Sau chiến tranh thế giới lần thứ hai, đặc biệt trong thập kỷ cuối cùng của thế kỷ XX, quan hệ kinh tế quốc tế đã có nhiều thay đổi trên cả phương diện tư duy lý luận lẫn thực tiễn. Hầu hết các nước trên thế giới đều thực hiện chính sách mở cửa, thúc đẩy thương mại và đầu tư nước ngoài phát triển. Đồng thời, tăng trưởng kinh tế của phần lớn các quốc gia trên thế giới ngày càng phụ thuộc vào thương mại quốc tế. Đặc biệt, từ đầu những năm 1980 đến nay, nhiều nước đang phát triển đã chuyển chiến lược công nghiệp hóa từ thay thế nhập khẩu sang mở cửa, hướng ngoại và thúc đẩy xuất khẩu. Những thực tế này về cơ bản đều bắt nguồn từ những thay đổi chủ yếu trong nhận thức về vai trò của các quan hệ kinh tế quốc tế nói chung và ngoại thương nói riêng đối với phát triển kinh tế.
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết và ý nghĩa của đề tài
Sau chiến tranh thế giới lần thứ hai, đặc biệt trong thập kỷ cuối cùngcủa thế kỷ XX, quan hệ kinh tế quốc tế đã có nhiều thay đổi trên cả phươngdiện tư duy lý luận lẫn thực tiễn Hầu hết các nước trên thế giới đều thực hiệnchính sách mở cửa, thúc đẩy thương mại và đầu tư nước ngoài phát triển.Đồng thời, tăng trưởng kinh tế của phần lớn các quốc gia trên thế giới ngàycàng phụ thuộc vào thương mại quốc tế Đặc biệt, từ đầu những năm 1980đến nay, nhiều nước đang phát triển đã chuyển chiến lược công nghiệp hóa từthay thế nhập khẩu sang mở cửa, hướng ngoại và thúc đẩy xuất khẩu Nhữngthực tế này về cơ bản đều bắt nguồn từ những thay đổi chủ yếu trong nhậnthức về vai trò của các quan hệ kinh tế quốc tế nói chung và ngoại thương nóiriêng đối với phát triển kinh tế
Ngay từ thập kỷ 80, Trung Quốc đã nổi lên như là một quốc gia thươngmại năng động nhất trên thế giới, bất chấp các thách thức trong quá trình mởcửa nền kinh tế ra thế giới bên ngoài Chính sách tự lực cách sinh theo tư tưởngcủa chủ nghĩa Mao đã nhường chỗ cho chính sách mở cửa thu hút đầu tư nướcngoài, xây dựng các đặc khu chế xuất ven biển, khuyến khích phát triển ngoạithương và sử dụng các khoản vay của nước ngoài để mở rộng đầu tư và đổimới kỹ thuật Kết quả là, kim ngạch xuất nhập khẩu, vốn đầu tư nước ngoài
và tổng sản phẩm quốc nội đều tăng trưởng với tốc độ cao chưa từng có trongnhiều năm liên tục Điều này đã và đang mang lại cho Trung Quốc nhiều lợiích trước mắt và lâu dài, nhưng cũng đặt những thách thức to lớn đòi hỏi nềnkinh tế phải được điều chỉnh về mặt cơ cấu trong hàng loạt lĩnh vực như nôngnghiệp, ngân hàng, bảo hiểm, dịch vụ viễn thông, công nghiệp sản xuất ô tô
Những bài học thành công và thất bại của Trung Quốc sẽ góp phầnlàm rõ hơn lý thuyết về vai trò của ngoại thương với phát triển kinh tế, đồng
Trang 2thời là những kinh nghiệm quý báu cho các quốc gia khác trong tiến trình mởcửa và phát triển kinh tế.
Việt Nam là một quốc gia đang phát triển có nhiều điểm tương đồngvới Trung Quốc về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội và trong những năm quacũng đang thực hiện đường lối đổi mới và mở cửa Những bài học kinh nghiệmcủa Trung Quốc sẽ là những đóng góp quan trọng cho việc hoạch định các chínhsách kinh tế nói chung và chính sách ngoại thương nói riêng của Việt Nam
2 Tình hình nghiên cứu
Vai trò của ngoại thương đối với phát triển kinh tế là một trong những
đề tài chủ yếu của kinh tế học phát triển trong suốt nửa cuối của thế kỷ XX.Tuy đã có nhiều công trình nghiên cứu về mối quan hệ giữa ngoại thương vàphát triển kinh tế, nhưng có thể nói những nghiên cứu này chưa đủ để khẳngđịnh tính quy luật về mối quan hệ của hai yếu tố nói trên Các công trìnhnghiên cứu khác nhau đã rút ra những kết luận khác nhau về mối quan hệ giữangoại thương và phát triển kinh tế Một số công trình nghiên cứu đã chứngminh đó là mối quan hệ cùng chiều Trong khi đó, một số công trình nghiên cứukhác lại chứng minh ngược lại hoặc cho rằng các đại lượng trên không có mốiquan hệ với nhau Một trong những nguyên nhân dẫn đến sự không thốngnhất này là các nhà nghiên cứu khác nhau đã dựa vào các nguồn tài liệu khácnhau và sử dụng các phương pháp nghiên cứu khác nhau
Đã có nhiều công trình nghiên cứu của các học giả trong và ngoàinước về sự phát triển của ngoại thương và kinh tế Trung Quốc từ khi cải cách,
mở cửa đến nay Trong đó đáng chú ý là các công trình: Viên Văn Kỳ:
Nghiên cứu mô hình phát triển mậu dịch đối ngoại Trung Quốc; Nicolas R.
Lardy: Ngoại Thương và cải cách kinh tế ở Trung Quốc 1978- 1990; Nguyễn Minh Hằng: Quan hệ kinh tế đối ngoại Trung Quốc thời kỳ mở cửa; Nguyễn Thế Tăng: Quá trình mở cửa đối ngoại của cộng hòa nhân dân Trung Hoa;
Lý Thành Luân: Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội Trung Quốc
Trang 31996-2050; Lưu Lực: Toàn cầu hóa kinh tế lối thoát của Trung Quốc là ở đâu
Những công trình này chủ yếu nghiên cứu tác động của các chính sách cảicách và mở cửa đến sự phát triển của ngoại thương và kinh tế Trung Quốc, màchưa trực tiếp bàn đến vai trò của ngoại thương đối với phát triển kinh tếTrung Quốc
Về vai trò của ngoại thương đối với phát triển kinh tế của Trung Quốc
từ khi nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa được thành lập, đặc biệt từ khi nềnkinh tế được cải cách và mở cửa đến nay, có rất nhiều bài nghiên cứu hết sứccông phu và có giá trị to lớn cả về lý luận lẫn thực tiễn Một phần trong số nhữngbài viết này đã được sử dụng làm tài liệu tham khảo cho luận án Tuy nhiên,mỗi bài viết nêu trên thường chỉ tập trung tìm hiểu vai trò của ngoại thương đốivới một, hoặc một vài khía cạnh cụ thể của phát triển kinh tế như: tăngtrưởng, cơ cấu ngành, cơ cấu sở hữu, cán cân thanh toán, việc làm, phân phốithu nhập trong một giai đoạn cụ thể của tiến trình phát triển kinh tế TrungQuốc
Cho đến nay, chưa có công trình nào nghiên cứu một cách đầy đủ và
hệ thống vai trò của ngoại thương đối với phát triển kinh tế của Trung Quốctrong thời kỳ cải cách, mở cửa nền kinh tế Đặc biệt, chưa có công trình nghiêncứu nào của các học giả Việt Nam về vấn đề này nhằm góp phần vào tiếntrình đổi mới và mở cửa nền kinh tế của nước ta Vì vậy, có thể nói đề tài củaluận án là hoàn toàn mới mẻ
3 Mục đích và đối tượng nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của luận án là: (1) Khái quát những lý thuyết vềvai trò của ngoại thương đối với phát triển kinh tế trong điều kiện của cácnước đang phát triển và phân tích vai trò của ngoại thương trong một số chiếnlược chủ yếu nhằm phát triển kinh tế (2) Rút ra các bài học kinh nghiệm củaTrung Quốc cho việc hoạch định các chủ trương chính sách phát triển ngoạithương và kinh tế Việt Nam trong tiến trình đổi mới và mở cửa
Trang 4Với mục đích trên đây đối tượng nghiên cứu của luận án là: Vai tròcủa ngoại thương đối với phát triển kinh tế của Trung Quốc Luận án chỉ tậptrung nghiên cứu một chiều của mối quan hệ giữa ngoại thương và phát triểnkinh tế của Trung Quốc Tuy vậy, chiều ngược lại, tức là tác động của pháttriển kinh tế đến ngoại thương sẽ luôn được xem xét trong chừng mực có thểnhằm phục vụ cho mục đích nghiên cứu của luận án
4 Phạm vi nghiên cứu
Về thời gian: Vai trò của ngoại thương đối với phát triển kinh tế của
Trung Quốc là vấn đề gắn liền với lịch sử phát triển kinh tế của Trung Quốc.Tuy nhiên, luận án chỉ tập trung nghiên cứu vai trò của ngoại thương từ khinền kinh tế Trung Quốc được cải cách và mở cửa với thế giới bên ngoài, tức
là từ năm 1978 đến nay Đây là giai đoạn cả ngoại thương lẫn kinh tế TrungQuốc đều phát triển hết sức mạnh mẽ dưới tác động của các chính sách cảicách và mở cửa
Về nội dung: Vai trò của ngoại thương đối với phát triển kinh tế của
Trung Quốc là một vấn đề rộng lớn và phức tạp có liên quan đến nhiều mặt,nhiều khía cạnh của nền kinh tế Vì vậy, luận án chỉ tập trung vào tác độngcủa ngoại thương đến tăng trưởng kinh tế, thu hút đầu tư nước ngoài, cácngành kinh tế chủ chốt, các doanh nghiệp nhà nước và việc phân phối thunhập trong nền kinh tế
5 Phương pháp nghiên cứu
Trong luận án, các phương pháp nghiên cứu khoa học xã hội nóichung và kinh tế học nói riêng được sử dụng để nghiên cứu vai trò của ngoạithương đối với phát triển kinh tế Trung Quốc từ khi cải cách, mở cửa đến nay.Ngoài ra, luận án còn sử dụng phương pháp thống kê kinh tế, tổng hợp thựctiễn, kết hợp với phân tích so sánh để minh họa cho các luận điểm, rút ra cácnhận xét và tạo cơ sở cho các dự báo về triển vọng phát triển kinh tế Ngày
Trang 5nay, các vấn đề kinh tế thường chịu tác động của các quan điểm chính trị Do
đó, luận án còn tiếp cận về chính trị và thể chế để làm sáng tỏ vấn đề nghiêncứu
6 Đóng góp của luận án
Thông qua nhận thức về vai trò của ngoại thương đối với phát triểnkinh tế của Trung Quốc từ khi cải cách và mở cửa đến nay, luận án có nhữngđóng góp mới cơ bản sau:
- Đưa ra một trường hợp nghiên cứu cụ thể, trên cơ sở đó làm rõ hơn
lý thuyết về vai trò của ngoại thương đối với phát triển kinh tế trong điều kiệncủa các nước đang phát triển và trong một số chiến lược chủ yếu nhằm pháttriển kinh tế
- Nêu lên một kinh nghiệm quốc tế cập nhật, nóng hổi về vai trò củangoại thương đối với phát triển kinh tế và một số gợi ý, khuyến nghị cho việchoạch định các chủ trương chính sách phát triển ngoại thương và kinh tế ViệtNam trong tiến trình đổi mới và mở cửa
7 Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận ángồm 4 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về vai trò của ngoại thương đối
với phát triển kinh tế Trung Quốc
Chương 2: Ngoại thương qua các giai đoạn cải cách và mở cửa nền
kinh tế Trung Quốc
Chương 3: Tác động của ngoại thương đến phát triển kinh tế Trung
Quốc
Chương 4: Một số kinh nghiệm về sử dụng ngoại thương để phát triển
kinh tế Trung Quốc
Trang 6Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ VAI TRÒ CỦA NGOẠI THƯƠNG
ĐỐI VỚI PHÁT TRIỂN KINH TẾ TRUNG QUỐC
Vai trò của ngoại thương đối với phát triển kinh tế của Trung Quốcsau cải cách, mở cửa là vấn đề có bề dày về cơ sở lý luận và thực tiễn
Trên thế giới, các ý tưởng về vai trò của ngoại thương đối với pháttriển kinh tế đã xuất hiện từ thế kỷ 16 cùng với những người theo Chủ nghĩatrọng thương ở châu Âu, sau đó đã phát triển mạnh vào thế kỷ 18 và 19, khingoại thương ngày càng đóng vai trò quan trọng đối với tăng trưởng kinh tếcủa mỗi quốc gia Các nhà kinh tế học thời đó như Adam Smith, DavidRicardo và John Stuart Mill đã đóng góp nhiều quan điểm sâu sắc mà giờ đâyvẫn còn nguyên giá trị Ngày nay, ngoại thương càng được quan tâm nhiềuhơn vì sự phát triển của giao thông vận tải và thông tin liên lạc hiện đại đã vàđang tạo ra nhiều điều kiện tốt hơn giúp các nước thực hiện thuận lợi các mốiquan hệ kinh tế quốc tế Đã có những tranh cãi quyết liệt giữa những ngườixuất phát từ những lợi ích khác nhau và ủng hộ ngoại thương ở các mức độkhác nhau
Ở Trung Quốc, lịch sử phát triển kinh tế nói chung và ngoại thươngnói riêng cũng gắn liền với các quan điểm của nhiều nhà tư tưởng và nhiều nhàlãnh đạo của đất nước
1.1 MỘT SỐ KHÁI NIỆM CƠ BẢN
Để nghiên cứu cơ sở lý luận của mối quan hệ giữa ngoại thương vớităng trưởng và phát triển kinh tế, trước hết cần hiểu rõ một số khái niệm cơ
Trang 7bản như: ngoại thương, tăng trưởng kinh tế, phát triển kinh tế và một số kháiniệm khác trong lĩnh vực kinh tế đối ngoại và quan hệ kinh tế quốc tế
1.1.1 Ngoại thương
Ngoại thương hiểu theo nghĩa phổ biến nhất là phạm trù kinh tế phảnánh sự trao đổi hàng hóa giữa nước này với nước khác thông qua các hoạtđộng bán và mua (gọi là xuất khẩu - nhập khẩu) [57]
Hai điều kiện tiền đề sinh ra ngoại thương là:
- Sự tồn tại, phát triển của kinh tế hàng hóa và tư bản thương nghiệp
- Sự hình thành nhà nước và sự phát triển phân công lao động quốc tếgiữa các nước
Trong lịch sử phát triển kinh tế, ngoại thương đã xuất hiện từ các thờiđại cổ xưa, dưới chế độ Nhà nước chiếm hữu nô lệ Lúc này, do kinh tế tự nhiên,
tự cấp tự túc còn chiếm địa vị thống trị, nên ngoại thương chỉ được thực hiện vớiquy mô rất nhỏ, hẹp Lưu thông hàng hóa quốc tế chỉ chiếm một phần nhỏ tổngsản phẩm và chủ yếu để phục vụ cho tiêu dùng cá nhân của giai cấp thống trịđương thời Chỉ đến thời đại tư bản chủ nghĩa, ngoại thương mới phát triển rộngrãi và trở thành động lực phát triển quan trọng của phương thức sản xuất tư bảnchủ nghĩa Đó là do sản xuất hàng hóa tư bản chủ nghĩa phát triển với quy môngày càng lớn và mục đích là không ngừng tăng lợi nhuận Nếu như thời kỳ đầu,
ở các thế kỷ 16 - 17 tham gia vào thương mại quốc tế chỉ có số ít các nước tưbản chủ nghĩa phát triển, dần dần do sự phát triển mạnh mẽ của lực lượng sảnxuất và xu thế quốc tế hóa đời sống kinh tế thế giới, ngày càng có nhiều nước ởnhiều trình độ phát triển kinh tế - xã hội khác nhau thuộc nhiều khu vực lãnhthổ khác nhau cùng tham gia vào thương mại quốc tế Ngày nay, thương mạiquốc tế đã trở thành hoạt động kinh tế đối ngoại cơ bản, phản ánh tính chất, trình
độ và quy mô mở cửa phát triển nền kinh tế hướng ngoại của mỗi quốc gia trênthế giới
Trang 81.1.2 Tăng trưởng kinh tế
Tăng trưởng kinh tế là phạm trù kinh tế diễn tả động thái biến đổi vềmặt lượng của nền kinh tế của một quốc gia Nó phản ánh quá trình gia tănggiá trị tổng sản lượng hàng hóa dịch vụ của quốc gia đó, cùng với sự gia tănggiá trị tổng sản lượng trên đầu người
Các chỉ số về tổng sản phẩm quốc dân (GNP), tổng sản phẩm quốc nội(GDP), sản phẩm quốc nội thuần túy (NDP), tổng thu nhập quốc dân (GNI),thu nhập quốc nội thuần túy (NDI), thu nhập quốc dân thuần túy (NNI) vàtổng sản lượng gộp (GO) được dùng để đo lường kết quả sản xuất xã hội hàngnăm và cũng phản ánh tương đối chính xác về quy mô, tốc độ tăng trưởngkinh tế hàng năm
1.1.3 Phát triển kinh tế
Phát triển kinh tế là phạm trù kinh tế diễn tả động thái biến đổi về chấtcủa một nền kinh tế - xã hội Nếu tăng trưởng kinh tế về cơ bản chỉ là sự giatăng thuần túy về lượng của GDP, GDP/đầu người hay GNP, GNP/đầu người,thì phát triển kinh tế không những bao hàm quá trình gia tăng đó, mà cònphản ánh rộng lớn, sâu sắc hơn những biến đổi căn bản của nền kinh tế - xãhội như sự dịch chuyển cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đạihóa, trình độ phát triển văn minh xã hội (thu nhập thực tế, tuổi thọ trung bình,
tỷ lệ chết của trẻ sơ sinh, trình độ học vấn, bảo vệ môi trường) và khả năng ápdụng các thành tựu khoa học - kỹ thuật vào kinh tế Xét đến cùng, phát triểnkinh tế chính là quá trình xã hội thỏa mãn các nhu cầu vật chất, tinh thần vớitrình độ phát triển hiện có
1.1.4 Các chỉ số thể hiện vai trò của ngoại thương đối với tăng trưởng kinh tế
Trang 9Hoạt động xuất nhập khẩu góp phần làm thay đổi các chỉ số cơ bản vềtăng trưởng kinh tế như: tổng sản phẩm quốc nội (GDP), tổng sản phẩm quốcdân (GNP), tổng thu nhập quốc dân (GNI) Vì lí do này, nhiều quốc gia trênthế giới đã sử dụng các chỉ số dưới đây để thể hiện mức độ mở cửa của nền kinh
tế và vai trò của ngoại thương đối với phát triển kinh tế Đó là các chỉ số về tỉ
lệ phần trăm của: tổng kim ngạch xuất khẩu trong tổng sản phẩm quốc nội(XK/ GDP), tổng kim ngạch nhập khẩu trong tổng sản phẩm quốc nội (NK/GDP), tổng kim ngạch xuất khẩu trong tổng thu nhập quốc gia (XK/ GNI),tổng kim ngạch nhập khẩu trong tổng thu nhập quốc gia (XK/ GNI) Trongcác trường hợp cán cân thương mại có khả năng đạt mức cân bằng, các chỉ sốnhư (XK+NK)/ 2 GDP, (XK + NK)/ 2 GNI cũng được dùng để thể hiện vaitrò của ngoại thương đối với tăng trưởng kinh tế
Các nước đang phát triển thường có cán cân thương mại âm (-) donhập khẩu nhiều hơn xuất khẩu Vì vậy, ở các nước này chỉ số NK/GDPthường lớn hơn chỉ số XK/GDP Điều này không cho phép sử dụng các chỉ số(XK + NK)/2 GDP, (XK + NK)/ 2 GNI, mà buộc phải sử dụng các chỉ số XK/ GDP), NK/ GDP, XK/ GNI), XK/ GNI
Do mức độ mở cửa còn hạn chế nên ở các nước đang phát triển giữacác chỉ số GDP, GNP và GNI chưa có khác biệt lớn về lượng tuyệt đối Để đơngiản cách tính toán và áp dụng các chỉ số nói trên, nhiều quốc gia đã thốngnhất: mức độ mở cửa của một nền kinh tế được tính bằng tỉ lệ phần trăm (%)của tổng kim ngạch xuất khẩu trong tổng sản phẩm quốc nội của quốc gia đó(XK / GDP) Kinh nghiệp phát triển nền kinh tế mở cửa các nước cho thấy:
Hệ số mở dưới 5%: Nền kinh tế mở cửa rất yếu
Hệ số mở từ 5% đến 10%: Nền kinh tế mở cửa yếu
Hệ số mở từ 11% đến 15%: Nền kinh tế mở cửa trung bình
Hệ số mở từ 16% đến 20%: Nền kinh tế mở cửa khá mạnh
Trang 10Các chỉ số trên đây được sử dụng khá phổ biến khi đánh giá vai tròcủa ngoại thương và mức độ mở cửa nền kinh tế Tuy nhiên, việc đánh giá chỉdựa trên các hoạt động xuất nhập khẩu, nên kết quả chỉ có độ chính xác tươngđối Để khắc phục hạn chế này, một số năm gần đây Ủy ban kinh tế - xã hộiChâu Á - Thái Bình Dương thuộc Liên hợp quốc đề nghị nên kết hợp các chỉ
số nói trên với một số thước đo khác liên quan đến mức độ mở cửa về tàichính và thu hút vốn đầu tư nước ngoài Việc tính toán các thước đo này rấtphức tạp Hơn thế, các số liệu thống kê của Trung Quốc không đủ để thựchiện các tính toán đó Vì thế, trong luận án chúng tôi vẫn sử dụng chỉ số XK/GDP để phân tích mức độ mở cửa của nền kinh tế Trung Quốc
1.2 MỘT SỐ QUAN ĐIỂM TRUYỀN THỐNG VỀ VAI TRÒ CỦA NGOẠI THƯƠNG
1.2.1 Quan điểm của các nhà kinh tế học trọng thương
Chủ nghĩa trọng thương ra đời vào cuối thế kỷ thứ XV, phản ánh nhucầu tích lũy tiền tệ và mở rộng thị trường của các nước Tây Âu trong thời kỳchế độ phong kiến tan rã và sản xuất tư bản chủ nghĩa ra đời Các nhà kinh tếhọc trọng thương rất coi trọng tiền tệ và thương nghiệp, đặc biệt là ngoạithương Họ cho rằng, ngoài việc khai thác mỏ để lấy vàng, ngoại thương lànguồn duy nhất để tăng thêm của cải Do vậy, để tăng thêm của cải của đấtnước, nhà nước phải khuyến khích xuất khẩu, hạn chế nhập khẩu Chủ nghĩatrọng thương phát triển mạnh vào thế kỷ 16 và 17 với tác phẩm tiêu biểu củaThomas Mun nhan đề "Sự giàu có của nước Anh là do buôn bán với nướcngoài" [109, tr 24-53]
Quan điểm đề cao vai trò của ngoại thương đã có những đóng góp tíchcực cho sự phát triển của kinh tế thế giới trong giai đoạn tư bản thươngnghiệp xuất hiện, trở thành hình thái tồn tại tự do đầu tiên của tư bản nói
Trang 11chung Lúc này, nhu cầu tích lũy nguyên thủy của tư bản trở nên bức báchhơn mọi nhu cầu khác
Tuy nhiên, chủ nghĩa trọng thương còn nhiều hạn chế như: chưa thấyđược nguồn gốc thực sự của của cải bắt nguồn từ lao động và các quốc giakhông thể đồng thời cùng đạt được số dư thương mại Một quốc gia xuất khẩunhiều hơn nhập khẩu chắc chắn sẽ khiến cho một hoặc nhiều quốc gia khác phảinhập khẩu nhiều hơn xuất khẩu Vì vậy, các nhà trọng thương chủ nghĩa đãbiện hộ cho việc quản lý nghiêm ngặt của nhà nước về tất cả các hoạt độngkinh tế, đồng thời tuyên truyền cho chủ nghĩa dân tộc về kinh tế và luôn luôntin tưởng rằng một dân tộc chỉ có thể đạt được lợi ích trong ngoại thương khi
có một hoặc một số dân tộc khác bị mất đi lợi ích đó Ngày nay, khi nhiềunước đang tìm cách hạn chế nhập khẩu nhằm bảo vệ và thúc đẩy sản xuấttrong nước thì chủ nghĩa trọng thương đã bắt đầu xuất hiện trở lại ở một sốkhu vực trên thế giới
1.2.2 Thương mại dựa trên lợi thế tuyệt đối: quan điểm của Adam Smith
Adam Smith [69] đã bắt đầu công việc nghiên cứu của ông từ một sựthật đơn giản: Hai quốc gia chỉ tự nguyện buôn bán với nhau khi cả hai quốcgia đó đều có lợi Nếu không có lợi hoặc bị thua thiệt, chắc chắn các quốc gia
sẽ từ chối quan hệ thương mại với nhau Câu hỏi đặt ra là quan hệ buôn bánđôi bên cùng có lợi đã diễn ra như thế nào và do đâu mà các nước tham giathương mại cùng đạt được lợi ích?
Theo Adam Smith, buôn bán giữa hai nước dựa trên lợi thế tuyệt đốicủa mỗi nước Khi một nước có lợi thế tuyệt đối lớn hơn so với một nướckhác trong việc sản xuất một loại sản phẩm nào đó, nhưng kém lợi thế hơntrong việc sản xuất một loại sản phẩm khác, cả hai nước đều có thể đạt đượclợi ích bằng cách mỗi nước chỉ tập trung nguồn lực để sản xuất loại sản phẩm
Trang 12mà nước đó có lợi thế tuyệt đối và trao đổi một phần sản phẩm của họ vớinước thứ hai để đổi lấy loại sản phẩm mà họ không có lợi thế tuyệt đối Theoquá trình này, các nguồn lực được tập trung một cách có hiệu quả nhất và sốlượng sản phẩm của cả hai loại hàng hóa được sản xuất ra đều tăng lên Sốlượng sản phẩm tăng thêm đó chính là lợi ích đạt được nhờ chuyên môn hóasản xuất Chúng được chia cho mỗi nước thông qua ngoại thương
Như vậy, trong khi những người theo chủ nghĩa trọng thương tin rằng,một quốc gia chỉ có thể đạt được lợi ích nhờ có sự hy sinh lợi ích của mộtquốc gia khác, thì Adam Smith và nhiều nhà kinh tế học cổ điển khác lại tinrằng, mọi quốc gia đều có thể đạt được lợi ích từ tự do thương mại, vì nó tạođiều kiện để mọi nguồn lực trên thế giới đều được sử dụng một cách hiệu quảnhất Quan điểm này dường như không phản ánh đúng tình hình thế giới hiệnnay khi nhiều quốc gia vẫn đang áp dụng các biện pháp nhằm hạn chế tự dothương mại Các biện pháp này được sự ủng hộ của một số ngành nghề trongnước đang chịu sự cạnh tranh của các hàng hóa nhập khẩu, nhưng lại khiếnnhiều người phải mua hàng hóa được sản xuất trong nước với giá cao hơn sovới các hàng hóa được nhập khẩu tự do Nói cách khác, quan điểm của AdamSmith về lợi thế tuyệt đối chỉ giải thích được một phần quan hệ buôn bán hiệnnay trên thế giới Đó là quan hệ giữa các nước phát triển và các nước đangphát triển Hầu hết các quan hệ buôn bán trên thế giới, đặc biệt là quan hệgiữa các nước phát triển, đều không thể giải thích được bằng quan điểm này
1.2.3 Thương mại dựa trên lợi thế so sánh: Quan điểm của Ricardo
Năm 1817 Ricardo [77] cho xuất bản tác phẩm của ông nhan đề "Cácnguyên lý của kinh tế chính trị và thuế", trong đó ông trình bày các quy luật
về lợi thế so sánh Đây là một trong các quy luật quan trọng nhất của kinh tếhọc Theo quy luật này, thậm chí một nước kém hiệu quả hơn so với mộtnước khác trong việc sản xuất các loại hàng hóa, nước đó vẫn có lợi trongquan hệ buôn bán với nước thứ hai Quốc gia này nên tập trung vào việc sản
Trang 13xuất và xuất khẩu loại hàng hóa có bất lợi tuyệt đối ít hơn và nhập khẩu hànghóa có bất lợi tuyệt đối lớn hơn
Năm 1951 và 1952 mô hình ngoại thương của Ricardo lần đầu tiên đãđược MacDougall kiểm nghiệm lại bằng cách so sánh một số ngành của Mỹvới những ngành tương tự của Anh trong năm 1937 Kết quả cho thấy, ngànhnào có năng suất lao động cao hơn sẽ có tỉ lệ hàng xuất khẩu lớn hơn Kếtluận này đã được Balassa và Stern khẳng định lại một lần nữa bằng nhữngkiểm nghiệm mới có sử dụng các số liệu của năm 1950 và 1959
Lý thuyết về lợi thế so sánh khuyên các quốc gia phải tính toán hiệuquả kinh tế trước khi quyết định phát triển một mặt hàng nào đó Tuy nhiên,trên thực tế, hầu hết các nước đang phát triển không được quyền lựa chọn, màphải chấp nhận phân công lao động quốc tế Theo đó, những nước này có thểtiếp tục là nguồn cung cấp nguyên liệu, nông phẩm, khoáng sản, đồng thời lànơi tiêu thụ hàng công nghiệp cho các nước phát triển
1.2.4 Lý thuyết tân cổ điển về tự do thương mại
Lý thuyết lợi thế so sánh của các nhà kinh tế học cổ điển về tự dothương mại là một mô hình tĩnh, chỉ dựa trên chi phí lao động để giải thích lợithế so sánh của mỗi quốc gia Theo lý thuyết này, giá trị hoặc giá cả của mộthàng hóa hoàn toàn phụ thuộc vào số lượng lao động được sử dụng để sảnxuất hàng hóa đó Như vậy lao động được coi là yếu tố duy nhất của sản xuất
và chúng được sử dụng với cùng một tỉ lệ nhất định trong việc sản xuất tất cảcác hàng hóa Điều này không đúng trên thực tế và vì vậy không thể lấy nólàm cơ sở cho lý thuyết về lợi thế so sánh
Hạn chế trên đây của lý thuyết về lợi thế so sánh đã được khắc phụcvào đầu thế kỷ XX Đó là nhờ kết quả nghiên cứu của Eli Hecksher và BerilOhlin, hai nhà kinh tế học người Thụy điển [81], [71] Trong lý thuyết củamình, hai ông đã tính đến sự tham gia với những tỉ lệ khác nhau của các yếu
Trang 14tố sản xuất như đất đai, lao động và máy móc, thiết bị vào việc sản xuất sảnphẩm khác nhau Lý thuyết của Hecksher-Ohlin hay còn gọi là lý thuyết tân
cổ điển về ngoại thương có thể giúp chúng ta phân tích được ảnh hưởng của tăngtrưởng kinh tế đến các hình thức ngoại thương và ngược lại, ảnh hưởng củangoại thương đến cơ cấu kinh tế trong nước và đến mức chi phí của các yếu tốsản xuất khác nhau Trong mô hình lý thuyết của mình, các nhà tân cổ điển đãgiả định các nước đều có trình độ kỹ thuật như nhau trong việc sản xuất mọihàng hóa Nếu giá cả của các yếu tố sản xuất là như nhau, thì các nước sẽ sửdụng các phương pháp sản xuất giống nhau và vì thế sẽ có sự giống nhau về tỉ lệgiá cả của các hàng hóa trong nước Như vậy, cơ sở của ngoại thương khôngphải là sự khác biệt về năng suất lao động giữa các nước, mà là sự khác biệt vềcác yếu tố sản xuất sẵn có ở mỗi nước Sự khác biệt đó đã dẫn đến sự khácbiệt giữa các nước về giá cả của cùng một yếu tố sản xuất, cũng như của cùngmột loại hàng hóa nào đó Trong việc sản xuất những hàng hóa cần sử dụngnhiều lao động, các nước có nguồn lao động dồi dào sẽ có lợi thế hơn về giáthành so với các nước khan hiếm lao động Vì vậy, những nước có ưu thế vềlao động nên chuyên vào việc sản xuất các sản phẩm cần sử dụng nhiều laođộng, sau đó xuất khẩu một phần sản phẩm được sản xuất ra Đồng thời nhậpkhẩu các hàng hóa đòi hỏi sử dụng nhiều vốn hơn (tức là các hàng hóa đòi hỏi
sử dụng nhiều hơn các yếu tố sản xuất như đất đai và máy móc, thiết bị) Tráilại, những quốc gia có nguồn vốn dồi dào sẽ có lợi thế về giá thành trong việcsản xuất các sản phẩm đòi hỏi nhiều vốn hơn so với lao động Những quốc gianày sẽ có lợi nếu họ chuyên vào việc sản xuất các sản phẩm chế tạo đòi hỏinhiều vốn, sau đó xuất khẩu một phần sản phẩm làm ra, đồng thời nhập khẩusản phẩm cần nhiều lao động từ các nước có lao động rẻ Ở đây, ngoại thương
đã trở thành phương tiện để một quốc gia có thể phát huy được lợi thế vềnhững nguồn lực sẵn có bằng cách tập trung vào việc sản xuất và xuất khẩucác sản phẩm đòi hỏi nhiều nguồn lực sẵn có đó, đồng thời giảm bớt tình
Trang 15trạng thiếu những nguồn lực khan hiếm, bằng cách nhập khẩu các hàng hóađòi hỏi phải sử dụng một lượng lớn các nguồn lực khan hiếm đó mới có thểsản xuất được
Tóm lại, lý thuyết tân cổ điển đã dựa trên hai tiền đề quan trọng
Một là, các sản phẩm khác nhau đòi hỏi các yếu tố sản xuất phải được
kết hợp theo những tỉ lệ tương đối khác nhau Thí dụ, tỉ lệ lao động trên vốncủa các sản phẩm nông nghiệp thường lớn hơn so với tỉ lệ đó của các sảnphẩm chế tạo Trong khi đó, việc sản xuất các sản phẩm chế tạo lại đòi hỏithời gian sử dụng máy của mỗi công nhân nhiều hơn so với thời gian gian sửdụng máy để sản xuất các sản phẩm thô
Hai là, các nước có những thế mạnh khác nhau về các yếu tố sản xuất.
Một số quốc gia, như Mỹ, có số vốn bình quân đầu người rất lớn, vì vậy đượccoi là quốc gia có ưu thế về vốn Những nước khác như Ấn Độ, Ai Cập,Colombia có ít vốn nhưng lại nhiều lao động, vì vậy được coi là những quốcgia có thế mạnh về lao động Nhìn chung, các nước phát triển là những nước
có thế mạnh về vốn, trong khi đó phần lớn các nước đang phát triển lại lànhững nước có ưu thế về lao động
Lý thuyết tân cổ điển tiếp tục lập luận rằng, các quốc gia có ưu thế vềvốn sẽ có xu hướng tập trung vào việc sản xuất các sản phẩm như ô tô, máybay, các sản phẩm điện tử viễn thông, máy tính Đó là các sản phẩm đòi hỏi
sử dụng nhiều vốn trong công nghệ sản xuất Những quốc gia này sẽ xuấtkhẩu một phần sản phẩm của mình để đổi lấy những sản phẩm sử dụng nhiềulao động hoặc đất đai hơn như lương thực, vật liệu thô, khoáng sản được sảnxuất ở những quốc gia có ưu thế về lao động và đất đai Lý thuyết này cũngkhuyến khích các quốc gia đang phát triển tập trung vào việc sản xuất và xuấtkhẩu các sản phẩm thô đòi hỏi sử dụng nhiều lao động hoặc đất đai Lí do là,
Trang 16nhờ trao đổi các sản phẩm thô lấy các sản phẩm chế tạo, các nước đang pháttriển có thể biến các lợi ích tiềm năng to lớn thành hiện thực
Kết luận chính của lý thuyết tân cổ điển về tự do thương mại là: Mọiquốc gia đều có lợi nhờ ngoại thương và tổng sản phẩm hàng hóa trên thế giớicũng nhờ đó mà tăng lên Tuy nhiên, cần lưu ý một số điểm sau đây:
Thứ nhất, càng nhiều nguồn lực trong nước được huy động để sản
xuất một hoặc một số loại sản phẩm nào đó, thì chi phí cơ hội của việc sảnxuất đó sẽ càng lớn Vì vậy, chuyên môn hóa một cách tuyệt đối sẽ khôngdiễn ra trên thực tế giống như đã được mô tả trong mô hình lý thuyết về lợithế so sánh
Thứ hai, giả định các nước trên thế giới có trình độ kỹ thuật sản xuất
như nhau, khi đó sự ngang bằng giữa tỉ giá hàng hóa trong nước và tỉ giá hànghóa được mua bán tự do trên thế giới sẽ có xu hướng tạo ra sự ngang bằnggiữa các nước về giá cả của các yếu tố sản xuất Thí dụ, trong các nước có ưuthế về lao động, tiền lương sẽ tăng lên nếu càng ngày càng cần thêm lao động
để sản xuất thêm các sản phẩm nông nghiệp Trong khi đó giá cả của các yếu
tố như đất đai và máy móc thiết bị sẽ ngày càng giảm xuống, cùng với sựgiảm xuống của việc sản xuất các sản phẩm chế tạo Trái lại, trong các nước
có ưu thế về vốn, giá cả của các yếu tố sản xuất như đất đai và máy móc thiết
bị sẽ tăng lên khi chúng được huy động với số lượng ngày càng lớn vào việcsản xuất các sản phẩm chế tạo
Với những kết luận trên đây, lý thuyết tân cổ điển đã tiên đoán rằng:mức tiền lương thực tế và các mức chi phí sản xuất khác sẽ có xu hướngngang bằng giữa các nước trên thế giới Đây cũng là một trong những nhượcđiểm lớn nhất của lý thuyết này, vì những gì đang diễn ra trên thực tế hoàntoàn trái ngược với những lời tiên đoán đó
Trang 17Thứ ba, lý thuyết tân cổ điển tiên đoán: Ngoại thương sẽ góp phần cải
thiện bất bình đẳng về thu nhập trong mỗi quốc gia Lí do là, ngoại thương đãtạo điều kiện để các nguồn lực sẵn có được sử dụng nhiều hơn Nhờ đó thunhập của những người chủ các nguồn lực sẵn có sẽ tăng lên nhanh hơn so vớithu nhập của những người chủ các nguồn lực khan hiếm Thí dụ, trong cácnước đang phát triển, nơi mà lao động được coi là nguồn lực sẵn có, thu nhậpcủa người lao động sẽ tăng lên nhanh hơn so với thu nhập của những ngườichủ đất đai hoặc máy móc thiết bị Kết quả là khoảng cách về thu nhập giữanhững người chủ các nguồn lực khác nhau đó sẽ dần được thu hẹp lại
Cuối cùng, ngoại thương được coi là nhân tố kích thích tăng trưởngkinh tế, vì nó tạo điều kiện để các quốc gia có thể mở rộng khả năng tiêu thụsản phẩm của mình, đồng thời mua được các yếu tố sản xuất từ các nước khácvới giá rẻ hơn trong nước
1.2.5 Lý thuyết về ngoại thương trong điều kiện của các quốc gia đang phát triển
Như phần trên đã trình bày, quan điểm truyền thống dựa trên lý thuyết
cổ điển và tân cổ điển về ngoại thương cho rằng: Ngoại thương là động lựccủa tăng trưởng kinh tế vì nó cho phép các nước có thể đẩy mạnh sản xuất cảhàng tiêu dùng lẫn tư liệu sản xuất nhờ chuyên môn hóa và phân phối nguồnlực một cách có hiệu quả Vì vậy, thay vì hạn chế các hoạt động ngoạithương, các nước đang phát triển cần tiến hành tự do thương mại thông quaviệc sản xuất các sản phẩm các nước này có lợi thế so sánh [72] Lý thuyếtnày cũng lập luận rằng, tự do thương mại sẽ góp phần làm giảm giá cả hànghóa và dịch vụ, nhờ đó mức sống của người dân được nâng cao
Tuy nhiên, trong những năm gần đây, lý thuyết cổ điển và đặc biệt là
lý thuyết tân cổ điển đã bị nhiều lý thuyết khác về ngoại thương phê phán
Trang 18Thứ nhất, người ta đặt ra nhiều câu hỏi về tính thích hợp của lý thuyết
ngoại thương truyền thống trong bối cảnh của các nước đang phát triển Cáckết luận của lý thuyết này đã được rút ra từ một loạt giả thiết không chínhxác, thậm chí trái ngược với những điều kiện thực tế của các mối quan hệkinh tế quốc tế hiện nay Vì vậy, những kết luận đó thường xa lạ với các hoạtđộng ngoại thương đã và đang được thực hiện bởi nhiều quốc gia đang phát triển[100] Thể hiện:
(1) Hạt nhân của toàn bộ lý thuyết truyền thống về ngoại thương và tàichính là giả thiết cho rằng, nguồn lực của mỗi quốc gia là cố định về số lượng
và không khác nhau về chất lượng Chúng được huy động một cách đầy đủ và
có tác dụng như nhau trong việc sản xuất các sản phẩm giống nhau Trong khi
đó trên thực tế, các yếu tố sản xuất luôn thay đổi cả về số lượng lẫn chất lượng
(2) Giả thiết cho rằng, không có các dòng chảy của các yếu tố sản xuất
từ nước này sang nước khác Điều này không phản ánh các quá trình chuchuyển vốn giữa các nước phương Tây thế kỷ 19 và sự ra đời của các tổ chức
đa quốc gia khổng lồ trong hai thập kỷ qua
(3) Giả thiết cho rằng, giữa các quốc gia không có sự khác biệt về kỹthuật sản xuất là hoàn toàn không đúng, vì trên thực tế các nước phát triểnđang là chủ sở hữu của hầu hết các kỹ thuật sản xuất tiên tiến và điều này đãảnh hưởng mạnh mẽ đến hoạt động ngoại thương của nhiều quốc gia đangphát triển Chẳng hạn, hơn 20 năm qua các vật liệu thay thế cho các sản phẩm
tự nhiên như cao su, gỗ, bông, đay, da đã được sản xuất với số lượng ngàycàng tăng Điều này khiến cho thị phần của các nước đang phát triển về cácsản phẩm tự nhiên đã giảm xuống đáng kể
(4) Giả thiết cho rằng, các quốc gia có thể điều chỉnh cơ cấu kinh tếphù hợp với những thay đổi về thị trường và giá cả trên thế giới là một điềurất khó thực hiện trên thực tế, đặc biệt là trong các nền kinh tế đang phát triển.Thật vậy, đa số các nền kinh tế đang phát triển là những nền kinh tế bị phụ
Trang 19thuộc nhiều vào việc xuất khẩu một số sản phẩm thô Ở đây, phần lớn cáckhoản vốn đều được đầu tư vào các cơ sở sản xuất hàng xuất khẩu (như cácđồn điền và các nông trang nhỏ vừa sản xuất vừa tiêu thụ sản phẩm) và cơ sở
hạ tầng (bao gồm đường bộ, đường sắt, hệ thống thông tin liên lạc, hệ thốngđiện, nước, ngân hàng được xây dựng nhằm phục vụ các hoạt động xuấtkhẩu) Số vốn này rất khó được chuyển sang cho các hoạt động sản xuất khác
Vì vậy, quốc gia nào càng bị phụ thuộc vào việc xuất khẩu một số sản phẩmthô, cơ cấu kinh tế của quốc gia đó càng trở nên cứng nhắc và ít khả năngthích ứng với những thay đổi bất thường trên thị trường quốc tế Trên thực tế,nhiều nước đang phát triển đã cố gắng điều chỉnh cơ cấu ngành, mở rộng sảnxuất sang các ngành công nghiệp sử dụng nhiều lao động và có chi phí sảnxuất thấp như ngành dệt, giầy dép, dụng cụ thể thao, túi sách Nhưng các sảnphẩm này thường rất khó xuất khẩu sang các nước phát triển, vì gặp phải cáchàng rào thuế quan mậu dịch và phi mậu dịch Theo ước tính của Ngân hàngthế giới, hàng năm các nước đang phát triển phải chi khoảng 75 tỉ đô la chocác khoản thuế xuất khẩu hàng hóa [89]
Thứ hai, ở các nước đang phát triển, cơ cấu cứng nhắc và sự không
hoàn hảo của thị trường đã khiến cho cơ chế giá cả được đưa ra trong lýthuyết tân cổ điển không thể phát huy tác dụng đúng như mô hình lý thuyếtcủa nó
Thứ ba, nhiều nhà kinh tế cho rằng, tự do thương mại không phải lúc
nào cũng làm tăng phúc lợi kinh tế, trái lại trong một số hoàn cảnh có thể tạo
ra tình trạng bần cùng hóa Từ đó các nhà kinh tế đề nghị nên có sự can thiệpnhất định của nhà nước [90]
Thứ tư, những người theo chủ nghĩa cấp tiến hay còn gọi là các nhà
mác-xít mới (như Baran, 1957; Leys 1975; Cardoso và Faletto, 1979; Do Santot,1973) đã lập luận rằng trong thời kỳ thuộc địa, hầu hết các hoạt động liên
Trang 20quan đến thương mại ở nhiều nước đang phát triển đều nhằm phục vụ cho lợiích của tư bản nước ngoài Nói cách khác, buôn bán giữa các nước đang pháttriển và các nước phát triển đã được sử dụng như một công cụ để chuyển giátrị thặng dư từ các nước đang phát triển sang các nước phát triển Trong lịch
sử, các nước đang phát triển đã xuất khẩu nhiều nguyên, nhiên, vật liệu thôsang các nước phát triển (và hầu hết các hàng hóa này được sản xuất tạinhững cơ sở sản xuất của người nước ngoài), đồng thời nhập khẩu các sảnphẩm chế tạo Đây là nguyên nhân dẫn đến tình trạng phụ thuộc của các nướcthuộc địa vào các nước chính quốc Những người theo chủ nghĩa cấp tiến nhưColman, Nixon (1986) và Palma (1978) chứng minh rằng: Tình trạng phụ thuộcnày đã làm chậm tốc độ tăng trưởng kinh tế trong các nước đang phát triển
1.3 VAI TRÒ CỦA NGOẠI THƯƠNG TRONG MỘT SỐ CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN KINH TẾ
Thực tiễn phát triển kinh tế thế giới trong nhiều thập niên vừa qualuôn đứng trước câu hỏi là nên phát triển kinh tế hướng nội (công nghiệp hóahướng nội) hay phát triển kinh tế hướng ngoại (công nghiệp hóa hướngngoại) Liên quan trực tiếp đến hai kiểu mô hình này là các chiến lược ngoạithương khác nhau Đó là: thay thế nhập khẩu, xuất khẩu sản phẩm thô và sơchế, công nghiệp hóa hướng về xuất khẩu và chiến lược phát triển hỗn hợp
mà thực chất chính là sự kết hợp của hai hay cả ba loại chiến lược đó Từngchiến lược có nội dung và tác động khác nhau đến tăng trưởng và phát triểnkinh tế của các nước trên thế giới, đặc biệt là với các nước đang phát triển
1.3.1 Chiến lược công nghiệp hóa thay thế nhập khẩu
Sau khi kết thúc chiến tranh thế giới lần thứ hai, nhiều nước mới giànhđược độc lập như Áchentina, Braxin, Ấn Độ, Keynia, Malawi, Mêhico vàPakistan đã thực hiện chủ trương công nghiệp hóa thay thế nhập khẩu Vì
Trang 21nhiều lý do kinh tế và chính trị, trong suốt hai thập kỷ sau đó chủ trương thaythế nhập khẩu tiếp tục được áp dụng ở nhiều quốc gia và đến giữa thập kỷ 60,
đã trở thành chính sách phổ biến ở hầu hết các nước đang phát triển
Nội dung cơ bản của chiến lược thay thế nhập khẩu là: sử dụng thuế
và các hạn ngạch nhập khẩu nhằm bảo hộ các ngành công nghiệp trong nướctrước sự cạnh tranh của hàng hóa nước ngoài Ngoài ra, ở nhiều quốc gia đangphát triển thuế xuất nhập khẩu còn là nội dụng chủ yếu của hệ thống tài chính.Thuế không những được dùng để thay đổi tỉ lệ trao đổi hàng hóa theo hướng
có lợi cho nền kinh tế, mà còn góp phần quan trọng làm tăng số thu ngân sáchnhà nước Bên cạnh đó, các hạn ngạch quy định đối với các hàng hóa nhậpkhẩu như ô tô và các hàng tiêu dùng đắt tiền khác thường là biện pháp hiệuquả để hạn chế nhập khẩu các hàng hóa cụ thể Chính sách công nghiệp hóathay thế nhập khẩu dựa trên một niềm tin: Sự phát triển kinh tế của một nướctùy thuộc vào tiến trình công nghiệp hóa và khả năng tự lực cánh sinh củanước đó trong việc sản xuất các sản phẩm công nghiệp
Với chiến lược công nghiệp hóa thay thế nhập khẩu, trong hai thậpniên 50 và 60, nhiều nước trên thế giới đã khai thác, phát huy được các tiềmnăng, thế mạnh về lao động, tài nguyên để phát triển mạnh mẽ sản xuất cácsản phẩm thay thế nhập khẩu Nhờ vậy đã đạt được tốc độ cao về tăng trưởng
và phát triển kinh tế Bên cạnh đó, các biện pháp khuyến khích tiêu dùng nộiđịa, bảo hộ sản xuất và mậu dịch trong nước bằng hàng rào thuế quan và phithuế quan nhằm chống lại sự gia tăng hàng nhập ngoại, nhất là đối với nhữnghàng xa xỉ đã góp phần đề cao ý thức tự lực, tự cường dân tộc, không phụthuộc vào nước ngoài
Cho đến cuối những năm 1960, người ta mới nhận thấy: chiến lượccông nghiệp hóa thay thế nhập khẩu có nhiều vấn đề phức tạp gắn liền vớinhững can thiệp quá mức của nhà nước vào thị trường tự do Nhà nước điều
Trang 22tiết sản xuất bằng các thủ tục hành chính phức tạp Đây là nguyên nhân dẫnđến hệ thống quản lý quan liêu, tham nhũng và tình trạng sản xuất kém hiệuquả Ngoài lạm phát và thâm hụt ngày càng tăng trong cán cân thanh toán,việc bảo hộ các ngành công nghiệp non trẻ đã khiến nhiều quốc gia hoàn toànkhông có khả năng đối mặt với sự cạnh tranh trên thế giới
Vào đầu những năm 1970, thế giới nhận thấy một cách rõ ràng rằng,các nền kinh tế đang áp dụng các chính sách khuyến khích xuất khẩu và hướngngoại đã có tốc độ tăng trưởng cao hơn hẳn so với các nền kinh tế chủ trươnghạn chế ngoại thương và phát triển các ngành công nghiệp trong nước để thaythế nhập khẩu Trong thời gian này, rất nhiều các công trình nghiên cứu đã chỉ
ra những hạn chế chiến lược thay thế nhập khẩu, đồng thời chứng minh vaitrò tích cực của các chính sách khuyến khích xuất khẩu
Một số người lúc đầu tích cực ủng hộ chủ trương thay thế nhập khẩucũng đã tự nhận thấy hạn chế của chủ trương này (Germell, 1987) Quan điểmphê phán chủ trương công nghiệp hóa thay thế nhập khẩu đã được các học giảnhư Bruton (1970), Baer (1972), Sutcliffe (1971) Gonges (1976) và Nixon(1982) nêu ra và phát triển Sau khi phát triển các lập luận về ngoại thương,các học giả này đã đưa ra nhiều dẫn chứng cho thấy: ở các nước như Ấn Độ,Trung Quốc sự can thiệp quá mức của chính phủ vào nền kinh tế thông quachính sách công nghiệp hóa thay thế nhập khẩu trong một thời gian dài đã kìmhãm sự phát triển của hệ thống công nghiệp mang tính cạnh tranh và hiệu quả.Trong khi đó, chủ trương công nghiệp hóa hướng đến xuất khẩu và các biệnpháp khuyến khích phát triển khu vực kinh tế tư nhân được áp dụng ở cácnước như Hàn Quốc và các con rồng Đông Á khác đã mang lại các thành tựukinh tế to lớn
Có thể kể ra dưới đây một số hạn chế thường gặp trong quá trình thựchiện chủ trương thay thế nhập khẩu Vì có hoàn cảnh riêng về địa lý, kinh tế,chính trị, xã hội, đồng thời kết hợp các công cụ chính sách theo một cách
Trang 23riêng nên mỗi quốc gia có những hạn chế riêng Tuy nhiên, có những hạn chếgiống nhau đã xuất hiện trong hầu hết các quốc gia thực hiện chủ trương côngnghiệp hóa thay thế nhập khẩu
Thứ nhất, hầu hết các nước đang phát triển đã theo đuổi chiến lược
công nghiệp hóa thay thế nhập khẩu bằng cách tập trung vào sản xuất các mặthàng tiêu dùng hiện đang có thị trường tiêu thụ Kỹ thuật được dùng để sảnxuất các mặt hàng này nói chung ít phức tạp hơn so với kỹ thuật sản xuất cácphụ tùng máy móc thiết bị Người ta hy vọng rằng, đến một lúc nào đó cácngành công nghiệp trong nước sẽ ra đời trên cơ sở nhu cầu ngày càng tăng vàquy mô của các cơ sở sản xuất hàng tiêu dùng ngày càng lớn Tuy nhiên, cácnước đang phát triển rất khó đạt được điều đó Lí do là: cơ cấu thuế của cácnước đang phát triển đã ra sức bảo hộ các ngành sản xuất hàng tiêu dùng,nhưng lại ít quan tâm bảo hộ các ngành sản xuất máy móc thiết bị Điều nàykhiến cho nhiều nguồn lực khan hiếm đã không được dùng để sản xuất máymóc thiết bị, mà được sử dụng để sản xuất hàng tiêu dùng một cách kém hiệuquả Kết quả là ngày càng nhiều máy móc, thiết bị phải nhập khẩu Hơn thế,
về lâu dài ngành chế tạo máy trong nước không thể phát triển được
Thứ hai, hầu hết các nước đã từng thực hiện chủ trương thay thế nhập
khẩu sau một thời gian nhất định đều có tốc độ tăng trưởng giảm dần vì nhucầu nhập khẩu (thường là máy móc thiết bị) để phục vụ cho tăng trưởng đãkhông được thỏa mãn đầy đủ
Thứ ba, một trong nhiều nét nghịch lý của chủ trương thay thế nhập
khẩu là: chủ trương này lúc đầu được thực hiện chỉ vì đất nước muốn thoátkhỏi sự phụ thuộc vào ngoại thương, nhưng kết cục nó đã khiến đất nước đóphụ thuộc nhiều hơn vào ngoại thương Cụ thể, việc xây dựng hàng loạt nhàmáy xí nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng trong nước đã tạo ra nhu cầu nhậpkhẩu ngày càng tăng về máy móc, thiết bị, bán thành phẩm và vật liệu thô cầnthiết cho hoạt động sản xuất đó Kết quả là, tiêu dùng không những vẫn bị phụ
Trang 24thuộc vào nhập khẩu, mà thậm chí còn bị phụ thuộc nhiều hơn khi việc làmcho người lao động cũng bị phụ thuộc vào đó.
Thứ tư, chủ trương thay thế nhập khẩu đã khiến các nhà lập kế hoạch
phải miễn cưỡng chấp nhận chi phí cao để sản xuất tư liệu sản xuất và nhữngsản phẩm hàng hóa được coi là cần thiết cho tiến trình phát triển Chi phí caotrong sản xuất gắn liền với mức độ bảo hộ cao đã khiến cho một số ngành sảnxuất không thể tiếp tục hoạt động được Có thể nhận thấy giữa các nước ápdụng chính sách thay thế nhập khẩu và các nước chủ trương khuyến khíchngoại thương có sự khác nhau rõ ràng về tỉ lệ vốn trên một đơn vị sản phẩm.Trong giai đoạn 1960 – 1973 tỉ lệ này vào khoảng từ 1,7 đến 2,5 trong cácnước như Hàn Quốc, Singarpore và Đài Loan Trong khi đó tỷ lệ này vàokhoảng từ 5,5 đến 5,7 trong các nước như Chi Lê và Ấn Độ Nền kinh tếBraxin, nhờ có thay đổi ít nhiều về chiến lược ngoại thương nên tỉ lệ vốn trênmột đơn vị sản phẩm đã giảm từ 3,8 trong giai đoạn 1960 – 1966 xuống 2,7trong giai đoạn 1966 - 1973 [108]
Thứ năm, chủ trương thay thế nhập khẩu đã hạn chế việc nhập khẩu
máy móc, thiết bị cần thiết cho các hoạt động xuất khẩu Trong hoàn cảnh đó,quy mô của thị trường hàng tiêu dùng ở các nước nhỏ không thể vượt quáphạm vi quốc gia Kết quả là: (a) các cơ sở sản xuất cũng có quy mô nhỏ tớimức phi kinh tế Nói cách khác, chi phí sản xuất trên một đơn vị sản phẩm rấtcao Ví dụ, người ta ước tính rằng số lượng sản phẩm tối ưu của một nhà máysản xuất ô tô vào khoảng 200 ngàn xe một năm Trong khi đó ở Ấn Độ nhà máy
ô tô lớn nhất cũng chỉ có thể sản xuất được không quá 30 ngàn xe một năm.Điều này khiến chi phí trên một đơn vị sản phẩm của nhà máy nói trên đã caohơn gấp 3 lần so với chi phí sản xuất ở những nhà máy có quy mô tối ưu [88].(b) Chỉ cần một hoặc hai cơ sở sản xuất chuyên làm ra một loại sản phẩmhàng hóa nào đó là đủ để cung cấp cho thị trường Điều này khiến cho nền
Trang 25kinh tế xuất hiện một cơ cấu ngành mang tính độc quyền của các cơ sở sảnxuất trong nước
Thứ sáu, những khó khăn trong xuất khẩu đi cùng với yêu cầu tăng
cường nhập khẩu để giữ vững và phát triển sản xuất đã dẫn đến tình trạngkhan hiếm ngoại tệ trong nền kinh tế Trong khi đó, việc sử dụng tỉ giá hốiđoái với giá trị của đồng tiền trong nước được đề cao, các chính sách khuyếnkhích nhằm huy động các nguồn lực vào các hoạt động hạn chế nhập khẩu,các biện pháp hạn chế việc mua nguyên nhiên vật liệu và máy móc, thiết bịcủa nước ngoài tất cả đã ngăn cản các nguồn thu ngoại tệ cho nền kinh tế Ởmột số quốc gia như Hàn Quốc (năm 1960) và Braxin (năm 1967), tình trạngthiếu ngoại tệ đã được đặt ra như một sức ép chính trị và nhiều yếu tố khác đãkhiến người ta phải quyết định cải cách cơ chế thay thế nhập khẩu
Thứ bảy, thực tế cho thấy, số lượng lao động trong các ngành công
nghiệp đã tăng tương đối chậm ở hầu hết các nước áp dụng chiến lược thaythế nhập khẩu Một mặt, đây là hậu quả của việc áp dụng một tỉ giá hối đoáivới giá trị của đồng tiền trong nước được tính cao hơn giá trị thật và mức thuếcao đánh vào tư liệu sản xuất nhập khẩu Mặt khác, theo quy định của nhiềunước, các cơ sở sản xuất muốn có giấy phép nhập khẩu máy móc, thiết bịthường phải thuê lao động với giá cao
Hạn chế cuối cùng của cơ chế thay thế nhập khẩu có liên quan đếnmối quan hệ giữa Nhà nước và khu vực sản xuất trong nền kinh tế Ở nhữngnước này, cơ chế quản lý được áp dụng nhằm hạn chế nhu cầu nhập khẩu đãdẫn đến mâu thuẫn sâu sắc giữa các động cơ cá nhân và các quy định của Nhànước Các cơ sở sản xuất kinh doanh rất muốn thoát khỏi những quy định củaNhà nước về nhập khẩu Trong khi đó, các cơ quan nhà nước lại có lý do đểnghi ngờ các lá đơn xin phép nhập khẩu Ngoài sự phát triển của khu vực chợđen, buôn lậu và giao dịch bất hợp pháp, rất nhiều nguồn lực khan hiếm củađất nước, trong đó có cả các nhà quản lý và các công nhân kỹ thuật đã bị sử
Trang 26dụng trái với các quy định của nhà nước Có thể nói, mâu thuẫn giữa mục tiêucủa nhà nước và mục đích của cộng đồng là một yếu tố quan trọng đáng quantâm trong khi đánh giá các chính sách thay thế nhập khẩu
1.3.2 Chiến lược xuất khẩu sản phẩm thô và sơ chế
Thực chất đây là chiến lược công nghiệp hóa hướng ngoại nhưng ở trình
độ thấp Trước những năm 50, chiến lược này đã mang lại sự tăng trưởngđáng kể cho nhiều nước, trong đó có cả một số quốc gia phát triển như Mỹ,Canada, Cộng hòa Liên bang Đức nhờ có các lợi thế so sánh về xuất khẩulương thực, thực phẩm và một số khoáng sản thô khác Cũng bằng con đườngnày, một số nước nghèo như Côlômbia, Mêhicô, Malaixia, Philippin… đã cónhững bước phát triển đáng kể trong thời kỳ đầu công nghiệp hóa (những năm
1950 - 1960), nhờ có lợi thế so sánh về một số sản phẩm xuất khẩu như cao
su, cà phê, dầu dừa, dầu cọ, quặng kim loại… Thực trạng này đã lý giải vì saođến cuối những năm 1960, xuất khẩu hàng thô và sơ chế đã chiếm đến 80%tổng kim ngạch xuất khẩu của các nước đang phát triển, mặc dù các nước nàyđều nhận thức được rằng đó là loại chiến lược bán rẻ tài nguyên thiên nhiên[83, tr 86-89]
Tuy nhiên, việc thực hiện chiến lược xuất khẩu sản phẩm thô và sơchế đã gặp phải những trở ngại ngày càng lớn như hiệu quả kinh tế khôngcao, thường bị thua thiệt do giá trị gia tăng và giá cả thấp Ngoài ra, các nướctheo đuổi chiến lược này còn bị phụ thuộc vào quan hệ cung cầu, sự biếnđộng giá cả trên thị trường thế giới Không những thế, việc xuất khẩu sảnphẩm thô, sơ chế còn gây ra những hậu quả xấu về môi trường sinh thái vàđời sống tâm lý, xã hội do tình trạng quá ỷ lại vào việc khai thác, bóc lột bừabãi các nguồn tài nguyên thiên nhiên Vì thế, hiện nay việc xuất khẩu sảnphẩm thô, sơ chế chỉ còn tập trung chủ yếu ở các nước Trung Đông do có lợithế tuyệt đối về dầu lửa Hầu hết các nước đang phát triển đều không muốntheo đuổi chiến lược này, khiến cho tỷ trọng xuất khẩu hàng thô và sơ chế của
Trang 27các nước đang phát triển đã ngày càng giảm đi đáng kể [123, tr 40] Songcũng cần lưu ý rằng, đối với những nước chưa phát triển nhưng có các lợi thế
so sánh về nguồn lao động, tài nguyên (như Việt Nam) trong thời kỳ đầu côngnghiệp hóa, để chuẩn bị tiền đề vật chất cần thiết cho giai đoạn "cất cánh",trong đó quan trọng nhất là tạo vốn đầu tư cho phát triển, thì việc chú ý thỏađáng đến chiến lược này trong sự kết hợp đồng bộ với các chiến lược khác,nhiều khi lại là yêu cầu tất yếu khách quan cho sự tăng trưởng và phát triểnlâu dài của nền kinh tế, cho dù phải chấp nhận "trả giá" Vấn đề quan trọngđặt ra cho mỗi nước là cần có sự lựa chọn các giải pháp tích cực, phù hợpnhất để hạn chế tối đa sự "trả giá" đó [64, tr 18]
1.3.3 Chiến lược công nghiệp hóa hướng về xuất khẩu
Trước những hạn chế của chủ trương công nghiệp hóa thay thế nhậpkhẩu vào cuối những năm 1960, các nhà kinh tế học tân cổ điển đã nhắc lại đềnghị của họ về chính sách tự do hóa thương mại Trên thực tế, các nước côngnghiệp mới như Braxin, Hồng Kông, Singarpore, Hàn Quốc, Đài Loan đãtheo đuổi chiến lược phát triển hướng ngoại, hay còn được gọi là chiến lượckhuyến khích xuất khẩu Mục đích của chiến lược này là khuyến khích việcsản xuất và xuất khẩu các loại hàng hóa các nước đang phát triển có lợi thế sosánh Vì lao động dư thừa trong hầu hết các nước đang phát triển, nên chiếnlược khuyến khích xuất khẩu có khả năng tạo thêm một số lượng lớn các sảnphẩm công nghiệp sử dụng nhiều lao động
Đã có nhiều bài viết chứng minh cho tính ưu việt của chiến lược côngnghiệp hóa hướng về xuất khẩu so với chiến lược thay thế nhập khẩu Gillis at
al (1960), Balaska (1978, 1982) và Tyler (1981) đều chứng minh rằng, cơ chếkhuyến khích xuất khẩu đã tránh được hầu hết các căn bệnh như đã mô tả ởtrên, đồng thời giúp cho nền kinh tế có được tốc độ tăng trưởng cao hơn hẳn
so với tốc độ có được dưới cơ chế thay thế nhập khẩu Ví dụ: 5 nước côngnghiệp mới đã có GDP trên đầu người, mức giá trị gia tăng và tốc độ tăng kim
Trang 28ngạch xuất khẩu về cơ bản lớn hơn nhiều so với các chỉ số tương tự củanhững nước có thu nhập trung bình Tuy nhiên, nếu xem xét kỹ những kinhnghiệm phát triển kinh tế dựa vào xuất khẩu chúng ta sẽ thấy chiến lược nàycũng có rất nhiều hạn chế:
Thứ nhất, các nước đang phát triển khó đẩy mạnh việc xuất khẩu các
sản phẩm thô sang các nước phát triển
Hiện nay, giá trị xuất khẩu các sản phẩm thô chiếm khoảng 70% tổngkim ngạch xuất khẩu của các nước đang phát triển và là nguồn thu ngoại tệchủ yếu của các nước này [88] Tuy vậy, trừ dầu mỏ và một số khoáng sảncần thiết, giá trị xuất khẩu các sản phẩm thô đã tăng chậm hơn so với tổngmức buôn bán trên thế giới Hơn thế, thị phần của các sản phẩm thô xuất khẩu
đã giảm xuống trong suốt 20 năm qua Tình trạng này là hậu quả của nhữnghạn chế cả về cung và cầu về các sản phẩm thô của các nước phát triển Vềphía cầu, theo Todaro [89], ít nhất có 5 nguyên nhân làm hạn chế nhu cầunhập khẩu của các nước phát triển về các sản phẩm thô, đặc biệt là các sảnphẩm nông nghiệp từ các nước đang phát triển
(1) Khi thu nhập trên đầu người trong các nước phát triển ngày càngtăng, nhu cầu về thực phẩm và nguyên vật liệu thô tăng chậm hơn so với nhucầu về năng lượng và các sản phẩm chế tạo
(2) Hiện nay dân số của các nước phát triển gần như không tăng Vìvậy, nhu cầu của các nước này về nông sản phẩm cũng gần như không thay đổi
(3) Theo các số liệu thống kê, trong khi giá cả sản phẩm thô giảmxuống nhanh chóng, nhu cầu về sản phẩm này vẫn tăng lên không đáng kể,thậm chí không tăng Ví dụ, từ 1980 đến 1982 giá đường giảm 78%, cao sugiảm 37%, đồng giảm 35% Từ 1989 đến 1991 giá cả của các sản phẩm nàynói chung giảm 20% Từ 1957 đến 1992 giá cả thực tế của các sản phẩmkhông phải dầu lửa đã giảm xuống 50% [120]
Trang 29(4) Sự phát triển mạnh mẽ của các vật liệu thay thế các sản phẩm tựnhiên như bông, cao su, da, đồng đã khiến thị phần của các sản phẩm tựnhiên ngày càng bị thu hẹp
(5) Các nước phát triển đã và đang sử dụng nhiều biện pháp nhằm hạnchế nông sản nhập khẩu từ các nước đang phát triển Ví dụ, Cộng đồng kinh
tế châu Âu đã đưa ra các chính sách khắt khe hơn nhiều so với chính các nướcthành viên nhằm hạn chế nông sản nhập khẩu từ các nước đang phát triển
Về phía cung, cũng theo Todaro, hai yếu tố rất quan trọng đã và đanghạn chế việc sản xuất hàng xuất khẩu ở các nước đang phát triển (1) Hệthống sản xuất ở nông thôn của các nước này gắn liền với các điều kiện khókhăn như: thiếu các nguồn lực cần thiết cho sản xuất, khí hậu khắc nghiệt, đấtđai bạc màu, cơ cấu kinh tế, xã hội lạc hậu và tình trạng chiếm dụng đất nôngnghiệp cho các hoạt động phi sản xuất (2) Tình trạng một số ít các cơ sở sảnxuất nông nghiệp quy mô lớn hiện đại tồn tại song song với rất nhiều các cơ
sở sản xuất nhỏ, năng suất thấp của các nông hộ đã dẫn đến tình trạng phânphối không công bằng kim ngạch xuất khẩu giữa các cơ sở sản xuất
Tóm lại, chiến lược khuyến khích xuất khẩu các sản phẩm thô khôngthể đạt được kết quả nếu cơ cấu kinh tế xã hội ở nông thôn không được tổchức lại nhằm nâng cao năng suất lao động trong nông nghiệp và phân phốilợi nhuận một cách hợp lý hơn Thực tế cho thấy, mặc dù có lợi thế so sánhtrên thị trường quốc tế về các sản phẩm thô, các nước đang phát triển chỉ cóthể biến lợi ích tiềm năng của mình thành hiện thực nếu được thỏa mãn cácđiều kiện như: (1) Hợp tác với một nước khác (2) Được các nước phát triểntạo điều kiện xây dựng và thực hiện các hiệp định về hàng hóa quốc tế (3)
Mở rộng cửa vào thị trường các nước phát triển Đáng tiếc là, nhu cầu hiện tạicủa thế giới về các sản phẩm thô, chủ trương tự đảm bảo về lương thực, sựphát triển tất yếu của các vật liệu thay thế, các rào cản ngày càng lớn của cácnước phát triển đối với nông sản nhập từ các nước đang phát triển tất cả đã và
Trang 30đang kìm hãm hoạt động xuất khẩu các sản phẩm thô của các nước đang pháttriển.
Thứ hai, tiến trình mở rộng xuất khẩu các sản phẩm chế tạo tuy đạt
được một số thành công, nhưng cũng gặp nhiều trở ngại
Hơn ba thập kỷ qua các quốc gia như Hàn Quốc, Xingapo, HồngKông, Đài Loan và Braxin đã ít nhiều thành công trong việc xuất khẩu cácsản phẩm chế tạo Ví dụ, trong ba thập kỷ đó giá trị hàng xuất khẩu của ĐàiLoan và Hàn Quốc mỗi năm tăng thêm hơn 20% Cả hai quốc gia này đều cógiá trị các sản phẩm chế tạo chiếm khoảng 80% tổng kim ngạch xuất khẩu Từnăm 1950 đến 1988, tỉ lệ giá trị các sản phẩm chế tạo trong tổng kim ngạchxuất khẩu của các nước đang phát triển đã tăng từ 16% lên gần 45% Từ 1965đến 1990 tỉ lệ giá trị sản phẩm chế tạo của các nước đang phát triển trong tổnggiá trị các sản phẩm chế tạo được mua bán trao đổi trên thị trường quốc tế đãtăng từ 7% đến 18% [109] Đáng tiếc là bên cạnh những kết quả trên, việc xuấtkhẩu các sản phẩm chế tạo của các nước đang phát triển đang gặp phải các ràocản ngày càng lớn của các nước phát triển Ví dụ, trong những năm 1980, 20trong số 24 các nước công nghiệp phát triển đã tăng cường các rào cản của họđối với các sản phẩm chế tạo của các nước đang phát triển Các rào cản nàynghiêm ngặt hơn nhiều so với các rào cản đặt ra cho các sản phẩm chế tạo củacác nước phát triển Hơn nữa, các sản phẩm chế tạo thường khó lọt qua cácrào cản hơn so với các sản phẩm thô Ví dụ, thuế đánh vào nước giải khátCacao, hoặc Coca cola cao gấp đôi so với thuế đánh vào Cacao nguyên liệu.Đường tinh khiết chịu mức thuế dưới 2% trong khi đó các sản phẩm có đườngphải chịu mức thuế trên 20% [122]
Hiện nay, các nước phát triển chủ yếu sử dụng hàng rào phi thuế quan
để hạn chế các sản phẩm chế tạo nhập khẩu từ các nước đang phát triển Cácchính sách hạn chế thương mại của các nước phát triển mỗi năm đã ngăn cản
Trang 31một số lượng hàng nhập khẩu trị giá khoảng 40 tỉ đôla từ các nước đang pháttriển [122]
Thứ ba, lý lẽ ủng hộ chính sách khuyến khích xuất khẩu chưa tỏ ra
thuyết phục
Những lý lẽ được đưa ra trong các công trình nghiên cứu về vai tròcủa ngoại thương dường như chưa đủ để kết luận rằng, các chính sách khuyếnkhích xuất khẩu dưới hình thức này hoặc hình thức khác có tác động tốt hơnđến tăng trưởng so với chính sách thay thế nhập khẩu Ở đây còn có nhiều câuhỏi cần được làm rõ
(1) Có bao nhiêu doanh nghiệp lúc đầu sản xuất kém hiệu quả, nhưngsau đó đã tăng năng suất lao động một cách nhanh chóng nhờ sự thay đổitrong chính sách ngoại thương từ thay thế nhập khẩu sang khuyến khích xuấtkhẩu? Giả sử trên thực tế có những doanh nghiệp như vậy, thì chúng nằm rảirác trong các ngành khác nhau hay tập trung vào một số ngành sản xuất nàođó? Đặc điểm của các ngành sản xuất này là gì? Các cơ sở sản xuất này đã đạtđược tốc độ tăng trưởng nhanh chóng nhờ những nỗ lực bản thân hay nhờ cácchính sách ưu đãi của chính phủ?
(2) Vì sao giữa các nền kinh tế cùng theo đuổi chính sách xuất khẩu sựchênh lệch về tốc độ tăng trưởng dường như lớn hơn sự chênh lệch về kimngạch xuất khẩu? Mặc dù lý thuyết cấp số nhân của Keyns về tăng trưởngxuất khẩu cần được lưu ý trong trường hợp này, nhưng nhìn chung toàn bộcác hoạt động kinh tế dường như không chịu ảnh hưởng trực tiếp của sự tăngtrưởng về mặt xuất khẩu Một trong những ý kiến góp phần làm rõ vấn đề này
là công trình nghiên cứu của M.Metawlly xem xét ảnh hưởng của ngoạithương đến phát triển kinh tế ở 10 nước châu Á (Bangladesh, Ấn Độ,Indônexia, Malaixia, Nêpan, Pakixtan, Philippine, Xrilanca và Thái Lan) giaiđoạn từ 1974 đến 1988 Kết luận của công trình nghiên cứu này chỉ rõ: vai tròcủa ngoại thương đối với phát triển kinh tế ở những quốc gia khác nhau là rất
Trang 32khác nhau Để chứng minh điều này, tác giả đưa ra nhiều chứng cứ cho thấy:
ở những quốc gia như Malaixia, Thái Lan, Ấn Độ và Pakixtan xuất khẩu đãtạo ra các cơ hội đầu tư và thực sự góp phần đẩy mạnh phát triển kinh tế.Trong khi đó, ở các nước như, Indonexia, Nepan, Niu Ghinê, Philipine vàXrilanka tăng xuất khẩu đã không có tác động tích cực đến phát triển kinh tế.Kết quả nghiên cứu còn cho thấy sự phụ thuộc lẫn nhau một cách chặt chẽgiữa mỗi nền kinh tế nói trên với các quốc gia khác trên thế giới Ví dụ,những thay đổi của giá hàng xuất khẩu và tốc độ tăng trưởng của các đối tácbuôn bán chủ yếu là những nhân tố chính quyết định giá trị hàng xuất khẩucủa các nước xuất khẩu Cũng theo kết quả nghiên cứu, hoạt động nhập khẩucủa các nước châu Á nói trên đã có ảnh hưởng đến tốc độ tăng trưởng của cácnước có quan hệ buôn bán với họ
(3) Các chính sách nhằm khuyến khích xuất khẩu có được nhận thứcmột cách đầy đủ và đã thể hiện được mối quan hệ với các chính sách kinh tế,chính trị quan trọng khác hay không? Ví dụ, ai cũng biết Hàn Quốc đã có cácbiện pháp trợ cấp và các chính sách về tỉ giá hối đoái rất hiệu quả Nhưngchúng ta không được biết những ngành nào đã nhận được trợ cấp và cáckhoản trợ cấp đó đã được thực hiện như thế nào? Có nhiều chứng cứ chỉ rarằng các chính sách kinh tế của Hàn Quốc vào cuối những năm 1960 là tối ưu(Frank, Kim và Westphal, 1995) và có cơ sở để tin rằng các hình thức trợ cấpngầm ngày càng được áp dụng rộng rãi vào những năm 70 (Hong, 1981) Tuynhiên, các thông tin có thể thu thập được không đủ để các nhà nghiên cứuphân tích kỹ các quyết định nhằm thúc đẩy các ngành xuất khẩu cụ thể, cũngnhư các nguyên nhân dẫn đến thành công hay thất bại của cơ chế ưu tiên xuấtkhẩu
(4) Tác động qua lại giữa kinh tế và chính trị có được nhận thức mộtcách đầy đủ trong việc hoạch định chính sách hay không? Hầu hết các lý lẽđược đưa ra trong các công trình nghiên cứu dường như chỉ tập trung vào mối
Trang 33quan hệ giữa các hình thức quản lý và hoạt động kinh tế Trong khi đó, trênthực tế các quyết định nhằm thực hiện chính sách thay thế nhập khẩu khôngphải không có liên quan đến từng hoàn cảnh kinh tế, chính trị cụ thể Phảichăng các nhà hoạch định chính sách chọn chính sách thay thế nhập khẩu vì
họ có những mục tiêu khác với những người chủ trương khuyến khích xuấtkhẩu? Phải chăng các nhà hoạch định chính sách bắt buộc phải chấp nhậnchính sách thay thế nhập khẩu, mặc dù họ biết còn có các chính sách khác tốthơn? Hay phải chăng chính sách thay thế nhập khẩu đã là kết quả của việcnhận thức không đúng về các quy luật kinh tế? Đã có lúc, nhiều nhà kinh tếcoi con đường công nghiệp hóa và chiến lược ngoại thương là những yếu tốkhông liên quan trực tiếp đến quá trình tăng trưởng kinh tế
(5) Phải chăng trong các nước có tốc độ tăng trưởng cao như HànQuốc, Đài Loan, Braxin, cái giá phải trả ngày càng tăng lên Trong khi đó,những lợi ích đạt được nhờ khuyến khích xuất khẩu lại ngày càng giảmxuống Ví dụ, lúc đầu các khoản trợ cấp dùng để trợ giúp kỹ thuật cho một số
ít các ngành đã có tác dụng tích cực khuyến khích những ngành này phát triểnnhanh, đồng thời lợi ích đạt được từ sự phát triển đó đã lớn hơn so với chi phí
bỏ ra Dần dần, số lượng các ngành đủ điều kiện được nhận trợ cấp ưu đãingày càng tăng lên Như vậy cái giá phải trả cho các hoạt động không tối ưu
đã tăng lên cùng với mức độ trợ cấp, trong khi lợi nhuận đạt được ngày cànggiảm dần Như vậy, các chính sách nói trên chỉ có tác dụng tốt trong giai đoạnđầu và sau đó trở nên phản tác dụng
Nhìn chung, các nhà nghiên cứu đều cho rằng, rất nhiều yếu tố đãđóng góp cho thành công chung của chiến lược khuyến khích xuất khẩu Hơnthế, mức độ đóng góp của các yếu tố khác nhau đó cũng thay đổi tùy theođiều kiện cụ thể của mỗi quốc gia Đó là các điều kiện như diện tích lãnh thổ,hoàn cảnh địa lý, nguồn tài nguyên thiên nhiên ở mỗi thời điểm cụ thể khácnhau Thực tế cũng cho thấy nhiều quốc gia đã và đang theo đuổi chính sách
Trang 34khuyến khích xuất khẩu dưới nhiều hình thức khác nhau, trong đó hàng loạtcác biện pháp khác nhau được áp dụng Các chính sách khuyến khích xuấtkhẩu có tác dụng tốt hay không tùy thuộc rất nhiều vào các khả năng của cácbiện pháp được chọn trong việc bao quát đầy đủ các yếu tố kinh tế - xã hộicủa mỗi quốc gia trong mỗi giai đoạn cụ thể.
Cần phân biệt rõ sự khác nhau giữa chiến lược thay thế nhập khẩu vàchiến lược khuyến khích xuất khẩu Vì trên thực tế luôn luôn có những biệnpháp thúc đẩy xuất khẩu trong chiến lược thay thế nhập khẩu và những biệnpháp thay thế nhập khẩu trong chiến lược thúc đẩy xuất khẩu Có thể phânbiệt hai chiến lược này từ một số đặc điểm như:
(1) Rất nhiều cái gọi là những biện pháp thúc đẩy xuất khẩu đượcthực hiện trong cơ chế thay thế nhập khẩu chẳng qua là những cố gắng nhằmkhắc phục những hạn chế của cơ chế thay thế nhập khẩu hoặc là điều kiệnbuộc các công ty ngoài việc bán sản phẩm của họ ở thị trường trong nướcphải dành một phần sản phẩm để xuất khẩu
(2) Cơ chế thay thế nhập khẩu có xu hướng nghiêng về chính sách bảo
hộ, thường là dưới hình thức hạn chế hoặc cấm nhập khẩu các hàng hóa cókhả năng cạnh tranh với sản xuất trong nước Trong khi đó, mục đích của cơchế khuyến khích xuất khẩu là nhằm tạo điều kiện cho các cơ sở sản xuất kinhdoanh xuất khẩu các sản phẩm của họ ra thị trường quốc tế Rõ ràng, về cơbản một cơ chế thay thế nhập khẩu hoàn toàn khác với một cơ chế khuyếnkhích xuất khẩu
(3) Thực tế cho thấy, cơ chế thay thế nhập khẩu nào có xu hướng khôngkhuyến khích xuất khẩu thường sinh ra một căn bệnh kinh niên, đó là tình trạngthiếu ngoại tệ Điều này sớm hay muộn sẽ kìm hãm tiến trình công nghiệp hóathay thế nhập khẩu Một cách khác, cũng có thể phân biệt chủ trương thay thếnhập khẩu với chủ trương khuyến khích xuất khẩu qua sự khác biệt chủ yếusau: Một nền kinh tế có chủ trương thay thế nhập khẩu thường có xu hướng
Trang 35ưu tiên việc sản xuất những hàng hóa có thể cạnh tranh với hàng nhập khẩu
và được bán ở thị trường trong nước Cụ thể, các hàng hóa có khả năng cạnhtranh với hàng nhập khẩu được bán ở trong nước với giá cao hơn so với giácủa những hàng hóa đó ở nước ngoài Chủ trương khuyến khích xuất khẩu,trái lại ưu tiên cho việc xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ ra thị trường ngoàinước Cụ thể, các quy định về tỉ giá hối đoái, thuế và trợ giúp xuất khẩu sẽđược áp dụng sao cho, tỉ lệ giữa giá xuất khẩu và giá được bán ở thị trườngtrong nước của cùng một loại hàng hóa nếu tính theo đồng nội tệ sẽ cao hơn
so với chính tỉ lệ đó nếu tính theo đồng ngoại tệ Một cơ chế khuyến khíchxuất khẩu về cơ bản sẽ tạo động lực cho việc bán hàng ra nước ngoài nhiềuhơn so với việc bán hàng ở thị trường trong nước Trong khi đó, cơ chế thaythế nhập khẩu lại tạo ra những động cơ có tác dụng ngược lại Để đạt đượcmục tiêu đặt ra, mỗi cơ chế nói trên đã bao gồm hàng loạt chính sách khácnhau dẫn đến những thay đổi theo chiều hướng khác nhau về cơ cấu ngànhnghề, thứ tự các hoạt động cần được ưu tiên trong nền kinh tế và các biệnpháp khuyến khích khác nhau đối với các hoạt động tương tự ở các ngànhnghề khác nhau Đây cũng là những đặc điểm có thể dùng để phân biệt giữa
cơ chế thay thế nhập khẩu và cơ chế khuyến khích xuất khẩu
1.3.4 Chiến lược phát triển hỗn hợp
Sự phân định thành ba loại chiến lược phát triển trên đây trong thựctiễn phát triển của nhiều nước chỉ mang tính ước lệ tương đối Hầu hết các nướcđều thực hiện kết hợp hai hay ba loại chiến lược nói trên Tất nhiên, trong khithực hiện một chiến lược phát triển hỗn hợp như vậy mỗi nước đều nhấnmạnh trọng tâm phát triển vào loại chiến lược này hay chiến lược khác, tùytheo từng thời kỳ lịch sử cụ thể với những đặc điểm quy định cụ thể của tiếntrình công nghiệp hóa Tuy nhiên, do mức độ nhận thức, biện pháp hànhđộng, hoàn cảnh lịch sử, có tính cả tác động của môi trường quốc tế đối với
Trang 36mỗi nước rất khác nhau nên mức độ thành công của mỗi nước cũng rất khácnhau [105].
Quay trở lại với các nền kinh tế thần kỳ như Nhật Bản và NICs Đó lànhững tấm gương sáng về thực hiện thành công chiến lược phát triển hướngngoại mà nội dung cơ bản của nó là xúc tiến mạnh mẽ quá trình công nghiệphóa hướng về xuất khẩu, song điều kỳ diệu của cả 5 nước này không chỉ dừng
ở đó mà còn thể hiện ở những thành công không kém phần quan trọng trongviệc thực hiện một cách sáng tạo chiến lược thay thế nhập khẩu Hồng Kông
và Singapore là những nước có thị trường nội địa quá nhỏ bé, nên ngay từnhững năm đầu công nghiệp hóa họ đã chủ trương tự do hóa thị trường và mởcửa hướng ngoại ở mức độ rất cao, vì thế trong suốt quá trình công nghiệphóa họ đã không quá nhấn mạnh đến vai trò của chiến lược thay thế nhậpkhẩu Việc sản xuất thay thế nhập khẩu ở hai nước này có đặc điểm chủ yếu làdựa vào quan hệ cung cầu do thị trường điều tiết Nhà nước khuyến khích các
cơ sở sản xuất trong nước sản xuất hàng thay thế nhập khẩu nếu thấy có lợicho sự phát triển chung của nền kinh tế, nhưng các cơ sở này (không phảiNhà nước) sẽ phải chịu trách nhiệm nếu làm ăn bị thua lỗ Trong khi đó, ởNhật Bản, Hàn Quốc và Đài Loan, vai trò của Nhà nước đối với sản xuất thaythế nhập khẩu có phần chặt chẽ hơn, mặc dù các quốc gia này vẫn không xemnhẹ vai trò điều tiết của thị trường tự do [117]
Kinh nghiệm phát triển của cả ba quốc gia cho thấy, mặc dù côngnghiệp hóa hướng vào xuất khẩu là chiến lược then chốt đưa lại những tăngtrưởng đột biến về kinh tế, nhưng việc phát triển các ngành sản xuất thay thếnhập khẩu vẫn được coi trọng, ngay cả khi xuất khẩu được đặc biệt đề cao.Không có điều gì bất thường khi một ngành công nghiệp lúc đầu làm hàngthay thế nhập khẩu, sau đó đã trưởng thành và có khả năng làm hàng xuấtkhẩu Điều này đã xảy ra với ngành thép của Nhật Bản, xi măng của HànQuốc và dệt của Đài Loan [112]
Trang 37Đi theo định hướng phát triển trên, Hàn Quốc là quốc gia thành công nhấttrong các con rồng châu Á khi kết hợp cả hai loại chiến lược hướng nội, hướngngoại, trong đó đặc biệt ưu tiên phát triển mạnh hướng ngoại Quốc gia này chỉcho phép nhập khẩu những sản phẩm thật sự cần thiết cho yêu cầu phát triểnkinh tế đất nước và nhu cầu tiêu dùng của nhân dân mà trong nước chưa sản xuấtđược, hoặc những sản phẩm sản xuất trong nước không có hiệu quả kinh tế cao dokhông đủ sức cạnh tranh với thị trường thế giới Có thể nói, nếu không có sự kếthợp đồng bộ, khéo léo giữa cơ chế vận hành kinh tế của Chính phủ với sự mềmdẻo của thị trường thì Hàn Quốc không thể đạt được kỳ tích trong phát triển kinh
tế
Vào những năm 1950, khi bắt đầu thực hiện công nghiệp hóa đấtnước, Hàn Quốc là một nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu, lại bị ảnh hưởngnặng nề của chiến tranh Thêm nữa, quốc gia này rất khan hiếm tài nguyênthiên nhiên Vậy mà, chỉ trong vòng 25 năm từ 1960 đến 1985, Hàn Quốc đãvươn lên trở thành một trong các quốc gia giàu có ở châu Á Hầu hết các lĩnhvực kinh tế của Hàn Quốc đều có tốc độ phát triển cao Tốc độ tăng GDP vàGNP ngay từ thập niên 80 đã được xếp vào loại cao nhất thế giới, bình quân
từ 8% - 10% hàng năm Nhờ đó GDP/đầu người đã liên tục tăng nhanh từ 80USD năm 1961 (còn thấp hơn nhiều so với GDP/đầu người của Việt Nam hiệnnay: khoảng 220 - 250 USD) lên 2.035 USD năm 1985; 4.400 USD năm1989; 6.635 USD năm 1992; 8.483 USD năm 1994 và trên 10.000 USD năm
1995
Riêng trong lĩnh vực ngoại thương, ngay từ năm 1991, Hàn Quốc đã
là nước đứng vị trí thứ 12 trong số 25 nước xuất khẩu lớn nhất thế giới (vớigiá trị xuất khẩu là 72 tỷ USD; năm 1994 là 91,4 tỷ USD và năm 1995 đã tăngvọt lên đạt 111 tỷ USD) Nhiều sản phẩm xuất khẩu của Hàn Quốc không chỉnổi tiếng, có chỗ đứng vững vàng trên thị trường thế giới, mà còn có sức cạnhtranh đáng gờm đối với hai siêu cường kinh tế Mỹ và Nhật Bản (như tivi màu,
Trang 38máy ảnh, ôtô, môtô, nồi cơm điện, hàng may mặc, thiết bị văn phòng…) Ngay
từ năm 1985, Hàn Quốc đã đứng vị trí số 1 trong số các nước xuất khẩu ôtôvào thị trường Canada và từ năm 1986 đã vào được thị trường Mỹ, vốn đượccoi là một thị trường lớn nhưng rất khó tính [99]
1.3.5 Đánh giá chung các mô hình chiến lược ngoại thương
Thực tế các nước đều có thể đạt được tăng trưởng và phát triển kinh tếnếu biết cách lựa chọn và vận dụng đúng đắn, sáng tạo các loại chiến lượcphát triển khác nhau Mặc dù cho đến nay, trong lĩnh vực thương mại quốc tếvẫn chưa chấm dứt cuộc tranh luận lớn giữa những người bênh vực cho tự dohóa thương mại và đề cao chiến lược công nghiệp hóa hướng vào xuất khẩu(Export Oriented Industrialization - EOI) tức là "những người lạc quan vềthương mại" với những người bênh vực bảo hộ sản xuất và mậu dịch nội địa
và đề cao chiến lược công nghiệp hóa dựa vào thay thế nhập khẩu (ImportSubstitution Industrialization - ISI), tức là "những người bi quan về thươngmại" [76] Nhưng từ thực tiễn của các nước đang phát triển trong các thậpniên vừa qua, có thể rút ra một số nhận xét cơ bản sau:
(1) Chiến lược xuất khẩu sản phẩm thô và sơ chế là chiến lược hướng
về xuất khẩu ở trình độ sơ đẳng mà nguồn gốc của nó là chiến lược bóc lột tàinguyên thiên nhiên - di sản của chủ nghĩa thực dân để lại cho các nước đangphát triển Chiến lược này đưa lại những hậu quả tiêu cực cho sự phát triểnkinh tế - xã hội Vì thế hiện nay là hầu hết các nước đã có tiềm lực kinh tế ởmức nhất định đều không muốn theo đuổi nó
(2) Chiến lược công nghiệp hóa thay thế nhập khẩu (ISI): cho đến naychưa có điển hình nào đạt được thành công nổi trội Liên Xô và các nước xãhội chủ nghĩa khác trước đây (kể cả Việt Nam) trong nhiều năm đặc biệt chútrọng đề cao chiến lược này theo quan điểm tự lực cánh sinh, hướng vào mụctiêu phục vụ nhu cầu của thị trường nội địa là chính Cần lưu ý rằng, bản thân
Trang 39ISI không phải là loại chiến lược tiêu cực, bế tắc, mà ngược lại nó hoàn toàn
có tác dụng tích cực đối với sự tăng trưởng và phát triển kinh tế đất nước, nếubiết cách vận dụng đúng đắn, sáng tạo, đồng bộ với các loại chiến lược khác.Không phải ngẫu nhiên mà hầu hết các nước NICs châu Á và ASEAN mặc dùngày nay đang đề cao chiến lược công nghiệp hóa hướng vào xuất khẩu(EOI), nhưng trong tiến trình công nghiệp hóa đều đã qua một thời kỳ thực hiệnchiến lược ISI Chính chiến lược ISI đã giúp cho các nước này thực hiện một
số tiền đề vật chất cần thiết cho sự thành công của chiến lược EOI sau này[31, tr 7]
Kinh nghiệm lịch sử cho thấy, sau một thời kỳ thực hiện chiến lượcEOI, muốn tiếp tục tăng trưởng, các nước này đều đã quay trở lại phát triểncác ngành công nghiệp thay thế nhập khẩu nhưng ở trình độ cao hơn… Trình
tự phát triển sản xuất các ngành hàng, sản phẩm công nghiệp trong mối quan
hệ với chiến lược ngoại thương ở các nước này đã diễn ra theo 4 giai đoạnsau: chiến lược ISI sơ cấp cho những hàng tiêu dùng (những năm 1950);chiến lược EOI sơ cấp dựa vào lao động không chuyên môn, kể cả việc xuấtkhẩu các sản phẩm thô và sơ chế (những năm 1960); phát triển sâu hơn chiếnlược EOI dựa vào vốn và chiến lược ISI thứ cấp (những năm đầu thập niên70); và hiện nay là đa dạng hóa chiến lược EOI vào những ngành và sản phẩmcông nghệ cao Ngoài ra, cũng cần phải thấy rằng, hầu hết các nước đã hóarồng như Nhật Bản và NICs Đông Á đều là các nước đã có sự kết hợp thànhcông của cả hai loại chiến lược ISI và EOI trong toàn bộ tiến trình côngnghiệp
Tóm lại, nếu chỉ tuyệt đối hóa đề cao vai trò của chiến lược EOI vàxem thường chiến lược ISI sẽ là thiếu khách quan, khoa học và đương nhiêndẫn đến những trả giá không nhỏ cho quá trình công nghiệp hóa nói riêng vàphát triển kinh tế -xã hội nói chung
Trang 40(3) Với mô hình chiến lược EOI, tuy mới xuất hiện từ những năm
1960 và có những giới hạn nhất định, nhưng đã được khẳng định là mang lạithành công hơn cả, "vì nó không những đã huy động và phát triển được cácnguồn lực bên trong mà còn tranh thủ được các khả năng bên ngoài, tạo ra sựphát triển mạnh cả về số lượng và chất lượng" [91] Ý nghĩa thực tiễn củachiến lược EOI là nó phù hợp với xu thế mở cửa phát triển kinh tế hướngngoại của các nước đang phát triển ngày nay
Đi theo con đường của Nhật Bản và tiếp đó là "4 con rồng nhỏ" ĐàiLoan, Hàn Quốc, Hồng Kông và Singapore từ thập niên 80 đến nay, nhiềunước ASEAN như Thái Lan, Malaixia, Indonexia… đã liên tục đạt được tốc
độ tăng trưởng kinh tế khá cao, hứa hẹn sẽ trở thành những con rồng mới,khiến cho cả thế giới phải chú ý Có thể có nhiều cách lý giải khác nhau về sựthành công của các nước này, song xin nhắc lại lời giải thích của Clive Crook,chủ bút tờ tạp chí Economist ra ngày 23/9/1989 đã được thực tiễn khẳng địnhlà: "Phương pháp hướng ngoại nhằm vào ngoại thương là lý do lớn nhất giảithích tại sao một số nước đã thành đạt hơn rất nhiều so với các nước khác" [94]
Về sự thành công của chiến lược EOI, cho đến nay đã có rất nhiều sách báokinh tế đề cập đến Ví dụ, một công trình nghiên cứu gần đây do ViệnHarvard về phát triển quốc tế xuất bản năm 1991: Cải cách hệ thống kinh tế ởcác nước đang phát triển Trong cuốn sách này, các giáo sư hàng đầu của đạihọc Tổng hợp Harvard như Dwinght H Perkins, Michael Roemer, StevenC.Radelet đã tổng kết công phu về các quan điểm khác nhau được thể hiệnqua nhiều công trình nghiên cứu của hàng trăm nhà kinh tế có tên tuổi từ sauchiến tranh thế giới thứ hai đến nay để đi đến kết luận quan trọng là: trải quatừng giai đoạn lịch sử và ứng với từng điều kiện, hoàn cảnh cụ thể của từngnước, có tính đến bối cảnh quốc tế, mỗi loại chiến lược hướng nội hay hướngngoại đều có những tác động khác nhau đến sự tăng trưởng và phát triển kinh