1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Phân loại thị trường lao động, cho biết thực trạng thị trường lao động, xuất khẩu lao động. Đưa ra giải pháp phát triển thị trường lao động, xuất khẩu lao động.

17 1,3K 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 17
Dung lượng 36,33 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cầu lao động rất yếu và tiền công là một điểm rât thâp, không có phản ứng với mức cầu và giá lao động  Theo mức độ can thiệp của Nhà nước trong hệ thống thị trường - Hệ thống thị trường

Trang 1

ĐỀ BÀI: Phân loại thị trường lao động, cho biết thực trạng thị trường lao động,

xuất khẩu lao động Đưa ra giải pháp phát triển thị trường lao động, xuất khẩu lao động

1 Thị trường lao động

1.1 Khái niệm

- Thị trường lao động (TTLĐ) là sự trao đổi hàng hóa sức lao động giữa một

bên là những người sở hữu sức lao động và một bên là những người cần thuê sức lao động đó

- Thị trường lao động là thị trường lớn nhất và quan trọng nhất trong hệ thống

thị trường vì lao động là hoạt động chiếm nhiều thời gian nhất và kết quả của quá trình trao đổi trên TTLĐ là việc làm được trả công TTLĐ biểu hiện mối quan hệ giữa một bên là người có sức lao động và một bên là người sử dụng sức lao động nhằm xác định số lượng và chất lượng lao động sẽ đem ra trao đổi và mức thù lao tương ứng

Về cơ bản TTLĐ cũng chịu sự tác động của quy luật cung cầu, quy luật cạnh tranh, quy luật độc quyền…

1.2 Phân loại

Tùy vào mục đích nghiên cứu, sự tương tác giữa cung-cầu lao động, sự tác động của Chính Phủ, thị trường lao động được phân loại như sau:

 Theo khả năng cạnh tranh của thị trường

- Thị trường lao động cạnh tranh hoàn hảo

Trong thị trường cung cầu lao động được điều chỉnh linh hoạt theo giá cả của lao động, chỉ tồn tại một thị trường duy nhất, không bị chia cắt Đường cầu của thị trường là tập hợp các đường cầu của cá nhânvận động tương ứng với đường cung của lao động.Đường cung là tổng hợp các đường cung của doanh nghiệp, tuy nhiên tiền lương có thể hạ thấp tùy ý

- Thị trường lao động nhiều khu vực

Trang 2

Trong thị trường này, cung-cầu lao động bị chia cắt, bị phân mảngthành các thị trường riêng (ngành, nghề, trình độ đào tạo, giới tính…) Mỗi thị trường có đường cầu và đường cung riêng biệt với cơ chế vận động khác nhau Trong thị trường này tồn tại đồng thời thất nghiệp hữu hình và thấp nghiệp cơ cấu Kết quả tiền lương có sự phân biệt lớn giữa các vùng, nghành nghề, giới…

 Theo mức độ tương hỗ giữa cung cầu lao động

Thị trường dư thừa lao động: Khi tốc độ của cunglớn hơn rất nhiều so với tốc

độ tăng của cầu thì sẽ dẫn đến sự dư thừa lao động trên TTLĐ Trong trường hợp này, cung lao động gần như một đường nằm ngang Cầu lao động rất yếu và tiền công là một điểm rât thâp, không có phản ứng với mức cầu và giá lao động

 Theo mức độ can thiệp của Nhà nước trong hệ thống thị trường

- Hệ thống thị trường tự do: các cá nhân tự chịu trách nhiệmvề các quyết định

về tiền lương, việc làm Hiệu quả kinh tế trong thị trường này được bảo đảm thông qua việc phân bố và sử dụng nguồn lực rất hợp lý nhưng vẫn chưa chú ý đúng mức đến hiệu quả xã hội

- Hệ thống thị trường kế hoạnh hóa tập trung: Nhà nước là người giữ vị trí

quan trọng, trực tiếp trong việc điều chỉnh các mối quan hệ lao động xã hội với mục tiêu bảo đảm việc làm đầy đủ cho mội thành viên trong xã hội Vai trò của người lao động, người sử dụng lao động (doanh nghiệp, tổ chức) rất thấp, từ đó việc sử dụng nguồn lực lao động kém hiệu quả

- Hệ thống thị trường hỗn hợp: Đây là thị trường mà ở đó vừa có sự can thiệp

của Chính Phủ thông qua kế hoạch hóa tập trung, vừa sự điều tiết của hệ thống thị trường Tùy vào đặc trưng về kinh tế, chính trị mà hệ thống thị trường hỗn hợp ở mỗi nước không giống nhau

1.3.Thực trạng

 Cung-cầu mất cân bằng

Trang 3

Lực lượng lao động ở Việt Nam trong những năm gần đây đã liên tục tăng với tốc độ cao, một mặt tạo nguồn lực lớn cho phát triển đất nước, mặt khác cũng tạo ra

áp lực lớn về đào tạo nghề và giải quyết việc làm So với năm 2015, số lượng lao động đăng ký thất nghiệp quý I năm 2016 tăng 19%, trong đó có 01 Công ty ngưng hoạt động do hỏa hoạn, 01 Công ty dời địa điểm hoạt động, tình hình phát sinh này làm tăng số lượng lao động đăng ký thất nghiệp

Quý II năm 2016, lực lượng lao động là 54361,7 nghìn người Cụ thể:

- Lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên của cả nước Quý II năm 2016 là 54,36

triệu người, tăng 654,3 nghìn người so với cùng kỳ năm trước So với Quý I, lực lượng lao động giảm 43,2 nghìn người Lực lượng lao động ở khu vực nông thôn chiếm tỷ trọng cao, 68,1% trong lực lượng lao động chung của cả nước

- Lực lượng lao động trong độ tuổi lao động Quý II là 47,55 triệu người, tăng

227,5 nghìn người so với cùng kỳ năm trước Trong đó, lao động nam là: 25,73 triệu người, chiếm 54,1%; lao động nữ là 21,81 triệu người, chiếm 45,9%; lao động khu vực thành thị là 15,89 triệu người, chiếm 33,4%; lao động khu vực nông thôn

là 31,65 triệu người, chiếm 66,6%

- Lao động từ 15 tuổi trở lên có việc làm là 53,24 triệu người Trong đó, khu

vực thành thị chiếm 31,7%; khu vực nông thôn chiếm 68,3% so với tổng số người

có việc làm trên toàn quốc; lao động nữ chiếm 48,5% tổng số người có việc làm So với cùng kỳ năm trước, số người có việc làm tăng 709,6 nghìn người, tương ứng 1,35% So với Quý I, số người có việc làm giảm 49 nghìn người, tương ứng với -0,1%

- Lao động có việc làm đã qua đào tạo từ trình độ “Sơ cấp nghề” trở lên ước

tính 10,8 triệu người, chiếm 20,3% số lao động có việc làm trong toàn quốc Tỷ lệ lao động có việc làm qua đào tạo của khu vực thành thị là 35,7%, cao gấp gần 3 lần của khu vực nông thôn

Trang 4

- Tỷ lệ thiếu việc làm của lao động trong độ tuổi Quý II năm 2016 là 1,72%,

trong đó khu vực thành thị là 0,76%; khu vực nông thôn là: 2,27% So với Quý II năm trước và Quý trước năm nay, tỷ lệ này giảm nhẹ

- Số người thất nghiệp của Quý II là 1,12 triệu người, tăng gần 6 nghìn người so

với Quý trước Tỷ lệ thất nghiệp chung là 2,06%, so với Quý I năm 2016 không có biến động nhiều Tỷ lệ thất nghiệp ở khu vực thành thị là 3,01%, cao hơn khu vực nông thôn 1,4 điểm phần trăm (nông thôn 1,61%) Tỷ lệ thất nghiệp trong độ tuổi lao động là 2,30%, tỷ lệ này của khu vực thành thị là 3,26%, của khu vực nông thôn là 1,84%

- Thất nghiệp của thanh niên từ 15 đến 24 tuổi chiếm 47% tổng số người thất

nghiệp Tỷ lệ thất nghiệp thanh niên cả nước là 7,07%, cao gấp gần 6 lần tỷ lệ thất nghiệp của những người từ 25 tuổi trở lên Tỷ lệ này đặc biệt cao ở khu vực thành thị với 11,7%, nghĩa là cứ 10 thanh niên trong lực lượng lao động ở khu vực thành thị thì có hơn 1 người thất nghiệp

 Những tồn tại, bất cập

- Về cung lao động:

Lực lượng lao động phân bố không đồng đều, tập trung chủ yếu ở nông thôn Phần đông việc làm của người lao động không ổn định, dễ bị tổn thương và rơi vào nghèo đói (tỷ lệ lao động tự làm, làm việc trong gia đình không hưởng lương chiếm trên 70%, tỷ lệ này ở khu vực nông thôn là 84%) Lao động trong nông nghiệp vẫn chiếm tỷ lệ lớn nhất (47,7%)

Khu vực kinh tế ngoài Nhà nước thu hút gần 40 triệu lao động làm việc (chiếm 87,2%) nhưng chỉ đóng góp 47% trong GDP và 35% giá trị sản lượng công nghiệp trong khi khu vực có vốn đầu tư nước ngoài sử dụng lao động ít (khoảng 3,7%) nhưng lại đóng góp gần 19% cho GDP và gần 45% giá trị sản lượng công nghiệp

Trang 5

Chất lượng lao động Việt Nam còn hạn chế, trình độ học vấn của lực lượng lao động chênh lệch lớn giữa các vùng, giữa nông thôn và thành thị, có tới 78% thanh niên trong độ tuổi 20-24 khi tham gia thị trường lao động chưa được đào tạo nghề hoặc có được đào tạo thì vẫn bị hạn chế về kỹ năng nghề nghiệp; thể lực, sức bền, sự dẻo dai chỉ ở mức trung bình

- Về cầu lao động:

Doanh nghiệp, cơ sở sản xuất phân bố không đều giữa các vùng, chủ yếu tập trung ở Đông Nam Bộ; Đồng bằng sông Hồng; Đồng bằng sông Cửu Long Các doanh nghiệp chủ yếu có qui mô nhỏ, phân tán và trình độ kỹ thuật công nghệ thấp: bình quân số lao động của một doanh nghiệp năm 2006 là 51 người, số doanh nghiệp dưới 10 lao động chiếm 51,3%; doanh nghiệp có từ 10 đến 200 lao động chiếm 44%, chỉ có 1,43% doanh nghiệp có từ 200 đến 300 lao động Về năng lực vốn, 42% doanh nghiệp có vốn dưới 1 tỷ đồng, và chỉ có 8,18% doanh nghiệp có vốn từ 5 tỷ đến 10 tỷ đồng

Nhiều ngành có khả năng tạo ra giá trị sản xuất cao nhưng tỉ lệ lao động làm việc lại thấp: ngành công nghiệp chế biến (chiếm khoảng 12%); ngành thương nghiệp, bao gồm cả sửa chữa xe có động cơ (chiếm gần 11%); ngành xây dựng (chiếm khoảng 6%) Ngành nông, lâm nghiệp có năng suất lao động thấp, giá trị sản xuất hàng năm chỉ chiếm khoảng 22,1% GDP nhưng tỉ lệ lao động làm việc chiếm tới 47,7%

Hiệu quả sử dụng vốn còn thấp, năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp có tiến bộ, nhưng chưa vững chắc và chưa cao

- Về cân đối cung - cầu lao động:

Nhìn tổng thể, thị trường lao động Việt Nam vẫn là một thị trường dư thừa lao động và phát triển không đồng đều, quan hệ cung – cầu lao động giữa các vùng, khu vực, ngành nghề kinh tế đang mất cân đối nghiêm trọng Bên cạnh tình trạng phổ biến hiện nay là dư thừa lao động không có kỹ năng và thiếu nhiều lao động kỹ

Trang 6

thuật thì nhiều doanh nghiệp đang gặp khó khăn không chỉ trong việc tuyển dụng lao động qua đào tạo mà còn cả trong tuyển dụng lao động phổ thông, chủ yếu xảy

ra đối với các doanh nghiệp trong các khu công nghiệp, khu chế xuất ở phía Nam Theo kết quả tổng hợp từ các trung tâm giới thiệu việc làm, sàn giao dịch của cả nước, năm 2009 có tới trên 100 ngàn chỗ việc làm còn trống cần tuyển lao động, trong đó, 80% nhu cầu tuyển dụng là lao động phổ thông, chủ yếu là của các doanh nghiệp ngành may mặc, giày da, chế biến nông, lâm sản Tuy nhiên, số người đến đăng ký tuyển dụng chỉ bằng 17% so với nhu cầu của các nhà tuyển dụng; số lao động đáp ứng được yêu cầu và được tuyển dụng vào làm việc chỉ chiếm khoảng 6% nhu cầu của nhà tuyển dụng Nhìn chung, Trung tâm giới thiệu việc làm các tỉnh mỗi năm chỉ có thể cung ứng 20% nhu cầu của các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất-kinh doanh trên địa bàn

1.4 Giải pháp

 Giải pháp về cung lao động

Trong kinh tế thị trường, phát triển cung lao động phải hướng vào đáp ứng nhu cầu của thị trường lao động, của xã hội và nhu cầu việc làm, tăng thu nhập của người lao động, cụ thể:

- Nâng cao thể lực, cải cách nòi giống đảm bảo đáp ứng yêu cầu của nền sản

xuất công nghiệp hiện đại

- Thực hiện các chính sách phát triển nhân lực vùng sâu, vùng xa, vùng đông

đồng bào dân tộc thiểu số và các nhóm đối tượng yếu thế trong xã hội

- Phát triển mạnh nguồn nhân lực có trình độ cao, đủ về số lượng, hợp lý về cơ

cấu ngành nghề, cấp trình độ và có chất lượng để cung cấp cho các ngành, vùng kinh tế, đặc biệt là các ngành kinh tế mũi nhọn, vùng kinh tế trọng điểm, phục vụ

có hiệu quả cho công nghiệp hoá, hiện đại hóa đất nước và hội nhập

- Phát triển nguồn nhân lực thích ứng với thị trường, nhất là phổ cập nghề cho

lao động nông thôn nhằm đẩy nhanh chuyển dịch cơ cấu kinh tế và lao động nông

Trang 7

nghiệp theo hướng hiện đại hoá và công nghiệp hóa nông thôn, tạo nhiều việc làm, tăng thu nhập, giảm nghèo vững chắc, đảm bảo an sinh xã hội

- Tiếp tục giải phóng triệt để sức lao động nhằm phát huy cao nhất tiềm năng

và nguồn vốn nhân lực cho tăng trưởng và phát triển kinh tế; tạo việc làm theo hướng bền vững và có thu nhập cao; phát triển thị trường lao động đồng đều trên phạm vi cả nước để gắn kết cung – cầu lao động; xây dựng quan hệ lao động hài hòa, ổn định và tiến bộ; thực hiện công bằng trong quan hệ phân phối tiền lương và thu nhập, phụ thuộc vào kết quả lao động, năng suất lao động và hiệu quả kinh tế

- Khuyến khích doanh nghiệp tham gia vào chương trình đào tạo, phát triển

nguồn nhân lực với vai trò là người sử dụng cuối cùng

 Giải pháp về cầu lao động

- Phát triển doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp nhỏ và vừa ngoài quốc doanh,

đẩy mạnh cổ phần hóa và nâng cao hiệu quả doanh nghiệp Nhà nước, đa dạng hóa các loại hình sản xuất kinh doanh trong các thành phần kinh tế

- Đẩy mạnh thu hút đầu tư trong nước và đầu tư nước ngoài; thúc đẩy quá

trình đô thị hoá, tích tụ ruộng đất gắn với chuyển dịch cơ cấu kinh tế và cơ cấu lao động, đặc biệt là trong nông nghiệp, nông thôn, giảm dần tỷ trọng giá trị nông nghiệp trong GDP và lao động nông nghiệp

- Trong lập quy hoạch phát triển các vùng lãnh thổ phải quan tâm đến phát

triển các khu vực kinh tế trọng điểm, tập trung, các khu công nghiệp, khu chế xuất , đồng thời quan tâm đúng mức đến phát triển tiểu thủ công nghiệp, phát triển các ngành nghề truyền thống, nghề phụ để sử dụng hợp lý lao động tại chỗ, lao động nông nhàn, lao động phổ thông

- Tiếp tục cải cách chính sách tiền lương, tiền công theo định hướng thị

trường; thực hiện chính sách tiền lương gắn với năng suất lao động; thống nhất, không phân biệt đối xử giữa các loại hình doanh nghiệp; thực hiện cơ chế thương lượng, thỏa thuận về tiền lương trong các loại hình doanh nghiệp theo đúng nguyên

Trang 8

tắc của thị trường Đồng thời cần nghiên cứu chính sách hỗ trợ tiền lương cho đối tượng yếu thế với sự tham gia tích cực của doanh nghiệp, nhất là khi chỉ số giá sinh hoạt tăng cao

 Giải pháp kết nối cung – cầu lao động

- Củng cố, nâng cao chất lượng, tính chuyên nghiệp của các tổ chức hoạt động

dịch vụ việc làm theo quy định của pháp luật

- Rà soát, quy hoạch hệ thống trung tâm giới thiệu việc làm đáp ứng yêu cầu

của xã hội, tạo niềm tin cho người lao động, người sử dụng lao động khi sử dụng các mạng lưới giao dịch việc làm

- Phát triển mạng lưới giao dịch việc làm, có thể áp dụng theo 4 cấp hành

chính (trung ương, tỉnh/ thành phố, quận/huyện, xã /phường) cung cấp dịch vụ việc làm tới tận hộ gia đình thông qua các cán bộ ở phường, xã,

- Hoàn thiện hệ thống thông tin thị trường lao động, dự báo xu hướng việc

làm, nhu cầu của người sử dụng lao động, chi phí đào tạo, tỷ lệ hoàn trả của đào tạo,… Đồng thời cung cấp đầy đủ các thông tin về dự báo kinh tế, triển vọng đầu

tư, các dự án phát triển, trên cơ sở đó các doanh nghiệp sẽ dự kiến nhu cầu nguồn nhân lực và chủ động xây dựng các kế hoạch nhân lực của mình Đặc biệt, cần đầu

tư cho công tác thống kê, phân tích dữ liệu thông tin thị trường lao động ở cấp tỉnh

và kết nối thông tin giữa các tỉnh nhằm cung cấp, điều phối lao động

- Đưa các chương trình, như “Chương trình thị trường lao động” tới gần với

người lao động với những thông tin, kỹ năng cần thiết về nghề nghiệp và những hiểu biết cần thiết khi tìm việc làm Kết hợp với doanh nghiệp tổ chức tuyển và đào tạo cấp tốc những kiến thức cơ bản cho lao động nông thôn để cung cấp kịp thời cho các doanh nghiệp cần tuyển lao động

 Giải pháp về hệ thống chính sách, pháp luật

- Sửa đổi, bổ sung pháp luật lao động theo nguyên tắc bình đẳng, không phân

biệt đối xử trong quan hệ lao động, đào tạo và đào tạo lại, di chuyển lao động để

Trang 9

đảm bảo cho lao động được di chuyển một cách linh hoạt, giảm bớt sự phân mảng của thị trường lao động theo ngành nghề, lãnh thổ, trình độ

- Xây dựng chiến lược dài hạn về phát triển nguồn nhân lực; xây dựng hệ

thống quản lý, thông tin về lao động - việc làm khoa học; xây dựng đề án cung cấp nguồn nhân lực đáp ứng nhu cầu của xã hội

2 Xuất khẩu lao động

2.1.Khái niệm

Xuất khẩu lao động là hoạt động mua_bán hàng hoá sức lao động nội địa cho

người sử dụng lao động nước ngoài

Người sử dụng lao động nước ngoài ở đây là chính phủ nước ngoài hay cơ quan, tổ chức kinh tế nước ngoài có nhu cầu sử dụng lao động trong nước

Hàng hoá sức lao động nội địa: muốn nói tới lực lượng lao động trong nước sẵn sàng cung cấp sức lao động của mình cho người sử dụng lao động nước ngoài Hoạt động mua_ bán : thể hiện ở chỗ người lao động trong nước sẽ bán quyền

sử dụng sức lao động của mình trong một khoảng thời gian nhất định cho người sử dụng lao động nước ngoài để nhận về một khoản tiền dưới hình thức tiền lương (tiền công) Còn người sử dụng nước ngoài sẽ dùng tiền của mình mua sức lao động của người lao động, yêu cầu họ phải thực hiện công việc nhất định nào đó (do hai bên thoả thuận) theo ý muốn của mình

Nhưng hoạt động mua_bán này có một điểm đặc biệt đáng lưu ý là: quan hệ mua_bán chưa thể chấm dứt ngay được vì sức lao động không thể tách rời người lao động Quan hệ này khởi đầu cho một quan hệ mới_quan hệ lao động Và quan

hệ lao động sẽ chỉ thực sự chấm dứt khi hợp đồng lao động ký kết giữa hai bên hết hiệu lực hoặc bị xoá bỏ hiệu lực theo thoả thuận của hai bên

2.2 Phân loại

Hình thức xuất khẩu lao động: là cách thức thực hiệnviệc đưa người lao động

đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài do nhà nước quy định

Trang 10

Ở Việt Nam cho đến nay đã tồn tại một số hình thức sau:

- Thời kỳ nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung: xuất khẩu lao động chủ yếu

thông qua các hiệp định liên chính phủ và nghị định thư;Bước sang thời kỳ mới_ thời kỳ xuất khẩu lao động chịu tác động của thị trường thì nó bao gồm các hình thức sau:

+ Cung ứng lao độngtheo các hợp đồng cung ứng lao động đã ký kết với bên

nước ngoài

Nội dung: Các doanh nghiệp xuất khẩu lao động sẽ tuyển lao động Việt Nam

đi làm việc ở nước ngoài theo các hợp đồng cung ứng lao động

Đặc điểm:

 Các doanh nghiệp tự mình đảm nhiệm tất cả các khâu từ tuyển chọn đến đào tạo đến đưa đi và quản lý người lao động ở nước ngoài;

 Các yêu cầu về tổ chức lao động do phía nước tiếp nhận đặt ra;

 Quan hệ lao động được điều chỉnh bởi pháp luật của nước tiếp nhận;

 Quá trình làm việc là ở nước ngoài, người lao động chịu sự quản lý trực tiếp của người sử dụng lao động nước ngoài;

 Quyền và nghĩa vụ của người lao động do phía nước ngoài bảo đảm

+ Đưa người lao độngđi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng nhận thầu,

khoán công trình ở nước ngoài, đầu tư ra nước ngoài

Nội dung: Các doanh nghiệp Việt Nam trúng thầu, nhận khoán công trình ở

nước ngoài hoặc đầu tư dưới hình thức liên doanh liên kết chia sản phẩm hoặc các hình thức đầu tư khác Hình thức này chưa phổ biến nhưng sẽ phát triển trong tương lai cùng với quá trình hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực

Đặc điểm:

 Các doanh nghiệp xuất khẩu lao động Việt Nam sẽ tuyển chọn lao động Việt Nam nhằm thực hiện các hợp đồng kinh tế, hợp đồng liên doanh_ liên kết giữa Việt Nam và nước ngoài;

Ngày đăng: 22/10/2016, 21:34

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w