1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

LUẬN văn THẠC sĩ THỰC HIỆN QUY CHẾ dân CHỦ TRÊN địa bàn THÀNH PHỐ VINH NHỮNG vấn đề đặt RA và GIẢI PHÁP

125 389 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 125
Dung lượng 595 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Từ lâu, Đảng ta luôn coi trọng phát huy quyền làm chủ của nhân dân, dựa vào dân, nên đã đưa cách mạng nước ta vượt qua mọi gian nan thử thách, đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Trong công cuộc đổi mới toàn diện đất nước theo định hướng XHCN, dân chủ hóa đời sống xã hội đã được Đảng Cộng sản Việt Nam xác định là một trong những nội dung cốt lõi, trọng tâm. Đặc biệt là dân chủ hóa đời sống xã hội từ cơ sở.

Trang 1

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Dân chủ không chỉ là bản chất của chế độ xã hội chủ nghĩa mà còn

là động lực, là mục tiêu của sự nghiệp cách mạng mà Đảng và nhân dân taxây dựng

Từ lâu, Đảng ta luôn coi trọng phát huy quyền làm chủ của nhândân, dựa vào dân, nên đã đưa cách mạng nước ta vượt qua mọi gian nan thửthách, đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác Trong công cuộc đổi mới toàndiện đất nước theo định hướng XHCN, dân chủ hóa đời sống xã hội đãđược Đảng Cộng sản Việt Nam xác định là một trong những nội dung cốtlõi, trọng tâm Đặc biệt là dân chủ hóa đời sống xã hội từ cơ sở

Chính vì vậy mà ngày 18/2/1998, Bộ Chính trị đã ra chỉ thị 30CT/TW về xây dựng và thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở Tiếp đó, ngày15/5/1998, để cụ thể hóa Chỉ thị này, Thủ tướng Chính phủ ra Nghị định 29NĐ/CP về ban hành "Quy chế thực hiện dân chủ ở xã" nhằm phát huy sứcsáng tạo của nhân dân trong phát triển kinh tế, ổn định chính trị, xã hội,tăng cường đoàn kết toàn dân, cải thiện dân sinh, nâng cao dân trí, xâydựng Đảng, chính quyền, đoàn thể vững mạnh, góp phần thực hiện mụctiêu "dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh" Qua 3năm triển khai thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở; mặc dầu thời gian cònngắn, song thực tế đã cho thấy những kết quả bước đầu là rất quan trọng.Tuy vậy, vẫn còn bộc lộ những thiếu sót, yếu kém như: quyền làm chủ củanhân dân còn bị vi phạm ở nhiều nơi, trên nhiều lĩnh vực Tệ quan liêu, cửaquyền, mệnh lệnh, tham nhũng, sách nhiễu, gây phiền hà cho dân vẫn cònkhá phổ biến và nghiêm trọng mà chưa đẩy lùi, chưa ngăn chặn được

Trang 2

Phương châm "dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra" chậm đi vào cuộcsống.

Do vậy báo cáo chính trị của Ban chấp hành Trung ương khóa VIIItại đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng tiếp tục nêu rõ: "Thựchiện tốt quy chế dân chủ ở cơ sở, tạo điều kiện để nhân dân tham gia quản

lý xã hội, thảo luận và quyết định những vấn đề quan trọng Khắc phục mọibiểu hiện dân chủ hình thức; xây dựng luật trưng cầu ý dân" [12, 134]

Để không ngừng tăng cường hiệu quả của việc thực hiện quy chếdân chủ ở cơ sở và góp phần xem xét, đánh giá vấn đề một cách kháchquan, khoa học, việc đi sâu nghiên cứu, tổng kết, đánh giá quá trình thựchiện trên phạm vi toàn quốc hay từng địa phương cụ thể đều có ý nghĩa lýluận và thực tiễn to lớn

Với tầm quan trọng trên, chúng tôi chọn vấn đề: "Thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở trên địa bàn Thành phố Vinh - Những vấn đề đặt

ra và giải pháp" làm đề tài luận văn thạc sĩ Triết học, chuyên ngành chủ

nghĩa cộng sản khoa học, hy vọng có thể góp phần nhỏ bé, thiết thực vàomột vấn đề hết sức bức xúc hiện nay

2 Tình hình nghiên cứu của đề tài

Đây là vấn đề mới được triển khai thực hiện ở nước ta, nhưng đã cómột số công trình, bài viết liên quan

Các bài phát biểu của các vị lãnh đạo Đảng và Nhà nước đã nhấnmạnh ý nghĩa, tầm quan trọng của việc thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sởnhư: Lê Khả Phiếu (1998), "Phát huy quyền làm chủ của nhân dân, xâydựng và thực hiện thiết chế dân chủ ở cơ sở", Tạp chí Cộng sản, (3), tr 3-7

Đỗ Mười (1998), "Phát huy quyền làm chủ của nhân dân ở cơ sở", Tạp chíCộng sản (20), tr 3 - 8

Trang 3

Các bài viết của các tác giả phân tích, lý giải về yêu cầu, cách thức

tổ chức, con đường, biện pháp để thực hiện tốt quy chế dân chủ ở cơ sở,như "Thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở" của Trần Quang Nhiếp, Tạp chí

Cộng sản, 1998, số 13, tr 19-24; "Một số vấn đề về quy chế thực hiện dân chủ ở xã" của Vũ Anh Tuấn, Tạp chí Quản lý nhà nước, số 9, 1998, tr 54- 56; "Tiếp tục xây dựng và hoàn thiện thiết chế dân chủ ở nước ta" của Nguyễn Đình Tấn, Tạp chí Nghiên cứu lý luận, số 10, 1998 tr 37-39; "Cải cách thủ tục hành chính ở cấp xã nhằm đảm bảo dân chủ ở cơ sở" của Bùi

Đức Kháng, Tạp chí Thanh tra, số 3, 1998, tr 32-33

Các bài viết của các tác giả nhằm sơ kết, đánh giá bước đầu như:

"Thực hiện dân chủ ở xã - Mấy vấn đề đặt ra" của Trần Quang Nhiếp Tạp chí Cộng sản, số 10, 1999, tr 40-44; "Nhìn lại việc thực hiện thí điểm quy chế dân chủ ở cơ sở" của Đỗ Quang Tuấn (2000), Tạp chí Dân vận, số (1+2), tr 10-11, 13; "Một số vấn đề đặt ra sau hai năm thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở" của Nguyễn Tiến Dũng, Tạp chí Công tác tư tưởng văn hóa, số 6, 2000, tr 15-18; "Kết quả thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở, vấn

đề đặt ra và một số giải pháp" của Dương Xuân Ngọc, Lưu Văn Lan, Thông tin Lý luận, số 9, 2000, tr 26-30; "Thực hiện quy chế dân chủ ở cơ

sở trên địa bàn nông thôn - kết quả bước đầu và những vấn đề cần giải quyết"

của Nguyễn Quốc Phẩm, Tạp chí Lịch sử Đảng, số 10, 2000, tr 32-37

Một số bài viết góp phần làm rõ cơ sở lý luận cho việc thực hiện và

đánh giá quá trình thực hiện quy chế dân chủ cơ sở Như: "Củng cố các hình thức dân chủ vì sự vững mạnh của Nhà nước ta" của Đào Trí Úc, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 1, 1998, tr 3-4; "Dân chủ- một vấn đề thuộc bản chất của Nhà nước ta" của Đặng Xuân Kỳ, Tạp chí Quản lý nhà nước,

số 7, 1998, tr 6-9; "Cơ sở lý luận - Thực tiễn của phương châm dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra" và "Mấy vấn đề xây dựng quy chế dân chủ ở

cơ sở" của Đỗ Quang Tuấn, Tạp chí Cộng sản, số 8, 1998, tr 8-12; "Những

Trang 4

chỉ dẫn của Lênin về đấu tranh chống quan liệu và thực hành dân chủ" của

Hoàng Chí Bảo, Tạp chí Thông tin Lý luận, số 4, 1999), tr 27-30

Các công trình đã được đăng thành sách, phân tích một cách sâusắc, phong phú cả nội dung lý luận và thực tiễn qua khảo sát ở các vùng,

các địa phương như: "Quy chế thực hiện dân chủ ở cấp xã - Một số vấn đề

lý luận và thực tiễn" do Dương Xuân Ngọc chủ biên, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000; "Hệ thống chính trị cấp cơ sở và dân chủ hóa đời sống

xã hội ở nông thôn miền núi, vùng dân tộc thiểu số các tỉnh miền núi phía Bắc nước ta" do Nguyễn Quốc Phẩm chủ biên, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000; "Cộng đồng làng xã Việt Nam hiện nay" do Nguyễn Văn Sáu,

Hồ Văn Thông chủ biên, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001

Liên quan đến vấn đề này còn có luận văn thạc sĩ Triết học (chuyênngành CNCSKH) của các tác giả Nguyễn Minh Thi (Bảo vệ tại Học việnChính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, năm 2000), "Thực hiện quy chế dân chủ

ở cơ sở tại các vùng nông thôn miền núi của tỉnh Bắc Giang hiện nay", luậnvăn tốt nghiệp cử nhân Đại học chính trị của tác giả Nguyễn Đăng Tiến(Bảo vệ tại Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, năm 2000): "Thựchiện dân chủ ở xã, phương, thị trấn nước ta hiện nay - thực trạng và giảipháp"

Riêng ở Thành phố Vinh có các văn bản, chỉ thị của Thành ủy, Ủyban nhân dân thành phố Vinh về triển khai thực hiện quy chế dân chủ ở cơsở; các báo cáo đánh giá của Ban chỉ đạo thành ủy, của Ban chỉ đạo một sốphường, xã

Như vậy, thời gian qua đã có một số sách, báo, bài viết của các tácgiả đề cập đến vấn đề thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở Tuy nhiên, vềviệc thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở trên địa bàn Thành phố Vinh, chođến nay chưa có công trình khoa học nào đề cập tới Những tài liệu vừa nêu

Trang 5

trên sẽ giúp ích cho việc tham khảo, đối chứng trong nghiên cứu đề tài củatác giả luận văn.

3 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn

- Mục đích:

Từ việc đánh giá quá trình thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở trênđịa bàn Thành phố Vinh, chỉ ra những vấn đề cần giải quyết để từ đó đề ramột số giải pháp nhằm thực hiện tốt Quy chế dân chủ ở cơ sở trong sựnghiệp đổi mới trên địa bàn đã nêu

- Nhiệm vụ:

Để thực hiện mục đích đó, luận văn có nhiệm vụ:

+ Phân tích, làm rõ ý nghĩa của việc thực hiện quy chế dân chủ ở cơ

sở là mục tiêu, động lực của quá trình dân chủ hóa đời sống xã hội, đẩynhanh quá trình xây dựng thành phố giàu, mạnh

+ Phân tích, đánh giá thực trạng quá trình thực hiện quy chế dânchủ ở cơ sở trên địa bàn thành phố Vinh

+ Vạch ra những nguyên nhân làm hạn chế quá trình thực hiện Quychế dân chủ ở cơ sở trên địa bàn Thành phố Vinh

+ Đề xuất những phương hướng, giải pháp chủ yếu nhằm đẩy mạnhviệc thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở trên địa bàn Thành phố Vinh hiện nay

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu của luận văn là việc thực hiện quy chế dânchủ ở cơ sở trên địa bàn Thành phố Vinh

- Phạm vi nghiên cứu

Với điều kiện cho phép, đề tài chỉ nghiên cứu việc thực hiện quychế dân chủ ở cơ sở xã, phường thuộc Thành phố Vinh trong 3 năm qua

Trang 6

5 Cơ sở lý luận, thực tiễn và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý luận

- Luận văn được thực hiện dựa trên cơ sở lý luận về dân chủ củachủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, các văn kiện của Đảng vàNhà nước có liên quan đến đề tài, nhất là Chỉ thị 30CT/TW của Bộ Chínhtrị và Nghị định 29 của Chính phủ Đồng thời, người viết cũng kế thừa cóchọn lọc các công trình và các bài viết của các tác giả khác đã được côngbố

Cơ sở thực tiễn:

Người viết đã tiến hành điều tra, nghiên cứu thực tiễn một sốphường, xã thuộc Thành phố Vinh trong quá trình thực hiện quy chế dânchủ 3 năm qua đối chiếu so sánh với thực tiễn vấn đề chung trong phạm vi

cả nước

Phương pháp nghiên cứu

Vận dụng tổng hợp các phương pháp lôgích và lịch sử, so sánh vàtổng hợp, đồng thời có sử dụng phương pháp điều tra xã hội học để tiếnhành thực hiện luận văn

6 Những đóng góp mới của luận văn

- Qua việc điều tra, nghiên cứu, phân tích quá trình thực hiện quychế dân chủ ở cơ sở trên địa bàn Thành phố Vinh, luận văn khái quát một

số kết quả bước đầu, chỉ ra những hạn chế và nguyên nhân của nó; đồngthời đề xuất những phương hướng, giải pháp cụ thể nhằm tăng cường thựchiện quy chế dân chủ phù hợp với điều kiện của địa bàn, phục vụ cho sựnghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa

- Luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứugiảng dạy chuyên đề, đồng thời cũng là tài liệu tham khảo cho các cơ quan

Trang 7

chức năng trong việc phát huy quyền làm chủ của nhân dân, xây dựng hệthống chính trị cơ sở vững mạnh trên địa bàn một thành phố của miền Trung.

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục, tài liệu tham khảo, luận văngồm 3 chương, 7 tiết

Trang 8

1.1.1 Dân chủ - một vấn đề thuộc bản chất của chế độ XHCN

1.1.1.1 Một số quan điểm cơ bản về dân chủ

Xung quanh quan niệm về dân chủ, cho đến nay đã có nhiều côngtrình khoa học nghiên cứu, luận bàn Ở đây chúng tôi chỉ kế thừa và nêu lênmột số quan điểm có tính chất khái quát

Dân chủ là một khái niệm đa nghĩa, phức tạp, thuộc phạm trù chínhtrị có nguồn gốc từ xã hội Hy Lạp cổ đại Ở đây, "dân chủ" là một từ ghépbao gồm hai chữ: Dêmos, có nghĩa là người bình dân, là dân chúng (khôngphải là quý tộc, cũng không phải là nô lệ), và Kratia - có nguồn gốc từ chữKratos - có nghĩa là quyền lực cai trị, sức mạnh Do vậy, từ nguyên DêmosKratia có nghĩa là dân chủ, quyền lực, là sự thống trị, nền cai trị của ngườibình dân Nó được biểu hiện theo nghĩa đối lập với chế độ độc tài Theo đó,dân chủ có nghĩa là quyền lực của nhân dân; dân chủ là sự cai trị của nhândân Nhân dân là chủ thể của quyền lực, sử dụng quyền lực, trong đó quyềnlực chính trị là quan trọng nhất để tổ chức, quản lý xã hội, thực hiện sựnghiệp giải phóng xã hội, giải phóng con người

Từ khi xuất hiện cho đến nay nội dung của khái niệm dân chủ đượcchuyển hóa ra nhiều ngôn ngữ trên thế giới "Dân chủ" có nghĩa chung làquyền lực của người bình dân, quyền làm chủ xã hội, và làm chủ bản thâncon người, là quyền làm chủ của nhân dân trong xã hội Càng ngày, kháiniệm dân chủ càng được mở rộng nhiều hơn, mang nhiều nội dung mới mẻ

Trang 9

hơn, nó được gắn với ý thức chính trị, gắn với chính quyền của nhân dân,gắn với tiến trình lịch sử của xã hội loài người Đồng thời nó còn là giá trị

xã hội nhân văn, đánh dấu những nấc thang tiến bộ của xã hội loài người.Trong xã hội cộng sản nguyên thủy, ở buổi bình minh của lịch sử nhân loại,trước sức mạnh huyền bí của thiên nhiên hoang sơ, để tồn tại và phát triển,con người buộc phải gắn bó với nhau thành cộng đồng để tạo nên sức mạnhcộng đồng Và con người, ngay từ buổi đầu ấy đã sử dụng sức mạnh cộngđồng để thực hiện quyền sống, quyền tự do, quyền mưu cầu hạnh phúc.Nhà nhân chủng học người Mỹ đầu thế kỷ XIX L.Moóc gan đã nhận xét:

"Toàn thể các thành viên của Thị tộc đều là những người tự do, có nghĩa vụbảo vệ tự do của nhau; họ đều có những quyền cá nhân ngang nhau - Cả tùtrưởng lẫn Thủ lĩnh quân sự đều không đòi hỏi những quyền ưu tiên nào cả,

họ kết thành một tập thể thân ái, gắn bó với nhau bởi những quan hệ dòngmáu Tự do, bình đẳng, bác ái tuy chưa bao giờ được nêu thành công thức,nhưng vẫn là những nguyên tắc cơ bản của Thị tộc" [28, 136]

Do kết quả của quá trình phát triển lực lượng sản xuất và phân cônglao động, xã hội cộng sản nguyên thủy tan rã, chế độ chiếm hữu tư nhân đốivới tư liệu sản xuất ra đời; cùng với nó là sự xuất hiện giai cấp và một bộmáy quyền lực đặc biệt thuộc về một số người ra đời - đó là nhà nước

Ngay từ khi mới ra đời, Nhà nước đã thừa nhận tham vọng đặcquyền đứng trên xã hội để giải quyết những vấn đề xã hội Giai cấp chủ nônhân danh xã hội, chiếm đoạt nhà nước, biến nhà nước thành công cụ thựchiện quyền lực chính trị của mình Nhà nước chủ nô chính là hình thức,hình thái đầu tiên của chế độ dân chủ trong xã hội có giai cấp Dân chủ chủ

nô đã đem lại cho loài người một mô hình về mặt tổ chức và cơ chế vậnhành của một thể chế dân chủ

Theo quy luật phát triển của xã hội loài người, chế độ dân chủ sauphải cao hơn chế độ dân chủ trước; kiểu nhà nước sau phải tiến bộ hơn kiểu

Trang 10

nhà nước trước Song, trái lại, kiểu nhà nước phong kiến lại độc đoánchuyên quyền, kết hợp với thế lực của thần quyền hà hiếp nhân dân nênnhân dân hầu như bị gạt khỏi cơ chế của quyền lực, bị mất hết quyền lực.C.Mác đã viết: nguyên tắc duy nhất của chế độ chuyên chế là con người bịmất hết nhân tính.

Thiết lập nền dân chủ tư sản, dưới ngọn cờ dân chủ, giai cấp tư sảnđang lên đã nhanh chóng nắm lấy để lật đổ chế độ chuyên chế phong kiến

và tuyên bố về các quyền tự do, bình đẳng, bác ái, về quyền tự do cá nhâncủa con người, về các quyền tự quyết của các dân tộc Song thực tế trong

xã hội tử bản, "chủ nghĩa tự do" cho toàn xã hội đã bị thay thế bằng chủnghĩa mất tự do cho giai cấp bị trị Do vậy, sự tha hóa quyền lực của nhândân là tất yếu phổ biến ở các nước tư bản chủ nghĩa Đúng như nhận xétcủa C.Mác: Chế độ bầu cử tự do trong chủ nghĩa tư bản biến thành "tự do"của nhân dân lựa chọn những người thống trị mình Tuyệt nhiên khôngphải là sự lựa chọn những người đại diện cho lợi ích của bản thân mình.Lênin trong tác phẩm "Nhà nước và Cách mạng" đã nói: "Chế độ đại nghị

Tư sản là chế độ kết hợp chế độ dân chủ (không phải cho nhân dân) với chế

độ quan liêu (chống nhân dân)" [37, 135] Như vậy, theo Lênin, hình tháichính trị của nhà nước tư sản chính là chế độ dân chủ tư sản đầy giả dối vàcạm bẫy Dù là hình thức "thiếu thành thực" và "gian dối", nhưng so vớilịch sử nhân loại, dân chủ tư sản cũng đã đạt được bước tiến dài trên conđường giải phóng cá nhân Nhưng nó vẫn là nền dân chủ được xây dựngtrên sự tước đoạt dân chủ, tước đoạt quyền tự do chính đáng của các giaicấp, các tầng lớp khác, nhằm bảo vệ tối đa lợi ích của giai cấp tư sản Dânchủ tư sản vì thế, không thể là mục đích cuối cùng mà loài người hướngtới

Chỉ có chế độ dân chủ vô sản, chế độ dân chủ được thiết lập trên cơ

sở của chế độ kinh tế, mà ở đó các tư liệu sản xuất chủ yếu đã thuộc vềtoàn xã hội, lực lượng sản xuất không hề tăng lên, sự đối kháng giai cấp đã bị

Trang 11

thủ tiêu thì quyền làm chủ của quần chúng nhân dân mới được thực hiện đầyđủ.

Từ sự phân tích trên, chúng ta có thể khái quát những nét cơ bản vềdân chủ như sau:

- Dân chủ là sản phẩm của xã hội loài người, gắn với giai cấp vàđấu tranh giai cấp

- Dân chủ là một hình thái nhà nước, mà ở đó thừa nhận quyềnngang nhau của dân cư trong việc xác định cơ cấu nhà nước và quản lý xã hội

- Dân chủ cũng được xem xét với tư cách là phương thức của phongtrào chính trị - xã hội của quần chúng, quyền hiện thực của nhân dân

- Dân chủ với tư cách là hệ thống quyền hành, tự do và trách nhiệmcủa công dân được quy định bởi hiến pháp và pháp luật, là hình thức nhànước, hình thức tổ chức và thực hiện quyền lực xã hội

- Dân chủ với tư cách là chế độ chính trị Song với nghĩa chungnhất, phổ biến nhất, dân chủ là quyền lực thuộc về nhân dân Do đó, thước

đo trình độ dân chủ của một chế độ nhà nước được xác định bằng mức độthực hiện nguyên tắc toàn quyền thuộc về nhân dân, nhân dân tham gia quátrình quản lý nhà nước như thế nào

Dân chủ trong xã hội có đối kháng giai cấp luôn luôn chứa đựng sựmâu thuẫn giữa bản chất giai cấp của giai cấp thống trị với tính nhân dân.Trong xã hội tư bản chủ nghĩa, yếu tố mang tính nhân dân tăng lên so vớicác xã hội trước, khiến cho mâu thuẫn giữa bản chất giai cấp của giai cấp

tư sản cầm quyền với tính nhân dân (tính vô sản) của dân chủ càng trở nêngay gắt Đó cũng là một trong những nguyên nhân dẫn tới cách mạng xãhội nhằm giải quyết mâu thuẫn trên bằng việc thiết lập một chế độ dân chủmới, dân chủ XHCN - một chế độ dân chủ khác về chất so với chế độ dânchủ tư sản Đó là "Chế độ sẽ thi hành ngay lập tức những biện pháp để chặt

Trang 12

tận gốc chế độ quan liêu và sẽ có thể thi hành những biện pháp ấy tới cùng,tới chỗ hoàn toàn phá hủy chế độ quan liêu, tới chỗ hoàn toàn xây dựngmột chế độ dân chủ cho nhân dân" [37, 135].

Là một hình thức của Nhà nước đặc thù, nhà nước nửa nhà nước,chế độ dân chủ XHCN là chế độ chính trị mà ở đó, những giá trị dân chủ,quyền lực của nhân dân được thể chế hóa thành pháp luật, thành hệ thốngchính trị (trong đó nhà nước là trụ cột) thành nguyên tắc, mục tiêu của sựphát triển Các giá trị và chuẩn mực dân chủ thâm nhập và chi phối mọihoạt động của mọi lĩnh vực trong đời sống xã hội; mọi công dân và tổ chức

xã hội đều có khả năng nhận thức và vận dụng các giá trị dân chủ, và biếnthành những quy tắc phổ biến trong hoạt động và các quan hệ xã hội Dânchủ XHCN phục vụ lợi ích của người lao động và nó dựa vào chế độ sởhữu xã hội; dân chủ XHCN phát triển ngày càng sâu sắc cùng với việc thiếtlập một nền kinh tế mới, hoàn thiện mọi mặt đời sống xã hội và cá nhân

Chế độ dân chủ XHCN là sự thay thế lịch sử đối với chế độ dân chủ

tư sản, là nấc thang mới trên chặng đường phát triển của dân chủ Chế độdân chủ XHCN, theo C.Mác "là sự tự quy định của nhân dân", chủ quyềnthuộc về nhân dân Lênin cũng viết: "Đồng thời với việc mở rộng rất nhiềuchế độ dân chủ - lần đầu tiên biến thành chế độ dân chủ cho người nghèo, chế

độ dân chủ cho nhân dân dân chủ cho tuyệt đại đa số nhân dân" [37, 107]

Lênin cũng cho rằng, dân chủ XHCN là nền dân chủ gấp triệu lầndân chủ tư sản, là dân chủ cho nhân dân lao động; dân chủ thực sự, theonghĩa thống nhất giữa các quyền và nghĩa vụ công dân được ghi trong hiếnpháp, pháp luật với sự thực hiện trong thực tế Nhà nước có trách nhiệm tạo

ra những điều kiện vật chất và tinh thần để công dân có thể thực hiện đượcdân chủ như luật định Dân chủ XHCN là nền dân chủ toàn diện trên cáclĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, tư tưởng Thực chất của dân chủ XHCN

Trang 13

là sự tham gia một cách tích cực, thực sự bình đẳng và ngày càng rộng rãicủa những người lao động vào quản lý công việc của Nhà nước và xã hội.

Là thành quả của quá trình hoạt động tự giác của quần chúng nhândân, dân chủ XHCN với tư cách là quyền lực của nhân dân; đồng thời với

tư cách là chế độ chính trị sẽ từng bước hoàn thiện và phát huy vai trò,động lực to lớn trong tiến trình cách mạng, dưới sự lãnh đạo duy nhất củaĐảng mác xít Lêninnít Tất nhiên trình độ chín muồi của dân chủ XHCNtùy thuộc vào trình độ trưởng thành về "tính" XHCN của các mối quan hệchính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội; trong đó quan hệ kinh tế có vai trò quantrọng nhất, quyết định nhất

Dân chủ XHCN là một hình thái dân chủ do nhân dân lao động chủđộng thiết lập trong tiến trình đấu tranh cách mạng, dưới sự lãnh đạo của giaicấp công nhân, thông qua đội tiền phong chính trị của mình là Đảng cộngsản Trong tác phẩm "Tuyên ngôn của Đảng cộng sản", C.Mác vàPh.Ăngghen đã chỉ rõ: "Giai cấp vô sản mỗi nước trước hết phải tự mìnhgiành lấy chính quyền, phải tự mình vươn lên thành giai cấp dân tộc" [26,623-624], phải giành lấy dân chủ với ý nghĩa trực tiếp là giành lấy quyềnlực nhà nước (quyền lực dân chủ về chính trị) và tổ chức quyền lực đãgiành được đó thành nhà nước vô sản, nhà nước dân chủ vô sản, chế độ dânchủ vô sản, một chế độ dân chủ tiến bộ, khác về chất so với chế độ dân chủ

sự xuất hiện trong lịch sử thế giới, một chế độ dân chủ kiểu mới, tức là chế

độ dân chủ vô sản hay là chuyên chính vô sản" [38, 184]

Trang 14

Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng khẳng định: "Chế độ ta là chế độ dânchủ, tức là nhân dân làm chủ" [32, 251]

Ở nước ta, sau thắng lợi của Cách mạng tháng Tám, nhà nước ViệtNam dân chủ cộng hòa - Nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam Áđược thiết lập Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước

ta là Nhà nước của dân, do dân, vì dân, chế độ ta là chế độ do nhân dân làmchủ Mỗi công dân đều có quyền và nghĩa vụ tham gia làm chủ đất nước,làm chủ xã hội, và làm chủ bản thân mình Những luận điểm cơ bản ấy đãđược nêu rõ trong các nghị quyết của Đảng, trong các hiến pháp của Nhànước, và được thể hiện trong nhiều văn bản pháp luật, nhiều chính sáchđược ban hành từ trước đến nay Những điều đó cũng khẳng định dân chủ

là vấn đề thuộc bản chất của chế độ XHCN nói chung, của Nhà nước ta nóiriêng

1.1.1.2 Đảng Cộng sản Việt Nam với việc nhận thức về dân chủ

và dân chủ ở cơ sở

Những yếu tố dân chủ, tinh thần dân chủ, truyền thống "lấy dân làmgốc", coi trọng dân vốn đã hình thành trong lịch sử mấy ngàn năm dựngnước và giữ nước, được Đảng ta kế thừa và phát huy trong điều kiện mới.Chủ tịch Hồ Chí Minh, Người sáng lập và rèn luyện Đảng ta, đã có nhậnthức rất sớm và sâu sắc về vấn đề dân chủ và vai trò của việc phát huy

quyền làm chủ của nhân dân Theo Người, dân chủ, thứ nhất là: dân là chủ:

"Nước ta là nước dân chủ, địa vị cao nhất là dân, vì dân là chủ" [30, 515];

thứ hai, dân chủ là dân làm chủ: "nước ta là nước dân chủ, nghĩa là nước

nhà do nhân dân làm chủ" [31, 452]; dân chủ là toàn bộ quyền lực, lợi íchđều thuộc về nhân dân: "Nước ta là một nước dân chủ Mọi công việc đều

vì lợi ích của dân mà làm Khắp nơi có đoàn thể nhân dân, như Hội đồngnhân dân, Mặt trận, Công đoàn, Hội nông dân cứu quốc, Phụ nữ cứu quốc,

Trang 15

v.v Những đoàn thể ấy là tổ chức của dân, phấn đấu cho dân, bênh vựcquyền của dân, liên lạc mật thiết nhân dân với chính phủ" [30, 66].

Hồ Chí Minh cũng sớm nhận thức sâu sắc về sức mạnh của quầnchúng nhân dân; coi dân là gốc của nước, của cách mạng Người nói:

"Dân chúng đồng lòng, việc gì cũng làm được

Dân chúng không ủng hộ, việc gì làm cũng không nên" [29, 293].Bởi vậy, theo Người, dân chủ là dựa vào lực lượng quần chúng, điđúng đường lối quần chúng Dân chủ đối lập với quan liêu: "Chống tham ô,lãng phí, quan liêu là dân chủ"

Không những chỉ có quan điểm dân chủ đúng đắn, mà Người cònnhận thấy vai trò, tầm quan trọng của việc thực hành dân chủ Dân chủXHCN không có mục đích tự thân; hiểu dân chủ, thực hành dân chủ trêncác lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội là vì mục tiêu đem lại hạnhphúc ấm no, tự do, bình đẳng cho mọi người dân lao động trong đời sốngmột cách đích thực Bởi vậy, Người nói: "Thực hành dân chủ là cái chìakhóa vạn năng có thể giải quyết mọi khó khăn" [33, 249]

Trước lúc "đi xa", trong bản Di chúc, với muôn vàn tình thương yêu

để lại cho muôn đời con cháu, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã căn dặn: "ToànĐảng, toàn dân ta, đoàn kết phấn đấu, xây dựng một nước Việt Nam hòa bình,thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh, và góp phần xứng đáng vào sựnghiệp cách mạng thế giới" Như vậy, dân chủ luôn là nội dung quan trọngtrong tư tưởng Hồ Chí Minh Đây chính là cơ sở tư tưởng, lý luận giúpĐảng Cộng sản Việt Nam vận dụng trong xây dựng nền dân chủ XHCN ởnước ta

Hơn 70 năm lãnh đạo nhân dân ta đấu tranh giành độc lập và xâydựng chủ nghĩa xã hội, Đảng ta bao giờ cũng coi dân chủ là một nội dungquan trọng trong đường lối cách mạng của mình Mở rộng dân chủ XHCN,

Trang 16

phát huy quyền làm chủ của nhân dân, vừa là mục tiêu, vừa là động lực đểnhân dân ta vượt qua khó khăn, thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chiến lược, lạivừa là bản chất, là đặc trưng của chế độ mới Những yếu tố dân chủ, tinhthần dân chủ, "lấy dân làm gốc", "coi dân là trọng" vốn đã hình thành tronglịch sử dựng nước và giữ nước của nhân dân ta từ mấy ngàn năm trướccũng đã được Đảng ta kế thừa và phát huy trong điều kiện mới.

Ngay từ khi mới ra đời, Đảng ta lãnh đạo nhân dân đấu tranh thựchiện Cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân Hai mục tiêu dân tộc và dân chủgắn bó chặt chẽ với nhau từ buổi khởi đầu sự nghiệp cách mạng do Đảnglãnh đạo Nội dung dân chủ trong giai đoạn cách mạng trước chủ yếu làđem lại ruộng đất cho dân cày - Thành phần đông đảo nhất trong dân cư.Sau cách mạng dân tộc dân chủ thành công, Đảng ta lãnh đạo đất nướcchuyển sang giai đoạn cách mạng mới - cách mạng XHCN Làm cáchmạng XHCN chính là giải phóng xã hội, giải phóng con người, phát huyquyền làm chủ của nhân dân ở trình độ hoàn thiện và toàn diện hơn, xâydựng một xã hội dân chủ, công bằng, đem lại ấm no, hạnh phúc, và nhữnggiá trị cao cả, tiến bộ cho con người

Từ Đại hội Đảng lần thứ IV, Đảng ta đã xác định việc xây dựng chế

độ làm chủ tập thể XHCN là một trong bốn mục tiêu cơ bản của cách mạngXHCN, và cũng là một trong bốn đặc trưng của cách mạng XHCN ở nước

ta Quan điểm đó được tiếp tục khẳng định và cụ thể hóa từng bước trongnghị quyết Đại hội V của Đảng

Đại hội toàn quốc lần thứ VI của Đảng, Đại hội mở đầu của sựnghiệp đổi mới ở nước ta Quan điểm lấy dân làm gốc, phát huy sức mạnhcủa các thành phần kinh tế nhằm giải phóng lực lượng sản xuất; đổi mớinội dung và phương pháp lãnh đạo của Đảng trên cơ sở nắm vững nguyêntắc, kiên định chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, kế thừa vàphát huy truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu những thành tựu vănminh nhân loại, bảo đảm quá trình đổi mới diễn ra đúng nguyên tắc tập

Trang 17

trung dân chủ Bởi vậy, trên thực tế, quyền làm chủ của nhân dân đã từngbước được khơi dậy và phát huy.

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng với việc thông quacương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH đã nhấnmạnh: "Xã hội mà nhân dân ta xây dựng là một xã hội do nhân dân laođộng làm chủ", và "Toàn bộ tổ chức, hoạt động của hệ thống chính trị nước

ta trong giai đoạn mới là nhằm xây dựng và từng bước hoàn thiện nền dânchủ XHCN, bảo đảm quyền lực thuộc về nhân dân" [7, 19], "Thực hiện dânchủ XHCN là thực chất của việc đổi mới và kiện toàn hệ thống chính trị.Đây vừa là mục tiêu, vừa là động lực của công cuộc đổi mới" [6, 90]

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng (6/1996), tiếp tụckhẳng định "Xây dựng nền dân chủ XHCN là một nội dung cơ bản của đổimới hệ thống chính trị ở nước ta Phải có cơ chế và cách làm cụ thể để thựchiện phương châm "dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra" đối với cácchủ trương, chính sách lớn của Đảng và Nhà nước Thực hiện tốt cơ chếlàm chủ của nhân dân: làm chủ thông qua đại diện, làm chủ trực tiếp và cáchình thức tự quản tại cơ sở" [8, 43] Việc ban hành Chỉ thị 30 CT/TW của

Bộ Chính trị và Nghị định 29 NĐ/CP (năm 1998) là sự cụ thể hóa quanđiểm đó của Đảng và Nhà nước ta

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IXcủa Đảng (4/2001), được xem

là đại hội của trí tuệ, dân chủ, đoàn kết và đổi mới Tại Đại hội này, nộidung dân chủ lại càng được coi trọng Dân chủ đã được đặt trong nhữngmục tiêu của con đường đi lên CNXH ở nước ta, đó là: "độc lập dân tộcgắn liền với CNXH, dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, vănminh" [12, 22]

Như vậy, nội dung dân chủ và phát huy quyền làm chủ của nhândân luôn là nội dung quan trọng và nhất quán trong toàn bộ đường lối cáchmạng của Đảng ta từ trước tới nay, và được phát triển, nâng cao thêm qua

Trang 18

các giai đoạn cách mạng Dân chủ gắn liền với "dân sinh", "dân trí"; dânchủ vừa là mục tiêu, vừa là động lực của cách mạng nói chung, của côngcuộc đổi mới nói riêng.

Qua hơn 15 năm đổi mới, thực hiện các Nghị quyết của Đảng,quyền làm chủ của nhân dân đã được phát huy thêm một bước; nhờ vậy màtiềm năng to lớn về vật chất, tinh thần và trí tuệ của nhân dân được khơidậy Dân chủ đã đem lại cho nhân dân không phải những giá trị dân chủtrừu tượng, mà bằng những kết quả cụ thể trên nhiều lĩnh vực quan trọngcủa đời sống xã hội Dân chủ đã trở thành nhu cầu khách quan đi liền vớiyêu cầu của nền kinh tế thị trường, là yêu cầu của sự nghiệp công nghiệphóa, hiện đại hóa đất nước; dân chủ cũng là vấn đề nhạy cảm, hết sức phứctạp Trong những năm qua, mặc dầu đã có những thành tựu nhất định.Song, "quyền làm chủ của nhân dân vẫn bị vi phạm ở nhiều nơi, trên nhiềulĩnh vực; tệ quan liêu, cửa quyền, tham nhũng, sách nhiễu dân vẫn diễn raphổ biến và nghiêm trọng Đây là nguy cơ lớn của Đảng cầm quyền Quanliêu và tham nhũng làm xói mòn bản chất cách mạng của Đảng, của Nhànước, đục ruỗng bộ máy tổ chức, làm suy thoái đội ngũ đảng viên, cán bộ,công chức về đạo đức và chính trị, phá hoại mối liên hệ mật thiết giữaĐảng, Nhà nước với nhân dân" [35, 4] Phương châm "dân biết, dân bàn,dân làm, dân kiểm tra" chưa được cụ thể hóa thành pháp luật, thành cơ chế,chế độ nên chậm đi vào cuộc sống

Vì vậy, chỉ có mở rộng dân chủ XHCN, phát huy sức mạnh quyềnlàm chủ của nhân dân, chống tiêu cực, chống suy thoái, chống tham nhũng,củng cố Đảng, làm trong sạch bộ máy nhà nước, lành mạnh hóa các quan

hệ xã hội mới có thể tạo động lực to lớn xây dựng và phát triển đất nước

Nhận thức được những vấn đề trên, Đảng và Nhà nước ta đã khôngngừng phát huy quyền làm chủ của nhân dân, của các tổ chức chính trị xãhội Việc thực hiện dân chủ XHCN, phát huy quyền làm chủ của nhân dân

Trang 19

được tiến hành dưới nhiều cấp độ, nhiều hình thức Trong đó, thực hiện dânchủ ở cơ sở nói chung, ở phường, xã nói riêng là vấn đề hết sức quan trọng;

có ý nghĩa vừa cấp bách, vừa lâu dài

1.1.2 Thực hiện dân chủ ở xã, phường - nội dung quan trọng của dân chủ XHCN ở nước ta

1.1.2.1 Vị trí, vai trò của xã, phường

Xã, phường là đơn vị hành chính cơ sở của nhà nước, là cấp trựctiếp nhất, gần dân nhất

Ngày nay, hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Namquy định: "Nước chia thành tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương - Tỉnhchia thành huyện, thành phố trực thuộc tỉnh và thị xã Thành phố trực thuộcTrung ương chia thành quận, huyện và thị xã Huyện chia thành xã, thịtrấn Thành phố trực thuộc tỉnh, thị xã chia thành phường và xã Quận chiathành phường" [20, 184]

Trong bốn cấp chính quyền của bộ máy nhà nước, chính quyềnphường, xã là cấp cơ sở; là nền tảng của xã hội, là nơi đông đảo nhân dânsinh sống; là nơi nhân dân thực hiện dân chủ một cách trực tiếp và rộng rãinhằm giải quyết các công việc trong nội bộ cộng đồng dân cư, bảo đảmđoàn kết, giữ gìn trật tự, an toàn xã hội và vệ sinh môi trường; là nơi nhândân sản xuất, kinh doanh, lao động, học tập; xã, phường cũng là nơi nảysinh nhiều yêu cầu bức xúc hàng ngày của các lĩnh vực kinh tế, chính trị, xãhội; cũng là nơi trực tiếp thực hiện mọi chủ trương, chính sách của Đảng vàNhà nước; Do vậy, cũng là nơi nhân dân đang có nhiều đòi hỏi về quyềnlàm chủ; nơi diễn ra sự tiếp xúc và thể hiện các mối liên hệ đan chéo nhaunhư: Đảng với dân, dân với dân, các tổ chức, các đơn vị kinh tế, xã hội vớidân Các phong trào hành động cách mạng của quần chúng, cũng như cácvấn đề dân sinh, dân chủ, dân an đều thể hiện rõ nhất ở xã, phường Hồ ChíMinh khẳng định: "Nền tảng của mọi công tác là cấp xã" và "Cấp xã là gần

Trang 20

gũi dân nhất, là nền tảng của hành chính Cấp xã làm được việc thì mọicông việc đều xong xuôi" [29, tr 317].

Vai trò của xã, phường là rất quan trọng Do vậy yêu cầu là phảithấy được điểm giống và khác nhau của hai loại hình xã và phường, có nhưvậy, việc chỉ đạo, Tổ chức thực hiện mới có hiệu quả

Điểm giống nhau cơ bản là: Xã, phường đều là đơn vị hành chínhcấp cơ sở, là nền tảng xã hội Cơ cấu tổ chức, thiết chế xã hội của hệ thốngchính trị xã, phường đều giống nhau Vị trí, vai trò xã, phường đều quantrọng đối với sự hưng vọng của quốc gia dân tộc

Điểm khác nhau cũng rất nhiều, song chủ yếu trên các lĩnh vực sau:

Về dân cư: Dân cư trên địa bàn xã chủ yếu là nông dân, họ sống gắn

bó với nhau qua nhiều đời, nhiều thế hệ Quan hệ chủ yếu là dòng họ, huyếtthống, tình làng nghĩa xóm Do vậy, dân cư ở đây thuần hơn Còn cư dântrên địa bàn phường chủ yếu được tạo lập do quan hệ công tác, do nhu cầu

vể nhà ở, nơi cư trú Ngoài cư dân sống ổn định, thì một số lượng lớn tạmtrú, hoặc sống tạm bợ không đăng ký Hơn nữa, ở phường, do cơ cấu nghềnghiệp đa dạng nên cơ cấu dân cư cũng đa dạng và phức tạp hơn Nếu như

ở địa bàn xã, nông dân là chủ yếu; thì ở phường vừa có công nhân, nôngdân, tầng lớp trí thức, có cả bộ phận tư sản, tiểu tư sản; có cả sinh viên, bộđội, có cả các nhà quản lý, lãnh đạo của nhiều cấp, nhiều ngành

Về tâm lý: Địa bàn xã chủ yếu là nông dân nên tâm lý tiểu nông nhỏ

mọn, dễ dao động, ngả nghiêng Họ nhìn nhận lợi ích một cách sát thực, cụthể, đặc biệt là lợi ích kinh tế trước mắt Hơn nữa, ở địa bàn xã, tâm lý bảothủ, cục bộ, nể nang, xuôi chiều là phổ biến Còn ở địa bàn phường, do cưdân phức tạp, nên diễn biến tâm lý cũng phức tạp hơn Con người thườngphải "gượng gạo" chấp nhận nhau theo kiểu "bán anh em xa, mua lánggiềng gần"

Trang 21

Về đội ngũ cán bộ: Trên địa bàn xã, cán bộ còn nhiều bất cập.

Những người có trình độ cao đẳng, đại học chưa nhiều, tính bảo thủ, trì trệcòn nặng Yếu tố dòng họ, làng xóm chi phối lớn Thậm chí có lúc vai trò

"già làng", "trưởng tộc" lấn át chính quyền Ngược lại, ở phường đội ngũcán bộ có trình độ chuyên môn nghiệp vụ, trình độ lý luận chính trị caohơn; sự giao lưu của họ cũng rộng hơn Nhưng vai trò của họ có sự kháchơn so với ở xã Nếu như ở xã, đội ngũ cán bộ chịu trách nhiệm quản lýđiều hành trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội - như là Nhà nước thu nhỏ,thì ở phường cũng vậy, song vai trò quản lý hành chính, quản lý cư dân nổibật hơn Còn vai trò trong quản lý, điều hành chuyên môn, nghiệp vụ, vềlao động sản xuất lại chủ yếu phụ thuộc vào các cơ quan, doanh nghiệp

Việc nhìn nhận được những điểm khác nhau cơ bản giữa xã vàphường sẽ tạo điều kiện thực hiện QCDC cơ sở một cách sát thực, hiệu quảhơn; vị trí của xã, phường đối với phát huy quyền làm chủ của nhân dâncàng cao hơn

Thực hiện dân chủ ở xã, phường cũng sẽ góp phần thúc đẩy cảicách hành chính, sửa đổi những cơ chế, chính sách và thủ tục hành chínhsao cho sát thực, phù hợp với thực tiễn cuộc sống hàng ngày Thực hiệndân chủ ở xã, phường cũng là biện pháp phát huy và mở rộng dân chủ, đưanội dung "dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra" vào cuộc sống có hiệuquả cao hơn

Nắm bắt được yêu cầu của thực tiễn; trải qua quá trình nghiên cứu,tìm tòi, thử nghiệm Ngày 18/2/1998, Bộ Chính trị ra chỉ thị số 30-CT/TW

về "Xây dựng và thực hiện QCDC ở cơ sở" Trên cơ sở đó ngày 11/5/1998Chính phủ ra nghị định số 29/1998 NĐ/CP "Về việc thực hiện QCDC ởxã", cùng với Chỉ thị số 22/1998 CT-TTg ngày 15/5/1998 "Về triển khaiquy chế thực hiện dân chủ ở xã", Chỉ thị số 24 CT-TTg ngày 19/6/1998

"Về việc xây dựng và thực hiện hương ước, quy ước của làng bản, thôn ấp,

Trang 22

cụm dân cư" của Thủ tướng Chính phủ Đây là những văn bản quan trọng

do Đảng, Nhà nước ban hành Tinh thần, cơ bản của chỉ thị và nghị địnhnày là làm sao dân chủ XHCN được mở rộng, quyền làm chủ của nhân dânđược phát huy Đó cũng chính là mục tiêu, động lực bảo đảm cho sự thắnglợi của cách mạng, của công cuộc đổi mới

1.1.2.2 Dân chủ ở xã, phường - nội dung quan trọng của quá trình dân chủ hóa

Dân chủ XHCN là nền dân chủ mang bản chất của giai cấp côngnhân, nền dân chủ rộng rãi nhất cho đại đa số nhân dân lao động; là nềndân chủ phát huy tính tự giác, sáng tạo của mỗi cá nhân Nền dân chủ nàydựa trên chế độ sở hữu mới -Sở hữu công cộng về tư liệu sản xuất chủ yếu,nên nó được đảm bảo một cách vững chắc

Việc phát huy quyền làm chủ của nhân dân là vấn đề thuộc bản chấtcủa chế độ XHCN; là chủ trương của Đảng, Nhà nước ta; là mục tiêu vàđộng lực của công cuộc đổi mới Trong bốn bản hiến pháp của nước ta,trước sau vẫn khẳng định quyền lực Nhà nước là thuộc về nhân dân Nhândân là chủ thể tối cao và duy nhất của quyền lực Nhà nước Điều này khôngchỉ làm sáng tỏ về mặt lý luận, mà còn thể hiện ở cách tổ chức và hoạtđộng của Nhà nước trên thực tiễn sao cho mục đích về một Nhà nước củadân, do dân, vì dân trở nên hiện thực và hiệu quả

Chỉ thị 30 của Bộ Chính trị đã khẳng định: "Khâu quan trọng và cấpbách trước mắt là phát huy quyền làm chủ của nhân dân ở cơ sở" Thựchiện dân chủ phường, xã là thực hiện những nội dung về dân chủ một cáchtrực tiếp và rộng rãi, đến với từng người dân nhằm phát huy cao độ quyềnlàm chủ của nhân dân trong đời sống chính trị, kinh tế, quản lý xã hội, giữgìn an ninh, trật tự công cộng

Dân chủ ở phường, xã diễn ra trên tất cả các lĩnh vực của đời sống

xã hội một cách trực tiếp và sinh động, liên tục đối với mọi người, nó được

Trang 23

thực hiện thông qua các tổ chức trong hệ thống chính trị ở cơ sở và liênquan đến trình độ nhận thức, đến khả năng của mỗi người Nhưng dù thếnào thì dân chủ ở phường, xã cũng phải dựa trên cơ sở của hiến pháp, phápluật của Nhà nước, và theo đúng đường lối của Đảng - mà trực tiếp là Chỉthị số 30 - CT/TW của Bộ Chính trị và Nghị định 29 - NĐ/CP của Chínhphủ kèm theo quy chế thực hiện dân chủ ở xã Quy chế gồm: Lời nói đầu, 7chương và 25 điều Về nội dung, quy chế quy định những quyền của nhândân ở cơ sở được biết, và hình thức biết những thông tin liên quan đến phápluật, chủ trương, chính sách của Nhà nước; đặc biệt là những thông tin liênquan trực tiếp đến đời sống dân sinh Quy chế cũng quy định những việc đểnhân dân làm và quyết định, cũng như những hình thức thực hiện; quy địnhnhững việc nhân dân ở cấp xã có quyền giám sát, kiểm tra và nhữngphương thức để thực hiện giám sát, kiểm tra Việc xây dựng cộng đồng dân

cư thôn, làng, bản, ấp và những hình thức tổ chức Đặc biệt, để thực hiệnphương châm "dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra", quy chế quy định

cơ chế thực hiện dưới hai hình thức: dân chủ trực tiếp và dân chủ đại diện;trong đó, ở cấp cơ sở, dân chủ trực tiếp là quan trọng hơn cả Quy trình

"biết, bàn, làm, kiểm tra" là quy trình phản ánh quá trình từ nhận thức đếnhành động; qua kiểm tra, đánh giá lại kết quả hành động, rồi tiếp tục nhậnthức và hành động với kết quả cao hơn Đó cũng là sự thể hiện của quytrình lãnh đạo, quản lý của chế độ do nhân dân làm chủ, từ khâu thu thậpthông tin, hình thành chủ trương, chính sách đến kiểm tra, rồi tiếp tục thuthập thông tin mới cho một chu trình quản lý mới

Khác với DCTS, tính ưu việt của nền dân chủ XHCN thể hiện cao ở

cả bốn nội dung của phương châm đều lấy "dân" làm "gốc", dân làm chủthể Khái niệm "dân" ở đây, cần được nhận thức trong mối quan hệ đượcquy định bởi cơ chế "Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ:Mặt khác, "nhân dân làm chủ" là mục tiêu của sự lãnh đạo của Đảng, quản

lý của Nhà nước đều hướng tới mục tiêu phát huy quyền làm chủ, sáng tạo

Trang 24

của nhân dân một cách rộng rãi Cơ chế đó cũng có nghĩa là: Đảng lãnh đạonhưng dân phải được biết, được bàn, được tham gia ý kiến và thực hiệnđường lối, chủ trương của Đảng; phải cùng tham gia kiểm tra cán bộ, đảngviên Đây là đối tượng quản lý của cơ quan Nhà nước nhưng dân phải đượcbiết, được bàn, được tham gia quản lý và phải cùng tham gia kiểm tra, giámsát hoạt động của cơ quan và cán bộ Nhà nước.

"Biết", "bàn", "làm", "kiểm tra" ở đây đặt trong mối quan hệ vớiđường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước

Biết trong ý nghĩa này, không phải là vấn đề nhận thức một cáchchung chung; không phải là toàn bộ vấn đề dân trí "Biết" ở đây là quyềnđược thông tin một cách đầy đủ và trung thực Qua sự nhận biết từ thôngtin, dân biết được quyền và nghĩa vụ của mình, từ đó mới hiểu, mới có cơ

sở để bàn, để làm và để kiểm tra Dovậy, trách nhiệm của các cơ quan Nhànước và hệ thống chính trị cơ sở là phải thông báo thường xuyên, đầy đủđường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước; những vấn đềkinh tế, xã hội của địa phương một cách sâu rộng trong nhân dân Quy chếquy định những điều dân được biết là một bước cụ thể hóa quyền đượcthông tin của công dân quy định tại Diều 59, Hiến pháp 1992

"Dân bàn" - là một khái niệm để chỉ quyền tham gia ý kiến củanhân dân - bàn để đi đến những quyết định trực tiếp; bàn để thực hiện; bàn

để tham gia ý kiến, để từ đó, cơ quan đại diện quyết định

"Dân làm" dân không chỉ là đối tượng được biết, được bàn; mà dâncòn là chủ thể trực tiếp của quá trình thực hiện - Khi được biết, được bàn,được tham gia ý kiến, thì việc thực hiện sẽ thuận lợi Tư tưởng là cái gốccủa hành động; tư tưởng thông, hành động cách mạng của nhân dân sẽđược đẩy lên mức cao; dân hồ hởi, phấn khởi thì đường lối, chủ trươngchính sách của Đảng và Nhà nước sẽ trở thành phong trào thi đua sâu rộng

và có hiệu quả trong nhân dân

Trang 25

"Dân kiểm tra" - Đây là vấn đề thuộc bản chất của nền dân chủXHCN, nhân dân có quyền kiểm tra, thanh tra hoạt động của các tổ chức,

cơ quan Nhà nước trong khuôn khổ pháp luật; từ công tác kiểm tra để cókiến nghị chấn chỉnh, bổ sung với mục đích là làm cho hoạt động của các

cơ quan này lành mạnh hơn, dân chủ và hiệu quả hơn Nội dung "dân kiểmtra" là nội dung khó nhất trong việc thực hiện quyền làm chủ của nhân dânhiện nay

Cả bốn khâu "dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra" là một quytrình "kín", có mối liên hệ chặt chẽ, rồi tác động, thúc đẩy lẫn nhau nhằmphát huy quyền làm chủ của nhân dân ở cơ sở Phương châm dân biết, dânbàn, dân làm, dân kiểm tra được thực hiện dưới hai hình thức: Dân chủ trựctiếp và dân chủ đại diện Để phát huy chế độ dân chủ đại diện, phải nângcao chất lượng và hiệu quả hoạt động của quốc hội, chính phủ, Hội đồngnhân dân và Ủy ban nhân dân các cấp, đồng thời và thực hiện từng bướcvững chắc chế độ dân chủ trực tiếp

Nghị quyết Hội nghị Trung ương ba (khóa VIII) đã nhấn mạnh:

"Điều quan trọng hàng đầu là nâng chất lượng dân chủ trực tiếp một cáchthiết thực, đúng hướng và có hiệu quả" [9, 43]

Tại Hội nghị này, Đảng ta đã nhấn mạnh tính bức thiết của chế độdân chủ trực tiếp ở cơ sở là: Nghiên cứu thực hiện từng bước chế độ dânchủ trực tiếp, trước hết ở cơ sở", đây là những việc làm cấp bách để mởrộng nền dân chủ XHCN ở mọi ngành, mọi cấp trong giai đoạn hiện nay.Bởivì: Dân chủ trực tiếp là hình thức thể hiện ý chí trực tiếp của chủ thểquyền lực về những vấn đề cơ bản, chính yếu của một tập thể, một cộngđồng Cơ quan quản lý có trách nhiệm ghi nhận ý chí đó và bảo đảm đưa nóvào thực thi trong cuộc sống Dân chủ trực tiếp khó tổ chức một cách tậptrung, khái quát nhưng lại bao quát được mọi khía cạnh của thực tiễn đờisống, cũng như ý chí chí, nguyện vọng của các tầng lớp nhân dân Do vậy,

Trang 26

Đảng ta khẳng định phải: "Nghiên cứu thực hiện từng bước chế độ dân chủtrực tiếp, trước hết là ở cơ sở" [9, 47] Vị trí, vai trò của dân chủ trực tiếpthể hiện trên những điểm chính sau đây:

- Dân chủ trực tiếp bảo đảm quyền làm chủ của nhân dân là pháthuy cao độ mọi tiềm năng, trí tuệ của nhân dân trong quá trình xây dựngnhà nước và xã hội, giải quyết những vấn đề lớn từ quốc kế dân sinh đếnnhững việc của đời sống cộng đồng, đời sống dân cư Thông qua hình thứcdân chủ trực tiếp, nhân dân có điều kiện tham gia ý kiến, có điều kiện đểtập dượt, trưởng thành, trở thành người chủ đích thực hiện

- Dân chủ trực tiếp tạo nên cơ chế đối trọng, kiểm tra, giám sát đốivới hình thức dân chủ đại diện, với bộ máy nhà nước, giảm bớt được sự tùytiện, lộng quyền, phát huy được tính tự giác, tích cực của mỗi thành viêntrong tập thể, khắc phục thói trì trệ, ỷ lại; phát huy truyền thống tương thân,tương ái, giúp đỡ lẫn nhau, tăng cường sức mạnh đại đoàn kết toàn dân Vìmục tiêu: "dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh".Dân chủ trực tiếp là "hệ thống báo động" nhạy cảm nhất, những thông tinphản hồi nhanh nhất về hiệu lực, hiệu quả của các đường lối, chủ trươngcủa Đảng, chính sách của nhà nước để kịp thời sửa chữa, bổ sung

Dân chủ nói chung, dân chủ ở cơ sở nói riêng là nội dung quantrọng của nền dân chủ XHCN Lênin nói: "CNXH sẽ không có nếu không

có dân chủ với hai nghĩa: 1) Giai cấp vô sản không thể hoàn thành cáchmạng XHCN nếu nó không tự chuẩn bị dân chủ cho mình thông qua cuộcđấu tranh vì dân chủ 2) CNXH chiến thắng sẽ không thể giữ được thắnglợi và không dẫn đến sự tiêu vong của nhà nước nếu thiếu thực hiện dânchủ một cách trọn vẹn" [36, 28]

Lênin cũng khẳng định: "Toàn thể công dân, không trừ một ai đềuphải tham gia vào việc xét xử và quản lý đất nước, và điều quan trọng đối vớichúng ta là thu hút toàn thể những người lao động, không trừ một ai tham gia

Trang 27

việc quản lý đất nước" [36, 128] Thấm nhuần tư tưởng Lênin, vận dụngsáng tạo vào hoàn cảnh nước ta Đảng ta chủ trương xây dựng thiết chế dânchủ ở cơ sở nói chung và ở phường, xã nói riêng, nhằm không ngừng pháthuy dân chủ XHCN, xây dựng nhà nước của dân, do dân, vì dân, thúc đẩymạnh mẽ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Việc bảo đảm

và phát huy dân chủ trong xã hội, cùng với vấn đề thực hiện dân chủ ở cơ

sở có nhu cầu rất lớn và có vai trò cực kỳ quan trọng, phản ánh quy mô tácđộng của nền dân chủ và khả năng hiện thực hóa mục tiêu dân chủ của chế

độ xã hội trong điều kiện hiện nay Do vậy, thực hiện dân chủ phường, xã

là nội dung quan trọng, thiết yếu của dân chủ XHCN ở nước ta hiện nay.Đây là sự tìm tòi sáng tạo, sự bổ sung quý báu vào kho tàng lý luận CNXHkhoa học của Đảng ta

1.2 THỰC HIỆN QUY CHẾ DÂN CHỦ Ở CƠ SỞ VỚI QUÁ TRÌNH ĐỔI MỚI THÀNH PHỐ VINH HIỆN NAY

1.2.1 Những điều kiện cơ bản về kinh tế - xã hội tác động đến quá trình thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở trên địa bàn thành phố Vinh

Vinh - Thành phố lớn của các tỉnh phía Bắc miền Trung có tọa độđịa lý từ 18038'50" đến 18043'36" vĩ độ Bắc, và từ 105056'30" đến

105049'50" kinh độ Đông; cách Hà Nội (ở phía Bắc) 291km, và cách Huế(ở phía Nam) 363km

Thành phố Vinh có diện tích 62 km2; về hình thể, Vinh có dạng gầngiống một bàn tay mở, phía Tây giáp huyện Hưng Nguyên, phía Bắc vàĐông giáp huyện Nghị Lộc; phía Nam giới hạn bởi dòng sông Lam, giáphuyện Nghi Xuân (Hà Tĩnh)

Vinh là vùng đất văn hóa từ ngàn xưa của cư dân người Việt sinhsống Trong lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước của dân tộc ta, vinhluôn là vị trí chiến lược hết sức quan trọng Năm 1788, sau khi đánh dẹpxong chúa Nguyễn ở đằng Trong, và chúa Trịnh ở đằng Ngoài, vua Quang

Trang 28

Trung đã cho xây dựng kinh đô ở Yên Trường (Vinh ngày nay) Hơn mộtnăm sau xây dựng, Quang Trung đã chuyển quân về nghỉ tại đây Ông nóikhi gửi chiếu chỉ mời La Sơn Phu Tử - Nguyễn Thiếp ra giúp việc: "Trẫmnay đóng đô tại Nghệ An, cùng Tiên sinh gần gũi, rồi đây Tiên sinh hãy ragiúp nhau để trị nước" "Đô Nghệ An sau này thường gọi là Phượng Hoàng

- Trung Đô" [61, 6]

Vinh là thành phố mà trải qua quá trình lịch sử, sự phát triển khôngđược liên tục Một thành phố bị chiến tranh tàn phá nặng nề, có thời kỳ hầunhư đã trở thành "vùng trắng" Nhưng nhân dân thành phố Vinh đã thể hiệnkhí phách anh dũng, ngoan cường trong chiến đấu; cần cù, sáng tạo tronglao động sản xuất

Qua 15 năm đổi mới, xây dựng, thành phố Vinh đã đạt được nhiềuthành tựu to lớn trên các lĩnh vực kinh tế - xã hội

Với sự nỗ lực phấn đấu của mình, năm 1993, Vinh được Chính phủcông nhận là thành phố loại II, và đang tiếp tục mở rộng, phát triển Đếnnay, Thành phố Vinh có 18 đơn vị Phường, xã trực thuộc Trong đó, có 13phường và 5 xã Dân số (theo số liệu điều tra tháng 4/1999) có 216.000người, ngoài ra, còn khoảng 20.000 người sống tạm trú, không đăng ký

Thành phố Vinh ngày nay là trung tâm văn hóa, chính trị, kinh tếkhông chỉ của Nghệ An, mà còn là của khu vực Bắc Trung Bộ; là đầu mốigiao lưu bằng đường bộ, đường sắt, đường biển, đường hàng không quantrọng với các địa phương khác trong cả nước và bầu bạn quốc tế; Vinhcũng là thành phố có vị trí địa lý chiến lược quan trọng, là yết hầu trên conđường xuyên Việt; là đô thị trẻ, có tiềm năng phát triển to lớn Trên địa bànthành phố, các cơ sở kinh tế, xã hội đã và đang được đầu tư xây dựng, vàphát huy hiệu quả Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân giai đoạn 1996 -

2000 là 10,3% Cơ cấu kinh tế có sự chuyển dịch đúng hướng: Tỷ trọngcông nghiệp - xây dựng tăng từ 32,9% năm 1995 lên 34,9% năm 2000, tỷ

Trang 29

trọng nông nghiệp giảm từ 4,8% năm 1995 xuống 3,4% năm 2000; xâydựng cơ bản đạt kết quả tốt, nhiều công trình đã hoàn thành bàn giao vàđưa vào sử dụng Chất lượng giáo dục toàn diện được nâng lên Thành phố

đã phổ cập xong chương trình trung học cơ sở Đào tạo nghề có bước pháttriển khá Hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể dục thể thao có nhiều tiến bộ.Thực hiện tốt các chính sách xã hội, nhất là chăm sóc thương binh, bệnhbinh, gia đình liệt sĩ và người có công với nước Phong trào giúp nhau xóađói giảm nghèo, làm giàu chính đáng được triển khai đồng bộ trong cả hệthống chính trị, và bước đầu có hiệu quả Công tác đấu tranh chống các tộiphạm tệ nạn xã hội được chú trọng; xử lý những việc gay cấn hợp lòng dân,đúng luật An ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội được giữ vững, góp phầnquan trọng bảo đảm sự bình yên và phát triển lành mạnh của thành phố

Tình hình tư tưởng của cán bộ, đảng viên và nhân dân thành phốVinh nhìn chung là tốt, tuyệt đại bộ phận kiên định với mục tiêu, lý tưởngcủa Đảng, niềm tin của nhân dân đối với Đảng và chế độ từng bước đượccủng cố và nâng lên Ban chấp hành Đảng bộ thành phố đã quan tâm chăm

lo xây dựng khối đại đoàn kết thống nhất trong Đảng Thực hiện tốt nguyêntắc tập trung dân chủ Thực hiện nhiệm vụ kiểm tra do điều lệ và các nghịquyết của Đảng, của tỉnh ủy quy định Ủy ban kiểm tra các cấp hoạt độngtích cực và có hiệu quả, phối hợp với các cấp, các ngành giải quyết cơ bảncác đơn thư, vụ việc

Hội đồng nhân dân các cấp ngày càng thể hiện rõ hơn là cơ quanquyền lực Nhà nước ở địa phương Chất lượng hoạt động của HĐND, cácban của HĐND, và các đại biểu ngày càng tốt hơn

Các tổ chức, đoàn thể (Ủy ban MTTQ, Công đoàn, đoàn thanh niên,Hội liên hiệp phụ nữ, hội cựu Chiến binh, Hội nông dân ) hoạt động ngàycàng đi vào chiều sâu, và có hiệu quả hơn

Trang 30

Những đặc điểm trên, là điều kiện thuận lợi cho thành phố Vinhbước vào sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa nói chung cho thực hiệnQCDC ở cơ sở nói riêng Song, cũng còn một số khó khăn, trở ngại đáng kể:

Nhìn chung, so với các thành phố khác cùng loại, thì thành phốVinh vẫn còn nhiều mặt, nhiều lĩnh vực chưa ngang bằng - đặc biệt là xâydựng, phát triển kinh tế Theo báo cáo của Thành ủy, "tốc độ tăng trưởngkinh tế của Vinh còn thấp, nghiêm trọng là có xu hướng giảm Cụ thể tăngtrưởng năm 1998 là 11%, bước sang năm 1999 còn 8,5%; tốc độ đô thị hóa

có tiến bộ, song, kết cấu hạ tầng chưa đồng bộ; công tác quản lý quy hoạch

đô thị còn nhiều bất cập; một số công trình xây dựng cơ bản chất lượngkhông đảm bảo; việc huy động các nguồn lực, nhất là từ nguồn đóng gópcủa nhân dân để xây dựng hạ tầng chưa mạnh "Đáng nghiêm trọng là tưtưởng bảo thủ, trông chờ, ỷ lại chậm được khắc phục, đảng viên có tưtưởng trung bình, không phát huy tác dụng chậm được sàng lọc Ý thức họctập, nghiên cứu nghị quyết của một bộ phận đảng viên còn yếu Hiểu vàvận dụng nguyên tắc tập trung dân chủ chưa đầy đủ, thậm chí còn bị viphạm ở một số cấp ủy Đảng

Tình trạng mất dân chủ, mất đoàn kết ở một số đơn vị chậm đượckhắc phục và xử lý dứt điểm Tính chiến đấu trong công tác tư tưởng chưacao, thiếu sắc bén Chất lượng đội ngũ cán bộ chủ trì, nhất là ở phường, xãcòn nhiều bất cập Một bộ phận cán bộ các cấp thoái hóa, biến chất, thamnhũng chưa được xử lý nghiêm minh, làm giảm sút lòng tin của nhân dânđối với Đảng và Nhà nước Bộ máy kiểm tra, thanh tra các cấp còn bấtcập Xử lý một số vụ việc còn biểu hiện hữu khuynh, né tránh, đùn đẩy,giải quyết và xử lý chưa kiên quyết, thiếu dứt điểm Chưa chú trọng kiểmtra đảng viên chấp hành nghị quyết, điều lệ Đảng Công tác cải cách hànhchính chưa được quan tâm đúng mức Vai trò quản lý, điều hành của chínhquyền các cấp trong việc cụ thể hóa nghị quyết của Đảng, tổ chức chỉ đạothực hiện ở một số khâu còn hạn chế; vai trò lãnh đạo của Đảng đối với

Trang 31

Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân có biểu hiện quan liêu, thiếukiểm tra dẫn đến để xảy ra vụ việc nghiêm trọng, gây bất bình trong Đảng

bộ và nhân dân

Quy chế thực hiện dân chủ ở cơ sở chưa được triển khai rộng rãi.Đấu tranh chống tham nhũng, buôn lậu, gian lận thương mại hiệu quảkhông cao Một số tổ chức quần chúng bị hành chính hóa, ít đi vào cuộcsống các tầng lớp nhân dân, khả năng nắm bắt tình hình, vận động thuyếtphục, cảm hóa còn hạn chế" [63, 11]

Ngoài ra, thành phố Vinh còn có một số khó khăn khác như điềukiện tự nhiên, khí hậu khắc nghiệt, đặc biệt là gió Lào Lực lượng lao độngdồi dào nhưng tỷ lệ được đào tạo còn ít, tay nghề còn thấp Tình trạng thiếuviệc làm chiếm tỷ lệ cao "Tệ nạn xã hội và các loại tội phạm diễn biếnphức tạp và có chiều hướng gia tăng" [63, 12]

Như vậy, những thuận lợi và khó khăn trên đây về kinh tế, chính trị,văn hóa xã hội, sẽ là những yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển củathành phố Vinh nói chung; đến việc thực hiện QCDC ở cơ sở nói riêng Dovậy, việc nắm bắt một cách đầy đủ, đúng đắn vấn đề này, sẽ giúp chochúng ta nghiên cứu một cách đúng đắn quá trình xây dựng và thực hiệnQCDC cơ sở ở thành phố Vinh

1.2.2 Thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở - mục tiêu và động lực của quá trình đổi mới ở thành phố Vinh hiện nay

Báo cáo chính trị của BCH Đảng bộ thành phố Vinh khóa XIX trìnhĐại hội lần thứ XX khẳng định tư tưởng chỉ đạo là: Tiếp tục đẩy mạnh sựnghiệp đổi mới, phấn đấu tốc độ tăng trưởng kinh tế cao hơn bình quânchung của tỉnh và vùng Bắc Trung Bộ Phát huy lợi thế so sánh, khai thác

có hiệu quả các nguồn lực tại chỗ Thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tếtheo hướng công nghiệp - dịch vụ nông nghiệp Đưa công nghiệp, dịch vụtrở thành ngành kinh tế chủ yếu, quyết định sự tăng trưởng của thành phố

Trang 32

Tạo môi trường thuận lợi và khuyến khích các thành phần kinh tế đầu tưvào sản xuất kinh doanh Phát triển mạnh các doanh nghiệp ngoài quốcdoanh vừa và nhỏ, kinh tế hộ và tiểu chủ Từng bước hình thành và đưa vàohoạt động các khu công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và thương mại, tạonguồn thu lớn có tích lũy ngang tầm vị trí của đô thị loại II.

Đẩy nhanh tốc độ đô thị hóa, từng bước hiện đại và đồng bộ kết cấu

cơ sở hạ tầng Gắn tăng trưởng kinh tế với thực hiện các chính sách xã hội.Tăng cường công tác giáo dục, đào tạo, nâng cao chất lượng lao động, giảiquyết việc làm, bài trừ các tệ nạn xã hội Kết hợp chặt chẽ phát triển kinh tếvới củng cố quốc phòng, ổn định chính trị, giữ vững trật tự, an toàn xã hội,tạo môi trường thuận lợi cho kinh tế - xã hội phát triển đúng hướng

Từ tư tưởng và quan điểm chỉ đạo trên; mục tiêu tổng quát là: "Xâydựng thành phố Vinh thực sự là đô thị loại II phát triển kinh tế nhanh vàbền vững, nằm trong khu vực tăng trưởng của cả nước; xứng đáng là trungtâm chính trị, kinh tế, văn hóa và khoa học công nghệ góp phần quyết định

sự tăng trưởng của tỉnh và khu vực Bắc Trung Bộ Hệ thống kết cấu hạ tầngđược tăng cường đồng bộ; cơ cấu kinh tế hợp lý; phát triển đô thị đi đôi vớibảo vệ môi trường tự nhiên và xã hội

Xây dựng Đảng và hệ thống chính trị vững mạnh; củng cố khối đạiđoàn kết toàn dân; giữ vững ổn định chính trị - xã hội; đời sống vật chất,văn hóa tinh thần của nhân dân được cải thiện; truyền thống, bản sắc củaThành phố Đỏ anh hùng được bảo vệ và phát huy" [63, 15]

Để thực hiện được mục tiêu trên, Thành phố Vinh phải phát huy cảnội lực, ngoại lực, cả vật chất và tinh thần Đặc biệt là phát huy nguồn lựccon người (nguồn nhân lực) trên địa bàn Thành phố

Một trong những yếu tố nhằm phát huy cao độ của nguồn nhân lực,

đó là phát huy tính chủ động, sáng tạo của con người Muốn vậy, phải xóa

Trang 33

bỏ chế độ quan liêu, cửa quyền, hách dịch , thực hiện dân chủ rộng rãitrong nhân dân.

Việc thực hiện dân chủ được tiến hành dưới nhiều hình thức, nhiềucấp độ khác nhau; trong đó, thực hiện dân chủ ở cơ sở có ý nghĩa quantrọng vừa cấp bách, vừa cơ bản và lâu dài Nó không chỉ thực hiện nhữngnội dung về dân chủ một cách nói chung, trực tiếp, và rộng rãi, mà nó cònphát huy nguồn nhân lực một cách mạnh mẽ, đặc biệt là từ nhân dân

Dân chủ cơ sở, trong đó có dân chủ phường, xã đóng vai trò hết sứcquan trọng; bởi vậy mà quy chế dân chủ cơ sở ra đời rất đúng lúc, đượcquần chúng nhân dân đồng tình, ủng hộ Mục đích của Quy chế là phát huyquyền làm chủ, sức sáng tạo của nhân dân, động viên sức mạnh vật chất vàtinh thần của nhân dân nhằm phát triển kinh tế, ổn định chính trị - xã hội,tăng cường đoàn kết, ngăn chặn tình trạng suy thoái, quan liêu, thamnhũng; góp phần vào sự nghiệp "dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng,dân chủ, văn minh" theo định hướng XHCN

Quy chế cũng quy định những việc mà chính quyền địa phương cầnphải thông báo để nhân dân được biết: như chính sách, pháp luật của Nhànước, các quy định của Nhà nước và chính quyền địa phương về thủ tụchành chính giải quyết các công việc liên quan đến dân; kế hoạch phát triểnkinh tế - xã hội dài hạn và hàng năm của phường, xã; Quy hoạch và kếhoạch sử dụng đất đai; dự toán và quyết toán ngân sách phường, xã hàngnăm; chủ trương, kế hoạch vay vốn phát triển sản xuất, xóa đói, giảmnghèo; kết quả thanh tra, kiểm tra, giải quyết các vụ việc tiêu cực, thamnhũng của cán bộ phường, xã

Nhân dân cũng phải biết đến công tác văn hóa, xã hội, phòng chốngcác tệ nạn xã hội, giữ gìn an ninh, trật tự, an toàn xã hội của phường, xã

Dân cũng được biết về những thông tin khoa học kỹ thuật, kinhnghiệm sản xuất, kinh doanh, và tình hình thị trường; biết về chức năng,

Trang 34

nhiệm vụ của các tổ chức Đảng, của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân,Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể; biết được trách nhiệm, quyền hạn củanhân viên nhà nước, và của chính mình

Như vậy, việc ban hành, xây dựng và thực hiện quy chế dân chủ cơ

sở tạo điều kiện cho nhân dân mở mang tri thức trên nhiều lĩnh vực Khắcphục được tình trạng dân "mù luật", "mù" thông tin, "mù" về quyền vànghĩa vụ của cá nhân - điều mà từ trước là một trong những nguyên nhâncủa tệ quan liêu, cửa quyền, hách dịch, sách nhiễu dân; đồng thời, nó cũngkhắc phục được tình trạng yếu kém trong chính bản thân mỗi người; "cáibiết" sẽ tạo điều kiện cho nhân dân chủ động, sáng tạo, tự giác phấn đấucho cá nhân, gia đình, thành phố và xã hội

Ngoài vấn đề được "biết", được "hiểu", QCDC ở cơ sở còn quyđịnh những việc nhân dân được bàn và quyết định trực tiếp Đây thực sự làvấn đề có ý nghĩa hết sức quan trọng để phát huy tiềm năng, sức mạnh củanhân dân Dân được bàn, được trao đổi một cách dân chủ về các mức đónggóp xây dựng cơ sở hạ tầng và các công trình phúc lợi công cộng; lập thuchi các loại quỹ trong khuôn khổ pháp luật; xây dựng hương ước, quy ước,làng văn hóa, nếp sống văn minh, giữ gìn an ninh trật tự, an toàn xã hội, bàitrừ các hủ tục, mê tín dị đoan, các tệ nạn xã hội; tổ chức bảo vệ sản xuất,kinh doanh Với những nội dung quan trọng như vậy, để nhân dân có điềukiện được bàn bạc một cách dân chủ, công khai, Thành ủy, Ủy ban nhândân thành phố Vinh đã chỉ đạo tổ chức thông qua các hình thức: họp nhândân ở khối phố, từng thôn, làng, xóm; hoặc tùy điều kiện mà có thể họp cácchủ hộ, thảo luận và biểu quyết công khai hoặc phiếu kín, lập biên bản gửi

Ủy ban nhân dân phường, xã Việc dân bàn và được quyết định là yếu tốcốt lõi của phát huy dân chủ trực tiếp Khi thực hiện nội dung này, dânnhận thấy việc chung như chính việc của gia đình, bản thân mình Mọingười ý thức mình là chủ thể của các quá trình, do vậy, họ tự tin hơn, chủđộng hơn; từ đó mà phát huy được sức mạnh toàn dân, tạo nên động lực to

Trang 35

lớn cho quá trình xây dựng và phát triển thành phố - Điều mà từ trước tớinay, chưa khi nào chúng ta làm được.

Quy chế cũng quy định những việc nhân dân bàn, tham gia ý kiến,Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân phường, xã quyết định Trước đây,thường có rất nhiều quyết định liên quan đến đời sống hàng ngày của dân,dân chỉ biết phục tùng Nay, dân được biết, được bàn, được quyết định, và

cả người đại diện mình quyết định những vấn đề trong cuộc sống Việc dânbàn, dân tham gia ý kiến trước khi các cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyếtđịnh là quy định có vai trò rất quan trọng trong việc giúp các cơ quan nhànước cấp trên, hoặc cấp phường, xã thành phố ra quyết định một cách đúngđắn, hợp lòng dân hơn; đó cũng là một trong những giải pháp nhằm khắcphục tình trạng quan liêu gò ép, bỏ qua ý kiến, tâm tư, nguyện vọng củanhân dân; khắc phục sự độc đoán, chuyên quyền, thiếu dân chủ đang cònnặng nề, khá phổ biến trên các phường, xã ở thành phố Vinh; đồng thời gópphần đổi mới phương thức lãnh đạo của các cấp ủy Đảng, của ủy ban nhândân thành phố, các phường, xã theo hướng gần gũi, sát dân hơn, chịu khólắng nghe ý kiến của quần chúng nhân dân trong việc xây dựng các đề án,các chương trình, kế hoạch, mục tiêu phát triển kinh tế xã hội- ở địa phương

Về quy định những việc nhân dân giám sát, kiểm tra các hoạt độngcủa chính quyền, tổ chức Đảng, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể ởphường, xã cũng có ý nghĩa cực kỳ to lớn đối với sự đổi mới, phát triển ởThành phố Vinh

Đặc trưng cơ bản của các cán bộ lãnh đạo, quản lý, của các Tổchức, đoàn thể là "không muốn ai biết" được việc mình làm, "không muốn

ai biết" được mình làm như thế nào - nếu công việc của họ "có vấn đề",hoặc chưa được tốt

Quy chế quy định những việc nhân dân ở xã giám sát, kiểm tra hoạtđộng của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân xã; giải quyết khiếu nại, tố

Trang 36

cáo của công dân; dự toán và quyết toán ngân sách xã; kết quả nghiệm thu

và quyết toán công trình do nhân dân đóng góp xây dựng, và các chươngtrình, dự án do Nhà nước, các tổ chức và cá nhân đầu tư, tài trợ trực tiếpcho xã; việc quản lý và sử dụng đất đai; thu chi các loại quỹ và lệ phí theoquy định của Nhà nước, các khoản đóng góp của nhân dân; kết quả thanhtra, kiểm tra, giải quyết các vụ tiêu cực, tham nhũng liên quan đến cán bộxã; việc thực hiện chế độ, chính sách ưu đãi, chăm sóc, giúp đỡ thươngbinh, bệnh binh, gia đình liệt sĩ, những người và gia đình có công với nước,chính sách bảo hiểm xã hội, cứu tế xã hội Với những quy định này, nhândân được giám sát, kiểm tra nhưng trong khuôn khổ của pháp luật; với tinhthần xây dựng Kiểm tra, giám sát để phát hiện những sai trái, lệch lạc, từ

đó mà có kiến nghị uốn nắn, chấn chỉnh, thậm chí kỷ luật những cá nhân, tổchức làm sai trái, nhằm làm cho hoạt động của các tổ chức Đảng, chínhquyền, đoàn thể, của các cán bộ quản lý lành mạnh hơn, dân chủ hơn; ngănchặn được tình trạng quan liêu, tham nhũng, thoái hóa, biến chất; kịp thờisửa đổi, bổ sung những quyết định sai trái, kém hiệu quả Việc kiểm tra,giám sát rõ ràng, minh bạch sẽ tạo điều kiện khen thưởng, kỷ luật đúngngười, đúng tội Nhờ những quy định này, mà các tổ chức Đảng, chínhquyền, đoàn thể ở Thành phố Vinh hoạt động năng động hơn, hiệu quả hơn,dân chủ hơn; những sai phạm giảm rõ rệt; gây được niềm tin của nhân dânđối với Đảng, Nhà nước nói chung, với các cấp ủy Đảng, chính quyền ởThành phố Vinh nói riêng

Để xây dựng Thành phố Vinh ngày càng giàu đẹp; việc xây dựngcộng đồng dân cư khối phố, thôn, làng vững mạnh là điều có ý nghĩa quyếtđịnh, là hết sức đúng đắn Đây là nơi thực hiện dân chủ một cách trực tiếp

và rộng rãi nhất Ở đây, nhân dân đoàn kết, tương trợ, giúp đỡ lẫn nhautrong sản xuất, sinh hoạt; giữ gìn, phát huy truyền thống tốt đẹp, thuầnphong, mỹ tục; thực hiện chủ trương của Đảng, pháp luật Nhà nước Cũng

ở cơ sở này, nhân dân thảo luận, quyết định công việc nội bộ của cộng

Trang 37

đồng; bàn biện pháp thực hiện nghị quyết của Hội đồng nhân dân xã, và cácquyết định của Ủy ban nhân dân xã Bầu, cho thôi chức trưởng thôn, xâydựng hương ước, quy ước về công việc thuộc nội bộ cộng đồng dân cư phùhợp với quy định của pháp luật; bài trừ hủ tục, mê tín dị đoan, tệ nạn xãhội, xây dựng khóm văn hóa, làng văn hóa, xây dựng cộng đồng dân cưđoàn kết, văn minh, tiến bộ.

Việc thực hiện QCDC ở cơ sở có ý nghĩa vô cùng to lớn, vừa cấpbách, vừa lâu dài đối với sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Thànhphố Vinh, nhanh chóng đưa Thành phố Vinh trở thành thành phố côngnghiệp - dịch vụ, thành Trung tâm văn hóa chính trị lớn ở khu vực BắcTrung Bộ; góp phần cải cách hành chính, nâng cao hiệu lực của hệ thốngchính trị các cấp, đặc biệt là phường, xã

Như vậy, có thể nói rằng, thực hiện QCDC ở cơ sở vừa là mục tiêu,vừa là động lực của quá trình đổi mới Thành phố Vinh hiện nay

Trang 38

Chương 2

KẾT QUẢ BƯỚC ĐẦU CỦA VIỆC THỰC HIỆN QUY CHẾ DÂN CHỦ Ở CƠ SỞ TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ VINH

VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA

2.1 QUÁ TRÌNH TỔ CHỨC, TRIỂN KHAI

2.1.1 Xây dựng kế hoạch triển khai ở cấp Thành phố

Thực hiện chỉ thị 30/CT-TW ngày 18/2/1998 của Bộ Chính trị;Nghị định 29/NĐ-CP ngày 11/5/1998 về Quy chế thực hiện dân chủ ở xã,chỉ thị số 22/1998 CTTTg ngày 18/5/1998 của Thủ tướng Chính phủ; đặcbiệt là Thông tư 03/1998 (ngày 6/7/1998) của Ban Tổ chức - cán bộ chínhphủ hướng dẫn áp dụng QCDC ở xã đối với phường và thị trấn Các vănbản hướng dẫn của tỉnh như: Thông tư số 17 TT/TU ngày 18/10/1998 củaThường trực Tỉnh ủy về việc thực hiện Chỉ thị 30/CT-TW của Bộ Chínhtrị; Công văn số 433/CV-TC ngày 16/11/1998 của Ban Tổ chức chínhquyền tỉnh về việc triển khai thực hiện QCDC

Các cấp ủy Đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thểnhân dân Thành phố Vinh đã nhận thức sâu sắc rằng: Đây là những nộidung quan trọng để thực hiện quyền làm chủ của nhân dân trong việc xâydựng hệ thống chính trị; đặc biệt là xây dựng bộ máy nhà nước trong sạch,vững mạnh Do vậy, việc triển khai thực hiện QCDC là hết sức quan trọng,vừa cấp bách, vừa lâu dài Thành phố Vinh là đơn vị điểm của tỉnh Nghệ

An trong việc thực hiện QCDC; đây vừa là niềm tự hào, vừa là vinh dự vàtrách nhiệm của Đảng bộ, chính quyền và nhân dân thành phố Ban Thường

vụ Thành ủy đã tích cực chuẩn bị, và ngày 8/3/1999 ra quyết định số472/QĐ-Th.U thành lập Ban chỉ đạo thực hiện QCDC của Thành phố Banchỉ đạo gồm 16 thành viên, cơ cấu gồm các Trưởng, Phó ban, ngành, đoàn

Trang 39

thể của Thành phố Ban chỉ đạo đã tiến hành nghiên cứu, thảo luận, xâydựng nội quy, quy chế hoạt động và kế hoạch thực hiện số 7/BCĐ ngày15/4/1999 Sau đó, do thực hiện đồng bộ cả 3 Nghị định (29/CP; 74/CP, 07/CP) nên Thành phố đã có quyết định số 865/QĐ-UB ngày 10/8/2000 bổsung thành viên gồm 20 thành viên, và được phân thành 3 Tiểu ban chỉ đạotheo tinh thần 3 nghị định trên.

Ngày 20/4/1999, Ủy ban nhân dân thành phố tổ chức tập huấn Nghịđịnh 29/NĐ-CP và kế hoạch triển khai thực hiện QCDC ở cơ sở cho cán bộchủ trì 18 phường, xã Thành phần bao gồm Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch Ủyban nhân dân, Chủ tịch Ủy ban Mặt trận tổ quốc, và trưởng các đoàn thể,hội quần chúng; Đồng thời in ấn văn bản, tài liệu cần thiết cấp phát đầy đủcho cơ sở; tổ chức đội tuyên truyền lưu động về nội dung QCDC do Trungtâm văn hóa Thành phố đảm nhận Phân công Thành viên Ban chỉ đạo phụtrách các đơn vị cơ sở phường, xã, đôn đốc các phường xã thực hiện triểnkhai QCDC theo đúng kế hoạch, với phương châm là không nóng vội,không làm lướt, vừa làm, vừa rút kinh nghiệm; tổ chức làm điểm rồi từ đónhân rộng ra Trước hết Thành phố chọn 3 đơn vị cơ sở chỉ đạo điểm Đólàphường Trường Thi, phường Cửa Nam, và xã Hưng Hòa Nhìn chung, cácđơn vị được chọn làm điểm đều có phong trào tốt; Đảng bộ trong sạch,vững mạnh, cán bộ và nhân dân có ý thức chấp hành mọi chủ trương,đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và quy định của địaphương

2.1.2 Tổ chức triển khai QCDC ở xã, phường

Cuối năm 1998, đầu năm 1999, BCĐ thực hiện QCDC cơ sở thànhphố đã tiến hành sơ kết, đánh giá các đơn vị chỉ đạo điểm, khẳng địnhnhững kết quả bước đầu, những yếu kém, hạn chế trong quá trình thựchiện, từ đó rút ra những nguyên nhân, bài học kinh nghiệm để kịp thời bổsung, sửa chữa, nhằm chỉ đạo thực hiện tốt trên diện rộng

Trang 40

Để thực hiện có hiệu quả, các phường, xã thành lập Ban chỉ đạotriển khai, thực hiện QCDC cơ sở, dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Ban chỉđạo Thành phố và Đảng ủy, Ủy ban nhân dân các phường, xã; thành phầngồm Đảng ủy, UBND, Mặt trận Tổ quốc, các ngành, đoàn thể, bí thư cácchi bộ, khối trưởng

Để bảo đảm cho việc triển khai quy chế đúng với chỉ thị của BộChính trị, của Thủ tướng chính phủ; đồng thời, phù hợp với tình hình địaphương Thành ủy đã giao nhiệm vụ cho các phường, xã ban hành kế hoạchtriển khai Do vậy, các phường, xã khối xóm đã tiến hành các bước như in

ấn hàng ngàn bộ tài liệu để cung cấp cho cán bộ chủ chốt, cán bộ các banngành, đoàn thể từ xã đến khối, xóm Tiếp đó, in nội dung QCDC cơ sởphát cho cán bộ và nhân dân, trước hết là theo gia đình

Khi có tài liệu, Ban chỉ đạo phường, xã phân công nhiệm vụ cụ thểcho từng thành viên; hướng dẫn, chỉ đạo xây dựng kế hoạch, lập đề án,phương án, giúp các điểm kịp thời giải quyết những khó khăn, vướng mắc,

và những vấn đề mới nảy sinh trong quá trình triển khai quy chế NhiềuBan chỉ đạo đã làm tốt chức năng vừa là tham mưu cho cấp ủy, vừa trựctiếp chỉ đạo cụ thể, đã mang lại hiệu quả cao trong quá trình tổ chức, triểnkhai

Để cán bộ, đảng viên và nhân dân nhanh chóng tiếp cận với quychế, hiểu quy chế, tạo nên sự thống nhất, đồng tình cao trong nhận thức vàhành động, ban chỉ đạo đã tiến hành phổ biến, tuyên truyền, giải thích nộidung chỉ thị 30/CT-TW của Bộ Chính trị và nội dung QCDC theo nghịđịnh 29/NĐ-CP Hình thức phổ biến, tuyên truyền được tiến hành đa dạng

và phong phú như: Tổ chức học tập tập trung tại hội trường; qua mạng lướitruyền thanh của địa phương, qua việc hướng dẫn tự nghiên cứu Đặc biệt

là Thành phố Vinh đã chỉ đạo đội văn nghệ lưu động do Nhà văn hóa thành

Ngày đăng: 22/10/2016, 15:57

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Lưu Văn An (2000), "Mặt trận và các đoàn thể nhân dân cấp xã với việc triển khai thực hiện QCDC ở cơ sở", Dân vận, (5) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mặt trận và các đoàn thể nhân dân cấp xã vớiviệc triển khai thực hiện QCDC ở cơ sở
Tác giả: Lưu Văn An
Năm: 2000
2. Hoàng Chí Bảo (1999), "Những chỉ dẫn của Lênin về đấu tranh chống quan liêu và thực hành dân chủ", Thông tin lý luận, (4) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những chỉ dẫn của Lênin về đấu tranh chốngquan liêu và thực hành dân chủ
Tác giả: Hoàng Chí Bảo
Năm: 1999
3. Lê Minh Châu (1999), "Dân chủ ở cơ sở là điểm mấu chốt để thực hiện quyền dân chủ", Quản lý nhà nước, (1) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dân chủ ở cơ sở là điểm mấu chốt để thựchiện quyền dân chủ
Tác giả: Lê Minh Châu
Năm: 1999
4. Nguyễn Văn Cư (2000), "Quy chế dân chủ với việc giữ vững ổn định chính trị - xã hội ở cơ sở", Công tác khoa giáo, (11) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy chế dân chủ với việc giữ vững ổn địnhchính trị - xã hội ở cơ sở
Tác giả: Nguyễn Văn Cư
Năm: 2000
5. Nguyễn Tiến Dũng (2000), "Một số vấn đề đặt ra sau 2 năm thực hiện QCDC ở cơ sở", Tạp chí Tư tưởng văn hóa, Số 66 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề đặt ra sau 2 năm thực hiệnQCDC ở cơ sở
Tác giả: Nguyễn Tiến Dũng
Năm: 2000
13. Trần Văn Đàm (2000), "Vận dụng các nguyên tắc phương pháp luận về dân chủ của Lênin để thực hiện QCDC ở cơ sở", Tạp chí Dân vận, Số 4 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vận dụng các nguyên tắc phương pháp luậnvề dân chủ của Lênin để thực hiện QCDC ở cơ sở
Tác giả: Trần Văn Đàm
Năm: 2000
14. Trương Quang Được (2000), "Những kết quả bước đầu sau 2 năm thực hiện QCDC ở cơ sở", Tạp chí Dân vận, Số 7 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những kết quả bước đầu sau 2 nămthực hiện QCDC ở cơ sở
Tác giả: Trương Quang Được
Năm: 2000
15. Tiến Hải (1998), "Chế độ một Đảng và thực thi dân chủ", Tạp chí Cộng sản, số 8 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chế độ một Đảng và thực thi dân chủ
Tác giả: Tiến Hải
Năm: 1998
17. Nguyễn Ngô Hai (2001), "Dân chủ hóa cơ sở - Một chủ trường hợp lòng dân", Tạp chí Tư tưởng Văn hóa, Số 1 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dân chủ hóa cơ sở - Một chủ trường hợplòng dân
Tác giả: Nguyễn Ngô Hai
Năm: 2001
18. Nghiêm Hưng (1997), "Dân chủ: Phương tiện hay mục đích", Tạp chí Cộng sản, Số 11 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dân chủ: Phương tiện hay mục đích
Tác giả: Nghiêm Hưng
Năm: 1997
19. Trần Duy Hương (1998), "Thực hiện quyền dân chủ của nhân dân - Những vấn đề đặt ra hiện nay", Tạp chí Quốc phòng toàn dân, Số 4 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực hiện quyền dân chủ của nhân dân -Những vấn đề đặt ra hiện nay
Tác giả: Trần Duy Hương
Năm: 1998
21. Bùi Đức Kháng (1998), "Cải cách thủ tục hành chính ở cấp xã nhằm bảo đảm dân chủ ở cơ sở", Tạp chí Thanh tra, Số 3 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cải cách thủ tục hành chính ở cấp xã nhằmbảo đảm dân chủ ở cơ sở
Tác giả: Bùi Đức Kháng
Năm: 1998
22. Đặng Xuân Kỳ (1998), "Dân chủ -Một vấn đề thuộc bản chất của Nhà nước ta", Tạp chí Quản lý Nhà nước, Số 7 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dân chủ -Một vấn đề thuộc bản chất của Nhànước ta
Tác giả: Đặng Xuân Kỳ
Năm: 1998
23. Vũ Ngọc Lân (2000), "Một số suy nghĩ sau đợt kiểm tra việc thực hiện QCDC", Tạp chí Dân vận, Số 5 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số suy nghĩ sau đợt kiểm tra việc thực hiệnQCDC
Tác giả: Vũ Ngọc Lân
Năm: 2000
24. Nguyễn Văn Mạnh (1998), "Dân chủ trực tiếp và thực hiện dân chủ trực tiếp", Tạp chí Nghiên cứu lý luận, Số 5 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dân chủ trực tiếp và thực hiện dân chủtrực tiếp
Tác giả: Nguyễn Văn Mạnh
Năm: 1998
25. Nguyễn Văn Mạnh (1999), "Thực trạng và đổi mới tổ chức, hoạt động của chính quyền cơ sở trong cải cách hành chính", Tạp chí Nghiên cứu lý luận, Số 6 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng và đổi mới tổ chức, hoạt độngcủa chính quyền cơ sở trong cải cách hành chính
Tác giả: Nguyễn Văn Mạnh
Năm: 1999
26. C.Mác và Ph.Ăngghen (1995), Toàn tập, tập 4, Nxb CTQG, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: C.Mác và Ph.Ăngghen
Nhà XB: Nxb CTQG
Năm: 1995
27. C.Mác và Ph.Ăngghen (1995), Toàn tập, tập 16, Nxb CTQG, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: C.Mác và Ph.Ăngghen
Nhà XB: Nxb CTQG
Năm: 1995
28. C.Mác và Ph.Ăngghen (1995), Toàn tập, tập 21, Nxb CTQG, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: C.Mác và Ph.Ăngghen
Nhà XB: Nxb CTQG
Năm: 1995
29. Hồ Chí Minh (2000), Toàn tập, tập 5, Nxb CTQG, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: Hồ Chí Minh
Nhà XB: Nxb CTQG
Năm: 2000

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w