải, định canh, định cư đến hỗ trợ vềgiáo dục, đào tạo, dạy nghề, y tế; từ vay vốn ưu đãi của Ngân hàng chính sách xã hộiđến cấp miễn phí cây giống, con giống và hỗ trợ công cụ phát triển sản xuất, chuyểngiao kỹ thuật v v.
Trong l c nghiên cứu về nghèo nói chung hay nghèo ở các dân tộc thiểu sốphạm vi cả nước, phạm vi v ng khá phong ph , được nhiều cá nhân, tổ chức quốc tế
Trang 6và trong nước quan tâm, thì những công trình nghiên cứu về nghèo trong mỗi mộtcộng đồng dân tộc thiểu số cụ thể vẫn còn hạn chế, việc nghiên cứu về nghèo trongcộng đồng dân tộc Ê đê ở Tây Nguyên đến nay vẫn còn ít được quan tâm Mặc d ,người Ê đê có dân số đông thứ 2 trong các dân tộc bản địa ở Tây nguyên và thứ 11trong 54 dân tộc Việt Nam Do vậy, nghiên cứu tình trạng nghèo, trên cơ sở đó tìmgiải pháp giảm nghèo bền vững cho cộng đồng dân tộc Ê đê là vấn đề cấp thiết Do
xã Tâm Thắng va thị trấn Eatling huyện Cư Jút tinh Đăk Nông làm luận văn của
mình
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
2.1 Các nghiên cứu về nghèo đói ở Việt Nam
Do tính thời sự của vấn đề nên tình trạng đói nghèo ở Việt Nam, trong đó cócộng đồng các dân tộc thiểu số ở Việt Nam đã được quan tâm nghiên cứu bởi nhiều
cá nhân, tổ chức trong nước và quốc tế
Khi nói về các công trình nghiên cứu của các tác giả và tổ chức quốc tế ở ViệtNam, đầu tiên phải kể đến một số các nghiên cứu của Ngân hàng Thế giới gồm:
Tấn công Nghèo đói (2000) [21], báo cáo này chủ yếu phát họa và dựa vào
cuộc sống của những hộ nghèo ở Việt Nam Thông tin cơ bản được lấy từ hai cuộcĐiều tra Mức sống dân cư Việt Nam do Tổng cục Thống kê tiến hành năm 1993 và
1998 Đồng thời, báo cáo này cũng là kết quả của hàng loạt các cuộc phỏng vấn, thảoluận và họp bàn chứ không chỉ là quan điểm của một nhóm tác giả Báo cáo đã xemxét các xu hướng của tình trạng nghèo đói theo các quan điểm khác nhau, xem xét xuhướng thay đổi của chi tiêu bình quân đầu người và của các chỉ tiêu xã hội, xu hướngthay đổi cuộc sống theo như nhận thức và tự diễn đạt của các hộ nghèo những đặcđiểm của các hộ nghèo Trong báo cáo này giảm nghèo được xem xét trên khuôn khổgồm có 3 vấn đề: Một là nỗ lực giảm nghèo phải mở ra những cơ hội tạo việc làm và
Trang 7nâng cao năng suất lao động như là cách thức để từ đó góp phần tăng thu nhập vàgiúp người nghèo vượt ra khỏi nghèo đói thông qua đa dạng hoá các hoạt động nôngnghiệp và phi nông nghiệp, tạo cơ hội tiếp cận các nguồn vốn chính thức và tạo cơhội hay cải thiện khả năng tiếp cận các dịch vụ cơ bản như cung cấp nước sạch, điện,
vệ sinh, y tế hay phòng học Hai là nỗ lực giảm nghèo phải đi cùng các biện phápđảm bảo lợi ích của tăng trưởng và khả năng tiếp cận các dịch vụ một cách kháchquan và công bằng: công bằng trong phân phối thu nhập, công bằng trong tiếp cậnthông tin và đảm bảo quyền phụ nữ Ba là cần đặc biệt chú ý giảm bớt nguy cơ dễ bịtổn thương của người nghèo thông qua sự trợ giúp của Hội chữ thập đỏ, Uỷ banphòng chống lụt bão, tham gia Bảo hiểm y tế, chương trình tiết kiệm của cộng đồng,xây dựng mạng lưới An sinh xã hội, xoá đói giảm nghèo
Báo cáo phát triển Việt Nam 2004[22], báo cáo này đánh giá hiện trạng
nghèo ở Việt Nam So sánh với kết quả Đánh giá nghèo đói đã được thực hiện trướcđây có sử dụng bộ số liệu Điều tra Mức sống Dân cư (ĐTMSDC) Báo cáo này sửdụng một bộ số liệu mới từ một cuộc điều tra tương tự, với bảng hỏi ngắn hơn,nhưng mẫu điều tra lớn hơn nhiều gọi là Điều tra Mức sống Hộ gia đình 2002(ĐTMSHGĐ) đã tạo một cơ hội tốt để cập nhập những hiểu biết đã thu được từnhững cuộc điều tra trước Tuy nhiên, báo cáo này sẽ không hoàn toàn dựa vào phântích số liệu thống kê Nó còn dựa vào hàng loạt những Đánh giá Nghèo đói có sựtham gia của người dân (PPA) hiện đã được thực hiện ở 47 xã phường thuộc tất cảcác vùng Quy mô mẫu lớn hơn của cuộc điều tra ĐTMSHGĐ năm 2002, và phạm viđịa lý rộng của các PPA có nghĩa là lần đầu tiên Việt Nam có thể có được nhữnghiểu biết đáng tin cậy về bản chất khác nhau của tình trạng nghèo ở những vùng khácnhau của đất nước Do đó, báo cáo này được bổ sung thêm bằng 7 Đánh giá Nghèocấp vùng được công bố vào đầu năm 2004, nhằm hỗ trợ thực hiện chiến lược toàndiện về tăng trưởng và giảm nghèo (CPRGS) ở mọi cấp: cấp quốc gia, cấp ngành vàcấp tỉnh
Trang 8Bằng cách làm r bản chất và những yếu tố quyết định tình trạng nghèo ở ViệtNam, và xem chúng thay đổi như thế nào kể từ đánh giá nghèo lần trước, báo cáo sẽlàm r tầm quan trọng của việc làm phi nông nghiệp và những chính sách góp phần th
c đẩy sự phát triển của khu vực tư nhân ngay cả ở những v ng sâu v ng xa Báo cáocũng sẽ khuyến nghị việc xem x t lại cơ cấu chi tiêu công giữa các ngành, và đưa ranhững tiêu chí mang tính hệ thống hơn để đánh giá tác động giảm nghèo của các dự
án đầu tư công, mà nhờ đó gi p cải thiện Chương trình Đầu tư công Báo cáo đề xuấtmột phương pháp thực tế để kết hợp số liệu thống kê với tham vấn nhằm xác địnhnhững xã và hộ nào cần được hưởng lợi từ các chương trình mục tiêu Đồng thời báocáo cũng đề xuất những cơ chế cụ thể nhằm th c đẩy sự tham gia của người dân vàoquá trình ra quyết định ở địa phương
Xét từ góc độ phương pháp luận, báo cáo này là nổ lực nhằm kết hợp nhữngđiểm mạnh của phương pháp thống kê với phương pháp có sự tham gia của ngườidân trong đánh giá nghèo đói và những yếu tố quyết định nghèo đói Báo cáo sẽ dựavào cả phân tích chi tiết các số liệu điều tra hộ và sử dụng nhiều các Đánh giá nghèo
có sự tham gia của nguời dân (PPA)
Báo cáo đánh giá Nghèo Việt Nam 2012[23], báo cáo này đua ra một cách
nhìn mới về cuộc sống của nguời nghèo gồm cả nam, nữ, và trẻ em, đồng thời đi sâutìm hiểu những hạn chế cũng nhu cơ hội hiện thời của họ để thoát nghèo Báo cáodựa trên một tập hợp các tài liệu phong phú gồm các phân tích nghèo và nền tảngkiến thức tuyệt vời từ những báo cáo truớc đó, và báo cáo này nhằm đạt ba mục đích:truớc hết, báo cáo đề xuất sửa đổi hệ thống theo dõ i nghèo của Việt Nam - thôngqua sử dụng dữ liệu tốt hơn, sử dụng các chỉ số tổng về phúc lợi cập nhật, và sử dụngchuẩn nghèo mới - nhằm đảm bảo những dữ liệu và chỉ số đó phù hợp hơn với điềukiện kinh tế - xã hội mới hiện nay của Việt Nam Thứ hai, báo cáo xem xét lại nhữngthực tế đuợc cho là hiển nhiên về tình trạng thiếu thốn và nghèo ở Việt Nam, và xâydựng một bức tranh nghèo cập nhật trên cơ sở sử dụng Điều tra Mức sống Hộ Gia
Trang 9đình Việt Nam (VHLSS) năm 2010 và những nghiên cứu thực địa định tính mới.Thứ ba, báo cáo phân tích những thách thức chính trong công tác giảm nghèo trongthập kỷ tiếp theo, gồm những hình thái giàu nghèo theo vùng đang thay đổi, tỉ lệnghèo cao, và tình trạng nghèo dai dẳng của các nhóm dân tộc thiểu số, và mức độbất bình đ ng ngày càng tăng trong huởng thành quả phát triển và tiếp cận cơ hội
Báo cáo đánh giá nghèo của Việt Nam trong năm 2012, cho rằng dù tiến bộđáng kể những nhiệm vụ giảm nghèo vẫn chua phải hoàn thành với những lý do sau:
+ Những hộ nghèo truớc kia vẫn dễ bị tái nghèo do: Các cú sốc về thời tiết,sức khỏe và rủi ro truớc các c sốc về thu nhập khác vẫn phổ biến và ở một vài nơithậm chí còn gia tăng Tốc độ phát triển nhanh chóng của Việt Nam đã làm nảy sinhnhững thách thức mới nhu: Những lao động ở độ tuổi 40, 50 chưa đưa ra nhữngquyết định về học hành và nâng cao kỹ năng làm việc trong một nền kinh tế kháchoàn toàn, dựa vào một hệ thống khuyến khích hoàn toàn khác Nhiều người lạikhông có kỹ năng hay trình độ để kiếm việc trong nền kinh tế đang được hiện đạihóa nhanh chóng Thậm chí những lao động trẻ sau khi học xong thường không đượcđào tạo đầy đủ để làm việc trong môi trường đòi hỏi nhiều kỹ năng làm việc
+ Hiện nay bất bình đẳng đã xuất hiện trở lại, nhiều người dân Việt Nam tỏ ra
lo ngại về tình trạng bất bình đ ng có xu hướng gia tăng
+ Phát triển con người không đồng đều cũng gây ra sự bất bình đẳng trong thunhập Mặc dù Việt Nam đã làm tốt việc đảm bảo sự bao phủ của các dịch vụ cơ bảnsong chất lượng không đồng nhất và có sự khác biệt lớn có thể nhận thấy r giữa các
hộ và các v ng nghèo và khá giả Với động thái hướng tới “xã hội hóa” các dịch vụ y
tế và giáo dục, việc tiếp cận dịch vụ trở nên gắn kết chặt chẽ hơn với thu nhập vàgánh nặng chi trả của người dân cho chi phí y tế và giáo dục đang gia tăng
Ngoài ra còn có các nghiên cứu của Oxfam và Action:
thiểu số tại Việt Nam (2013) [32], nghiên cứu trường hợp tại Hà Giang, Nghệ An và
Trang 10Đăk Nông của nhóm tư vấn công ty Trường Xuân do Hoàng Xuân Thành làmTrưởng nhóm Nghiên cứu này áp dụng cách tiếp cận “điểm sáng” trong phân tíchcác “mô hình giảm nghèo”, nhằm tìm hiểu những yếu tố dẫn đến những hộ gia đình
và cộng đồng dân tộc thiểu số (DTTS) điển hình có kết quả giảm nghèo, cải thiện đờisống tốt hơn các hộ gia đình và cộng đồng khác trong cùng bối cảnh Mỗi “mô hìnhgiảm nghèo” được khảo sát đều dựa trên các yếu tố tiên phong, lan tỏa, gắn kết cộngđồng, tận dụng lợi thế, thích ứng với điều kiện mới, đa dạng hóa sinh kế, phòngchống rủi ro và quản trị địa phương Các yếu tố này có mức độ thành công khác nhau
ở từng cộng đồng DTTS, dẫn đến kết quả giảm nghèo và cải thiện đời sống khácnhau
Báo cáo nghiên cứu Vai trò của thi ết ch ế th ôn bản trong giảm ngh è o tại
một số cộng đồng dân tộc thiểu số điển hình ở Việt Nam (2013)[33], nghiên cứu
trường hợp tại Điện Biên, Quảng trị, Đăk Lăk và Trà Vinh của nhóm tư vấn công tyTrường Xuân do Hoàng Xuân Thành làm Trưởng nhóm Theo cách tiếp cận “điểmsáng”, nghiên cứu này tìm hiểu vai trò tích cực của các thiết chế thôn bản đối với cảithiện đời sống và giảm nghèo tại một số cộng đồng DTTS điển hình
Tại các địa bàn khảo sát, các thiết chế truyền thống/phi chính thức và thiếtchế mới/chính thức luôn cùng song hành Dù đã suy yếu và biến đổi nhiều trong bốicảnh mới, các thiết chế phi chính thức/truyền thống vẫn đóng vai trò tích cực quantrọng đối với cải thiện đời sống và giảm nghèo trong các cộng đồng DTTS ở ViệtNam Thúc đẩy tiên phong và lan tỏa; thúc đẩy liên kết và hợp tác; thúc đẩy tiếng nói
và trách nhiệm giải trình; thúc đẩy tham gia và trao quyền; gìn giữ và phát huy bảnsắc, văn hóa dân tộc; thúc đẩy an sinh dựa vào cộng đồng Với tất cả các vai trò nêutrên, các thiết chế thôn bản giúp phát huy nội lực cộng đồng và tăng hiệu quả các hỗtrợ từ bên ngoài, từ đó giúp cải thiện đời sống người dân và giảm nghèo
Mặc dù không liên quan trực tiếp đến vấn đề nghèo đói nhưng báo cáo Thúc
đẩy tăng năng suất nông nghiệp và thu nhập nông thôn tại Việt Nam: Bài học từ kinh
Trang 11nghiệm của khu vực (2010)[36], với sự tài trợ của Chương trình phát triển Liên hợp
quốc (UNDP) đã đề cập vấn đề quan trọng nhất của mọi người nghèo là lao động vàđất đai Ở một nước đang phát triển, gần như toàn bộ thu nhập nông thôn đều liênquan trực tiếp hoặc gián tiếp đến kinh tế nông nghiệp Do đó, tăng thu nhập củangành nông nghiệp sẽ có tác động lan tỏa đến kinh tế nông thôn nói chung Tăngtrưởng của ngành nông nghiệp đóng góp trực tiếp vào phúc lợi cho người dân nôngthôn bằng cách tăng thu nhập của người nông dân và gia đình của họ Báo cáo nàyxác định ba nhóm động lực lớn làm tăng sản lượng nông nghiệp: sự gia tăng cácnguồn lực đất đai, các nguồn tài nguyên khác và đổi mới công nghệ; sự tăng giá vàcác biện pháp khuyến khich kinh tế theo ngành, bao gồm cả sự cải thiện các điềukiện kinh tế vĩ mô; và việc cải cách các luật có tác động đến thị trường đất đai và cácyếu tố sản xuất khác Ở các nước đang phát triển, ba nhóm động lực này đều có tácđộng tới việc tăng thu nhập ở nông thôn mặc d với mức độ khác nhau tùy thuộc vàotừng nước và từng thời điểm [36, tr.16]
Một góc nhìn khá thú vị, một mối liên hệ chặt chẽ mà ít cá nhân, tổ chức
nghiên cứu về nghèo quan tâm đó là nghèo đói và rừng Cuốn sách Giảm nghèo va
Rừng ở Việt Nam (2005) của nhóm tác giả William D Sunderlin, Hu nh Thu Ba đã lý
giải mối quan hệ giữa giảm nghèo và rừng ở Việt Nam như sau Một là mối quan hệnhân quả quan trọng giữa sự biến đổi sinh kế nông thôn và những thay đổi mạnh mẽ
về độ che phủ rừng bởi hai yếu tố này xuất hiện trên cùng vị trí địa lý và cùng thờigian Hai là đời sống của người nghèo ở các v ng sâu v ng xa ở nông thôn phụ thuộckhá nhiều vào nguồn hàng hóa và dịch vụ môi trường từ các rừng tự nhiên Ba là mặc
dù vẫn phụ thuộc vào rừng, một số người dân nông thôn vẫn có lợi ích lớn từ việcmất rừng thông qua việc chuyển đổi đất rừng thành đất nông nghiệp, khai thác và bán
gỗ cũng như cấc sản phẩm từ rừng khác lấy tiền làm vốn[38, tr.4]
Ngoài ra, hiện nay còn rất nhiều công trình nghiên cứu cũng như các báo cáokhoa học đã quan tâm và phân tích về vấn đề này Các tác giả đã đề cập tới các vấn
Trang 12đề liên quan đến đói nghèo như: hiện trạng đói nghèo, các nguyên nhân nghèo, yếu
tố dẫn tới việc thoát nghèo, chênh lệch giàu nghèo, các chính sách hỗ trợ cho hộnghèo, chính sách phân phối cho người nghèo v v
Khi nghiên cứu về hiện trạng đói nghèo có một số tác giả đã đề cập và nghiêncứu tới hiện trạng đói nghèo Tiến sỹ Đặng Kim Sơn: báo cáo “Đói nghèo và bấtbình đẳng ở Việt Nam”, Hà Nội ngày 9/12/2003 Báo cáo này thông qua việc sửdụng các số liệu được lấy từ điều tra mức sống hộ gia đình Việt Nam năm 1998,Tổng điều tra nhà ở và dân số năm 1999 Cùng đó là sử dụng phương pháp đo lườngchỉ số nghèo, phương pháp đo lường bất bình đ ng và phương pháp phân tích hồi quytrong không gian tổng thể Qua đó tác giả nêu lên thực trạng đói nghèo thông qua cácvấn đề thu nhập, chi tiêu, nêu lên sự bất bình đ ng giữa các v ng và nêu lên được tỷ lệđói nghèo ở Việt Nam
Về nguyên nhân nghèo và yếu tố dẫn đến việc thoát nghèo, đã có nhiều
nghiên cứu về vấn đề này Báo cáo nghiên cứu Gi Vi t Na : thành tim va thách thức của Viện Khoa học Xã hội Việt Nam năm 2011 đã phân tích
bối cảnh nghèo của đồng bào DTTS, trong đó đề cập đến những khó khăn chính về
cơ sở hạ tầng, tạo việc làm, khả năng tiếp cận các dịch vụ xã hội, chất lượng giáodục, các rào cản ngôn ngữ và các định kiến xã hội về năng lực của nhóm dân tộcthiểu số Nhóm đồng bào dân tộc thiểu số, đã dần dần chuyển từ cảnh thiếu phươngtiện để tiếp cận thông tin đến cảnh thiếu khả năng hấp thụ và sử dụng thông tin hiệuquả để cải thiện sinh kế cũng như mức sống của mình
Báo cáo P tí i qu ia: D t v P t triển năm 2009
của Ngân hàng Thế giới đã xác định ba xu hướng ảnh hưởng tới các kết quả về mặtkinh tế của các cộng đồng người dân tộc thiểu số và người Kinh, trong đó bao gồm:những khác biệt về tài sản, khác biệt về năng lực và khác biệt về tiếng nói Trongtừng xu hướng tổng thể này lại có nhiều nguyên nhân cụ thể dẫn đến tình trạngnghèo của người dân tộc thiểu số và các nguyên nhân này được tóm tắt thành sáu
Trang 13“Nhân tố chính gây nên tình trạng bất lợi”:
1 Ít được tiếp cận với giáo dục hơn
2 Ít di chuyển hơn
3 Ít được tiếp cận với các dịch vụ tài chính hơn
4 Năng suất đất đai thấp hơn và chất lượng đất ké m hơn
Phân tích xã hội quốc gia cũng kết luận rằng vấn đề giảm nghèo phụ thuộc vào các
cách tiếp cận toàn diện để có thể tháo gỡ từng nhân tố gây ra khó khăn mà người dântộc thiểu số đang phải đối mặt [23, tr 148]
Báo cáo nghiên cứu ‘ ‘Thiểu số cần tiến kịp đa số’’ định kiến trong quan hệ tộc
người Việt Nam Phạm Quỳnh Phương và các cộng sự (2013) Khẳng định, định kiến
không phải chỉ tồn tại ở người Kinh mà ở khắp các các tộc người, ví dụ người Thái
và người Hmông ở Kỳ Sơn kỳ thị người Khơ Mú, người Chăm ở Ninh Thuận địnhkiến với người Raglai, người Mường ở Hòa Bình hay người Tày ở Bắc Kạn địnhkiến với người Mông và người Dao Định kiến vốn thường mang yếu tố tiêu cực, đãtồn tại lâu đời trong lịch sử gây hậu quả lâu dài, ngoài việc đưa đến các chính sáchkhông ph hợp với thực tế cuộc sống của các cộng đồng dân tộc thiểu số, định kiếntộc người còn làm giảm sự tự tôn về bản sắc, các thực hành văn hoá và khả năng tộcngười
Đối với vấn đề nghèo và phân hóa giàu nghèo ở Việt Nam có báo cáo Bi ói
Trang 14v p óa i t ớ ta của Tác giả
Nguyễn Văn Thiều 2004, trong đó phân tích và đánh giá thực trạng phân hóa đóinghèo và quá trình phân tầng xã hội ở một số tỉnh thuộc nông thôn Việt Nam đương
đại Vấn đề phân hoá giàu - nghèo trong nền kinh te thị trường ở Việt Nam hiện nay
của tác giả Bùi Thị Hoàn nghiên cứu về vấn đề phân hoá giàu - nghèo trong nền kinh
tế thị trường Việt Nam và một số vấn đề lý luận cơ bản về sự phân hoá giàu - nghèo.Phân tích thực trạng, nguyên nhân, xu hướng vận động và những vấn đề đặt ra từ sựphân hoá đói nghèo trong nền kinh tế thị trường hiện nay, c ng đề xuất một số giảipháp chủ yếu nhằm hạn chế sự phân hoá giàu - nghèo trong nền kinh tế thị trường ở
Việt Nam Kỷ yếu hội thảo Vấn đề phân phổi va phân hoá giàu nghèo trong điều
kiện phát triển kinh te thị trường theo định hướng xã hội ch ủ nghĩa ở nước ta của
tác giả Nguyễn Thị Hằng, Lê Hữu Tầng, Nguyễn Đình Kháng (2004), Nxb Lao động
Xã hội, Hà Nội, bao gồm các bài tham luận nghiên cứu những tác động của sự hìnhthành và phát triển kinh tế thị trường đến quan hệ phân phối, phân tầng xã hội, phânhoá giàu nghèo và cách giải quyết mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế với công
bằng xã hội Tác giả Nguyễn Thị Hằng 2005 “Phân phổi va phân hoá giàu nghèo
sau 20 năm đổi mới ’’ đã tổng kết năm vấn đề lớn về tác động của sự hình thành và
phát triển nền kinh tế thị trường đến quan hệ phân phối thu nhập giữa các bộ phận,tầng lớp xã hội và đời sống xã hội nước ta; về phân hoá giàu nghèo; phân tầng xãhội, thu nhập và mức sống; giải quyết mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế với côngbằng xã hội; lao động, việc làm
Vấn đề nghèo trong đồng bào dân tộc thiểu số có tác giả Hà Quế Lâm (2002),
Xóa đói giảm nghèo ở vùng DTTS nước ta hiện nay - thực trạng va giải pháp, Nxb
Chính trị Quốc gia, Hà Nội Bùi Minh Đạo chủ biên (2003), Một sổ vấn đề giảm
nghèo ở các DTTS Việt Nam, Nxb Khoa học xã hội, Hà
Nội và Thực trạng đói nghèo va một sổ giải pháp xoá đói giảm nghèo đổi với các
DTTSTC Tây Nguyên Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội (2005), trong đó tác giả đi sâu
Trang 15vào tìm hiểu thực trạng và nguyên nhân đói nghèo của DTTS tại chỗ Tây Nguyên
Về đánh giá tác động của Chương trình 135: có tác giả Phùng Đức Tùng
(2012), Tác động của Chương trinh 135 giai đoạn hai qua lăng kính hai cuộc điều
tra đầu kỳ va cuổi kỳ, Hà Nội; Phạm Thái Hưng và cộng sự (2008) Báo cáo phân tích điều tra c ơ bản Ch ương trinh 135 -II, và (2011) Ngh èo c ủa dân tộc thiểu sổ ở
Vi ệt Nam : Hiện trạng va Thách th ức ở các xã thuộ c Ch ương tr in h 135 giai đoạn
2, 2006 - 2007 Mặc dù các cuộc Khảo sát ý kiến người dân về Chương trinh 135
Giai đoạn II cho thấy rằng nhin chung người dân có mức độ hài lòng cao và đánh giácao những hỗ trợ của Chương trình Tuy nhiên, kết quả khảo sát trong Điều tra cơbản cho thấy sự thiếu hụt đáng kể về mức độ tiếp cận của đồng bào dân tộc thiểu sốvới cơ sở hạ tầng và dịch vụ thiết yếu Sự khác biệt giữa nhóm dân tộc thiểu số vớinhóm dân tộc đa số được thể hiện đặc biệt r n t ở các lĩnh vực lương thực, nước sạch
và thuốc men Nhìn tổng thể thì khoảng một nữa số người dân tộc thiểu số trongĐiều tra cơ bản cho rằng họ “không hài lòng” với mức sống hiện nay của họ
2.2 Nghiên cứu về người Ê đê
Hiện nay có khá nhiều công trình và sách nghiên cứu về người Ê đê như tác
phẩm Rừ i T ợng (2008) của Henri Maitre do Lưu Đình Tuân
dịch, Nguyên Ngọc hiệu đính, Nxb tri thức, Hà Nội Sách đã mô tả lại đời sống vănhóa vật chất, tinh thần của những tộc người Tây Nguyên sống gần Trường Sơn doHenri Maitre, khảo sát và viết lại; hỏi đáp về 54 dân tộc Việt Nam của Hội đồng chỉđạo xuất bản sách xã, phường, thị trấn, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà nội2014; nếp sống - phong tục Tây nguyên của Bộ Văn hóa thông tin, Nhà xuất bản Vănhóa thông tin, Hà nội 1995 Tiêu biểu hơn cả là tác phẩm Buôn làng cổ truyền xứThuợng 1994 của tác giả Luu Hùng, Nhà xuất bản Văn hóa Dân tộc và tác phẩmLuật tục Ê đê (1995) của Ngô Đức Thịnh và Chu Thái Sơn Luật tục (tập quán pháp,
lệ tục) là một hình thức của tri thức bản địa, tri thức địa phuơng, đuợc hình thànhtrong quá trình lịch sử lâu dài, qua kinh nghiệm ứng xử với môi truờng và ứng xử xã
Trang 16hội, đã đuợc định hình duới nhiều dạng thức khác nhau, đuợc truyền từ đời này sangđời khác qua trí nhớ, qua thực hành sản xuất và thực hành xã hội Nó huớng đến việchuớng dẫn, điều chỉnh và điều hòa các quan hệ xã hội, quan hệ con nguời với môitruờng tự nhiên Những chuẩn mực ấy của luật tục đuợc cả cộng đồng thừa nhận vàthực hiện, tạo nên sự thống nhất và cân bằng xã hội của mỗi cộng đồng.
Luật tục Tây Nguyên đề cập tới rất nhiều lĩnh vực khác nhau về đời sống cácdân tộc Tây Nguyên: sản xuất, quan hệ sở hữu, tổ chức xã hội, quan hệ cộng đồng,hôn nhân, gia đình, phong tục, lễ nghi, Luật tục là từ đời sống cộng đồng mà hìnhthành, phản ánh chân thực bộ mặt cổ truyền các dân tộc Bởi thế, để tìm hiểu dân tộc
và xã hội tộc nguời, nhất là xã hội cổ truyền, thì luật tục nhu là một tu liệu gốc không
gì có thể thay thế Luật tục Tây Nguyên còn là nguồn tu liệu gốc để nhận biết về bứctranh văn hóa tổng hợp của các dân tộc mẫu hệ, song hệ sinh sống ở miền caonguyên đất đỏ với các đặc trung cơ bản nhu: kiếm sống bằng làm rẫy, chăn nuôi, sănbắn, hái luợm; các nghề thủ công nhu đan mây tre, trồng bông, dệt vải, rèn, gốm để
tự t c cái mặc và đồ gia dụng; ăn với nấu cơm tẻ bằng nồi, ăn với cá, thịt, rau quả;mặc với nam đóng khố, nữ quấn váy, trang sức có vòng đồng và chuỗi hạt; ở theo đạigia đình duới mái nhà của dòng mẹ; buôn là đơn vị xã hội duy nhất và là công xãnông thôn chua phân hóa sâu sắc; hôn nhân trao đổi giữa hai dòng họ; văn hóa thốngnhất theo nhóm địa phuơng; tín nguỡng đa thần nguyên thủy, tin ở vạn vật hữu linh;
xã hội vận hành theo luật tục; văn chuơng truyền miệng và âm nhạc cồng chiêng pháttriển; nam nữ đều thích uống rượu cần, hút thuốc lá cuốn và ăn trầu Luật tục TâyNguyên như đã thể hiện thật chi tiết một hệ văn hóa / bức tranh văn hóa tiêu biểu củacác dân tộc Tây Nguyên
Nhìn chung, các nghiên cứu cơ bản đã cung cấp những tư liệu khá toàn diệngiúp cho việc nhận diện thực trạng đói nghèo và các đặc điểm kinh tế - xã hội, vănhóa của người nghèo đang có xu hướng tập trung nhiều hơn ở nhóm các dân tộc thiểu
số, tạo tiền đề để xây dựng các chính sách xóa đói giảm nghèo trong thời gian qua
Trang 17Các công trình nghiên cứu đã tập trung nghiên cứu tổng quan tình hình kinh tế
- xã hội của dân tộc thiểu số phạm vi quốc gia hoặc v ng dân tộc thiểu số gắn vớivùng địa lý với nhiều phương pháp kết hợp, so sánh đánh giá khoảng cách thu nhậpcủa các nhóm dân tộc, đánh giá vai trò của các thiết chế thôn bản, đánh giá tác độngcủa chính sách giảm nghèo v v Tuy nhiên, nghiên cứu về nghèo trong dân tộc Ê đê
ở Tây Nguyên đến nay vẫn còn ít được quan tâm Mặc dù, cộng đồng người Ê đê làdân tộc sinh sống lâu đời, là một trong những chủ nhân quan trọng tạo nên bản sắcvăn hóa Tây nguyên, có dân số đông thứ 2 trong các dân tộc bản địa ở Tây nguyên
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Mục tiêu của luận văn này là đánh giá thực trạng nghèo của cộng đồng dân tộc
Ê đê ở xã Tâm Thắng và thị trấn Eatling huyện Cư Jút, đánh giá các yếu tố chính ảnhhưởng đến nghèo đối với cộng đồng dân tộc Ê đê ở hai địa phương này Từ đó, đềxuất một số kiến nghị nhằm góp phần giảm nghèo một cách hiệu quả và thúc đẩy sựphát triển trong cộng đồng dân tộc Ê đê ở các địa phương nêu trên
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt mục tiêu trên, luận văn cần thực hiện các nhiệm vụ sau:
- Xác định cách tiếp cận và khung phân tích về nghèo
- Tìm hiểu điều kiện kinh tế, đặc điểm văn hóa, xã hội của cộng đồng dân tộc
Ê đê trên địa bàn
- Mô tả thực trạng nghèo trong cộng đồng dân tộc Ê đê ở xã Tâm Thắng và thịtrấn Eatling huyện Cư Jút, tỉnh Đắk Nông
- Xác định các yếu tố ảnh hưởng đến tình trạng nghèo trong cộng đồng dân tộc
Ê đê ở xã Tâm Thắng và thị trấn Eatling huyện Cư Jút, tỉnh Đắk Nông
- Đề xuất kiến nghị nhằm góp phần giảm nghèo một cách hiệu quả
Trang 184 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Thực trạng nghèo, các yếu tố ảnh hưởng đến nghèo trong cộng đồng dân tộc Ê
đê ở xã Tâm Thắng và thị trấn Eatling huyện Cư Jút, tỉnh Đắk Nông
4.2 Phạm vi nghiên cứu, khách thể nghiên cứu
Trong phạm vi của đề tài này, luận văn chỉ tập trung tìm hiểu thực trạngnghèo và các yếu tố ảnh hưởng đến nghèo trong cộng đồng dân tộc Ê đê ở xã TâmThắng huyện Cư Jút, tỉnh Đắk Nông
Nghèo có liên quan đến rất nhiều khía cạnh đời sống người dân tộc thiểu số(vật chất và tinh thần), ngược lại có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng đến tình trạng nghèocủa một gia đình, một nhóm người, một cộng đồng hay một quốc gia Do đó, trongphạm vi của đề tài luận văn này chủ yếu tập trung vào miêu tả và đánh giá năm loạitài sản sinh kế hay còn gọi là năm loại vốn theo Khung phân tích sinh kế bền vững,
để đảm bảo an ninh sinh kế hay giảm nghèo, bao gồm: vốn vật chất, vốn tài chính,vốn xã hội, vốn con người và vốn tự nhiên
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Câu hỏi nghiên cứu
1) Thực trạng nghèo của đồng bào dân tộc Ê đê tại xã Tâm Thắng, huyện Cư Jút, tỉnh Đăk Nông hiện nay như thế nào ?
2) Người đồng bào Ê đê nghèo đang bị hạn chế như thế nào trong tiếp cận các nguồn lực sinh kế ?
3) Những nhân tố thuận lợi và cản trở hộ nghèo tiếp cận các nguồn vốn sinh kế
để giảm nghèo ?
5.2 Giả thuyết nghiên cứu
- Hiện nay người nghèo đang bị hạn chế trong việc tiếp cận các nguồn lựcsinh kế;
- Ảnh hưởng của những nhân tố thuận lợi và những nhân tố cản trở những hộ
Trang 19nghèo tiếp cận các nguồn vốn sinh kế để giảm nghèo bao gồm các nhân tố bên trong
và nhân tố bên ngoài là khác nhau;
5.3 Phương pháp nghiên cứu
5.3.1 Phương pháp thu thập thông tin sẵn có và phân tích văn bản
Luận văn sử dụng, kế thừa những tài liệu thứ cấp đã có liên quan đến đề tàigồm các tài liệu thư tịch như sách, tạp chí, đề tài, dự án liên quan trong và ngoàinước; các tài liệu thứ cấp ở cấp xã, huyện
5.3.2 Phương pháp nghiên cứu định tính
Phỏng vấn sâu và thảo luận nhóm là 2 kỹ thuật thu thập thông tin của phươngpháp nghiên cứu định tính, là công cụ hiệu quả trong nghiên cứu khoa học - xã hộihiện nay Phương pháp thu thập thông tin định tính cho ta hiểu được thái độ, kinhnghiệm và nhận thức của người được hỏi đối với vấn đề được nghiên cứu Qua đógiúp cho người nghiên cứu phát hiện ra vấn đề mới trong quá trình nghiên cứu
Trong đề tài tác giả thực hiện 32 trường hợp khảo sát định tính, trong đó:
- Về phỏng vấn sâu có 30 trường hợp (18 nam và 12 nữ), bao gồm:
+ Phỏng vấn đối tượng là cán bộ xã, thôn gồm: 1 đại diện lãnh đạo chínhquyền xã, 1 đại diện lãnh đạo mặt trận xã, 1 phụ trách công tác lao động thương binh
xã hội của xã, 4 Trưởng buôn, 4 Chi hội trưởng phụ nữ buôn, 4 Chi hội trưởng hộinông dân buôn và đại diện phòng Dân tộc, phòng Lao động thương binh xã hội vàphòng Nông nghiệp và phát triển nông thôn huyện - các đơn vị - có liên quan đếncông tác giảm nghèo, công tác dân tộc cấp huyện
+ Phỏng vấn đối tượng là người dân trong cộng đồng dân tộc Ê đê có 12người gồm: 1 đại diện hộ gia đình có mức sống khá giả, 1 đại diện hộ gia đình cómức sống trung bình và 1 đại diện hộ gia đình nghèo ở 4 buôn (tất cả các trường hợpphỏng vấn hộ gia đình này đều thực hiện tại nhà họ để kết hợp thực hiện phươngpháp quan sát)
- Về thảo luận nhóm: có 2 cuộc, bao gồm: 1 cuộc thảo luận nhóm cho đối
Trang 20tượng là đại diện cán bộ chính quyền, đảng, các đoàn thể cấp buôn; 1 cuộc thảo luậnnhóm là đại diện cán bộ chính quyền, đảng, các đoàn thể cấp xã.
5.4 Khung phân tích
Cách tiếp cận sinh kế bền vững được coi là một cách tiếp cận toàn diện về cácvấn đề phát triển thông qua việc thảo luận về sinh kế của con người và đói nghèotrong các bối cảnh khác nhau Về mặt khái niệm, cách tiếp cận này có nguồn gốc từcác nghiên cứu phát triển liên quan đến đói nghèo và giảm nghèo, nổi bật nhất là cácphân tích của Amartya Sen, Robert Chambers và một số học giả khác Nhấn mạnhđến tính hiệu quả của các hoạt động phát triển, các tiếp cận sinh kế bền vững
(sustainable livelihood approaches) là kết quả của cuộc tranh luận giữa các nhà
nghiên cứu và thực hành phát triển về phát triển nông thôn Trong đó, khung phântích sinh kế bền vững do Bộ Phát triển Quốc tế Anh (Department for InternationalDevelopment - DFID) thúc đẩy [Carney (ed.), 1998] được các học giả và các cơ quanphát triển ứng dụng rộng rãi[18, tr.12]
Theo định nghĩa của khung phân tích sinh kế bền vững, “sinh kế bao gồm cáckhả năng, các tài sản (bao gồm cả các nguồn lực vật chất và xã hội) và các hoạt độngcần thiết để kiếm sống” (DFID, 1999, tr 4) Một sinh kế được coi là bền vững khi nó
có khả năng ứng phó và phục hồi khi bị tác động, hay có thể thúc đẩy các khả năng
và tài sản ở cả thời điểm hiện tại và trong tương lai trong khi không làm xói mòn nềntảng của các nguồn lực tự nhiên [18, tr.20]
Theo khung sinh kế bền vững của DFID, năm loại vốn này được hiểu là: (a)
Vốn vật chất bao gồm cơ sở hạ tầng và các loại hàng hóa mà người sản xuất cần để
hậu thuẫn sinh kế; (b) Vốn tài chính ngụ ý về các nguồn lực tài chính mà con người
sử dụng để đạt được các mục tiêu sinh kế của mình; (c) Vốn xã hội là các nguồn lực
xã hội mà con người sử dụng để theo đuổi các mục tiêu sinh kế của mình, bao gồmquan hệ, mạng lưới, thành viên nhóm, niềm tin, sự phụ thuộc lẫn nhau và trao đổi
cung cấp các mạng an ninh phi chính thống quan trọng; (d) Vốn con người đại diện
Trang 21cho các kỹ năng, tri thức, khả năng làm việc và sức khỏe tốt, tất cả cộng lại tạo thànhnhững điều kiện gi p con người theo đuổi các chiến lược sinh kế khác nhau và đạtđược các mục tiêu sinh kế Ở cấp độ hộ gia đình, vốn con người là số lượng và chấtlượng lao động của hộ và loại vốn này khác nhau tùy thuộc vào kích cỡ của hộ, trình
độ giáo dục và kỹ năng nghề nghiệp, khả năng quản lý, tình trạng sức khỏe, tri thức
về các cấu tr c sở hữu chính thống và phi chính thống (như các quyền, luật pháp,
chuẩn mực, cấu trúc chính quyền, các thủ tục ); và (e) Vốn tự nhiên là tất cả những
nguyên vật liệu tự nhiên để tạo dựng sinh kế Có rất nhiều nguồn lực tạo thành vốn
tự nhiên bao gồm cả các nguồn lực đất đai[18, tr.30] Năm nguồn vốn này tác độnglẫn nhau và tác động trực tiếp đến tình trạng nghèo trong cộng đồng
Trang 226 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Ý nghĩa lý luận
Cách tiếp cận sinh kế đã được các cá nhân, tổ chức trong nước và quốc tế ápdụng rộng rãi trong nghiên cứu các vấn đề kinh tế, xã hội Tuy nhiên, việc áp dụngđánh giá các nguồn lực sinh kế đối với cộng đồng dân tộc Ê đê nghèo có thể gópthêm một cách nhìn phong phú hơn về lý thuyết nghèo trong các dân tộc thiểu số ởnước ta
Ý nghĩa thực tiễn
Luận văn sẽ cung cấp đầy đủ và có hệ thống về những tư liệu, số liệu liênquan đến thực trạng nghèo trong cộng đồng dân tộc Ê đê ở xã Tâm Thắng, huyện CưJút, tỉnh Đăk Nông Đồng thời, cũng đã làm rõ nguyên nhân nghèo và những yếu tốcản trở sự phát triển của các hộ nghèo, qua đó đề xuất những giải pháp giảm nghèohiệu quả
7 Cơ cấu của luận văn
Bố cục của đề tài này gồm 3 phần: phần mở đầu, nội dung và kết luận
Trong phần mở đầu, tác giả khái quát những vấn đề cần nghiên cứu như: lý
do chọn đề tài, đối tượng, khách thể, phạm vi, mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu và ýnghĩa của đề tài
Trong phần nội dung bao gồm:
Chương 1 Cơ sở lý luận của đề tài
Chương 2 Thực trạng nghèo của đồng bào dân tộc Ê đê tại xã Tâm Thắng vàthị trấn Eatling, huyện Cư Jút, tỉnh Đăk Nông
Chương 3 Những yếu tố ảnh hưởng tình trạng nghèo của đồng bào dân tộc Ê
đê tại xã Tâm Thắng, huyện Cư Jút, tỉnh Đăk Nông
Phần kết luận: những kết luận có được sau khi trả lời các câu hỏi nghiên cứucủa đề tài đưa ra, và nêu lên những khuyến nghị
Trang 23PHẦN NỘI DUNG Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1 Một số khái niệm
1.1.1 Khái niệm về nghèo
Theo Báo cáo phát triển Việt Nam 2004 nghèo định nghĩa như sau:
“Nghèo là tình trạng thiếu thốn ở nhiều phương diện: Thu nhập hạn chế hoặcthiếu cơ hội tạo thu nhập, thiếu tài sản để bảo đảm tiêu dùng trong những lúc khókhăn và dễ bị tổn thương trước những đột biến bất lợi, ít có khả năng truyền đạt nhucầu và những khó khăn tới người có khả năng giải quyết, ít được tham gia vào quátrình ra quyết định, cảm giác bị sỉ nhục, không được người khác tôn trọng ” [22, tr.27]
Bên cạnh đó, nghèo còn được hiểu theo nghĩa tương đối như sau: Nghèo làtình trạng một bộ phận dân cư sống dưới mức trung bình của cộng đồng Định nghĩanày có liên quan đến vấn đề bất bình đẳng trong xã hội, mức sống trung bình ở cácnước là khác nhau, giữa các vùng, các địa phương là khác nhau nên nghèo theo quanniệm trên chỉ mang ý nghĩa tương đối
Ngoài ra, còn có rất nhiều quan niệm khác nhau về nghèo, theo Ngân hàngphát triển Châu Á: “Nghèo là tình trạng thiếu những tài sản cơ bản và cơ hội mà mỗicon người có quyền được hưởng Mọi người cần được tiếp cận với cơ sở giáo dục vàcác dịch vụ chăm sóc sức khoẻ cơ bản, các hộ nghèo có quyền duy trì cuộc sốngbằng chính lao động của họ và được trả công một cách hợp lý, cũng như được sự bảotrợ khi có biến động bên ngoài”
Mặc dù có sự khác biệt trong cách nhìn nhận về vấn đề nghèo, tuy nhiên tậptrung lại các khái niệm này đều phản ánh ba khía cạnh chủ yếu của người nghèo là:
1 Người nghèo có mức sống thấp hơn mức sống trung bình của cộng đồng
dân cư
Trang 242 Người nghèo không được thụ hưởng những nhu cầu cơ bản ở mức tối
thiểu dành cho con người
3 Người nghèo thiếu cơ hội lựa chọn tham gia vào quá trình phát triển của cộng đồng
Nghèo đa chiều
Chỉ số nghèo đa chiều (Multidimensional Poverty Index - MPI) được tổ chứcSáng kiến phát triển con người và nghèo đói của Đại học Oxford (OPHI) cùngUNDP sử dụng trong Báo cáo Phát triển Con người (Human Development Report),công bố vào ngày 2/11/2011 Chỉ số MPI được xây dựng dựa trên phương pháp luậncủa Alkire và Foster (2007) bao gồm ba chiều đo lường là giáo dục, y tế và mức sốngvới mười chỉ báo với các trọng số khác nhau Phương pháp của Alkire và Fosterđược coi là có tính chất mềm dẻo và có thể áp dụng với nhiều chiều, nhiều chỉ báo vàtrọng số khác nhau để phù hợp với đặc điểm kinh tế - xã hội cụ thể của địa phương.Báo cáo đánh giá nghèo đô thị ở Hà Nội và TP Hồ Chí Minh có áp dụng chỉ số MPIdựa trên tám chiều đo lường và 21 chỉ báo với trọng số ngang bằng nhau (UBND TP
Hà Nội, UBND TP Hồ Chí Minh & UNDP, 2010) Báo cáo Nghèo của Tổng cụcThống kê năm 2010 cũng có áp dụng chỉ số nghèo đa chiều cho trẻ em bao gồm cáckhía cạnh giáo dục, y tế, dinh dưỡng, nhà ở, nước sạch, vệ sinh, không làm việctrước tuổi lao động, vui chơi giải trí, hòa nhập xã hội và được xã hội bảo vệ Trẻ emkhông đạt được tối thiểu hai trong tám chiều đo lường được coi là nghèo đa chiều.Cách tiếp cận này cho phép Tổng cục Thống kê tính tỷ lệ nghèo của trẻ em ở phạm
vi vùng miền và toàn quốc [18tr 2]
Như vậy, sự nghèo khó không chỉ đơn thuần là nghèo về lương thực, thiếucác điều kiện sinh hoạt mà nó bao gồm các yếu tố kìm hãm cá thể đó không tiếp cậnđược đến các nguồn lực hoặc không biết và không thể tìm ra các giải pháp cho bảnthân để thoát ra khỏi tình trạng hiện có Do vậy, đề giải quyết vấn đề giảm nghèo,không chỉ dừng lại ở việc cung cấp lương thực, thực phẩm, tạo việc làm cho người
Trang 25lao động mà còn phải tạo cơ hội cho người nghèo tiếp cận các dịch vụ cơ bản nhưgiáo dục, y tế, các nguồn vốn để phát triển sản xuất và đặc biệt là tạo cho ngườinghèo các cơ hội để có thể tự vươn lên thoát nghèo một cách bền vững
Đo lường nghèo đa chiều ở Việt Nam chính thức được thực hiện phổ biếntrên toàn quốc theo Quyết định số 59/2015/QĐ-TTg ngày 19/11/2015 của Thủ tướngChính phủ về việc ban hành chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều áp dụng cho giai đoạn
2016 - 2020
Đo lường đa chiều, bao gồm việc ước lượng thu nhập quy đổi ra tiền và thuthập thông tin về mức độ thiếu hụt các dịch vụ xã hội cơ bản (y tế, giáo dục, nhà ở,nước sạch và vệ sinh, thông tin)
1) Giáo dục: Trình độ giáo dục của người lớn; Tình trạng đi học của trẻ em.2) Y tế: Tiếp cận các dịch vụ y tế; Bảo hiểm y tế
3) Nhà ở: Chất lượng nhà ở; Diện tích nhà ở bình quân đầu người
4) Điều kiện sống: Nguồn nước sinh hoạt; Hố xí/nhà vệ sinh
5) Tiếp cận thông tin: Sử dụng dịch vụ viễn thông; Tài sản phục vụ tiếp
cận thông tin
1.1.2 Một số khái niệm liên quan
Dân tộc thiểu sổ là những dân tộc có số dân ít hơn so với dân tộc đa số trên
phạm vi lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Dân tộc đa sổ là dân tộc có số dân chiếm trên 50% tổng dân số của cả nước,
theo điều tra dân số quốc gia Việt Nam chính thức công nhận 54 dân tộc, trong đóngười Kinh (Việt) chiếm hơn 85 % dân số, 53 dân tộc thiểu số của Việt Nam chiếmgần 15% dân số
Vù t t iểu s là địa bàn có đông các dân tộc thiểu số c ng sinh
sống ổn định thành cộng đồng trên lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa ViệtNam
Dân tộc Ê đê là một trong những cộng đồng cư dân đã có mặt lâu đời Tây
Trang 26Nguyên Do vậy, cũng hình thành nhiều nhóm địa phương, phân bố rộng khắp trên v
ng Tây nguyên, như: nhóm Kpă, nhóm Adham, nhóm Krung, nhóm Blô v v Tuynhiên, ngày nay do sự giao lưu giữa các nhóm ngày càng mở rộng, nên sự phân biệtgiữa các nhóm địa phương có phần mờ nhạt, ý thức chung của đồng bào tự coi mình
là người Ê đê đã trở nên phổ biến trong các nhóm
Chính sách giảm nghèo là tổng thể các quan điểm, tư tưởng, các giải pháp và
công cụ mà Nhà nước sử dụng để tác động lên các chủ thể kinh tế xã hội nhằm giảiquyết vấn đề nghèo đói, thực hiện mục tiêu xoá đói giảm nghèo, từ đó xây dựng một
xã hội giàu đẹp
Chính sách dân tộc là tổng thể các quan điểm, tư tưởng, các giải pháp và
công cụ mà Nhà nước sử dụng để thực hiện mục tiêu “Các dân tộc bình đẳng, đoànkết, tôn trọng và giúp nhau cùng phát triển ”
Công tác dân tộc là những hoạt động quản lý nhà nước về lĩnh vực dân tộc
nhằm tác động và tạo điều kiện để đồng bào các dân tộc thiểu số c ng phát triển, đảmbảo sự tôn trọng, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân
1.2 Các chuẩn đánh giá nghèo ở Việt Nam
Việt Nam sử dụng hai cách tiếp cận rất khác nhau để đo lường tình trạngnghèo và theo dõi tiến trình giảm nghèo theo thời gian Cả hai cách tiếp cận đềuđược xây dựng từ đầu thập kỷ 1990 và đã được cải tiến theo thời gian
Các tiếp cận thứ nhất do Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội (Bộ LĐ- XH) xây dựng Bộ LĐ-TB-XH vào đầu thập kỷ 1990 được Chính phủ chỉ định là cơquan chịu trách nhiệm chính về các chính sách và chương trình giảm nghèo của ViệtNam Bộ LĐ-TB-XH có nhiệm vụ đề xuất các chuẩn nghèo chính thức cho khu vựcnông thôn và thành thị vào đầu của mỗi Kế hoạch Phát triển Kinh tế Xã hội 5 năm(KH PTKT XH) và xác định tỷ lệ nghèo của giai đoạn ban đầu Thông qua sử dụngcác chuẩn nghèo chính thức, Bộ LĐ-TB-XH chịu trách nhiệm đánh giá những thayđổi về nghèo đói và cập nhật hàng năm danh sách chính thức về các hộ nghèo, và sử
Trang 27dụng kết hợp phương thức “đi từ dưới lên trên” gồm các cuộc khảo sát tại địaphương và các cuộc tham vấn tại làng xã để xác định số người nghèo tại cấp địaphương (cấp xã) Các số liệu xác định về số người nghèo tại cấp địa phương này sau
đó được tổng hợp lại để ước tính tỷ lệ nghèo cho cấp tỉnh và cấp quốc gia Tiến độgiảm nghèo được đánh giá dựa trên các mục tiêu giảm nghèo đề ra trong KH PTKT-
XH Các chuẩn nghèo của Bộ LĐ-TB-XH ban đầu được quy đổi ra thóc, nhưng từnăm 2005 được tính theo phương pháp tiếp cận dựa vào Chi phí cho những Nhu cầu
Cơ bản (CBN) mà vốn tương tự với cách tiếp cận thứ hai (được nêu dưới đây) củaTổng cục Thống kê (TCTK) Các chuẩn nghèo chính thức không được điều chỉnhtheo mức lạm phát, nhưng được xác định lại giá trị thực năm năm một lần Bộ LĐ-TB-XH sử dụng cách thức tiếp cận này để xác định việc phân bổ ngân sách và đề rađiều kiện áp dụng cho các chương trình giảm nghèo mục tiêu (ví dụ như Chươngtrình Mục tiêu Quốc gia về Giảm Nghèo Bền vững/NTP-SPR, Chương trình 30a)
Cách tiếp cận thứ hai do Tổng cục Thống kê (TCTK) chủ trì xây dựng vàthực hiện việc đo lường nghèo đói và giám sát tiến trình giảm nghèo trên cơ sở cáccuộc khảo sát hộ gia đình làm đại diện cho toàn quốc TCTK sử dụng hai phươngpháp khác nhau để đo lường nghèo đói- một phương pháp dựa trên các chuẩn nghèochính thức (có điều chỉnh theo lạm phát) áp dụng cho thu nhập bình quân đầu người,
và một phương pháp sử dụng cách tiếp cận do TCTK và Ngân hàng Thế giới(NHTG) xây dựng vào cuối thập kỷ 1990 Chuẩn nghèo ban đầu của TCTK-NHTGđược xây dựng có sử dụng một phương pháp chuẩn về Chi phí cho những Nhu cầu
Cơ bản trên cơ sở tham chiếu đến rổ hàng lương thực tế của các hộ nghèo tính theocalo (2.100 kcal/ người/ ngày) cộng với một phần phân bổ của nhu cầu hàng philương thực thiết yếu dựa trên xu hướng tiêu dùng của người nghèo Không giống cácchuẩn nghèo chính thức của Việt Nam, chuẩn nghèo TCTK-NHTG được giữ cố địnhtheo sức mua thực tế từ cuối thập kỷ 1990, và được tính theo mức tiêu dùng bìnhquân đầu người vốn được đo lường trong những đợt Khảo sát Mức sống Dân cư của
Trang 28Việt Nam (VHLSS) để xác định được những biến động nghèo đói qua thời gian tạicấp khu vực, tại nông thôn/thành thị và trên cả nước Chuẩn nghèo TCTK-NHTGđược sử dụng rộng rãi ở Việt Nam và trên diễn đàn quốc tế để theo dõ i biến độngnghèo đói từ năm 1998.
Không có phương pháp nào đương nhiên tốt hơn phương pháp kia: cả haiphương pháp này được thiết kế cho các mục tiêu khác nhau và đều có giá trị nhưnhau Điểm mạnh của phương pháp tiếp cận của TCKT-NHTG là đảm bảo đo lườngnhất quán theo thời gian và không gian, cũng như không phụ thuộc những cân nhắc
về ngân sách hoặc chính trị Phương pháp này có chức năng theo dõi quan trọng.Ngược lại, các chuẩn nghèo chính thức của Việt Nam và phương pháp tiếp cận đi từdưới lên lại nhằm giúp đề ra các chỉ tiêu và xác định việc phân bổ nguồn lực cho cácchương trình và chính sách bảo trợ xã hội và giảm nghèo của Chính phủ [23, tr.18]
Nghiên cứu trong đề tài này tác giả sử dụng chuẩn nghèo theo Quyết định số09/2011/QĐ-TTg ngày 30 tháng 01 năm 2011 ban hành chuẩn hộ nghèo, hộ cậnnghèo áp dụng cho giai đoạn 2011 - 2015 và Quyết định số 59/2015/QĐ-TTg ngày19/11/2015 của Thủ tướng Chính phủ, về việc ban hành chuẩn nghèo tiếp cận đachiều áp dụng giai đoạn 2016-2020 làm cơ sở để phân tích
1.3 Các lý thuyết được vận dụng
1.3.1 Lý thuyết cơ cấu hóa
Theo lý thuyết “cơ cấu hóa” hay còn gọi lý thuyết “cấu trúc” - “hành động”của Anthony Giddens cho rằng, cấu trúc vừa được tạo ra nhờ hành động của conngười vừa là phương tiện của hành động xã hội Như vậy, cấu trúc và hành động làmột tính chất hai mặt; cái này không thể tồn tại nếu thiếu cái kia Giddens cho rằng:không giống như phân tử, nguyên tử và các hiện tượng trong khoa học tự nhiên, conngười mang động cơ, tình cảm và tư duy, và luôn có sự lựa chọn nào đó Họ khôngbao giờ bị hoàn cảnh xã hội é p buộc tuyệt đối Luôn sẵn có một vài nguồn lực nàođấy để con người chống lại sức ép xã hội Giddens quan tâm đến ý thức, hoặc tính
Trang 29hay suy ngẫm (reflexivity) và “năng lực hiểu biết” (knowledgeability) của con người.Khi suy ngẫm, người hành động không đơn thuần nghĩ về bản thân, mà còn theo dõ i,giám sát dòng hoạt động và những điều kiện thuộc về cấu tr c hiện hành Như vậy,người hành động liên tục giám sát suy nghĩ và hoạt động của bản thân mình cũngnhư bối cảnh vật chất và xã hội của họ Do đó, họ không bị p buộc một cách đơngiản bởi các lực lượng bên ngoài (như các hiện tượng tự nhiên); họ không hành độngmáy móc và m quáng như khi bị các quy luật của tự nhiên bắt ép Bằng việc suyngẫm về hành động và hoàn cảnh thuộc về cấu trúc của mình, họ bao giờ cũng đượcmột sự lựa chọn nào đó Ở mức độ nhất định, họ luôn có khả năng cưỡng lại nhữngcâu thúc mà cấu trúc xã hội áp đặt cho họ, và có thể gây ảnh hưởng và biến cải hoàncảnh xã hội của mình, tức là biến cải cấu trúc xã hội
Giddens viết: “Mặc dù tất cả chúng ta đều chịu ảnh hưởng của những bối cảnh xã hộinơi bản thân ta sống, nhưng trong hành vi của chúng ta, không ai trong chúng ta bịquy định một cách giản đơn của bối cảnh này Chúng ta sở hữu và tạo ra cá tính riêngcủa chúng ta [ ] Hoạt động của chúng ta vừa tạo ra cấu trúc - tức là định hình - chothế giới xã hội bao quanh ta và đồng thời bị thế giới đó tạo ra cho một cấu trúc” [5,tr.112]
Áp dụng Lý thuyết của Giddens vào nghiên cứu nghèo, Liang Ningxin chorằng, cá thể nghèo khổ đều là chủ thể lý tính, có tính năng động, đều là cá thể nảysinh liên hệ ít nhiều với các cá thể khác Là chủ thể hành động lý tính, nhằm đáp ứngnhu cầu lợi ích đối mặt với cuộc sống, thoát khỏi nghèo khổ, có được cơ hội sống tốthơn, cá thể nghèo khổ có ý hoặc không có ý nảy sinh liên hệ với các cá thể, tổ chứckhác (nhất là những chủ thể có thể đem lại cho mình lợi ích một cách trực tiếp hoặcgián tiếp), tiến hành trao đổi vật chất hoặc phi vật chất, từ đó làm cho quan hệ ngẫunhiên được duy trì ổn định và hình thành mối liên hệ tương đối cố định và thiết chếhóa, mối liên hệ này tức là cơ cấu mạng lưới hóa, tồn tại một cách khách quan Cũng
có thể nói rằng, cá thể năng động thông qua sự tác động lẫn nhau (tiếp x c, giao lưu,
Trang 30trao đổi) tham gia vào cơ cấu mạng lưới Hơn nữa chủ thể hành động cá thể cũng cóthể thu được các nguồn lực khác nhau từ quan hệ mạng lưới được xây dựng và cácmạng lưới khác nhau, từ đó một phần thay đổi tình trạng nắm giữ nguồn lực củamình, thay đổi địa vị của mình và điều này ảnh hưởng đến hành động của cá thểtrong tương lai [26, tr.7].
Khác với quan điểm cơ cấu địa vị, quan điểm cơ cấu mạng lưới chú trọng đến
quan hệ tác động lân nhau giữa cá thể này với cá thể khác; không coi cá thể là cá thể
cô lập, mà là cá thể trong mạng lưới không ngừng nảy sinh liên hệ với cá thể khác;
không nhấn mạnh sự chiếm hữu nguồn lực hiện thực của cá thể, mà là quan tâm đếnnăn lực thu hút nguồn lực của cá thể trong mạng lưới (Bian Yanjie, 1999: 111): nếu
cá thể chiếm giữ vị trí có lợi trong cơ cấu mạng lưới, liên hệ nhiều với các thể có tínhchất khác, như vậy mặc dù trong hiện tại không có cái gì hết, nhưng trong tương lai
họ có thể thu được càng nhiều nguồn lực có lợi trong mạng lưới quan hệ của ch ng
và thể tập hợp các nguồn lực thu được qua mạng lưới xây dựng chính là vốn xã hộinhư Bourdieu đã nói Coleman cũng cho rằng, cá thể thông qua quan hệ xã hội do tácđộng lẫn nhau hình thành, là một loại nguồn lực cá nhân quan trọng, có chức năngsinh sản, có thể tạo thuận lợi cho hành động cá nhân [26, tr.9]
Nói tóm lại, quan điểm cơ cấu mạng lưới và quan điểm cơ cấu địa vị trên thực
tế là hai phương diện phân tích cơ cấu xã hội, hai loại quan điểm này trên thực tế cóquan hệ bổ sung cho nhau (Bian Yanjie, 1999: 113) Trong nghiên cứu nghèo khổ,thông qua việc kết hợp hai loại quan điểm cơ cấu địa vị này, có thể cho ch ng ta thấyđược, việc cải thiện cơ hội sinh sống của cá thể chịu ảnh hưởng, ràng buộc của cơcấu địa vị đã tồn tại, đồng thời cá thể trên thực tế cũng không phải là cá thể bị cơ cấuđịa vị hiện tồn tại hạn chế, mà là một cá thể năng động Cá thể có thể thông qua việctác động qua lại lẫn nhau với các cá thể khác và thể tập hợp (tổ chức) của ch ng đểhình thành cơ cấu mạng lưới mới, đồng thời thu được các nguồn lực có lợi cho việccải thiện cuộc sống từ trong mạng lưới đó, các nguồn lực thông qua cơ cấu mạng
Trang 31lưới kiểu này thu được là vốn xã hội [26, tr.10]
Do vậy, tình trạng nghèo của một người, gia đình vừa chịu tác động của môitrường tự nhiên, môi trường kinh tế - xã hội, nơi cá nhân, hộ gia đình sinh sống, vừachịu ảnh hưởng bởi các quyết định và hành động của chính bản thân người nghèo
1.3.2 Tiếp cận sinh thái học văn hóa
Tiếp cận sinh thái học văn hóa là một khoa học nghiên cứu mối quan hệ giữacác cơ thể sống với môi trường tự nhiên Công trình nghiên cứu của tác giả J.Stuard
là tìm hiểu sự thích nghi của con người xã hội với môi trường chung quanh, hay nóiđầy đủ hơn là tìm hiểu và nhận biết các đặc điểm của các hệ thống xã hội như dân số,khoa học, kỹ thuật, phong tục, tập quán, chuẩn mực đạo đức, văn hóa dưới tác độngcủa hệ sinh thái Sinh thái học văn hóa được coi là mô hình lý thuyết để tìm hiểu mốiquan hệ qua lại giữa con người với môi trường tự nhiên bao quanh, cũng như tìmhiểu văn hóa với tư cách là sản phẩm của mối quan hệ đó Những người theo thuyếtsinh thái học văn hóa đã khẳng định rằng kiểu văn hóa của mỗi tộc người được tạo ra
là do những nguồn tài nguyên và những giới hạn của môi trường xung quanh, kể cảnhững thay đổi trong môi trường đó [13, tr 95-96] Trong đề tài này, tác giả sử dụngcách tiếp cận sinh thái học văn hóa nhằm tìm hiểu ảnh hưởng của một số tập quáncộng đồng người Ê đê tác động như thế nào đến việc thoát nghèo ở các hộ đồng bào
Ê đê ở xã Tâm Thắng
Tiểu kết ch ương 1
Trong chương này, tác giả đã khái quát một số vấn đề lý luận liên quan đến nghèo, nêu những khái niệm nghèo Mặc dù có sự khác biệt trong cách nhìn nhận về vấn đề nghèo, tuy nhiên tập trung lại các khái niệm này đều phản ánh ba khía cạnh chủ yếu của người nghèo là:
- Người nghèo có mức sống thấp hơn mức sống trung bình của cộng đồng dân cư
- Người nghèo không được thụ hưởng những nhu cầu cơ bản ở mức tối thiểu dànhcho con người
Trang 32- Người nghèo thiếu cơ hội lựa chọn tham gia vào quá trình phát triển của cộng đồng.
Khái niệm nghèo đa chiều đã được sử dụng, trong đó xác định rõ nghèo đóikhông hẳn chỉ là đói ăn, thiếu uống, hoặc thiếu các điều kiện sống, sinh hoạt khác mànghèo đói còn được gây ra bởi các rào cản về xã hội và các tác nhân khác ngăn chặnnhững cá nhân hoặc cộng đồng tiếp cận với các nguồn lực, thông tin và dịch vụ
Các khái niệm có liên quan, các chuẩn đánh giá nghèo, cách theo dõi, đánhgiá nghèo của Việt Nam thay đổi theo sự phát triển kinh tế xã hội, và các lý thuyếtcũng được sử dụng trong nghiên cứu đề tài này
Trang 33Chương 2THỰC TRẠNG NGHÈO CỦA ĐỒNG BÀO DÂN TỘC Ê ĐÊ XÃ TÂM
THẮNG VÀ THỊ TRẤN EATLING, HUYỆN CƯ JÚT, TỈNH ĐĂK NÔNG2.1 Khái quát tình hình kinh tế- xã hội xã Tâm Thắng
2.1.1 Điều kiện tự nhiên, tài nguyên
Điều kiện tự nhiên
Xã Tâm Thắng được thành lập theo Quyết định số 125/HĐBT ngày 14/9/1989của Hội đồng Bộ trưởng, nay là Chính phủ Có diện tích tự nhiên là 2.156,62 ha, baogồm 19 thôn, buôn với tổng dân số theo thống kê đến năm 2016 là 2.772 hộ, với13.455 khẩu Trong đó, dân tộc Ê đê 676 hộ với 3.948 khẩu, dân tộc thiểu số khác 69
hộ với 271 khẩu
+ Phía Đông giáp xã Hòa Phú, TP Buôn Ma Thuột, Đắk Lắk
+ Phía Tây giáp thị trấn Eatling
+ Phía Nam giáp xã Hòa Phú, TP Buôn Ma Thuột, Đắk Lắk
+ Phía Bắc giáp xã Nam Dong
Xã Tâm Thắng chịu sự chi phối bởi kiến tạo địa chất của cao nguyên, nằmtrong vùng có địa hình tương đối bằng phẳng, khí hậu của miền cao nguyên nhiệt đớigió mùa, ấm quanh năm ít chịu ảnh hưởng của bão lũ, phân tách hai mùa rõ rệt mùamưa/mùa khô
Tài nguyên
Đất nông nghiệp là 1.470,18 ha, chiếm 68,17 % tổng diện tích tự nhiên Trongđó: đất trồng lúa 151,72 ha, đất trồng cây hàng năm 473,01 ha, đất trồng cây lâu năm763,68 ha, đất rừng sản xuất là 49,30ha, đất nuôi trồng thủy sản là 32,47ha
Nguồn nước: Mạng lưới sông suối trên địa bàn xã Tâm Thắng bao gồm: SôngSêrêpôk, các suối chính như suối Ea Gan, suối Hương và một số suối đầu nguồn khác
có diện tích lưu vực lớn góp phần làm tăng nguồn nước
Trang 34(giá cố định 2010)
S
Tăng BQ (%/năm)
2010 2014
I Cơ cấu kinh tế các ngành (%) 100 100 100
Nguồn: Báo cáo của UBND xã 2014
mặt trên địa bàn Ngoài ra, trên địa bàn xã Tâm Thắng có đập thủy
lợi Buôn Buôr đã được xây kiên cố và 3 kênh mương nội đồng, chủ yếu là
để phục vụ tưới tiêu
2.1.2 Thực trạng phát triển kinh tế- xã hội
Kinh tế nông nghiệp, công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp là ngành kinh tế mũi
nhọn của xã, đem lại thu nhập chính cho người dân trong xã
Tổng giá trị sản xuất đến năm 2014 tính theo giá cố định 2010 đạt 365,49 tỷđồng, tốc độ tăng giá trị sản xuất của xã bình quân giai đoạn từ 2010 đến 2014 là 16%/năm Tăng trưởng kinh tế bình quân của xã giai đoạn 2010 - 2014 tương đối cao.Nguyên nhân chủ yếu là do giá trị sản xuất ngành nông nghiệp và các ngành phi nôngnghiệp có tốc độ tăng trưởng khá cao Bảng 2.1: Thực trạng phát triển kinh tế của xãgiai đoạn 2010 - 2014
Cơ cấu kinh tế của xã giai đoạn 2010 - 2014 chuyển dịch tích cực theo hướngtăng dần tỷ trọng các ngành phi nông nghiệp và giảm dần tỷ trọng ngành nông lâmnghiệp trong cơ cấu kinh tế Đến năm 2014, cơ cấu kinh tế của xã là nông nghiệp(54%) - thương mại dịch vụ (5,8%), công nghiệp - TTCN (40,2%) [34, tr.11]
Trang 35Hệ thổng giao thông đường bộ xã Tâm Thắng có hệ thống giao thông thuận
lợi Có đường quốc lộ 14 (đi qua xã Tâm Thắng) chiều dài 3km; các trục đường chínhliên xã được đầu tư thảm nhựa hoàn chỉnh với tổng chiều dài 12km; đường trục liênthôn, liên xóm cũng được đầu tư nâng cấp bằng nhựa và bê tông với chiều dài28,57km, trong đó đường liên buôn được thảm nhựa dài hơn 6km [34, tr.30]
Hệ thổng loa truyền thanh và điện sinh hoạt đã xây dựng, lắp đặt tới tất cả các
thôn, buôn trên địa bàn Số hộ sử dụng điện thường xuyên, an toàn từ các nguồn trênđịa bàn xã là 2.704 hộ, chiếm tỷ lệ 97,54% tổng số hộ [34, tr.41]
Hệ thổng cơ sở thương mại dịch vụ trên địa bàn xã tương đối phát triển với
nhiều cửa hàng bán buôn, bán lẻ phân bố khắp các thôn trên địa bàn xã Các cơ sở bánbuôn tập trung chủ yếu ở khu vực trung tâm xã, các cửa hàng bán lẻ rải ở các thôn vàchủ yếu dọc tuyến Quốc lộ 14 [34, tr 19]
Bảng 2.2: Thực trạng phát triển ngành TTCN - TMDV
nên trong những năm qua hình thức kinh tế trang trại đã dần được hình thành pháttriển, đã và đang trở thành động lực thúc đẩy kinh tế - xã hội của xã phát triển, gópphần giải quyết việc làm, gia tăng thu nhập cho người dân trong toàn xã Hiện tại trên
St
Nguồn: Báo cáo của UBND xã 2014 Với những điều kiện thuận lợi về vị trí địa lý,
điều kiện kinh tế - xã hội
Trang 36địa bàn xã chỉ có 1 trang trại và hơn 8 tổ hợp tác, câu lạc bộ chăn nuôi, trồng trọt, chủyếu tập trung tại các thôn thuộc xã Tâm Thắng [34, tr.20].
Trên địa bàn có tuyến đường quốc lộ 14 chạy qua, đồng thời các tuyến đườngliên xã thông suốt trên địa bàn, đảm bảo kết nối giao thông nội bộ xã và giao thươngvới các địa bàn bên ngoài; góp phần phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp vàthương mại, dịch vụ
Ngoài ra, trên địa bàn xã còn có Khu công nghiệp Tâm Thắng, là khu côngnghiệp đầu tiên của tỉnh Đắk Nông cách trung tâm tỉnh lỵ 110km về phía Đông Nam,nằm trên tuyến Quốc lộ 14 nối liền các tỉnh miền Đông Nam Bộ với Tây Nguyên,cách TP Buôn Ma Thuột 20km và cách TP Hồ Chí Minh khoảng 300km, tạo điềukiện thuận lợi cho xã phát triển kinh tế một cách toàn diện theo hướng công nghiệphóa, hiện đại hóa
Văn hóa - xã hội
Toàn xã có 9 trường (2 trường mẫu giáo, 4 trường tiểu học, 2 trường trunghọc cơ sở (THCS), 1 trường trung học phổ thông (THPT)), đến nay đã có 4 trường đạtchuẩn quốc gia Tỷ lệ học sinh lớp 1 trong độ tuổi đến trường học đạt 100%, số giáoviên đạt chuẩn 100%, toàn xã đã hoàn thành phổ cập tiểu học và trung học cơ sở, họcsinh tốt nghiệp THCS được tiếp tục học THPT hoặc học nghề đạt 90%
Xã Tâm Thắng có 1 Trạm y tế, hiện là Nhà cấp IV, diện tích 130m2 với 9 cán
bộ công tác, khám chữa bệnh và chăm sóc sức khỏe cho nhân dân được quan tâmhoạt động có hiệu quả, công tác trực tại Trạm được duy trì nề nếp
Thực hiện phong trào “toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá” năm
2014, có 19/19 thôn, buôn đạt danh hiệu văn hóa, trên địa bàn xã có 2.511 hộ gia
Bảng 2.3: Thực trạng các trang trại, tổ hợp tác trên địa bàn xã
STT Hình thức tổ chức sản xuất Địa điểm
Nguồn: Báo cáo của UBND xã 2014