1.Đặt vấn đềCác ngân hàng luôn coi trọng kiểm soát nợ xấu vì rủi ro tín dụng là nguyên nhân chính dẫn tới phá sản. Theo Goldstein và Philip (1996), các cuộc khủng hoảng ngân hàng tại các nước đang phát triển thường bắt nguồn từ nợ xấu quá cao. Nợ xấu có thể tích tụ dưới tác động của tăng trưởng kinh tế suy giảm hoặc biến động, hoạt động thương mại sụt giảm, mặt bằng lãi suất cao, các ngân hàng cho vay các bên có liên quan, trong khi phụ thuộc vào nguồn huy động ngắn hạn liên ngân hàng, hay do yếu tố rủi ro đạo đức của bản thân ngân hàng..Các nghiên cứu trên thế giới về đánh giá yếu tố tác động tới rủi ro tín dụng ngân hàng đã chỉ ra, các yếu tố kinh tế vĩ mô (macrofactors) và các yếu tố đặc thù của hệ thống ngân hàng hoặc từng ngân hàng đều có tác động tới khả năng trả nợ của người vay ngân hàng. Tại Việt Nam, trong giai đoạn 20082010, sau một thời gian dài tăng trưởng tín dụng nhanh, liên tục cùng với khả năng kiểm soát rủi ro còn nhiều hạn chế và những yếu tố bất lợi của nền kinh tế (tăng trưởng kinh tế chậm lại, lạm phát cao, thị trường bất động sản sụt giảm và đóng băng kéo dài, sản xuất kinh doanh gặp nhiều khó khăn, năng lực tài chính và khả năng trả nợ của khách hàng suy giảm…), nợ xấu của hệ thống ngân hàng bắt đầu lộ diện và tăng nhanh từ cuối năm 2011. Nợ xấu cao làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự an toàn, hiệu quả hoạt động của các ngân hàng, làm cho không ít ngân hàng lâm vào tình trạng khó khăn, thua lỗ, mất an toàn hoạt động. Nền kinh tế đã đối diện với tình trạng lạm phát cao đồng thời, chịu tác động tiêu cực của cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu, tái lặp lạm phát cao làm cho tốc độ tăng trưởng kinh tế suy giảm. Tỷ lệ nợ xấu của các ngân hàng Việt Nam đã liên tục tăng cao, đạt đỉnh 4,17% vào tháng 62014, trở thành điểm nghẽn lớn nhất của nền kinh tế. Nhằm kiểm soát và giải quyết nợ xấu trong hệ thống ngân hàng, chúng ta rất cần những nghiên cứu định tính xác định nguyên nhân gây nên nợ xấu, phương thức và mức độ ảnh hưởng của nó. Trên cơ sở đó, mục tiêu chính của nghiên cứu là kiểm định tác động của các yếu tố kinh tế vĩ mô và nội tại ngân hàng tới rủi ro tín dụng tại các ngân hàng niêm yết Việt Nam trong giai đoạn quý 1 2009 đến quý 1 năm 2015, để từ đó, đề xuất những kiến nghị liên quan nhằm nâng cao hoạt động của hệ thống ngân hàng Việt nam 2.Tổng quan tài liệu nghiên cứuCác nghiên cứu về yếu tố tác động tới rủi ro tín dụng thường tập trung tới hai nhóm yếu tố là kinh tế vĩ mô và nội tại ngân hàng.Yếu tố kinh tế vĩ mô Chu kỳ kinh tế: TheoSalas Saurina (2002), trong giai đoạn kinh tế tăng trưởng, cả ngân hàng và doanh nghiệp đều lạc quan về phương án đầu tư và khả năng trả nợ của phương án đi vay. Doanh thu tăng trưởng nhanh, giả định chi phí lãi suất ổn định, IRR dự án cao… khiến các dự án vay vốn dễ được ngân hàng chấp thuận cho vay. Dưới áp lực cạnh tranhthị phần, ngân hàng còn có xu hướng nới lỏng điều kiện tín dụng, mở rộngcho vay các khách hàng“dưới chuẩn”. Khi nền kinh tế chuyển trạng thái sang suy thoái, các khách hàng và dự án“dưới chuẩn” không có khả năng trả nợ, khiến tỷ lệ nợ xấu của ngân hàng tăng mạnh. Salas Saurina (2002) đã chứng minh tốc độ tăng trưởng GDP có quan hệ nghịch với tỷ lệ nợ xấu tại các ngân hàng Tây Ban Nha giai đoạn 19851997; Quagliarello M. (2007) tại các ngân hàng Ý trong giai đoạn 19872002; Louzis, Vouldis Metaxas (2010) tại 9 ngân hàng lớn nhất (chiếm 90% hệ thống) của Hy Lạp giai đoạn 20032009, Espinoza Prasad (2010) tại 80 ngân hàng thuộc Tổ chức Hợp tác Vùng Vịnh (GCC) giai đoạn 19952008. Một số nghiên cứu kiểm chứngkhác lại tìm thấy mối quan hệ giữa rủi ro tín dụng vớinhững biến số khác đặc trưng cho chu kỳ kinh tế như: tăng trưởng GDP bình quân đầu người (Fofack (2005)), tỷ lệ thất nghiệp (Aver (2008) và Bucur Dragomirescu (2014)). Lạm phát: Một số nghiên cứu cho rằng, tỷ lệ lạm phát cao có thể giúp cải thiện khả năng trả nợ của bên vay do doanh thu tăng trong khi chi phí lãi vay không đổi, đặc biệt khi đa số các khoản vay có lãi suất cố định hoặc đã được bảo hiểm lãi suất. Shu (2002), khi nghiên cứu các ngân hàng Hong Kong, và Waeibrorheem Suriani (2015), khi nghiên cứu các ngân hàng Malaysia giai đoạn 20002010, đã tìm thấy quan hệ ngược chiều giữa lạm phát và tỷ lệ nợ xấu. Ngược lại, lạm phát quá cao sẽ làm cho thu nhập thực tế của bên vay bị giảm sút. Đồng thời, Ngân hàng nhà nước có thể tăng lãi suất, giảm cung tiền trong nền kinh tế khiến mặt bằng lãi suất bị đẩy lên cao. Nếu không bảo hiểm rủi ro biến động lãi suất cho các khoản vay, doanh nghiệp sẽ bị tăng thêm chi phí và khả năng đổ vỡ dễ xảy ra hơn. Mối quan hệ thuận chiều giữa lạm phát và tỷ lệ nợ xấu được chứng minh tại nghiên cứu của Rinaldi và SanchisArellano (2006) tại 7 nước EU (Bỉ, Pháp, Phần Lan, Ireland, Ý, Bồ Đào Nha và Tây Ban Nha) giai đoạn 1989Q3 đến 2004Q2; Gunsel (2011) tại 24 ngân hàng Northern Cyprus trong giai đoạn 19842008. Tuy nhiên, Aver (2008) không tìm thấy mối quan hệ giữa nợ xấu và lạm phát tại các ngân hàng Slovenia; Bofondi và Ropele (2011) tại các ngân hàng Ý; Castro (2012) tại nhóm 5 nước GIPSI (Greece, Ireland, Portugal, Spain và Italy) trong các năm 1997Q1 đến 2011Q3. Lãi suất tăng sẽ khiến tỷ lệ nợ xấu ngân hàng tăng. Lãi suất có thể được đại diện các biến khác nhau: tỷ lệ lãi suất thực trong nghiên cứu của Fofack (2005), lãi suất liên ngân hàng trong nghiên cứu của Jiménez Saurina (2006), lãi suất trái phiếu chính phủ 10 năm Quagliariello (2007), hoặc lãi suất dài hạn Castro (2012). Cung tiền: Khi Ngân hàng nhà nước nới lỏng tiền tệ, cung tiền dồi dào sẽ giúp các thành phần kinh tế tiếp cận vốn dễ dàng hơn và rẻ hơn, do đó khả năng trả nợ ngân hàng sẽ tốt hơn. Vì vậy, cung tiền và rủi ro tín dụng thường có quan hệ nghịch, được chứng minh bởi các nghiên cứu của Kalirai Scheicher (2002) đối với các ngân hàng Úc, Waeibrorheem Suriani (2015) các ngân hàng Malaysia, Bofondi và Ropele (2011) các ngân hàng Ý. Tỷ giá: Khi tỷ giá tăng (tức nội tệ mất giá so với đồng ngoại tệ), các doanh nghiệp nhập khẩu sẽ chịu ảnh hưởng tiêu cực, còn các doanh nghiệp xuất khẩu được hưởng lợi và ngược lại. Để đánh giá tác động tổng thể của việc tănggiảm tỷ giá lên mức độ rủi ro tín dụng toàn hệ thống ngân hàng, ta phải xem xét cấu trúc của nền kinh tế và đặc điểm dư nợ tín dụng của hệ thống. Tuy nhiên, khi tăng giảm với tần suất lớn, thay đổi bất ngờ hoặc mức độ biến động mạnh, tỷ giá chắc chắn sẽ có ảnh hưởng tiêu cực tới tình hình kinh tế nói chung và tỷ lệ nợ xấu ngân hàng nói riêng. Trong số các nghiên cứu kiểm chứng, theo Fofack (2005) và Nkusu (2011), khi đồng nội tệ tăng giá, các doanh nghiệp xuất khẩu gặp khó khăn do hàng hóa trở nên đắt đỏ, doanh số xuất khẩu giảm, và hệ quả là tỷ lệ nợ xấu tăng tại các ngân hàng SubSaharan Africa và 26 nền kinh tế phát triển. Pratap và Urrutia (2004), khi nghiên cứu khủng hoảng Mexico năm 1994, chứng minh tỷ giá tăng sẽ tác động xấu tới các doanh nghiệp có khoản vay ngoại tệ (balance sheet effects) nếu không có bảo hiểm rủi ro tỷ giá. Tương tự, Castro (2012) cũng kiểm định thấy mối quan hệ ngược chiều giữa tỷ giá thực và rủi ro tín dụng tại 5 nước Hy Lạp, Ireland, Portugal, Spain và Italy giai đoạn 1997 2011.Vogiazas và Nikolaidou (2011) đã chứng minh tỷ giá thực có tác động ngược chiều tới rủi ro tín dụng tại Bulgaria với độ trễ 3 quý trong giai đoạn 20012010. Một số nghiên cứu không tìm thấy mối quan hệ giữa tỷ giá và tỷ lệ nợ xấu ngân hàng như của Kalirai và Scheicher (2002), Aver (2008). Tốc độ tăng trưởng tín dụng và tỷ lệ nợ trên GDP: Trong điều kiện kinh tế phát triển, người vay càng dễ vay vốn để tái tục các khoản vay hiện tại, thì tỷ lệ nợ xấu ngân hàng càng thấp. Tuy nhiên, nếu hai chỉ số này tăng cao trong thời gian dài, đó là tín hiệu cho thấy quản trị rủi ro ngân hàng chưa được tốt. Các điều kiện tín dụng được nới lỏng dễ dẫn tới rủi ro tín dụng trong tương lai. Và khi đó, tốc độ tăng trưởng tín dụng, cũng như tỷ lệ nợ trên GDP lại có mối quan hệ cùng chiều với tỷ lệ nợ xấu ngân hàng. Nghiên cứu về khủng hoảng ngân hàng đã chứng minh các cuộc khủng hoảng thường là hệ quả của một quá trình tăng trưởng tín dụng cao. DemirgüçKunt và Detragiache (1998) đã phân tích của 53 nước trong giai đoạn 19801995 để nghiên cứu mối liên quan giữa quá trình tự do hóa thị trường tài chính và khủng hoảng ngân hàng. Kết quả nghiên cứu cho thấy, khi thị trường tài chính được tự do hóa, tốc độ tăng trưởng tín dụng thường khá cao. Việc nới lỏng các điều kiện cấp tín dụng thường dẫn tới tỷ lệ nợ xấu trong hệ thống ngân hàng sẽ tăng với độ trễ 2 năm. Nghiên cứu của Cottarelli, Dell’Ariccia và VladkovaHollar (2003) cho rằng, khi tỷ lệ tín dụng trên GDP tăng từ 5% đến 10%năm trong nhiều năm thì sẽ xảy ra khủng hoảng ngân hàng. Nghiên cứu của Kattai (2010) và Nkusu (2011) về tỷ lệ nợ xấu của Estonia và các nước phát triển cho kết quả tương tự.
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
CHUYÊN ĐỀ NGHIÊN CỨU SINH
YẾU TỐ TÁC ĐỘNG TỚI RỦI RO TÍN DỤNG
TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI NIÊM YẾT VIỆT NAM
GIAI ĐOẠN 2009-2014
Chuyên ngành: Tài chính ngân hàng
Nghiên cứu sinh: ThS Vũ Trung Thành
Người hướng dẫn 1: PGS TS Trần Thị Thanh Tú
Người hướng dẫn 2: PGS TS Nguyễn Thị Minh Huệ
Hà Nội, tháng 11 năm 2015
Trang 2MỤC LỤC
1 Đặt vấn đề 1
2 Tổng quan tài liệu nghiên cứu 2
3 Phương pháp và mô hình nghiên cứu 8
4 Phân tích và thảo luận 12
5 Kết luận và khuyến nghị 15
6 Danh mục tài liệu tham khảo 17
7 Phụ lục 20
Trang 3DANH MỤC BẢNG PHỤ LỤC
Bảng 1 Danh sách và tỷ trọng dư nợ của các ngân hàng so với dư nợ tín dụng
toàn hệ thống tại 31/3/2015 20
Bảng 2 Các biến kinh tế vĩ mô được nghiên cứu 21
Bảng 3 Các biến nội tại ngân hàng được nghiên cứu 22
Bảng 4 Các biến giả được nghiên cứu 22
Bảng 5 Thống kê mô tả các biến 23
Bảng 6 Kết quả chạy hồi quy dữ liệu bảng cho 8 ngân hàng niêm yết 24
Bảng 7 Kết quả chạy hồi quy dữ liệu bảng cho 5 ngân hàng cổ phần 25
Bảng 8 Kết quả chạy hồi quy dữ liệu bảng cho 3 ngân hàng nhà nước 26
Trang 41 Đặt vấn đề
Các ngân hàng luôn coi trọng kiểm soát nợ xấu vì rủi ro tín dụng là nguyênnhân chính dẫn tới phá sản Theo Goldstein và Philip (1996), các cuộc khủng hoảngngân hàng tại các nước đang phát triển thường bắt nguồn từ nợ xấu quá cao Nợ xấu
có thể tích tụ dưới tác động của tăng trưởng kinh tế suy giảm hoặc biến động, hoạtđộng thương mại sụt giảm, mặt bằng lãi suất cao, các ngân hàng cho vay các bên cóliên quan, trong khi phụ thuộc vào nguồn huy động ngắn hạn liên ngân hàng, hay doyếu tố rủi ro đạo đức của bản thân ngân hàng Các nghiên cứu trên thế giới về đánhgiá yếu tố tác động tới rủi ro tín dụng ngân hàng đã chỉ ra, các yếu tố kinh tế vĩ mô(macro-factors) và các yếu tố đặc thù của hệ thống ngân hàng hoặc từng ngân hàngđều có tác động tới khả năng trả nợ của người vay ngân hàng
Tại Việt Nam, trong giai đoạn 2008-2010, sau một thời gian dài tăng trưởngtín dụng nhanh, liên tục cùng với khả năng kiểm soát rủi ro còn nhiều hạn chế vànhững yếu tố bất lợi của nền kinh tế (tăng trưởng kinh tế chậm lại, lạm phát cao, thịtrường bất động sản sụt giảm và đóng băng kéo dài, sản xuất kinh doanh gặp nhiềukhó khăn, năng lực tài chính và khả năng trả nợ của khách hàng suy giảm…), nợxấu của hệ thống ngân hàng bắt đầu lộ diện và tăng nhanh từ cuối năm 2011 Nợxấu cao làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự an toàn, hiệu quả hoạt động của cácngân hàng, làm cho không ít ngân hàng lâm vào tình trạng khó khăn, thua lỗ, mất antoàn hoạt động Nền kinh tế đã đối diện với tình trạng lạm phát cao đồng thời, chịutác động tiêu cực của cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu, táilặp lạm phát cao làm cho tốc độ tăng trưởng kinh tế suy giảm Tỷ lệ nợ xấu của cácngân hàng Việt Nam đã liên tục tăng cao, đạt đỉnh 4,17% vào tháng 6/2014, trởthành điểm nghẽn lớn nhất của nền kinh tế
Nhằm kiểm soát và giải quyết nợ xấu trong hệ thống ngân hàng, chúng ta rấtcần những nghiên cứu định tính xác định nguyên nhân gây nên nợ xấu, phương thức
và mức độ ảnh hưởng của nó Trên cơ sở đó, mục tiêu chính của nghiên cứu là kiểmđịnh tác động của các yếu tố kinh tế vĩ mô và nội tại ngân hàng tới rủi ro tín dụngtại các ngân hàng niêm yết Việt Nam trong giai đoạn quý 1 2009 đến quý 1 năm
2015, để từ đó, đề xuất những kiến nghị liên quan nhằm nâng cao hoạt động của hệthống ngân hàng Việt nam
Trang 52 Tổng quan tài liệu nghiên cứu
Các nghiên cứu về yếu tố tác động tới rủi ro tín dụng thường tập trung tới hainhóm yếu tố là kinh tế vĩ mô và nội tại ngân hàng
Yếu tố kinh tế vĩ mô
- Chu kỳ kinh tế: TheoSalas & Saurina (2002), trong giai đoạn kinh tế tăng
trưởng, cả ngân hàng và doanh nghiệp đều lạc quan về phương án đầu tư và khảnăng trả nợ của phương án đi vay Doanh thu tăng trưởng nhanh, giả định chi phí lãisuất ổn định, IRR dự án cao… khiến các dự án vay vốn dễ được ngân hàng chấpthuận cho vay Dưới áp lực cạnh tranhthị phần, ngân hàng còn có xu hướng nới lỏngđiều kiện tín dụng, mở rộngcho vay các khách hàng“dưới chuẩn” Khi nền kinh tếchuyển trạng thái sang suy thoái, các khách hàng và dự án“dưới chuẩn” không cókhả năng trả nợ, khiến tỷ lệ nợ xấu của ngân hàng tăng mạnh Salas & Saurina(2002) đã chứng minh tốc độ tăng trưởng GDP có quan hệ nghịch với tỷ lệ nợ xấutại các ngân hàng Tây Ban Nha giai đoạn 1985-1997; Quagliarello M (2007) tại cácngân hàng Ý trong giai đoạn 1987-2002; Louzis, Vouldis & Metaxas (2010) tại 9ngân hàng lớn nhất (chiếm 90% hệ thống) của Hy Lạp giai đoạn 2003-2009,Espinoza & Prasad (2010) tại 80 ngân hàng thuộc Tổ chức Hợp tác Vùng Vịnh(GCC) giai đoạn 1995-2008 Một số nghiên cứu kiểm chứngkhác lại tìm thấy mốiquan hệ giữa rủi ro tín dụng vớinhững biến số khác đặc trưng cho chu kỳ kinh tếnhư: tăng trưởng GDP bình quân đầu người (Fofack (2005)), tỷ lệ thất nghiệp (Aver(2008) và Bucur &Dragomirescu (2014))
- Lạm phát: Một số nghiên cứu cho rằng, tỷ lệ lạm phát cao có thể giúp cải
thiện khả năng trả nợ của bên vay do doanh thu tăng trong khi chi phí lãi vay khôngđổi, đặc biệt khi đa số các khoản vay có lãi suất cố định hoặc đã được bảo hiểm lãisuất Shu (2002), khi nghiên cứu các ngân hàng Hong Kong, và Waeibrorheem &Suriani (2015), khi nghiên cứu các ngân hàng Malaysia giai đoạn 2000-2010, đã tìmthấy quan hệ ngược chiều giữa lạm phát và tỷ lệ nợ xấu Ngược lại, lạm phát quá cao
sẽ làm cho thu nhập thực tế của bên vay bị giảm sút Đồng thời, Ngân hàng nhà nước
có thể tăng lãi suất, giảm cung tiền trong nền kinh tế khiến mặt bằng lãi suất bị đẩy
Trang 6lên cao Nếu không bảo hiểm rủi ro biến động lãi suất cho các khoản vay, doanhnghiệp sẽ bị tăng thêm chi phí và khả năng đổ vỡ dễ xảy ra hơn Mối quan hệ thuậnchiều giữa lạm phát và tỷ lệ nợ xấu được chứng minh tại nghiên cứu của Rinaldi vàSanchis-Arellano (2006) tại 7 nước EU (Bỉ, Pháp, Phần Lan, Ireland, Ý, Bồ Đào Nha
và Tây Ban Nha) giai đoạn 1989Q3 đến 2004Q2; Gunsel (2011) tại 24 ngân hàngNorthern Cyprus trong giai đoạn 1984-2008 Tuy nhiên, Aver (2008) không tìm thấymối quan hệ giữa nợ xấu và lạm phát tại các ngân hàng Slovenia; Bofondi và Ropele(2011) tại các ngân hàng Ý; Castro (2012) tại nhóm 5 nước GIPSI (Greece, Ireland,Portugal, Spain và Italy) trong các năm 1997Q1 đến 2011Q3
- Lãi suất tăng sẽ khiến tỷ lệ nợ xấu ngân hàng tăng Lãi suất có thể được đại
diện các biến khác nhau: tỷ lệ lãi suất thực trong nghiên cứu của Fofack (2005), lãisuất liên ngân hàng trong nghiên cứu của Jiménez & Saurina (2006), lãi suất tráiphiếu chính phủ 10 năm - Quagliariello (2007), hoặc lãi suất dài hạn -Castro (2012)
- Cung tiền: Khi Ngân hàng nhà nước nới lỏng tiền tệ, cung tiền dồi dào sẽ
giúp các thành phần kinh tế tiếp cận vốn dễ dàng hơn và rẻ hơn, do đó khả năng trả
nợ ngân hàng sẽ tốt hơn Vì vậy, cung tiền và rủi ro tín dụng thường có quan hệnghịch, được chứng minh bởi các nghiên cứu của Kalirai & Scheicher (2002) đốivới các ngân hàng Úc, Waeibrorheem & Suriani (2015) - các ngân hàng Malaysia,Bofondi và Ropele (2011)- các ngân hàng Ý
- Tỷ giá: Khi tỷ giá tăng (tức nội tệ mất giá so với đồng ngoại tệ), các doanh
nghiệp nhập khẩu sẽ chịu ảnh hưởng tiêu cực, còn các doanh nghiệp xuất khẩu đượchưởng lợi và ngược lại Để đánh giá tác động tổng thể của việc tăng/giảm tỷ giá lênmức độ rủi ro tín dụng toàn hệ thống ngân hàng, ta phải xem xét cấu trúc của nềnkinh tế và đặc điểm dư nợ tín dụng của hệ thống Tuy nhiên, khi tăng / giảm với tầnsuất lớn, thay đổi bất ngờ hoặc mức độ biến động mạnh, tỷ giá chắc chắn sẽ có ảnhhưởng tiêu cực tới tình hình kinh tế nói chung và tỷ lệ nợ xấu ngân hàng nói riêng.Trong số các nghiên cứu kiểm chứng, theo Fofack (2005) và Nkusu (2011), khiđồng nội tệ tăng giá, các doanh nghiệp xuất khẩu gặp khó khăn do hàng hóa trở nênđắt đỏ, doanh số xuất khẩu giảm, và hệ quả là tỷ lệ nợ xấu tăng tại các ngân hàng
Trang 7Sub-Saharan Africa và 26 nền kinh tế phát triển Pratap và Urrutia (2004), khinghiên cứu khủng hoảng Mexico năm 1994, chứng minh tỷ giá tăng sẽ tác động xấutới các doanh nghiệp có khoản vay ngoại tệ (balance sheet effects) nếu không cóbảo hiểm rủi ro tỷ giá Tương tự, Castro (2012) cũng kiểm định thấy mối quan hệngược chiều giữa tỷ giá thực và rủi ro tín dụng tại 5 nước Hy Lạp, Ireland, Portugal,Spain và Italy giai đoạn 1997 - 2011.Vogiazas và Nikolaidou (2011) đã chứng minh
tỷ giá thực có tác động ngược chiều tới rủi ro tín dụng tại Bulgaria với độ trễ 3 quýtrong giai đoạn 2001-2010 Một số nghiên cứu không tìm thấy mối quan hệ giữa tỷgiá và tỷ lệ nợ xấu ngân hàng như của Kalirai và Scheicher (2002), Aver (2008)
- Tốc độ tăng trưởng tín dụng và tỷ lệ nợ trên GDP: Trong điều kiện kinh tế
phát triển, người vay càng dễ vay vốn để tái tục các khoản vay hiện tại, thì tỷ lệ
nợ xấu ngân hàng càng thấp Tuy nhiên, nếu hai chỉ số này tăng cao trong thờigian dài, đó là tín hiệu cho thấy quản trị rủi ro ngân hàng chưa được tốt Cácđiều kiện tín dụng được nới lỏng dễ dẫn tới rủi ro tín dụng trong tương lai Vàkhi đó, tốc độ tăng trưởng tín dụng, cũng như tỷ lệ nợ trên GDP lại có mối quan
hệ cùng chiều với tỷ lệ nợ xấu ngân hàng Nghiên cứu về khủng hoảng ngânhàng đã chứng minh các cuộc khủng hoảng thường là hệ quả của một quá trìnhtăng trưởng tín dụng cao Demirgüç-Kunt và Detragiache (1998) đã phân tíchcủa 53 nước trong giai đoạn 1980-1995 để nghiên cứu mối liên quan giữa quátrình tự do hóa thị trường tài chính và khủng hoảng ngân hàng Kết quả nghiêncứu cho thấy, khi thị trường tài chính được tự do hóa, tốc độ tăng trưởng tíndụng thường khá cao Việc nới lỏng các điều kiện cấp tín dụng thường dẫn tới tỷ
lệ nợ xấu trong hệ thống ngân hàng sẽ tăng với độ trễ 2 năm Nghiên cứu củaCottarelli, Dell’Ariccia và Vladkova-Hollar (2003) cho rằng, khi tỷ lệ tín dụngtrên GDP tăng từ 5% đến 10%/năm trong nhiều năm thì sẽ xảy ra khủng hoảngngân hàng Nghiên cứu của Kattai (2010) và Nkusu (2011) về tỷ lệ nợ xấu củaEstonia và các nước phát triển cho kết quả tương tự
- Tăng giá cổ phiếu là tín hiệu cho thấy khả năng tài chính của các công ty
tương đối tốt Giá cổ phiếu cao cũng cho phép các doanh nghiệp huy động vốn từ
Trang 8thị trường chứng khoán một cách dễ dàng Nhờ vậy, giá cổ phiếu thường có quan
hệ ngược chiều với rủi ro tín dụng Theo nghiên cứu của Aver (2008), bên cạnh
tỷ lệ thất nghiệp, lãi suất ngắn hạn và dài hạn, giá trị của chỉ số cổ phiếu là yếu
tố vĩ mô tác động quan trọng tới tỷ lệ nợ xấu tại các ngân hàng Slovenia giai đoạn1995-2002
Yếu tố nội tại ngân hàng
Ngoài những yếu tố kinh tế vĩ mô, chính trị, chính sách điều hành kinh tế củachính phủ, tỷ lệ nợ xấu còn phụ thuộc vào đặc thù riêng của hệ thống ngân hàngtừng nước và chiến lược kinh doanh nhằm tối đa hóa lợi nhuận của từng ngân hàng
Lý thuyết hành vi quản lý (“management behavior”) đề cập đến mối liên hệ giữa
nợ có vấn đề, mức độ vốn chủ sở hữu và hiệu suất kinh doanh ngân hàng Đi đầu là
nghiên cứu của Berger & DeYoung (1997) và Williams (2004) sử dụng Granger causality approach kiểm định các giả thuyết sau:
- Giả thiết về “khả năng quản lý kém” (“bad management”): hiệu quả kinh
doanh thấp đồng nghĩa với khả năng quản lý và kiểm soáttín dụng kém Khi đó,hiệu suất kinh doanh sẽ có qua hệ ngược chiều với tỷ lệ nợ xấu Podpiera & Weil(2008) tìm ra mối quan hệ này khi phân tích số liệu các ngân hàng Tiệp giai đoạn
1994 đến 2005, đồng thời khuyến nghị chính phủ các nền kinh tế phát triển cần chútrọng chất lượng quản trị ngân hàng nếu muốn đảm bảo tính ổn định bền vững của
hệ thống Tương tự, nghiên cứu của Louzis, Vouldis & Metaxas (2010) cũng ủng hộgiả thiết này tại tất cả ba loại danh mục tín dụng (cho vay kinh doanh, cho vay tiêudùng và cho vay bất động sản) của ngân hàng Hy Lạp
- Giả thiết về “sự hà tiện” (“skimping”): tỷ lệ nợ xấu có mối quan hệ cùng
chiều với lợi suất kinh doanh Khi ngân hàng tiết giảm chi phí để cải thiện lợi suấtkinh doanh sẽ dẫn tới các chức năng quản lý rủi ro tín dụng bị cắt giảm, vì vậy tỷ lệ
nợ xấu tăng.Tuy nhiên, đa số nghiên cứu không tìm thấy bằng chứng cho giả thiếtnày, ví dụ như nghiên cứu của Rossi, Schwaiger và Winkler (2005) khi phân tích
278 ngân hàng tại 9 nền kinh tế chuyển đổi trong giai đoạn 1995-2002
Trang 9- Giả thiết về rủi ro đạo đức (“moral hazard”): ngân hàng với vốn chủ sở hữu
thấp thường có rủi ro đạo đức, sẵn sàng chấp nhận cho vay các dự án có độ rủi ro tíndụng cao Tỷ lệ vốn chủ sở hữu có quan hệ ngược chiều với tỷ lệ nợ xấu ngân hàng.Giả thiết này được chứng minh tại các nghiên cứu của Berger & DeYoung (1997)cho các ngân hàng Mỹ, Salas & Saurina (2002) đối với các ngân hàng Tây Ban Nha.Ngoài ra, một số tác giả cũng đề cập các yếu tố quản trị khác có thể quyết định
tỷ lệ nợ xấu ngân hàng như:
- Theo Rajan (1994), để tăng lợi nhuận ngắn hạn, quản lý ngân hàng có thểchấp nhận các dự án có NPV âm Do vậy, lợi nhuận quá khứ của ngân hàng có thể
có quan hệ thuận chiều với tỷ lệ nợ xấu (“bad management II”).
- Theo Salas & Saurina (2002), tương tự như giả thiết về rủi ro đạo đức, cácngân hàng có quy mô tín dụng, tổng tài sản nhỏ hơn trong thị trường sẽ có khuynhhướng cho vay các dự án rủi ro Vì vậy, quy mô ngân hàng có quan hệ ngược chiều
với tỷ lệ nợ xấu (“size effects”).
- Mức độ của các khoản nợ xấu trước đây có thể ảnh hưởng đến mức độ hiệntại Dash và Kabra (2010) tìm thấy sự tác động cùng chiều của tỷ lệ nợ xấu giaiđoạn trước lên nợ xấu hiện tại tại các ngân hàng Ấn Độ giai đoạn 1998-2009
Tại Việt Nam, trong hai năm gần đây xuất hiện khá nhiều nghiên cứu kiểmchứng các yếu tố tác động tới rủi ro tín dụng ngân hàng Nghiên cứu của Lê VânChi và Hoàng Trung Lai (2014) nghiên cứu các yếu tố kinh tế vĩ mô và nội tại ngânhàng ảnh hưởng tới rủi ro tín dụng, sử dụng mô hình hồi quy dữ liệu mảng với tácđộng cố định (panel regression with FEM) trên số liệu báo cáo tài chính năm của 13ngân hàng thương mại, chiếm 62% tổng dư nợ toàn hệ thống trong giai đoạn từ
2007 đến 2013 Các tác giả kết luận tỷ lệ nợ xấu có mối quan hệ cùng chiều với tỷ
lệ an toàn vốn tối thiểu, dư nợ tín dụng bất động sản (với hệ số hồi quy 0.21 và có ýnghĩa ở mức 10%), lãi suất cho vay danh nghĩa và GDP; và mối quan hệ âm với giátrị tổng tài sản và tỷ lệ sinh lời trên tổng tài sản
Nghiên cứu của Đặng Hữu Mẫn và Hoàng Dương Việt Anh (2014) sử dụng
mô hình phân tích hồi quy dữ liệu bảng kiểu động (DPDA) để nghiên cứu yếu tố tác
Trang 10động đến lợi nhuận ngân hàng (ROA) Các tác giả đã cung cấp bằng chứng thựcnghiệm về sự tác động của tỷ lệ lạm phát và tỷ lệ giá trị vốn hóa thị trường chứngkhoán / tổng sản phẩm quốc nội có mối tương quan “dương” với lợi nhuận ngânhàng Ngược lại, trong giai đoạn 2003-2012 ở Việt Nam, tăng trưởng kinh tế và lợinhuận đôi khi không đi liền với nhau, đồng nghĩa với việc không tìm thấy bằngchứng cho mối liên hệ có ý nghĩa thống kê giữa ROA và tăng trưởng GDP
Một nghiên cứu mới khác của các tác giả Trương Đông Lộc và Nguyễn VănThép (2015) phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến rủi ro tín dụng tại 155 quỹ tíndụng nhân dân khu vực Đồng bằng sông Cửu Long giai đoạn 2010-2012 Kết quảước lượng bằng phương pháp FEM cho thấy có 4 trong số 6 biến độc lập đươc đưavào mô hình có ý nghĩa thống kê từ 1% đến 5% Cụ thể, ROA và quy mô tổng tàisản có quan hệ tỷ lệ nghịch với tỷ lệ nợ xấu Tăng trưởng tín dụng với độ trễ mộtnăm cũng có quan hệ cùng chiều với tỷ lệ nợ xấu ngân hàng Điều này được giảithích là do hầu hết các quỹ tín dụng nhân dân tại khu vực có quy mô rất nhỏ Càngtăng trưởng nhanh thì quỹ tín dụng càng có lợi thế trong huy động vốn để tăng quy
mô, giảm tỷ lệ nợ xấu trên tổng tài sản, và tăng cường khả năng quản trị rủi ro tốthơn Liên quan đến các biến vĩ mô, các tác giả chỉ tìm thấy mối liên hệ ngược chiềugiữa tỷ lệ nợ xấu và tốc độ tăng trưởng kinh tế, mà không chứng minh được mốiliện hệ với tỷ lệ lạm phát
Nghiên cứu của Nguyễn Hoàng Thụy Bích Trâm (2014) sử dụng FEM vàPooled OLS đã chứng minh được mối quan hệ ngược chiều (độ trễ là 1 năm và 2năm) giữa tỷ lệ nợ xấu của 8 ngân hàng niêm yết với tốc độ tăng trưởng GDP trên
cơ sở dữ liệu quý từ 2007 đến 2013 Tuy nhiên, nghiên cứu chưa đánh giá tác độngcủa các nhân tố khác lên tỷ lệ nợ xấu ngân hàng, ngoài tốc độ tăng trưởng GDP
Trang 113 Phương pháp và mô hình nghiên cứu
Số liệu sử dụng
Để xác định các yếu tố có tác động tới rủi ro tín dụng tại các ngân hàng ViệtNam, nghiên cứu sử dụng số liệu dạng bảng của 8 ngân hàng thương mại niêm yết,thu thập số liệu báo cáo tài chính theo quý (Bảng 1) Các ngân hàng này bao gồm
3 ngân hàng thương mại Nhà nước và 5 ngân hàng cổ phần, chiếm 43.01% tổng
dư nợ toàn hệ thống ngân hàng tại thời điểm 31/3/2015 Nghiên cứu không sửdụng số liệu của Ngân hàng TMCP Quốc dân (tiền thân là Ngân hàng TMCP NamViệt, mã chứng khoán NVB) Mặc dù NVB được niêm yết từ 13/9/2010, nhưng bịđưa vào diện cảnh báo trong thời gian khá dài, từ tháng 9/2013 đến tháng1/2015.Thời gian nghiên cứu là từ quý 1 năm 2009 đến quý 1 năm 2015 (25 quý),
do nhiều ngân hàng chỉ niêm yết lần đầu trong năm 2009 Tuy nhiên, một số ngânhàng có độ dài dữ liệu thu thập được ngắn hơn như Ngân hàng TMCP Đầu tư vàphát triển Việt Nam (từ quý 4/2011) và Ngân hàng TMCP Quân đội (từ quý1/2011), nên bảng dữ liệu được sử dụng trong mô hình là kiểu bảng không cân đối(unbalanced panel)
Nghiên cứu sử dụng tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ (NPL) được công bố tại cácbáo cáo tài chính của ngân hàng làm biến đại diện cho rủi ro tín dụng Theo Quyếtđịnh 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/04/2005 của Ngân hàng Nhà nước, các khoản
dư nợ tín dụng khách hàng của ngân hàng được phân loại từ Nhóm 1 đến Nhóm 5
Nợ xấu bao gồm Nợ dưới tiêu chuẩn (nhóm 3), Nợ nghi ngờ (nhóm 4) và Nợ có khảnăng mất vốn (nhóm 5)
Mô hình nghiên cứu cũng tính toán tác động của việc các ngân hàng thươngmại bán nợ xấu cho Công ty quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam(VAMC) kể từ khi công ty này được thành lập từ tháng 7/2013 Mặc dù nợ xấu báncho VAMC sẽ được tạm thời đưa khỏi bảng cân đối tài sản của các ngân hàng đểchuyển sang trái phiếu đặc biệt do VAMC phát hành, nhưng sẽ quay lại sổ sách củangân hàng sau 5 năm nếu chưa xử lý được Vì vậy, tỷ lệ nợ xấu chính thức của cácngân hàng được điều chỉnh cộng thêm số nợ xấu đã chuyển sang VAMC để thể hiệnđúng chất lượng danh mục tín dụng ngân hàng
Ngoài ra, cũng như đa số các nghiên cứu về rủi ro tín dụng khác, tỷ lệ nợ xấu
Trang 12được chuyển sang hàm logarit, NPL_LN = log(NPL/(1-NPL)), sao cho biến phụthuộc sẽ nhận giá trị (-∞; +∞), thay vì [0, 1] như ban đầu.
Mô hình nghiên cứu
Nghiên cứu sử dụngphân tích hồi quy dữ liệu bảng kiểu động (Dynamic PanelData Regression Analysis - DPDA) với sự hỗ trợ của phần mềm Eviews 8 Các yếu
tố ảnh hưởng bao gồm nhóm biến số nội tại của từng ngân hàng thương mại (bank’sspecific variables) và nhóm biến số kinh tế vĩ mô (macro economic variables).Phương trình hồi quy có dạng như sau:
Trong đó:
xác định mức độ phụ thuộc của tỷ lệ nợ xấu vào các giá trịquá khứ, thể hiện tính chất đặc trưng của DPDA
tại ngân hàng và các biến kinh tế vĩ mô được lựa chọn nghiên cứu
: nhóm các biến giả, là những biến định tính khôngthể lượng hóa ngay được, nhưng có tác động tới biến phụ thuộc
là phần dư của phương trình hồi quy
Để phân tích dữ liệu hồi quy dữ liệu kiểu bảng, thông thường có ba phươngpháp là ước lượng hồi quy bình phương nhỏ nhất thông thường (pooled-OLS), tácđộng cố định (fixed-effects FEM) và tác động ngẫu nhiên (random effects REM).Phương pháp đơn giản nhất pooled-OLS giả định tất cả các hệ số phương trình đềukhông thay đổi theo thời gian và giữa các ngân hàng Khi đó, giá trị tung độ gốc vàcác hệ số dốc đều như nhau giữa các ngân hàng Sự hạn chế của các giả định có thể
Trang 13dẫn tới độ chính xác của mô hình không cao Giá trị R bình phương có thể tươngđối cao, nhưng trị thống kê Durbin-Watson ước lượng rất thấp, gợi ý về hiện tương
tự tương quan trong các số liệu Mô hình FEM cho rằng mỗi ngân hàng đều có mộtđặc điểm riêng biệt, có thể ảnh hưởng tới đến các biến giải thích, và có sự tươngquan giữa các phần dư của mỗi ngân hàng (có chứa các đặc điểm riêng) với biếngiải thích Ngược lại, mô hình REM giả định rằng, đặc điểm riêng của mỗi ngânhàng là ngẫu nhiên và không tương quan đến biến giải thích Tuy nhiên, mô hìnhREM không phù hợp với DPDA, trong khi mẫu quan sát càng lớn thì kết quả môhình FEM càng trở nên chính xác.Hơn nữa, số lượng ngân hàng được nghiên cứukhông nhiều (tối đa 8), trong khi số lượng ngân hàng phải lớn hơn số lượng biếntrong phương trình REM Vì vậy, nghiên cứu này không tiến hành kiểm định được
mô hình REM, mà chỉ dừng lại ở hai mô hình pooled-OLS và FEM
Biến giải thích
Trên cơ sở mức độ sẵn có của số liệu thống kê Việt Nam trong giai đoạnnghiên cứu, các tác giả đã tiến hình kiểm định ma trận hệ số tương quan, kiểm địnhGranger về mối quan hệ nhân quả giữa biến giải thích và tỷ lệ nợ xấu, kiểm địnhJarque-Bera, kiểm định tính dừng của chuỗi dữ liệu, và lựa chọn được 12 biến giảithích vĩ mô, nội tại và biến giả như mô tả tại bảng 2,3,4
Bảng 5 mô tả thống kê mẫu nghiên cứu đối với các biến kinh tế vĩ mô và nộitại ngân hàng Kiểm định Jarque-Bera cho thấy tất cả các biến đều đáp ứng yêu cầucủa phân phối chuẩn ở mức 5%, ngoại trừ NPL_LN (9.01%)
Số liệu cho thấy, trong giai đoạn từ Quý 1 2009 đến Quý 1 năm 2015, tốc độtăng bình quân CPI của Việt Nam là 6.69%, dao động khá lớn từ 0.93% (quý 1 năm2015) tới 22.42% (Quý 3/2011) Tốc độ tăng GDP bình quân đạt 5.57%, trong đó, giátrị nhỏ nhất là 3.14% vào quý 1 năm 2009 vào cao nhất là 7.34% vào quý 4 năm
2010 Tỷ giá VNĐ/USD tăng bình quân 0.24%/quý, tăng cao nhất là 7.26% vào quý
1 năm 2011 và biến động dưới 1% vào những quý sau đó Thị trường bất động sản có
sự điều chỉnh giảm tới 39% từ mức cao nhất vào quý 2 năm 2011 (chỉ số nhà củaSavills là 139) xuống mức thấp nhất vào cuối năm 2013 và nửa đầu năm 2014 (100).Thống kê các biến nhân tố kinh tế vĩ mô phản ánh đúng kinh tế Việt Nam chịu tác
Trang 14động của cuộc khủng hoảng tài chính thế giới 2008-2009 Lạm phát, lãi suất tăng cao
và thị trường bất động sản đóng băng sau một thời gian tăng trưởng nóng
Về lợi nhuận, ROA quy năm trung bình đạt 1.18%, cao nhất là 3.67%, thấpnhất là -1.56%.Về tỷ lệ nợ xấu, sau khi tính gộp cả giá trị nợ xấu đã bán choVAMC, tỷ lệ nợ xấu tại các ngân hàng có xu hướng tăng từ năm 2011 cho tới nay,đặc biệt tại nhóm các ngân hàng cổ phần Điều này phản ánh đúng thực tế rủi ro nợxấu tích tụ trong nhiều năm gây ảnh hưởng không nhỏ tới tăng trưởng kinh tế