Thế giới quan khoa học là cơ sở cho việc hoạch định đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và định hướng đúng đắn cho hoạt động thực tiễn. Hay nói cách khác, thế giới quan khoa học có vai trò quan trọng trong nhận thức và cải tạo thực tiễn. Do đó, việc giáo dục, bồi dưỡng thế giới quan duy vật biện chứng thế giới quan khoa học cho đội ngũ cán bộ của Đảng không chỉ là việc làm thường xuyên, lâu dài mà còn là vấn đề cấp thiết trong công cuộc đổi mới hiện nay của nước ta.
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Thế giới quan khoa học là cơ sở cho việc hoạch định đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và định hướng đúng đắn cho hoạt động thực tiễn Hay nói cách khác, thế giới quan khoa học có vai trò quan trọng trong nhận thức và cải tạo thực tiễn Do đó, việc giáo dục, bồi dưỡng thế giới quan duy vật biện chứng - thế giới quan khoa học cho đội ngũ cán bộ của Đảng không chỉ là việc làm thường xuyên, lâu dài mà còn là vấn đề cấp thiết trong công cuộc đổi mới hiện nay của nước ta
Trước diễn biến đa dạng phức tạp trên thế giới và trong nước đòi hỏi người cán bộ phải có bản lĩnh chính trị, tri thức khoa học vững vàng để nhận thức và hoạt động đúng đắn, phù hợp với quy luật khách quan của đất nước và xu thế của thời đại
Hà Nam là một tỉnh nằm phía Nam của Thủ đô Hà Nội, chủ yếu dọc hai bên đường quốc lộ 1A, mới được tái lập tháng 1/1997, có vị trí chiến lược an ninh - quốc phòng, có điều kiện địa - chính trị thuận lợi Song, trong những năm qua, tốc độ phát triển kinh tế - xã hội, văn hóa chưa thật tương xứng với tiềm năng vốn có của nó
Trường Chính trị Hà Nam là trung tâm đào tạo, bồi dưỡng cán bộ trong hệ thống chính trị từ tỉnh đến cơ sở (trừ cán bộ chủ chốt cấp huyện và cấp tỉnh) Ở đó, cán bộ có điều kiện tiếp cận nội dung kiến thức cơ bản để phục vụ hoạt động công tác của mình, góp phần quan trọng thực hiện thắng lợi nhiệm vụ cách mạng của tỉnh
Vì vậy, những hạn chế chung của tỉnh có thể do nhiều phương diện, trong đó phải nói đến hiệu quả công tác đào tạo cán bộ lãnh đạo, quản lý của nhà trường, đặc biệt là công tác xây dựng thế giới quan khoa
Trang 2học cho họ Cho nên, việc bồi dưỡng thế giới quan khoa học là một trong những giải pháp cấp bách và chiến lược lâu dài cho đội ngũ cán bộ tỉnh
Hà Nam hiện nay
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Hiện nay có nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề bồi dưỡng thế giới quan duy vật biện chứng đối với đội ngũ cán bộ chủ chốt Ngoài ra còn
có những công trình nghiên cứu một số vấn đề có liên quan đến thế giới quan khoa học ở những giác độ khác nhau cũng được thực hiện trong một
số luận văn, luận án; cụ thể như sau:
- V.I.Li-xốp-ski và V.Mi-tri-ep: "Nhân cách của người sinh viên"
(chương VI: Sự hình thành thế giới quan), Nxb Đại học Tổng hợp Lêningrát, 1974
- Bun-nhông-khin-sa-mom: "Xây dựng thế giới quan duy vật biện chứng cho đảng viên Đảng Nhân dân cách mạng Lào trong giai đoạn hiện nay", Luận án PTS, số 48, Học viện Nguyễn Ái Quốc.
- Ch.L.Xiếc-nốp: "Những vấn đề cấp bách của việc hình thành thế giới quan Mác - Lênin", Tạp chí Giáo dục Mác - Lênin, số 3-1985.
- Lê Xuân Vũ: "Thế giới quan Mác - Lênin trong đời sống tinh thần nhân dân ta", Tạp chí Cộng sản số 6-1986.
- Bùi Ỉnh: "Vấn đề xây dựng thế giới quan duy vật biện chứng đối với cán bộ, đảng viên là người dân tộc, thiểu số trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta", Luận án PTS Triết học, Học viện Chính trị
Quốc gia Hồ Chí Minh, 1988
- Trần Thanh Hà: "Vấn đề giáo dục thế giới quan khoa học cho cán
bộ, đảng viên người dân tộc Khơmer ở đồng bằng sông Cửu Long trong giai đoạn cách mạng hiện nay", Luận án Thạc sĩ Triết học, Học viện Chính
trị Quốc gia Hồ Chí Minh, 1993
Trang 3- Trần Phước: "Sự hình thành thế giới quan xã hội chủ nghĩa ở tầng lớp trí thức Việt Nam", Luận án PTS triết học, Học viện Chính trị Quốc gia
Hồ Chí Minh, 1993
- Trần Viết Quân: "Bồi dưỡng thế giới quan duy vật biện chứng cho đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp huyện ở Tây Nguyên", Luận văn thạc sĩ triết
học, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, 2002
Các tác giả trên đã đề cập đến một số vấn đề cơ bản như sau:
+ Khái niệm thế giới quan nói chung và thế giới quan duy vật biện chứng nói riêng, vấn đề cấu trúc, vai trò của chúng
+ Tầm quan trọng và tính tất yếu của việc giáo dục bồi dưỡng thế giới quan duy vật biện chứng cho các đối tượng như sinh viên, cán bộ nói chung trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội
+ Nêu ra những nhân tố cơ bản trong việc hình thành, tác động phát triển thế giới quan duy vật biện chứng
+ Từ đó, tác giả đưa ra một số những phương hướng chung và các giải pháp cụ thể cho mỗi đối tượng nghiên cứu trên cơ sở đòi hỏi của thực tiễn trong mỗi giai đoạn nhất định
Tuy nhiên về "Vấn đề bồi dưỡng thế giới quan duy vật biện chứng
cho học viên trường chính trị Hà Nam hiện nay" chưa có tác giả nào
nghiên cứu Dựa trên thực tế giáo dục, bồi dưỡng thế giới quan Mác - Lênin của Trường Chính trị Hà Nam trong những năm qua cho đội ngũ cán bộ trong tỉnh và thông qua việc giảng dạy môn triết học, tác giả mạnh dạn chọn đề tài này làm luận văn thạc sĩ triết học
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích
Từ việc phân tích vai trò thế giới quan và thực trạng việc bồi dưỡng thế giới quan của cán bộ tỉnh Hà Nam, luận văn đưa ra một số những giải
Trang 4pháp cụ thể nhằm bồi dưỡng thế giới quan cho đội ngũ học viên của trường Chính trị tỉnh Hà Nam.
3.2 Nhiệm vụ
- Làm rõ khái niệm thế giới quan duy vật biện chứng và vai trò của
nó trong hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn
- Nghiên cứu, tìm hiểu thực trạng thế giới quan của cán bộ trong tỉnh Hà Nam
- Đưa ra một số những giải pháp nhằm nâng cao thế giới quan khoa học cho đối tượng là học viên học ở tại trường
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Luận văn chỉ đề cập đến vấn đề bồi dưỡng thế giới quan duy vật biện chứng cho học viên ở Trường Chính trị Hà Nam (trừ đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp tỉnh và cấp huyện) từ năm 1997 đến nay
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
- Luận văn nghiên cứu trên cơ sở các quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, các quan điểm của Đảng, Nhà nước ta về vấn đề giáo dục bồi dưỡng thế giới quan Mác - Lênin, mối quan hệ giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội, mối quan hệ giữa điều kiện khách quan và nhân
tố chủ quan, giữa sự thống nhất biện chứng lý luận và thực tiễn…
- Luận văn dựa vào các văn kiện của các thời kỳ Đại hội của Đảng, Nghị quyết trung ương, các tài liệu của các cấp ủy Đảng và chính quyền ở tỉnh và Trường Chính trị Hà Nam
- Luận văn sử dụng phương pháp của chủ nghĩa duy vật biện chứng
và chủ nghĩa duy vật lịch sử, kết hợp lịch sử và lôgíc, điều tra xã hội học…
6 Đóng góp của luận văn
Làm rõ thực trạng thế giới quan của cán bộ tỉnh Hà Nam trên cơ sở
đó đề ra một số giải pháp chủ yếu để củng cố và nâng cao thế giới quan duy vật biện chứng cho đội ngũ cán bộ này
Trang 5- Luận văn có thể làm tài liệu tham khảo cho việc hoạch định chiến lược, kế hoạch xây dựng đội ngũ cán bộ ở tỉnh Hà Nam.
- Luận văn cũng có thể làm tài liệu tham khảo nghiên cứu giảng dạy
và học tập ở trường chính trị nói chung và Trường Chính trị Hà Nam nói
riêng 7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung luận văn gồm 2 chương, 5 tiết
Trang 6Chương 1
THẾ GIỚI QUAN CỦA ĐỘI NGŨ CÁN BỘ
TỈNH HÀ NAM HIỆN NAY
1.1 THẾ GIỚI QUAN DUY VẬT BIỆN CHỨNG VÀ VAI TRÒ CỦA THẾ GIỚI QUAN DUY VẬT BIỆN CHỨNG ĐỐI VỚI CÔNG TÁC LÃNH ĐẠO, QUẢN LÝ
1.1.1 Thế giới quan duy vật biện chứng
Đứng trước bức tranh về thế giới (tự nhiên và xã hội) muôn hình, muôn vẻ và sinh động, con người luôn đặt ra và giải quyết những vấn đề về mối quan hệ của mình với thế giới, về nguồn gốc của thế giới, về vị trí của mình trong xã hội, về ý nghĩa cuộc sống của mình và thể hiện quan điểm,
tư tưởng qua các lý thuyết xã hội Đó chính là sự lựa chọn và định hướng cuộc sống, tức là sự thể hiện thế giới quan của mình
Thuật ngữ "thế giới quan" xuất hiện vào khoảng cuối thế kỷ XVIII
do nhà triết học cổ điển Đức là Cantơ nêu ra Từ đó, nó được sử dụng rộng rãi trong các tác phẩm của các nhà triết học sau này Đặc biệt, với sự ra đời của chủ nghĩa Mác - Lênin, khái niệm thế giới quan đã phát triển lên một tầm cao mới mang tầm vóc lớn lao
Thế giới quan nào ra đời cũng đều nhằm giải quyết ba vấn đề cơ bản sau:
- Thế giới mà con người đang sống là gì?
- Trong thế giới đó con người sống vì cái gì và sống như thế nào?
- Khả năng con người tác động lại thế giới ra sao?
Trả lời những câu hỏi đó, thế giới quan đã vạch ra được mối quan
hệ giữa con người với thế giới và xác định vị trí con người trong thế giới đó
Trang 7Thế giới quan được hình thành và phát triển trong xã hội dưới hai hình thức:
Thứ nhất: Thế giới quan là một nhân tố của ý thức cá nhân, giữ vai
trò chỉ dẫn cách thức tư duy và hành động của cá nhân, đó là thế giới quan
cá nhân Thế giới quan cá nhân thường là sự tích lũy và thu thập kinh nghiệm sống của mọi người Nó nằm trong suy nghĩ và hành vi của họ mà chính họ cũng không biết rằng cái được gọi là kinh nghiệm sống hay sự hiểu biết về bức tranh chung của thế giới đó là thế giới quan cá nhân Nó chính là mức độ thấp trong nhận thức thế giới Tuy nhiên, không nên đánh giá thấp tác dụng của nó với tính cách là một nhân tố điều chỉnh hành động của con người Tác động của giáo dục, ảnh hưởng của truyền thống, của các quan hệ xã hội, các điều kiện và hoàn cảnh môi trường sống là nhân tố quan trọng hình thành các quan điểm và nguyên tắc thế giới quan cá nhân
Thứ hai: Thế giới quan là sự thể hiện dưới hình thức lý luận khái
quát hóa các quan điểm và hoạt động của một nhóm xã hội, một giai cấp hay toàn xã hội Đó là thế giới quan xã hội Các nhà triết học, kinh tế học,
xã hội học hay các nhà tư tưởng, chính trị luôn suy nghĩ, cân nhắc để xây dựng thế giới quan xã hội Nhiệm vụ của họ là phải làm thế nào để thể hiện một cách đầy đủ nhất những nguyên lý tư tưởng lý luận, nguyên lý triết học nhằm chỉ dẫn suy nghĩ và hành động của con người, của một nhóm xã hội, một giai cấp hay toàn xã hội
Hai loại thế giới quan trên luôn nằm trong mối quan hệ gắn bó chặt chẽ với nhau Mỗi cá nhân đều luôn mong muốn làm phong phú tri thức của mình bằng cách tiếp nhận những lý luận chung để làm sáng tỏ vị trí của mình trong thế giới, trong đời sống xã hội Ngược lại, những quan điểm thế giới quan xã hội, lý luận chung ấy trở thành một bộ phận trong ý thức và niềm tin của các cá nhân, thẩm thấu vào ý thức cá nhân, được hình thành một cách tự phát rồi tác động và chỉ dẫn nó
Trang 8Dù ở trình độ phát triển nào các quan điểm về thế giới quan cũng đều mang tính khái quát Thế giới quan là sự phản ảnh chủ quan những điều kiện sinh hoạt vật chất của con người Tuy nhiên, thế giới quan không chỉ dừng lại ở sự phản ánh thụ động đó, mà nó còn là nhân tố tích cực của con người, sự thông thái về cuộc sống để chỉ dẫn cho nhận thức lẫn hành động của con người Bởi vì, chính hành vi và hoạt động của con người đã đặt ra các vấn đề như: liệu nhận thức có đáp ứng những mục đích sống đã được con người lựa chọn và con đường thực hiện những mục đích ấy có tuân theo những quy luật phát triển của thế giới khách quan hay không? Liệu quan hệ giữa tri thức con người với thực tiễn cải tạo thế giới khách quan, cải tạo chính bản thân mình có tương ứng với những đòi hỏi và những khuynh hướng phát triển hợp quy luật của hiện thực hay không? Và bằng cách nào mà tư duy và hành động của mình, con người có thể thể hiện
sự thống nhất giữa mình và thế giới, hiểu được tương lai, triển vọng của mình? Khi trả lời những câu hỏi đó, thế giới quan đã thể hiện chức năng, định hướng lớn lao của mình
Trong lịch sử tư tưởng làm người đã có nhiều định nghĩa khác nhau
về thế giới quan, chẳng hạn, G-Gertx đã cho rằng: "Chúng tôi hiểu thế giới quan như một hệ thống nhất định những lời giải đáp những vấn đề về cội nguồn của thế giới và nguồn gốc, về ý nghĩa cuộc sống và đặc trưng của tiến
bộ xã hội" [16, tr 42] Hoặc trong cuốn Từ điển Tiếng Việt, Minh Tâm đã định nghĩa: "Thế giới quan là hệ thống những quan điểm mang tính khái quát về thế giới nói chung, về những quy trình tự nhiên và xã hội được thực hiện trong thế giới đó, về mối quan hệ của con người đối với hiện thực xung quanh" [39, tr 17] Chúng tôi nhận thấy các định nghĩa trên đều
đúng, nhưng bao quát và rõ hơn cả là theo cách định nghĩa của Akitốp, bởi
vì trong định nghĩa này, ông đã nêu nên, các yếu tố nhận thức và giá trị, yếu tố khách quan và chủ quan thống nhất chặt chẽ với nhau, các tri thức
Trang 9của khoa học về thế giới hòa với niềm tin của con người Ông viết: "Tổng hợp tất cả những quan niệm, chính kiến về thế giới, về cấu trúc và nguồn gốc của nó, ý nghĩa và giá trị của đời sống con người, lòng tin của con người trong hiện thực gọi là thế giới quan" [1, tr 167].
Từ những quan niệm trên đây, có thể hiểu: Thế giới quan là hệ thống những quan điểm của một chủ thể (có thể là của một người, một tập đoàn người, một giai cấp hay toàn xã hội) về thế giới, về vị trí, vai trò của con người trước thế giới Trên cơ sở đó, thế giới quan định hướng, chỉ dẫn cho hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn của con người.
Về cấu trúc của thế giới quan bao gồm một số nhân tố cơ bản sau đây:
Tri thức:
Cũng giống ở mọi ý thức xã hội, thế giới quan bao gồm những tri thức về tự nhiên, xã hội, con người Những tri thức mang tính khái quát về các hiện tượng tự nhiên, về mối quan hệ nền tảng, bản chất của tự nhiên, tạo thành quan điểm về tự nhiên của thế giới quan Các tri thức tự nhiên đó quy định lập trường của con người trong thế giới, chỉ rõ người theo chủ nghĩa vô thần hay duy tâm, tôn giáo; biện chứng hay siêu hình
Những tri thức về cuộc sống của con người, về sự phát triển xã hội,
về quan hệ của con người đối với xã hội tạo thành quan điểm xã hội của thế giới quan
Những tri thức hệ thống khái quát về bản chất của quá trình hoạt động nhận thức của con người tạo thành quan điểm nhận thức luận của thế giới quan
Rõ ràng, việc xác định bản chất của thế giới quan cần dựa trên phương diện bản thể luận lẫn phương diện nhận thức luận Tri thức là điều kiện cần thiết cơ bản cho việc hình thành thế giới quan, nhưng không phải bất kỳ tri thức nào về tự nhiên, xã hội, về con người đều là tri thức thế giới
Trang 10quan Chỉ có những tri thức biểu thị quan điểm chung về tồn tại và về nhận thức mới là những tri thức của thế giới quan.
Trong nội dung tri thức của thế giới quan, các quan điểm của triết học đóng vai trò là nền tảng của mọi thế giới quan ở các giai đoạn phát triển của nó vì triết học phản ánh các quan điểm chung nhất về thế giới
Niềm tin:
Niềm tin là một trạng thái tâm lý, tinh thần đặc biệt được phát triển trên cơ sở của tri thức Nó là động lực thúc đẩy khát vọng nhận thức và cải tạo hiện thực của con người
Niềm tin là những tư tưởng chi phối chặt chẽ tư tưởng, chỉ dẫn hành động của con người tuân theo và ràng buộc trí tuệ, lương tâm của con người với chúng Nếu con người làm việc gì đó mà không có niềm tin vào
sự đúng đắn của tri thức, của tư tưởng thì con người sẽ bị mất đi những rung động của ý chí, nghị lực, lòng nhiệt tình và sự cổ vũ cần thiết đối với hiệu quả công việc Không có tâm hồn nóng bỏng của niềm tin vào tri thức thì sẽ không sản sinh ra cái gì vĩ đại cả Vì niềm tin giúp cho con người có nghị lực phi thường vượt qua những giây phút hiểm nghèo, giám hy sinh vì mục tiêu, lý tưởng mà mình cho là cao cả Như thế, niềm tin là yếu tố cấu thành quan trọng của thế giới quan Nếu nó được xác lập trên nền tảng tri thức khoa học thì nó sẽ thúc đẩy xã hội phát triển
Lý tưởng:
Trong thế giới quan, cùng với tri thức và niềm tin thì lý tưởng là yếu tố định hướng cực kỳ quan trọng Lý tưởng như là hình mẫu, mục tiêu tối thượng về một cái gì đó của một cá nhân, nhóm người, giai cấp hay toàn
xã hội muốn vươn tới hiện thực
Lý tưởng là một hình thức tư tưởng được xác lập trên cơ sở tri thức
và niềm tin của một giai cấp trong toàn xã hội đặt ra nhằm định hướng hoạt
Trang 11động cho mọi thành viên trong xã hội thực hiện mục đích của mình, nhằm
cải tạo thế giới "đang có" thành thế giới "phải có" Lý tưởng mang tính lịch
sử về bản chất, nó có thể tiến bộ hay lạc hậu tùy thuộc vào hình thái của các mối quan hệ xã hội Những quan niệm của con người về tương lai, về
lý tưởng, đó là sự tìm tòi và sẽ hình thành một hình thức tâm lý với tư cách
là niềm hi vọng Không có niềm hy vọng như là một sự khao khát hiến dâng mình cho tương lai thì không thể có một lập trường sống tích cực Đó
là các nhân tố cơ bản có quan hệ chặt chẽ với nhau cấu thành thế giới quan,
để thể hiện những quan điểm của chủ thể về thế giới, về những hiện tượng
tự nhiên, xã hội và các quy luật phát triển của chúng; về bản thân con người,vai trò của con người trước thế giới
Mối quan hệ giữa triết học với thế giới quan:
Như trên đã trình bày, thế giới quan đã chỉ ra mối quan hệ giữa con người với thế giới, cái chủ quan và cái khách quan đã bao hàm trong mình vấn đề cơ bản của triết học, thậm chí vấn đề cơ bản của triết học là vấn đề chính trong kết cấu của thế giới quan Nhưng xét về mặt lịch sử, thế giới quan
ra đời sớm hơn triết học Nó ra đời trong thời kỳ bộ tộc, trên cơ sở sự phản ánh hoang đường về thực tế Và hình thức thế giới quan đầu tiên ấy gọi là thế giới quan thần thoại Còn triết học là khoa học chỉ xuất hiện khi có sự tách lao động trí óc ra khỏi lao động chân tay, gắn liền với sự ra đời của chế độ chiếm hữu nô lệ Triết học là hệ thống các quan điểm lý luận chung nhất về thế giới, về vị trí của con người trong thế giới đó Vì vậy, triết học
là hạt nhân lý luận của thế giới quan làm cho thế giới quan phát triển như một quá trình tự giác dựa trên sự tổng kết kinh nghiệm thực tiễn và tri thức
do các nhà khoa học đem lại Đó là chức năng thế giới quan của triết học
Trong những bước chuyển biến của đời sống xã hội của thực tiễn đặt ra đã kéo theo sự tiến hóa của thế giới triết học, mà đỉnh cao nhất nó đạt được là thế giới duy vật biện chứng
Trang 12Thế giới quan duy vật biện chứng là hệ thống chỉnh thể những tri thức về tự nhiên, xã hội và con người Nó được tạo thành trên cơ sở phê phán có chọn lọc những tư tưởng tiến bộ của các trào lưu triết học từ sự khái quát kinh nghiệm lịch sử có những thành tựu của khoa học.
Vai trò thế giới quan duy vật biện chứng trong thực tiễn cách mạng được quy định bởi bản chất cách mạng của chính phép biện chứng duy vật
Vì vậy, thế giới quan duy vật biện chứng là một loại thế giới quan mang tính khoa học và cách mạng triệt để nhất Nó không chỉ dừng lại ở việc lý giải về thế giới mà hơn thế nữa, trên cơ sở sự lý giải đúng, nó trở thành cái định hướng cho con người trong hành động, khẳng định vị trí của con
người trong việc cải tạo thế giới; C Mác viết: "Các nhà triết học đã chỉ giải thích thế giới bằng nhiều cách khác nhau, vấn đề là cải tạo thế giới"
[29, tr 258]
Sự ra đời của thế giới quan duy vật biện chứng đã đánh dấu bước ngoặt vĩ đại trong sự phát triển của thế giới quan triết học nói riêng và của thế giới nói chung Nó là sự thống nhất chặt chẽ các nguyên lý của chủ nghĩa duy vật và phép biện chứng do các nhà kinh điển chủ nghĩa Mác sáng lập Thế giới quan đó có một ý nghĩa không chỉ thuần về mặt lý luận và nhận thức mà nó còn có ý nghĩa lớn lao về mặt thực tiễn: biểu hiện thái độ của con người với thế giới xung quanh và làm kim chỉ nam cho hành động của con người Nhờ đã phát hiện ra những quy luật khách quan của tự nhiên và xã hội cho nên thế giới quan duy vật biện chứng hướng sự hoạt động của con người đúng theo sự phát triển của xã hội, do đó, nó thúc đẩy thêm sự phát triển ấy
Công cuộc đổi mới, sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước ta đòi hỏi mỗi người chúng ta, đặc biệt đối với đội ngũ cán bộ - những người lãnh đạo quần chúng phải có một thế giới quan đúng đắn, khoa học và cách mạng, một thế giới quan thống nhất giữa lời nói, việc
Trang 13làm, giữa chân - thiện - mỹ Một thế giới quan như thế phải được xây dựng trên những tư tưởng triết học của các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác - Lênin Bởi lẽ, việc trang bị thế giới quan duy vật biện chứng sẽ giúp chúng
ta có niềm tin vững chắc vào sự thắng lợi của chủ nghĩa xã hội; nâng cao năng lực nhận thức và tổ chức thực tiễn Nó có tác dụng đối với mọi người, đặc biệt là đội ngũ cán bộ - những người lãnh đạo nhân dân thực hiện thắng lợi đường lối chính trị của Đảng trong tình hình cách mạng mới
1.1.2 Vai trò của thế giới quan duy vật biện chứng đối với người cán bộ lãnh đạo, quản lý ở Hà Nam
Cơ cấu tổ chức bộ máy hành chính Nhà nước ta được phân thành bốn cấp: trung ương; tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; huyện, quận;
xã, phường, thị trấn Nhưng khi nói đến hết cơ cấu bộ máy chính quyền nhà nước thì được phân thành hai cấp: trung ương và địa phương (về đối tượng nghiên cứu của đề tài này là những người cán bộ lãnh đạo, quản lý từ cấp tỉnh đến cấp cơ sở, trừ cán bộ chủ chốt cấp tỉnh và cán bộ chủ chốt cấp huyện)
Theo cách hiểu thông thường và khá phổ biến ở nước ta hiện nay, khái niệm cán bộ lãnh đạo còn gắn liền với khái niệm cán bộ quản lý, được hiểu là những người có chức vụ và trách nhiệm điều hành, cầm đầu trong các cơ quan, các tổ chức sự nghiệp, kinh doanh Nội hàm cán bộ lãnh đạo
và cán bộ quản lý có những điểm giống nhau: Cả cán bộ lãnh đạo và cán bộ quản lý đều là chủ thể ra quyết định, điều khiển hoạt động của một tổ chức, người cán bộ lãnh đạo cũng phải thực hiện chức năng quản lý và người quản lý cũng phải thực hiện chức năng lãnh đạo, nên khó có thể phân biệt một cách rạch ròi đâu là người lãnh đạo và đâu là người quản lý
Tuy nhiên, khái niệm lãnh đạo và quản lý không hoàn toàn thống nhất với nhau Trong quá trình lãnh đạo, hoạt động chủ yếu là định hướng
Trang 14cho khách thể thông qua hệ thống cơ chế, đường lối, chủ trương, chính sách
"làm thức tỉnh" hành vi của đối tượng, định hướng hoạt động của đối tượng
và xã hội Trong Từ điển tiếng Việt ghi: "Lãnh đạo bằng đề ra đường lối chủ trương và tổ chức, động viên thực hiện" [39, tr 720] Còn hoạt động
quản lý mang tính chất điều khiển vận hành thông qua những thiết chế có tính pháp lệnh, quy định từ trước
Ở cả hai cương vị, người cán bộ lãnh đạo và người cán bộ quản lý đều phải là người giỏi nghiệp vụ chuyên môn, phải có đủ năng lực và phẩm chất để định hướng điều khiển chỉ huy, tổ chức công việc và đoàn kết cộng đồng
Theo C.Mác và Ph.Ăngghen, cán bộ phải là những người "có nhiều trí tuệ hơn một chút, nhiều sự phân minh trong tư tưởng hơn một chút và
kiến thức rộng", đó là những người trung thành, tiêu biểu cho lý tưởng và
lẽ sống của giai cấp vô sản Theo V.I Lênin, người cán bộ lãnh đạo quản lý phải là những người:
Thực sự có tài tổ chức, những người có bộ óc sáng suốt
và có bản lĩnh tháo vát trong thực tiễn, những người vừa trung thành với chủ nghĩa xã hội, lại vừa có năng lực lặng lẽ tổ chức công tác chung vững chắc và nhịp nhàng chỉ có những người như thế, chúng ta mới đề bạt lên những chức vụ lãnh đạo quản lý [28, tr 509]
Hồ Chí Minh căn dặn: "Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội thì phải
có con người xã hội chủ nghĩa và tư tưởng xã hội chủ nghĩa" [34, tr 159]
Trong sự nghiệp cách mạng có nhiều nhiệm vụ, nhiều công việc Song
người luôn coi "cán bộ là cái gốc của mọi công việc" [34, tr 269]; "muôn việc thành công hay thất bại đều do cán bộ tốt hoặc kém" [34, tr 240].
Trang 15Nếu có cán bộ tốt, ngang tầm thì việc xây dựng đường lối chính sách sẽ đúng đắn và điều kiện tiên quyết đẻ đưa sự nghiệp cách mạng thắng lợi Không có đội ngũ cán bộ tốt thì cho dù có đường lối, chính sách đúng thì khó có thể trở thành hiện thực Muốn biến đường lối, chính sách thành hiện thực; cần phải có những người cán bộ cách mạng thực sự bằng lý luận
và năng lực thực tiễn của mình kết hợp với quần chúng nhân dân để tổ chức thành công sự nghiệp cách mạng
Hồ Chí Minh chỉ ra rằng: "Cán bộ là những người đem chính sách của Đảng, của Chính phủ giải thích cho dân chúng hiểu rõ và thi hành Đồng thời đem tình hình của dân chúng báo cáo cho Đảng, cho Chính phủ hiểu rõ, để đặt chính sách cho đúng" [34, tr 260] Người cán bộ không chỉ
dừng lại ở những tri thức kinh nghiệm lẻ tẻ, rời rạc mà sau mỗi việc đã làm phải biết tổng kết thực tiễn, khái quát, nâng lên thành lý luận để lý luận lại chỉ đường, dẫn lối cho hoạt động thực tiễn của người cán bộ
Bên cạnh tư chất và tài năng, đòi hỏi người cán bộ lãnh độ, quản lý phải trau dồi chủ nghĩa tập thể chống chủ nghĩa cá nhân, thói quan liêu cửa quyền hách dịch, đặc quyền đặc lợi; luôn gương mẫu, trung thực, cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư; phải gắn bó với nhân dân, giữ đúng lời hứa với dân, luôn khiêm tốn và ham học hỏi Những phẩm chất đạo đức đó không phải từ trên trời rơi xuống, không phải là bẩm sinh, nhưng cũng không thể không vươn tới được Nó là kết quả của quá trình tu dưỡng, rèn luyện bền bỉ lâu dài của mỗi người Do đó, người cán bộ phải phấn đấu vừa
"hồng" vừa "chuyên", tiêu biểu mẫu mực trước quần chúng nhân dân Để
làm được điều đó đòi hỏi người cán bộ phải có đủ tư chất, tài năng và có
đạo đức tốt: "Cần, kiệm, liêm chính, chí công vô tư"
Ngày nay, đất nước ta đang tiếp tục thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Đó là thời kỳ có nhiều thay đổi và có vận hội
Trang 16mới, đồng thời cũng không ít những nguy cơ và thử thách Song mục tiêu đường lối phát triển kinh tế của Đảng ta là:
Đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ, đưa nước ta trở thành một nước công nghiệp, ưu tiên phát triển lực lượng sản xuất, đồng thời xây dựng quan hệ sản xuất phù hợp theo định hướng xã hội chủ nghĩa , tăng trưởng kinh tế đi liền với phát triển văn hóa, từng bước cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, thực hiện tiến
bộ và công bằng xã hội, tạo nền tảng để đến năm 2020 nước ta cơ
bản trở thành một nước công nghiệp hiện đại [14, tr 89].
Vai trò của đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý từ cấp tỉnh đến cấp xã càng ngày càng quan trọng thể hiện trong mọi mặt của sự nghiệp đổi mới đất nước Từ việc củng cố, xây dựng Đảng vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức, đảm bảo cho các chi bộ, Đảng bộ là hạt nhân lãnh đạo hệ thống chính trị ở mỗi cấp, lãnh đạo toàn diện các mặt của đời sống xã hội, xây dựng chính quyền và các đoàn thể chính trị - xã hội trong sạch, vững mạnh; phát huy quyền làm chủ của nhân dân, chăm lo đời sống vật chất và tinh thần, bảo vệ quyền lợi chính đáng của nhân dân đến những công việc
cụ thể của quá trình lãnh đạo như: nắm bắt và cụ thể hóa các đường lối chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước cho phù hợp với tình hình thực tiễn ở từng địa phương, từng sở, ban ngành; đề ra kế hoạch, lãnh đạo quản
lý để mọi người thực hiện Đồng thời, người lãnh đạo, quản lý phải biết uốn nắn những sai lệch trong quá trình thực hiện thuộc phạm vi, quyền hạn của mình, tổng kết phong trào, phản hồi lại các cơ quan đơn vị (nếu cần), đảm bảo sự lãnh đạo thông suốt từ trung ương đến cơ sở
Đặc biệt, sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn là một nội dung quan trọng, tất yếu khách quan của quá trình
Trang 17công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, đang đặt ra nhiều thử thách, đòi hỏi đội ngũ cán bộ phải có những phẩm chất, tri thức mới đáp ứng nhiệm
vụ cách mạng: từ việc thực hiện chuyển dịch nhanh cơ cấu kinh tế theo hướng công - nông nghiệp - dịch vụ hiện đại, tiếp thu và áp dụng phương thức quản lý tiên tiến, thành tựu khoa học - công nghệ mới, kết hợp công nghệ truyền thống và công nghệ hiện đại đến việc cải tạo và nâng cấp kết cấu hạ tầng, quy hoạch dân cư và vùng lãnh thổ, phát triển công tác giáo dục, đào tạo
Để có được những phẩm chất và năng lực đó, người cán bộ không
những thông qua hoạt động thực tiễn "lăn lộn" trong phong trào cách mạng
đồng thời còn là kết quả của công tác cán bộ của Đảng Sự phát hiện, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ có thể tạo ra những cán bộ giỏi có tài có đức thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chính trị của Đảng Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng
định: "Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội thì nhất định phải có học thức, cần phải học văn hóa, chính trị, kỹ thuật, cần phải học lý luận Mác - Lênin kết hợp với đấu tranh công tác hàng ngày" [33, tr 461].
Đào tạo, bồi dưỡng là khâu có ý nghĩa quyết định đến trình độ, chất lượng cán bộ Công việc này gồm nhiều hình thức khác nhau, nhưng trong
đó việc đào tạo, bồi dưỡng thế giới quan duy vật biện chứng đóng một vai trò cực kỳ quan trọng Bởi vì, thế giới quan duy vật biện chứng giúp cho người cán bộ có phương pháp nhận thức đúng đắn sự vật, đề ra kế hoạch, định hướng và biện pháp thực hiện khoa học và hiệu quả Vai trò của thế giới quan duy vật biện chứng đối với người cán bộ lãnh đạo, quản lý ở Hà Nam được thể hiện một số mặt cơ bản sau đây:
Thứ nhất: Thế giới quan duy vật biện chứng giúp cho người cán bộ
lãnh đạo, quản lý nâng cao năng lực nhận thức; đề ra chủ trương, chính sách phù hợp với yêu cầu phát triển thực tế ở địa bàn.
Trang 18Thế giới quan duy vật biện chứng giúp cho người cán bộ có phương pháp biện chứng làm việc và nhìn nhận, đánh giá sự vật, hiện tượng Nó xác lập và tạo niềm tin cho lập trường của người cán bộ, bác bỏ những quan điểm sai lầm của thế giới quan duy tâm và tôn giáo
Thế giới quan duy vật biện chứng giúp cho người cán bộ ngày càng
đi sâu vào bản chất sự vật, nắm bắt được cái phổ biến tất yếu, những mối liên hệ ẩn giấu đằng sau các sự kiện riêng biệt Từ đó giúp họ thấy được quy luật, nguồn gốc, xu hướng, phương thức vận động, biến đổi, phát triển của sự vật hiện tượng Đồng thời, thế giới quan duy vật biện chứng cũng tạo cho họ có khả năng phân tích và tổng hợp, trừu tượng và khái quát Nhờ vào khả năng phân tích mà họ có thể thấy được cơ cấu bên trong, tính chất, chức năng của các bộ phận, yếu tố Trên cơ sở đó với phương pháp tổng hợp, người cán bộ biết liên kết, thống nhất lại các bộ phận yếu tố đã phân tích, vạch ra mối liên hệ của chúng nhằm nhận thức cái toàn thể trong tính muôn vẻ của nó, giúp cho người cán bộ nắm bắt sâu sắc bản chất, quy luật của sự vật, hiện tượng Năng lực trừu tượng giúp người cán bộ biết gạt bỏ những mặt, yếu tố không cơ bản nào đó trong tổng thể phong phú của sự vật mà nắm được cái bản chất có tính quy luật của nó Năng lực khái quát giúp cho cán bộ nắm được đặc tính chung từ những vấn đề nhưng việc nắm vững vấn đề lý luận chung sẽ là tiền đề, phương pháp tốt nhất để giải quyết những vấn đề cụ thể V.I Lênin viết:
Người nào bắt tay vào giải quyết những vấn đề riêng, trước khi giải quyết những vấn đề chung, thì kẻ đó trên mỗi bước đi sẽ không sao tránh khỏi, vấp phải những vấn đề chung một cách không tự giác mà mù quáng vấp phải những vấn đề đó trong từng trường hợp riêng, thì có nghĩa là đưa chính sách của mình đến
chỗ có những dao động tồi tệ nhất và mất tính nguyên tắc [25, tr
427]
Trang 19Thế giới quan duy vật biện chứng cũng nâng cao năng lực tư duy lý luận cho đội ngũ cán bộ lãnh đạo quản lý Người cán bộ mà dừng lại ở tư duy kinh nghiệm, tuyệt đối hóa tri thức kinh nghiệm sẽ rơi vào bệnh kinh nghiệm, như vậy sẽ không thể không rơi vào thế giới quan duy vật và phương pháp tư duy siêu hình, tuyệt đối hóa cái cụ thể, cái đơn nhất đem áp dụng
nó vào cái phổ biến cái đa dạng, cái toàn thể Chỉ có trên cơ sở trang bị thế giới quan duy vật biện chứng, người cán bộ mới nâng cao được trình độ, năng lực tư duy của mình từ kinh nghiệm phát triển lên lý luận khoa học, mới có đủ điều kiện đảm bảo để khám phá, đi sâu vào bản chất sự vật, quy luật vận động phát triển của nó
Đồng thời, nâng cao tư duy lý luận sẽ giúp người cán bộ quản lý tránh khỏi lúng túng, bất lực, nắm bắt được tình hình nhanh chóng, ra được quyết định nhanh đúng và trúng
Trong giai đoạn cách mạng mới hiện nay với những diễn biến phức tạp, khó khăn và thuận lợi đan xen nhau, càng đòi hỏi không ngừng nâng cao trình độ lý luận, vận dụng sáng tạo đường lối của Đảng, chính sách của Nhà nước vào thực tiễn, tình huống cụ thể Đồng thời, đòi hỏi người cán bộ phải nhạy bén, linh hoạt, tinh thần dám nghĩ dám làm, đấu tranh với những
hủ tục, lạc hậu tạo điều kiện cho cái mới, cái tiến bộ phát triển
Thứ hai: Thế giới quan duy vật biện chứng giúp cho người cán bộ lãnh đạo, quản lý có được niềm tin vào sự tất thắng của chủ nghĩa xã hội, tin vào đường lối chính trị của Đảng, tin vào quần chúng nhân dân.
Việc nắm vững những nguyên tắc phương pháp luận được rút ra từ thế giới quan khoa học giúp chúng ta nhận thức đúng đắn hiện thực khách quan của thời đại của đất nước, với tất cả những mối quan hệ giai cấp, dân tộc, những tương quan lực lượng cụ thể trong thời kỳ lịch sử nhất định Đồng thời, nó vạch ra lực lượng cách mạng, tiến bộ và quy luật con đường
Trang 20của sự phát triển lịch sử Trong thế giới quan duy vật biện chứng mà triết học (bao gồm cả duy vật biện chứng và duy vật lịch sử) cùng với các khoa học khác đã khẳng định sự phát triển của xã hội loài người là một quá trình lịch sử tự nhiên với những quy luật nhất định Từ đó, nó luận chứng về sự diệt vong tất yếu của chủ nghĩa tư bản và sự ra đời của chế độ xã hội mới:
Xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa mà giai cấp công nhân là Người gánh vá sứ mệnh lịch sử đó Nếu công lao Mác và Ăngghen đã đưa ra những dự đoán thiên tài về một chế độ xã hội mới tốt đẹp thì Lênin bằng tài năng vĩ đại của mình đã phát triển, vận dụng tư tưởng của Mác và Ăngghen vào thực tiễn nước Nga và cách mạng xã hội chủ nghĩa đã nổ ra và thắng lợi Thắng lợi của cách mạng tháng Mười cùng với sức mạnh và tính ưu việt của Nhà nước công nông đầu tiên đã tạo ra điều kiện khách quan, chỗ dựa vững chắc, nguồn cổ vũ mạnh mẽ đối với giai cấp vô sản và nhân dân lao động trên khắp các châu lục trên con đường giải phóng dân tộc và tiến lên xã hội chủ nghĩa
Sự ra đời của hệ thống xã hội chủ nghĩa đã đóng góp to lớn cho việc giữ gìn hòa bình, bình đẳng và tiến bộ xã hội, làm nức lòng triệu triệu trái tim
trên thế giới Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: "Giống như mặt trời chói lọi, cách mạng tháng Mười chiếu sáng khắp năm châu, thức tỉnh hàng triệu, hàng triệu người bị áp bức bóc lột trên trái đất Trong lịch sử loài người chưa từng có cuộc cách mạng nào có ý nghĩa to lớn và sâu xa như thế" [5, tr
67]
Mặc dù hiện nay, chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và Đông Âu tan vỡ và chủ nghĩa đi vào thoái trào, nhưng đó chỉ là sự khủng hoảng trong sự trưởng thành, nhất định loài người vẫn tiến lên chủ nghĩa xã hội, đó là qui luật phù hợp với dòng chảy lịch sử
Sự kiên định và phát triển con đường xã hội chủ nghĩa đã lựa chọn cùng với những thành công trong công cuộc đổi mới, cải cách ở Việt Nam
Trang 21và Trung Quốc đã càng củng cố lòng tin của nhân loại đối với tính ưu việt
và trường tồn của chủ nghĩa xã hội Trong những thập kỷ gần đây, chủ nghĩa tư bản đã có những điều chỉnh nào đó, do cuộc đấu tranh của nhân dân lao động, do phải tồn tại bên cạnh hệ thống xã hội chủ nghĩa hiện thực,
do tác động cuộc cách mạng khoa học, công nghệ song xã hội đó vẫn không làm thay đổi cơ bản mối quan hệ giữa tư bản và lao động, giữa người bóc lột và người bị bóc lột Ở đó, năng suất lao động càng cao thì bóc lột càng nhiều, đó là một sự thật hiển nhiên
Việc thấm nhuần sâu sắc thế giới quan duy vật biện chứng sẽ giúp người cán bộ nhận thức đúng bản chất của chủ nghĩa tư bản, các quy luật vận động khách quan của lịch sử để có niềm tin vững chắc, lãnh đạo toàn dân đi lên chủ nghĩa xã hội
Niềm tin tất thắng vào chủ nghĩa xã hội của người cán bộ lãnh đạo, quản lý được biểu hiện ở sự tin tưởng vào đường lối lãnh đạo của Đảng cộng sản Tính khoa học và cách mạng của thế giới quan duy vật biện chứng là cơ sở để hình thành và luận chứng cho đường lối chính trị của Đảng Từ đó người cán bộ lãnh đạo quản lý tiếp thu vạch ra đường lối chiến lược và sách lược nhằm đạt mục đích là cải tạo thực hiện Nó đối lập
hoàn toàn với bệnh bảo thủ, giáo điều, kinh viện… Vì vậy, Mác viết: "Các nhà triết học trước kia chỉ giải thích thế giới bằng nhiều cách hiểu khác nhau, song vấn đề là cải tạo thế giới" [29, tr 258]
Những thành tựu của sự nghiệp đổi mới gần 20 năm qua ở nước ta từng bước nâng cao đời sống xã hội, củng cố lòng tin của nhân dân đối với Đảng, làm cho con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta càng rõ hơn Một trong những nguyên nhân của thắng lợi đó là Đảng ta đã biết tiếp thu
và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh vào điều kiện cách mạng Việt Nam mà linh hồn là phép biện chứng duy vật - một nhân tố cơ bản của thế giới quan duy vật biện chứng Lênin đã viết:
Trang 22"Chỉ Đảng nào được một lý luận tiền phong hướng dẫn thì mới có khả năng làm tròn vai trò chiến sĩ tiên phong" [24, tr 259].
Thế giới quan duy vật biện chứng còn giúp cho người cán bộ lãnh đạo, quản lý tin tưởng vào vai trò to lớn của giai cấp công nhân và nhân dân lao động Họ là lực lượng quyết định thắng lợi của các cuộc cách mạng
xã hội Với vũ khí lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin, giai cấp công nhân - đại diện cho lực lượng tiến bộ tập hợp, giác ngộ, phát huy sức mạnh quần chúng để cải tạo thế giới, thúc đẩy xã hội phát triển
Với tính cách mạng và tính khoa học, thế giới quan duy vật biện chứng đã giúp người cán bộ, lãnh đạo, quản lý có niềm tin sâu sắc vào chủ nghĩa xã hội, tin vào sự lãnh đạo của giai cấp công nhân - thông qua đội tiền phong là Đảng cộng sản, tin tưởng vào sức mạnh của quần chúng lao động Có như vậy thì nước ta mới thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa tạo điều kiện đi lên chủ nghĩa xã hội
Thứ ba: Thế giới quan duy vật biện chứng giúp cho người cán bộ lãnh đạo quản lý trong tỉnh nâng cao năng lực tổng kết thực tiễn, đúc rút kinh nghiệm định hướng cho hoạt động nhận thức và thực tiễn tiếp theo.
Tổng kết thực tiễn là những kết luận chung được rút ra sau khi kết thúc, hoàn thành xong một công việc nào đất Trong đó người cán bộ phải thật khách quan, khoa học khi đánh giá kết luận, tìm ra những nguyên nhân thành công và thất bại ở mỗi công việc Trên cơ sở ấy rút ra được những tri thức, hiểu biết mới tức là tri thức kinh nghiệm để định hướng cho hoạt động thực tiễn tiếp theo
Có thể nói, hoạt động của con người nói chung và người cán bộ lãnh đạo quản lý nói riêng rất cần tri thức kinh nghiệm Tri thức kinh nghiệm đã giúp cho người cán bộ trong thời gian qua giải quyết được nhiều vấn đề cụ thể, đơn giản đặc biệt là đối với đội ngũ cán bộ cơ sở Nhưng chỉ
Trang 23dừng lại ở tri thức kinh nghiệm thì sẽ lại khó tránh khỏi lúng túng, bất lực thậm chí sai lầm khi giải quyết những vấn đề phức tạp trước yêu cầu của thời kỳ mới Muốn vậy, người cán bộ lãnh đạo, quản lý khi giải quyết công việc phối kết hợp nhuần nhuyễn, hợp lý giữa kinh nghiệm với lý luận khoa học, phải nắm vững nguyên lý, yêu cầu của thế giới khách quan, phải nắm bắt thực tiễn những vấn đề cần tổng kết, phân tích, tổng hợp, chắt lọc những thông tin cơ bản, chủ yếu để đút rút ra bài học kinh nghiệm kết hợp với tri thức lý luận khoa học nhằm giải quyết công việc có hiệu quả Đó là nhiệm vụ thường xuyên mà người cán bộ lãnh đạo quản lý cần làm Chỉ trên cơ sở thế giới quan duy vật biện chứng người cán bộ mới tổng kết thực tiễn đút rút kinh nghiệm một cách khoa học, kịp thời phát hiện ra cái mới, cái tiến bộ và tạo điều kiện cho chúng phát triển Những kinh nghiệm được rút ra đó không chỉ phù hợp với thực tế khách quan phong phú và đa dạng
mà nó còn có tác dụng mạnh mẽ điều chỉnh bổ sung cho các đường lối, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước nói chung và những chiến lược, sách lược cho địa phương mình phụ trách nói riêng
Thứ tư: Thế giới quan duy vật biện chứng giúp cho người cán bộ lãnh đạo, quản lý trau dồi và nâng cao phẩm chất đạo đức cách mạng
Thế giới quan duy tâm và phản động phản ánh sau lệch hiện thực khách quan, bảo vệ lợi ích giai cấp bóc lột và đánh lạc hướng nhằm ngăn cản nhân dân lao động đấu tranh tự giải phóng mình Ngược lại, thế giới quan duy vật biện chứng phản ánh đúng đắn hiện thực khách quan và bảo vệ lợi ích căn bản của giai cấp công nhân và nhân dân lao động Nó là vũ khí lý luận sắc bén, là kim chỉ nam soi đường cho giai cấp công nhân lãnh đạo nhân dân lao động và các dân tộc bị áp bức trên thế giới đấu tranh giải phóng khỏi bị bóc lột và nô dịch, tiến lên xây dựng một xã hội văn minh và nhân đạo hơn: Xã hội cộng sản chủ nghĩa mà giai đoạn đầu là chủ nghĩa xã hội
Trang 24Đó là xã hội mà quan hệ giữa người với người là hợp tác, bình đẳng, tương thân tương ái.
Chủ nghĩa Mác - Lênin nói chung và thế giới quan duy vật biện chứng nói riêng đã kế thừa tất cả những giá trị tư tưởng văn hóa của nhân loại đã có từ trước, nó luôn luôn gắn liền với thực tiễn của phong trào cách mạng, thực tiễn vận động của lịch sử, của sự phát triển của khoa học kỹ thuật với cuộc đấu tranh tư tưởng lý luận chống lại các học thuyết tư sản, các loại chủ nghĩa cơ hội, xét lại, cải lương, chủ nghĩa sô vanh, chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi Nó cũng hoàn toàn xa lạ với chủ nghĩa giáo điều xơ cứng
Nó là học thuyết về sự phát triển nhằm định hướng cho con người vươn tới cái tự do, thoát khỏi sự thống trị của tự nhiên và thống trị của con người với con người Đó là tính nhân văn cao cả của thế giới quan duy vật biện chứng
Mặt khác, thế giới quan duy vật biện chứng không chỉ là phương thức định hướng con người trong thế giới, phương thức cải tạo hiện thực
mà còn là phương thức để con người tự ý thức hoàn thiện về bản thân mình Tự ý thức là sự đánh giá bản thân và vị trí của mình trong cuộc sống
là điều kiện quan trọng nhất để con người phải dựa vào ý thức, hành động theo định hướng chung của xã hội và những quan niệm giá trị của mình Nó
là cơ sở để điều chỉnh các hành vi tích cực của mình trong các quan hệ xã hội Chính tự ý thức là một nhân tố mà con người ngày một phát triển hoàn thiện nhân cách và đạo đức cá nhân
Như vậy, đạo đức cộng sản, đạo đức cách mạng là một bộ phận không thể thiếu của cán bộ, lãnh đạo do tự giáo dục và rèn luyện mà có Chủ tịch Hồ
Chí Minh đã từng nói: "Đạo đức cách mạng không phải từ trên trời sa xuống
Nó do đấu tranh, rèn luyện bền bỉ hàng ngày mà phát triển và củng cố Cũng như ngọc càng mài càng sáng, càng luyện càng trong" [34, tr 327]
Trang 25Từ đó, Người chỉ ra đạo đức cơ bản của người cán bộ đó là: Cần, kiệm, liêm chính, chí công vô tư.
Trong giai đoạn hiện nay, vấn đề đạo đức phải đặc biệt quan tâm, nhất là đối với cán bộ, đảng viên Chúng ta vui mừng trước những thành tựu đạt được trong công cuộc đổi mới, tuy nhiên nền kinh tế thị trường, giao lưu mở cửa với bên ngoài thì mặt trái của nó đang đặt ra những vấn đề đạo đức bức xúc, cần giải quyết Nền văn minh hiện cũng cần đạo đức tương ứng Đạo đức ấy không tìm ở đâu khác, mà nền tảng của nó chính là
là học tập thế giới quan duy vật biện chứng và tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh, đẩy lùi chủ nghĩa cá nhân, bệnh kiêu ngạo, quan liêu, óc địa phương hẹp hòi, tham ô lãng phí, hiếu danh, chạy theo đồng tiền, bất chấp nhân phẩm con người phải có trách nhiệm với nhân dân, với Tổ quốc, có như vậy mới được dân tin và lôi kéo họ vào sự nghiệp cách mạng
Yêu cầu của thời kỳ mới ở nước ta đòi hỏi người cán bộ phải có phẩm chất đạo đức và trình độ năng lực tương ứng Việc giáo dục, bồi dưỡng thế giới quan duy vật biện chứng sẽ giúp cho người cán bộ tin tưởng vào sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội, tin vào sự nghiệp lãnh đạo của Đảng, của giai cấp công nhân và sức mạnh của toàn dân, giúp họ nâng cao năng lực nhận thức, hoạt động thực tiễn, đồng thời cũng hình thành ở họ những phẩm chất đạo đức mới, nhằm thực hiện thắng lợi giai đoạn cách mạng mới đặt ra Muốn vậy, người cán bộ lãnh đạo, quản lý phải học tập, nghiên cứu nguyên tắc, phương pháp luận khoa học của thế giới quan duy vật biện chứng, đồng thời Đảng phải tăng cường công tác đào tạo bồi dưỡng cán bộ
1.2 ĐẶC ĐIỂM CỦA THẾ GIỚI QUAN CỦA ĐỘI NGŨ CÁN BỘ TỈNH
HÀ NAM
Trang 261.2.1 Những nhân tố ảnh hưởng đến thế giới quan của đội ngũ cán bộ ở Hà Nam
1.2.1.1 Ảnh hưởng của điều kiện địa lý, tự nhiên
Tự nhiên theo nghĩa rộng là toàn bộ thế giới vật chất khách quan Xét về mặt tiến hóa, con người có nguồn gốc tự nhiên, là sản phẩm và là sản phẩm cao nhất của quá trình tiến hóa của thế giới vật chất Chính môi trường tự nhiên là tiền đề cho sự tồn tại và phát triển của con người C.Mác
khẳng định: "Giới tự nhiên là thân thể vô cơ của con người", "đời sống thể xác và tinh thần của con người gắn liền với giới tự nhiên" [31, tr 135], hay
nói cụ thể hơn, môi trường tự nhiên, điều kiện địa lý có tác động mạnh mẽ đến đời sống vật chất và đời sống tinh thần của con người, tác động đến cách nhìn nhận thế giới và phương pháp tư duy của con người
Hà Nam là một tỉnh nằm ở phía tây nam đồng bằng Bắc Bộ, vào khoảng 20,41 độ vĩ Bắc, 105,31 độ Kinh Đông, phía bắc giáp Hà Tây, phía nam giáp Nam Định, phía đông qua sông Hồng là Hưng Yên và Thái Bình, phía tây nam là Ninh Bình, phía Tây giáp với Hòa Bình, với diện tích tự nhiên là 840 km2 bao gồm 5 huyện (Kim Bảng, Thanh Liêm, Bình Lục, Lý Nhân, Duy Tiên) và thị xã Phủ Lý
Địa hình của tỉnh chia làm hai khu vực rõ rệt: Khu vực miền núi và khu vực đồng bằng Vùng núi tỉnh Hà Nam được hình thành vào Nguyên đại Trung sinh, cuối kỷ Trias cách ngày nay khoảng 200 triệu năm Theo tài liệu địa chất, do có sự tạo sơn ở hai rìa sông Nhị làm đứt gãy sông Hồng và sự sụt lún ở phần giữa bán bình Nguyên Trung sinh mà phần còn lại được hình thành những núi đồi sa phiến thạch hay đá hỗn hợp như núi Đọi, núi Điệp,
kẻ Non và dải đất đồi Thanh Liêm cho tới tận núi An Lão (Bình Lục) Ảnh hưởng của những đợt tạo sơn đã nâng ghềnh phía hạ lưu sông Hồng lên biển
Trang 27Ngày nay, khu vực miền núi Hà Nam bao gồm một phần đất của Kim Bảng và Thanh Liêm nằm bên hữu ngạn sông Đáy, nối liền với khu vực rừng núi Hòa Bình Đây là vùng tài nguyên khoáng sản đa dạng, phong phú với các dãy núi đá vôi có trữ lượng hàng tỷ mét khối Trong các dãy núi này có nhiều loại đá quý hiếm đá trắng, đá đen, đá bích đào, đá vân vàng, đá màu da báo ở huyện Kim Bảng, ngoài các loại đá quý, Hà Nam còn có than bùn, đất sét trắng ở Thanh Liêm và Kim Bảng.
Bên phía tả ngạn sông Đáy đến giáp sông Hồng là vùng đồng bằng, trong đó 2/3 diện tích là đồng chiêm trũng, có nơi chỉ cao 0,3 m so với mặt nước biển
Do điều kiện tự nhiên được chia làm hai vùng rõ rệt như vậy, làm cho lối sống và tư duy của người dân có sự khác biệt, không tương đồng Sống giữa núi non hùng vĩ bao la, với phương thức sản xuất lạc hậu, thiếu áp dụng của khoa học kỹ thuật làm cho lối sống của người dân ở vùng núi giản đơn, mộc mạc, phóng khoáng cùng với lối suy nghĩ thần bí, duy tâm, thiếu
cơ sở khoa học Còn đối với người dân sống ở đồng chiêm trũng với phương thức sản xuất nhỏ manh mún, cuộc sống bon chen đã tạo ra ở họ lối sống vị kỷ, cục bộ địa phương gắn với tư duy bảo thủ, trì trệ, tư tuy kinh nghiệm phát triển tất cả những điều đó đã tác động không nhỏ đến việc hình thành, phát triển của thế giới quan của người dân Hà Nam từ ngày xưa cho đến ngày nay
1.2.1.2 Ảnh hưởng của điều kiện kinh tế - xã hội
Theo quan điểm triết học Mác - Lênin, điều kiện địa lý và môi trường
tự nhiên mới chỉ là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến đời sống con người, còn yếu tố cơ bản quyết định là phương thức sản xuất, hoạt động kinh tế của con người Do vậy, việc nghiên cứu sự phát triển kinh tế mà trước hết là trình
độ của lực lượng sản xuất, trình độ phân công lao động sẽ cho ta chìa khóa
Trang 28để hiểu được ý thức xã hội nói chung và thế giới quan ở người cán bộ Hà Nam nói riêng.
Có thể nói, hàng trăm năm trước đây người dân Hà Nam chủ yếu làm nông nghiệp, mặc dù có kết hợp đáng kể nghề thủ công và buôn bán nhỏ trong vùng Đất nông nghiệp được gọi là đồng chiêm trũng ấy chiếm khoảng 2/3% diện tích tự nhiên của tỉnh Đồng ruộng ở Hà Nam nằm sâu trong đất bùn, do các đồi núi và hệ thống đê đập che chở nước phù sa ít nên những vùng đất này bị úng triền miên, màu đất thường đen hoặc nâu nhạt, độ phì nhiêu kém, độ PH cao không thuận lợi cho phát triển sản xuất nông nghiệp
Vì vậy, vùng đất này được mệnh danh là "Sống ngâm da, chết ngâm xương" Ở mấy đình chùa ở Hà Nam người ta đã bắt gặp mấy câu thơ nói về vị trí quan trọng của nghề nông: "Dĩ nông vi bản" (nông nghiệp là
cái gốc bền vững của mỗi quốc gia và mọi nhà)
"Khai hoang địa huấn nông trang, thiên niên sinh nghiệp dưỡng tế ngư, giáo chức bạch, vạn thế điền gia" (mở đất hoang, dạy dân cày, ngàn
năm lấy đó làm nghề sinh sống Nuôi cá nhỏ, khuyên dệt vải, muôn đời cứ thể cảnh nhà nông)
Chính vì cái nền sản xuất nông nghiệp nhỏ như vậy, với lối làm ăn riêng lẻ, kỹ thuật thô sơ kéo dài hàng nghìn năm đã ảnh hưởng sâu sắc đến nếp nghĩ, tình cảm, phong tục tập quán và cách làm ăn sinh sống của người dân Hà Nam Nền sản xuất nhỏ ấy làm nền tảng cho sự duy trì lớn tư duy huyền thoại, lẻ tẻ manh mún,thiếu tri thức khoa học mà chủ yếu xuất phát
từ tri thức kinh nghiệm rời rạc Trong cuộc sống khổ cực nhân dân phải bám những ảo tưởng để an ủi, sự nghèo khổ đã biến những cái hiện thực thành những chuyện hoang đường, biến cái tự nhiên thành cái siêu tự nhiên Bởi vậy, trước cách mạng mê tín dị đoan, sự thờ cúng, tôn giáo tín ngưỡng tồn tại và phát triển trong người dân là điều không tránh khỏi
Trang 29Điều kiện kinh tế - xã hội cũ đã đẻ ra những tư tưởng bảo thủ, tính
tư hữu nhỏ hạn chế tính tích cực sáng tạo, lối sống tự ti, lối sống "đèn nhà
ai nhà ấy rạng", "Ăn cây nào rào cây ấy" Các Mác viết:
Phương thức sản xuất của người tiểu nông không làm cho
họ liên hệ với nhau mà lại làm cho họ cô lập với nhau ( !) Trường hoạt động sản xuất của họ, một miếng đất nhỏ bé không cho phép áp dụng một sự phân công lao động nào cũ, một sự áp dụng khoa học nào cả Do đó, cũng không cho phép một sự phát triển nhiều màu, nhiều vẻ nào cả, một sự phân biệt tài năng nào
cả, cũng không cho phép có một sự phong phú nào về các quan
hệ xã hội [30, tr 375]
Như vậy, nghề nông nghiệp là hoạt động kinh tế chủ yếu của người dân Hà Nam, với cơ sở kỹ thuật thủ công lạc hậu, phân công lao động có tính chất tự nhiên, truyền thống, gieo trồng thời vụ đã làm cho họ luôn phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên, thiếu tính chủ động và khi sản xuất không được rộng, phát triển thì cũng không có nhu cầu khách quan cho tư duy khoa học nảy nở Khoa học tự nhiên, kỹ thuật, khoa học thực nghiệm hầu như không được nghiên cứu, không được giảng dạy Do đó, nghề nông nghiệp lạc hậu ấy không thúc đẩy việc hình thành phát triển tư duy trừu tượng, tư duy lôgíc mà chủ yếu là tư duy cảm tính, tri thức kinh nghiệm Ở họ chỉ thấy hiện tượng mà không thấy bản chất, chỉ thấy lợi trước mắt mà không thấy lợi ích lâu dài Họ hoài nghi cái lạ, dè dặt với cái mới, trong phương pháp suy nghĩ của họ nặng về tình cảm, nhẹ về lý trí Từ đó, họ dễ mắc bệnh chủ nghĩa kinh nghiệm, bệnh chủ quan duy ý chí, dễ rơi vào ảo tưởng
Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 đến đầu những năm 80, kinh
tế Hà Nam đã có thay đổi nhưng về cơ bản vẫn mang nặng tính chất của một nền sản xuất nhỏ, kinh tế tự nhiên Do lực lượng sản xuất rất thấp kém,
sự phân công lao động chưa đáng kể, nền kinh tế hàng hóa chưa phát triển,
Trang 30chủ yếu là tự cung cấp Trong những năm 50 và đầu những năm 60 của thế
kỷ XX, tư bản nước ngoài và trong nước có lác đác tiến hành đầu tư một số
cơ sở sản xuất kinh doanh nhưng quy mô và tốc độ chưa phát triển đáng kể Đến khi Hà Nam và Nam Định được sát nhập thành tỉnh Nam Hà (năm 1965) thì từ đó trở đi nhiều cơ sở sản xuất kinh doanh, đặc biệt là công nghiệp vật liệu xây dựng như một số nhà máy xi măng, nhà máy đá thuộc nhà nước và tư nhân đã phát triển khá mạnh Những cơ sở này tập trung chủ yếu ở các vùng có điều kiện khai thác và thuận lợi về giao thông Chính sự đầu tư phát triển kinh tế vào các vùng này đã kéo theo quá trình
đô thị hóa, di cư tập trong ở đây đã ngày một đông đủ, buôn bán đã ngày một phát triển, hình thành lên các thị trấn, thị tứ Quá trình này đã tạo nên
sự cách biệt tương đối rõ rệt về đời sống vật chất, tinh thần giữa thành thị
và nông thôn - ở những nơi vùng sâu, vùng đồng chiêm trũng, làm cho ý thức xã hội nói chung và thế giới nói riêng tương đối khác nhau
Thực hiện công cuộc đổi mới của đất nước (1986) đến nay, nhân dân tỉnh Hà Nam đã nỗ lực phấn đấu, tổ chức lại phương thức sản xuất, xây dựng cơ sở vật chất, kỹ thuật, từng bước cải thiện đời sống vật chất, văn hóa của nhân dân Trên cơ sở những lợi thế vốn có, Hà Nam đã xác định cơ cấu kinh tế là: Công - nông nghiệp và dịch vụ, tốc độ tăng trưởng kinh tế (GDP) năm 2003 là 8,9%, GDP bình quân đầu người đạt 3.800.000đ, không còn hộ đói, tỷ lệ hộ nghèo giảm còn 12% Các nhà máy xi măng như: Bút Sơn, Nội Thương, X77 đã giải quyết hàng ngàn lao động có việc làm, thúc đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội Các khu công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp trên địa bàn các huyện cũng đang hình thành phát triển, khu du lịch sinh thái Ba Sao đang xây dựng…
Với việc phát triển quy mô các khu công nghiệp, dịch vụ đã dẫn đến
sự đa dạng hóa trong phân công lao động, một bộ phận dân cư trực tiếp làm việc trong các nhà máy, xí nghiệp và sinh sống ở đây có điều kiện tiếp thu
Trang 31trí tuệ, khoa học công nghệ hiện đại, nâng cao trình độ nhận thức, năng lực
tư duy lý luận - nhân tố có ý nghĩa quan trọng đối với sự phát triển thế giới quan duy vật biện chứng Mặt khác, chính sự phát triển kinh tế đòi hỏi người cán bộ phải nâng cao hơn nữa trình độ văn hóa, kiến thức về khoa học công nghệ hiện đại, về quản lý kinh tế, xã hội đáp ứng yêu cầu nhiệm
vụ công tác của mình trong thời kỳ mới
Về mặt xã hội, ở Hà Nam vào khoảng cuối thiên niên kỷ thứ nhất
trước công nguyên, khi lực lượng sản xuất đã phát triển, từng bộ phận dân
cư Việt cổ, chủ nhân của nền văn hóa Đông Sơn đã rời hang động qua thượng lưu các con sông lớn xuôi dần về phía hạ lưu, cư trú trên các đồi đất cao ven sông Hồng, sông Đáy thuộc các huyện Thanh Liêm, Kim Bảng, Duy Tiên và một phần của huyện Bình Lục
Trải qua quá trình phát triển lâu dài, tổ chức làng xã cổ ở Hà Nam
tụ cư theo huyết thống hoặc tụ cư theo ngành nghề Theo thống kê, trước cách mạng tháng 8/1945, dân số Hà Nam có khoảng 410.000 người Tính đến ngày 1/4/2002 toàn tỉnh có 801.328 người, bình quân đầu người 955 người/km2, dân số nông thôn chiếm 91,5%, ở thành thị là 8,5%
Mặc dù địa hình Hà Nam được phân chia thành hai vùng: đồng bằng và miền núi rõ rệt, nhưng khoảng cách giàu nghèo giữa hai vùng không lớn lắm đều có cùng một dân tộc kinh, không có tính chất xen cư các dân tộc Chính vì vậy tạo ra sự tương đồng các yếu tố về lối sống, tập quán, tính chất kinh nghiệm sản xuất, về văn hóa, tâm lý truyền thống giữa các vùng, miền Đây là điều kiện thuận lợi trong công tác lãnh đạo, quản lý của người cán bộ Hà Nam khi phải giải quyết những sự việc liên quan đến vấn
đề dân tộc; và chính sự tương đồng giữa các vùng miền đó cũng đã tạo cơ hội tốt cho việc truyền bá và tiếp thu thế giới quan của người dân Hà Nam nói chung và người cán bộ nói riêng
Trang 32Như vậy, sự phát triển kinh tế - xã hội ở Hà Nam đã từng bước xóa
bỏ nền kinh tế tự nhiên, nâng cao đời sống vật chất cho người dân, từng bước xóa bỏ những quan niệm, lối sống duy tâm, lạc hậu, xác lập quan niệm duy vật khoa học, củng cố và nâng cao niềm tin của người dân đối với Đảng Bên cạnh đó những yếu tố tiêu cực của cơ chế thị trường như lối sống chạy theo đồng tiền, thực dụng, không thiết tha, quan tâm đến chính trị, tư tưởng
đã đang tác động đáng kể đến công tác bồi dưỡng cũng như việc tiếp thu thế giới quan duy vật biện chứng đối với người dân và đội ngũ cán bộ ở Hà Nam
1.2.1.3 Ảnh hưởng của văn hóa, giáo dục - đào tạo, khoa học -
kỹ thuật và công nghệ
Cùng với điều kiện tự nhiên, điều kiện kinh tế - xã hội thì văn hóa, giáo dục - đào tạo, khoa học - kỹ thuật có ảnh hưởng không nhỏ đến sự tiếp thu, phát triển thế giới quan duy vật biện chứng
Từ xa xưa Hà Nam đã là nơi cư trú của người Việt cổ Ở vùng núi Đọi (Huyện Duy Tiên) là nơi phát hiện được nhiều sọ chủ nhân nền văn minh Đông Sơn nguyên vẹn nhất cả nước với quan tài gỗ hình thuyền cách đây hơn 2000 năm đã di đến và cư trú trên các đồi đất cao ven sông Hồng Trong các ngôi mộ cổ, các nhà khoa học đã tìm thấy nhiều công cụ sản xuất (cuốc gỗ, rìu đồng, dao gặt lúa, cày chìa vôi); các đồ binh khí (giáo đồng, khóa đồng, rìu xéo, dao găm đồng); đặc biệt là các đồ dùng sinh hoạt (chậu đồng, bát gỗ, khuyên tai bằng đá)
Trong vùng đất chiêm trũng huyện Bình Lục, người ta còn tìm thấy hiện vật cổ quý giá là trống đồng Ngọc Lũ và 20 chiếc trống đồng cổ khác
Trống đồng Ngọc Lũ đã trở thành biểu tượng của văn hiến Việt Nam (năm
1995, nhân dịp kỷ niệm 50 năm thành lập Liên hợp quốc, chủ tịch nước Lê
Trang 33Đức Anh đã trao tặng phẩm của Việt Nam (phiên bản trống đồng Ngọc Lũ) cho ngài Tổng thư ký Liên hợp quốc Butơrốt Gali tại New York - Hoa Kỳ).
Những hiện vật cổ quý đó đã chứng minh rằng có một nền văn minh Sông Hồng, văn minh lúa nước của dân Việt cổ ở Hà Nam đã phát triển tới trình độ khá cao và với một đời sống tinh thần phong phú Họ thể hiện trong tư duy và sáng tạo nghệ thuật Đặc biệt, họ đã làm chủ được nghệ thuật nhịp điệu trong trang trí, biểu hiện trong tính đối xứng chặt chẽ của các mô típ hoa văn, điều này cho thấy sự phát triển nhận thức hình học
và tư duy chính xác nhờ hoạt động sản xuất nông nghiệp và kỹ thuật chế tạo đá, đúc đồng
Lễ hội là một hình thức sinh hoạt văn hóa không thể thiếu đối với người dân Hà Nam Hàng năm, cứ mỗi độ xuân về nhân dân trong tỉnh và những người con xa quê hương tấp nập đi trẩy hội trong các đình, chùa, đền, nhà thờ họ, kính cẩn dâng hương, dâng hoa để tưởng nhớ tổ tiên mình
và những bậc công thần khai quốc, khai sáng quê hương như lễ hội truyền thống ở Lảnh Giang, ở chùa Đọi (Duy Tiên); đình Công Đồng, từ đường Nguyễn Khuyến (Bình Lục)…
Trong các lễ hội như võ vật Liễu Đôi, lễ hội đu thuyền Kim Bảng, các hình thức tôn giáo được kết hợp hài hòa với các hoạt động văn hóa dân gian như: hát Chầu văn, hát Trống quân, hát Dậm đã thể hiện một vùng văn hóa dân gian đậm đà bản sắc quê hương, tình người Trong sự gian truân
ấy người dân Hà Nam đã biết động viên nhau, khơi dậy niềm tự hào, tinh thần thượng võ quê hương để xua tan nỗi cực nhọc ở cái vùng đồng chiêm trũng nước ngập quanh năm
"Một vùng rộng xẻ làm ba Tiếng con gà gáy nghe ba huyện cùng"
Trang 34"Ngàn năm võ vật đua tài Vạn năm sông rộng, núi dài tổ tiên"
Từ khi đạo Phật du nhập vào nước ta, sự giao lưu văn hóa giữa các vùng, miền trong tỉnh càng thêm phong phú và đa dạng Đạo phật truyền bá vào Hà Nam tương đối sớm, khoảng thế kỷ XI dưới triều Lý Nhờ biết kết hợp giữa tâm linh tín ngưỡng của cộng đồng người Việt trồng lúa nước với đạo Phật, đã tạo nên bản sắc riêng của mình Ở Hà Nam có khoảng hơn 400 chùa, miếu Số lượng tăng ni phật tử không nhiều lắm nhưng người dân theo đạo Phật ở Hà Nam rất nhiều, họ đều là những người giàu lòng yêu nước, yêu quê hương
Nếu như ở tháp sùng Thiện Diên Linh (ở Duy Tiên) với ý niệm cầu thiện mong cho cuộc sống bình yên, tuổi thọ kéo dài thì ở chùa Bà Đanh (Kim Bảng) lại thờ Tứ Pháp: Pháp Vân (Phật Mây), Pháp Vũ (Phật Mưa), Pháp Lôi (Phật Sấm), Pháp Điện (Phật Chớp) Việc thờ cúng tứ pháp là biểu hiện khát vọng chế ngự và dung hòa với tự nhiên của người xưa và hy vọng vào khả năng của Phật Pháp điều hòa tuần hoàn của vũ trụ, mưa nắng thuận hòa, mùa màng bội thu Đó cũng là cách ứng xử văn hóa của những cư
dân trồng lúa nước ở vùng chiêm trũng Hà Nam trong quá trình xây dựng quê hương
Có thể nói ở Hà Nam, Phật giáo đã ảnh hưởng đáng kể đến đời sống tinh thần đối với người dân nói chung và người cán bộ nói riêng Đến ngày Phật Đản, ngày mồng 1, ngày rằm, tết người dân đều tập trung đông đúc
ở các chùa, miếu mạo để cầu khấn cho mình và gia đình những điều phước lành như ý muốn, là nơi gửi gắm niềm tin, nguyện vọng của nhân dân
Trang 35Thế giới quan của Phật giáo đã đề cập đến con người Con người là
sự thống nhất giữa "thể xác" và "linh hồn", thể xác chết đi, linh hồn sống
mãi Việc làm kiếp trước là cái nhân sinh ra cái họa hay cái phúc ở kiếp sau Vì vậy, Phật giáo khuyên con người phải tu thân tích đức Cái trục
xuyên suốt của toàn bộ quan điểm triết học phật giáo là học thuyết "sinh tử, luân hồi" của vạn vật, sự chuyển hóa lẫn nhau giữa con người và vạn vật
Phật giáo đã mang lại những yếu tố tích cực trong đời sống văn hóa của người dân Chính Phật giáo đã đem lại bản sắc văn hóa độc đáo và điều chỉnh mối quan hệ giữa người và người trên cơ sở làm điều thiện, tránh điều ác
Tuy nhiên, do bị chi phối thế giới quan duy tâm triết học phật giáo, tìm nguồn gốc của sự cùng khổ của con người ở thực thể ý thức tinh thần (lòng tham, dục vọng) Nó không tìm thấy được nguồn gốc giai cấp - xã hội của cảnh cùng khổ đó Phật giáo muốn giải phóng con người bằng con đường từ bi, bác ái, làm điều thiện chứ không bằng con đường đấu tranh giai cấp, tiến tới cách mệnh xã hội (triệt tiêu chế độ tư hữu) Vì thế nó kìm hãm sự phát triển xã hội, kìm hãm tinh thần sáng tạo, sự tìm tòi vươn tới tri thức khoa học của người dân…
Bên cạnh nhân tố văn hóa, sự phát triển giáo dục, đào tạo, khoa học
kỹ thuật và công nghệ ở Hà Nam cũng là các nhân tố ảnh hưởng trực tiếp đến sự tiếp thu thế giới quan duy vật biện chứng đối với người dân nói chung và đội ngũ cán bộ nói riêng
Kể từ khoa thi nho học đầu tiên (1075) đến khoa thi cuối cùng (1919), toàn tỉnh Hà Nam đã có 53 người đỗ ở 36 khoa thi, làm việc từ triều đình đến địa phương Người đỗ tiến sĩ trẻ tuổi nhất là Phan Tế (Duy Tiên) năm 1952 lúc 19 tuổi Lại có nhiều người trở thành học giả, nhà văn, nhà thơ nổi tiếng, trong đó: Nguyễn Khuyến - nhà thơ cổ điển có những bài thơ về mùa thu tuyệt tác, nhà thơ của một dòng họ có truyền thống học hành Nam Cao - Nhà văn liệt sĩ, người đầu tiên được giải thưởng Hồ Chí
Trang 36Minh, có cống hiến to lớn đối với sự nghiệp văn học nước nhà Hà Nam cũng rất từ hào với tiếng trống Bắc Lý - nơi nguồn cội của phong trào dạy tốt, học tốt của nền giáo dục xã hội chủ nghĩa.
Trên phạm vi toàn tỉnh hiện nay có tới 280 trường học (264 trường tiểu học và trung học cơ sở, 16 trường trung học phổ thông) với 195.070 học sinh (99.980 học sinh tiểu học, 76.418 học sinh trung học cơ sở, 18.672 học sinh phổ thông trung học) Tỉnh có 3 trường cao đẳng, 3 trường trung cấp và các trung tâm giáo dục - đào tạo khác như: ngoại ngữ, điện tử, tin học
Những thành tựu trong giáo dục - đào tạo đang tạo ra thuận lợi cho phát triển kinh tế, xã hội, tạo điều kiện trực tiếp cho việc nâng cao đời sống tinh thần cho người dân Hà Nam nói chung và đội ngũ cán bộ nói riêng Trong đời sống xã hội, những quan niệm tâm linh, mê tín tập quán lạc hậu đang từng bước đẩy lùi, những nhân tố duy vật đang được khẳng định, đặc biệt sự phát triển của kinh tế và giáo dục - đào tạo cũng đang dần phá vỡ lối tư duy trực quan, cảm tính, bệnh kinh nghiệm chủ nghĩa và ngày một nâng cao tư duy lý luận - một nhân tố quan trọng của thế giới quan duy vật biện chứng của người cán bộ Hà Nam
1.2.1.4 Ảnh hưởng của yếu tố tâm lý, truyền thống
Truyền thống, theo quan niệm của người dân Hà Nam là các nhân
tố xã hội đặc biệt có sức mạnh của tập quán được hình thành và truyền từ đời này sang đời khác, từ thế hệ này sang thế hệ khác cho đến ngày hôm nay Yếu tố truyền thống có thể thúc đẩy hoặc kìm hãm sự phát triển của xã hội nói chung và tư duy nói riêng Tâm lý là sự phản ánh thực tại khách quan vào đầu óc người ta qua nhiều hình thức: cảm giác, tri giác, hình ảnh, khái niệm, tình cảm, ý chí, ý thức mà quá trình và kết quả trong hoạt động
và cử chỉ của con người nhằm biểu lộ nhu cầu, thị hiếu, tính khí, tính cách, khả năng và xu hướng Tâm lý của người Hà Nam không tách rời truyền thống của họ, nó in đậm trong các phong tục tập quán, lễ hội, trong sinh
Trang 37hoạt văn hóa dân gian, tín ngưỡng, tôn giáo và các yếu tố tâm lý ấy ảnh hưởng đến sự tiếp thu thế giới quan duy vật biện chứng mà trước hết là sự hình thành nhân cách của người cán bộ ở Hà Nam.
Tâm lý, truyền thống của người dân Hà Nam cũng không nằm ngoài sự tác động, ảnh hưởng trực tiếp của tồn tại xã hội Trước hết, nền sản xuất nhỏ với chế độ công xã nông thôn tồn tại hàng ngàn năm là một nhân tố quan trọng tạo thành truyền thống tư duy và ảnh hưởng rất lớn đến phong cách, cũng như trình độ năng lực tư duy của người dân Hà Nam nói chung và người cán bộ nói riêng cho đến tận ngày nay Tính chất manh mún, tản mạn, khép kín của nền sản xuất nhỏ tiềm ẩn tạo cho việc hình thành tri thức kinh nghiệm, cho bệnh sùng bái kinh nghiệm có điều kiện tồn tại và phát triển, làm hạn chế năng lực tư duy lý luận, tri thức khoa học của ông cha ta
Với trình độ sản xuất nông nghiệp lạc hậu, phụ thuộc vào thời tiết khí hậu, khoa học kỹ thuật chưa phát triển, công cụ sản xuất thô sơ, đòi hỏi
sự vận động của đôi bàn tay, của cơ bắp hơn là sự vận động của trí óc, trí tuệ thì những kinh nghiệm được tích lũy đóng vai trò hết sức quan trọng
Từ đó làm cho người dân rơi vào bệnh kinh nghiệm coi nhẹ lý luận đã ăn sâu vào tiềm thức người dân hình thành tâm lý thụ động, ỷ lại, ngại va chạm, sợ cái mới, bằng lòng với cái hiện có đã ảnh hưởng không nhỏ cho đến ngày nay trong việc tiếp thu tri thức khoa học mới, trong đó có thế giới quan duy vật biện chứng
Mặt khác, trong quá trình đấu tranh chống thiên tai và giặc ngoại xâm, người dân Hà Nam nói riêng và dân tộc Việt Nam nói chung đã cấu kết, tổ chức ra thiết chế xã hội: Nhà - làng - nước Từ đó, đã hình thành nên giá trị văn hóa truyền thống quý báu, đó là lòng yêu nước nồng nàn, ý thức cộng đồng sâu sắc, giàu lòng nhân ái, vị tha, thương yêu đùm bọc Nhưng phải chăng cũng vì những giá trị truyền thống này mà trong thực tiễn lịch
Trang 38sử cho thấy, cả trong tư duy và hành động, ông cha ta thường nặng về tình hơn về lý khi giải quyết, xử lý công việc nào đó Điều này đã ảnh hưởng tiêu cực đến sự phát triển của tri thức lý luận (một bộ phận của thế giới quan khoa học).
Nói đến truyền thống của nhân dân Hà Nam còn phải đề cập tới lòng yêu nước nồng nàn, ý chí không có gì quý hơn độc lập tự do Để có được cuộc sống tốt đẹp như ngày nay, họ không chỉ hai sương một nắng trên đồng ruộng hay núi rừng mà hết đời này qua đời khác kế tiếp nhau cầm gươm, ôm súng để bảo vệ, xây dựng quê hương và đất nước thân yêu Trong các cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ và bảo vệ biên giới Tổ quốc, người dân Hà Nam đã mất 16.495 người con liệt sĩ ngã xuống; hơn
20 người được công nhận là anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân; 488 bà
mẹ Việt Nam anh hùng (còn sống 76 mẹ) Truyền thống quý báu đó nói lên ý thức độc lập dân tộc và lý tưởng sống vì chủ nghĩa xã hội đã được hình thành Đây là yếu tố thuận lợi cho việc tạo dựng phẩm chất chính trị
và thế giới quan của đội ngũ cán bộ ở Hà Nam
1.2.1.5 Ảnh hưởng của quá trình mở cửa hội nhập và phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đến thế giới quan của đội ngũ cán bộ quản lý, lãnh đạo ở Hà Nam
Mở cửa, chủ động hội nhập phát triển kinh tế định hướng xã hội chủ nghĩa là nhu cầu tất yếu khách quan trong giai đoạn hiện nay Riêng ở
Hà Nam, quá trình này diễn ra rất phức tạp, có cả thuận lợi và khó khăn, tác động mạnh mẽ đến đời sống xã hội, đến việc tiếp nhận và phát triển thế giới qua duy vật biện chứng
Sau hơn 30 năm sát nhập với tỉnh Hà Nam, ngày 01/01/1997 Hà Nam chính thức được tái lập và đi vào hoạt động trong điều kiện hết sức thiếu thốn và khó khăn Trên cơ sở những lợi thế vốn có, tỉnh đã xác định
cơ cấu kinh tế chủ yếu là công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ Ngoài các nhà
Trang 39máy, xí nghiệp lớn chủ yếu là khai thác vật liệu xây dựng như: xi măng, đá gạch với khoa học - kỹ thuật hiện đại Tỉnh cũng khuyến khích nhân dân phát triển mạnh kinh tế tự nhiên, phát triển kinh tế trang trại, kinh tế hộ gia đình Đặc biệt, trong lĩnh vực nông nghiệp đã tổ chức và thực hiện tốt việc dồn đổi ô thửa, giao đất sử dụng lâu dài đến người nông dân Từ đó đã kích thích tính chủ động, sáng tạo thúc đẩy sản xuất phát triển Những điểm nóng xã hội ở đây đã từng bước tháo gỡ, ổn định xã hội
Trong những năm qua, tốc độ phát triển kinh tế đạt từ 8,2 đến 8,5%, xây dựng cơ sở - vật chất kỹ thuật, mở rộng và quy hoạch lại tỉnh lỵ ngày một hiện đại, đời sống xã hội từng bước cải thiện Những thành tựu kể trên
đã tạo điều kiện thuận lợi cho việc tiếp nhận thế giới quan duy vật cho người cán bộ nói riêng và người dân nói chung
Tuy nhiên, sự phát triển kinh tế - xã hội đó so với các tỉnh trong khu vực đồng bằng châu thổ sông Hồng là quá chậm và chưa thật xứng với tiềm năng vốn có của tỉnh Bội chi ngân sách hàng năm, năm 2003 tổng thu ngân sách địa phương cả năm đạt 188 tỷ động trong khi đó tổng chi là 818 tỷ đồng Trong báo cáo của tỉnh về tình hình thực hiện nhiệm vụ năm 2003 và phương hướng phát triển kinh tế năm 2004 đã đánh giá:
Trong nông nghiệp tăng trưởng chưa vững chắc, quy hoạch vùng sản xuất hàng hóa quy mô còn nhỏ bé, thị trường nông sản hàng hóa còn khó khăn, một số mô hình điểm còn chậm được nhân rộng…, quản lý Nhà nước về đất đai, về khai thác tài nguyên còn lỏng lẻo, chậm phát hiện và xử lý vi phạm, thu hút vốn đầu tư còn nhỏ, chậm, sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp chưa tạo được khâu đột phá mới Hoạt động xuất khẩu chưa thực sự kích thích sản xuất trong tỉnh phát triển [41, tr 22]
Chính những hạn chế này đang là nỗi băn khoăn, trăn trở của nhân dân Hà Nam Nguyên nhân ở nhiều phương diện, trong đó phải nói đến vai
Trang 40trò của người cán bộ lãnh đạo, quản lý, đặc biệt là những đòi hỏi mới về mặt thế giới quan như việc tiếp cận với tri thức khoa học, công nghệ mới, kiến thức về thời kỳ quá độ, trình độ về quản lý nhà nước và sản xuất kinh doanh…
Hơn nữa, khi chúng ta mở rộng quan hệ quốc tế, phát triển nền kinh
tế hàng hóa theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là điều cần thiết làm cho nền kinh tế phát triển năng động có hiệu quả Nhưng bên cạnh
đó, kinh tế thị trường cũng khơi dậy hoặc nảy sinh những tệ nạn xã hội trầm trọng và các yếu tố tiêu cực khác Đó là chủ nghĩa cá nhân, lối sống thực dụng ích kỷ, chạy theo đồng tiền, coi thường giá trị đạo đức đang là vấn đề nhức nhối, ảnh hưởng đến thế giới quan của người cán bộ Hà Nam
1.3 MỘT SỐ BIỂU HIỆN ĐẶC THÙ THẾ GIỚI QUAN CỦA ĐỘI NGŨ CÁN BỘ LÃNH ĐẠO, QUẢN LÝ Ở HÀ NAM
Sau 32 năm hợp nhất với tỉnh Nam Định và Ninh Bình (từ năm 1965), ngày 01/01/1997 tỉnh Hà Nam được tái lập theo Nghị quyết kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa IX Hà Nam gồm có 5 huyện, 1 thị xã với tổng 116
xã, phường, thị trấn Sự thành lập bộ máy hành chính các sở, ban ngành ở cấp tỉnh cùng với sự điều tiết, bổ sung các cơ quan từ cấp huyện đến cấp xã đòi hỏi đội ngũ cán bộ ở Hà Nam đủ về số lượng và chất lượng để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong điều kiện của một tỉnh mới Đối với bộ máy hoạt động ở cấp tỉnh thì nguồn cán bộ bao gồm: 30% số cán bộ công tác ở tỉnh
Hà Nam (cũ) chuyển về hoặc cán bộ từ nơi khác chuyển đến, còn lại chủ yếu là những người được cân nhắc từ huyện lên và những sinh viên được xét tuyển Chính vì vậy mà đội ngũ cán bộ ở trong tỉnh Hà Nam nói chung
và ở các cấp tỉnh nói riêng còn rất trẻ Theo điều tra xã hội học về chất lượng cán bộ năm 2000 thì số lượng cán bộ trẻ dưới 35 tuổi làm việc trong các cơ quan ban ngành của tỉnh là 65%, ở cấp huyện là 46%, ở cấp xã là