Sắt thép luôn là vật tư quan trọng đối với bất kỳ quốc gia nào trong việc xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội, trong sản xuất và xây dựng các công trình công nghiệp cũng như dân dụng. Đặc biệt, Việt Nam là nước đang phát triển, có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao thì nhu cầu sử dụng các loại sắt thép nói chung, trong đó có sắt thép xây dựng sẽ ngày càng cao. Theo số liệu thống kê của Hiệp hội thép Việt Nam thì hiện nay nhu cầu sử dụng thép xây dựng trong nước chiếm khoảng 60% tổng nhu cầu sắt thép các loại để phục vụ phát triển kinh tế đất nước. Nhu cầu sử dụng thép xây dựng đã tăng mạnh trong những năm qua. Từ năm 2006 đến nay, sản lượng thép xây dựng trong nước hàng năm tăng bình quân 10,5%năm, từ 3.264 nghìn tấn năm 2006 lên 4.957 nghìn tấn năm 2013 và cơ cấu, chủng loại sản phẩm thép ngày ngày càng phong phú hơn, ngoài thép cuộn, thép thanh, thép hình cỡ nhỏ, dây gai thép, lưới thép, gang đúc,... nay đã có thêm các sản phẩm thép mới như ống thép, thép lá mạ màu và sơn phủ, thép cán nguội, thép tấm cán nóng...) đã đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu tiêu dùng trong nước và từng bước tham gia xuất khẩu. Là một quốc gia có nền kinh tế đang phát triển, Việt Nam đã và đang từng bước tiến vào hội nhập kinh tế toàn cầu. Hội nhập kinh tế quốc tế là điều kiện thuận lợi và quan trọng cho nền kinh tế nước ta phát triển, nhưng bên cạnh đó nền kinh tế thị trường với những quy luật khắc nghiệt của nó cũng có những ảnh hưởng rất lớn đến sự tồn tại và phát triển của các DN Việt Nam. Các DNSX thép tại Việt Nam cũng không nằm ngoài những thách thức đó. Ngành thép Việt Nam đã có nhiều cố gắng tập trung đầu tư phát triển, đổi mới thiết bị, áp dụng công nghệ tiên tiến, đầu tư xây dựng các nhà máy có quy mô lớn... Tuy nhiên, sự phát triển của ngành cũng bộc lộ những khó khăn và hạn chế, như: Năng lực sản xuất phôi thép quá nhỏ bé ; Quy mô sản xuất nhỏ, công nghệ ở trình độ thấp, phần lớn lại tập trung vào khâu nhập phôi về để cán thép, chỉ có số ít có đầu tư từ khâu thượng nguồn đến hạ nguồn để luyện và cán thép sản phẩm ; Chi phí sản xuất lớn, năng suất lao động thấp, mức tiêu hao nguyên liệu, năng lượng cao, chất lượng sản phẩm chưa ổn định. Điều đó dẫn đến khả năng cạnh tranh thấp, khả năng xuất khẩu hạn chế, hiệu quả SXKD chưa cao, còn phải dựa vào sự bảo hộ của Nhà nước Một hạn chế quan trọng nữa của các DN sản xuất thép Việt Nam hiện nay đó là hệ thống quản lý chi phí sản xuất, giá thành sản phẩm thép chưa phản ánh đầy đủ, kịp thời và chính xác để các nhà quản trị đưa ra quyết định nhanh chóng nhằm tăng sức cạnh tranh trên thị trường. Để có thể phát triển các doanh nghiệp thép Việt Nam cần thực hiện tốt các chức năng quản trị, các nhà quản trị cần có sự trợ giúp đắc lực của các thông tin KTQT nói chung và thông tin KTQT chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm nói riêng. Ở nước ta hiện nay, KTQT nói chung, KTQT chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm nói riêng chưa được các DN quan tâm đúng mực, điều đó làm ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả quản trị DN và hiệu quả SXKD của các DN thép. Để nâng cao hiệu quả quản trị DN, giúp các DN Việt Nam có thể cạnh tranh với các DN nước ngoài, các nhà quản trị cần phải được trang bị các kiến thức quản trị hiện đại cũng như sự hỗ trợ của hệ thống KTQT nói chung, KTQT chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm nói riêng. Xuất phát từ lý do này, luận án chọn “Kế toán quản trị chi phí sản xuất và giá trành sản phẩm trong các DNSX thép thuộc Tổng công ty thép Việt Nam” làm đề tài nghiên cứu.
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ TÀI CHÍNH
HỌC VIỆN TÀI CHÍNH
TRẦN THỊ QUỲNH GIANG
TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI
KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ GIÁ THÀNH SẢN PHẨM TRONG CÁC DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT THÉP THUỘC TỔNG CÔNG TY THÉP VIỆT NAM
HÀ NỘI - 2015
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ TÀI CHÍNH
HỌC VIỆN TÀI CHÍNH
TRẦN THỊ QUỲNH GIANG
TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI
KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ GIÁ THÀNH SẢN PHẨM TRONG CÁC DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT THÉP THUỘC TỔNG CÔNG TY THÉP VIỆT NAM
Trang 3MỤC LỤC
TRẦN THỊ QUỲNH GIANG 1 TRẦN THỊ QUỲNH GIANG 1
Trang 41 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Sắt thép luôn là vật tư quan trọng đối với bất kỳ quốc gia nào trong việc xâydựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, trong sản xuất và xây dựng các công trìnhcông nghiệp cũng như dân dụng Đặc biệt, Việt Nam là nước đang phát triển, có tốc
độ tăng trưởng kinh tế cao thì nhu cầu sử dụng các loại sắt thép nói chung, trong đó
có sắt thép xây dựng sẽ ngày càng cao Theo số liệu thống kê của Hiệp hội thép ViệtNam thì hiện nay nhu cầu sử dụng thép xây dựng trong nước chiếm khoảng 60%tổng nhu cầu sắt thép các loại để phục vụ phát triển kinh tế đất nước Nhu cầu sửdụng thép xây dựng đã tăng mạnh trong những năm qua Từ năm 2006 đến nay, sảnlượng thép xây dựng trong nước hàng năm tăng bình quân 10,5%/năm, từ 3.264nghìn tấn năm 2006 lên 4.957 nghìn tấn năm 2013 và cơ cấu, chủng loại sản phẩmthép ngày ngày càng phong phú hơn, ngoài thép cuộn, thép thanh, thép hình cỡ nhỏ,dây gai thép, lưới thép, gang đúc, nay đã có thêm các sản phẩm thép mới như ốngthép, thép lá mạ màu và sơn phủ, thép cán nguội, thép tấm cán nóng ) đã đáp ứngngày càng tốt hơn nhu cầu tiêu dùng trong nước và từng bước tham gia xuất khẩu
Là một quốc gia có nền kinh tế đang phát triển, Việt Nam đã và đang từngbước tiến vào hội nhập kinh tế toàn cầu Hội nhập kinh tế quốc tế là điều kiện thuậnlợi và quan trọng cho nền kinh tế nước ta phát triển, nhưng bên cạnh đó nền kinh tếthị trường với những quy luật khắc nghiệt của nó cũng có những ảnh hưởng rất lớnđến sự tồn tại và phát triển của các DN Việt Nam Các DNSX thép tại Việt Namcũng không nằm ngoài những thách thức đó
Ngành thép Việt Nam đã có nhiều cố gắng tập trung đầu tư phát triển, đổimới thiết bị, áp dụng công nghệ tiên tiến, đầu tư xây dựng các nhà máy có quy môlớn Tuy nhiên, sự phát triển của ngành cũng bộc lộ những khó khăn và hạn chế,như: Năng lực sản xuất phôi thép quá nhỏ bé ; Quy mô sản xuất nhỏ, công nghệ ởtrình độ thấp, phần lớn lại tập trung vào khâu nhập phôi về để cán thép, chỉ có số ít
có đầu tư từ khâu thượng nguồn đến hạ nguồn để luyện và cán thép sản phẩm ; Chiphí sản xuất lớn, năng suất lao động thấp, mức tiêu hao nguyên liệu, năng lượngcao, chất lượng sản phẩm chưa ổn định Điều đó dẫn đến khả năng cạnh tranh thấp,
Trang 5khả năng xuất khẩu hạn chế, hiệu quả SXKD chưa cao, còn phải dựa vào sự bảo hộcủa Nhà nước
Một hạn chế quan trọng nữa của các DN sản xuất thép Việt Nam hiện nay đó
là hệ thống quản lý chi phí sản xuất, giá thành sản phẩm thép chưa phản ánh đầy đủ,kịp thời và chính xác để các nhà quản trị đưa ra quyết định nhanh chóng nhằm tăngsức cạnh tranh trên thị trường Để có thể phát triển các doanh nghiệp thép Việt Namcần thực hiện tốt các chức năng quản trị, các nhà quản trị cần có sự trợ giúp đắc lựccủa các thông tin KTQT nói chung và thông tin KTQT chi phí sản xuất và giá thànhsản phẩm nói riêng
Ở nước ta hiện nay, KTQT nói chung, KTQT chi phí sản xuất và giá thànhsản phẩm nói riêng chưa được các DN quan tâm đúng mực, điều đó làm ảnh hưởngkhông nhỏ đến hiệu quả quản trị DN và hiệu quả SXKD của các DN thép Để nângcao hiệu quả quản trị DN, giúp các DN Việt Nam có thể cạnh tranh với các DNnước ngoài, các nhà quản trị cần phải được trang bị các kiến thức quản trị hiện đạicũng như sự hỗ trợ của hệ thống KTQT nói chung, KTQT chi phí sản xuất và giáthành sản phẩm nói riêng Xuất phát từ lý do này, luận án chọn “Kế toán quản trịchi phí sản xuất và giá trành sản phẩm trong các DNSX thép thuộc Tổng công tythép Việt Nam” làm đề tài nghiên cứu
2 TỔNG QUAN VỀ CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN 2.1 CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU VỀ KTQT CHI PHÍ VÀ GIÁ THÀNH
2.1.1 Các công trình nghiên cứu về KTQT và KTQT chi phí và giá thành trong nước
Trên thế giới việc nghiên cứu và ứng dụng KTQT đã được thực hiện từ rấtlâu Ở Việt Nam thì khái niệm KTQT mới chỉ xuất hiện trong những năm đầu thập
kỷ 90 (thế kỷ XX) khi Việt Nam mở cửa đón nhận các nguồn đầu tư nước ngoài.Thuật ngữ “Kế toán quản trị” mới chỉ được ghi nhận chính thức trong Luật kế toánban hành vào ngày 17/06/2003 Các công trình nghiên cứu tiêu biểu liên quan đếnKTQT trong thời gian từ năm 2000 trở lại đây như sau:
Trang 6- Năm 2002, tác giả Giang Thị Xuyến nghiên cứu về đề tài “Tổ chức KTQT
và phân tích kinh doanh trong doanh nghiệp nhà nước” trong luận án tiến sĩ củamình Luận án tập trung phản ánh nội dung về hoàn thiện tổ chức kế toán quản trị
và phân tích hoạt động kinh doanh trong doanh nghiệp Nhà nước như : Kết hợp tổchức kế toán quản trị và kế toán tài chính theo các phần hành kế toán; Hoàn thiện hệthống thông tin KTQT : chứng từ, sổ sách, tài khoản, báo cáo quản trị Đồng thờihoàn thiện các chỉ tiêu, phương pháp sử dụng trong phân tích, quá trình phân tích…Luận án đi sâu vào phân tích hoạt động kinh doanh nhiều hơn tổ chức KTQT Tuynhiên, luận án cũng chưa đi sâu vào phân tích vấn đề quản lý tài chính trong doanhnghiệp Nhà nước có ảnh hưởng như nào đến công tác KTQT của mình, tác giả vẫnchưa nêu rõ được mối quan hệ giữa kế toán tài chính và kế toán quản trị
- Tác giả Lê Đức Toàn (năm 2002) với đề tài “KTQT và phân tích chi phísản xuất trong ngành sản xuất công nghiệp ở Việt Nam” đã nghiên cứu thực trạngKTQT và phân tích chi phí sản xuất của các DN sản xuất công nghiệp Từ đó, tácgiả Lê Đức Toàn đã đề xuất xây dựng mô hình KTQT và phân tích chi phí, hoànthiện dự toán chi phí, phân tích đánh giá tình hình tài chính theo biến động của cácyếu tố Mặc dù luận án có đưa ra một số giải pháp hoàn thiện KTQT chi phí nhưhoàn thiện phân loại chi phí, xây dựng trung tâm chi phí, trung tâm trách nhiệm,v.v… nhưng nội dung của luận án vẫn tập trung chủ yếu vào phân tích chi phí sảnxuất Do phạm vi nghiên cứu của luận án quá rộng nên các giải pháp đề xuất chỉmang tính định hướng, chưa có các giải pháp cụ thể gắn với đặc điểm kinh doanhcủa từng ngành [29]
Luận án “Tổ chức KTQT và giá thành trong DN sản xuất ở Việt Nam”
-tác giả Trần Văn Dung(2002) Trong luận án này -tác giả đã phân tích hệ thống kếtoán chi phí trong các DN thuộc các ngành sản xuất công nghiệp, xây dựng, nôngnghiệp và đề xuất các giải pháp hoàn thiện KTQT chi phí và giá thành trong các DNnày Mặc dù đề xuất “xây dựng và hướng dẫn một số mô hình KTQT DN Trướchết là hướng dẫn chung, sau đó cụ thể cho từng ngành vì mỗi ngành đều có nhữngđặc thù và yêu cầu quản lý riêng” [9, tr 112] Nhưng do phạm vi nghiên cứu quá
Trang 7rộng nên những đề xuất của tác giả chủ yếu tập trung vào các DN nhà nước vàmang tính hướng dẫn, chưa gắn với một ngành sản xuất cụ thể.
- Luận án “Tổ chức KTQT chi phí và kết quả kinh doanh ở các DN kinhdoanh du lịch” của tác giả Phan Thị Kim Vân (năm 2002) Trong luận án này, tácgiả đã nghiên cứu thực trạng kế toán chi phí trong các DN du lịch như Công tykhách sạn Hoa Lư (Ninh Bình), Khách sạn Vân Long và đề xuất một số giải pháphoàn thiện tổ chức KTQT chi phí trong các DN này Tuy nhiên, do không gắn vớicác chức năng quản trị DN nên một số giải pháp được đề xuất chưa thực sự đápứng nhu cầu của quản trị DN Các giải pháp hoàn thiện thuộc về phân tích hoạtđộng kinh doanh Một số giải pháp được đề xuất chưa phù hợp với mục đích củaKTQT như giải pháp đề xuất về các phương pháp tính giá thành sản phẩm theophương pháp hệ số, phương pháp tỷ lệ [tr 123-130]; hoàn thiện KTQT doanh thu[tr 132], KTQT kết quả kinh doanh [tr 137] v.v…[34]
- Luận án “Phương hướng xây dựng hệ thống báo cáo KTQT và tổ chức vận
dụng vào các doanh nghiệp Việt Nam” – tác giả Phạm Quang (năm 2002) Trong
luận án, tác giả đã trình bày một cách có hệ thống các cơ sở lý luận về bản chất củaKTQT Từ đó, tác giả đi sâu vào nghiên cứu xây dựng hệ thống báo cáo KTQT nhưbáo cáo hàng tồn kho, báo cáo chi phí, xây dựng quy trình thu thập, xử lý dữ liệu đểlập báo cáo thu nhập, báo cáo ngân sách Kết quả nghiên cứu cho thấy tác giả tậptrung vào xây dựng hệ thống báo cáo KTQT và việc vận dụng vào các doanh nghiệpViệt Nam nói chung [23]
- Luận án “Nghiên cứu hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính và KTQT trong
DN nhà nước về xây dựng” của tác giả Nguyễn Văn Bảo (2002) đã nghiên cứu thựctrạng KTQT trong các DN xây dựng thuộc sở hữu nhà nước thực hiện hạch toántheo quyết định 1864/1998/QĐ/BTC ngày 16 tháng 12 năm 1998 của Bộ Tài chính
áp dụng cho các DN xây lắp Từ kết quả nghiên cứu, tác giả đã đề xuất các giảipháp hoàn thiện cơ chế tài chính trong các DN xây dựng thuộc sở hữu nhà nước.Tuy nhiên, luận án của tác giả Nguyễn Văn Bảo còn một số hạn chế như: Tác giảchỉ nghiên cứu về chế độ kế toán nhưng vẫn đưa ra được các giải pháp để hoàn
Trang 8thiện cơ chế tài chính trong các DN xây lắp Các giải pháp về tổ chức KTQT đượctác giả trình bày trong chương 3 chưa đầy đủ Một số giải pháp không phải củaKTQT như giải pháp áp dụng mô hình phân tích Dupont [1]
Như vậy, qua nghiên cứu các luận án tiến sĩ bảo vệ năm 2002 cho thấy, cáctác giả đã đi sâu vào nghiên cứu KTQT nhưng ở góc độ tổng quát cho từng ngànhsản xuất kinh doanh cũng như các doanh nghiệp nhà nước, ngành sản xuất, ngànhcông nghiệp hay nội dung về báo cáo quản trị chung cho tất cả các loại hình doanhnghiệp Với đặc điểm của KTQT là linh hoạt và cung cấp thông tin hữu ích cho cácnhà quản trị trong việc ra quyết định, nó phụ thuộc rất nhiều vào mục tiêu của nhàquản trị cũng như đặc điểm của từng doanh nghiệp, đặc điểm sản phẩm, quy trìnhcông nghệ sản xuất, mô hình tổ chức quản lý… Chính vì vậy, những năm gần đây
có nhiều tác giả đã nghiên cứu sâu vào từng lĩnh vực cụ thể để tổ chức cũng nhưxây dựng mô hình KTQT chi phí cho phù hợp, nhằm đạt hiệu quả cao trong việccung cấp thông tin cho các nhà quản trị
- Năm 2004 có hai tác giả tiếp cận với đề tài kế toán quản trị, tác giả NguyễnThị Hằng Nga với đề tài “Hoàn thiện tổ chức KTQT trong các DN dầu khí Việt
Nam” [18]; tác giả Dương Thị Mai Hà Trâm với đề tài “Xây dựng hệ thống KTQT
trong các DN Dệt Việt Nam” [31] Trong luận án của mình, các tác giả thông quaviệc hệ thống hóa các vấn đề lý luận về KTQT, đã làm rõ đối tượng, mục tiêu, nộidung của KTQT và vai trò của KTQT với chức năng quản lý DN Luận án cũng đãnghiên cứu thực tế tổ chức KTQT trong DN thuộc ngành, đi sâu vào các DN sảnxuất từ đó đưa ra các nguyên nhân tồn tại trong vận dụng KTQT Tuy nhiên, cácvấn đề lý luận còn nặng tính trình bày, các giải pháp đưa ra vẫn còn chung chung,chưa có giải pháp chủ đạo cho ngành mà tác giả nghiên cứu
- Năm 2007, luận án “ Xây dựng mô hình KTQT chi phí cho các DN sảnxuất dược Việt Nam ” của tác giả Phạm Thị Thủy Luận án đưa ra mô hình lý thuyết
cơ bản của KTQT, nghiên cứu khả năng ứng dụng vào thực tiễn ở Việt Nam Trên
cơ sở những đặc điểm trong tổ chức hoạt động kinh doanh của các DN sản xuấtdược Việt Nam, luận án đã xây dựng mô hình quản trị chi phí cho các DN sản xuất
Trang 9dược Việt Nam, đó là tăng cường kiểm soát chi phí, lập dự toán chi phí, phân tíchbiến động chi phí, xác định quy mô hợp lý cho từng lô sản xuất, đánh giá kết quảhoạt động cho từng sản phẩm, từng phân xưởng sản xuất và từng chi nhánh tiêu thụ.
- Năm 2007, luận án “ Tổ chức công tác KTQT chi phí sản xuất và tính giáthành sản phẩm trong các DN khai thác than ” của tác giả Trần Văn Hợi Luận án đisâu vào nghiên cứu bản chất của KTQT trong việc cung cấp các thông tin phục vụquản trị chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm trong các DN Trên cơ sở đặcđiểm hoạt động sản xuất của các DN khai thác than thuộc Tập đoàn Than – Khoánsản Việt Nam, luận án đã đưa ra mô hình tổ chức KTQT chi phí sản xuất và tính giáthành sản phẩm trong các DN này Đồng thời, luận án đã đưa ra các đánh giá, phântích những tồn tại về mặt tổ chức KTQT, phân loại chi phí sản xuất và giá thành, tổchức thu nhận, xử lý và trình bày các thông tin về chi phí sản xuất và giá thành theoKTQT ; vận dụng các chính sách tài chính trong DN khai thác than ; vấn đề môitrường sinh thái, môi sinh, an toàn lao động trong các DN khai thác than Từ đó,đưa ra các giải pháp hoàn thiện công tác KTQT chi phí và giá thành trong các DNkhai thác than
- Năm 2008, tác giả Huỳnh Lợi nghiên cứu “ Xây dựng KTQT trong các DNsản xuất ở Việt Nam ” Luận án đã xây dựng mô hình và cơ chế vận hành mô hìnhKTQT trong DN sản xuất nhằm xác lập nền tảng hoạt động, nền tảng quản trị, đốitượng nghiên cứu KTQT… Luận án còn trình bày tổ chức quy trình công việc, thủtục lập các báo cáo KTQT, xác lập cơ chế tổ chức nhân sự thực hiện tổ chức KTQT
để tổ chức áp dụng KTQT phù hợp với những DN sản xuất có những quy mô, điềukiện khác nhau
Gần đây số lượng các công trình liên quan đến KTQT chi phí và giá thànhtheo các lĩnh vực kinh doanh được nghiên cứu ngày càng nhiều Một số công trìnhnghiên cứu liên quan đến KTQT chi phí và giá thành bao gồm:
Trang 10Năm Tác giả Đề tài
2011 Hoàng Văn Tưởng Tổ chức KTQT với việc tăng cường hoạt động quản trị
kinh doanh trong các DN xây lắp Việt Nam Nguyễn Quốc Thắng Tổ chức quản trị chi phí, giá thành sản phẩm trong DN
thuộc ngành giống cây trồng Việt Nam Trần Thế Nữ Xây dựng mô hình KTQT chi phí trong các DN thương
mại quy mô vừa và nhỏ ở Việt Nam
2012 Nguyễn Hoản Tổ chức quản trị chi phí trong các DN sản xuất bánh
kẹo của Việt Nam Nguyễn Thị Ngọc Lan Tổ chức quản trị chi phí vận tải hàng hóa trong các
công ty đường bộ Việt Nam
2013 Trần Thị Dự Hoàn thiện kế toán chi phí với việc tăng cường quản trị
chi phí trong các DN chế biến thức ăn chăn nuôi
2014 Đinh Thị Kim Xuyến Công tác kế toán quản trị chi phí và giá thành tại các DN
viễn thông di động Việt Nam
2.1.2 Các công trình nghiên cứu về KTQT và KTQT chi phí và giá thành trên thế giới
Với sự phát triển của KTQT trên thế giới, có rất nhiều công trình nghiên cứu
về KTQT nói chung và KTQT chi phí và giá thành nói riêng Qua nghiên cứu cáctài liệu được phép truy cập trên internet, tác giả trình bày một số nghiên cứu tiêubiểu về KTQT, KTQT chi phí và giá thành trên thế giới bằng tiếng Anh sau:
- Luận án tiến sĩ nghiên cứu về KTQT chi phí được chia thành các nhóm sau:+ Nhóm các đề tài nghiên cứu về KTQT chi phí tập trung vào các chủ đề: sựkhác biệt giữa kế toán chi phí và kiểm soát quản trị; hệ thống thông tin kế toán vàquản trị chiến lược Trong nhóm này có một số luận án nghiên cứu về phân bổ chiphí, phân tách chi phí, phân tích tác nhân chi phí, hạch toán chi phí theo hoạt động(ABC), quản lý chi phí theo hoạt động (ABCM), chi phí chênh lệch và việc sử dụngcác thông tin chi phí để ra quyết định
Trang 11+ Nhóm thứ hai là các đề tài nghiên cứu về chi phí chiến lược gồm: thuộctính chi phí (attribute costing), chu kỳ chi phí, chi phí chất lượng, chi phí mục tiêu,chi phí chuỗi theo giá trị và kế toán chi phí ngược (backflush costing).
+ Nhóm thứ ba là các đề tài liên quan đến chiến lược định giá và giá chuyểngiao được xác định dựa trên thông tin kế toán chi phí
+ Nhóm thứ tư là các đề tài nghiên cứu về: ngân sách hoạt động, dự toánvốn, kiểm soát, đo lường hiệu suất và đánh giá [57]
Các luận án nghiên cứu về KTQT chi phí tiêu biểu gồm:
- Luận án Teemu Malmi (1997) “Adoption and implementation of based osting: practice, problems and motives” nghiên cứu về phân bổ chi phí chung
activity-và chi phí hoạt động Dựa trên phiếu khảo sát thu được từ các DN luyện kim activity-và sảnxuất công nghiệp, tác giả đã nghiên cứu và giải thích cho sự thất bại của việc ápdụng chi phí hoạt động trong các DN này Đây là luận án đầu tiên nghiên cứu về chiphí hoạt động ở Phần Lan [61]
- Luận án tiếp theo nghiên cứu về chi phí hoạt động ở Phần Lan là củaAdebayo Agbejule (2000) với tiêu đề “An administrative and institutionalperspective of activity-based costing implementation” Trong luận án này, tác giảdựa trên các nghiên cứu thực nghiệm thu được tại 3 DN để thấy được ảnh hưởngcủa các nhân tố đến thực hiện chi phí hoạt động [36]
- Luận án của Mostaque Hussain (2000) “management accounting systems inservices: empirical evidence with non-financial performance measures in Finnish,Swedish and Japanese banks and other financial institutions” nghiên cứu về đolường hiệu suất phi tài chính và sử dụng chi phí hoạt động Dựa trên tình hình ápdụng chi phí hoạt động của 32 công ty dịch vụ tài chính và ngân hàng, tác giả đã chỉ
ra các hạn chế của hệ thống hạch toán truyền thống và ưu điểm của hạch toán theochi phí hoạt động trong các DN này Tuy nhiên đây chỉ là một phần nội dung củaluận án Nội dung chủ yếu của luận án tập trung vào vai trò của KTQT chi phítrong đo lường và đánh giá hiệu quả bằng các chỉ tiêu phi tài chính trong các ngânhàng và các tổ chức tài chính của Phần Lan, Thụy Điển và Nhật Bản [65]
Trang 12- Luận án tiến sĩ: "The Adoption of Activity-Based Costing In Thailand" củatác giả Wiriya Chongruksut tại Trường ĐH Victoria (Australia) năm 2002 đã nghiêncứu tình hình áp dụng hạch toán chi phí theo hoạt động trong các DN Thái Lan Kếtquả nghiên cứu của luận án đã chỉ ra ảnh hưởng của các nhân tố, đặc biệt là khủnghoảng kinh tế năm 1997, đến tình hình áp dụng chi phí hoạt động của các DN TháiLan Đây là luận án nghiên cứu sâu về một vấn đề của KTQT chi phí là phân bổ chiphí chung cho các sản phẩm, dịch vụ Hạn chế của nghiên cứu được tác giả chỉ ratrong luận án là số lượng các DN nghiên cứu nhỏ chỉ gồm 14 DN và tập trung vàocác DN niêm yết chứng khoán khu vực Bangkok, chưa đủ đại diện cho các DN TháiLan nên kết quả nghiên cứu chưa mang tính đại diện [80]
- Luận án của Janne Järvinen (2005) “Rationale for adopting activity-basedcosting in hospitals: three longitudinal case studies” phân tích động lực và lý doviệc áp dụng hạch toán chi phí theo hoạt động tại các bệnh viện Trong luận án này,Järvinen đã phân tích các yếu tố hợp lý, hiệu quả và thể chế ảnh hưởng đến việc ápdụng chi phí hoạt động trong các bệnh viện của Phần Lan [54]
- Luận án của Tom Wingren (2005) “Essays on activity-based costingmasstailorization, implementation and new applications” nghiên cứu về ABC vàABCM Mục tiêu chính của luận án là phát triển lý thuyết hiện có bằng cách giớithiệu các khái niệm mới về ABC Thông qua các cuộc phỏng vấn, quan sát và khảosát từ các công ty đại diện cho các lĩnh vực kinh doanh khác nhau, tác giả đã nghiêncứu về quá trình thực hiện ABC và ABCM, đồng thời đề xuất một mô hình hoànthiện KTQT chi phí với mối quan hệ giữa chiến lược với các yếu tố có ảnh hưởngquan trọng đến thành công của DN và các thước đo hiệu suất [79]
- Luận án tiến sĩ “New dimensions of cost type information for decisionmaking in the wine industry” của Topor Ioan Dan bảo vệ tại trường ĐH Alba Iulia
“1 Decembrie 1918” năm 2013 Nội dung của luận án nghiên cứu các khía cạnh củathông tin chi phí cho việc ra quyết định trong ngành công nghiệp sản xuất rượuvang ở Bungaria Trong luận án, tác giả đã phân tích vai trò của thông tin chi phítrong quá trình ra quyết định, các bất cập hiện có của KTQT chi phí trong các DN
Trang 13sản xuất rượu vang ở Bungaria và đề xuất các giải pháp hoàn thiện KTQT chi phítrong các DN này Các giải pháp của tác giả nhấn mạnh đến hoàn thiện KTQT chiphí phục vụ cho các chức năng lập kế hoạch, kiểm soát và định giá [77]
- Luận án “A Contingency Model of Strategy, Performance MeasurementSystems and Management Accounting Practices: An Empirical Investigation inEnglish Local Authorities” của Alexa Louise Simm (née Brown) thực hiện tạitrường ĐH Southampton (Anh) nghiên cứu về mô hình dự phòng chiến lược, hệthống đo lường hiệu suất và KTQT chi phí thực tế trong các tổ chức chính quyềnđịa phương ở Anh Thông qua hơn 500 phiếu khảo sát và sử dụng mô hình phươngtrình cấu trúc (SEM) qua phần mềm AMOS 7.0 để phân tích dữ liệu, tác giả đánhgiá việc áp dụng mô hình chiến lược và hệ thống đánh giá cũng như các kỹ thuậtkhác của KTQT chi phí của các cơ quan chính quyền địa phương ở Anh nhằm thựchiện chiến lược khác biệt hóa và đổi mới dựa trên việc sử dụng hiệu quả các nguồntài trợ [73]
- Luận án tiến sĩ “Cost information and strategic planning in the Egyptianprivate sector” của Mohamed Fathy Elshahat (2006) thực hiện tại trường ĐHTwente (Hà Lan) Thông qua nghiên cứu KTQT chi phí trong các DN Ai Cập, tácgiả luận án đã chỉ ra các bất cập của KTQT chi phí của các DN này và đề xuất hoànthiện KTQT chi phí phục vụ cho thực hiện thành công chiến lược kinh doanh củacác DN Ai Cập Tác giả cũng chỉ ra hạn chế của luận án là chưa nghiên cứu sâu vềABC do kỹ thuật này chưa phổ biến tại Ai Cập và chưa đánh giá được chi phí vàhiệu quả của việc áp dụng ABC trong các DN Ngoài ra, luận án chưa so sánh đượcquá trình thu thập và xử lý thông tin KTQT chi phí trong các DN quốc doanh và DNngoài quốc doanh ở các nước đang phát triển [47]
- Luận án tiến sĩ “Management Accounting in Saudi Arabia: A comparativeAnalysis of Saudi and Western Approaches” của Majbour J Alnamri, bảo vệ năm
1993 tại trường ĐH Newcastle Trong luận án, tác giả so sánh KTQT chi phí trongcác DN ở các nước đang phát triển mà đại diện là Saudi Arabia với KTQT ở cácnước phát triển là Mỹ, Anh để tìm ra sự khác biệt về KTQT chi phí giữa các nước
Trang 14này Trên sơ sở các khác biệt được phát hiện, tác giả đề xuất các giải pháp để hoànthiện KTQT chi phí trong các DN tại Saudi Arabia Do luận án được nghiên cứutương đối sớm nên các nội dung và phương pháp nghiên cứu của luận án tương đốilạc hậu so với KTQT chi phí hiện nay [39]
- Luận án tiến sĩ “Product Costing for Sawmill Business Management” củaMats Johansson bảo vệ tại trường ĐH Växjö (Thụy Điển) năm 2007 Luận án dựatrên mô hình tuyến tính để phân tích sự thay đổi của chi phí của các nhà máy chếbiến gỗ ở Thụy Điển và phân tích chi phí phát sinh tại điểm phân tách nhằm đápứng nhu cầu thông tin cho quản trị DN chế biến gỗ Tác giả luận án cũng nghiêncứu và đề xuất mô hình sản xuất tối ưu cho các nhà máy chế biến gỗ trong điều kiệnhạn chế về nguồn lực đồng thời khuyến nghị thường xuyên nghiên cứu để kiểmđịnh mô hình này [55]
- Luận án tiến sĩ “Development of management and cost accounting ofwood harvesting in the Republic of Karelia” của Olga Tyukina bảo vệ tại trường
ĐH Eastern (Phần Lan) năm 2010 mô tả sự thay đổi của hệ thống KTQT chi phítrong DN khai thác gỗ thuộc nước Cộng hòa Karelia (Liên bang Nga) trong điềukiện chuyển đổi cơ chế quản lý kinh tế từ kế hoạch hóa tập trung sang kinh tế thịtrường Luận án nghiên cứu hệ thống kế toán chi phí phù hợp với phương pháp khaithác gỗ của các DN tại Karelia trong giai đoạn 2000-2005 [67]
Các bài báo viết về quản trị chi phí gồm:
- Bài báo “Interorganizational cost management in the exchange process” củaAgndal, H và Nilsson, U (2009) nghiên cứu về mối quan hệ giữa DN với nhà cungcấp, khách hàng và hạch toán chi phí nhà cung cấp, khách hàng [37]
- Bài báo “Different open book accounting practices for different purchasingstrategies” của Agndal, H và Nilsson, U (2010) nghiên cứu về các chiến lược muakhác nhau đối với nhà cung cấp và các chi phí liên quan đến các chiến lược này [38]
- Bài báo "Overhead cost allocation changes in a transfer pricing taxcompliant multinational enterprise" của Rossing, C P., và Rohde, C (2010) nghiêncứu ảnh hưởng của thuế chuyển giá đến phân bổ chi phí chung trong các công ty đa
Trang 15quốc gia Kết quả nghiên cứu của các tác giả cho thấy chính sách thuế chuyển giá đãlàm thay đổi cách phân bổ chi phí chung giữa các bộ phận trong các DN này [70]
- Bài báo "The effect of cost information on buyer-supplier negotiations indifferent power settings" của Van den Abbeele, A., Roodhooft, F., và Warlop, L.(2009) Dựa trên lý thuyết về trao đổi xã hội, các tác giả nghiên cứu ảnh hưởng củathông tin chi phí đến việc đàm phán giữa người mua và người bán Nghiên cứu pháthiện ra rằng người mua có ít lợi thế hơn khi đàm phán nhưng có đầy đủ thông tinchi phí có thể giành được quyền kiểm soát trong đàm phán [78]
- Bài báo “Activity Based Costing Implementation Success in Australia” củaSuzanne Byrne, trường ĐH Southern Queensland, Australia nghiên cứu tình hình ápdụng ABC trong các DN ở Australia ABC là hệ thống hạch toán cho kết quả hạch toánchính xác hơn so với hạch toán chi phí truyền thống Tuy nhiên, tỷ lệ áp dụng phươngpháp này tương đối thấp trong các DN Mỹ Dựa trên nghiên cứu tương tự về tình hình
áp dụng ABC trong các DN Mỹ, các tác giả thực hiện nghiên cứu tình hình áp dụngABC trong các DN Australia và cho thấy các DN áp dụng ABC đã có những thànhcông hơn so với các DN không áp dụng hệ thống hạch toán chi phí này [43]
- Bài báo “An Empirical Study of Cost Drivers in US Airline Industry” củaRạiv D Banker và Holly H Johnson (1993) nghiên cứu về các tiêu thức phân bổchi phí sản xuất chung trong ngành hàng không và ảnh hưởng của nó đến các quyếtđịnh quản trị Thông qua kết quả nghiên cứu các tác giả đề xuất sử dụng mô hìnhước tính tỷ lệ phân bổ chi phí chung của ngành này [41]
2.2 CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU VỀ LĨNH VỰC THÉP
Thép được coi là vật liệu cơ bản có vai trò chiến lược của nhiều quốc gia trênthế giới Trong thời gian qua, cuộc cách mạng công nghệ và quá trình tự do hóa nềnkinh tế thế giới tác động mạnh mẽ đến công nghiệp thép thế giới Vì vậy có khánhiều tài liệu, công trình nghiên cứu trong và ngoài nước được thực hiện về lĩnhvực này bao gồm:
- Mark Tilton (2002), “Sự phân khúc thị trường thép Nhật Bản và Châu Âu”.Nghiên cứu cho biết thực trạng hệ thống sản xuất và phân phối thép ở Nhật Bản, đề
Trang 16tài cho thấy các công ty thép Nhật Bản tập trung chú trọng vào sản phẩm thép có giátrị cao và tích cực phát triển sản phẩm mới dựa trên công nghệ hiện đại; hệ thốngtiêu thụ thép công khai [62]
- Sung – Woo Kim (2007) tiến hành nghiên cứu về “Toàn cảnh thị trườngthép tại Hàn Quốc” Đây là nghiên cứu về chính sách công nghiệp và sự phát triểncủa ngành công nghiệp thép Hàn Quốc Nghiên cứu cho biết thực trạng năng lực sảnxuất của ngành công nghiệp thép Hàn Quốc từ thập kỷ 60 cho đến những năm đầucủa thế kỷ XXI và chỉ ra rằng nghành công nghiệp thép phát triển lớn mạnh và hiệuquả như ngày nay [75]
- Laveesh Bhandari (2009) nghiên cứu về “Nền công nghiệp thép Ấn Độ”.Công trình nghiên cứu cho biết toàn cảnh nền công nghiệp sản xuất thép của Ấn Độ vàcho thấy một ngành công nghiệp thép phát triển mạnh là yếu tố quan trọng đối với sựnghiệp phát triển công nghiệp hóa của bất kỳ quốc gia nào, từ đó rút ra bài học kinhnghiệm cho các quốc gia khác về nâng cao năng lực sản xuất kinh doanh thép [59]
- Nanthi Suthikarnnarunai and Kulsurat Muangthong (2009) nghiên cứu về
“Các yếu tố kinh tế ảnh hưởng tới chi phí sản xuất và vận chuyển của ngành côngnghiệp sản xuất thép tại Thái Lan” Nghiên cứu này chỉ ra các yếu tố kinh tế ảnhhưởng tới chi phí sản xuất và vận chuyển của ngành công nghiệp thép Thái Lan,như: năng lực sản xuất, vấn đề tài chính, nguồn cung cấp nguyên liệu đầu vào [66]
Ở Việt Nam trong những năm gần đây cũng có nhiều đề tài nghiên cứu vàthảo luận về lĩnh vực thép được thực hiện như:
- Nguyễn Minh Ngọc và các cộng sự (2003), đã thực hiện nghiên cứu đề tài
“Hoàn thiện hoạt động phân phối thép tại Việt Nam” Đây là đề tài nghiên cứu giữatrường Đại học Kinh tế Quốc dân với JICA (Nhật Bản) Đề tài này nghiên cứu vềkênh phân phối tổng thể đối với sản phẩm thép xây dựng của Việt Nam có quy môlớn Đề tài đã phân tích các nội dung: tình hình tài chính và hoạt động kinh doanh;chính sách phân phối; mối quan hệ các thành viên trong kênh Tuy nhiên đề tài chỉđưa ra những giải pháp mang tính vĩ mô, mà chưa làm nổi bật hệ thống phân phốithép của các doanh nghiệp cụ thể [19]
Trang 17- Nguyễn Xuân Chiến (2008), đề tài cấp Bộ Công thương về “Tổ chức vàquản lý hệ thống phân phối mặt hàng thép xây dựng ở Việt Nam” Đề tài đã đưa ranhững đánh giá khá chi tiết về thực trạng tổ chức, quản lý hệ thống phân phối thépxây dựng trên bình diện tổng thể nền kinh tế, không nghiên cứu chi tiết đối với các
DN cụ thể Những giải pháp đưa ra phần lớn ở tầm vĩ mô mang tính chất quản lýnhà nước đối với sản phẩm thép xây dựng của Việt Nam [6]
- Nguyễn Hoài Nam (2010), luận án tiến sĩ kinh tế “Quản trị kênh phân phôithép xây dựng của các DNSX thép tại Việt Nam”, trường Đại học Kinh tế Quốc dân.Luận án đã đưa ra thực trạng và các giải pháp về quản trị kênh phân phối thép xâydựng của các DNSX thép trên cơ sở các nhân tố ảnh hưởng tới kênh phân phối thép vàthực trạng tổ chức, quản lý kênh phân phối thép xây dựng tại ba DN nghiên cứu điểnhình đó là TISCO, Công ty thép Việt Úc và Công ty cổ phần thép Việt – Nhật [17]
2.3 KẾT LUẬN RÚT RA TỪ CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ NGHIÊN CỨU
Sau khi nghiên cứu các công trình đã công bố liên quan đến KTQT nóichung, KTQT chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm nói riêng và các công trìnhnghiên cứu có liên quan đến lĩnh vực sản xuất và kinh doanh thép, tác giả rút ra cáckết luận sau:
- Về các công trình nghiên cứu trong nước:
Các công trình đã nghiên cứu về KTQT ở Việt Nam đều tập trung vào nghiêncứu, đánh giá thực trạng hệ thống KTQT, KTQT chi phí, tổ chức KTQT, KTQT chiphí và giá thành v.v Từ đó, các tác giả đưa ra các đề xuất giải pháp hoàn thiện hệthống KTQT nói chung và KTQT chi phí và giá thành nói riêng trong các DN
- Về các công trình nghiên cứu ở nước ngoài :
Các công trình nghiên cứu về KTQT chi phí trên thế giới đều tập trungnghiên cứu về phân bổ chi phí theo hoạt động (ABC), quản lý chi phí theo hoạtđộng (ABCM), chi phí chênh lệch và việc sử dụng các thông tin chi phí để ra quyếtđịnh v.v
- Các công trình nghiên cứu đã công bố còn một số hạn chế sau:
+ Về nội dung nghiên cứu: một số công trình chỉ tập trung nghiên cứu thôngqua tài liệu là chế độ kế toán như công trình của tác giả Nguyễn Văn Bảo
Trang 18+ Về phạm vi nghiên cứu: KTQT chịu ảnh hưởng nhiều của môi trường kinhdoanh và đặc điểm quản trị của DN Tuy nhiên, một số công trình nghiên cứu vềKTQT lại có phạm vi quá rộng như các DN sản xuất, các DN nhà nước, v.v nênchỉ đưa ra được các đề xuất mang tính định hướng mà khó có thể áp dụng cho các
DN cụ thể Ngay cả những nghiên cứu về KTQT trong một ngành như các DN dầukhí của tác giả Lưu Thị Hằng Nga cũng không phù hợp với các DN cụ thể trongngành này bởi vì các DN dầu khí hoạt động trong các lĩnh vực khác nhau như thăm
dò, khai thác, dịch vụ dầu khí, kinh doanh du lịch, v.v cũng có những đặc thù hoạtđộng rất khác nhau
+ Về đối tượng nghiên cứu: ngoài một số công trình nghiên cứu chế độ kếtoán, các công trình khác đều tập trung nghiên cứu hệ thống kế toán chi phí trongcác DN Tuy nhiên, một số tác giả nhầm lẫn giữa thông tin kế toán cung cấp choquản trị DN với việc sử dụng thông tin để ra quyết định quản trị Các nội dung vềphân tích CVP, phân tích chênh lệch, các tình huống sử dụng thông tin để ra quyếtđịnh, v.v… thuộc về phạm vi sử dụng thông tin của nhà quản trị KTQT chi phí chỉcung cấp thông tin phục vụ cho việc phân tích để ra các quyết định này
+ Về phương pháp nghiên cứu: Các công trình nghiên cứu trong nước tronggiai đoạn 1995 - 2010 sử dụng phương pháp quan sát và nghiên cứu qua tài liệuthực tế tại các DN và dựa vào suy luận là chủ yếu, chưa có các điều tra, khảo sát,đặc biệt là khảo sát đối tượng sử dụng thông tin KTQT chi phí để ra quyết địnhquản trị DN nên kết quả đánh giá về những hạn chế của KTQT chi phí đối với quảntrị DN chưa đầy đủ và đáng tin cậy Các công trình nghiên cứu gần đây (từ 2010 –2014) đã thực hiện khảo sát từ các DN nghiên cứu Tuy nhiên, ngoài tác giả TrầnThế Nữ và Trần Thị Dự có sử dụng kết quả khảo sát để trình bày và đánh giá thựctrạng KTQT chi phí trong các DN nghiên cứu Các công trình nghiên cứu khác tuy
có khảo sát bằng phiếu điều tra nhưng kết quả khảo sát không được các tác giả sửdụng để trình bày và đánh giá thực tế Các kết quả nghiên cứu thực tế của các côngtrình này vẫn dựa trên các quan sát và suy đoán là chủ yếu: Phạm Thị Thủy, HoàngVăn Tưởng, Nguyễn Hoản, Nguyễn Thị Ngọc Lan, Nguyễn Quốc Thắng
Trang 19+ Về lĩnh vực nghiên cứu: Đã có rất nhiều các công trình trong và ngoàinước nghiên cứu về KTQT chi phí thuộc các lĩnh vức nghiên cứu khác nhau, phạm
vi khác nhau Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu về KTQT đã công bố chưa thấy
có công trình nào nghiên cứu về KTQT chi phí áp dụng cho các DN sản xuất thép,trong khi ngành này đang có sự cạnh tranh mạnh mẽ từ chính các DN nước ngoài
+ Về các giải pháp đề xuất: Các công trình nghiên cứu mới đề xuất các giảipháp hoàn thiện thông tin chi phí cho các quyết định quản trị ngắn hạn, chưa cócác đề xuất cho các quyết định quản trị dài hạn và chiến lược Các giải pháp hoànthiện mới chỉ tập trung vào các thông tin tài chính, chưa đề cập đến các thông tinphi tài chính
Từ các nhận xét trên, tác giả cho rằng khoảng trống để tác giả nghiên cứu vềcông tác KTQT chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm trong các DNSX thép thuộcTổng công ty Thép Việt Nam (VNSTEEL) là hoàn toàn phù hợp và cần thiết trongđiều kiện các DN trong nước đang gặp phải sự cạnh tranh mạnh mẽ với các DNnước ngoài
3 MỤC ĐÍCH VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
3.1 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
Luận án sẽ tập trung đạt được mục đích nghiên cứu sau:
Mục đích tổng quát: Nghiên cứu hoàn thiện KTQT chi phí sản xuất và giáthành sản phẩm tại các DN thép thuộc Tổng công ty thép Việt Nam
Đề xuất các giải pháp hoàn thiện KTQT chi phí sản xuất và giá thành sảnphẩm đáp ứng nhu cầu thông tin cho quản trị DN trong điều kiện toàn cầu hóa vàhội nhập của nền kinh tế Việt Nam với nền kinh tế khu vực và thế giới
Trang 203.2 PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Hiện nay, trong Tổng công ty thép Việt Nam có nhiều DN thành viên trải dàikhắp cả nước Luận án đi sâu vào nghiên cứu KTQT chi phí sản xuất và giá thànhsản phẩm thép tại 02 nhóm DN điển hình vừa sản xuất, vừa kinh doanh thép thuộcTổng công ty thép Việt Nam đó là: 01 là nhóm DN ở khu vực phía Bắc, điển hình làCông ty cổ phần Gang thép Thái Nguyên và 02 là nhóm DN ở khu vực phía Nam,điển hình là Công ty thép Miền Nam Đây là hai công ty vừa sản xuất, vừa kinhdoanh thép chủ đạo và lớn nhất Tổng công ty thép Việt Nam, có năng lực sản xuấtthép lớn nhất và có thị phần khá lớn trong ngành thép Việt Nam Số liệu khảo sátthực tế tại các DN nghiên cứu các năm 2012, 2013, 2014
Luận án chỉ nghiên cứu nhu cầu thông tin KTQT chi phí sản xuất, giá thànhsản phẩm và việc cung cấp thông tin cho quản trị trong các DN thép mà khôngnghiên cứu việc sử dụng thông tin KTQT chi phí sản xuất và giá thành sản phẩmliên quan đến vấn đề sử dụng thông tin phân tích chênh lệch, sử dụng thông tin để
ra quyết định
4 CÂU HỎI NGHIÊN CỨU
Để đạt được mục đích nghiên cứu như đã trình bày ở trên, luận án sử dụngcâu hỏi nghiên cứu sau:
- KTQT chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm tại các DN thép thuộcVNSTEEL đã đáp ứng được nhu cầu quản trị DN của các DN này như thế nào?
Từ câu hỏi nghiên cứu chủ đạo, luận án có các câu hỏi nghiên cứu cụ thể sau:
- KTQT chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm đã đáp ứng yêu cầu lập kếhoạch trong các DNSX thép thuộc VNSTEEL như thế nào?
- KTQT chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm đã đáp ứng yêu cầu kiểmsoát trong các DNSX thép thuộc VNSTEEL chưa?
- KTQT chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm đã đáp ứng yêu cầu đánh giáhiệu quả kinh doanh trong các DNSX thép thuộc VNSTEE như thế nào?
5 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Trang 215.1 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
Để đạt được mục tiêu nghiên cứu, luận án sẽ nghiên cứu các vấn đề về:
- Nhu cầu thông tin KTQT chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm theo yêucầu của quản trị DN
- Lý thuyết cơ bản về KTQT chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm theoyêu cầu thông tin cho quản trị DN
- Thực trạng kế toán chi phí nói chung và KTQT chi phí sản xuất, giá thànhsản phẩm trong các DNSX thép thuộc VNSTEEL
- Mô hình KTQT chi phí theo yêu cầu quản trị DN của các DNSX thép thuộcVNSTEEL
5.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vậtlịch sử, luận án phân tích, đánh giá các sự vận hiện tượng, các vấn đề trong mốiquan hệ giữa các sự vật hiện tượng và tính lịch sử cụ thể của chúng Luận án sửdụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể như : khảo sát, phân tích, so sánh đểnghiên cứu thực trạng hệ thống kế toán chi phí trong các DNSX thép thuộc Tổngcông ty Thép Việt Nam Từ đó, tổng hợp, rút ra các kết luận cần thiết từ thực tế, đưa
ra các giải pháp hoàn thiện phù hợp có khả năng thực hiện Bên cạnh đó, luận án sửdụng các phương pháp tổng hợp, phân loại, hệ thống hoá để khái quát những vấn đề
lý luận về KTQT chi phí sản xuất Tác giả tiến hành nghiên cứu tại 02 DN điển hìnhvừa sản xuất, vừa kinh doanh thép thuộc Tổng công ty thép Việt Nam đó là: 01công ty ở khu vực phía nam - Công ty thép Miền Nam và 01 công ty ở khu vức phíabắc - Công ty cổ phần Gang thép Thái Nguyên (TISCO)
Phương pháp thu thập dữ liệu, tài liệu
Thu thập dữ liệu sơ cấp
Dữ liệu sơ cấp sử dụng trong luận án bao gồm các số liệu khảo sát về thựctrạng công tác KTQT chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm; nhu cầu, tình hình sửdụng thông tin KTQT chi phí sản xuất và giá thành của các nhà quản trị DN Đểnghiên cứu thực trạng KTQT chi phí và giá thành trong các DNSX thép thuộc Tổng
Trang 22công ty Thép Việt Nam, tác giả sử dụng các phương pháp điều tra, phỏng vấn sâucác nhà quản trị và các nhân viên kế toán tại 2 công ty thép chiếm thị phần lớnthuộc Tổng công ty Thép Việt Nam Bên cạnh đó tác giả đã tiến hành gửi phiếuđiều tra tới các DN thép là các công ty con, công ty liên kết, đơn vị trực thuộc thuộc
VNSTEEL Phiếu điều tra được tác giả thiết kế theo mẫu trình bày trong phụ lục số
2, phụ lục số 3 và được gửi đến các DN bằng thư điện tử, đường bưu điện Số lượng DN được gửi phiếu khảo sát là 20 phiếu (Phụ lục số 01) Đối tượng được
khảo sát là các cán bộ kế toán và các nhà quản trị Mục đích khảo sát là tìm hiểuthực trạng hệ thống KTQT chi phí sán xuất, nhu cầu sử dụng thông tin KTQT chiphí sản xuất cho quản trị DN và sự hài lòng về việc cung cấp thông tin KTQT chiphí sản xuất của hệ thống kế toán cho quản trị DN ở các DN trên Ngoài gửi phiếukhảo sát, tác giả còn thực hiện các buổi phỏng vấn sâu, khảo sát thực tế tại một số
DN trên địa bàn Hà Nội
- Xử lý và trình bày kết quả khảo sát
Kết quả khảo sát sẽ được tác giả xử lý, tổng hợp, phân tích bằng bảng tínhexcel Các kết quả tính toán và trình bày dưới dạng sơ đồ, bảng biểu hoặc đoạn văn
để rút ra các kết luận về thực trạng KTQT chi phí sản xuất trong các DNSX thépthuộc VNSTEEL
Thu thập dữ liệu thứ cấp
Dữ liệu thứ cấp bao gồm các tài liệu liên quan đến các công trình nghiên cứutrong nước và nước ngoài được thu thập thông qua các nguồn tài liệu tại các thưviện, các ấn bản phẩm đã được xuất bản và tìm kiếm trên mạng và truy cập vào cáctrang web Các trang web được tác giả truy cập để đọc các bài báo, luận án gồm cáctrang web của các trường đại học và các trang web chuyên cung cấp các bài báonghiên cứu liên quan đến đề tài luận án như:
emeraldinsight.com,www.sciencedirect.com,http://search.proquest.com,www.igpublish.com, v.v… Các dữ liệu thứ cấp được sử dụng trong luận án còn bao gồmcác báo cáo KTQT chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm của các DN thép Các dữliệu này do các DN cung cấp hoặc được khai thác từ các công trình nghiên cứu
Trang 23trước đó như các luận án, các bài báo, v.v…
Trang 24Chương 1:
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ GIÁ THÀNH SẢN PHẨM TRONG DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT
1.1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ KẾ TOÁN QUẢN TRỊ
1.1.1 Bản chất của kế toán quản trị doanh nghiệp
* Kế toán là một hệ thống thông tin quản trị
Hệ thống thông tin là một tổng thể bao gồm nhiều bộ phận khác nhau có mốiliên hệ tác động qua lại với nhau, được sắp xếp theo một trình tự nhất định nhăm tạothành một chỉnh thể thống nhất, có khả năng thực hiện một số chức năng hoặc mụctiêu nhất định [25, tr.14]
Theo quan điểm này, DN là một hệ thống, nếu xem xét theo chức năng hoạtđộng nó bao gồm: hệ thống quyết định, hệ thống tác nghiệp và hệ thống thông tin.Trong đó hệ thống thông tin thực hiện mối liên hệ giữa hệ thống quyết định và hệthống tác nghiệp, đảm bảo cho chúng vận hành một cách thuận tiện để đạt đượcmục tiêu đã đề ra Bên cạnh đó hệ thống thông tin của DN còn có chức năng thuthập và trao đổi thông tin nội bộ với môi trường bên ngoài
Sơ đồ 1.1 Mối quan hệ giữa các hệ thống thông tin trong DN
Hoạt động sản xuất kinh doanh của các DN rất đa dạng và phong phú, do vậy
hệ thống thông tin của DN cũng được phân thành các hệ thống thông tin theo từnglĩnh vực, từng chức năng quản trị nhằm cung cấp thông tin trợ giúp cho quá trình raquyết định ở mỗi lĩnh vực, mỗi hoạt động Hệ thống thông tin trong DN thường baogồm các hệ thống thông tin con sau:
Thông tin bên ngoài
Hệ thống quyết định
Hệ thống thông tin
Hệ thống tác nghiệp
Trang 25- Hệ thống thông tin thị trường.
- Hệ thống thông tin sản xuất
- Hệ thống thông tin tài chính
- Hệ thống thông tin nhân sự
- Hệ thống thông tin kế toán
Các hệ thống thông tin có mối liên hệ mật thiết lẫn nhau, hỗ trợ và tác độngqua lại với nhau, chia sẻ thông tin với nhau Các hệ thống thông tin đều phải huyđộng và sử dụng các nguồn lực tài chính khác nhau trong quá trình hoạt động, trongkhi đó tài sản là đối tượng nghiên cứu của kế toán Do vậy, để cung cấp thông tinphục vụ hoạt động quản trị DN, hệ thống thông tin kế toán cần phải dựa vào thôngtin từ các hệ thống thông tin con khác cung cấp Hệ thống thông tin kế toán có tầmquan trọng đặc biệt đối với các nhà quản trị trong việc đưa ra quyết định kinhdoanh
* Kế toán quản trị là một bộ phận cấu thành hệ thống kế toán
Kế toán ra đời từ rất lâu, nó tồn tại và phát triển qua các hình thái kinh tế xãhội Cùng với sự phát triển của nền kinh tế hàng hóa, kế toán ngày càng hoàn thiện
và phát triển cả về nội dung và hình thức, thực sự trở thành công cụ không thể thiếuđược trong quản trị, kiểm tra, kiểm soát và điều hành các hoạt động kinh tế tài chínhcủa đơn vị
Sự phát triển của kế toán gắn liền với sự phát triển của nền kinh tế Khi nềnkinh tế phát triển, các phương pháp kế toán cũng thay đổi và ngày càng hoàn thiệnhơn Các nghiên cứu đã chỉ ra sự phát triển của kế toán chủ yếu là để phục vụ nhucầu kinh doanh và mục tiêu cuối cùng của kế toán là cung cấp thông tin phục vụ chohoạt động ra các quyết định Các hoạt động của kế toán nhằm hướng tới việc cungcấp thông tin phục vụ cho việc ra quyết định, vì vậy nếu bỏ mục đích cung cấpthông tin của kế toán thì hoạt động kế toán hoàn toàn vô nghĩa [21, tr.12]
Nền sản xuất hàng hóa càng phát triển thì kế toán càng có vai trò quan trọng,
nó vừa là công cụ quan trọng phục vụ cho quản trị, điều hành, kiểm soát đáng tincậy, vừa là một phân hệ quan trọng cấu thành nên hệ thống thông tin kế toán của
Trang 26đơn vị.
Chức năng của kế toán nói chung là cung cấp thông tin về hoạt động kinh tếtài chính của một đơn vi, một tổ chức cho các đối tượng sử dụng thông tin, với 3mục đích cơ bản:
(1) Cung cấp các báo cáo tài chính theo chuẩn mực và các nguyên tắc đãđược quy định phục vụ cho các đối tượng bên ngoài và bên trong của đơn vị, tổchức;
(2) Hoạch định các kế hoạch hoạt động ngắn hạn và dài hạn của đơn vị, tổchức phục vụ cho các đối tượng bên trong đơn vị, tổ chức;
(3) Kiểm soát các kết quả hoạt động của đơn vị, tổ chức phục vụ cho các đốitượng bên trong của đơn vị, tổ chức [27, tr.8]
Đối tượng sử dụng thông tin rất đa dạng và nhu cầu thông tin mà kế toánphải cung cấp cũng rất khác nhau phụ thuộc vào mục đích của người sử dụng thôngtin Điều đó đã thúc đẩy kế toán phát triển và phân ra nhiều loại khác nhau Theomục đích cung cấp thông tin cho người sử dụng, kế toán được chia làm 2 loạiKTTC và KTQT
KTTC thực hiện mục đích thứ (1) là cung cấp các thông tin cho các đốitượng sử dụng bên ngoài DN và các đối tượng bên trong DN Thông tin KTTC cungcấp là những thông tin chung nhất về tình hình tài chính, khả năng sinh lời, khảnăng thanh toán của DN, để đáp ứng nhu cầu sử dụng của nhiều đối tượng; cácthông tin đó phải tuân thủ các nguyên tắc kế toán được chấp nhận
KTQT thực hiện mục đích thứ (2) và (3) đáp ứng nhu cầu thông tin của cácđối tượng bên trong DN (nhà quản trị các cấp) KTQT cung cấp cho nhà quản tri
DN về tình hình hoạt động hàng ngày của DN, về việc lập kế hoạch, tiến độ thựchiện các kế hoạch, các chi tiết về chi phí SXKD và giá thành SP, Hệ thống KTQT
có thể lập bất kể loại báo cáo nào mà nhà quản trị DN thấy cần thiết phục vụ chohoạt động ra quyết định của mình và không phải tuân thủ các nguyên tắc kế toánđược chấp nhận chung Từ hệ thống KTQT người ta có thể tách riêng bộ phận kếtoán chuyên cung cấp thông tin về chi phí và giá thành của mỗi hoạt động cụ thể
Trang 27trong DN thành kế toán chi phí (bộ phận quan trọng nhất của KTQT).
* Thông tin kế toán quản trị với việc ra quyết định của nhà quản trị
Trong quá trình điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh của DN, nhà quảntrị luôn phải đưa ra các quyết định khác nhau Ra quyết định là một chức năng cơbản của nhà quản trị, đồng thời cũng là nhiệm vụ khó khăn và phức tạp nhất của họ.Tính phức tạp càng tăng thêm khi mà mỗi tình huống phát sinh thêm đều tồn tạikhông chỉ một hoặc hai mà nhiều phương án liên quan khác nhau đòi hỏi nhà quảntrị phải lựa chọn phương án tốt nhất Ra quyết định tự thân nó không phải là mộtchức năng riêng biệt mà trong quá trình thực hiện các chức năng quản lý đều đòi hỏiphải ra quyết định Do đó thông tin KTQT thường phục vụ chủ yếu cho chức năngnày
Để phục vụ cho việc ra quyết định, nhà quản trị cần thiết phải tập hợp vàphân tích nhiều dạng thông tin khác nhau, trong đó có thông tin do KTQT cung cấp,đặc biệt là thông tin về chi phí có vai trò đặc biệt quan trọng Vấn đề đặt ra ở đây làcác thông tin này phải được xử lý bằng các phương pháp như thế nào để phục vụhiệu quả nhất cho việc ra quyết định của nhà quản trị Quyết định của nhà quản trịbao gồm hai loại: quyết định ngắn hạn và quyết định dài hạn Quyết định ngắn hạn
là những quyết định thường liên quan đến một kỳ kế toán hoặc trong phạm vi dướimột năm Hay nói cách khác các quyết định ngắn hạn được đưa ra nhằm thỏa mãncác mục tiêu ngắn hạn của tổ chức Các quyết định ngắn hạn phát sinh thườngxuyên, liên tục trong quá trình điều hành DN, như các quyết định mua ngoài hay tựsản xuất một chi tiết sản phẩm hoặc chấp nhận hay từ chối một đơn đặt hàng đặcbiệt, quyết định giá bán, Quyết định dài hạn là những quyết định liên quan đếnquá trình đầu tư vốn để phục vụ cho mục tiêu lâu dài của DN, đây là các quyết địnhliên quan đến vốn đầu tư dài hạn cho mục đích thu được lợi nhuận trong tương lai.Các quyết định dài hạn thường liên quan đến việc đầu tư vào tài sản cố định, mởrộng sản xuất, thay đổi quy trình công nghệ, quyết định lựa chọn mua hay thuê máymóc, thiết bị, Vẫn đề đặt ra là xác định các phương pháp thích hợp trong việc xử
lý thông tin KTQT để phục vụ hiệu quả cho việc ra các quyết định Phân tích thông
Trang 28tin thích hợp được ứng dụng cho cả quyết định ngắn hạn và dài hạn Đặc biệt vớiquyết định ngắn hạn, lý thuyết thông tin thích hợp được sử dụng kết hợp với cáchtính số dư đảm phí trong báo cáo thu nhập được xem là một công cụ rất hữu hiệu.KTQT cũng giúp các nhà quản trị trong quá trình ra quyết định không chỉ bằng cáchcung cấp các thông tin thích hợp, mà còn bằng cách vận dụng các kỹ thuật phân tíchvào những tình huống khác nhau, để từ đó nhà quản trị lựa chọn, làm cơ sở ra quyếtđịnh thích hợp nhất.
Phần lớn thông tin do KTQT cung cấp nhằm giúp các nhà quản trị DN raquyết định KTQT có vai trò cung cấp thông tin, soạn thảo các báo cáo dự toán hoatđộng sản xuất kinh doanh; báo cáo đo lường, định lượng kết quả hoạt động sản xuấtkinh doanh; báo cáo biến động giữa kết quả thực tế với mục tiêu hay dự toán vànhững nguyên nhân gây nên sự biến động đó; báo cáo phân tích các phương án đưa
ra để lựa chọn; tư vấn cho nhà quản trị lựa chọn phương án, quyết định phù hợp vàtối ưu
Như vậy, bản chất thông tin KTQT là một hệ thống thông tin quản trị DN.Thông tin KTQT có chức năng quan trọng nhằm tăng cường quản lý hoạt động sảnxuất kinh doanh của các DN trong môi trường kinh doanh luôn luôn biến động Đó
là một hệ thống thông tin quản trị hữu ích, một hệ thống thông tin quan hệ vật trách nhiệm, minh bạch về trách nhiệm nội bộ của DN trong điều hành, quản trị cáchoạt động của DN
chất-Để cung cấp thông tin nhằm tăng cường công tác quản lý hoạt động sản xuấtkinh doanh, giúp các nhà quản trị hoàn thành tốt các chức năng của mình Tổ chứcKTQT phù hợp, khoa học, hiệu quả, tiết kiệm, đáp ứng các yêu cầu đề ra là mộtnội dung rất quan trọng đối với các DN
1.1.2 Sự ra đời và phát triển của kế toán quản trị
Kế toán quản trị có một quá trình hình thành và phát triển lâu dài cùng với sự
ra đời và phát triển của kế toán nói chung, từ những hình thức sơ khai trong quá khứtới các phương pháp kỹ thuật hiện đại và phức tạp ngày nay
Kế toán ra đời và phát triển cùng với sự ra đời và phát triển của xã hội loài
Trang 29người Có những bằng chứng cho thấy ngay từ thời Cổ đại đã xuất hiện những hìnhthức sơ khai của kế toán Tuy nhiên, vai trò của kế toán thời kỳ này chỉ đơn thuần làghi nhận về kết quả lao động hoặc theo dõi tài sản của các bậc vua chúa [40, tr.5]
Thời Trung cổ (thế kỷ VI – thế kỷ XV) những hình thức ban đầu của kế toánquản trị đã xuất hiện trong các phường hội Các nhà sản xuất (các phường hội) đãghi chép các sổ sách về các chi phí vật liệu và chi phí nhân công và coi đó nhưnhững bằng chứng về chất lượng của sản phẩm [40, tr.5], [48, tr.1], [56, tr.2]
Thời kỳ Phục hưng (thế kỷ XV – thế kỷ XVI), cùng với sự phát triển của hệthống kế toán nói chung, những nguyên lý cơ bản của kế toán quản trị hiện đại đãbắt đầu xuất hiện, như các ý niệm về định mức nguyên vật liệu, năng suất của côngnhân, các phiếu theo dõi chi phí của từng công việc, và các dự toán KTQT thời kỳnày hướng vào việc trợ giúp cho các quyết định đầu tư tài sản cố định, quản lý chiphí và định giá sản phẩm [40, tr.5]
Cuộc cách mạng công nghiệp (cuối thế kỷ XVIII) làm thay đổi nền kinh tếthế giới Hình thức của các tổ chức kinh tế có sự đổi mới căn bản: chủ sở hữu táchbiết với nhà quản lý Đặc điểm của quá trình sản xuất cũng phát triển từ sản xuấttheo kiểu thủ công, hộ gia đình sang sản xuất tại các nhà máy Từ đó KTQT cũng cónhững bước phát triển mới và bắt đầu được chuẩn hóa với bằng chứng là sự ra đờicủa cuốn sách Cost of Manufacturers (Chi phí của các đơn vị sản xuất) của HenryMetcalf năm 1885
KTQT đã từng xuất hiện rất lâu trong hệ thống kế toán DN ở các nước cónền kinh tế thị trường Những năm cuối thế kỷ 18 và đầu thế kỷ 19, KTQT đã xuấthiện trong hệ thống kế toán DN Đầu tiên, KTQT xuất hiện dưới hình thức KTCPtrong DN sản xuất nhỏ nhằm đáp ứng nhu cầu thông tin cho những nhà quản trịtrong nội bộ DN sản xuất kiểm soát chi phí, định hướng sản xuất để nâng cao nănglực cạnh tranh, chống đỡ sức ép từ những DN sản xuất lớn Sau đó, với thực tiễnhữu hiệu, hiệu quả, KTQT bắt đầu được chú ý, áp dụng, phát triển nhanh trongnhững loại hình DN khác và cả trong những tổ chức phi lợi nhuận như cơ quan củaNhà nước, bệnh viện
Trang 30Song song với thực tiễn của quá trình hình thành, phát triển KTQT, hệ thống
lý thuyết KTQT cũng đã sớm ra đời vào những năm đầu thế kỷ 20, Viện nghiên cứuKTQT của Mỹ xuất bản KTQT năm 1919, Viện nghiên cứu KTQT của Anh xuấtbản KTQT năm 1921 [53, tr.182] Từ đó, thực tiễn và lý thuyết KTQT ngày càngphát triển, phát triển rất nhanh trong những thập niên gần đây và được nhiều DNứng dụng để xây dựng hệ thống thông tin phục vụ cho quản trị hoạt động sản xuấtkinh doanh của DN
Ngày nay, KTQT tiếp tục phát triển nhanh chóng ở những nước có nền kinh
tế thị trường và cả những nước Xã hội chủ nghĩa khi chấp nhận nền kinh tế thịtrường, tiêu biểu như KTQT trong DN sản xuất ở Trung quốc KTQT bắt đầuchuyển sang một kỷ nguyên mới, rất gần với quản trị, là một công cụ hợp nhất giữachiến lược kinh doanh với thị trường, hợp nhất giữa kiểm soát và thông tin phản hồivới thông tin định hướng [50, tr 119-120], hay KTQT là một bộ phận thiết yếu củaquản trị, kế toán chiến lược [69, tr.521]
Tóm lại, sự phát triển kinh tế, xã hội dẫn đến hình thành những nhận thứckhác nhau về kế toán, KTQT và chính nền kinh tế thị trường đã làm nổi bật nhu cầu
về KTQT, thúc đẩy phát triển KTQT KTQT được xem như là quy trình định dạng,thu thập, kiểm tra, định lượng để trình bày, giải thích và cung cấp thông tin kinh tế,tài chính về hoạt động của DN cho những nhà quản trị trong nội bộ DN thực hiệntoàn diện các chức năng quản trị
1.1.3 Mối quan hệ giữa kế toán quản trị và kế toán tài chính
Kế toán tài chính và kế toán quản trị có mối liên hệ mật thiết với nhau, cónhững điểm giống nhau và khác nhau Sự giống nhau giữa kế toán tài chính và kếtoán quản trị được thể hiện trên các điểm sau:
* Giống nhau
Kế toán tài chính và kế toán quản trị đều phục vụ cho mục đích quản lýdoanh nghiệp trên các góc độ khác nhau Kế toán tài chính và kế toán quản trị cùngnghiên cứu và cung cấp thông tin kinh tế, tài chính định lượng gắn liền với các quan
hệ kinh tế, pháp lý để quản lý, điều hành tổ chức
Trang 31Kế toán tài chính và kế toán quản trị đều quan tâm đến trách nhiệm của nhàquản lý trên các góc độ khác nhau Kế toán tài chính và kế toán quản trị cùng ghinhận và thể hiện trách nhệm, quyền lợi vật chất, pháp lý của tổ chức, nhà quản trị.
Kế toán tài chính chú trọng đến trách nhiệm điều hành chung đối với toàn bộ tổchức; kế toán quản trị chú trọng đến trách nhiệm điều hành ở từng bộ phận của tổchức cho đến cấp thấp nhất chỉ có trách nhiệm với chi phí
Kế toán tài chính và kế toán quản trị đều sử dụng các chứng từ ban đầu làm
cơ sở để tính toán các chỉ tiêu kinh tế - tài chính
* Khác nhau
Bảng 1.1: So sánh sự khác nhau giữa Kế toán quản trị và Kế toán tài chính
Kế toán tài chính Kế toán quản trị
1 Mục đích Phục vụ cho việc lập báo cáo
tài chính
Phục vụ cho các nhà quản lý
để quản trị doanh nghiệp
2 Đối tượng cung
cấp và sử dụng
thông tin kế toán
Các cá nhân, tổ chức bên trong
và bên ngoài doanh nghiệpnhưng chủ yếu là các cá nhân,
tổ chức bên ngoài, như: Cácnhà đầu tư, nhà cho vay, nhàcung cấp, cơ quan thuế…
Chủ yếu là Nhà quản trị bêntrong doanh nghiệp như: Cácchủ sở hữu, hội đồng quảntrị, ban giám đốc, các nhàquản lý…
Tuân thủ các chính sách củanhà quản trị, nhu cầu kiểmsoát của nhà quản trị
4 Đặc điểm của
thông tin
- Phản ánh thông tin quá khứ
- Chủ yếu thể hiện bằng thước
đo giá trị
- Chú ý và hướng về tươnglai, đặt nhu cầu tối ưu vềlinh hoạt, kịp thời
- Được đo lường bằng bất kỳcác đơn vị hiện vật, thời gianlao động, giá trị
Trang 326 Kỳ báo cáo Định kỳ, theo quy định chung
8 Quan hệ với
các lĩnh vực
chuyên môn khác
Ít quan hệ với các lĩnh vựcchuyên môn khác
Quan hệ nhiều với các lĩnhvực chuyên môn khác
9 Tính pháp lý Mang tính pháp lý cao Không mang tính pháp lý
1.1.4 Mục tiêu và nhiệm vụ của kế toán quản trị
KTQT là một bộ phận của kế toán nói chung, để đảm bảo thực hiện tốt cácchức năng cung cấp thông tin nhằm tăng cường công tác quản trị DN, KTQT cầnđảm bảo thực hiện tốt các mục tiêu sau:
- Cung cấp thông tin đầy đủ, kịp thời về tình hình tài sản, nguồn vốn, doanhthu, chi phí, lợi nhuận của bộ phận, của DN cho nhà quản trị các cấp;
- Cung cấp kịp thời và đầy đủ về định mức chi phí, dự toán, kế hoạch để nhàquản trị có phương hướng phân tích, đánh giá đưa ra các quyết định phù hợp;
- Các thông tin cung cấp phải xuất phát từ nhu cầu của các nhà quản trị vàđặc thù kinh doanh cụ thể của các DN;
- Thông tin cung cấp phải thuận tiện cho quá trình phân tích, đánh giá đưa racác quyết định phù hợp cho từng mục tiêu khác nhau
Để đảm bảo thực hiện tốt các mục tiêu trên, KTQT phải thực hiện các nhiệm
Trang 33đơn vị xác định theo từng thời kỳ;
- Kiểm tra, giám sát việc thực hiện các định mức chi phí, dự toán ngân sách,
Kế toán quản trị chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm là một bộ phận của
hệ thống kế toán quản trị nhằm cung cấp thông tin về chi phí sản xuất và giá thànhsản phẩm để các doanh nghiệp thực hiện chức năng quản trị yếu tố nguồn lực tiêudùng cho các hoạt động, nhằm xây dựng kế hoạch, kiểm soát đánh giá hoạt động…
Kế toán chi phí nói chung, KTQT chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm nóiriêng là một bộ phận của hệ thống kế toán Ở nhiều nước KTCP được tách ra thànhmột lĩnh vực quan trọng và được giảng dạy thành một học phần riêng trong chươngtrình đào tạo dành cho sinh viên ngành kế toán
Theo Viện kế toán viên quản trị của Mỹ (IMA), KTCP được định nghĩa là
“kỹ thuật hay phương pháp để xác định chi phí cho một dự án, một quá trình hoặcmột sản phẩm… Chi phí này được xác định bằng việc đo lường trực tiếp, kếtchuyển tuỳ ý, hoặc phân bổ một cách có hệ thống và hợp lý” [ 52, tr25]
Periasamy P (2010) coi KTCP và giá thành là một khi đưa ra khái niệm vềKTCP như sau: "Kế toán chi phí là hệ thống kế toán chính thức được thiết lập đểghi nhận chi phí Nó là một quá trình hệ thống để xác định giá thành đơn vị của sảnphẩm sản xuất ra hoặc dịch vụ được cung cấp" [68, trang 3]
Như vậy thuật ngữ KTCP (Cost Accounting) bao gồm cả tính giá thành(Costing) tức là xác định chi phí cho một đơn vị sản phẩm hoặc một khối lượng sảnphẩm, do vậy để thuận tiện cho trình bày, trong luận án này tác giả sẽ sử dụng thuậtngữ KTQT chi phí thay cho KTQT chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm
Trang 34Về mối quan hệ giữa KTCP với KTQT và KTTC hiện nay đang tồn tại 3quan điểm chủ yếu:
Quan điểm thứ nhất, đại diện là Edward J VanDerbeck (2010), cho rằngKTCP bao gồm phần KTCP trong KTTC và phần KTCP trong KTQT Edward J.VanDerbeck đưa ra khái niệm: "Kế toán chi phí cung cấp chi tiết thông tin chi phítheo nhu cầu của nhà quản trị để kiểm soát hoạt động kinh doanh hiện tại và lập kếhoạch cho tương lai"[46] Theo quan điểm này KTCP được hình thành từ 2 bộ phậncủa 2 loại KTTC và KTQT và được minh họa bằng sơ đồ 1.1 sau:
Sơ đồ 1.2: Mối quan hệ giữa KTCP với KTTC và KTQT
Về đối tượng sử dụng thông tin kế toán quản trị chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm
Theo Edward J VanDerbeck, hệ thống KTCP có chức năng thu thập, xử lý
và cung cấp thông tin chi phí cho các đối tượng sử dụng ở trong và ngoài DN Kếtoán chi phí trong KTTC thu thập thông tin để phục vụ cho nhu cầu sử dụng của cácđối tượng bên ngoài và các nhà quản trị DN Kế toán chi phí trong KTQT thu thập,
xử lý và cung cấp thông tin phục vụ cho nhu cầu của các nhà quản trị DN TheoEdward J VanDerbeck, KTCP bao gồm một phần của KTTC và một phần củaKTQT có nhiệm vụ cung cấp thông tin để đáp ứng nhu cầu sử dụng của các đốitượng thuộc phạm vi phục vụ của mỗi loại kế toán này [46, trang 11]
Quan điểm thứ hai cho rằng KTCP là sự giao thoa của KTTC và KTQT.Quan điểm này thực chất coi KTQT chính là KTCP Đại diện cho nhóm này gồmcác tác giả Kinney, Zimmerman và Charles T Horngren, Srikant M Datar, Madhav
V Rajan
Theo các tác giả Charles T Horngren, Srikant M Datar, Madhav V Rajan:
Trang 35Kế toán chi phí cung cấp thông tin cho KTTC và KTQT Kế toán chi phí đo lường,phân tích và báo cáo các thông tin tài chính và phi tài chính liên quan đến chi phí sửdụng nguồn lực của một tổ chức [44, trang 4] Theo các tác giả này, do KTCP hiệnđại thực hiện chức năng thu thập thông tin để phục vụ cho việc ra quyết định nênkhông có sự phân biệt rõ ràng giữa KTQT và KTCP.
Các tác giả Michael R Kinney, Cecily A Raiborn (2011): "Kế toán chi phíbao gồm một phần của KTTC và KTQT Kế toán chi phí cung cấp thông tin đápứng nhu cầu của người sử dụng ở trong và ngoài DN"[63, trang 4]
Bên cạnh các quan điểm coi kế toán chi phí vừa là một phần của kế toán tàichính vừa là một bộ phận của KTQT, còn có quan điểm thứ ba đồng nhất kế toánchi phí với KTQT Đại diện cho quan điểm này là Dury và Horngren Theo quanđiểm này, kế toán chi phí trong hệ thống kế toán có nhiệm vụ cung cấp các thôngtin về chi phí phục vụ cho lập báo cáo tài chính và cho quản trị DN Trong bộ máy
kế toán của DN bộ phận kế toán chi phí cũng chính là KTQT [45]
Như vậy, mặc dù còn có những quan điểm khác nhau về kế toán chi phí trong
hệ thống kế toán nhưng sự khác nhau giữa chúng không đáng kể Các tác giả đềucho rằng nhiệm vụ của kế toán chi phí là cung cấp thông tin phục vụ cho lập báocáo tài chính và cho quản trị DN Việc ghi nhận chi phí theo yêu cầu của kế toán tàichính và ghi nhận chi phí theo yêu cầu quản trị DN có sự khác nhau đáng kể Theoyêu cầu của kế toán tài chính, để phục vụ cho việc lập báo cáo tài chính nhằm cungcấp thông tin tin cậy, hữu ích và so sánh được cho người sử dụng, việc ghi nhận vàhạch toán chi phí phải tuân thủ theo các nguyên tắc kế toán được chấp nhận chung.Ngược lại, theo yêu cầu của quản trị DN, kế toán chi phí không nhất thiết phải tuânthủ theo các nguyên tắc kế toán được chấp nhận chung nhưng phải đáp ứng đượcyêu cầu phù hợp, tin cậy; việc phân loại và xác định chi phí cho các mục đích khácnhau phải khác nhau
Như vậy, từ sự phân tích ở trên, tác giả cho rằng: KTQT chi phí là một bộphận của KTCP, có nhiệm vụ cung cấp thông tin cho các nhà quản trị để đáp ứngnhu cầu quản trị DN Quan điểm KTQT chi phí là một bộ phận của KTQT sẽ được
Trang 36tác giả sử dụng xuyên suốt cho các nội dung phân tích và trình bày trong luận ánnày.
Chức năng của KTQT chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm
KTQT chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm là một bộ phận của KTQT nênKTQT chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm phải có những chức năng của kếtoán nói chung và của KTQT nói riêng KTQT chi phí sản xuất và giá thành sảnphẩm có những chức năng sau:
Chức năng phản ảnh và cung cấp thông tin hoạch định hoạt động sản xuấtkinh doanh;
Chức năng phản ảnh và cung cấp thông tin kết quả hoạt động sản xuất kinhdoanh;
Chức năng phản ảnh và cung cấp thông tin kiểm tra, đánh giá hoạt động sảnxuất kinh doanh;
Chức năng phản ảnh và cung cấp thông tin phục vụ cho việc ra quyết địnhquản trị của những nhà quản trị trong nội bộ DN
Các chức năng của KTQT chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm luôn cómối quan hệ mật thiết với nhau và rất khó đưa ra một ranh giới, phạm vi chính xáccủa từng chức năng Sự phân chia các chức năng KTQT chi phí sản xuất và giáthành chỉ mang tính chất tương đối, dựa vào trọng tâm của từng chức năng trongliên kết, định hướng thiết lập thông tin cung cấp cho các mục tiêu quản trị DN củanhững nhà quản trị Chức năng KTQT chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm vàmối quan hệ của nó với chức năng quản trị được thể hiện qua sơ đồ 1.3 sau:
Trang 37Sơ đồ 1.3: Các chức năng KTQT chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm [10]
Tóm lại, KTQT chi phí hình thành, thay đổi, phát triển theo nhu cầu thông tinthực hiện các chức năng quản trị của những nhà quản trị trong nội bộ DN; KTQTchi phí và giá thành ra đời nhằm nghiên cứu đối tượng là các nguồn lực kinh tế gắnliền với quy trình tạo giá trị trong hoạt động sản xuất kinh doanh của DN và KTQTchi phí sản xuất và giá thành sản phẩm có những đặc điểm riêng theo hướng nângcao tính hữu ích của thông tin quản trị, có chức năng riêng được xác lập tương ứngvới các chức năng quản trị
Vai trò của kế toán quản trị chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm trong quản lí doanh nghiệp.
Chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm là hai chỉ tiêu quan trọng trong cácdoanh nghiệp sản xuất Việc giảm chi phí, hạ giá thành sản phẩm vừa giúp doanhnghiệp tăng lợi nhuận, tăng sức cạnh tranh trên thị trường Vì vậy kế toán quản trịchi phí sản xuất và giá thành sản phẩm rất quan trọng và cần thiết đối với mỗi
CHỨC NĂNG QUẢN TRỊ
QUÁ TRÌNH KẾ TOÁN
Lập các bảng dự toán
Thu thập kết quả thực hiện
Lập các báo cáo thực hiên
Trang 38doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp sản xuất Kế toán quản trị chi phí sảnxuất và giá thành sản phẩm sẽ cung cấp thông tin cho các nhà quản trị trong việcthực hiện các chức năng quản lý của các nhà quản trị doanh nghiệp: Lập kế hoạchsản xuất, tổ chức và điều hành sản xuất , kiểm soát và ra quyết định sản xuất kinhdoanh
Kế toán quản trị chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm cung cấp các thôngtin cho các nhà quản trị từ việc lập kế hoạch cho đến tình hình thực hiện kế hoạch
đó thông qua các bản dự toán chi phí sản xuất, báo cáo đánh giá quá trình thực hiện.Giúp cho các nhà quản trị trong việc kiểm soát chi phí, nâng cao hiệu quả của quátrình hoạt động sản xuất kinh doanh Việc cung cấp thông tin về chi phí chi tiết vàthường xuyên giúp ích cho các nhà quản trị trong việc kiểm soát chi phí, hạ giáthành sản phẩm
Mặt khác, kế toán quản trị chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm cung cấpcác thông tin thích hợp cho các nhà quản trị nhằm xây dựng các chiến lược cạnhtranh; cung cấp các thông tin để phân bổ các nguồn lực của doanh nghiệp cũng nhưquyết định cơ cấu sản phẩm sản xuất và tiêu thụ hay quyết định ngừng sản xuất hợp
lý thông qua hệ thống báo cáo định kỳ Các báo cáo đặc biệt giúp cho các nhà quảntrị đưa ra các quyết định chiến lược ; như phát triển các sản phẩm và dịch vụ mới,đầu tư các thiết bị, nhà xưởng mới, đàm phán các hợp đồng dài hạn với các nhàcung cấp
Những thông tin mà kế toán quản trị chi phí sản xuất và giá thành sản phẩmcung cấp là những thông tin cần thiết cho việc ra quyết định của các nhà quản trị
Từ các thông tin mà kế toán quản trị cung cấp, các nhà quản trị đề ra được các quyếtđịnh phù hợp với tình hình thực tế của doanh nghiệp, ảnh hưởng trực tiếp đến lợinhuận trong kỳ, không những thế nó còn ảnh hưởng tới kế hoạch, định hướng sảnxuất trong tương lai của doanh nghiệp Tuy nhiên, để phát huy được hết vai trò tolớn của nó, các doanh nghiệp cần thực hiện tốt, đầy đủ các nội dung liên quan đến
kế toán quản trị chi phí sản xuất và giá thành sản phẩn, thông tin phải được cungcấp nhanh chóng, kịp thời và chính xác
Trang 391.2.2 Mục tiêu và nhiệm vụ của kế toán quản trị chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm
KTQT chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm trong các DN là bộ phận cơbản và quan trọng nhất trong toàn bộ công tác KTQT Do đó công tác KTQT chi phísản xuất và giá thành sản phẩm phải đạt được các mục tiêu sau:
- Nhận diện, phân loại CPSX và giá thành sản phẩm một cách chi tiết, cụ thểtheo nhiều tiêu thức (tiêu chí) khác nhau nhằm thu nhận, xử lý và cung cấp thôngtin về chi phí theo từng bộ phận, xác định được các loại giá thành để phục vụ nhucầu cung cấp thông tin theo các yêu cầu quản lý khác nhau của nhà quản trị DN;
- Xây dựng các dự toán về CPSX cho từng loại sản phẩm; xây dựng giáthành kế hoạch cho từng loại sản phẩm, từng công việc và lao vụ theo các khoảnmục chi phí đã xác định; xây dựng định mức kinh tế- kỹ thuật làm căn cứ giám sátviệc chấp hành định mức chi phí, ngăn ngừa các hiện tượng lãng phí, vượt địnhmức, hạ thấp chi phí và giá thành sản phẩm;
- Tổ chức thu nhận, xử lý, tổng hợp các thông tin về CPSX và giá thành sảnphẩm nhằm đáp ứng các yêu cầu cung cấp thông tin về CPSX và giá thành sảnphẩm cho các đối tượng liên quan;
- Kiểm soát tình hình thực hiện các định mức chi phí và dự toán CPSX; phảnánh các khoản chênh lệch vượt dự toán, vượt định mức, lãng phí và tìm các nguyênnhân, biện pháp khắc phục;
- Cung cấp thông tin một cách chi tiết, kịp thời về CPSX và giá thành sảnphẩm theo nhiều tiêu chí khác nhau trên cơ sở lập các báo cáo quản trị về CPSX vàgiá thành cho các đối tượng liên quan Từ đó giúp các nhà quản trị đưa ra các quyếtđịnh kinh tế kịp thời để điều hành các hoạt động của đơn vị
Để thực hiện các mục tiêu và phát huy vị trí, vai trò của mình, KTQT chi phísản xuất và giá thành sản phẩm thực hiện tốt các nhiệm vụ sau đây:
- Tham gia vào xây dựng hệ thống định mức kinh tế- kỹ thuật cho vật tư, laođộng và sử dụng tài sản; xác định các dự toán về chi phí; xây dựng giá thành kếhoạch cho từng loại sản phẩm, dịch vụ Là cơ sở cho việc giám sát, quản lý và thực
Trang 40hiện việc tiêu dùng các nguồn lực trong quá trình hoạt động SX, KD của đơn vị;
- Tổ chức thu nhận chứng từ, hướng dẫn các bộ phận liên quan lập và luânchuyển các chứng từ liên quan đến chi phí và giá thành phù hợp, thiết kế các mẫuchứng từ kế toán nội bộ theo yêu cầu quản trị của DN;
- Vận dụng hệ thống tài khoản kế toán thống nhất và mở chi tiết các tàikhoản chi phí và tính giá thành sản phẩm, nhất là các tài khoản chi phí mở chi tiếttheo định phí và biến phí để phản ánh và giám đốc chi phí theo yêu cầu KTQT chiphí sản xuất và giá thành sản phẩm;
- Vận dụng các sổ kế toán theo chế độ kế toán DN hiện hành và mở các sổ,thẻ chi tiết; thiết kế các mẫu sổ về chi phí, giá thành để phục vụ theo dõi, quản lýchi tiết, cụ thể phù hợp với yêu cầu của nhà quản trị;
- Xây dựng quy tắc và phương pháp tính giá thành phù hợp với đặc điểm quytrình công nghệ, đặc điểm tổ chức sản xuất và yêu cầu quản lý của từng đơn vị;
- Thường xuyên thực hiện lập và phân tích báo cáo quản trị về CPSX và giáthành sản phẩm Từ đó, phát hiện và ngăn ngừa các hiện tượng lãng phí, tư vấn cholãnh đạo đơn vị đưa ra các quyết định phù hợp
1.2.3 Quản trị doanh nghiệp và nhu cầu thông tin về chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm phục vụ cho quản trị doanh nghiệp
Quản trị DN là một quá trình tác động liên tục, có tổ chức, có mục đích củanhà quản trị lên tập thể những người trong DN, sử dụng một cách tốt nhất nhữngtiềm năng và cơ hội để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh của DN nhằm đạtđược các mục tiêu đã đặt ra Quản trị DN chính là đảm bảo hiệu quả hoạt động sảnxuất kinh doanh cao hơn Để đạt được mục tiêu xác định trong kinh doanh, các nhàquản trị phải thực hiện các chức năng cơ bản của quản trị DN, bao gồm: lập kếhoạch, kiểm soát, đánh giá và ra quyết định
- Chức năng lập kế hoạch: là chức năng đầu tiên của nhà quản trị Để thựchiện được mục tiêu đã định trong kinh doanh, nhà quản trị phải xây dựng và lựachọn phương án tối ưu và khả thi để đạt được mục tiêu Sau khi phương án kinhdoanh được lựa chọn, bản dự toán được lập phản ánh mô tả chi tiết việc các nguồn