1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

LUẬN án TIẾN sĩ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG KIỂM TRA ĐẢNG VIÊN KHI có dấu HIỆU VI PHẠM của ủy BAN KIỂM TRA HUYỆN ủy các TỈNH MIỀN TRUNG HIỆN NAY

220 1,3K 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 220
Dung lượng 13,04 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Công tác kiểm tra đảng viên khi có dấu hiệu vi phạm (DHVP) có tác dụng quản lý, giáo dục, rèn luyện đảng viên; ngăn ngừa, phát hiện các khuyết điểm, sai phạm và kịp thời xử lý những đảng viên vi phạm Điều lệ Đảng, nhằm giữ vững kỷ luật, kỷ cương của Đảng. Đồng thời, giúp tổ chức đảng quản lý đảng viên thấy rõ vai trò, trách nhiệm trong việc quản lý, giáo dục và kiểm tra đảng viên. Đây là vấn đề quan trọng, cấp thiết của Đảng ta hiện nay.

Trang 1

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Công tác kiểm tra đảng viên khi có dấu hiệu vi phạm (DHVP) có tác dụng quản lý, giáo dục, rèn luyện đảng viên; ngăn ngừa, phát hiện các khuyết điểm, sai phạm và kịp thời xử lý những đảng viên vi phạm Điều lệ Đảng, nhằm giữ vững kỷ luật, kỷ cương của Đảng Đồng thời, giúp tổ chức đảng quản lý đảng viên thấy rõ vai trò, trách nhiệm trong việc quản lý, giáo dục và kiểm tra đảng viên Đây là vấn đề quan trọng, cấp thiết của Đảng ta hiện nay.

Từ Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ V trở về trước dù tên gọi có khácnhau nhưng chủ yếu vẫn là kiểm tra đảng viên vi phạm Đến Đại hội VI, Đạihội VII qui định cho Ủy ban Kiểm tra (UBKT) các cấp kiểm tra đảng viênchấp hành Điều lệ Đảng Trước những hạn chế, tính hiệu quả không cao củakiểm tra đảng viên chấp hành, Đại hội VIII, Đại hội IX của Đảng lại qui địnhcho UBKT các cấp có nhiệm vụ: "Kiểm tra đảng viên, kể cả cấp ủy viên cùngcấp khi có dấu hiệu vi phạm tiêu chuẩn đảng viên, tiêu chuẩn cấp ủy viên vàtrong việc thực hiện nhiệm vụ đảng viên" [20, tr 45], gọi tắt là kiểm tra đảngviên khi có DHVP

Mặc dù đây là vấn đề mới được tổ chức thực hiện từ Đại hội VIII (6-1996), nhưng trong những năm qua, các UBKT huyện ủy ở các tỉnh Duyên hải miền Trung (DHMT) đã quán triệt, bám sát quy định của Điều lệ Đảng, sự hướng dẫn của UBKT Trung ương, nên đã thu được kết quả bước đầu đáng khích lệ; góp phần giáo dục, ngăn chặn kịp thời các

chủ trương, nghị quyết của Đảng và pháp luật của Nhà nước ở một bộ phận đảng viên trên địa bàn Những kết quả trên có tác động rất lớn đến việc

Trang 2

nâng cao chất lượng đảng viên, giữ vững nguyên tắc tổ chức sinh hoạt đảng

và nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của các đảng bộ huyện ở các tỉnh DHMT.

Tuy nhiên, bên cạnh những chuyển biến và kết quả đạt được, công táckiểm tra của các UBKT huyện ủy trên địa bàn vẫn bộc lộ những khuyết điểm,yếu kém Một số UBKT, cán bộ kiểm tra lúng túng, bị động cả về nhận thức

và tổ chức thực hiện, nhất là chưa chủ động khảo sát nắm thông tin, nhậndiện DHVP Việc xác định đối tượng, nội dung kiểm tra còn thiếu cụ thể,chưa kịp thời, kỹ năng nghiệp vụ còn hạn chế, nên chất lượng, hiệu quả một

số cuộc kiểm tra chưa cao Hiệu quả kiểm tra đối với đảng viên là cấp ủy viêncùng cấp, những đảng viên có chức vụ, quyền hạn nắm giữ các lĩnh vực quantrọng về kinh tế còn thấp v.v Nguyên nhân chủ yếu là do một bộ phậnUBKT huyện ủy còn thiếu chủ động, không nắm chắc diễn biến tư tưởng củađảng viên để kịp thời phát hiện DHVP; chưa khắc phục được những biểuhiện hữu khuynh, né tránh, ngại va chạm, thậm chí còn thờ ơ khi có nguồnthông

tin phản ánh của cán bộ, đảng viên và nhân dân Do đó, kết quả thực hiệnnhiệm vụ này chưa tương xứng với yêu cầu nhiệm vụ trọng tâm mà Điều lệĐảng qui định

Sự bất cập và yếu kém trên của các UBKT huyện ủy, ít nhiều làm hạnchế chất lượng kiểm tra đảng viên khi có DHVP, nhất là chưa đẩy lùi đượctình trạng quan liêu, tham nhũng, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lốisống ở một bộ phận cán bộ, đảng viên Thực trạng này nếu không có giảipháp chữa trị hữu hiệu thì sẽ làm suy giảm niềm tin của nhân dân đối với cán

bộ, đảng viên, tổ chức đảng, ảnh hưởng rất lớn đến năng lực lãnh đạo, sứcchiến đấu của các đảng bộ huyện trên địa bàn DHMT

Địa bàn cấp huyện giữ vai trò rất quan trọng trong việc phát triển kinh

Trang 3

tế - xã hội, an ninh quốc phòng Tuy là cấp trung gian nhưng cấp huyện làcấp trên của cấp xã, thị trấn, nơi trực tiếp chỉ đạo cấp cơ sở quản lý, giáo dục

số đông đội ngũ đảng viên của Đảng, nhất là đảng viên hoạt động trên lĩnhvực nông nghiệp, nông thôn Mặt khác, đây là địa bàn khá rộng, gần dân, nếucông tác kiểm tra đảng viên khi có DHVP không được coi trọng, chất lượngkhông cao thì ảnh hưởng, tác động tiêu cực của nó rất lớn

Do vậy, nghiên cứu đề tài " Nâng cao chất lượng kiểm tra đảng viên khi có dấu hiệu vi phạm của Ủy ban Kiểm tra huyện ủy ở các tỉnh Duyên hải miền Trung giai đoạn hiện nay" thực sự có ý nghĩa lý luận và thực tiễn

cấp bách

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Trong những năm qua, vấn đề nâng cao chất lượng công tác kiểm tranói chung, kiểm tra đảng viên khi có DHVP nói riêng đã được các cấp ủy,UBKT các cấp và nhiều nhà nghiên cứu lý luận và hoạt động thực tiễn quantâm trao đổi Từ sau Đại hội toàn quốc lần thứ VI của Đảng, trên các báo, tạpchí, luận văn thạc sĩ, luận án phó tiến sĩ (nay là tiến sĩ) đã có một số tác giảviết về vấn đề này Tựu trung lại nổi lên năm vấn đề nghiên cứu chủ yếu sau:

Loại vấn đề thứ nhất, gồm những chuyên luận bàn về vai trò, tác

dụng của công tác kiểm tra Bằng nhiều cách tiếp cận khác nhau, nhiều tácgiả đã luận giải những quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng HồChí Minh và quan điểm của Đảng ta bàn về vị trí, vai trò của công tác kiểm

tra Chẳng hạn, TS Trần Trung Quang: Kiểm tra - khâu chủ yếu trong phong cách phương pháp lãnh đạo, Tạp chí Nghiên cứu lý luận, số 2/1989; Nguyễn Thị Xuân Mỹ: Tăng cường hơn nữa công tác kiểm tra của Đảng theo tư tưởng Hồ Chí Minh, Tạp chí Kiểm tra, số 7/1997; TS Đặng Đình Phú: Tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác kiểm tra và thi hành kỷ luật, sự vận dụng của Đảng ta trong tình hình hiện nay, Tạp chí Kiểm tra, số 6/1999;

Trang 4

Nguyễn Mạnh Hưởng: Công tác kiểm tra và vấn đề xây dựng Đảng, Tạp chí Kiểm tra, số 1/2001; PGS.TS Nguyễn Thị Doan: Nâng cao vai trò, vị trí của công tác kiểm tra và vị thế của ủy ban kiểm tra các cấp Tạp chí Kiểm tra, số 8/2003; Hưng Hà: Tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác kiểm tra và vấn đề nâng cao hiệu quả công tác kiểm tra hiện nay, Tạp chí Kiểm tra, số 5/2003; Vũ Ngọc Lân: Công tác kiểm tra của Đảng trong điều kiện một đảng cầm quyền, Tạp chí Kiểm tra, số 10/2003; Phan Diễn: Đổi mới công tác kiểm tra là một bộ phận trong đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng ,

Tạp chí Kiểm tra, số 2/2004 Các công trình này đã phác họa, làm rõ vaitrò, vị trí của công tác kiểm tra, với tư cách là kiến thức nền, gián tiếp vàliên quan chặt chẽ đến công tác kiểm tra đảng viên khi có DHVP mà luận án

đề cập Đặc biệt, luận án tiến sĩ: Công tác kiểm tra của Thành ủy Hà Nội trong giai đoạn hiện nay của Lê Tiến Hào đã phân tích, làm rõ cơ sở lý

luận, thực tiễn của công tác kiểm tra; trên cơ sở phân tích thực trạng, luận

án đã đưa ra các giải pháp để nâng cao chất lượng công tác kiểm tra củaThành ủy Hà Nội trong giai đoạn hiện nay

Loại vấn đề thứ hai, chủ yếu các bài báo khoa học của các tác giả

phần lớn công tác trong ngành kiểm tra đã phân tích, đề cập đến kiểm tra

đảng viên và tổ chức đảng khi có DHVP Chẳng hạn, Xuân Phong: Bàn về chất lượng trong công tác kiểm tra, Tạp chí Kiểm tra, số 2/1995; Nguyễn Anh Liên: Kiểm tra khi có dấu hiệu vi phạm một định hướng mới về nhiệm

vụ của Ủy ban Kiểm tra các cấp, Tạp chí Kiểm tra, số 2/1998; Huỳnh Đăng Điệp: Một số kinh nghiệm từ việc thực hiện nhiệm vụ kiểm tra khi có dấu hiệu vi phạm ở các khu vực tỉnh thành phía Nam, Tạp chí Kiểm tra, số 6/1998; Bùi Quang Vinh: Ủy ban Kiểm tra Tỉnh ủy Lào Cai với việc kiểm tra đảng viên và tổ chức đảng thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, Tạp chí Kiểm tra, số 6/1998; Hà Tuấn Trung: Góp phần tìm hiểu những điểm sửa đổi, bổ sung trong Điều lệ Đảng (Dự thảo) và một số kiến nghị về công tác kiểm tra của

Trang 5

Đảng, Tạp chí Kiểm tra số 3/1996; Lê Trung Thu: Bàn về dấu hiệu vi phạm của tổ chức đảng và đảng viên, Tạp chí Kiểm tra, số 2/1998; Giang Trung: Chủ động thực hiện nhiệm vụ kiểm tra đảng viên và tổ chức cơ sở đảng khi

có dấu hiệu vi phạm, Tạp chí Kiểm tra, số 3/1997; Thiều Khắc Được: Một số vấn đề rút ra khi tiến hành kiểm tra đảng viên và tổ chức đảng cấp dưới khi

có dấu hiệu vi phạm ở Đảng bộ tỉnh Hà Giang, Tạp chí Kiểm tra, số 9/1998; Nguyễn Trọng Cương: Một vài suy nghĩ về đánh giá một cuộc kiểm tra có chất lượng, Tạp chí Kiểm tra, số 1/2000; Vũ Ngọc Lân: Nếu khi chúng ta làm tốt hơn khâu kiểm tra "khi có dấu hiệu vi phạm", Tạp chí Kiểm tra, số 7/2002; Trần Thị Hiền: Cần nâng cao nhận thức về "kiểm tra đảng viên và tổ chức đảng khi có dấu hiệu vi phạm", Tạp chí Kiểm tra, số 8/2002; Phan Thị Ngạn: Giao tiếp trong hoạt động kiểm tra, Tạp chí Kiểm tra, số 11/2001; Trần Kim Hùng: Kinh nghiệm và giải pháp trong việc thực hiện nhiệm vụ kiểm tra đảng viên khi có dấu hiệu vi phạm trên địa bàn tỉnh Bình Định, Tạp chí Kiểm tra, số 9/2003; Đỗ Hùng Cường: Kiểm tra đảng viên có dấu hiệu vi phạm, Tạp chí Kiểm tra, số 3/2003; Hồng Phúc Lập: Kiểm tra đảng viên khi

có dấu hiệu vi phạm đã là vấn đề cấp bách chưa? Tạp chí Kiểm tra, số

5/2004

Nhìn chung, các công trình khoa học này, các tác giả đã đưa ra nhữngquan niệm của mình về khái niệm DHVP và phân tích luận giải, đối chứngvới khái niệm vi phạm Hai vấn đề này tuy có khác nhau nhưng liên quanchặt chẽ với nhau Các tác giả còn phân tích làm rõ tính chủ động và tiêu chíđánh giá trong công tác kiểm tra đảng viên khi có DHVP, xác định những căn

cứ để nắm thông tin, nhận diện DHVP Từ thực tiễn hoạt động của UBKTcác cấp, một số tác giả rút ra những kinh nghiệm, giải pháp, kiến nghị đểnâng cao chất lượng kiểm tra đảng viên khi có DHVP Đây là những ý tưởng,kênh kiến thức chính liên quan trực tiếp đến nội dung của luận án đề cập

Loại vấn đề thứ ba, các tác giả đi sâu nghiên cứu phương pháp thẩm

Trang 6

tra, xác minh - phương pháp cơ bản quyết định đến chất lượng kiểm tra đảngviên khi có DHVP.

Chẳng hạn, Vĩnh Lộc: Tìm chứng cứ trong khâu thẩm tra, xác minh, Tạp chí Kiểm tra, số 2/2000; Việt Đông: Vài suy nghĩ về hoạt động thẩm tra, xác minh, Tạp chí Kiểm tra, số 2/2001; Phạm Thị Ngạn: Mấy vấn đề tâm lý trong công tác thẩm tra, xác minh, Tạp chí Kiểm tra, số 7/2002; Nguyễn Anh Liên: Một số vấn đề lý luận nghiệp vụ thẩm tra, xác minh trong công tác kiểm tra của Đảng, đăng tải nhiều kỳ ở Tạp chí Kiểm tra, (số 1/2001, số

2/2001, số 5/2003) Đi sâu hơn vấn đề này có đề tài khoa học cấp ngành do

Nguyễn Anh Liên làm chủ nhiệm: Cơ sở lý luận, thực tiễn đổi mới và nâng cao hiệu quả thẩm tra, xác minh trong công tác kiểm tra của Đảng (mã số

KHBĐ 0015), Hà Nội, 2000 - 2001 Điểm thành công của đề tài đã làm rõcác khái niệm, nhất là khái niệm thẩm tra, xác minh trong công tác kiểm tracủa Đảng Từ đó đề xuất các giải pháp, quy trình để nâng cao chất lượngthẩm tra, xác minh trong công tác kiểm tra của Đảng Nội dung của các côngtrình này tuy bàn về một vấn đề cụ thể, nhưng giúp tác giả luận án tham khảo,

để nâng cao chất lượng luận án

Loại vấn đề thứ tư, liên quan đến vấn đề tổ chức bộ máy, chức năng, nhiệm vụ của UBKT các cấp, chẳng hạn, TS Đặng Đình Phú: Nhận thức lại

tư tưởng của V.I Lênin về bộ máy kiểm tra của Đảng, Tạp chí Xây dựng Đảng, số 5/1999; GS.TS Nguyễn Thị Doan: Tăng cường công tác giám sát trong Đảng, Tạp chí Cộng sản, số 11/2004 Trên cơ sở tư tưởng của V.I.

Lênin về Đại hội Đảng bầu UBKT và phân tích những mặt ưu điểm, hạn chếcủa mô hình cấp ủy cùng cấp bầu UBKT, các tác giả này kiến nghị Đại hộiĐảng bầu UBKT Theo GS.TS Nguyễn Thị Doan, UBKT các cấp cần được

bổ sung thêm chức năng giám sát để nâng cao năng lực hoạt động cũng nhưgiữ nghiêm kỷ luật, kỷ cương trong Đảng

Trang 7

Chất lượng kiểm tra đảng viên khi có DHVP trên cơ sở tổ chức bộmáy hợp lý và có đội ngũ cán bộ kiểm tra có phẩm chất năng lực Đây là chủ

đề được nhiều tác giả quan tâm, trao đổi, như Hoàng Minh Hiểu: Xây dựng đội ngũ cán bộ kiểm tra của Đảng, Tạp chí Kiểm tra, số 10/1997; Đinh Quang Tốn: Lại nói về "Bản lĩnh người cán bộ kiểm tra", Tạp chí Kiểm tra, số 9/1998; Nguyễn Anh Liên: Tâm đức trong sáng, bản lĩnh vững vàng và tinh thông nghiệp vụ là ba tố chất cốt yếu của người cán bộ kiểm tra của Đảng,

Tạp chí Kiểm tra, số 5/2002 Vấn đề cốt lõi của các chuyên luận này đi sâulàm rõ tính cấp thiết và những yêu cầu đặt ra phải xây dựng đội ngũ cán bộkiểm tra của Đảng hiện nay, trong đó nhấn mạnh bản lĩnh vững vàng, tinhthông nghiệp vụ là yêu cầu cần thiết của cán bộ kiểm tra hiện nay

Xung quanh vấn đề xây dựng đội ngũ cán bộ kiểm tra của Đảng, PTS Trương Thị Thông tiếp cận nghiên cứu khá hệ thống, từ việc xác địnhtiêu chuẩn đến việc quy hoạch, đào tạo bồi dưỡng và bố trí sử dụng đội ngũ cán

bộ kiểm tra được phản ánh một cách sâu sắc trong luận án phó tiến sĩ: "Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ kiểm tra chuyên trách của Đảng trong tình hình hiện nay" Những vấn đề được khắc họa trong nhóm chuyên luận này sẽ

giúp cho tác giả tham khảo để luận chứng cho giải pháp thứ hai, thứ ba củaluận án sát hợp và có tính khả thi hơn

Loại vấn đề thứ năm, chủ yếu các chuyên luận đề cập đến vai trò, tính

tất yếu, nội dung, cơ chế phối hợp giữa các ban, ngành có liên quan, tạo điều

kiện cho UBKT các cấp hoàn thành nhiệm vụ như: Hoàng Kim Sơn: Một vài suy nghĩ về sự phối hợp giữa Ủy ban Kiểm tra của Đảng và Thanh tra Nhà nước, Tạp chí Kiểm tra, số 9/1997; Hà Mạnh Trí: Tăng cường sự phối hợp giữa công tác kiểm tra của Đảng và công tác kiểm sát của ngành kiểm sát nhân dân, Tạp chí Kiểm tra, số 10/1998; Việt Hà: Một số ý kiến về sự phối hợp giữa Thanh tra Nhà nước và Ủy ban Kiểm tra Trung ương Đảng, Tạp chí Thanh tra, số 1+2/2002; Bùi Thế Sảng: Sự phối, kết hợp công tác giữa

Trang 8

Thanh tra Nhà nước với kiểm tra Đảng, Tạp chí Kiểm tra, số 8/2002; Lê Văn Giảng: Mấy suy nghĩ về mối quan hệ giữa kiểm tra Đảng và Thanh tra Nhà nước, Tạp chí Thanh tra, số 7/2003; Trần Đình Hoan: Tăng cường mối quan

hệ giữa công tác tổ chức cán bộ với công tác kiểm tra trong xây dựng Đảng hiện nay, Tạp chí Kiểm tra, số 10/2003.

Song, nhìn chung chưa có tác giả và công trình khoa học nào thực sựnghiên cứu về vấn đề nâng cao chất lượng kiểm tra đảng viên khi có DHVPcủa UBKT huyện ủy trong cả nước nói chung, ở các tỉnh DHMT nói riêng

Do đó, sẽ là những ý tưởng, gợi mở cho tác giả tiến hành nghiên cứu vấn đềtrên một cách có hệ thống, toàn diện

3 Mục đích, nhiệm vụ, đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Mục đích:

Góp phần làm sáng tỏ cơ sở lý luận và thực tiễn của vấn đề nâng caochất lượng kiểm tra đảng viên khi có DHVP của các UBKT huyện ủy ở cáctỉnh Duyên hải miền Trung Trên cơ sở đó đề xuất những mục tiêu, phươnghướng, giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao chất lượng kiểm tra đảng viên khi

có DHVP ở địa bàn có vị trí quan trọng và đặc thù này

- Nhiệm vụ:

Để đạt được mục đích trên, luận án thực hiện các nhiệm vụ sau:

+ Phân tích làm rõ những quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng

Hồ Chí Minh và Đảng ta về vai trò của công tác kiểm tra đảng viên khi cóDHVP

+ Phân tích, đánh giá đúng thực trạng công tác kiểm tra đảng viên khi

có DHVP của UBKT huyện ủy ở các tỉnh DHMT, rút ra nguyên nhân vànhững kinh nghiệm

+ Xác định mục tiêu, phương hướng, quan điểm chỉ đạo và đề xuất

Trang 9

một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao chất lượng kiểm tra đảng viên khi

có DHVP của UBKT huyện ủy ở các tỉnh DHMT trong giai đoạn hiện nay

- Đối tượng, phạm vi nghiên cứu của luận án

+ Đối tượng: Chất lượng kiểm tra đảng viên khi có DHVP Chủ thể làUBKT huyện ủy, khách thể là các đảng viên, kể cả cấp ủy viên cùng cấptrong đảng bộ nhưng theo sự phân cấp quản lý cán bộ, UBKT huyện ủy chỉtập trung kiểm tra các đảng viên khi có DHVP là ủy viên ban chấp hành đảng

bộ huyện và cán bộ do huyện ủy quản lý, trong đó ở cấp xã là các đảng viênthuộc các chức danh chủ chốt: Bí thư, Phó bí thư, Chủ tịch, Phó chủ tịch

Ủy ban nhân dân, Chủ tịch, Phó chủ tịch Hội đồng nhân dân Ngoài cácđảng viên giữ các chức danh cán bộ chủ chốt đó, đối với các đảng viên khônggiữ chức vụ mà có DHVP với nội dung, tính chất nghiêm trọng, UBKT cơ sởkhông đủ sức tiến hành kiểm tra thì vẫn thuộc đối tượng nghiên cứu củaluận án

- Phạm vi nghiên cứu của luận án được giới hạn từ Đại hội VIII củaĐảng (1996) đến nay Bao gồm các huyện thuộc 8 tỉnh DHMT từ QuảngBình đến Khánh Hòa

Tuy nhiên, về mặt thời gian, trọng tâm nghiên cứu của luận án lànghiên cứu kiểm tra đảng viên khi có DHVP từ năm 1996 đến nay

4 Cơ sở lý luận, thực tiễn và phương pháp nghiên cứu

- Cơ sở lý luận và thực tiễn

Luận án được thực hiện trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam vềxây dựng Đảng và công tác kiểm tra của Đảng Đồng thời, luận án quan tâmtham khảo các công trình khoa học của các nhà khoa học, các tác giả hoạtđộng thực tiễn đã được công bố liên quan đến đề tài Cơ sở thực tiễn là thực

Trang 10

-trạng công tác kiểm tra của các UBKT huyện ủy ở các tỉnh DHMT từ năm

1996 đến nay

- Phương pháp nghiên cứu

+ Sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng vàchủ nghĩa duy vật lịch sử, trong đó bao gồm phương pháp lịch sử - lôgíc,phương pháp phân tích - tổng hợp, phương pháp quy nạp và diễn dịch

+ Sử dụng phương pháp nghiên cứu thực tiễn trên cơ sở thực trạng,kết quả, số liệu, trực tiếp trao đổi, đàm thoại Đặc biệt, luận án còn sử dụngphương pháp điều tra xã hội học để khái quát, tổng kết

5 Đóng góp mới về mặt khoa học của luận án

- Luận án đưa ra khái niệm kiểm tra đảng viên khi có DHVP, làm rõquan niệm, tiêu chí đánh giá về nâng cao chất lượng kiểm tra đảng viên khi

6 Ý nghĩa thực tiễn của luận án

Kết quả nghiên cứu của luận án có thể được sử dụng làm tài liệu thamkhảo trong nghiên cứu và giảng dạy môn xây dựng Đảng trong hệ thống Học

Trang 11

viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí minh, các trường chính trị Đồng thời, gợi

mở cho các cấp ủy đảng, UBKT các cấp tham khảo trong quá trình thực hiệnnhiệm vụ kiểm tra theo Điều lệ Đảng quy định, nhằm góp phần nâng cao chấtlượng kiểm tra đảng viên khi có DHVP trong tình hình hiện nay

7 Kết cấu của luận án

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục,nội dung của luận án gồm 3 chương 6 tiết

Trang 12

Chương 1

KIỂM TRA ĐẢNG VIÊN KHI CÓ DẤU HIỆU VI PHẠM -

NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

1.1 KIỂM TRA ĐẢNG VIÊN KHI CÓ DẤU HIỆU VI PHẠM - YÊU CẦU CẤP THIẾT CỦA ỦY BAN KIỂM TRA CÁC CẤP HIỆN NAY

1.1.1 Vai trò công tác kiểm tra đảng viên khi có dấu hiệu vi phạm

1.1.1.1 Một số khái niệm cơ bản

Để làm rõ được nội hàm khái niệm kiểm tra đảng viên khi có DHVP, cần làm rõ các khái niệm có liên quan.

- Khái niệm kiểm tra được hiểu: "Xem xét tình hình thực tế để đánh giá nhận xét" [103, tr 504].

- Dấu hiệu: Dấu để cho biết chứng tỏ điều gì [104, tr 525] Như vậy

có thể hiểu dấu hiệu là một hiện tượng, một biểu hiện, báo hiệu cho biết điều gì đó sắp xảy ra hoặc sẽ xảy ra có sự thay đổi nào đó về hình thức hoặc nội dung, thuộc tính, kết cấu của sự vật Chẳng hạn, DHVP của một đảng viên.

- Vi phạm: "Không tuân theo hoặc làm trái những điều qui định" [103, tr 1074] Như vậy khái niệm vi phạm chỉ rõ bản chất của đối tượng đã làm sai, không tuân theo những điều qui định Từ đó, có thể hiểu đảng viên vi phạm kỷ luật đảng là hành vi không chấp hành đầy đủ hoặc làm trái quy định của Đảng.

- Dấu hiệu vi phạm: Đây là khái niệm ghép của hai khái niệm dấu hiệu và vi phạm Theo tác giả luận án, DHVP được hiểu là hành vi có thể

đã, đang làm sai, trái hoặc không tuân theo những quy định.

Từ các khái niệm liên quan trên, tác giả luận án đưa ra khái niệm

kiểm tra đảng viên khi có DHVP như sau: Kiểm tra đảng viên khi có dấu

Trang 13

hiệu vi phạm là hoạt động kiểm tra của các tổ chức đảng có thẩm quyền để tiến hành xem xét, thẩm tra, xác minh, nhằm xác định đảng viên có hay không

có vi phạm các quy định của Điều lệ Đảng do các tổ chức hoặc cá nhân phát hiện.

Như vậy, khái niệm kiểm tra đảng viên khi có DHVP, nội hàm của nóđược thể hiện ở các nội dung sau:

- Xác định chủ thể và đối tượng kiểm tra

+ Chủ thể kiểm tra bao gồm những tổ chức đảng có thẩm quyền sauđây: Cấp ủy, UBKT, chi bộ, nhưng trong đó ở cấp huyện thì UBKT huyện ủy

là chủ thể kiểm tra trực tiếp tổ chức thực hiện nhiệm vụ kiểm tra theo quyđịnh của Điều lệ Đảng mà luận án đã xác định ở mục đối tượng, phạm vinghiên cứu Đương nhiên chủ thể cấp ủy, chi bộ tuy có liên quan đến UBKT,kiểm tra đảng viên khi có DHVP nhưng không phải là chủ thể của trung tâmluận án đề cập

+ Đối tượng kiểm tra: Là những đảng viên khi có DHVP Thông tư số19TT/KT ngày 26-11-1996 của UBKT Trung ương hướng dẫn "Ủy ban Kiểmtra các cấp, kể cả ủy ban kiểm tra của Đảng ủy cơ sở chỉ kiểm tra những đảngviên khi có dấu hiệu vi phạm" [102, tr 8]

- Nội dung vi phạm (vi phạm cái gì)

Trong điểm 1, Điều 32 Điều lệ Đảng khóa IX xác định UBKT các cấp

có nhiệm vụ: Kiểm tra đảng viên, kể cả cấp ủy viên cùng cấp khi có dấu hiệu viphạm tiêu chuẩn đảng viên, tiêu chuẩn cấp ủy viên và trong việc thực hiệnnhiệm vụ đảng viên Như vậy tiêu chuẩn đảng viên tại điểm 1, Điều 1 (tr 6-7),tiêu chuẩn cấp ủy viên (tr 19-20) trong Điều lệ Đảng khóa IX là nội dung kháiquát nhất làm căn cứ để kiểm tra đảng viên, cấp ủy viên khi có DHVP Hay nóicách khác, các DHVP của đảng viên đã được Điều lệ Đảng điều chỉnh, không

có ngoại lệ

Trang 14

- Mức độ của DHVP.

Việc nhận dạng mức độ DHVP của đảng viên có ý nghĩa rất lớn trongviệc xem xét, kết luận đảng viên đó có hay không có vi phạm Vậy vấn đề đặt

ra khi có DHVP phải được hiểu như thế nào? Ranh giới giữa vi phạm và đã

vi phạm căn cứ theo tiêu chí nào? Làm thế nào để nhận diện DHVP? Xungquanh vấn đề này đã có những ý kiến tranh luận và có nhiều quan điểm khácnhau Có ý kiến cho rằng, DHVP là tất cả những vi phạm của đảng viên chưađược xem xét, kết luận; do đó thực chất vẫn là kiểm tra đảng viên vi phạm,giống như quy định từ Điều lệ Đảng khóa I tới Điều lệ Đảng khóa V

Ý kiến khác lại cho rằng, việc Điều lệ Đảng khóa VIII, khóa IX quyđịnh kiểm tra đảng viên khi có DHVP là thiếu thực tế, bởi vì về mặt lý luận,DHVP tức là chưa hề có vi phạm, nó là những hoạt động còn được giấu kín,

có thể bộc lộ ra bằng những hành vi vi phạm, nhưng cũng có thể không baogiờ bộc lộ Do đó, về mặt thực tế DHVP là cái mà khó có thể nhận biết được.Thực chất lập luận này chứa đựng sự ngụy biện, né tránh

Cần phải thấy rằng, khái niệm DHVP và khái niệm vi phạm liên quanchặt chẽ với nhau, song không đồng nhất DHVP và vi phạm thuộc cặp phạmtrù hiện tượng và bản chất trong đó vi phạm là bản chất, DHVP là hiệntượng Mỗi sự vật đều là sự thống nhất giữa bản chất và hiện tượng Sự thốngnhất đó trước hết thể hiện ở chỗ bản chất bao giờ cũng tự bộc lộ ra nhữnghiện tượng nhất định, còn hiện tượng bao giờ cũng là sự biểu hiện của bảnchất Tuy bản chất và hiện tượng thống nhất với nhau, về căn bản phù hợpvới nhau, nhưng hiện tượng không bao giờ trùng khớp hoàn toàn với bảnchất, thậm chí có lúc xuyên tạc bản chất Đây là cơ sở phương pháp luận giúpcho chủ thể kiểm tra xác định được mức độ vi phạm, hoặc chưa vi phạm đểxem xét, kết luận chính xác các DHVP

Kiểm tra khi có DHVP không có nghĩa là đảng viên hoặc tổ chức

Trang 15

đảng được kiểm tra đã có vi phạm [33, tr 24] Do vậy, nếu tuyệt đối hóađảng viên khi có DHVP (hiện tượng) chưa có vi phạm gì, hoặc đã hoàn toàn

vi phạm đều không chính xác Vì vậy, DHVP của đảng viên được biểu hiện ởcác mức khác nhau: Có thể mới dừng lại ở khuyết điểm, vi phạm ít nghiêmtrọng, vi phạm nghiêm trọng, vi phạm đặc biệt nghiêm trọng và cũng có thểqua kiểm tra kết luận không có vi phạm Hoặc mức độ của DHVP có thể mớimanh nha, khởi phát nhưng cũng có thể DHVP đó tiềm ẩn chiều hướng sẽdẫn tới vi phạm, thậm chí đã vi phạm Về thời gian biểu hiện, DHVP có thểmới xảy ra hoặc xảy ra từ lâu nay mới bộc lộ qua hiện tượng

Thực tế cho thấy, do một số tổ chức đảng buông lỏng giáo dục, quản

lý, kiểm tra đảng viên, thậm chí né tránh ngại va chạm, nên các DHVP củađảng viên chậm được phát hiện, dẫn tới vi phạm nghiêm trọng kỷ luật đảng,pháp luật nhà nước mới tiến hành kiểm tra Chính vì vậy, UBKT Trung ương

đã hướng dẫn, chỉ đạo UBKT các cấp là đảng viên khi có DHVP phải chủđộng tiến hành kiểm tra ngay, không để chậm trễ kéo dài, gây tác động xấuđến nội bộ đảng và xã hội Theo chúng tôi, cụm từ "khi có" nó vừa thể hiệnmức độ DHVP mới dừng lại ở hiện tượng, khuyết điểm, vừa chỉ về mặt thờigian mới bộc lộ chứ không phải xảy ra đã lâu Bởi vậy đặt ra cho UBKT các cấptính chủ động, kịp thời khi phát hiện DHVP phải tổ chức tiến hành kiểm tra

Tựu trung lại, đảng viên khi có DHVP cần được hiểu theo ba bìnhdiện sau:

Thứ nhất, qua kiểm tra kết luận đảng viên không có vi phạm.

Thứ hai, DHVP của đảng viên tồn nghi trong nhiều năm, không có cơ

sở thẩm tra, xác minh để xem xét, kết luận làm rõ đúng, sai

Thứ ba, qua kiểm tra kết luận đảng viên có vi phạm và mức độ vi

phạm đã được phân tích ở trên

- Dù mức độ dấu hiệu vi phạm biểu hiện có khác nhau nhưng phải

Trang 16

thông qua kiểm tra của tổ chức đảng có thẩm quyền mới kết luận đảng viên

đó có vi phạm hay không vi phạm "Việc kết luận có vi phạm hay không cònphải dựa trên kết quả kiểm tra" [29, tr 19]

Biện chứng giữa hiện tượng và bản chất quy định việc xác định đảngviên có hay không có vi phạm: Đảng viên có vi phạm chỉ được xác định khi

tổ chức đảng có thẩm quyền kiểm tra, xem xét, kết luận; không ai với tư cách

cá nhân có thể đưa ra kết luận Như vậy, kiểm tra đảng viên khi có DHVP làkiểm tra xem có vi phạm không? Tính chất và mức độ sai phạm đến đâu?Qua đó, giúp UBKT huyện ủy xem xét, kết luận chính xác các DHVP, ngănchặn các vi phạm phát triển trở thành nghiêm trọng cũng như kịp thời minhoan, bảo vệ những đảng viên được kiểm tra khi kết luận không có vi phạm

- Các lực lượng tham gia phát hiện, cung cấp thông tin DHVP

Mọi hoạt động của cán bộ, đảng viên đều chịu sự giám sát của các tổchức và quần chúng nhân dân Ngoài sự quản lý của tổ chức đảng, cán bộ,đảng viên còn chịu sự giám sát của các tổ chức như: Thanh tra Nhà nước, các

cơ quan bảo vệ pháp luật, các đoàn thể chính trị - xã hội và lực lượng đôngđảo quần chúng nhân dân nơi cơ quan cũng như nơi cư trú của đảng viên

Tóm lại, từ sự phân tích trên khẳng định, Điều lệ Đảng khóa VIII,khóa IX quy định cho UBKT các cấp như vậy là chính xác và cần thiết Quyđịnh này phù hợp với tầm lực của UBKT các cấp hiện nay, không chỉ kiểmtra những đảng viên đã vi phạm mà kiểm tra ngay từ khi đảng viên có nhữnghiện tượng, có khả năng sẽ dẫn đến vi phạm Bởi vậy, tính cần thiết, kịp thờiđảm bảo yêu cầu ngăn chặn, răn đe, phòng ngừa cao hơn so với kiểm tra

"đảng viên vi phạm" Do đó, đặt ra cho UBKT các cấp cần chú trọng kiểm trakịp thời đảng viên khi có DHVP, không để khuyết điểm trở thành vi phạm, viphạm ít nghiêm trọng trở thành vi phạm nghiêm trọng

1.1.1.2 Kiểm tra là tất yếu khách quan, là yêu cầu nội tại thường

Trang 17

xuyên của Đảng

C Mác và Ph Ăngghen là những người đầu tiên đã nêu lên những tưtưởng cơ bản về chính đảng cộng sản Ngay từ năm 1847, hai ông đã chủtrương thành lập một chính đảng độc lập Tư tưởng đó bắt nguồn từ luậnđiểm khoa học về vai trò sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân Giai cấpcông nhân chỉ có thể thực hiện sứ mệnh lịch sử của mình khi nó có một chínhđảng cách mạng độc lập lãnh đạo Đó là điều kiện tiên quyết, là yếu tố đảmbảo cho cách mạng xã hội thắng lợi và thực hiện được mục đích của nó là xóa

bỏ giai cấp, để giải phóng loài người khỏi ách áp bức bóc lột, xây dựng một

xã hội cộng sản chủ nghĩa mà giai đoạn đầu là xã hội XHCN

Dưới sự chỉ đạo của C Mác, Ph Ăngghen, Điều lệ Đồng minh nhữngngười cộng sản đã được khởi thảo, trong đó thể hiện rõ những tư tưởng cơbản về tổ chức xây dựng đảng Điểm then chốt mà hai ông đã khẳng định là:Đảng phải là một đội ngũ có tổ chức tập trung chặt chẽ, các cơ quan lãnh đạocủa Đảng phải được bầu cử một cách dân chủ và họ có thể bị bãi miễn bất kỳlúc nào nếu họ không hoàn thành được nhiệm vụ của tổ chức giao cho; đảngphải là một khối thống nhất về chính trị, tư tưởng và tổ chức Chính vì lẽ đómà

C Mác, Ph Ăngghen đã kiên quyết đấu tranh chống chủ nghĩa cơ hội và cácbiểu hiện vi phạm kỷ luật đảng C.Mác đã thấy rõ sự cần thiết phải duy trì kỷluật đảng, nếu không mọi thứ sẽ mất hết Như vậy, hai ông luôn đòi hỏi cao ởmột chính đảng cách mạng là phải luôn giữ vững nguyên tắc hoạt động, có sựthống nhất và kỷ luật nghiêm minh Một chính đảng như vậy tất yếu phải cóđội ngũ đảng viên tiên phong cả về lý luận và hành động thực tiễn Bởi đảngviên là nhân tố cơ bản hợp thành tổ chức đảng Nhưng tổ chức đảng chỉ tồntại khi xác định nhiệm vụ chính trị đúng và tổ chức thực hiện nhiệm vụ chínhtrị có hiệu quả Do đó, trong quá trình lãnh đạo và xây dựng nội bộ đảng, tấtyếu Đảng Cộng sản cầm quyền phải tiến hành hoạt động kiểm tra Không chỉ

Trang 18

dừng lại ở việc kiểm tra thực hiện đường lối, quan điểm, mà còn kiểm tra độingũ đảng viên của Đảng trong việc thực hiện vai trò là chiến sĩ tiên phong,phấn đấu rèn luyện theo mục tiêu lý tưởng của Đảng.

Hoạt động có ý thức của con người và của tổ chức trong xã hội làhoạt động có mục đích Chính hoạt động có ý thức đó đã hàm chứa trong đóyếu tố tự điều chỉnh, tự kiểm tra Khi con người biết lao động một cách có ýthức là đã xuất hiện yêu cầu tất yếu là phải kiểm tra Ph Ăngghen cho rằng,mỗi hoạt động có ý thức, có tổ chức của con người đều chứa đựng trong nónhững yếu tố của kiểm tra Kiểm tra là một trong những phương thức hànhđộng quan trọng để thực hiện mục đích

Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, đặc biệt sau khi có chính quyền

Xô viết, V.I Lênin luôn coi kiểm tra, kiểm kê, kiểm soát là một công cụ hữuhiệu và là một nội dung lãnh đạo không thể thiếu đối với Đảng và bộ máynhà nước Trong tác phẩm "những nhiệm vụ trước mắt của chính quyền Xôviết" V.I Lênin khẳng định: "Không có chế độ kế toán và kiểm soát trong sựsản xuất và phân phối sản phẩm, thì những mầm mống của chủ nghĩa xã hội

sẽ bị tiêu diệt" [38, tr 225] Sau cuộc nội chiến đẫm máu, nước Nga chuyểnsang thực hiện chính sách kinh tế mới, V.I Lênin cho rằng, nhiệm vụ trọngtâm, quan trọng nhất của các cơ quan đảng, chính quyền Xô viết lúc nàykhông phải là ban hành cho nhiều chỉ thị, nghị quyết, không phải là "tiếnhành các cuộc cải tổ" lập thêm các ban, bệ mới , mà còn hướng vào "kiểmtra nhân viên công tác và kiểm tra việc chấp hành thực tế công tác - mấu chốtcủa toàn bộ công tác, của toàn bộ chính sách hiện nay là ở đấy, vẫn ở đấy vàchỉ có ở đấy" [41, tr.19], Người còn cho rằng: "Tìm người, kiểm tra công việc

- tất cả là ở đó" [40, tr 451]

Trong điều kiện Đảng cầm quyền, V.I Lênin đã tiên lượng những cănbệnh sẽ có dịp nảy sinh ở một bộ phận cán bộ, đảng viên như quan liêu, xa

Trang 19

rời quần chúng, thoái hóa biến chất, vi phạm các nguyên tắc quản lý kinh tế.

Do đó, mục đích công tác kiểm tra của Đảng không chỉ "tóm bắt", "vạch mặt"

mà trước hết hướng vào phát hiện, ngăn ngừa, sửa chữa kịp thời các sai phạm

ở cán bộ, đảng viên Tháng 1-1923, khi bàn về việc cải tổ Bộ Dân ủy thanhtra công nông, Người còn xác định nhiệm vụ của công tác kiểm tra Đảng còn

là góp phần quan trọng vào việc giữ gìn sự đoàn kết thống nhất trong Đảng,

là "phải chăm chú theo dõi những nhân tố có thể đưa đến chia rẽ, phải phòngngừa những nhân tố đó" [41, tr 440] Như vậy, trong các tác phẩm của mình,mặc dù V.I Lênin chưa đề cập đến kiểm tra đảng viên khi có DHVP, nhưng

từ trong bản chất của nó đã thể hiện rõ kiểm tra cán bộ, đảng viên nhằm giáodục phòng ngừa có hiệu quả, nếu không làm tốt sẽ dẫn tới vi phạm kỷ luậtđảng nghiêm trọng hơn

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lêninvào thực tiễn cách mạng Việt Nam Không phải ngẫu nhiên đối với công tácxây dựng Đảng nói chung, công tác kiểm tra nói riêng, Người đã dành sựquan tâm đặc biệt Bởi "Đảng có vững, cách mệnh mới thành công" [50, tr.268] Những chỉ dẫn sâu sắc, những lời khuyên chân tình, những ý kiến nhắcnhở phê bình nghiêm khắc của Hồ Chí Minh đều nhằm mục đích xây dựngĐảng ta thật trong sạch vững mạnh cả về chính trị, tư tưởng và tổ chức

Căn bệnh quan liêu độc đoán, chuyên quyền, xa rời nhân dân, đặcquyền, đặc lợi, tham nhũng, lãng phí… là nguy cơ có thể xảy ra đối với đảngcầm quyền Do đó, Người luôn nhắc nhở Đảng phải đề phòng và có biệnpháp ngăn ngừa nguy cơ ấy Người coi đó là thứ giặc "nội xâm", là kẻ thùbên trong luôn tìm mọi cách để phá vỡ kỷ cương, làm tha hóa biến chất một bộphận cán bộ, đảng viên, làm suy giảm uy tín và sức mạnh của Đảng, Nhà nước

ta Trước các tệ nạn này, Hồ Chí Minh không chỉ yêu cầu sự phối kết hợp đấutranh giữa các tổ chức đảng, nhà nước, đoàn thể nhân dân, mà còn phải củng

cố kỷ luật của Đảng, pháp luật nhà nước, xét xử kịp thời, nghiêm minh những

Trang 20

cán bộ, đảng viên vi phạm Người luôn luôn coi công tác kiểm tra là một nộidung lãnh đạo, một khâu rất quan trọng trong quy trình lãnh đạo của Đảng.Trong tác phẩm "Một việc mà các cơ quan lãnh đạo cần thực hành ngay", viếtnăm 1948, Người khẳng định: "Khi đã có chính sách đúng, thì sự thành cônghoặc thất bại của chính sách đó là do nơi cách tổ chức công việc, nơi lựachọn cán bộ, và do nơi kiểm tra Nếu ba điều ấy sơ sài, thì chính sách đúngmấy cũng vô ích" [51, tr 520] Hơn nữa, theo Hồ Chí Minh, "có kiểm tra mớihuy động được tinh thần tích cực và lực lượng to tát của nhân dân, mới biết rõnăng lực và khuyết điểm của cán bộ, mới sửa chữa và giúp đỡ kịp thời" [51, tr.520] Thực tiễn cho thấy, nếu buông lỏng, chậm trễ trong công tác kiểm tra sẽdẫn tới "cộng nhiều khuyết điểm nhỏ thành một khuyết điểm to, sẽ rất có hại"[51, tr 232] Cũng như V.I Lênin, Hồ Chí Minh chưa nói đến cụm từ khi cóDHVP, nhưng chúng ta đi sâu phân tích, xem xét cách biểu đạt của Ngườithông qua ngôn từ về mối quan hệ giữa xây và chống, giữa giáo dục và phòngngừa, giữa giáo dục và kỷ luật, "giữa khuyết điểm nhỏ thành một khuyếtđiểm to" đã toát lên mức độ của DHVP, và sự tích tụ của khuyết điểm đếnmột độ nào đó, nếu không được kiểm tra phát hiện thì hậu quả sẽ rất khônlường

Trên cơ sở nền tảng của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh

về vai trò công tác kiểm tra, Đảng ta luôn xuất phát từ nhiệm vụ chính trị, nhiệm

vụ xây dựng Đảng của mỗi thời kỳ để xác định nội dung, hình thức kiểm tracho phù hợp, kể cả quy định chức năng, nhiệm vụ đối với UBKT các cấp.Đảng ta luôn luôn coi công tác kiểm tra của Đảng có vị trí cực kỳ quan trọngtrong toàn bộ hoạt động lãnh đạo của Đảng Đây là một bước tiến về nhậnthức, quan điểm của Đảng đối với công tác kiểm tra Bởi công tác kiểm tra củaĐảng nói chung, của UBKT nói riêng có tác động rất lớn đến sự đúng đắn củanhiệm vụ chính trị, các chủ trương, nghị quyết của Đảng, tác động thúc đẩy quátrình chỉ đạo tổ chức thực hiện các chủ trương đó cũng như tiến hành các hoạt

Trang 21

động lãnh đạo xây dựng nội bộ đảng Xuất phát từ quan điểm này, Điều lệ Đảng

do Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII thông qua ngày 1 tháng 7 năm 1996 quyđịnh tại điểm 1, Điều 32, UBKT các cấp có nhiệm vụ "kiểm tra đảng viên, kể

cả cấp ủy viên cùng cấp khi có dấu hiệu vi phạm tiêu chuẩn đảng viên, tiêuchuẩn cấp ủy viên và trong việc thực hiện nhiệm vụ đảng viên" [15, tr 48] ĐếnĐại hội IX nhiệm vụ này về cơ bản vẫn được giữ nguyên

Rõ ràng so với Đại hội VII trở về trước thì đây là một nhiệm vụ mới đặt ra cho UBKT các cấp, phù hợp với yêu cầu của giai đoạn cách mạng mới và tầm lực của bộ máy UBKT, đội ngũ cán bộ kiểm tra của Đảng hiện nay Từ nội dung, bản chất của khái niệm kiểm trang đảng viên khi có DHVP, tác giả luận án đã đi sâu phân tích nội hàm của nó (như đã phân tích ở trên), để khẳng định quy định của Điều lệ Đảng khóa VIII, khóa IX là một định hướng đúng cả về lý luận, cả về thực tiễn.

Qua hơn tám năm thực hiện quy định này với những kết quả đạt đượccủa ngành kiểm tra Đảng khẳng định đây là bước tiến về nhận thức lý luậntrong công tác kiểm tra của Đảng, làm cơ sở định hướng cho những nhiệm kỳĐại hội Đảng tiếp theo

Vì sao kiểm tra đảng viên là một tất yếu khách quan trong xây dựng nội bộ Đảng

Thực tiễn và các quan hệ xã hội luôn luôn vận động và phát triểntheo quy luật khách quan Trong khi đó nhận thức của con người là một quátrình Con đường nhận thức chân lý khách quan của con người đi từ hiệntượng đến bản chất Dù ý định của con người được tính toán cân nhắc kỹ tớimấy, chắc chắn vẫn có những sơ hở, khiếm khuyết Nhận thức của đội ngũđảng viên vẫn không nằm ngoài quy luật chung đó Trong đội ngũ đảngviên, bên cạnh số đông là những người tiên tiến, có giác ngộ lý tưởng cách

Trang 22

mạng, nhận thức được quy luật của thực tiễn cách mạng, thì vẫn còn một sốđảng viên do nhận thức chưa đầy đủ các chủ trương, nghị quyết của Đảng,pháp luật của Nhà nước, nên cũng dễ mắc phải sai lầm, khuyết điểm Song,ngay cả những đảng viên hội đủ sự nhiệt tình, năng nổ và tính trách nhiệmcao cũng có khi thất bại, thậm chí vi phạm các quy định của Đảng, pháp luậtcủa Nhà nước khi ở họ mong muốn sự thể nghiệm những ý tưởng, việc làmvượt quá những điều kiện vật chất cho phép Nhận thức của đảng viên đúnghay sai sẽ ảnh hưởng đến năng lực tổ chức thực tiễn và hiệu quả thực hiệnnhiệm vụ chính trị của mình

Khi trở thành đảng cầm quyền, bình diện và quy mô lãnh đạo củaĐảng mở rộng đa dạng, phong phú và phức tạp Sự vận động, biến đổi của xãhội theo hướng phát triển, tiến bộ, theo đó mà yêu cầu của nhiệm vụ chính trịcũng có sự thay đổi cho phù hợp với từng giai đoạn lịch sử cụ thể Trongcách mạng dân tộc dân chủ, nhiệm vụ chính trị chủ yếu nổi lên là làm sao đậptan chế độ thực dân phong kiến, thực hiện người cày có ruộng, con ngườiđược giải phóng, thoát khỏi ách áp bức, bóc lột Còn trong cách mạngXHCN, nhất là thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH thì yêu cầu nhiệm vụ chính trịcàng nặng nề, phức tạp hơn, nhiều vấn đề mới đặt ra cho chủ thể lãnh đạo,đội ngũ đảng viên phải giải quyết Cơ chế quản lý kinh tế - xã hội đang trongquá trình hoàn thiện, trong nhiều trường hợp ranh giới giữa đúng và sai, giữanăng động sáng tạo và vi phạm rất khó xác định Trong khi đó năng lực, nhậnthức của một bộ phận đảng viên còn hạn chế, bất cập chưa được chuẩn bị kỹtrên lĩnh vực kiến thức, tư tưởng, nên rất dễ dẫn tới sai phạm Sự vi phạm đóngoài nguyên nhân khách quan còn có nguyên nhân chủ quan, đó là đảngviên chưa tự giác học tập, tu dưỡng, rèn luyện, nâng cao đạo đức cách mạng,

bị cuốn hút bởi lối sống thực dụng do chủ nghĩa cá nhân gây ra Bất luậntrong hoàn cảnh nào người đảng viên cũng không được đổ lỗi cho khách

Trang 23

quan để làm trái quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước Đó là lươngtâm, lẽ sống, trách nhiệm của người cộng sản Nhận thức không đúng là cănnguyên đầu tiên mở đường cho các sai phạm, yếu kém ở một bộ phận cán bộ,đảng viên Chính vì vậy, tăng cường công tác kiểm tra của tổ chức đảng đểgiáo dục, uốn nắn những nhận thức, hành vi chưa đúng của đảng viên là yêucầu khách quan, cần thiết.

Bên cạnh số đông đảng viên một lòng một dạ tích cực phấn đấu chomục tiêu lý tưởng của Đảng vẫn còn một bộ phận cán bộ, đảng viên phai nhạt

lý tưởng, thoái hóa biến chất về tư tưởng, đạo đức, lối sống Chưa bao giờtình hình DHVP của đảng viên lại gia tăng và nghiêm trọng như hiện nay Cónhững đảng viên rất trung thành, dũng cảm trong cách mạng dân tộc, dân chủnhưng chuyển sang cơ chế thị trường đã bị cuốn hút, gục ngã bởi đồng tiền,danh vọng Do vậy, tăng cường công tác kiểm tra của Đảng như một công cụhữu hiệu để giáo dục, cảnh báo, răn đe là không thể thiếu đối với đảng viêntrong bối cảnh hiện nay

Những tư tưởng mới mẻ, tiên tiến nhiều khi được khởi đầu từ mộtngười, hoặc một nhóm người, do đó phải có quá trình thông qua hoạt độngthực tiễn mới có cơ sở để thẩm định tính đúng đắn của tư tưởng đó Thực tiễn

là tiêu chuẩn của chân lý Nếu như cái mới, cái tiên tiến trong ý tưởng củamột đảng viên nào đó thiếu vắng sự bàn bạc của tập thể, chưa được kiểmnghiệm của thực tiễn, vừa mong muốn thể nghiệm để chứng tỏ bản lĩnh và ýthức đổi mới thì cũng dễ mắc phải sai lầm, khuyết điểm

Thực tế vừa qua cho thấy, có những đảng viên là giám đốc với bảnlĩnh, tinh thần trách nhiệm cao nhưng do nôn nóng muốn thể nghiệm ý tưởngmới, nhưng chưa được chuẩn bị kỹ các điều kiện vật chất cần thiết nên đãthất bại trong việc hiện thực hóa chủ trương đó, và phải chịu trách nhiệmtrước Đảng, Nhà nước về lỗi sai phạm của mình Vì vậy, phải tăng cường

Trang 24

kiểm tra để ngăn chặn các sai phạm có thể xảy ra ở một bộ phận đảng viên

đó Đương nhiên, chủ động kiểm tra để ngăn chặn sai phạm của đảng viên,nhưng phải biết khích lệ cái đúng, cái tiên tiến Bởi vì, cái mới, cái tiên tiếnxuất hiện chưa dễ gì được mọi người chấp nhận ngay Cần bảo vệ, nuôidưỡng tư tưởng tiên tiến dù còn manh nha, nhưng đó là tố chất góp phần tạonên sự đúng đắn của các chủ trương, nghị quyết của Đảng

Từ các vấn đề phân tích trên cho thấy, do những tác động khách quan,nếu cán bộ, đảng viên hạn chế về nhận thức, thiếu tu dưỡng, rèn luyện thì rất

dễ dẫn tới các khuyết điểm, sai phạm Do bị chế ước bởi các điều kiện vềkinh tế, xã hội, tâm lý, quá trình phấn đấu rèn luyện, nên nhận thức giác ngộ

lý tưởng của đảng viên cũng khác nhau Do đó, cũng dễ hiểu khi trong Đảng

đa số đảng viên toàn tâm, toàn ý phấn đấu cho sự nghiệp chung, nhưng vẫncòn một bộ phận không nhỏ phai nhạt lý tưởng, mang nặng chủ nghĩa cánhân, thoái hóa biến chất, vi phạm kỷ luật đảng, pháp luật của Nhà nước Đểđội ngũ đảng viên của Đảng luôn là những chiến sĩ tiên phong cả về nhậnthức và hành động luôn là những "công bộc" của dân thì đòi hỏi các cấp ủyđảng, UBKT phải luôn tăng cường kiểm tra Qua đó có tác dụng giáo dục,phòng ngừa, giúp đảng viên ý thức rõ hơn trách nhiệm, nghĩa vụ của ngườicộng sản

Do đó, kiểm tra không chỉ là ý muốn chủ quan của một cá nhân hay một

tổ chức nào mà là tất yếu khách quan, cần thiết đối với mỗi con người và tổ chứctrong xã hội Ý thức càng cao, nhiệm vụ chính trị càng nặng nề, phức tạpcàng đòi hỏi phải tăng cường công tác kiểm tra Đặc biệt, đối với tổ chức đảng,muốn làm tròn vai trò tiên phong đối với xã hội, để đảng viên luôn là nhữngnhân cách trong sáng thì phải thường xuyên coi trọng và làm tốt công táckiểm tra

1.1.1.3 Kiểm tra đảng viên khi có dấu hiệu vi phạm - một nhân tố

cơ bản đảm bảo sự trong sạch, vững mạnh của Đảng

Trang 25

- Công tác kiểm tra đảng viên khi có DHVP góp phần củng cố nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của các tổ chức đảng

Chất lượng đội ngũ đảng viên cao hay thấp, đều ảnh hưởng đến nănglực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức đảng Hồ Chí Minh đã chỉ rõ:

"Đảng là gồm các đảng viên mà tổ chức nên" [53, tr 235] Đội ngũ đảng viên

có phẩm chất đạo đức cách mạng trong sáng, có kiến thức năng lực sẽ tạo nênsức mạnh của Đảng trên cả ba mặt chính trị, tư tưởng, tổ chức Trí tuệ củaĐảng được quyết định bởi trí tuệ của đội ngũ đảng viên Người chỉ rõ: "Đảngmạnh là do chi bộ tốt Chi bộ tốt là do các đảng viên đều tốt" [58, tr 92] Khi

tổ chức đảng có nhiều đảng viên suy thoái về phẩm chất đạo đức, lối sống,tham ô, lãng phí của công, vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ, nội bộ mấtđoàn kết, chia rẽ thì chẳng những không góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo

mà còn có nguy cơ làm cho tổ chức đảng suy yếu, tê liệt, năng lực lãnh đạogiảm sút, mất vai trò và uy tín trước quần chúng Coi trọng và làm tốt công táckiểm tra đảng viên khi có DHVP tác động trực tiếp tới việc xây dựng củng cốkhối đoàn kết thống nhất, thực hiện tốt nguyên tắc tập trung dân chủ và giữvững kỷ cương, kỷ luật của Đảng Trên địa bàn DHMT cho thấy, không ít tổchức đảng chưa nhận thức rõ kiểm tra là một tất yếu cần thiết, dẫn đến xem nhẹ,

bỏ mặc hoặc che đậy, đến khi vỡ lở thì sự đã rồi Đây là nguyên nhân làm chotình hình nội bộ Đảng ở một số ít tổ chức đảng trên địa bàn yếu kém, kéo dài,thậm chí mất đoàn kết nội bộ, các suy thoái về tư tưởng, chính trị, đạo đức, lốisống ở một bộ phận cán bộ, đảng viên chậm được khắc phục sửa chữa Do đó,coi trọng và làm tốt công tác kiểm tra đảng viên khi có DHVP là một trongnhững nhân tố để nâng cao tầm trí tuệ, năng lực lãnh đạo và sức chiến đấucủa tổ chức đảng

- Công tác kiểm tra đảng viên khi có DHVP góp phần nâng cao chất lượng đảng viên của Đảng

Trước yêu cầu của cuộc vận động xây dựng, chỉnh đốn Đảng, tăng

Trang 26

cường bản chất giai cấp công nhân của Đảng thì việc nâng cao chất lượng độingũ đảng viên là hết sức cấp bách Có thể nói rằng, kiểm tra đảng viên khi cóDHVP có vai trò to lớn tác động đến công tác tổ chức, chấn chỉnh nâng caochất lượng các mặt của đảng viên Kiểm tra có tác dụng giáo dục, kịp thờingăn chặn khuyết điểm, sai phạm ở một bộ phận cán bộ, đảng viên, nhằmgiúp đảng viên có DHVP khắc phục khuyết điểm, phấn đấu rèn luyện tốt hơn.Thực tế vừa qua cho thấy, ở đâu mà UBKT coi trọng và làm tốt công tác kiểmtra thì ở đó chất lượng các mặt của đội ngũ cán bộ, đảng viên được nâng cao,

kỷ luật, kỷ cương được giữ vững; chi bộ, đảng bộ luôn trong sạch vững mạnh,giữ vững vai trò lãnh đạo đối với chính quyền và các đoàn thể chính trị - xãhội Đương nhiên, có thể và không tránh khỏi trong tổ chức đảng có một số rất

ít đảng viên không xứng đáng, cá biệt có cả những phần tử phản bội, sâu mọtnhưng tổ chức đảng vẫn mạnh Nhưng nếu số đông đảng viên thoái hóa biếnchất về phẩm chất đạo đức, yếu kém về trình độ và năng lực thì Đảng sẽ suyyếu, chất lượng lãnh đạo giảm sút, không làm tròn vai trò hạt nhân lãnh đạochính trị

UBKT các cấp làm tốt công tác kiểm tra sẽ góp phần giáo dục, rèn luyệnđội ngũ đảng viên, nhằm giúp đảng viên có DHVP trở về vị trí tiên phong củangười lãnh đạo Lý luận và thực tiễn cho thấy, do thiếu kiên trì phấn đấu rènluyện, nên sự tụt hậu, yếu kém, sai phạm ở một bộ phận đảng viên là khôngtránh khỏi Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh: "Bất cứ người lao động nào dù thôngminh đến đâu, đôi lúc cũng có thể sai lầm Chỉ có những kẻ ngồi không mớikhông sai lầm mà thôi" [50, tr 165], "có làm việc thì có sai lầm" [51, tr 283]

Khi đảng viên có DHVP được UBKT, các tổ chức đảng, đảng viênchỉ rõ khuyết điểm thì mới có hướng để khắc phục, sửa chữa Do tự phê bìnhcòn hạn chế, nên đảng viên cũng khó có thể nhìn nhận chính xác các khuyếtđiểm, đánh giá đúng những tác hại do sai lầm của bản thân gây ra Coi nhẹ sự

Trang 27

quản lý, kiểm tra của cấp ủy đảng, UBKT, sự giúp đỡ chân tình, thân ái củacác đảng viên trong chi bộ, sẽ làm cho đảng viên trượt dài theo các sai phạmcủa mình Thực chất kiểm tra cũng là một quá trình tác động, giáo dục, cảmhóa đối với đảng viên có DHVP, để đảng viên tự giác sửa chữa khuyết điểm,gột rửa "vết nhọ" của chính mình.

Tác dụng của kiểm tra đảng viên khi có DHVP không chỉ kịp thờicảnh báo, ngăn chặn các sai phạm, mà còn giúp đảng viên có DHVP khắcphục sửa chữa, phấn đấu rèn luyện tốt hơn Hồ Chí Minh chỉ rõ: "Kiểm soátkhéo bao nhiêu khuyết điểm sẽ lòi ra hết, hơn nữa kiểm tra khéo về saukhuyết điểm nhất định bớt đi" [51, tr 287] Đồng thời, "kiểm tra khi có dấuhiệu vi phạm là cách phòng ngừa tốt nhất để bảo vệ tổ chức và đảng viên củaĐảng ở thời điểm hiện nay" [6, tr 14] Công tác kiểm tra đảng viên khi cóDHVP phải hướng vào góp phần ngăn chặn sự thoái hóa về tư tưởng chínhtrị, phẩm chất đạo đức, lối sống, vi phạm kỷ luật đảng, pháp luật của Nhànước ở một bộ phận cán bộ, đảng viên Mặt khác, thông qua kiểm tra, giúpcho UBKT có cơ sở để xem xét, kết luận làm rõ đúng, sai đối với đảng viên

có DHVP; đồng thời minh oan cho những đảng viên vì những lý do nào đó

mà bị tổ chức đảng, cá nhân đảng viên hiểu lầm, nghi kỵ Tình trạng đơn thưnặc danh, dư luận gây nhiễu có xu hướng gia tăng, trong đó không loại trừnhững đơn, thư tố cáo với động cơ không đúng như xuyên tạc, bôi nhọ, làmgiảm uy tín cán bộ, đảng viên Do đó công tác kiểm tra phải hướng vào kiểmtra làm rõ, để bảo vệ những đảng viên trung thực, góp phần chấn chỉnh, ổnđịnh nội bộ tổ chức đảng, giải tỏa những dị nghị, vướng mắc trong cán bộ,đảng viên

Bên cạnh việc kiểm tra lấy giáo dục, phòng ngừa làm chính thì kiểmtra cũng có thêm cơ sở xem xét kỷ luật, đưa những đảng viên không đủ tưcách ra khỏi Đảng, làm cho tổ chức đảng thật sự trong sạch, vững mạnh Đây

là vấn đề hết sức bình thường trong sinh hoạt nội bộ Đảng Trong điều kiện

Trang 28

kinh tế thị trường hiện nay, khi bọn cơ hội tìm mọi cách chui luồn vào Đảng

để mưu cầu đặc quyền, đặc lợi; khi mà các thế lực thù địch đang tìm mọicách để chống phá Đảng, chống phá CNXH rất quyết liệt thì việc tăng cườngkiểm tra, nhận diện những phần tử cơ hội, thoái hóa biến chất để đưa ra khỏiĐảng là hết sức cần thiết, nhằm bảo vệ sự trong sạch vững mạnh và uy tín củaĐảng

- Làm tốt công tác kiểm tra đảng viên có DHVP sẽ góp phần củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng

Sức mạnh của Đảng chính là ở mối liên hệ máu thịt tự nhiên giữaĐảng với quần chúng Thực tế cho thấy, đội ngũ cán bộ, đảng viên có phẩmchất năng lực, gương mẫu trước quần chúng sẽ tôn vinh uy tín của Đảng Khiđảng viên quyết tâm khắc phục sửa chữa sai lầm, khuyết điểm sẽ làm cho tổchức đảng trong sạch, vững mạnh; mặt khác, quần chúng cũng tin tưởng vào

sự nghiêm minh, xử lý kịp thời của tổ chức đảng đối với những đảng viên khi

có DHVP Đảng liên hệ, gắn bó máu thịt với quần chúng thông qua các kênh:đường lối, chính sách, các tổ chức đảng và đội ngũ đảng viên Trong cáckênh đó, thì thông qua đảng viên là kênh trực tiếp cơ bản Đảng viên khôngchỉ là người tổ chức thực hiện đường lối, chính sách của Đảng mà còn làngười vận động quần chúng nhân dân thực hiện các chủ trương, chính sách,nghị quyết đó Sự mẫu mực về nhân cách, thể hiện ở mỗi cử chỉ, lời nói củađảng viên sẽ có tác động lan tỏa rất lớn đến quần chúng nhân dân Ngược lại,

"đảng viên phạm sai lầm thì sẽ đưa quần chúng đến sai lầm" [55, tr 289]

Thực tế cho thấy, ở địa phương này hay địa phương khác, số ít đảngviên thiếu gương mẫu về đạo đức lối sống, thoái hóa, biến chất, tham nhũng, trùdập, ức hiếp quần chúng thì uy tín của chi, đảng bộ đó đối với quần chúngkhông cao Bất luận trong hoàn cảnh, điều kiện nào, người cộng sản cũng phảiluôn trung thành với mục tiêu lý tưởng của Đảng, đặt lợi ích của Đảng lên trênlợi ích cá nhân, thống nhất giữa nói và làm "Không phải ta cứ viết lên trán chữ

Trang 29

"cộng sản" mà ta được họ yêu mến Quần chúng chỉ quý mến những người có tưcách đạo đức Muốn hướng dẫn nhân dân, mình phải làm mực thước cho người

ta bắt chước" [51, tr 552] Có như vậy sự nêu gương của đảng viên mới lâu bền

và được nhân dân tín nhiệm, đồng lòng ủng hộ Mục đích chính của kiểm tra làlấy giáo dục, phòng ngừa làm chính; nhưng đối với những đảng viên đã cóDHVP thì phải chủ động xem xét, kết luận làm rõ, không để dây dưa kéo dài, từmột người liên quan đến nhiều người Việc giải quyết dứt điểm, công minh,chính xác, kịp thời các DHVP ở số ít đảng viên không chỉ giáo dục, uốn nắn,làm chuyển biến nhận thức ở đối tượng được kiểm tra, mà còn làm cho tổchức đảng và đảng viên củng cố sự đoàn kết thống nhất, đồng thời tạo chỗdựa, niềm tin cho quần chúng đối với tổ chức đảng Quần chúng nhân dânphần lớn là rất tốt, tin tưởng tuyệt đối vào sự lãnh đạo của Đảng Song, quầnchúng nhân dân cũng thật khách quan, công bằng khi thẩm định năng lực,phẩm chất của từng cán bộ, đảng viên; tôn vinh quý mến đối với những cán

bộ, đảng viên tận tụy, có trách nhiệm với nhân dân, nhưng cũng rất khắt khe,phẫn nộ đối với những người đi ngược lại lợi ích của nhân dân Đương nhiên,nhân dân cũng rất khoan dung, độ lượng với những cán bộ, đảng viên, mặc

dù có những sai phạm nhưng biết hối cải, nhận lỗi trước nhân dân Chủ tịch HồChí Minh đã tổng kết sâu sắc rằng: "Dân ta rất tốt, rất yêu thương Đảng, yêuthương cán bộ Khi ta có khuyết điểm mà nói trước dân, chẳng những dânkhông ghét, không khinh, mà còn thương yêu, quý trọng tín nhiệm ta hơnnữa" [58, tr 213]

Trên bình diện chung của cả nước, cũng như ở các tỉnh DHMT đã cónhững cán bộ, đảng viên có DHVP chưa đến mức kỷ luật, nhưng thành khẩn,biết khắc phục sửa chữa khuyết điểm thì nhân dân vẫn tín nhiệm bầu vào cácchức danh chủ chốt ở cơ sở Chủ động làm tốt công tác kiểm tra đảng viênkhi có DHVP không chỉ góp phần giáo dục, ngăn chặn, đẩy lùi các tiêu cực,yếu kém, mà còn tạo lập, củng cố niềm tin của nhân dân đối với đảng viên và

Trang 30

tố tác động sau.

1.1.2.1 Nhóm nhân tố khách quan

+ Mặt trái của kinh tế thị trường tác động.

Lựa chọn kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, định hướng XHCN là một quyết sách đúng đắn trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của Đảng ta Tuy nhiên, "cơ chế thị trường có những tác động tiêu cực mâu thuẫn với bản chất của chủ nghĩa xã hội" [14, tr 26].

Cơ chế thị trường trong bản chất của nó đã hàm chứa cả những mặt tích cực lẫn tiêu cực Kinh tế thị trường về bản chất là hoạt động trên cơ sở quy luật giá trị, quy luật cạnh tranh Cơ chế thị trường đặt ra cho các chủ thể kinh tế phải luôn luôn quan tâm và chạy đua với lợi nhuận, với cạnh tranh và cạnh tranh không phải khi nào cũng lành mạnh Do đó, đội ngũ đảng viên của Đảng ta cũng chịu tác động từ mặt trái của cơ chế thị trường Bởi vì, con người bao giờ cũng mang dấu ấn của một thể chế,

cơ chế Qua những năm thực hiện công cuộc đổi mới, vận hành theo cơ chế thị trường định hướng XHCN, chúng ta đã đạt được những thành tựu to lớn Tuy nhiên bên cạnh đó chúng ta phải trả giá không nhỏ cho những hiện tượng tiêu cực Sự băng hoại các giá trị đạo đức truyền

Trang 31

thống của dân tộc, chủ nghĩa cá nhân, lối sống thực dụng, kinh doanh bằng bất cứ giá nào, tội lừa đảo gây tội ác là hệ quả khó tránh khỏi của

cơ chế thị trường Cơ chế thị trường cuốn hút con người vào cuộc đua tranh kinh tế, làm cho một số cán bộ, đảng viên, trước hết là cán bộ, đảng viên có chức, có quyền dễ coi đồng tiền là trên hết, chạy theo lợi nhuận không chính đáng Chính vì vậy mà không ít cán bộ, đảng viên suy thoái về phẩm chất, sa ngã trước những cám dỗ của đồng tiền, địa vị, sắc đẹp Điều dễ nhận thấy là so với thời kỳ cơ chế tập trung quan liêu bao cấp thì tình hình DHVP của đảng viên trong cơ chế thị trường đang

có xu hướng gia tăng cả về nội dung, cả về hình thức cùng tính chất và hậu quả xã hội của nó.

Có thể nói rằng, trong những năm tới, sức công phá của kinh tế thị trường còn tiếp tục gia tăng Cán bộ, đảng viên hàng ngày, hàng giờ chịu tác động bởi những nhân tố hết sức phức tạp, đối mặt với tiền, hàng, với chủ nghĩa tư bản Trong khi đó, chiến lược "diễn biến hòa bình" của các lực lượng thù địch đang tìm mọi cách để làm tha hóa, biến chất một bộ phận cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ, đảng viên hoạt động trong lĩnh vực sản xuất, kinh doanh, nắm giữ kinh tế Trước tình hình

đó, Đảng ta nhận định: "Sự suy thoái về tư tưởng chính trị, tình trạng tham nhũng, quan liêu, lãng phí của một bộ phận cán bộ, đảng viên có chiều hướng phát triển nghiêm trọng hơn" [17, tr 24].

Kinh tế thị trường định hướng XHCN là môi trường thẩm định bản lĩnh, lòng trung thành và tính tiên phong của người cộng sản Bị chế ước bởi các điều kiện kinh tế - xã hội, môi trường hoạt động, năng lực trí tuệ và trình độ nhận thức, giác ngộ lý tưởng của đội ngũ đảng viên cũng khác nhau Do đó, hơn lúc nào hết đặt ra cho các cấp ủy đảng, UBKT các cấp phải tăng cường công tác giáo dục, rèn luyện, quản lý, kiểm tra đảng viên để phòng ngừa, ngăn chặn các DHVP ở một bộ phận cán bộ,

Trang 32

đảng viên là hết sức cần thiết.

+ Sự sơ hở của cơ chế, chính sách, pháp luật.

Đây vừa là nhân tố tác động vừa là nguyên nhân khách quan gây

ra tình hình DHVP và vi phạm trong thời gian qua Sự vận động, biến đổi của các quan hệ kinh tế đặt ra yêu cầu khách quan phải xác lập cơ chế chính sách, pháp luật tương ứng, nhằm quản lý, điều chỉnh các hoạt động kinh tế - xã hội của đất nước Mặt khác, nó cũng phù hợp với giai đoạn mà chúng ta đang tập trung xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Khi cơ chế, chính sách, pháp luật đồng bộ, nhất quán sẽ hạn chế tới mức thấp nhất các sai phạm của cán bộ, đảng viên Chừng nào mà cơ chế, chính sách, pháp luật chưa đồng bộ, thiếu nhất quán thì còn tạo ra môi trường, kẽ hở cho một bộ phận cán bộ, đảng viên suy thoái về phẩm chất đạo đức dễ dàng lợi dụng để mưu cầu lợi ích cá nhân Sự chuyển đổi của

cơ chế với lượng thời gian chưa nhiều thì sự bất cập, chưa đồng bộ của chính sách, pháp luật là điều khó tránh Thực tế "hiện nay chúng ta mới

có khoảng 200 luật, có nghĩa là còn 500 luật nữa là tiếp tục phải xây dựng, chưa nói 200 luật đã ban hành cũng chưa hoàn chỉnh" [23, tr 5] Đương nhiên dù hệ thống cơ chế, chính sách, pháp luật có kín kẽ tới mấy, nếu phẩm chất đạo đức ở cán bộ, đảng viên yếu kém, mang nặng chủ nghĩa cá nhân thì vẫn có nguy cơ dẫn tới vi phạm Cơ chế, chính sách, pháp luật còn kẽ hở, thậm chí mâu thuẫn không những tạo môi trường để đảng viên suy thoái phẩm chất lợi dụng mà còn là lực cản cho những đảng viên nhận thức chưa đầy đủ, nên cũng có thể dẫn tới vi phạm khi vận dụng, thực hiện cơ chế, chính sách đó Khi ranh giới giao thoa giữa cái cũ và cái mới còn lẫn lộn, đúng, sai chưa được phân biệt rõ ràng thì việc vận dụng tổ chức thực hiện của tổ chức cũng như cán bộ, đảng viên gặp nhiều khó khăn Thời gian qua cho thấy, đã có những cán

bộ, đảng viên phẩm chất đạo đức tốt, có trách nhiệm với tập thể, nhưng

Trang 33

mong muốn thể nghiệm vận dụng cơ chế nên đã dẫn đến vi phạm pháp luật Bởi vậy đặt ra cho Đảng và Nhà nước ta phải tập trung xây dựng, từng bước hoàn thiện cơ chế, chính sách, pháp luật, nhất là các chính sách, thể chế về kinh tế để quản lý xã hội có hiệu quả Mặt khác, đó cũng

là nhân tố thuận lợi tạo điều kiện cho hoạt động kiểm tra của Đảng, thanh tra của Nhà nước đi vào nền nếp và chất lượng cao hơn.

1.1.2.2 Nhóm nhân tố chủ quan

- Tổ chức đảng buông lỏng công tác giáo dục, quản lý

Mối quan hệ giữa đảng viên và tổ chức đảng là mối quan hệ biện chứng, tác động qua lại lẫn nhau, không có đảng viên và đội ngũ đảng viên thì sẽ không có đảng Đảng viên tốt, có chất lượng là nhân tố đảm bảo sự trong sạch vững mạnh của tổ chức Đảng, ngược lại tổ chức đảng buông lỏng công tác giáo dục, quản lý, kiểm tra đảng viên thì dễ tạo môi trường, điều kiện để đảng viên dẫn tới vi phạm kỷ luật đảng, pháp luật nhà nước Trong môi trường quản lý của tổ chức đảng, với sự giáo dục, giúp đỡ, giám sát của tổ chức, cộng với duy trì nghiêm túc nền nếp nguyên tắc sinh hoạt đảng thì đảng viên mới có điều kiện để phấn đấu, rèn luyện, tiến bộ, trưởng thành Chính vì vậy mà Đại hội VIII xác định rõ: "Không để một đảng viên nào đứng ngoài sự quản lý của tổ chức" [14, tr 143].

Trước mặt trái của cơ chế thị trường, việc giáo dục, quản lý đảng viên không chỉ tập trung quản lý thời gian tám tiếng ở công sở (đối với đảng viên là công chức), không chỉ quản lý chất lượng, hiệu quả công tác

mà còn đi sâu quản lý biến động về tư tưởng, không gian hoạt động, về ý thức tổ chức kỷ luật của đảng viên và thông qua các tổ chức quần chúng,

kể cả nơi đảng viên cư trú để kiểm tra, giám sát Thực tiễn trên bình diện của cả nước nói chung, ở các tỉnh DHMT nói riêng có không ít đảng viên vi phạm pháp luật nghiêm trọng mà tổ chức đảng quản lý trực tiếp không nắm được Qua khảo sát nguyên nhân tình hình vi phạm của đảng

Trang 34

viên trên địa bàn cho thấy có 36% ý kiến cho rằng tổ chức đảng buông lỏng công tác giáo dục quản lý (xem Phụ lục 8) Do tổ chức đảng buông lỏng công tác quản lý, giáo dục, coi nhẹ việc đấu tranh tự phê bình và phê bình nên các đảng viên đó tự cho mình như một lãnh địa riêng, "lá bùa có phép mầu" để che đậy cho những hành vi sai trái của mình Do

đó, tính chất của các vi phạm này thường rất lớn và nghiêm trọng, bởi vì những hành vi vi phạm của những đảng viên đó đứng ngoài sự quản lý, giám sát của tổ chức Từ những vấn đề này đặt ra cho các tổ chức đảng (trước hết là các chi bộ đảng) phải tăng cường công tác giáo dục, quản

lý, kiểm tra đảng viên, duy trì tốt chế độ và các nguyên tắc sinh hoạt đảng, nhất là nâng cao chất lượng tự phê bình và phê bình, giữ nghiêm

kỷ luật, kỷ cương của Đảng.

- Ý thức tự giáo dục, rèn luyện của đảng viên còn hạn chế

Con đường và cả biện pháp tự giáo dục, phấn đấu, rèn luyện của mỗi đảng viên có ý nghĩa rất lớn đối với việc nâng cao phẩm chất chính trị, đạo đức cách mạng Dù tổ chức đảng có quan tâm, giáo dục, rèn luyện, nhưng đảng viên thiếu ý thức tu dưỡng rèn luyện thì kết quả thực hiện nhiệm vụ chính trị của đảng viên sẽ không cao, thậm chí cố tình vi phạm kỷ luật đảng, pháp luật nhà nước Không ai có thể hiểu hết tâm tư nguyện vọng, ưu điểm, khuyết điểm của mình ngoài bản thân mình Thực chất đó là cuộc đấu tranh tư tưởng giữa tích cực và tiêu cực, giữa cái cao thượng và cái thấp hèn, giữa đúng và sai… ở mỗi đảng viên Khi đảng viên không tự giác, thiếu ý chí phấn đấu rèn luyện, bản lĩnh không vững vàng thì khả năng dẫn tới vi phạm các quy định là điều khó tránh Giá trị tích cực bền vững của con đường, biện pháp tự rèn luyện của đảng viên không chỉ đủ sức miễn dịch với những cám dỗ vật chất đang hàng ngày, hàng giờ tác động mà còn lan tỏa nêu gương sáng cho các đảng viên khác học tập.

Trang 35

Xét tới cùng, do một bộ phận cán bộ, đảng viên nhận thức không đúng, mang nặng chủ nghĩa cá nhân là căn nguyên mở đường cho các tiêu cực, yếu kém phát triển Cùng trong một hoàn cảnh, môi trường công tác, điều kiện làm việc như nhau, nhưng có không ít đảng viên lún sâu vào tội lỗi, thoái hóa biến chất, vi phạm pháp luật, trong khi đó phần lớn đảng viên luôn giữ được phẩm chất cao quý của người cộng sản Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, chủ nghĩa cá nhân đẻ ra hàng trăm thứ bệnh - đó là óc địa vị, vun vén cá nhân, tham nhũng, đặc quyền, đặc lợi, vi phạm thô bạo quyền làm chủ của nhân dân… Những căn bệnh này không sớm được khắc phục thì tác hại của nó rất lớn, làm ảnh hưởng đến sự trong sạch vững mạnh của Đảng, bản chất cách mạng của nhà nước ta Do đó, bất luận trong hoàn cảnh, điều kiện nào, "đảng viên, cán bộ phải rèn luyện tính tổ chức, tính kỷ luật, tự giác đặt mình trong sự quản lý của chi bộ" [14, tr 143].

Từ hai nhóm nhân tố tác động nêu trên đặt ra cho các cấp ủy đảng, UBKT các cấp, đội ngũ cán bộ kiểm tra của Đảng phải luôn nêu cao bản lính, chủ động xây dựng kế hoạch kiểm tra để kịp thời giáo dục, phòng ngừa, ngăn chặn kịp thời các DHVP có thể xảy ra.

1.2 CHẤT LƯỢNG KIỂM TRA ĐẢNG VIÊN KHI CÓ DẤU HIỆU VI PHẠM - QUAN NIỆM, TIÊU CHÍ ĐÁNH GIÁ, TƯ TƯỞNG CHỈ ĐẠO, PHƯƠNG PHÁP VÀ QUI TRÌNH KIỂM TRA

1.2.1 Quan niệm về chất lượng kiểm tra đảng viên khi có dấu hiệu

vi phạm

Chất lượng: (theo nghĩa triết học) được định nghĩa trong cuốn Từ điển bách khoa Việt Nam do Trung tâm biên soạn từ điển bách khoa Việt Nam xuất bản năm 1995 như sau:

Phạm trù triết học biểu thị những thuộc tính bản chất

Trang 36

của sự vật, chỉ rõ nó là cái gì, tính ổn định tương đối của sự vật phân biệt nó với các sự vật khác Chất lượng là đặc tính khách quan của sự vật Chất lượng biểu hiện ra bên ngoài qua các thuộc tính Nó là cái liên kết các thuộc tính của sự vật lại làm một, gắn

bó với sự vật như một tổng thể, bao quát toàn bộ sự vật và không tách khỏi sự vật Sự vật trong khi vẫn còn là bản thân nó thì không thể mất chất lượng của nó Sự thay đổi chất lượng kéo theo sự thay đổi của sự vật về căn bản Chất lượng của sự vật bao giờ cũng gắn liền với tính qui định về số lượng của nó và không thể tồn tại ngoài tính qui định ấy Mỗi sự vật bao giờ cũng là sự thống nhất của chất lượng và số lượng [32, tr 419].

Theo Đại từ điển tiếng Việt do Nguyễn Như Ý chủ biên, nhà xuất bản Văn hóa thông tin xuất bản năm 1998, với nghĩa thường dùng trong đời sống xã hội, chất lượng được hiểu là: "1- Cái làm nên phẩm chất, giá trị của con người, sự vật 2- Cái tạo nên bản chất sự vật, làm cho sự vật này khác với sự vật kia " [104, tr 331]

Như vậy, khái niệm "chất lượng" hàm chứa trong nó tính chỉnh thể, tổ hợp các thuộc tính cấu thành nên phẩm chất, giá trị của một con người, một sự vật Chất lượng hằn sâu sự thay đổi của các yếu tố, để làm cho sự vật này khác với sự vật kia.

Khi đánh giá về chất lượng kiểm tra đảng viên khi có DHVP cần

đề cập đến những vấn đề cốt yếu, những yếu tố cơ bản mà thiếu nó không thể tạo nên chất lượng mới của một cuộc kiểm tra.

Như vậy, chất lượng kiểm tra đảng viên khi có DHVP là toàn bộ những giá trị các hoạt động phối hợp kiểm tra giữa các chủ thể UBKT, cấp ủy, các ban, ngành có liên quan, tham gia kiểm tra của quần chúng

và đối tượng tự giác kiểm tra mà trước hết thể hiện vai trò năng lực,

Trang 37

trình độ của UBKT, cán bộ kiểm tra trong việc chủ động phát hiện DHVP, xem xét, kết luận làm rõ đúng, sai đối với đảng viên khi có DHVP theo quy định của Điều lệ Đảng Càng làm rõ bản chất sự vật, hiện tượng thì chất lượng công tác kiểm tra đảng viên khi có DHVP càng cao

Theo quan niệm của tác giả, chất lượng kiểm tra đảng viên khi có DHVP được cấu thành bởi những yếu tố sau đây:

Thứ nhất, sự chỉ đạo của cấp ủy đảng cùng cấp.

Các cấp ủy đảng chịu trách nhiệm trước đảng bộ lãnh đạo các mặt công tác phát triển kinh tế - xã hội, an ninh - quốc phòng, xây dựng Đảng của từng đảng bộ địa phương Công tác xây dựng Đảng gắn liền với hoạt động lãnh đạo của các cấp ủy đảng có vai trò rất lớn quyết định đến sự trong sạch vững mạnh của các đảng bộ trên cả ba mặt chính trị,

tư tưởng và tổ chức Xuất phát từ vai trò, bản chất của Đảng, nên hệ thống nguyên tắc tổ chức của Đảng ta được tổ chức chặt chẽ thống nhất theo nguyên tắc tập trung dân chủ Vì vậy các hoạt động của UBKT, công tác kiểm tra đảng viên khi có DHVP đều phải đặt dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy đảng cùng cấp

UBKT các cấp vừa thực hiện nhiệm vụ do Điều lệ Đảng giao, vừa

là một ban tham mưu đặt dưới sự lãnh đạo của cấp ủy cùng cấp Do đó, mọi hoạt động của các UBKT huyện ủy hiệu quả cao hay thấp tùy thuộc rất lớn vào sự chỉ đạo của cấp ủy cùng cấp Đứng ngoài sự chỉ đạo của cấp ủy, UBKT khó có thể hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao Bởi cấp ủy đảng trực tiếp lãnh đạo, chỉ đạo các mặt công tác của đảng bộ, trong đó có hoạt động của UBKT Thực tiễn trên địa bàn DHMT đã cho thấy nơi nào cấp ủy nhận thức đúng vai trò, tác dụng của công tác kiểm tra đảng viên khi có DHVP, quan tâm, theo dõi chỉ đạo UBKT bám sát địa bàn, hướng

Trang 38

vào những đối tượng, nội dung lĩnh vực phức tạp, dễ nảy sinh DHVP để dồn sức kiểm tra thì nơi đó có chuyển biến về kinh tế - xã hội, công tác xây dựng Đảng; chất lượng, hiệu quả công tác kiểm tra đảng viên khi có DHVP được nâng lên rõ rệt, các khuyết điểm, sai phạm của một bộ phận cán bộ, đảng viên từng bước được đẩy lùi Ngược lại, nơi nào cấp ủy buông lơi, khoán trắng, thiếu chỉ đạo thì hoạt động của UBKT gặp nhiều khó khăn, chất lượng hiệu quả thấp, nhất là đối với các đối tượng đảng viên là cấp ủy viên cùng cấp, giữ các cương vị chủ chốt, nắm giữ các lĩnh vực quan trọng Vấn đề đặt ra cho các cấp ủy đảng không chỉ dừng lại ở nhận thức, quan tâm chung chung mà phải được xác lập bằng những quy chế, qui định cụ thể, xác định rõ trách nhiệm của mỗi bên Chẳng hạn, cần làm rõ chế độ UBKT phản ánh báo cáo xin ý kiến chỉ đạo của cấp ủy, thường vụ; những nội dung, đối tượng, tính chất DHVP mức độ nào thì cấp ủy, thường vụ định hướng cho ý kiến chỉ đạo Làm được như vậy chắc chắn hoạt động kiểm tra của các UBKT huyện ủy trên địa bàn sẽ đi vào nền nếp có chất lượng.

Thứ hai, trình độ năng lực, uy tín của UBKT, cán bộ kiểm tra

Đây là chủ thể trực tiếp thực hiện nhiệm vụ do Điều lệ Đảng quy định, quyết định đến chất lượng, hiệu quả kiểm tra đảng viên khi có DHVP Xét tới cùng mọi thành bại của công việc là do chất lượng tổ chức bộ máy mà nòng cốt là đội ngũ cán bộ Chủ động nắm bắt, nhận diện DHVP đến mức nào, xem xét làm rõ đúng, sai đến đâu tùy thuộc rất lớn vào trình độ, năng lực, uy tín của cán bộ kiểm tra Nếu cán bộ kiểm tra thiếu nhân cách, tâm đức không trong sáng thì không thể tiến hành kiểm tra đạt kết quả Ngoài phẩm chất, năng lực, uy tín cán bộ kiểm tra cần phải có bản lĩnh, dũng khí đấu tranh để làm rõ sự thật chân lý Hiệu quả của công tác kiểm tra đảng viên khi có DHVP tùy thuộc rất lớn vào bản lĩnh, tính chiến đấu của cán bộ kiểm tra Thực tế đã cho thấy có

Trang 39

những cán bộ kiểm tra trình độ nghiệp vụ chuyên môn giỏi nhưng bản lĩnh và tính chiến đấu hạn chế, nể nang nên không thể đấu tranh đến cùng để làm rõ những khuất tất, bản chất DHVP nếu chưa nói là nương nhẹ, bỏ qua sai phạm, thậm chí "vạch đường cho hươu chạy" Rõ ràng những trường hợp như vậy thì chất lượng, hiệu quả và tính mục đích của công tác kiểm tra rất thấp.

Thứ ba, phát hiện đúng, chính xác DHVP.

Để xác định đúng nội dung, đối tượng có DHVP cần phải làm tốt việc phát hiện DHVP Đây là yêu cầu thường trực đối với UBKT Không xác định được nội dung, đối tượng kiểm tra, một mặt UBKT sẽ không thực hiện tốt nhiệm vụ kiểm tra của mình, mặt khác vô hình trung để các DHVP ở số ít cán bộ, đảng viên phát triển thành vi phạm nghiêm trọng Việc chủ động phát hiện DHVP càng sớm càng tốt, để tiến hành kiểm tra kịp thời mới có tác dụng ngăn chặn vi phạm và đảm bảo tính giáo dục cao

UBKT các cấp không làm tốt khâu khảo sát nắm bắt thông tin DHVP, không trù liệu tốt mọi diễn biến ở cơ sở, không dựa trên kế hoạch kiểm tra đã xác định thì kết quả thực hiện nhiệm vụ kiểm tra sẽ hạn chế Phương hướng, nhiệm vụ của công tác kiểm tra đảng viên khi

có DHVP về cơ bản được xây dựng trên cơ sở thông tin DHVP.

Trước sự phát triển mạnh mẽ của cơ chế thị trường, các DHVP ngày càng tinh vi phức tạp hơn về thủ đoạn, đa dạng hơn về phương thức biểu hiện Cùng một nội dung DHVP nhưng biểu hiện ra ở nhiều hành vi, hiện tượng khác nhau, thậm chí trái ngược nhau Nếu cán bộ kiểm tra thiếu phương pháp biện chứng, lịch sử cụ thể thì rất khó nhận diện, nắm bắt các DHVP đó Trước rào cản tâm lý, một số UBKT chờ khi các vụ việc xảy ra mới tiến hành kiểm tra Nếu như UBKT không làm tốt khâu chủ động phát hiện thì ý nghĩa, tác dụng của công tác kiểm

Trang 40

tra rất thấp Vấn đề không phải ở chỗ có hay không có DHVP mà bằng phương pháp, phương thức nào để nắm bắt, nhận diện đúng DHVP Đây

là tiêu chí đánh giá năng lực tổ chức thực hiện nhiệm vụ kiểm tra của UBKT và đội ngũ cán bộ kiểm tra các cấp.

Ngoài sự nỗ lực bám sát địa bàn phát hiện DHVP, UBKT cần kết hợp các nguồn thông tin từ trong nội bộ Đảng, các cơ quan nhà nước và

sự phản ánh tố cáo của quần chúng nhân dân để phân tích, phân loại, chọn lựa các thông tin có độ tin cậy cao, làm cơ sở cho việc xây dựng kế hoạch kiểm tra Vì vậy việc chủ động kết hợp các kênh để nắm thông tin DHVP là một trong những nhân tố quyết định đến chất lượng, hiệu quả của công tác kiểm tra đảng viên khi có DHVP.

Thứ tư, xử lý chính xác và kết luận làm rõ đúng, sai DHVP.

Tiêu điểm cuối cùng của công tác kiểm tra đảng viên khi có DHVP phải đạt được là xem xét, kết luận làm rõ đúng, sai, chỉ ra ưu điểm, khuyết điểm, tính chất, nguyên nhân của DHVP Khi đó cái thật, cái đúng, cái bản chất sẽ được phơi bày và làm rõ Bởi vì, chỉ có dựa trên

cơ sở đúng, sai của DHVP, tổ chức đảng có thẩm quyền mới có những cơ

sở để giáo dục, giúp đỡ những đảng viên có vi phạm (nếu có) để sửa chữa, cũng như kịp thời minh oan cho đảng viên được kiểm tra nhưng không vi phạm Mặt khác, thông qua kết luận đúng, sai của tổ chức đảng

có thẩm quyền, giúp cho quần chúng hiểu được tính nghiêm minh, công bằng của công tác kiểm tra, kỷ luật đảng Qua đó củng cố, tạo lập niềm tin của quần chúng đối với tổ chức đảng.

Để có cơ sở kết luận làm rõ đúng, sai, cán bộ kiểm tra cần khắc phục sự nhầm lẫn giữa hiện tượng và bản chất trong công tác kiểm tra Bởi vì, trong thực tế không phải lúc nào hiện tượng cũng mang tính bản chất, có khi hiện tượng xuyên tạc bản chất của vấn đề C.Mác đã chỉ ra rằng: "Nếu hình thái biểu hiện và bản chất của sự vật trực tiếp đồng

Ngày đăng: 22/10/2016, 15:31

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Lê Hồng Anh (2001), "Ủy ban Kiểm tra các cấp và các thế hệ cán bộ kiểm tra luôn giữ vững truyền thống, quyết tâm phấn đấu hoàn thành tốt nhiệm vụ được", Kiểm tra, (11), tr. 9 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ủy ban Kiểm tra các cấp và các thế hệ cán bộkiểm tra luôn giữ vững truyền thống, quyết tâm phấn đấu hoànthành tốt nhiệm vụ được
Tác giả: Lê Hồng Anh
Năm: 2001
2. Lê Hồng Anh (2003), "Nâng cao hiệu quả phối hợp giữa Ủy ban Kiểm tra Đảng các cấp với lực lượng Công an nhân dân", Kiểm tra, (10), tr. 9 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nâng cao hiệu quả phối hợp giữa Ủy ban Kiểm tra Đảng các cấp với lực lượng Công an nhân dân
Tác giả: Lê Hồng Anh
Nhà XB: Kiểm tra
Năm: 2003
3. Ban Chấp hành Trung ương, số 29/CT-TW, Chỉ thị về tăng cường công tác kiểm tra của Đảng, tr. 3 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chỉ thị về tăng cường côngtác kiểm tra của Đảng
4. Nguyễn Lương Bằng (2003), Bài nói chuyện tại lớp bồi dưỡng nghiệp vụ cho cán bộ kiểm tra khóa I tháng 12 năm 1965, Ủy ban Kiểm tra, Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh với công tác kiểm tra và kỷ luật đảng, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài nói chuyện tại lớp bồi dưỡng nghiệpvụ cho cán bộ kiểm tra khóa I tháng 12 năm 1965, Ủy ban Kiểmtra, Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh với công tác kiểm tra và kỷluật đảng
Tác giả: Nguyễn Lương Bằng
Năm: 2003
5. Đặng Đình Bảo (2003), "Một số vấn đề về phát hiện dấu hiệu vi phạm của đảng viên và tổ chức đảng cấp dưới", Kiểm tra, (3), tr. 22-23 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề về phát hiện dấu hiệu vi phạmcủa đảng viên và tổ chức đảng cấp dưới
Tác giả: Đặng Đình Bảo
Năm: 2003
6. Nguyễn Văn Chi (2004), "Nắm chắc tình hình tổ chức và cán bộ để có kế hoạch kiểm tra đúng, kịp thời, đạt hiệu quả cao", Kiểm tra, (2), tr. 14 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nắm chắc tình hình tổ chức và cán bộ để có kếhoạch kiểm tra đúng, kịp thời, đạt hiệu quả cao
Tác giả: Nguyễn Văn Chi
Năm: 2004
7. Nguyễn Thị Doan (2002), "Một số vấn đề cần lưu ý khi thực hiện công tác kiểm tra, kỷ luật trong Đảng", Kiểm tra, (7), tr. 5-7 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề cần lưu ý khi thực hiện côngtác kiểm tra, kỷ luật trong Đảng
Tác giả: Nguyễn Thị Doan
Năm: 2002
8. Nguyễn Thị Doan (2003), "Một số giải pháp nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động giám sát trong Đảng", Kiểm tra, (10), tr. 12 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số giải pháp nâng cao hiệu lực, hiệu quảhoạt động giám sát trong Đảng
Tác giả: Nguyễn Thị Doan
Năm: 2003
9. Nguyễn Thị Doan (2004), "Tăng cường công tác giám sát trong Đảng", Tạp chí Cộng sản, (22), tr. 3-7 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tăng cường công tác giám sát trong Đảng
Tác giả: Nguyễn Thị Doan
Năm: 2004
10. Phan Diễn (2004), "Đổi mới công tác kiểm tra là một bộ phận trong đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng", Kiểm tra, (2), tr. 10 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới công tác kiểm tra là một bộ phận trong đổimới phương thức lãnh đạo của Đảng
Tác giả: Phan Diễn
Năm: 2004
11. Đảng Cộng sản Việt Nam (1977), Báo cáo tổng kết công tác xây dựng Đảng và sửa đổi Điều lệ Đảng, Nxb Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng kết công tác xây dựngĐảng và sửa đổi Điều lệ Đảng
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Sự thật
Năm: 1977
12. Đảng Cộng sản Việt Nam (1982), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ V, tập 3, Nxb Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốclần thứ V
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Sự thật
Năm: 1982
13. Đảng Cộng sản Việt Nam (1987), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, Nxb Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Sự thật
Năm: 1987
14. Đảng Cộng sản Việt Nam (1996), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốclần thứ VIII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1996
15. Đảng Cộng sản Việt Nam (1996), Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam khóa VIII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam khóa VIII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1996
16. Đảng Cộng sản Việt Nam (1999), Văn kiện Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung ương khóa VIII (lưu hành nội bộ), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung ương khóa VIII (lưu hành nội bộ)
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1999
17. Đảng Cộng sản Việt Nam (1999), Văn kiện Hội nghị lần thứ sáu (lần 2) Ban Chấp hành Trung ương khóa VIII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị lần thứ sáu (lần 2)Ban Chấp hành Trung ương khóa VIII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1999
18. Đảng Cộng sản Việt Nam (2000), Văn kiện Đảng toàn tập, tập 23, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đảng toàn tập
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2000
19. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốclần thứ IX
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2001
20. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam khóa IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam khóa IX
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2001

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w