Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn (CCKTNT) là vấn đề có tính chiến lược trong phát triển kinh tế xã hội nước ta trong những năm tới. Vùng đồng bằng sông Hồng (ĐBSH) là một trong những vùng kinh tế quan trọng của nước ta, những năm vừa qua đã có những thay đổi và phát triển về đời sống kinh tế xã hội, về cơ cấu kinh tế. Tuy vậy, CCKTNT của vùng vẫn mang nặng tính độc canh, thuần nông, chủ yếu là phát triển ngành trồng trọt xoay quanh cây lúa nước, chăn nuôi chưa phát triển, lâm nghiệp và ngư nghiệp còn nặng về khai thác tự nhiên, công nghiệp và thương mại dịch vụ phát triển chậm.
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn (CCKTNT) là vấn đề có tínhchiến lược trong phát triển kinh tế xã hội nước ta trong những năm tới Vùngđồng bằng sông Hồng (ĐBSH) là một trong những vùng kinh tế quan trọngcủa nước ta, những năm vừa qua đã có những thay đổi và phát triển về đờisống kinh tế xã hội, về cơ cấu kinh tế Tuy vậy, CCKTNT của vùng vẫn mangnặng tính độc canh, thuần nông, chủ yếu là phát triển ngành trồng trọt xoayquanh cây lúa nước, chăn nuôi chưa phát triển, lâm nghiệp và ngư nghiệp cònnặng về khai thác tự nhiên, công nghiệp và thương mại dịch vụ phát triển chậm
Vì vậy, sự phát triển kinh tế của vùng chưa cân xứng với tiềm năng, chưa khaithác có hiệu quả các nguồn lực của vùng, đời sống vật chất và văn hóa củanhân dân trong vùng vẫn còn thấp, số hộ nghèo đói có giảm nhưng rất chậm
Để khắc phục tình trạng trên có nhiều vấn đề đặt ra cần giải quyết,một trong những vấn đề quan trọng là phải từng bước chuyển dịch CCKTNTcủa vùng Muốn thay đổi nhanh có hiệu quả CCKTNT, phù hợp với quátrình chuyển dịch cơ cấu kinh tế của cả nước theo hướng CNH, HĐH nhấtthiết phải nắm được những đặc điểm của quá trình chuyển dịch, tìm raphương hướng và những giải pháp cụ thể trên cơ sở tính tới những đặcđiểm đặc thù của vùng kinh tế ĐBSH Do vậy, đề tài nghiên cứu có ý nghĩathiết thực nhằm khai thác có hiệu quả hơn các nguồn lực của vùng để pháttriển kinh tế nông thôn vùng ĐBSH bền vững trong thời gian tới và từngbước thực hiện công cuộc xây dựng nông thôn giàu đẹp, văn minh, hiệnđại
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Trang 2Đến nay, đã có nhiều tác giả nghiên cứu việc chuyển dịchCCKTNT nói chung cả nước và vùng ĐBSH nói riêng như: GS.TS LươngXuân Quỳ, GS.TS Nguyễn Thế Nhã, PGS.TS Nguyễn Sinh Cúc, TS VũPhạm Quyết Thắng, TS Nguyễn Trung Quế và các tác giả: TS Bạch HồngViệt, Phan Trung Kiên, Nguyễn Đăng Chất, Huỳnh Xuân Hoàng Trongquá trình nghiên cứu, các tác giả đã nghiên cứu nhiều vấn đề như: phân tíchđánh giá điều kiện của vùng, đánh giá thực trạng CCKTNT của vùng ởnhững góc độ khác nhau và đưa ra những giải pháp nhất định nhằm chuyểndịch CCKTNT của vùng hợp lý hơn.
Trên cơ sở nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc các công trình trên, luận
án đi vào phân tích một cách có hệ thống những nhận thức về lý luận cơcấu kinh tế, CCKTNT, đồng thời đánh giá một cách toàn diện thực trạngCCKTNT và chuyển dịch CCKTNT vùng ĐBSH những năm qua Trên cơ
sở đó phân tích những đặc điểm chuyển dịch CCKTNT của vùng và đưa ranhững giải pháp nhằm thúc đẩy sự chuyển dịch CCKTNT của vùng nhanhhơn, có hiệu quả hơn
3 Mục đích và nhiệm vụ của luận án
Mục đích nghiên cứu của đề tài là đề xuất những phương hướng vàgiải pháp phù hợp để chuyển dịch CCKTNT vùng ĐBSH Muốn đạt đượcmục đích trên, nhiệm vụ của luận án là:
- Trình bày có hệ thống những lý luận về cơ cấu kinh tế, CCKTNT,chuyển dịch CCKTNT
- Chỉ ra được cơ sở khoa học, xu hướng khách quan quá trìnhchuyển dịch CCKTNT vùng ĐBSH
- Đánh giá đầy đủ thực trạng, quá trình chuyển dịch CCKTNT củavùng và phân tích được nguyên nhân của những hạn chế
Trang 3- Khái quát và chỉ ra được những đặc điểm trong quá trình chuyểndịch CCKTNT của vùng ĐBSH.
- Đề ra phương hướng và những giải pháp chủ yếu thực hiện quátrình chuyển dịch CCKTNT thời gian tới của vùng ĐBSH
4 Phạm vi nghiên cứu của luận án
Luận án nghiên cứu sự chuyển dịch CCKTNT trong phạm vi vùngĐBSH kể từ sau khi tiến hành sự nghiệp đổi mới ở nưóc ta
5 Phương pháp nghiên cứu
Trên cơ sở phương pháp duy vật biện chứng và dựa vào các quanđiểm của Đảng về phát triển nông nghiệp, nông thôn, luận án sử dụng cácphương pháp cụ thể như: phương pháp phân tích hệ thống, phương pháplôgíc, phương pháp thống kê, tổng kết kinh nghiệm thực tiễn, phương pháp
so sánh
6 Những đóng góp mới về mặt khoa học của luận án
- Hệ thống hóa những vấn đề lý luận cơ bản về cơ cấu kinh tế,CCKTNT, chuyển dịch CCKTNT Đặc biệt, luận án đã trình bày cách tiếpcận, phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến CCKTNT phù hợp với điều kiệncủa nền kinh tế mở
- Phân tích làm sáng tỏ thực trạng CCKTNT, chuyển dịchCCKTNT vùng ĐBSH và những đặc điểm quá trình chuyển dịch CCKTNTcủa vùng
- Đưa ra những quan điểm, phương hướng và những giải pháp chủyếu nhằm chuyển dịch CCKTNT vùng ĐBSH có hiệu quả
7 Kết cấu của luận án
Trang 4Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận
án gồm 3 chương, 9 tiết
Trang 5Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN
VỀ CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ NÔNG THÔN
Nông thôn Việt Nam là địa bàn sinh sống, hoạt động của gần 80%dân cư cả nước Nông thôn là nơi cung cấp nông sản cho xã hội, là thị trườngtiêu thụ sản phẩm công nghiệp, là nơi cung cấp nguồn nhân lực trong quátrình CNH Nông thôn càng phát triển, cơ cấu kinh tế nông thôn(CCKTNT) chuyển dịch theo hướng tiến bộ, đời sống vật chất và tinh thầnkhu vực nông thôn được cải thiện sẽ là điều kiện quan trọng để thực hiệnchiến lược CNH đất nước Nghị quyết số 06 của Bộ Chính trị ngày 10-11-
1998 đã khẳng định: "Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướngCNH, HĐH, tăng khối lượng sản phẩm hàng hóa nhất là nông, lâm, thủysản qua chế biến, tăng giá trị kim ngạch xuất khẩu, giảm tỷ lệ lao độngnông nghiệp tăng tỷ trọng công nghiệp, dịch vụ trong CCKTNT" [31, 5]
Để chuyển dịch CCKTNT hợp lý, thì trước hết phải nhận thức đượcnhững lý luận cơ bản về cơ cấu kinh tế, CCKTNT
1.1 KHÁI NIỆM, ĐẶC TRƯNG CƠ CẤU KINH TẾ NÔNG THÔN VÀ CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ NÔNG THÔN
1.1.1 Khái niệm cơ cấu kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Việc phát triển nền kinh tế có hiệu quả là mục tiêu phấn đấu củamỗi quốc gia Muốn đạt được mục đích trên đòi hỏi phải có một cơ cấukinh tế hợp lý xét trên góc độ các ngành kinh tế, các vùng lãnh thổ và cácthành phần kinh tế
Cơ cấu là một phạm trù phản ánh cấu trúc bên trong của một đốitượng, là tập hợp những mối quan hệ cơ bản, tương đối ổn định giữa cácyếu tố cấu thành nên đối tượng đó trong một thời gian nhất định
Trang 6Khi nghiên cứu về cơ cấu kinh tế có một điểm chung là các nhànghiên cứu đều xem xét cấu trúc bên trong quá trình tái sản xuất mở rộngcủa nền kinh tế Cấu trúc bên trong của nền kinh tế thường được hiểu thôngqua các mối quan hệ kinh tế, quan hệ này không chỉ là quan hệ mang tính chất
số lượng mà còn mang tính chất về mặt chất lượng nữa Các Mác cho rằng:
"Cơ cấu là sự phân chia về chất lượng và một tỉ lệ về số lượng của quátrình sản xuất xã hội" [28, 102]
Quá trình sản xuất xã hội bao gồm toàn bộ những quan hệ sản xuấtphù hợp với trình độ phát triển nhất định của lực lượng sản xuất Như CácMác đã nhận định: "Cơ cấu kinh tế của xã hội là toàn bộ những quan hệ sảnxuất phù hợp với một quá trình phát triển nhất định của lực lượng sản xuấtvật chất" [27, 7] Khi phân tích sự thống nhất giữa lực lượng sản xuất và quan
hệ sản xuất trong cơ cấu kinh tế Các Mác đã chỉ rõ: "Do tổ chức quá trình laođộng và phát triển kỹ thuật một cách mạnh mẽ làm đảo lộn toàn bộ cơ cấu kinh
tế của xã hội" [26, 47] Vậy cơ cấu kinh tế thể hiện những mối quan hệthống nhất giữa quan hệ sản xuất và lực lượng sản xuất của nền kinh tế.Các mối quan hệ kinh tế đó không phải chỉ là những quan hệ riêng lẻ từng
bộ phận kinh tế mà phải là những quan hệ tổng thể của các bộ phận cấuthành nền kinh tế bao gồm: các yếu tố kinh tế (tài nguyên, đất đai, cơ sở vật
chất kỹ thuật, sức lao động ), các lĩnh vực kinh tế (sản xuất, phân phối,trao đổi, tiêu dùng ), các ngành kinh tế (nông nghiệp, công nghiệp, giaothông vận tải ) các vùng kinh tế, các thành phần kinh tế (quốc doanh, tậpthể, tư nhân )
Cơ cấu kinh tế bao giờ cũng gắn với những điều kiện không gian
và thời gian cụ thể, những điều kiện tự nhiên - kinh tế - xã hội cụ thể và
Trang 7thích hợp với mỗi nước, mỗi vùng hoặc có thể của mỗi doanh nghiệp, mỗithời kỳ
Cơ cấu kinh tế không thể cố định lâu dài, phải có sự vận độngchuyển dịch cần thiết, thích hợp với những biến động của điều kiện tự nhiên -kinh tế - xã hội Sự duy trì quá lâu hoặc sự thay đổi quá nhanh chóng cơcấu kinh tế mà không phù hợp với những biến đổi của tự nhiên - kinh tế -
xã hội đều có thể ảnh hưởng đến hiệu quả quá trình sản xuất kinh doanh.Bởi vậy, việc duy trì hay thay đổi cơ cấu kinh tế không phải là mục tiêu màchỉ là phương tiện của việc tăng trưởng và phát triển kinh tế Cơ cấu kinh tếtrong quá trình vận động chuyển dịch nhanh hay chậm không phụ thuộcvào ý muốn chủ quan mà phụ thuộc vào các điều kiện cần thiết cho sựchuyển đổi, các mục tiêu kinh tế xã hội sẽ đạt được như thế nào?
Sự phân tích trên, cho thấy: "Cơ cấu kinh tế là tổng thể các mốiquan hệ chủ yếu về chất lượng và số lượng tương đối ổn định của các yếu
tố hoặc các bộ phận của lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất trong một
hệ thống tái sản xuất xã hội với những điều kiện kinh tế xã hội nhất định,vào một khoảng thời gian nhất định" [11, 22] Cách hiểu cơ cấu kinh tế nhưtrên là khoa học tương đối toàn diện, đầy đủ các bộ phận cấu thành, cácmối quan hệ khăng khít giữa các bộ phận cấu thành
Có thể hiểu một cách trực diện hơn cơ cấu kinh tế là mối quan hệ
và tỷ lệ giữa các ngành trong nền kinh tế (hoặc trong GDP), mối quan hệgiữa các vùng kinh tế, giữa các thành phần kinh tế Do đó quan niệm củaluận án hiểu chuyển dịch cơ cấu kinh tế là sự thay đổi tỷ trọng tương đốicủa các ngành, các bộ phận của mỗi ngành trong nền kinh tế (hoặc trongGDP), sự thay đổi vị trí, vai trò của các vùng kinh tế, các thành phần kinh
tế Chuyển dịch cơ cấu kinh tế là việc thay đổi cấu trúc nội tại và mối quan
Trang 8hệ giữa các bộ phận hợp thành của nền kinh tế có hướng đến mục tiêu đãxác định.
1.1.2 Khái niệm CCKTNT và chuyển dịch CCKTNT
Nông thôn là một khu vực mà ở đó có một cộng đồng chủ yếu lànông dân sống và làm việc, có mật độ dân số, có cơ sở hạ tầng và trình độsản xuất hàng hóa thấp hơn khu vực thành thị Kinh tế nông thôn là mộttổng thể các hoạt động kinh tế xã hội diễn ra trên địa bàn nông thôn, baogồm các ngành nông - lâm - ngư nghiệp, công nghiệp và dịch vụ trên địabàn đó và các ngành khác
Trước đây, nói đến nông thôn ta thường nghĩ đến địa bàn mà ở đóhoạt động sản xuất nông nghiệp được coi là bao trùm Nhưng ngày nay, với
sự phát triển cao của lực lượng sản xuất và phân công lao động thì khu vựcnông thôn không đơn thuần chỉ có hoạt động nông nghiệp mà cần phát triển
cả công nghiệp và dịch vụ Kinh tế nông thôn là khu vực kinh tế quan trọng
vì nó là khu vực sản xuất vật chất cung cấp cho xã hội lương thực, thựcphẩm thỏa mãn nhu cầu thiết yếu nuôi sống con người
Cùng với sự phát triển kinh tế xã hội, khu vực kinh tế nông thôn đã
và đang cung cấp ngày càng nhiều sản phẩm, nguyên liệu cho công nghiệp
và chi viện lực lượng lao động cho khu vực thành thị Quá trình phát triểncủa mỗi quốc gia luôn gắn liền với quá trình đô thị hóa, nhưng không vì đôthị hóa mà khu vực kinh tế nông thôn mất đi, trái lại kinh tế nông thôn đòihỏi ngày càng phát triển và hiện đại Khu vực kinh tế nông thôn tồn tại vàphát triển luôn luôn gắn liền với tổng thể các quan hệ nhất định
Kinh tế nông thôn được hiểu như trên, nhưng khi nghiên cứu vềCCKTNT thì cũng còn có những cách hiểu khác nhau TS Nguyễn TrungQuế cho rằng CCKTNT là tỉ lệ giữa các ngành nông nghiệp, công nghiệp
Trang 9và tiểu thủ công nghiệp, thương mại dịch vụ phản ánh mối quan hệ tácđộng qua lại, thúc đẩy lẫn nhau để đảm bảo sự cân đối, hài hòa tạo cho tổngthể kinh tế tồn tại, phát triển ổn định và có hiệu quả Theo quan niệm trêntác giả nhấn mạnh chủ yếu mặt số lượng và chưa gắn CCKTNT trong điềukiện không gian, thời gian cụ thể Còn theo PGS Đỗ Thế Tùng thìCCKTNT là tương quan giữa các loại lao động cụ thể được tách riêng ra doquá trình phân công lao động xã hội phát triển sâu, rộng diễn ra ở nôngthôn Các tương quan này có thể được xem xét trên nhiều tiêu thức khácnhau biểu hiện cụ thể của cơ cấu đó [49, 22] Quan niệm này khác với đa sốquan niệm của các nhà nghiên cứu về CCKTNT Mặc dù giữa cơ cấu laođộng và CCKTNT có quan hệ mật thiết với nhau nhưng không hoàn toànnhất quán với nhau, quan niệm trên cũng chưa cho thấy cụ thể mối quan hệgiữa các ngành sản xuất trong CCKTNT.
Quan niệm của luận án cho rằng: CCKTNT là một tổng thể các mốiquan hệ kinh tế trong khu vực nông thôn, có quan hệ chặt chẽ với nhau cả vềmặt lượng, mặt chất trong không gian và thời gian nhất định, phù hợp vớinhững điều kiện tự nhiên - kinh tế - xã hội nhất định
Như vậy, giữa các bộ phận của CCKTNT có mối quan hệ chặt chẽkhông tách rời nhau theo những tỷ lệ về lượng cũng như về chất CCKTNTtồn tại khách quan nhưng không mang tính bất biến mà luôn thay đổi thíchứng với sự phát triển của lực lượng sản xuất và phân công lao động trongtừng thời kỳ Việc xác lập CCKTNT chính là giải quyết mối quan hệ tươngtác giữa những yếu tố của lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất, giữa tựnhiên với con người trong khu vực nông thôn theo thời gian và những điềukiện kinh tế xã hội cụ thể Các mối quan hệ trong CCKTNT phản ánh trình
độ phát triển của phân công lao động xã hội, của quá trình chuyên môn hóa,hợp tác hóa CCKTNT ngày càng phát triển cả chiều rộng và chiều sâu,
Trang 10ngày càng phức tạp hơn, phản ánh trình độ phát triển cao hay thấp của lựclượng sản xuất và phân công lao động trong nông thôn.
Từ nhận thức CCKTNT trên, quan niệm của luận án cho rằng:chuyển dịch CCKTNT là sự thay đổi cấu trúc nội tại và mối quan hệ giữacác bộ phận cấu thành của CCKTNT theo hướng tiến bộ hơn, hoàn thiệnhơn Trên thực tế chuyển dịch CCKTNT là sự thay đổi tỉ trọng tương đốicủa các ngành, các bộ phận của mỗi ngành, sự thay đổi vị trí, vai trò cácvùng kinh tế, các thành phần kinh tế trong CCKTNT CCKTNT là một bộphận cấu thành quan trọng trong cơ cấu kinh tế của một quốc gia, do vậychuyển dịch CCKTNT là một nội dung trong quá trình chuyển dịch cơ cấukinh tế của mỗi quốc gia
Nội dung của CCKTNT bao gồm: Cơ cấu ngành, cơ cấu vùng kinh
tế, cơ cấu thành phần kinh tế
sự phân chia ngành ngày càng đa dạng và sâu sắc
Trong một thời kỳ rất dài của lịch sử kinh tế, kinh tế nông thôn chủyếu là nông nghiệp Sau này cùng với quá trình CNH thì CCKTNT sẽ đượccải biến nhanh chóng theo hướng CNH, HĐH
Cơ cấu ngành của kinh tế nông thôn bao gồm ba nhóm: Nôngnghiệp (gồm nông - lâm - ngư nghiệp), công nghiệp (bao gồm: công nghiệpkhai thác, chế biến, tiểu thủ công nghiệp) và dịch vụ (bao gồm: dịch vụ sảnxuất và dịch vụ đời sống xã hội)
Trang 11Phân công lao động xã hội càng sâu sắc thì cơ cấu ngành càng đadạng và tỷ mỉ Tiền đề của sự phân công lao động là năng suất lao độngtrong nông nghiệp mà trước hết và chủ yếu là năng suất lao động trong khuvực sản xuất lương thực đạt ở một mức độ nhất định đảm bảo số lượng vàchất lượng lương thực cần thiết cho xã hội mới tạo nên sự phân công giữangười sản xuất lương thực với người sản xuất nguyên liệu nông nghiệp,làm trong lĩnh vực chăn nuôi tạo nên sự phân công giữa những người sảnxuất nông nghiệp và những người làm việc ở những ngành khác.
Về vấn đề này Các Mác đã khẳng định: "Lao động nông nghiệp là cái
cơ sở tự nhiên không phải chỉ riêng cho lao động thặng dư trong lĩnh vực củabản thân ngành nông nghiệp, mà nó còn là cái cơ sở tự nhiên để biến tất cả cácngành lao động khác thành những ngành độc lập" [25,54]
Như vậy, cùng với sự phát triển của phân công lao động thì cơ cấungành kinh tế trong khu vực kinh tế nông thôn cũng vận động và phát triểnngày càng hoàn thiện hơn Khi phân công lao động xã hội chưa phát triểnthì ngành sản xuất nông nghiệp chiếm vị trí chủ yếu trong cơ cấu ngành củakinh tế nông thôn Khi năng suất lao động trong nông nghiệp tăng lên,ngoài hoạt động trồng trọt và chăn nuôi con người đã tìm kiếm và làm thêmnhiều công việc khác như phát triển ngành nghề thủ công và đến một trình
độ nhất định đã tách thành một ngành sản xuất độc lập, tiền thân của ngànhcông nghiệp nông thôn Phân công lao động xã hội càng phát triển thì một
bộ phận dân cư tách khỏi khu vực sản xuất chuyển sang lĩnh vực dịch vụ,lưu thông trao đổi hàng hóa hình thành ngành thương mại dịch vụ Đến khinày thì CCKTNT hình thành đầy đủ các ngành
Cùng với sự phát triển của phân công lao động xã hội thì cơ cấungành ngày càng hoàn thiện hơn Sự hoàn thiện hơn cơ cấu ngành củaCCKTNT thể hiện ở việc phát triển các ngành chuyên sâu hơn Chẳng hạn,trong sản xuất nông nghiệp sau khi tách thành hai ngành trồng trọt và chăn
Trang 12nuôi thì hướng hoàn thiện của ngành sản xuất nông nghiệp là ngành trồngtrọt giảm dần tỉ trọng trong cơ cấu còn ngành chăn nuôi tăng dần tỉ trọngnhưng theo qui luật số tuyệt đối của cả ngành trồng trọt và chăn nuôi đềuphải tăng Sự phát triển tiếp theo là việc thay đổi cơ cấu cụ thể trong từngngành Trong ngành trồng trọt ngoài cây lương thực, thực phẩm sẽ xuấthiện thêm những loại cây trồng mới phù hợp với điều kiện từng vùng đểđáp ứng nhu cầu của thị trường như cây công nghiệp, cây ăn quả, cây dượcliệu, hoặc sản phẩm nào mà thị trường không có nhu cầu thì có thể sẽ khôngtồn tại trong cơ cấu sản xuất Ngành chăn nuôi sự thay đổi cũng diễn ratheo hướng đó.
Sự hoàn thiện cơ cấu ngành của CCKTNT chính là sự chuyển dịch
cơ cấu ngành của CCKTNT
Một quốc gia không làm giàu chỉ bằng nông nghiệp mà phải làm giàubằng công nghiệp và dịch vụ Tuy nhiên, muốn phát triển công nghiệp và dịch
vụ có hiệu quả thì trước hết phải coi trọng nông nghiệp, nghĩa là nông nghiệpphải đảm bảo phát triển đến mức nhất định tạo tiền đề và điều kiện quantrọng cho sự phát triển công nghiệp và dịch vụ với tốc độ cao vững chắc
Cơ cấu vùng kinh tế:
Sự phân công lao động theo ngành kéo theo sự phân công lao độngtheo lãnh thổ, đó là hai mặt của quá trình gắn bó hữu cơ với nhau Sự phâncông lao động theo ngành bao giờ cũng diễn ra trên những vùng, lãnh thổ nhấtđịnh Do vậy, cơ cấu theo vùng kinh tế là sự phân công lao động theo lãnh thổtrên địa bàn từng vùng kinh tế Nói cách khác, là sự bố trí các ngành sảnxuất và dịch vụ theo không gian cụ thể nhằm khai thác mọi ưu thế, tiềm năngcủa vùng đó Trong nền kinh tế thị trường sự hình thành các vùng kinh tếgắn với nhu cầu của thị trường dựa trên cơ sở tiềm năng, lợi thế của vùng Sảnphẩm của ngành sản xuất nào mà thị trường có nhu cầu lớn sẽ được hình
Trang 13thành và phát triển trước, sau đó là sự phát triển của các ngành sản xuất bổtrợ phục vụ cho việc chế biến và tiêu thụ sản phẩm của ngành sản xuất đó.
Cùng với sự phát triển của phân công lao động xã hội, cơ cấu vùngkinh tế có sự vận động, thay đổi cho phù hợp với những biến động thực tế.Chẳng hạn, khi nhu cầu của thị trường thay đổi tất yếu kéo theo sự thay đổicủa cơ cấu vùng kinh tế Bởi vậy, cách tốt nhất hình thành, biến đổi cơ cấuvùng (hay cơ cấu ngành) là tạo ra những điều kiện thuận lợi nhất để nhữngngười kinh doanh trong lĩnh vực nông thôn có đầy đủ những thông tin của thịtrường và xử lý chính xác những thông tin đó phục vụ cho sản xuất kinh doanh
Xu thế chuyển dịch cơ cấu vùng kinh tế theo hướng đi vào chuyên môn hóa
và tập trung hóa sản xuất và dịch vụ, hình thành những vùng sản xuất hànghóa lớn, tập trung có hiệu quả cao, mở rộng các mối quan hệ với các vùngchuyên môn hóa khác, gắn cơ cấu kinh tế của từng khu vực với cả nước.Trong từng vùng kinh tế cần coi trọng chuyên môn hóa kết hợp với pháttriển tổng hợp, đa dạng Về vấn đề này Đảng ta đã khẳng định: "Chuyểndịch cơ cấu kinh tế lãnh thổ trên cơ sở khai thác triệt để các lợi thế, tiềmnăng của từng vùng, liên kết hỗ trợ nhau làm cho tất cả các vùng đều pháttriển" [54, 89]
Kinh nghiệm cho thấy, để hình thành cơ cấu vùng kinh tế hợp lýtrong khu vực kinh tế nông thôn trước hết cần hướng vào những khu vực cólợi thế so sánh, đó là những khu vực có điều kiện đất đai, thời tiết khí hậutốt, có vị trí địa lý giao thông thuận lợi, những vùng gần với các trục giaothông quan trọng, gần với các thành phố và khu công nghiệp sôi động, cóđiều kiện phát triển và mở rộng giao lưu kinh tế với thị trường trong vàngoài nước, có khả năng tiếp cận và hòa nhập nhanh chóng vào các thị trườnghàng hóa dịch vụ Song, so với cơ cấu ngành thì cơ cấu vùng kinh tếthường có tính trì trệ hơn, có sức ỳ hơn do vậy việc xây dựng vùng chuyênmôn hóa nông - lâm - ngư nghiệp cần được xem xét cụ thể, cần nghiên cứu
Trang 14kỹ và thận trọng vì nếu mắc phải sai lầm thì sẽ khó khắc phục và chịu tổn thấtlớn.
Cơ cấu thành phần kinh tế:
Đây là nội dung quan trọng của chuyển dịch cơ cấu kinh tế nóichung và chuyển dịch CCKTNT nói riêng Cơ cấu thành phần kinh tế là sựthể hiện vị trí, vai trò, mối quan hệ giữa các thành phần kinh tế trong nôngthôn Cơ cấu thành phần kinh tế không phải là sự tập hợp giản đơn cácthành phần kinh tế với nhau mà phải bảo đảm được các yêu cầu:
Một là, tính định hướng xã hội chủ nghĩa tức là phải tạo điều kiện
để hình thành từng bước vững chắc những cơ sở của chủ nghĩa xã hội trongcác lĩnh vực quan trọng Do vậy kinh tế quốc doanh phải được củng cố vàphát triển có hiệu quả để từng bước nắm giữ vai trò chủ đạo, định hướng sựvận động của nền kinh tế
Hai là, có kết cấu hợp lý nghĩa là cơ cấu đó phải tạo điều kiện để
khai thác và sử dụng có hiệu quả các tiềm năng kinh tế, các nguồn lực của
xã hội, tạo điều kiện cho lực lượng sản xuất phát triển, cho tăng trưởng kinh tế
và từng bước hòa nhập vào thị trường thế giới với hiệu quả kinh tế xã hội cao
Do trình độ phát triển và trình độ xã hội hóa của lực lượng sản xuấtkhông đều nên quan hệ sản xuất (bao gồm quan hệ sở hữu, quan hệ tổ chứcquản lý và quan hệ phân phối) cũng đa dạng, thích ứng với trình độ và tínhchất của lực lượng sản xuất không đều đó Trong quá trình chuyển dịchCCKTNT, vị trí, vai trò, mối quan hệ giữa các thành phần kinh tế trongnông thôn phát triển phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất
và quan hệ sản xuất V.I Lênin đã chỉ ra rằng ở các nước đi lên chủ nghĩa
xã hội phổ biến có ba thành phần kinh tế cơ bản: Kinh tế xã hội chủ nghĩa,kinh tế tư bản chủ nghĩa và kinh tế sản xuất hàng hóa nhỏ
Trang 15Vận dụng tư tưởng của V.I Lênin vào điều kiện cụ thể của ViệtNam, Đảng ta đã khẳng định: "Nền kinh tế nhiều thành phần trong nôngnghiệp, nông thôn tồn tại lâu dài mỗi thành phần có vị trí, vai trò riêng vàđều được khuyến khích phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa" [31, 5].
Nền kinh tế nhiều thành phần trong nông nghiệp, nông thôn nước tabao gồm: Kinh tế nhà nước, kinh tế hợp tác và hợp tác xã, kinh tế hộ nôngdân và kinh tế tư bản nhà nước, tư bản tư nhân trong nông nghiệp Mỗithành phần kinh tế có bản chất và những đặc trưng riêng, nhưng không biệtlập mà có liên hệ với nhau Các chủ thể sản xuất kinh doanh thuộc cácthành phần kinh tế vừa hợp tác với nhau, bổ sung cho nhau, vừa cạnh tranh
và bình đẳng trước pháp luật Các chủ thể sản xuất kinh doanh thuộc cácthành phần kinh tế đều có những lợi ích kinh tế riêng vừa thống nhất, vừamâu thuẫn với lợi ích chung của xã hội
Trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, kinh tế nông thôn nước
ta với nhiều thành phần kinh tế trong đó kinh tế quốc doanh giữ vai trò chủđạo và cùng với kinh tế tập thể trở thành nền tảng trong phát triển kinh tế.Kinh tế tư nhân, cá thể được mở rộng và phát huy tối đa sự chủ động trongsản xuất kinh doanh Việc xác định đúng cơ cấu thành phần kinh tế sẽ là cơ sở
đề ra chủ trương, chính sách kinh tế đúng nhằm tạo ra động lực thúc đẩynông nghiệp, nông thôn phát triển theo một định hướng chung của nền kinhtế
Xu hướng vận động của các thành phần kinh tế trong quá trình đilên chủ nghĩa xã hội diễn ra dưới nhiều hình thức phù hợp với tính chất vàtrình độ phát triển của lực lượng sản xuất ở mỗi giai đoạn Do vậy, tùy theotrình độ phát triển của lực lượng sản xuất và hiệu quả kinh doanh mà mỗithành phần kinh tế có những hình thức tổ chức khác nhau Các hình thức tổchức sản xuất thích hợp cũng là một nhân tố quan trọng thúc đẩy nôngnghiệp, nông thôn phát triển
Trang 161.1.3 Đặc trưng của cơ cấu kinh tế nông thôn
CCKTNT có những đặc trưng giống như cơ cấu kinh tế nhưng cũng
có những đặc trưng riêng của nó Những đặc trưng chung của CCKTNT và
cơ cấu kinh tế gồm:
Một là, CCKTNT có tính khách quan, được hình thành do sự phát
triển của lực lượng sản xuất, của phân công lao động và sự chi phối của cácđiều kiện khác Với một trình độ phát triển nhất định của lực lượng sảnxuất sẽ có một cơ cấu kinh tế cụ thể tương ứng trong nông thôn Vì vậy,việc xác lập CCKTNT không thể áp đặt một cách chủ quan, duy ý chí màphải dựa vào những điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội nhất định
Hai là, CCKTNT có tính lịch sử, xã hội CCKTNT luôn luôn gắn
với một giai đoạn nhất định, do những điều kiện cụ thể về kinh tế-xã hội-tựnhiên của giai đoạn đó chi phối Vì thế khi chuyển sang một giai đoạn kháccủa lịch sử xã hội những điều kiện nói trên biến đổi thì cơ cấu kinh tế cũbiến đổi và một cơ cấu kinh tế mới thích ứng được hình thành Mặt khác,
do lực lượng sản xuất và phân công lao động phát triển, nhu cầu tiêu dùng
ở trình độ cao theo hướng đa dạng hơn và đòi hỏi chất lượng sản phẩm caohơn đây cũng là nguyên nhân khách quan thúc đẩy việc xác lập CCKTNT
để thỏa mãn nhu cầu tiêu dùng ngày càng cao
Ba là, CCKTNT luôn vận động và phát triển theo hướng ngày càng
hợp lý, hoàn thiện và có hiệu quả
Quá trình vận động và phát triển của CCKTNT gắn bó chặt chẽ với
sự phát triển của các yếu tố lực lượng sản xuất và phân công lao động xãhội Lực lượng sản xuất càng phát triển, khoa học kỹ thuật càng hiện đại,phân công lao động càng tỉ mỉ thì tất yếu cơ cấu kinh tế vận động theohướng ngày càng hoàn thiện hơn
Trang 17Song, cũng phải nhận thấy rằng, khi mà nông nghiệp chiếm tỉ trọngchủ yếu trong CCKTNT, do đặc thù của mình ngành nông nghiệp thường
có tốc độ tăng trưởng thấp hơn so với các ngành kinh tế khác, khu vực khác,khả năng tích lũy khó khăn hơn Bởi vậy, so với khu vực thành thị thì khu vựckinh tế nông thôn các nước đang phát triển có khoảng cách rất xa cả về đờisống kinh tế và đời sống xã hội Mức độ hấp dẫn của khu vực kinh tế nôngthôn kém hơn khu vực thành thị, đội ngũ cán bộ khoa học giỏi còn quá ít,
cơ sở hạ tầng còn hạn chế vì thế kinh tế nông thôn thường trì trệ và kém năngđộng
Ngoài ra, CCKTNT còn có những đặc trưng riêng khác như: địabàn của CCKTNT hoạt động rất rộng, CCKTNT phụ thuộc nhiều vào điềukiện tự nhiên bởi sản xuất nông nghiệp vẫn là ngành chủ yếu trongCCKTNT Đặc biệt ở nước ta và các nước đang phát triển, CCKTNTthường mang nặng tính chất cổ truyền và nông nghiệp truyền thống Vềmặt kỹ thuật mang tính cha truyền con nối, đào tạo và truyền lại kinhnghiệm truyền thống trong phạm vi từng gia đình, thôn xóm, làng xã Với
tư tưởng trọng nông, khinh thương mại, đặt tình nghĩa cao hơn tính toánhiệu quả kinh tế Chính tư tưởng đó đã chi phối các phương thức kinhdoanh của các chủ thể ở nông thôn, làm cho họ mang tính bảo thủ, ít thayđổi kỹ thuật, phụ thuộc nhiều vào điều kiện tự nhiên
Trên đây là những đặc điểm của CCKTNT cần nhận thức đầy đủhơn nhằm đưa ra những giải pháp có hiệu quả trong quá trình chuyển dịchCCKTNT Đây cũng là những mặt để phân biệt CCKTNT khác với cơ cấukinh tế khu vực thành thị Chẳng hạn, về mặt trình độ thì kinh tế nông thônnói chung thường thấp hơn khu vực thành thị Nếu đứng ở góc độ kinh tếthị trường nghĩa là trình độ phát triển nền kinh tế hàng hóa, tiền tệ ở nôngthôn thường thấp hơn nhiều so với khu vực thành thị là nơi tập trung mộtkhối lượng lớn công nghệ và giao dịch thương mại Sự thấp kém về mặt kỹ
Trang 18thuật thể hiện ở kỹ thuật sản xuất của khu vực kinh tế nông thôn lạc hậu.Tuy nhiên, lưu ý rằng với một số ngành nghề sản xuất truyền thống thì việcduy trì kỹ thuật sản xuất cổ truyền là cần thiết nhưng cũng từng bước đưa
kỹ thuật sản xuất mới vào cho phù hợp để tạo ra những sản phẩm có chấtlượng cao phù hợp với trình độ tiêu dùng ngày càng cao
Về trình độ kinh doanh thì các chủ thể ở nông thôn thấp hơn so vớicác chủ thể ở khu vực thành thị, mặt hàng đơn điệu, khối lượng nhỏ, nănglực tài chính yếu, thị trường hàng hóa dịch vụ chưa phát triển thậm chí ởnhiều vùng nông thôn còn tồn tại nền kinh tế tự nhiên, tự cấp, tự túc
Những năm gần đây, với sự phát triển mạnh mẽ của cuộc cáchmạng khoa học kỹ thuật và công nghệ đã làm thay đổi nhận thức trong việcphát triển kinh tế và chuyển đổi cơ cấu kinh tế Nhiều quan niệm mới đãxuất hiện như: nền kinh tế sinh thái, nền nông nghiệp sạch, phát triển côngnghệ vi sinh đã có ảnh hưởng rất lớn đến chiến lược phát triển kinh tế vàchuyển dịch CCKTNT Những ý tưởng CNH nông thôn duy về mặt "cơkhí, sắt thép" đã thất bại để nhường bước cho một phương thức CNH nôngthôn hài hòa hơn, ít ảnh hưởng đến môi trường sinh thái, gắn bó giữa sinhthái với kinh tế, sinh thái tự nhiên và sinh thái nhân văn, những hình mẫu
về khu công nghiệp không có khói ở nông thôn đang dần dần trở thành mốiquan tâm hàng đầu trong chiến lược kinh tế ở nhiều quốc gia Hình ảnh đặctrưng của nền kinh tế nông thôn mới mang đậm màu sắc kinh tế sinh thái
mà ở đó có sự kết hợp hài hòa giữa sinh thái xã hội với sinh thái nhân văn
1.1.4 Đặc điểm chung của quá trình chuyển dịch CCKTNT
Chuyển dịch CCKTNT là một quá trình vận động của các bộ phậncấu thành CCKTNT sẽ vận động và phát triển, chuyển hóa từ cơ cấu cũsang cơ cấu mới Quá trình đó đòi hỏi phải có thời gian và phải qua nhữngthang bậc nhất định của sự phát triển Sự thay đổi từ lượng và đến một mức
Trang 19độ tích lũy nhất định dẫn đến sự biến đổi về chất Sự chuyển dịchCCKTNT nhanh hay chậm tùy thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó sự tácđộng của con người có ý nghĩa quan trọng và phải có các giải pháp, chínhsách và cơ chế quản lý thích ứng để định hướng cho quá trình chuyển dịchCCKTNT Trên cơ sở nhận thức, nắm bắt quy luật vận động khách quancủa chúng để con người tác động đúng nhằm đạt các mục tiêu đã định Mụctiêu của sự chuyển dịch là sự kết hợp một cách hài hòa các bộ phận cấuthành của tổng thể đó.
Quá trình chuyển dịch CCKTNT có những đặc điểm chung đã đượcnhiều nhà kinh tế phân tích trong các lý thuyết phát triển kinh tế của họ Đây
là một trong những cơ sở khoa học cho việc nghiên cứu chuyển dịch CCKTNT
- Lý thuyết phân kỳ phát triển kinh tế của Walt Rostow (còn gọi là
lý thuyết về các giai đoạn phát triển kinh tế)
Nhà kinh tế học Mỹ W Rostow đã rất quan tâm nghiên cứu sự tăngtrưởng và phát triển kinh tế của các nước Theo ông quá trình phát triểnkinh tế của bất kì nước nào cũng đều trải qua năm giai đoạn tuần tự: xã hộitruyền thống, giai đoạn chuẩn bị cất cánh, giai đoạn trưởng thành, giai đoạnmức tiêu dùng cao Khi chuyển từ giai đoạn này sang giai đoạn khác trongquá trình phát triển thì cơ cấu kinh tế cũng có sự thay đổi nhất định, đó chính
là sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế Quá trình phát triển của nền kinh tế gắnliền với sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành Dưới sự tác động của nhiềuyếu tố, trong đó đặc biệt là sự tác động của khoa học công nghệ mà xã hộinông nghiệp truyền thống bắt đầu phát triển, nền kinh tế từng bước được hiệnđại hóa và mở rộng quan hệ kinh tế với nước ngoài Cùng với sự phát triểncủa các ngành kinh tế thì cơ cấu lao động cũng thay đổi theo chiều hướng tỉ
lệ lao động có trình độ chuyên môn tay nghề cao và tỉ lệ dân cư đô thị tăng
Trang 20- Lý thuyết nhị nguyên của A.Lewis (hay còn gọi là mô hình kinh
tế hai khu vực của A.Lewis)
Vấn đề cốt lõi trong lý thuyết của A.Lewis là ông đã phân chia nềnkinh tế thành hai khu vực kinh tế song song tồn tại:
+ Khu vực truyền thống, chủ yếu là sản xuất nông nghiệp
+ Khu vực kinh tế công nghiệp hiện đại
Khu vực kinh tế truyền thống có đặc điểm là trì trệ, năng suất laođộng thấp Khu vực công nghiệp có vốn, có công nghệ và có điều kiện đểtăng trưởng cao Vì thế có thể chuyển một phần lao động từ khu vực này sangkhu vực công nghiệp hiện đại Việc di chuyển lao động đã làm cho sốlượng lao động trong nông nghiệp ngày càng giảm mà sản lượng nôngnghiệp không giảm và sau đó người lao động trong nông nghiệp có điềukiện đầu tư nâng cao năng suất lao động Để tăng hiệu quả trong sự tácđộng qua lại giữa hai khu vực cần kết hợp việc giảm tốc độ tăng dân số vàquan tâm thích đáng tới nông nghiệp trong quá trình chuyển dịch cơ cấukinh tế
- Lý thuyết mô hình hai khu vực của Harry.T Oshima
T.Oshima một nhà kinh tế Nhật đã nghiên cứu mối quan hệ giữa haikhu vực dựa trên những đặc điểm khác biệt của các nước châu Á, châu Mỹ
đó là nền nông nghiệp lúa nước có tính thời vụ cao, vào thời gian cao điểmcủa mùa vụ vẫn có hiện tượng thiếu lao động nhưng lại dư thừa nhiều tronglúc nhàn rỗi
Trong lý thuyết của mình T Oshima cho rằng: Sự phát triển củanền kinh tế bắt đầu bằng việc vẫn giữ lao động trong nông nghiệp nhưngcần tạo thêm nhiều việc làm trong những tháng nhàn rỗi Tiếp đó là sẽ sửdụng lao động nhàn rỗi vào các ngành sản xuất công nghiệp cần nhiều lao
Trang 21động, khi tạo ra việc làm trong những tháng nhàn rỗi sẽ tăng thu nhập chongười nông dân, mở rộng thị trường trong nước cho ngành công nghiệp vàdịch vụ Khi thị trường lao động không còn dồi dào thì sản xuất nôngnghiệp sẽ chuyển dần sang cơ giới hóa để tăng năng suất lao động
Trên đây là ba trong số nhiều lý thuyết phát triển kinh tế, đều khẳngđịnh sự phát triển kinh tế cần phải được thông qua quá trình chuyển dịch cơcấu kinh tế ngành Sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành bao giờ cũng bắtđầu từ khu vực sản xuất truyền thống của xã hội là sản xuất nông nghiệptheo qui luật tỉ trọng của sản xuất nông nghiệp trong cơ cấu GDP giảm dần(Mặc dù số tuyệt đối vẫn tăng lên), còn tỉ trọng ngành công nghiệp vàthương mại dịch vụ sẽ tăng dần Cơ cấu lao động cũng sẽ thay đổi phù hợpvới xu hướng trên là tỉ trọng lao động trong nông nghiệp giảm dần cả sốtương đối và tuyệt đối, tỉ trọng lao động ngành công nghiệp và thương mạidịch vụ tăng lên Do vậy, chuyển dịch cơ cấu sản xuất nông nghiệp vàCCKTNT có ý nghĩa rất quan trọng đối với việc phát triển ngành nôngnghiệp nói riêng và phát triển kinh tế nói chung, nó là xuất phát điểm củaquá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế mỗi quốc gia
Chuyển dịch CCKTNT có những đặc điểm chung sau:
Một là, chuyển dịch CCKTNT bắt đầu từ sự tăng trưởng và chuyển
dịch của cơ cấu sản xuất nông nghiệp
Trong bối cảnh chung của toàn bộ nền kinh tế quốc dân, tăngtrưởng và chuyển dịch cơ cấu sản xuất nông nghiệp diễn ra cùng với quátrình phát triển của nông nghiệp mà sự tăng trưởng của nông nghiệp lạithúc đẩy sự phát triển của các ngành khác Cùng với quá trình trên là quátrình hội nhập của nông nghiệp với toàn bộ nền kinh tế thông qua các quan
hệ thị trường
Trang 22Nội dung cơ bản của chuyển dịch cơ cấu sản xuất nông nghiệp làquá trình chuyển đổi nền nông nghiệp từ tự túc, tự cấp sang sản xuấtchuyên môn hóa gắn với nhu cầu của thị trường Quá trình này với ba giaiđoạn lớn:
+ Giai đoạn thứ nhất: Đó là nền nông nghiệp sinh tồn, qui mô nhỏcủa nông dân chiếm ưu thế Cơ cấu nông nghiệp có tính thuần nông vớimục tiêu sản xuất tự cung tự cấp mà chủ yếu là sản xuất lương thực
+ Giai đoạn thứ hai: Đặc trưng của giai đoạn này là quá trình đadạng hóa nông nghiệp, ngoài sản xuất lương thực còn phát triển các câytrồng khác và chăn nuôi Một yếu tố quan trọng thúc đẩy chuyển dịch cơcấu nông nghiệp là việc áp dụng công nghệ mới của hộ nông dân đã xuất hiện
+ Giai đoạn thứ ba: Đặc trưng chủ yếu của nền nông nghiệp tronggiai đoạn này là nền nông nghiệp thương mại, chuyên môn hóa với qui môsản xuất lớn, với các trang trại chuyên môn hóa
Vậy là, quá trình chuyển dịch CCKTNT gắn liền với sự chuyểndịch của cơ cấu sản xuất nông nghiệp và bắt đầu từ sự chuyển dịch của cơcấu sản xuất nông nghiệp với ba giai đoạn như trên Nhưng ba giai đoạntrên gắn liền với sự phát triển của ngành công nghiệp và quá trình CNH,HĐH nền kinh tế
Hai là, tăng trưởng nông nghiệp gắn liền với sự phát triển của các
ngành phi nông nghiệp ở nông thôn
Chuyển dịch CCKTNT diễn ra theo tính qui luật là tỉ trọng của cácngành phi nông nghiệp tăng lên và tỉ trọng của ngành nông nghiệp giảmtrong cơ cấu Tăng trưởng và đa dạng hóa nông nghiệp là cơ sở thúc đẩychuyển dịch CCKTNT Trong sự tác động qua lại thì chính tăng trưởng và
đa dạng hóa nông nghiệp thúc đẩy sự phát triển của các hoạt động phi nông
Trang 23nghiệp ở nông thôn Tuy nhiên, sự phát triển của nông nghiệp mới chỉ là điềukiện ban đầu, là tiền đề cho sự phát triển các ngành phi nông nghiệp nôngthôn bởi sự phát triển các ngành phi nông nghiệp ở nông thôn còn phụ thuộc
và chịu sự chi phối của nhiều yếu tố khác như điều kiện đặc thù của từngvùng, từng nước Chẳng hạn như các điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội chiphối
Chính sự phát triển của các ngành phi nông nghiệp ở nông thôn đãđóng góp quan trọng cho sự phát triển kinh tế nông thôn để tăng thu nhập,tạo thêm nhiều việc làm cho dân cư nông thôn Điều này càng có ý nghĩahơn với điều kiện của Việt Nam bình quân đất nông nghiệp trên đầu ngườithấp và lao động nông thôn còn dư thừa nhiều Thực tế cho thấy vai trò củaviệc phát triển ngành nghề ở nông thôn như là một giải pháp quan trọngngăn chặn làn sóng di cư lao động từ nông thôn ra thành phố, tạo thêm nhiềuviệc làm ở nông thôn, thúc đẩy sản xuất nông nghiệp phát triển, tạo điều kiệnphát triển cơ sở hạ tầng Song, một vấn đề cơ bản cần phải xem xét kỹ làviệc lựa chọn phương hướng phát triển các ngành phi nông nghiệp trong đó
có công nghiệp nông thôn và phát triển như thế nào trong quá trình CNH,HĐH nền kinh tế để có hiệu quả thiết thực cho sự phát triển kinh tế nôngthôn
Ba là, chuyển dịch CCKTNT gắn liền với việc thay đổi tổ chức sản
xuất ở nông thôn, thay đổi mối quan hệ giữa các chủ thể trong sản xuấtkinh doanh ở nông thôn đặc biệt là mối quan hệ giữa hộ nông dân với cácchủ thể khác ở nông thôn
1.2 XU HƯỚNG CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ NÔNG THÔN VÀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ NÔNG THÔN
1.2.1 Xu hướng tất yếu của chuyển dịch CCKTNT
Trang 24Mỗi một quốc gia có những điều kiện và đặc điểm riêng, nhưng cácquốc gia đều rất coi trọng phát triển sản xuất nông nghiệp và phát triển kinh
tế nông thôn trong mỗi bước đi của chiến lược phát triển kinh tế xã hội Kháiquát lại, quá trình chuyển dịch CCKTNT diễn ra với các xu hướng sau:
Một là, chuyển dịch CCKTNT theo hướng phát triển sản xuất hàng
hóa
Do nhiều yếu tố khác nhau chi phối nên kinh tế nông thôn và sảnxuất nông nghiệp thường mang tính chất tự cung, tự cấp trong thời gian khádài Song trong quá trình phát triển kinh tế- xã hội của các quốc gia chuyểndịch CCKTNT theo hướng phát triển kinh tế hàng hóa là xu thế tất yếu do
sự phát triển mạnh mẽ của lực lượng sản xuất và phân công lao động xã hộiquyết định
Thực tiễn của nhiều nước đã cho thấy, sự phát triển của nền kinh tế
đã thúc đẩy các ngành kinh tế ở khu vực nông thôn tăng dần tỷ trọng sảnphẩm hàng hóa để phục vụ cho nhu cầu của thị trường trong và ngoài nước.Sản xuất nông nghiệp phát triển đồng thời biến đổi cả về cơ cấu, không chỉđảm bảo nhu cầu ngày càng gia tăng của bản thân khu vực nông nghiệp màcòn đáp ứng nhu cầu lương thực, thực phẩm của lĩnh vực phi nông nghiệpngày càng tăng trên cơ sở của quan hệ kinh tế hàng hóa Sản xuất nôngnghiệp cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp cũng được thúc đẩy nếu cóđiều kiện Cơ cấu sản xuất vì vậy trở nên đa dạng hơn, tỉ suất hàng hóangày càng cao hơn, đặc biệt khi nền kinh tế hàng hóa ngày càng trở nên gắn
bó hơn với kinh tế quốc tế
Hai là, CCKTNT được chuyển dịch theo hướng CNH và phát triển
mạnh các ngành phi nông nghiệp ở nông thôn
Trang 25Công nghiệp hóa, HĐH nền kinh tế là một xu thế có tính qui luật.Điều này đã ảnh hưởng, chi phối nhiều đối với quá trình chuyển dịch cơcấu kinh tế nói chung và chuyển dịch CCKTNT nói riêng.
Quá trình CNH đòi hỏi phải cung cấp một số lượng lao động khálớn, cung cấp lương thực thực phẩm, cung cấp nguyên liệu cho các ngànhcông nghiệp, giải quyết vấn đề thị trường cho công nghiệp phát triển Thực
tế trên đã dẫn đến sự xuất hiện hai dòng vận động ngược chiều nhau cùngtác động vào nông thôn là: Dòng vận động của lao động và sản phẩm từnông nghiệp, nông thôn đi ra các vùng công nghiệp, đô thị và dòng vậnđộng của sản phẩm (nhất là máy móc thiết bị) từ khu vực công nghiệp, đôthị về khu vực nông nghiệp, nông thôn
Do sự tác động của các dòng vận động trên, trong quá trình chuyểndịch CCKTNT đã xuất hiện xu thế chuyển dịch theo hướng giảm nhanh tỷtrọng sản phẩm và lao động xã hội trong khu vực sản xuất nông nghiệp(nhưng sản phẩm nông nghiệp sản xuất ra không giảm số tuyệt đối và cóthể tăng lên) Sự chuyển dịch trên là hoàn toàn phù hợp với quá trình CNH
vì sản xuất nông nghiệp là ngành sản xuất sản phẩm tiêu dùng thiết yếu cho
xã hội, khi năng suất lao động trong nông nghiệp tăng lên thì mới có mộtphần lao động dôi ra đáp ứng cho quá trình CNH Đó là luồng di chuyểnlao động từ nông nghiệp, nông thôn ra thành phố và kinh nghiệm của cácnước đã cho thấy nếu không có kế hoạch hợp lý để phát triển kinh tế nôngthôn thì rất dễ dẫn đến tình trạng lại thiếu lao động trong nông nghiệp,nông thôn và như vậy nông nghiệp, nông thôn lại không phát triển được
Tuy vậy, dòng vận động từ khu vực công nghiệp, đô thị tác độngvào khu vực nông thôn, nông nghiệp hợp lý, có hiệu quả thì lại giúp choviệc khắc phục tình trạng trên bởi lẽ: do yêu cầu phát triển của quá trìnhCNH, nền nông nghiệp, nông thôn sẽ trở thành một mảng thị trường củasản xuất công nghiệp Đây là nơi cung cấp lương thực, thực phẩm, nguyên
Trang 26liệu cho sản xuất công nghiệp song vừa là thị trường tiêu thụ sản phẩmcông nghiệp sản xuất ra Sự tác động qua lại trên đã làm cho quá trìnhchuyển dịch CCKTNT phát triển mạnh sản xuất nông nghiệp đi đôi vớiphát triển mạnh công nghiệp nông thôn thông qua nhiều hình thức đa dạng.
Việc phát triển mạnh sản xuất nông nghiệp theo hướng đa dạng hóa,chuyên canh vừa có ý nghĩa quan trọng trong việc đáp ứng đầy đủ nhu cầulương thực, thực phẩm, nguyên liệu cho công nghiệp vừa góp phần tăng thunhập cho người nông dân để họ không tự phát di cư ra các khu côngnghiệp, đô thị Cùng với quá trình trên là việc từng bước phát triển côngnghiệp nông thôn để khai thác nguồn nguyên liệu tại địa phương, từngbước phát triển mạnh ngành nghề, dịch vụ ở nông thôn nhằm giải quyếtviệc làm cho lao động nông thôn đồng thời tăng thu nhập cho lao độngnông thôn Điều này góp phần vào việc thực hiện phương châm đúng đắn
"li điền bất li hương" trong quá trình chuyển dịch CCKTNT
Ba là, chuyển dịch CCKTNT theo hướng ngày càng kết hợp chặt
chẽ hơn cơ cấu kinh tế trong nước với nhu cầu thị trường ngoài nước
Đứng trước xu hướng quốc tế hóa toàn cầu đời sống kinh tế cácnước đều phải thực hiện chiến lược kinh tế mở nhằm lợi dụng sức mạnhngoài nước để giải quyết khó khăn và phát triển kinh tế trong nước Dovậy, quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế và CCKTNT phải kết hợp chặtchẽ với thị trường thế giới là một xu thế quan trọng trong điều kiện ngàynay, nó đòi hỏi kinh tế nông thôn cũng phải phát triển theo hướng đó Bởi
lẽ, chuyển dịch CCKTNT trong sự kết hợp chặt chẽ giữa cơ cấu kinh tếtrong nước và nhu cầu thị trường ngoài nước có ý nghĩa hết sức quan trọngtrong việc từng bước thúc đẩy kinh tế nông thôn phát triển theo hướng sảnxuất hàng hóa ở trình độ cao hơn Sản xuất hàng hóa trong nông nghiệp,nông thôn không chỉ để đáp ứng cho nhu cầu của thị trường trong nước màcho cả nhu cầu của thị trường ngoài nước và đây chính là động lực quan
Trang 27trọng để thúc đẩy nông nghiệp, nông thôn sản xuất sản phẩm với chấtlượng cao hơn Việc làm này sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho việc thực hiệnchương trình đẩy mạnh xuất khẩu.
Bốn là, chuyển dịch CCKTNT theo hướng mở rộng và phát triển
các ngành dịch vụ ở nông thôn
Mở rộng và phát triển các ngành dịch vụ ở nông thôn là xu hướngphổ biến trong quá trình chuyển dịch CCKTNT Bởi vậy, các nước rất coitrọng việc phát triển hệ thống dịch vụ nông thôn bao gồm cả những dịch vụsản xuất và dịch vụ đời sống xã hội
Xu hướng có tính qui luật là khi kinh tế hàng hóa ở nông thôn pháttriển mạnh, đời sống vật chất và tinh thần được nâng cao thì nhu cầu dịch
vụ đòi hỏi phải phát triển Hoạt động dịch vụ phát triển một mặt thu hútmột bộ phận lao động còn dư thừa của ngành nông nghiệp, mặt khác tăngthu nhập cho dân cư nông thôn, thúc đẩy kinh tế nông thôn phát triển
Hoạt động dịch vụ ở nông thôn bao gồm: các hoạt động dịch vụ đầuvào phục vụ cho sản xuất nông nghiệp như cung ứng giống cây trồng, giasúc, cung ứng phân bón, dịch vụ làm đất, tưới tiêu Các hoạt động dịch vụđầu ra như: tiêu thụ nông sản phẩm, chế biến nông sản Các hoạt độngdịch vụ phục vụ cho nhu cầu văn hóa, xã hội
Song, một vấn đề cần lưu ý trong quá trình chuyển dịch CCKTNTphải gắn với yêu cầu bảo vệ môi trường sinh thái
Bảo vệ môi trường hiện nay là một vấn đề có tính cấp bách trongquá trình phát triển kinh tế - xã hội Trong một thời gian dài trước đây donhận thức không đúng, coi thiên nhiên là nguồn vô tận vì thế con người đã
ít quan tâm đến việc bảo vệ môi trường tự nhiên Giờ đây con người đãnhận thức được việc hủy hoại môi trường tự nhiên đã ở mức nghiêm trọngđối với phát triển sản xuất và đời sống xã hội
Trang 28Sản xuất nông nghiệp và khu vực kinh tế nông thôn có vai trò hếtsức quan trọng trong việc bảo vệ môi trường sinh thái, do đó trong điềukiện hiện nay sự chuyển dịch CCKTNT cần phải gắn liền chặt chẽ với việcbảo vệ môi trường tự nhiên, góp phần xây dựng một nền nông nghiệp theo
xu hướng mới đó là xây dựng nền nông nghiệp sinh thái
1.2.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến chuyển dịch CCKTNT
CCKTNT và xu hướng chuyển dịch CCKTNT chịu sự tác động chiphối của nhiều nhân tố khác nhau Mỗi nhân tố đều có vai trò và sự tác độngnhất định tới CCKTNT và chuyển dịch CCKTNT Các nhân tố đó có mốiquan hệ chặt chẽ với nhau và có thể ảnh hưởng tích cực hoặc tiêu cực tớiCCKTNT và sự chuyển dịch CCKTNT Khi nghiên cứu ảnh hưởng của cácnhân tố đến CCKTNT và sự chuyển dịch CCKTNT có thể phân chia theonhiều tiêu thức khác nhau Sau đây sẽ phân tích cụ thể vị trí, vai trò củatừng nhân tố
Nhân tố tự nhiên:
Nhân tố tự nhiên ảnh hưởng đến CCKTNT như: Vị trí địa lý củavùng, điều kiện đất đai và các nguồn tài nguyên khác của vùng như: Nguồnnước, khoáng sản
Nhân tố tự nhiên có tác động quan trọng tới sự hình thành, vậnđộng và sự biến đổi của CCKTNT Sự tác động và ảnh hưởng của nhân tố
tự nhiên tới mỗi nội dung của CCKTNT không giống nhau Trong các nộidung của CCKTNT thì cơ cấu ngành và cơ cấu vùng chịu ảnh hưởng nhiềunhất của nhân tố tự nhiên, còn cơ cấu thành phần kinh tế và cơ cấu kỹ thuậtthường chịu ít hơn Các nhân tố đất đai, thời tiết khí hậu, vị trí địa lý có ảnhhưởng trực tiếp tới sự phát triển của nông nghiệp (bao gồm cả lâm nghiệp,ngư nghiệp) và qua đó sẽ ảnh hưởng tới sự phát triển của các ngành khác
Ở mỗi quốc gia, các vùng có vị trí địa lý khác nhau thì các điều kiệnđất đai, khí hậu, hệ sinh thái khác nhau Sự khác nhau của các điều kiện
Trang 29tự nhiên dẫn đến sự khác nhau về số lượng, qui mô các ngành kinh tế trongnông thôn và đặc biệt là nông, lâm, ngư nghiệp một ngành chịu ảnh hưởngtrực tiếp của các điều kiện tự nhiên Sự khác nhau về điều kiện tự nhiên củamỗi vùng có thể làm cho qui mô, số lượng của các ngành giữa các vùng có
sự khác nhau và chính sự khác nhau về số lượng, qui mô các ngành sẽ dẫnđến sự khác nhau về cơ cấu ngành Đó là sự phân biệt về cơ cấu ngành kinh
tế trong nông thôn giữa các vùng lãnh thổ
Do vị trí địa lý khác nhau, mặt khác do tính đa dạng, phong phú của
tự nhiên mà các nguồn lực tự nhiên khác nhau Nên một số vùng có nhữngđiều kiện thuận lợi để phát triển một số ngành sản xuất, tạo ra những lợi thế
so với các vùng khác của đất nước Đây là cơ sở tự nhiên để hình thành cácvùng kinh tế nói chung và vùng kinh tế nông thôn nói riêng Các loại vùngnày được hình thành do phân công lao động xã hội theo lãnh thổ thông quaviệc bố trí các ngành sản xuất trên các vùng lãnh thổ hợp lý để khai tháctiềm năng và lợi thế của từng vùng
Một trong những đặc trưng của các vùng kinh tế nông thôn hiện nay
là ngày càng đi sâu vào chuyên môn hóa, tập trung hóa sản xuất nông, lâm,ngư nghiệp để từng bước hình thành các vùng trọng điểm sản xuất hànghóa nông, lâm, ngư nghiệp có hiệu quả kinh tế cao và từ đó tạo điều kiệncho sự phát triển của các ngành công nghiệp, dịch vụ trên từng địa bàn theohướng chuyên môn hóa
Ngoài sự ảnh hưởng và tác động tới cơ cấu các ngành kinh tế và cơcấu các vùng kinh tế nông thôn, các điều kiện tự nhiên còn có ảnh hưởng,tác động tới cơ cấu các thành phần kinh tế và cơ cấu kỹ thuật của khu vựckinh tế nông thôn Vị trí địa lý thuận lợi và các tiềm năng phong phú tựnhiên của mỗi vùng là điều kiện thuận lợi cho các thành phần kinh tế pháttriển Nhưng tốc độ phát triển của mỗi thành phần kinh tế ở nông thônnhanh hay chậm còn chịu sự chi phối của nhiều yếu tố khác nữa Khi các
Trang 30thành phần kinh tế ở nông thôn phát triển mạnh thì nhu cầu ứng dụng khoahọc công nghệ đòi hỏi ngày càng cao.
Vậy là CCKTNT, nhất là cơ cấu sản xuất nông nghiệp chịu ảnhhưởng rất lớn của nhân tố tự nhiên Nhân tố tự nhiên là một cơ sở quantrọng để xác định CCKTNT phù hợp với điều kiện của từng vùng Song,với sự phát triển của lực lượng sản xuất, của khoa học công nghệ cao thìcon người có thể từng bước cải tạo điều kiện tự nhiên cho phù hợp với mụcđích sản xuất kinh doanh nghĩa và vai trò quan trọng của điều kiện tự nhiêntrong việc hình thành cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn sẽ ngày cànggiảm đi, con người càng hạn chế được tác động tiêu cực của điều kiện tựnhiên đối với sản xuất nông nghiệp
Một là, cơ cấu kinh tế mang tính khách quan nhưng sự hình thành
nó nhanh hay chậm, hợp lý hay không lại do sự tác động của con người.Chính con người tạo ra được những điều kiện cần thiết thúc đẩy sự hoànthiện và chuyển dịch CCKTNT như: vốn, kỹ thuật công nghệ Do vậy, cơcấu kinh tế hoàn thiện ở trình độ nào, sự chuyển dịch CCKTNT nhanh haychậm lại phụ thuộc vào trình độ văn hóa, trình độ khoa học kỹ thuật củacon người
Hai là, ở các vùng người lao động có trình độ tay nghề cao, có trình
độ canh tác cao hơn thì sẽ có điều kiện thuận lợi hơn để chuyển dịchCCKTNT nhanh hơn và đặc biệt nó sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho sự
Trang 31chuyển dịch CCKTNT theo hướng sản xuất hàng hóa Mật độ dân số và sốlượng lao động của từng vùng nhiều hay ít cũng có ảnh hưởng tớiCCKTNT Các vùng có mật độ lao động cao sẽ tạo điều kiện để lựa chọncác ngành sản xuất đòi hỏi sử dụng nhiều lao động Nếu mật độ dân số, laođộng quá cao, đòi hỏi CCKTNT phải chuyển đổi nhằm giải quyết việc làm
và khai thác, sử dụng có hiệu quả hơn các nguồn lực khác ở nông thôn
Ngược lại, ở những vùng mật độ lao động thấp thì thường phải chọnnhững ngành đòi hỏi sử dụng ít lao động sống Tuy nhiên, trong thực tế đểđáp ứng cho nhu cầu phát triển kinh tế của các vùng, có thể di chuyển bớtlao động từ những vùng có mật độ cao đến những vùng có mật độ thấp.Song, di dân là một hiện tượng kinh tế - xã hội rất phức tạp, bởi vậy cầnphải có những phương án cụ thể, hợp lý với từng vùng, từng điều kiện mớiđem lại hiệu quả cao
Tập quán, kinh nghiệm trong sản xuất kinh doanh cũng là yếu tốcủa nguồn lực xã hội có ảnh hưởng nhất định đến CCKTNT Với nhữngvùng người lao động có trình độ kỹ thuật, tay nghề cao Sẽ tạo điều kiệnthuận lợi hơn cho quá trình chuyển dịch CCKTNT Đây là cơ sở, điều kiện
để thúc đẩy sự phát triển ngành nghề, dịch vụ nhằm chuyển dịch CCKTNT
từ thuần nông sang CCKTNT toàn diện hơn Hơn nữa các vùng này có thểphát triển được các loại sản phẩm, cây trồng đòi hỏi trình độ kỹ thuật caohơn so với các vùng khác
Nhân tố vốn đầu tư và cơ sở hạ tầng ở nông thôn
Vốn đầu tư: Quá trình hình thành cơ cấu kinh tế nói chung vàCCKTNT nói riêng là quá trình hình thành và phát triển của các ngành, nângcao trình độ công nghệ và kỹ thuật của các ngành kinh tế trong nông thôn Thực
tế, CCKTNT được hình thành có thể chưa phù hợp với nhu cầu của thị
Trang 32trường, phù hợp với các nguồn lực của mỗi vùng Do vậy, cần được chuyểnđổi cho phù hợp.
Việc chuyển đổi CCKTNT đòi hỏi phải có những điều kiện vật chấtnhất định tương ứng với yêu cầu hình thành và chuyển đổi của nó Để đápứng sự đòi hỏi về các điều kiện vật chất thì nhất thiết phải đầu tư và phải cóvốn đầu tư
Nguồn vốn đầu tư để hình thành hay chuyển đổi CCKTNT baogồm: Nguồn vốn tự có của các chủ thể kinh tế ở nông thôn, nguồn vốn đivay, nguồn vốn đầu tư của nước ngoài Kinh nghiệm của nhiều nước chothấy, giải quyết tốt vấn đề vốn là một trong những điều kiện quan trọng đểphát triển kinh tế nông thôn và xây dựng CCKTNT hợp lý, phù hợp để khaithác tốt các nguồn lực của khu vực kinh tế nông thôn
Cơ sở hạ tầng ở nông thôn: đây là điều kiện tiên quyết để phát triểnkinh tế nông thôn Cơ sở hạ tầng phát triển sẽ đảm bảo cho kinh tế hànghóa phát triển, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho dân cư nông thôn
Cơ sở hạ tầng trong nông thôn bao gồm các công trình hạ tầng kỹ thuật và hạtầng xã hội Các công trình cơ sở hạ tầng chủ yếu trong nông thôn gồm có: Hệthống đường giao thông nông thôn, hệ thống cung cấp điện nước, hệ thống thủylợi, hệ thống thông tin liên lạc, hệ thống dịch vụ, hệ thống công trình giáo dục
và y tế, thể thao, nhà ở của dân cư, cơ sở hạ tầng phát triển công nghiệpnông thôn
Cơ sở hạ tầng nông thôn có ảnh hưởng rất lớn tới sự hình thành vàphát triển của các ngành kinh tế, các vùng kinh tế, chi phối trình độ kỹthuật công nghệ, do đó là một trong những nhân tố ảnh hưởng có vai tròquyết định tới sự hình thành, vận động và biến đổi của CCKTNT
Có thể thấy những vùng có cơ sở hạ tầng, đặc biệt là các công trình
hạ tầng kỹ thuật phát triển thì ở đó có điều kiện để phát triển các ngànhchuyên môn hóa Cơ sở hạ tầng phát triển cũng là điều kiện để ứng dụng
Trang 33tiến bộ kỹ thuật và công nghệ tiên tiến vào các ngành kinh tế Ngược lại,những vùng có cơ sở hạ tầng kém phát triển thì quá trình hình thành vàphát triển của các ngành sản xuất, các vùng chuyên môn hóa cũng như quátrình đưa tiến bộ kỹ thuật công nghệ vào sản xuất bị kìm hãm.
Nhân tố khoa học công nghệ
Yếu tố khoa học công nghệ đã và đang trở thành lực lượng sản xuấttrực tiếp và có vai trò to lớn đối với sự phát triển kinh tế nông thôn vàchuyển dịch CCKTNT Vai trò của khoa học công nghệ góp phần quyếtđịnh để hoàn thiện các phương pháp sản xuất, khai thác và sử dụng có hiệuquả hơn các nguồn lực của xã hội và của khu vực nông thôn Khoa họccông nghệ cũng làm tăng năng lực sản xuất trong nông thôn, qua đó thúcđẩy sự phát triển của các ngành sản xuất, các vùng kinh tế trong nông thônđặc biệt là các ngành, các vùng có nhiều lợi thế
Việc ứng dụng khoa học công nghệ vào các ngành sản xuất trongnông thôn làm cho tỷ trọng của kỹ thuật và công nghệ tiên tiến trong cơ cấu
kỹ thuật của khu vực kinh tế nông thôn ngày càng cao
Nhân tố phát triển công nghiệp và đô thị:
Sự phát triển của các khu công nghiệp và đô thị cũng là một nhân tốquan trọng ảnh hưởng tới CCKTNT, bởi lẽ phát triển các khu công nghiệp
và đô thị sẽ làm tăng nhu cầu và làm nảy sinh những nhu cầu mới về cácloại sản phẩm, dịch vụ kéo theo sự phân bố lại sản xuất để đáp ứng nhu cầucung cấp sản phẩm Đây là tác nhân kích thích sự hình thành ngành nghềmới trong nông thôn, nhất là công nghiệp nông thôn và ngành thương mạidịch vụ Hơn thế, sự phát triển các khu công nghiệp và đô thị tạo ra khả năngcung cấp kỹ thuật, công nghệ ngày càng tiên tiến và tạo ra các nguồn vốnđầu tư ngày càng dồi dào cho khu vực kinh tế nông thôn góp phần thúc đẩyquá trình hình thành và biến đổi CCKTNT nhanh hơn và hoàn thiện hơn
Trang 34Nhân tố mối quan hệ tương tác giữa các vùng nông thôn với nhau:
Mỗi một vùng kinh tế thường có một thế mạnh riêng Điều này tạođiều kiện cho mỗi vùng có vị trí khác nhau trong nền kinh tế, có một cơ cấukinh tế phù hợp với các điều kiện của mình Cần lưu ý rằng các vùng nôngthôn trong nước có mối quan hệ tương tác với nhau một cách chặt chẽ Vùngnông thôn này có thể tạo điều kiện thuận lợi cho vùng nông thôn khác pháttriển kinh tế có hiệu quả hơn Chẳng hạn, trong thực tế có những vùng chỉchuyên môn hóa sản xuất nguyên liệu cung cấp cho vùng khác chế biến thànhsản phẩm hoàn chỉnh cung cấp cho thị trường Mối quan hệ tương tác này vừagiúp cho vùng sản xuất nguyên liệu có cơ cấu sản xuất mang tính chuyên mônhóa cao hơn, vừa giúp cho vùng chế biến sản phẩm đầu tư vào việc chế biếnvới kỹ thuật công nghệ ngày càng cao hơn để tạo ra những sản phẩm có chấtlượng cao hơn phục vụ cho nhu cầu của thị trường Từ đó, khi xác định cơcấu kinh tế của một vùng nông thôn nào đó cần phải xác định được mốiquan hệ tương tác của nó với các vùng nông thôn khác, tạo điều kiện chomỗi vùng nông thôn xác định được cơ cấu kinh tế hợp lý, phù hợp với cácnguồn lực của mình
Nhân tố thị trường:
Nhân tố đầu ra cho quá trình sản xuất là nhu cầu của thị trường.Dung lượng thị trường, cơ cấu nhu cầu của thị trường và sự đòi hỏi về chấtlượng của hàng hóa có tác động tới sản lượng và cơ cấu sản xuất của kinh
tế nông thôn Do vậy, trong nền kinh tế hàng hóa nhân tố thị trường có ảnhhưởng quyết định tới sự phát triển kinh tế và sự hình thành, biến đổiCCKTNT
Những người sản xuất hàng hóa chỉ sản xuất và đem ra thị trườngtrao đổi những sản phẩm mà họ cảm thấy chúng đem lại lợi nhuận thỏa đáng.Như vậy, thị trường thông qua quan hệ cung cầu mà tín hiệu là giá cả hànghóa sẽ thúc đẩy hay hạn chế sản xuất Với cơ chế người sản xuất tự xác định
Trang 35khả năng tham gia cụ thể của mình vào thị trường thường sẽ sản xuất nhữngloại hàng hóa có lợi nhất Do vậy, trên thị trường sẽ xuất hiện các loại hànghóa dịch vụ với qui mô và cơ cấu sẽ phản ánh phần nào cơ cấu kinh tế ở từngvùng, từng địa phương Tuy vậy, do mức độ tiếp nhận thông tin thị trường,
do năng lực xử lý thông tin khác nhau Nên số lượng chủ thể tham gia vàoviệc sản xuất và tiêu thụ từng sản phẩm, dịch vụ cũng không giống nhau
Xã hội càng phát triển, nhu cầu của con người cũng không ngừng biếnđổi và cao hơn, đòi hỏi thị trường phải đáp ứng ngày càng tốt hơn Điều nàyqui định sự cần thiết phải chuyển dịch CCKTNT theo hướng phù hợp với xuhướng biến động và phát triển của nhu cầu thị trường Nhu cầu thị trườngngày càng đa dạng, càng cao thì CCKTNT càng phải phong phú và đa dạnghơn Đương nhiên, nền kinh tế thị trường chỉ có thể chấp nhận những cơ cấuphù hợp với nhu cầu của thị trường, đồng thời phải khai thác tốt các tiềm năng
và lợi thế của vùng, của địa phương Các quan hệ thị trường ngày càng mởrộng thì người sản xuất càng đi vào chuyên môn hóa và tự lựa chọn thị trường
có lợi nhất để tham gia Do vậy, các quan hệ thị trường góp phần hết sứcquan trọng vào việc thúc đẩy sự phân công lao động trong nông thôn, là một
cơ sở để hình thành CCKTNT mới Bằng cách đó CCKTNT được hìnhthành khách quan theo tiếng gọi của thị trường Vì vậy, trong nền kinh tế thịtrường thì nhu cầu thị trường cũng là một nhân tố quyết định sự hình thành vàbiến đổi của CCKTNT
Bên cạnh vai trò quan trọng nêu trên, thị trường với các qui luật vốn
có của nó luôn chứa đựng khả năng tự phát và dẫn đến những rủi ro cho ngườisản xuất, gây lãng phí các nguồn lực Trên quan điểm dài hạn tác động vào sựphát triển của nền kinh tế thường chú trọng vào cung làm gia tăng khả năngsản xuất Tuy vậy, sự tác động đó nếu không căn cứ vào nhu cầu thị trường
và sự cạnh tranh, không dự báo được nhu cầu dài hạn để hướng dẫn sự lựa
Trang 36chọn chuyển dịch CCKTNT sẽ dẫn đến thất bại để tránh và hạn chế khả năng
tự phát của thị trường cần có sự tác động hợp lý của Nhà nước ở tầm vĩ mô
Nhân tố ngoài nước:
Trong điều kiện hiện nay các nhân tố ngoài nước ngày càng có ýnghĩa quan trọng đối với sự hình thành và chuyển dịch CCKTNT của mỗiquốc gia
Khi các quốc gia thực hiện chiến lược kinh tế mở, việc mở rộngquan hệ kinh tế đối ngoại có ý nghĩa quan trọng đối với việc phát triển kinh
tế, trong đó có sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế và chuyển dịch CCKTNT
Thông qua việc mở rộng quan hệ kinh tế, thương mại với các nướckhác, mỗi quốc gia ngày càng tham gia sâu hơn vào sự hợp tác, phân cônglao động quốc tế Đây là nhân tố hết sức quan trọng ảnh hưởng tới quá trìnhbiến đổi cơ cấu kinh tế và CCKTNT mỗi quốc gia Việc tham gia ngàycàng sâu, rộng vào quá trình phân công lao động quốc tế sẽ tạo điều kiệncho mỗi quốc gia khai thác và sử dụng các nguồn lực của mình có lợi nhấttrên cơ sở phát huy tối đa các lợi thế so sánh
Mặt khác, thông qua quá trình tham gia thị trường thế giới, tham giacác tổ chức kinh tế quốc tế như tổ chức thương mại thế giới (WTO), diễnđàn kinh tế châu Á - Thái Bình Dương (APEC), tổ chức khu vực mậu dịch
tự do ASEAN (AFTA) mỗi quốc gia tăng thêm các cơ hội tìm kiếmnhững công nghệ và kỹ thuật mới, các nguồn vốn đầu tư nhằm đẩy nhanhquá trình chuyển dịch CCKTNT
Vấn đề đặt ra là mỗi quốc gia cần thu thập kịp thời và xử lý tốt cácthông tin về thị trường quốc tế, xu hướng tác động của các biến động kinh tếthế giới đối với mình nhằm phát hiện và lựa chọn những cơ hội mới tham giathị trường quốc tế Do vậy, việc tham gia thị trường quốc tế một mặt tạo cơhội để các quốc gia từng bước chuyển dịch cơ cấu kinh tế của mình nhằm
Trang 37khai thác tốt các lợi thế so sánh, mặt khác cũng buộc các quốc gia khácphải tự chuyển dịch cơ cấu kinh tế của mình theo nhu cầu của thị trườngquốc tế.
Nhân tố vai trò của Nhà nước:
Vai trò của Nhà nước có ảnh hưởng đến sự hình thành và chuyểnđổi cơ cấu kinh tế như: sự lựa chọn mục tiêu phát triển kinh tế, các chínhsách kinh tế của Nhà nước
Sự lựa chọn mục tiêu là tham số quan trọng trong hoạch định chiếnlược phát triển kinh tế xã hội, trong đó có chiến lược chuyển dịch cơ cấu kinh
tế Những mục tiêu lựa chọn phải vừa không thoát ly thực trạng kinh tế xã hộicủa đất nước và bối cảnh quốc tế, vừa phải dự báo được tình hình phát triển
ở tầm trung hạn và dài hạn Đồng thời, phải căn cứ vào những yêu cầu vềkinh tế - chính trị - xã hội đặt ra cần phải giải quyết Mục tiêu xác định màthiếu căn cứ thực tế thì dự báo trở nên không có ý nghĩa, nếu thiếu cânnhắc các yêu cầu trong việc giải quyết các vấn đề kinh tế xã hội trở nênphiến diện
Việc lựa chọn những mục tiêu chung trong chiến lược phát triểnkinh tế xã hội cùng với việc đánh giá đặc điểm, thực trạng và vai trò củatừng ngành trong quá trình phát triển kinh tế nông thôn sẽ là căn cứ xácđịnh mục tiêu của quá trình chuyển dịch CCKTNT
Các chính sách kinh tế của Nhà nước là công cụ quản lý vĩ mô quantrọng nhất được sử dụng trong nền kinh tế thị trường
Chính sách kinh tế là một hệ thống các biện pháp kinh tế được thểhiện bằng các văn bản pháp qui tác động vào nền kinh tế nhằm thực hiệnnhững mục tiêu đã định Chức năng chủ yếu của chính sách kinh tế vĩ mô
là tạo ra động lực kinh tế nhằm tạo điều kiện để người sản xuất (tức là chủthể kinh tế) vì quyền lợi của mình mà tiến hành các hoạt động kinh tế phùhợp với định hướng của Nhà nước
Trang 38Để tạo điều kiện cho các chủ thể kinh doanh hoạt động phù hợp vớiđịnh hướng của Nhà nước, đảm bảo quyền lợi kinh tế cho các chủ thể kinh
tế Nhà nước xác lập hành lang và khuôn khổ pháp lý cho các chủ thể kinhdoanh hoạt động
Các chính sách kinh tế vĩ mô thể hiện sự can thiệp của Nhà nướcvào nền kinh tế thị trường trên cơ sở đảm bảo những yêu cầu để các quiluật của thị trường phát huy những tác động tích cực, hạn chế những ảnhhưởng tiêu cực nhằm tạo cho nền kinh tế tăng trưởng và phát triển với tốc
độ cao Để đạt được mục đích trên, một trong những hướng tác động quantrọng nhất của các chính sách kinh tế đến nền kinh tế là tác động đến cơcấu kinh tế nói chung và CCKTNT nói riêng
Trong khu vực kinh tế nông thôn cũng như toàn bộ nền kinh tế nếuchỉ có sự tác động của qui luật thị trường thì CCKTNT chỉ hình thành vàvận động một cách tự phát và tất yếu sẽ dẫn đến sự lãng phí trong việc sửdụng các nguồn lực Do vậy, để thực hiện chức năng kinh tế của mình, Nhànước không còn cách nào khác phải ban hành một hệ thống các chính sáchkinh tế để cùng với các công cụ quản lý vĩ mô khác thúc đẩy việc hìnhthành một CCKTNT hợp lý với cơ cấu ngành kinh tế, cơ cấu vùng kinh tế,
cơ cấu các thành phần kinh tế hợp lý và trình độ công nghệ, kỹ thuật ngàycàng cao hơn nhằm khai thác, sử dụng có hiệu quả nhất các nguồn lực, các lợithế của khu vực kinh tế nông thôn Chẳng hạn, khi Nhà nước thay đổi chínhsách phân phối, lưu thông lương thực, xóa bỏ tình trạng ngăn sông cấm chợđối với sản phẩm lương thực, tự do hóa lưu thông lương thực đã tạo ra độnglực thúc đẩy phát triển ngành nghề thủ công ở những vùng có điều kiện bởingười ta không cần phải sản xuất lương thực nữa (nhất là các vùng có cácngành nghề thủ công truyền thống, những vùng có trình độ thâm canh caotrong sản xuất cây thực phẩm, hoa, cây cảnh ) Sản xuất lương thực đượcphân bố tập trung vào các vùng chuyên môn hóa sản xuất để đáp ứng cho nhucầu xã hội
Trang 39Vậy, qua việc phân tích các nhân tố ảnh hưởng tới sự hình thành vàchuyển dịch CCKTNT có thể thấy rằng các nhân tố trên có mối quan hệchặt chẽ với nhau, nó cùng tác động tới quá trình chuyển dịch CCKTNTchứ không tác động độc lập, riêng rẽ Quá trình chuyển dịch CCKTNTthành công hay không phụ thuộc không chỉ vào sự lựa chọn các ngành ưutiên hợp lý mà còn phụ thuộc vào hệ thống chính sách nhằm tạo môi trường
và điều kiện thuận lợi để chúng được phát triển
1.3 CÁC CHỈ TIÊU ĐÁNH GIÁ TRÌNH ĐỘ VÀ HIỆU QUẢ CỦA CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ NÔNG THÔN
Quá trình chuyển dịch CCKTNT phải nhằm đạt được những mụctiêu nhất định như: tạo ra một CCKTNT hợp lý hơn, nâng cao hiệu quảkinh tế của các hoạt động sản xuất kinh doanh trên địa bàn nông thôn Dovậy, việc đánh giá trình độ và hiệu quả của quá trình chuyển dịch CCKTNT làmột việc làm cần thiết, nhưng đây lại là một vấn đề rất khó khăn trong thựctế
1.3.1 Các chỉ tiêu đánh giá trình độ CCKTNT và chuyển dịch CCKTNT
Đánh giá trình độ CCKTNT và chuyển dịch CCKTNT là việc đưa
ra các chỉ tiêu phản ánh xu hướng vận động của CCKTNT và sự vận độngnhanh hay chậm
Để đánh giá trình độ của CCKTNT cần phải sử dụng một hệ thốngcác chỉ tiêu sau:
- Cơ cấu giá trị đầu ra (thu nhập) của các loại sản phẩm và dịch vụ
- Cơ cấu giá trị các loại sản phẩm hàng hóa và tỉ suất hàng hóa
- Cơ cấu phân bổ vốn đầu tư cho các ngành kinh tế ở nông thôn
- Cơ cấu phân bổ lao động cho các ngành kinh tế ở nông thôn
- Cơ cấu phân bổ sử dụng đất đai ở nông thôn
Trang 40Cần lưu ý, khi sử dụng các chỉ tiêu trên để đánh giá cần phải sửdụng một cách tổng hợp Các chỉ tiêu trên có thể sử dụng để đánh giá trình
độ CCKTNT cho cả nước hay từng vùng, vấn đề là tùy thuộc vào phạm vinghiên cứu mà sử dụng các chỉ tiêu và phương pháp tính cho phù hợp
Trong số các chỉ tiêu nêu trên thì chỉ tiêu cơ cấu giá trị các loại sảnphẩm, dịch vụ, chỉ tiêu cơ cấu phân bổ lao động cho các ngành kinh tế vàchỉ tiêu cơ cấu giá trị các loại sản phẩm hàng hóa là phản ánh rõ nét nhấttrình độ của cơ cấu kinh tế và quá trình chuyển dịch CCKTNT, thường thìmức độ chuyển dịch cơ cấu giá trị sản phẩm nhanh hơn, còn cơ cấu phân
bổ lao động chuyển dịch chậm hơn Khi ta xem xét các chỉ tiêu phản ánhtrình độ CCKTNT ở các mốc thời gian khác nhau thì các chỉ tiêu đó sẽ chothấy sự chuyển dịch của CCKTNT diễn ra theo xu hướng nào, nhanh haychậm
1.3.2 Các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả của CCKTNT và chuyển dịch CCKTNT
Hiệu quả kinh tế được xác định trên cơ sở so sánh giữa kết quả sảnxuất kinh doanh thu được với chi phí sản xuất đã bỏ ra So sánh kết quả sảnxuất với chi phí sản xuất trên từng địa bàn nông thôn sẽ có được các chỉtiêu phản ánh hiệu quả kinh tế cần thiết
Tuy nhiên, kinh tế nông thôn với đặc trưng chủ yếu là sản xuấtnông nghiệp, do vậy các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả và phương pháp tínhphải phù hợp với nội dung và phương pháp tính hiệu quả của sản xuất nôngnghiệp
Để đánh giá hiệu quả của chuyển dịch CCKTNT thường sử dụng banhóm chỉ tiêu sau:
- Các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả xét về mặt kinh tế
- Các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả xét về mặt xã hội
- Các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả xét về mặt môi trường sinh thái