Từ năm 1990 trở về trước, vốn đầu tư phát triển của Nhà nước chủ yếu được cân đối từ Ngân sách Nhà nước. Thực hiện chủ trương đổi mới, xóa dần bao cấp trong đầu tư, Luật Ngân sách Nhà nước được ban hành đã đánh dấu sự thay đổi căn bản quá trình quản lý vốn đầu tư phát triển. Đối tượng được đầu tư trực tiếp bằng vốn Ngân sách Nhà nước thu hẹp và đối tượng được đầu tư bằng vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước dần được mở rộng.
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Từ năm 1990 trở về trước, vốn đầu tư phát triển của Nhà nước chủyếu được cân đối từ Ngân sách Nhà nước Thực hiện chủ trương "đổi mới",xóa dần bao cấp trong đầu tư, Luật Ngân sách Nhà nước được ban hành đãđánh dấu sự thay đổi căn bản quá trình quản lý vốn đầu tư phát triển Đốitượng được đầu tư trực tiếp bằng vốn Ngân sách Nhà nước thu hẹp và đốitượng được đầu tư bằng vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước dầnđược mở rộng
Cơ chế tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước ở Việt Nam được ápdụng chính thức từ 1990 đã đóng góp tích cực, tạo ra được nhận thức mới,phương pháp mới, cách làm mới phù hợp với xu thế phát triển của nền kinh
tế, góp phần thực hiện chủ trương xóa bao cấp trong đầu tư và xây dựng, tạolập môi trường tài chính tiền tệ lành mạnh, thông thoáng, đưa nền kinh tếthoát khỏi khủng hoảng và phát triển theo hướng công nghiệp hóa, hiện đạihóa
Tuy nhiên, sự ra đời, tồn tại và phát triển của tín dụng đầu tư pháttriển của Nhà nước được xuất phát từ cơ chế bao cấp nói chung và bao cấp vềđầu tư xây dựng nói riêng, do đó hệ thống chính sách, cơ chế tín dụng đầu tưphát triển của Nhà nước đang trong quá trình đổi mới và hoàn thiện Vớiphương châm vừa làm, vừa học, vừa rút kinh nghiệm, cơ chế tín dụng đầu tưphát triển của Nhà nước đã bộc lộ những mặt hạn chế, bất cập Vai trò tiềmnăng của tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước chưa được phát huy đầy đủ.Mặc dù cơ chế tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước đã có sự hoàn thiệndần song ở chừng mực nào đó vẫn chưa đáp ứng được đầy đủ yêu cầu phát
triển của nền kinh tế Do vậy, việc nghiên cứu để "hoàn thiện cơ chế tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước trong sự nghiệp công nghiệp hóa,
Trang 2hiện đại hóa ở Việt Nam" không những là vấn đề cần thiết có tính cấp bách,
mà còn có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn trong quá trìnhchuyển đổi nền kinh tế sang cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nướctheo định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta
2 Mục đích nghiên cứu của đề tài
Mục đích nghiên cứu của đề tài là hoàn thiện cơ chế tín dụng đầu tưphát triển của Nhà nước Nhiệm vụ của luận án là:
- Cụ thể hóa và khái quát hóa những cơ sở lý luận về đầu tư, đầu tưphát triển, vốn đầu tư, vốn đầu tư cơ bản, tín dụng và tín dụng đầu tư pháttriển của Nhà nước
- Làm rõ bản chất, nguyên tắc hoạt động của tín dụng đầu tư phát triểncủa Nhà nước để hình thành những nhận thức mới trong công tác quản lý vàđịnh hướng công tác nghiên cứu cơ chế tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước
- Phân tích, đánh giá thực trạng tình hình đầu tư toàn xã hội và cơ chếtín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước giai đoạn 1991 - 2000, từ đó rút ranhững nội dung cần hoàn thiện cơ chế tín dụng đầu tư phát triển của Nhànước trong giai đoạn công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta hiện nay
- Hướng hoàn thiện cơ chế tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nướcnhằm đáp ứng yêu cầu và đòi hỏi trong quá trình thực hiện công nghiệp hóa,hiện đại hóa đất nước
3 Đối tượng, phạm vi và phương pháp nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận án là cơ sở lý luận và thực tiễn cơ chếtín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước Với tính đa dạng và phức tạp của đềtài, luận án chỉ tập trung nghiên cứu những vấn đề liên quan đến tín dụng đầu
tư phát triển của Nhà nước trong lĩnh vực đầu tư xây dựng cơ bản và cơ chếtín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước theo các nội dung đã được quy định
Trang 3tại Nghị định số 43/1999/NĐ-CP ngày 29/6/1999 và các Quyết định của Thủtướng Chính phủ về quản lý tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước để kháiquát và hoàn thiện cơ chế tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước trong lĩnhvực đầu tư xây dựng cơ bản.
Phương pháp luận nghiên cứu của luận án là phương pháp duy vậtbiện chứng, duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ ChíMinh cùng với những quan điểm đường lối chính sách của Đảng và Nhà nướctrong lĩnh vực quản lý đầu tư xây dựng nói chung, quản lý tín dụng đầu tưphát triển của Nhà nước nói riêng Đồng thời luận án cũng sử dụng cácphương pháp phân tích thống kê, diễn giải, quy nạp, đánh giá, so sánh, tổnghợp và kiểm chứng trên cơ sở các dữ liệu khảo sát thực tế để hoàn thiện cơchế tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước ở Việt Nam
4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Hoàn thiện cơ chế tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước trong sựnghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam không những là vấn đề cầnthiết có tính cấp bách, mà còn có ý nghĩa quan trọng cả về khoa học và thực tiễn:
- Ý nghĩa khoa học: Đề tài góp phần hệ thống hóa và làm rõ các quan
điểm, nhận thức về đầu tư và đầu tư phát triển, về vốn đầu tư và vốn đầu tư cơbản, về tín dụng và tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước Luận chứng cơ
sở, tiền đề, bản chất và nguyên tắc hoạt động của tín dụng đầu tư phát triểncủa Nhà nước phục vụ việc nghiên cứu và hoàn thiện cơ chế tín dụng đầu tưphát triển của nhà nước trong giai đoạn hiện nay
- Ý nghĩa thực tiễn: Thông qua nghiên cứu, phân tích đánh giá thực
trạng hoạt động đầu tư và cơ chế tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước giaiđoạn 1991-2000, đúc rút kinh nghiệm của một số nước trong hoạt động tíndụng đầu tư phát triển của Nhà nước phục vụ quá trình công nghiệp hóa, hiệnđại hóa đất nước, từ đó rút ra những bài học kinh nghiệm, đề xuất định hướng
Trang 4và nội dung hoàn thiện cơ chế tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước trongthời gian tới Luận án có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho những cán bộlàm việc trong tổ chức tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước và các cán bộnghiên cứu, hoạch định chính sách kinh tế tài chính vĩ mô.
5 Kết cấu của luận án
Nội dung cơ bản của luận án gồm 168 trang, 2 biểu đồ, 2 sơ đồ, 2 biểu
số liệu Ngoài ra còn có phần mở đầu, kết luận, danh mục công trình của tácgiả, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục gồm 8 bảng số liệu kèm theo.Luận án được kết cấu thành 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về đầu tư và tín dụng đầu tư phát triển của
Nhà nước trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Chương 2: Thực trạng cơ chế tín dụng đầu tư phát triển của Nhà
nước ở Việt Nam giai đoạn 1991 - 2000.
Chương 3: Hoàn thiện cơ chế tín dụng đầu tư phát triển của Nhà
nước
Trang 5Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐẦU TƯ VÀ TÍN DỤNG ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN CỦA NHÀ NƯỚC TRONG SỰ NGHIỆP CÔNG NGHIỆP HÓA,
HIỆN ĐẠI HÓA ĐẤT NƯỚC
1.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐẦU TƯ VÀ VỐN ĐẦU TƯ
1.1.1 Nhận thức chung về đầu tư
Đầu tư là điều kiện quyết định sự ra đời, tồn tại và phát triển đối vớitừng đơn vị, từng cá nhân tham gia hoạt động sản xuất - kinh doanh Đối vớiquốc gia, đầu tư là yếu tố quyết định sự phát triển nền sản xuất xã hội, là chìakhóa của sự tăng trưởng
Đầu tư là khái niệm hết sức quen thuộc đối với các nhà nghiên cứukhoa học kinh tế, các đơn vị sản xuất, kinh doanh và đối với mỗi chúng ta.Tuy nhiên, khái niệm và bản chất của đầu tư cho đến nay vẫn chưa được hiểumột cách thống nhất Tùy theo từng góc độ của người tiếp cận, đầu tư đượchiểu và định nghĩa theo những cách khác nhau Vậy thực chất đầu tư là gì?
Phần đông các nhà kinh tế đương thời cho rằng đầu tư là "phươngthức tạo giá trị đối với những thứ có thể đầu tư, để cho vốn thực hiện đượcchức năng cung cấp giá trị thặng dư cho người sở hữu nó" [36, tr 83-84]
Đối với nhà kinh tế học David Begg, "đầu tư biểu thị lượng tiền màcác hãng muốn bổ sung vào dự trữ vốn để tiêu dùng trong tương lai Đó làkhoản sản xuất hiện tại được để ra một bên để bổ sung vào dự trữ vốn chứkhông phải để tiêu dùng ngay" [19, tr 485]
Các nhà kinh tế học của trường đại học Havớt (Mỹ) hoàn toàn có lýkhi nhìn nhận dưới góc độ nguồn gốc của vốn đầu tư và cho rằng "đầu tư là
để dành tiêu dùng hiện tại thay vì tiêu dùng lớn hơn trong tương lai" [2, tr.51]
Trang 6Robert J.Gordon - tác giả cuốn kinh tế học vĩ mô - hoàn toàn đúng khinhìn nhận đầu tư dưới góc độ giá trị biên và quan niệm rằng đầu tư là đưathêm một phần sản phẩm cuối cùng vào kho tài sản vật chất sản sinh ra thunhập của quốc gia hay thay thế các tài sản vật chất cũ đã hao mòn [35, tr 77].
Khái niệm về đầu tư không nhất quán cũng được thể hiện trong tài liệuđược coi là nhất quán hơn cả - Từ điển quản lý kinh doanh tài chính (Nhàxuất bản Thế giới, 1994) Ngay trong "cẩm nang" này cũng tồn tại tới ba kháiniệm chính về đầu tư
Thứ nhất, theo quan điểm kinh tế, đầu tư là việc bỏ vốn để tham gia
vào hoạt động của xí nghiệp trong nhiều chu kỳ kinh doanh nối tiếp nhau.Đây chính là quá trình tích lũy các yếu tố cho sản xuất hay kinh doanh
Thứ hai, theo quan điểm tài chính, đầu tư là làm bất động một số vốn
nhàn rỗi nhằm thu tiền lãi trong nhiều thời kỳ nối tiếp Số vốn nhàn rỗi nàybao gồm không chỉ các tài sản hiện vật mà còn gồm các khoản chi tiêu giántiếp cho hoạt động sản xuất kinh doanh như nghiên cứu, đào tạo nhân viên,chi phí quản lý
Thứ ba, theo quan điểm kế toán, khái niệm đầu tư gắn liền với việc chi
một khoản vào một trong các mục tiêu sản xuất kinh doanh Khái niệm đầu tưkhông thể tách rời khỏi phạm vi thời gian và thời gian càng dài thì việc bỏvốn đầu tư càng gặp nhiều rủi ro [54, tr 9]
Như vậy, ở mỗi cách tiếp cận khác nhau người ta nhìn nhận khônggiống nhau về đầu tư Các quan niệm về đầu tư nêu trên đều mới chỉ phản ánhđược khía cạnh này hay khía cạnh khác của đầu tư và chưa nhìn nhận đầu tưvới cách nhìn tổng thể và mang tính khái quát Theo chúng tôi, bản chất củađầu tư cần phải được nhận thức trên cách nhìn tổng quan với đặc tính động.Đầu tư là khái niệm trừu tượng
Bản chất đầu tư cần phải được nhìn nhận theo một số đặc trưng sau:
Trang 7Thứ nhất, nguồn lực trong hiện tại để tiến hành hoạt động đầu tư
không chỉ là tiền tệ mà còn bao gồm cả giá trị của quyền lợi vật chất và phivật chất mà nhà đầu tư bỏ ra
Thứ hai, đặc điểm kinh doanh của các nhà đầu tư được thể hiện thông
qua mục đích thu lợi nhuận và khả năng phát triển kinh tế - xã hội của đất nước
Thứ ba, tính rủi ro, mạo hiểm do đặc điểm không xác định chắc chắn
trước trong tương lai do ảnh hưởng của yếu tố thời gian
Tóm lại, đầu tư phải là quá trình tập trung các nguồn lực và tiến hànhcác hoạt động với mục đích thu được kết quả trong tương lai lớn hơn cácnguồn lực đã bỏ ra
Nguồn lực đó có thể là tiền, tài nguyên thiên nhiên, sức lao động, sựhiểu biết và các nguồn lực phi vật chất khác Nguồn lực có thể là hữu hìnhhoặc vô hình, vật chất hoặc phi vật chất và nói chung là giá trị
Kết quả trong tương lai có thể là sự tăng thêm của các giá trị, các tàisản tài chính (tiền vốn), tài sản vật chất (như nhà máy, năng lực sản xuất,đường sá), tài sản trí tuệ (như trình độ văn hóa, chuyên môn, sự hiểu biết khoahọc - kỹ thuật ) và nguồn nhân lực có đủ điều kiện để làm việc có năng suấtcao trong nền sản xuất của xã hội
Đầu tư có thể tiến hành theo những phương thức khác nhau, thôngthường có hai phương thức đầu tư chủ yếu: đầu tư gián tiếp và đầu tư trựctiếp
Đầu tư gián tiếp là phương thức mà chủ đầu tư không trực tiếp thamgia điều hành quản lý quá trình thực hiện, vận hành hoạt động đầu tư và sảnxuất kinh doanh để tạo ra kết quả cuối cùng Đầu tư gián tiếp được biểu hiện dưới nhiều hình thức khác nhau như việc Chính phủ một số quốc giathông qua các chương trình hỗ trợ phát triển cho các Chính phủ của các nước khác vay để phát triển kinh tế xã hội; tư nhân cho vay để hưởng lãi; các
Trang 8cá nhân, các tổ chức mua các chứng chỉ có giá (trái phiếu, cổ phiếu) để hưởnglợi tức
Đối với nước có nền tài chính phát triển, độ sâu tài chính khẳng địnhphương thức đầu tư gián tiếp được phổ biến đối với các nền kinh tế phát triển.Đầu tư gián tiếp được quy định chính bởi sự phát triển của nền tài chính quốcgia, hiệu ứng "quy mô sản xuất" phù hợp với quy luật "năng suất lao độnggiảm dần" và của chính sự chuyên môn hóa và phân công lao động xã hội
Phương thức đầu tư trực tiếp là việc chủ sở hữu trực tiếp tham giaquản lý quá trình thực hiện, vận hành đầu tư và thu hồi vốn đầu tư Đầu tưtrực tiếp lại được phân thành hai loại là đầu tư dịch chuyển và đầu tư pháttriển
Đầu tư dịch chuyển là quá trình hoạt động nhằm chuyển đổi chủ sởhữu các cơ sở, năng lực sản xuất hiện có để nắm quyền chi phối hoạt độngcủa chúng Trong trường hợp này, việc đầu tư không làm gia tăng tài sản xãhội mà chỉ thay đổi quyền sở hữu chúng
Tuy nhiên, trong phạm vi nền kinh tế vĩ mô đầu tư chuyển dịch là mộttrong những nhân tố quan trọng trong việc sử dụng hiệu quả nhất các tiềm lựccủa đất nước và tạo tiền đề cho đầu tư phát triển Quá trình cổ phần hóa ởnước ta hiện nay là một hình thức đầu tư dịch chuyển Quyền sở hữu nhànước đối với toàn bộ tài sản của doanh nghiệp sẽ từng bước chuyển sang sởhữu của các thành phần kinh tế khác
Đầu tư phát triển là hình thức đầu tư nhằm nâng cao năng lực sản xuấthiện có hoặc tạo ra các năng lực sản xuất mới Đây là tiền đề để thực hiện quátrình tái sản xuất mở rộng, là biện pháp chủ yếu để tạo thêm chỗ làm việc chongười lao động và là điều kiện để thực hiện đầu tư gián tiếp và đầu tư dịchchuyển Ý nghĩa quyết định của đầu tư phát triển là góp phần quan trọng làmthay đổi cơ cấu kinh tế xã hội của đất nước Nói cách khác, đầu tư phát triển
Trang 9là quá trình đầu tư làm tăng trưởng kinh tế song song với thay đổi cơ cấu kinh
tế - xã hội Hình thức đầu tư phát triển gồm hai loại: đầu tư chiều rộng và đầu
tư chiều sâu Lựa chọn hình thức đầu tư chiều rộng, đầu tư chiều sâu hay kếthợp một cách hợp lý phụ thuộc mục tiêu chương trình phát triển kinh tế - xãhội từng thời kỳ, phụ thuộc vào việc thực hiện công nghiệp hóa, hay hiện đạihóa nền kinh tế hay phối hợp theo yêu cầu nhất định
Như vậy, hình thức đầu tư gián tiếp và đầu tư trực tiếp có mối liên hệnhân quả Đầu tư dịch chuyển luôn là nguyên nhân và kết quả của đầu tư pháttriển Ngược lại, đầu tư phát triển có thể đạt được trên quy mô lớn hơn nếunhư có sự kết hợp của phương thức đầu tư dịch chuyển
1.1.2 Nhận thức về vốn đầu tư
Để đáp ứng những nhu cầu tăng trưởng kinh tế - xã hội đòi hỏi phải cóvốn đầu tư Vốn đầu tư là điều kiện cần và đóng vai trò quyết định để thựchiện các mục tiêu tăng trưởng và phát triển kinh tế - xã hội Không đủ vốnđầu tư thì mọi yêu cầu tăng trưởng kinh tế - xã hội chỉ là ảo tưởng Chẳngphải ngẫu nhiên khi nhắc đến các yêu cầu, đòi hỏi về tăng trưởng kinh tế - xãhội thì điều quan trọng đầu tiên được đề cập đến là vấn đề huy động nguồnvốn đầu tư
Trong hàm số sản xuất Kobu-đu-gơ-lát cho rằng, tiền vốn là một trong
ba yếu tố sản xuất lớn cùng với lao động và kỹ thuật [55, tr 10] Trong môhình tăng trưởng Ha-rốt-đô-ma, vốn là yếu tố đầu vào chủ yếu làm cho kinh tếtăng trưởng [55, tr 10]
Hiện nay trong các nhà lý luận về đầu tư và vốn đầu tư chưa có sựthống nhất nhận thức về bản chất và vai trò của vốn đầu tư
Các nhà kinh tế học trường phái kinh tế cổ điển và tân cổ điển đã đúngkhi cho rằng, vốn đầu tư là một trong các yếu tố đầu vào để sản xuất kinh doanh(đất đai, lao động, tiền vốn khác) vốn đầu tư là các sản phẩm được sản xuất ra để
Trang 10phục vụ cho sản xuất (máy móc, thiết bị) [11, tr 158] Tuy nhiên, họ đã chưanhìn thấy đặc tính động và yếu tố thời gian trong bản chất của vốn đầu tư.
D Ricardo cho rằng tư bản là những tư liệu sản xuất và vật phẩm (tiêudùng) là một bộ phận của cải quốc gia dùng vào sản xuất như nhà xưởng, máymóc [18, tr 64] Ông hoàn toàn đúng khi nói về thành phần giá trị của tư bản,nhưng lại chưa xoáy sâu vào bản chất và sự khác biệt cơ bản giữa vốn đầu tư
và tư bản
Trong tác phẩm "Các nguyên lý kinh tế chính trị học" của mình,
A Marslall xem tư bản là tất cả mọi sự tích lũy của cải nhằm để sản xuất racủa cải vật chất và nhằm mục đích tạo ra những tiền lãi [18, tr 204] Nhìnnhận từ giác độ sinh lời của vốn đầu tư, Ông hoàn toàn đúng Tuy nhiên, Ôngmới chỉ nghiên cứu một giai đoạn trong quá trình đầu tư mà được gói trongquá trình tích lũy
Theo C.Mác: "Tư bản là giá trị mang lại giá trị thặng dư" [26, tr 131].Trong định nghĩa này, C.Mác đã đưa ra chính xác, bản chất và tác dụng củavốn đầu tư.Tuy nhiên, theo chúng tôi cũng phải hiểu đúng quan điểm của Mác
để có sự thống nhất nhận thức về vốn đầu tư
Các nhà kinh tế của Trường Đại học Tài chính - Kế toán Hà Nội trong giáo trình của mình cho rằng: "Vốn đầu tư là một loại quỹ tiền tệ đặcbiệt" [12, tr 143]
Theo quan điểm này, tiền được gọi là vốn đầu tư phải thỏa mãn nhữngđiều kiện sau:
Một là, tiền phải đại diện cho một lượng hàng hóa nhất định Hay nói
cách khác, tiền phải được đảm bảo bằng một lượng tiền có thực
Hai là, tiền phải được tích tụ và tập trung đến một lượng nhất định, đủ
để tiến hành đầu tư kinh doanh
Ba là, khi đã có đủ về lượng, tiền phải được vận động nhằm mục đích
sinh lời
Trang 11Điều kiện thứ nhất và thứ hai được coi là điều kiện ràng buộc để tiềntrở thành vốn đầu tư Điều kiện thứ ba được coi là đặc trưng cơ bản nhất củavốn đầu tư Nếu tiền không vận động đó là đồng tiền "chết", nếu vận độngkhông vì mục đích sinh lời thì đó cũng không gọi là vốn đầu tư.
Chúng tôi cũng hoàn toàn đồng ý với định nghĩa: "Vốn đầu tư là giátrị tài sản xã hội (bao gồm tài sản tài chính, tài sản hữu hình, tài sản vô hình)được bỏ vào đầu tư nhằm mang lại hiệu quả trong tương lai" [53, tr 42]
Theo chúng tôi, khái niệm vốn đầu tư trên cũng cần được cụ thể hóamột số điểm sau:
Thứ nhất, trong định nghĩa này giá trị của tài sản xã hội được bỏ vào
đầu tư cần bao gồm đầu tư vào các đối tượng sản xuất kinh doanh và các dạnghoạt động khác
Thứ hai, vốn đầu tư cần phản ánh đặc điểm kinh doanh của các nhà
đầu tư với mục đích thu lợi nhuận và khả năng tăng cường phát triển kinh tế
-xã hội của Nhà nước Do vậy, hiệu quả do đầu tư mang lại trong tương lai làhiệu quả kinh tế - xã hội
Tóm lại, các nhà nghiên cứu kinh tế mới chỉ xem xét vốn đầu tư dướigóc độ hiện vật là chủ yếu Cách tiếp cận đó có ưu điểm là đơn giản, dễ hiểuphù hợp với trình độ quản lý thấp Tuy nhiên, họ chưa đề cập đến đặc điểmvận động cũng như vai trò của vốn trong đầu tư - kinh doanh
Theo chúng tôi, vốn đầu tư cần được hiểu như một khái niệm định lượng
cụ thể cho khái niệm trừu tượng là đầu tư trong cặp phạm trù đầu tư - vốn đầu tư.Cách hiểu tương tự như các cặp phạm trù giá cả và giá trị, sức lao động và laođộng, định lượng và định tính, cụ thể và trừu tượng Vốn đầu tư là địnhlượng của khái niệm trừu tượng đầu tư trong phương thức sản xuất - xã hội nhấtđịnh
Vốn đầu tư là cốt lõi của mọi hoạt động kinh tế - xã hội, là những sự
hy sinh tiêu dùng hiện tại cả về tiềm lực vật chất, phi vật chất, con người, tài
Trang 12nguyên thiên nhiên, tiềm năng tài chính, phi tài chính, hữu hình, vô hình vớimục đích tạo mới hoặc tái tạo tư bản nhằm hướng tới sự tiêu dùng trongtương lai tốt hơn Vốn đầu tư là cơ sở hình thành tư bản, trong đó có cả tài sản
cố định, vốn sản xuất kinh doanh và nguồn nhân lực (tư bản con người)
Nguồn gốc hình thành vốn đầu tư chính là nguồn tài lực dùng để đảmbảo quá trình tái sản xuất (giản đơn và mở rộng) Tuy nhiên, tất cả nhữngnguồn đó chưa được gọi là vốn đầu tư nếu chúng chưa được dùng để chuẩn bịcho quá trình tái sản xuất Tức là, tất cả những nguồn tài lực này lúc đó chỉđơn thuần là nguồn tích lũy (tiết kiệm trong thời kỳ nhất định), đòi hỏi phải cónhững chính sách thu hút vốn đầu tư, khuyến khích, tạo động lực thu hútnguồn tích lũy tiếp tục tham gia vào quá trình tái sản xuất Những nguồn lựcnày (có thể là một phần hoặc cũng có thể là toàn bộ) dưới sự tác động của cácchính sách, biện pháp kinh tế sẵn sàng tham gia vào quá trình tái sản xuất với
kỳ vọng nhận được những kết quả tốt hơn trong tương lai Lúc đó, những tiềmnăng này mới thực sự được gọi là vốn đầu tư
Vốn đầu tư sau khi trải qua quá trình đầu tư sẽ được chuyển dạng thànhnhững năng lực sản xuất nhất định (năng lực sản xuất, tài sản cố định, kỹ năng,nguồn nhân lực ), và cứ như vậy, quá trình chu chuyển vốn đầu tư bao giờ cũng
đi trước một bước, cùng pha với quá trình tái sản xuất Sự nhộn nhịp, năngđộng, lớn mạnh và hiệu quả của quá trình đầu tư báo trước một thời kỳ tăngtrưởng kinh tế năng động, sự bành trướng của sản xuất Hay nói cách khác,phương tiện để đạt được những mục tiêu của chiến lược tăng trưởng và pháttriển kinh tế - xã hội đất nước chính là chính sách đầu tư đúng đắn Thực hiệntốt, có hiệu quả chính sách đầu tư, cơ cấu nguồn vốn đầu tư từ việc tạo dựng,nuôi dưỡng nguồn vốn, khuyến khích thu hút các tiềm năng, nguồn lực để đầu
tư cho đến việc quản lý và sử dụng một cách hiệu quả vốn đầu tư đóng mộtvai trò quyết định trong các quyết sách phát triển kinh tế - xã hội của đấtnước
Trang 13Để quản lý và kế hoạch hóa vốn đầu tư, các nhà kinh tế phân loại vốnđầu tư theo các tiêu thức khác nhau Mỗi tiêu thức phân loại đáp ứng nhu cầuquản lý và nghiên cứu kinh tế khác nhau Những tiêu thức phân loại vốn đầu
tư thường được sử dụng là:
* Phân loại vốn đầu tư theo bản chất
Vốn đầu tư chia theo bản chất bao gồm vốn đầu tư cơ bản và vốn đầu
tư vận hành
Vốn đầu tư cơ bản là nguồn vốn đầu tư dùng để tạo mới, thay thế hoặcđổi mới tài sản cố định của cả lĩnh vực sản xuất vật chất và lĩnh vực phi sảnxuất vật chất Vốn đầu tư cơ bản là thành phần tích cực trong vốn đầu tư toàn
xã hội Quản lý và sử dụng có hiệu quả vốn đầu tư cơ bản đóng vai trò quyếtđịnh trong việc chuyển đổi cơ cấu kinh tế và phát triển kinh tế - xã hội đấtnước Trong những điều kiện sản xuất, kinh doanh bình thường, việc chuyểndịch nguồn vốn đầu tư cơ bản từ những lĩnh vực có hiệu quả kinh tế - xã hộithấp đến những lĩnh vực có hiệu quả kinh tế - xã hội cao sẽ làm tăng hiệu quảkinh tế - xã hội của nền kinh tế đất nước nói chung trong khi không đòi hỏiphải tăng thêm tổng mức vốn đầu tư cơ bản
Vốn đầu tư cơ bản bao gồm ba thành phần theo cơ cấu kỹ thuật: Vốnđầu tư vào máy móc, thiết bị; vốn đầu tư vào xây lắp; và vốn đầu tư vào kiếnthiết cơ bản khác Việc phân bổ vốn đầu tư vào ba thành phần quyết định cơcấu kỹ thuật của vốn đầu tư cơ bản
Vốn đầu tư vận hành là nguồn vốn đầu tư dùng để hình thành tài sảnlưu động (nguyên, nhiên, vật liệu, thiết bị rẻ tiền mau hỏng, tiền mặt ), phục
vụ cho quá trình tái sản xuất Thiếu vốn đầu tư vận hành, quá trình sản xuất sẽkhông có đủ điều kiện để thực hiện và vốn đầu tư cơ bản sẽ trở nên vô nghĩa
và không có hiệu quả
* Phân theo tính chất tham gia vào quá trình tái sản xuất:
Trang 14Vốn đầu tư phục hồi (bao gồm cả vốn khấu hao cơ bản) là nguồn vốnđược tích lũy lại với mục đích sẽ khôi phục lại quá trình sản xuất vào cuốimỗi chu kỳ kinh doanh nhằm đảm bảo quá trình sản xuất liên tục, khôngngừng với quy mô không đổi, như cũ (tái sản xuất giản đơn).
Vốn đầu tư phát triển là nguồn vốn đầu tư hình thành từ nguồn tíchlũy (tiết kiệm trong nước và ngoài nước) được đầu tư trở lại để phát triển sảnxuất kinh doanh trong mỗi chu trình tái sản xuất nhằm đảm bảo quá trình sảnxuất liên tục với quy mô sản phẩm mới, lớn hơn cũ hoặc tiến bộ hơn cũ (táisản xuất mở rộng)
Vốn đầu tư phát triển là nguồn vốn đầu tư không thể thiếu được trongmỗi nền kinh tế phát triển Nguồn vốn đầu tư phát triển lớn hay nhỏ sẽ quyđịnh quy mô của mỗi nền kinh tế (phát triển nhanh hay chậm) Trong nềnkinh tế trì trệ, suy thoái, vốn đầu tư cơ bản chỉ bao gồm toàn bộ hoặc mộtphần vốn đầu tư phục hồi Trong trường hợp đó, nền kinh tế không thể mở rộngđược quy mô, tiến bộ khoa học kỹ thuật không có điều kiện được áp dụng vàcũng không thể nói đến bất kỳ sự cải thiện nào trong đời sống kinh tế - xã hộiđất nước
Tăng nguồn vốn đầu tư phát triển là nhân tố vô cùng quan trọng trongviệc giải quyết các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội đất nước Tuy nhiên,tăng trưởng vốn đầu tư phát triển chỉ là điều kiện cần, nhưng chưa đủ để tăngtrưởng kinh tế Việc gia tăng vốn đầu tư phát triển sẽ ít tác dụng nếu việcquản lý vốn đầu tư phát triển kém hiệu quả dẫn đến khả năng sinh lời củađồng vốn đầu tư phát triển không cao Do vậy, song song với việc tăng nhanhnguồn vốn (huy động tối đa nguồn lực nhàn rỗi) dành cho đầu tư phát triểncần đặc biệt chú trọng đến công tác quản lý nguồn vốn đầu tư phát triển, đảmbảo phát huy tối đa hiệu quả kinh tế - xã hội của đồng vốn
Trang 15Vốn đầu tư chuyển dịch là nguồn vốn đầu tư mà kết quả của quá trìnhthực hiện đầu tư không tạo nên tài sản cố định, kỹ năng, tri thức hay năng lựcsản xuất mới mà chỉ chuyển dịch tài sản cố định, năng lực sản xuất từ chủ thể
sở hữu này sang chủ thể sở hữu khác
* Phân loại vốn đầu tư phát triển theo nguồn gốc vốn:
Vốn đầu tư phát triển toàn xã hội bao gồm toàn bộ số vốn đầu tư củatất cả các thành phần kinh tế của xã hội trong một khoảng thời gian nhất định.Phân chia theo sở hữu phạm vi quốc gia, vốn đầu tư toàn xã hội bao gồm vốnđầu tư trong nước và vốn đầu tư ngoài nước
Vốn đầu tư phát triển trong nước bao gồm toàn bộ nguồn vốn đầu tư của Nhà nước, các tổ chức kinh tế - xã hội có tư cách pháp nhân, thể nhân Việt nam, được thực hiện theo Luật khuyến khích đầu tư trong nước, Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt nam Vốn đầu tư trong nước bao gồm: Vốn đầu tư
phát triển từ Ngân sách Nhà nước, vốn đầu tư phát triển của các doanh nghiệpNhà nước, vốn đầu tư phát triển của các tổ chức kinh tế ngoài quốc doanh,vốn tín dụng (bao gồm cả vốn ODA)
Vốn đầu tư phát triển từ Ngân sách nhà nước là phần cấp phát trựctiếp cho các dự án, chương trình mục tiêu quốc gia, nằm trong mục chi củaNgân sách nhà nước cho đầu tư phát triển hàng năm theo Luật Ngân sách Nhànước
Vốn đầu tư phát triển của các doanh nghiệp Nhà nước là nguồn vốncủa các doanh nghiệp Nhà nước tích lũy để đầu tư trở lại với mục đích mởrộng, cải tiến, hiện đại hóa sản xuất nhằm không ngừng tăng cường và mởrộng năng lực sản xuất của mình
Vốn đầu tư phát triển của các tổ chức kinh tế ngoài quốc doanh lànguồn vốn đầu tư phát triển của dân cư, các công ty tư nhân, công ty trách
Trang 16nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, các tổ chức kinh tế khác không thuộc sở hữucủa Nhà nước theo quy định của pháp luật hiện hành.
Vốn tín dụng đầu tư là nguồn vốn được huy động từ nguồn vốn nhànrỗi, tích lũy được của các cá nhân, tổ chức kinh tế, xã hội, các thành phầnkinh tế khác nhau (vì lý do này hay lý do khác không trực tiếp đầu tư vào sảnxuất được) chuyển cho các cá nhân, tổ chức kinh tế có nhu cầu về vốn đầu tưphát triển Nguồn vốn tín dụng bao gồm cả phần chi đầu tư phát triển từ Ngânsách Nhà nước để cho vay ưu đãi (với lãi suất khuyến khích) và từ nguồn Hỗtrợ phát triển chính thức (ODA) mà Chính phủ cho vay lại
Vốn đầu tư phát triển ngoài nước bao gồm vốn đầu tư trực tiếp nướcngoài (FDI) và vốn đầu tư gián tiếp Thị trường chứng khoán ở nước ta chưaphát triển, trái phiếu Chính phủ phát hành ra nước ngoài đang trong giai đoạnchuẩn bị, do vậy khái niệm vốn đầu tư nước ngoài chỉ nghiên cứu nguồn vốnđầu tư trực tiếp nước ngoài
Phân chia theo thành phần sở hữu, vốn đầu tư phát triển toàn xã hội baogồm: Vốn đầu tư phát triển Nhà nước và vốn đầu tư phát triển ngoài quốc doanh
1.1.3 Cơ sở lý luận về vốn đầu tư cơ bản
Trong vốn đầu tư thì bộ phận cơ bản nhất và quan trọng nhất đóng vaitrò quyết định trong việc nâng cao năng suất lao động, mức tăng trưởng và pháttriển của nền kinh tế là vốn đầu tư cơ bản Vốn đầu tư cơ bản là tổng hợp nhữngchi phí xã hội cần thiết có liên quan tới việc xây dựng, mua sắm và đổi mới
tài sản cố định (bao gồm tài sản cố định hữu hình và tài sản cố định vô hình)
Trước đây, khi nói đến vốn đầu tư cơ bản người ta cho rằng đó là đầu
tư để tạo ra tài sản cố định vật chất như máy móc, thiết bị, nhà xưởng, cáccông trình xây dựng
Trang 17Trong các nước tư bản có nền kinh tế thị trường phát triển, vốn đầu tư
sử dụng vào việc cung cấp các loại hàng hóa công cộng như đường sá, bệnhviện, trường học được coi là chi tiêu thường xuyên của Chính phủ, và vì vậyvốn đầu tư cơ bản thường được xác định là thuộc khu vực tư nhân
Theo Robert J.Gordon trong cuốn kinh tế học vĩ mô của mình, vốnđầu tư cố định (vốn đầu tư cơ bản) bao gồm mọi sản vật cuối cùng do giớikinh doanh mua mà không có ý định đem bán lại Những loại hình chủ yếucủa vốn đầu tư cố định là các công trình xây dựng (nhà máy, trụ sở, trung tâmmua bán hàng, căn hộ, nhà.) và thiết bị (máy đếm tiền, máy điện toán, xe tải).Những ngôi nhà mới xây và những chung cư bán cho từng cá nhân cũng đượctính là vốn đầu tư cố định [35, tr 78] Theo quan niệm này, vốn đầu tư cơ bản
là nguồn gốc tạo ra tài sản cố định hữu hình, chưa đề cập đến tài sản phi vậtchất (tài sản cố định vô hình)
Các nhà kinh tế học của trường Đại học kinh tế quốc dân trong "giáotrình kinh tế đầu tư" cho rằng, vốn đầu tư cơ bản nhằm tái sản xuất mở rộngcác tài sản cố định [30, tr 38]
Theo quan niệm của chúng tôi, vốn đầu tư cơ bản nhằm tạo lập và đổimới các tài sản cố định Vốn đầu tư cơ bản được thực hiện trong cả quá trìnhtái sản xuất giản đơn và tái sản xuất mở rộng tài sản cố định của các cơ sở sảnxuất và không sản xuất Các tài sản cố định đó là:
- Tài sản cố định hữu hình: những tư liệu lao động chủ yếu được biểuhiện bằng các hình thái vật chất cụ thể như máy móc, thiết bị, phương tiệngiao thông, các công trình xây dựng
- Tài sản cố định vô hình: những tài sản cố định không có hình thái vậtchất cụ thể, thể hiện một lượng giá trị đã được đầu tư có liên quan trực tiếpđến nhiều chu kỳ kinh doanh hoặc có tác dụng lâu dài như chi phí sử dụngđất, mua bằng sáng chế, phát minh
Trang 18Vốn đầu tư cơ bản được thực hiện thông qua:
- Quá trình xây dựng cơ bản dưới dạng xây dựng mới và thậm chí xâydựng lại, mở rộng và trang bị lại kỹ thuật của các doanh nghiệp đang hoạtđộng và các công trình ngoài lĩnh vực sản xuất
- Quá trình mua sắm thêm máy móc thiết bị, phương tiện giao thông,thay thế máy móc, thiết bị cũ bằng máy móc thiết bị mới hoặc thay thế máymóc thiết bị cũ bằng máy móc thiết bị hiện đại hơn và các công trình riêng lẻkhác của tài sản cố định hoặc là các bộ phận của chúng
- Quá trình mua sắm các lô đất và các công trình sử dụng thiên nhiên
- Mua sắm và tạo lập các tài sản cố định có tính chất phi vật chất.Trong nền kinh tế thị trường, vốn đầu tư cơ bản còn liên quan đến việcmua sắm đất đai, các công trình sử dụng thiên nhiên và các thứ phi vật chất
Hiện nay khái niệm "đầu tư" trong sách báo kinh tế thường sử dụngđồng nghĩa với vốn đầu tư cơ bản Sự đồng nhất đó theo chúng tôi là sự nhầmlẫn cơ bản giữa hình thức và nội dung, cụ thể và trừu tượng, lượng và chất
Khái niệm "đầu tư" là trừu tượng, "vốn đầu tư cơ bản" là khái niệm cụthể, định lượng
Chúng ta hiểu vốn đầu tư là tổng thể các chi phí phản ánh quá trình bỏvốn vào tái sản xuất mở rộng xã hội, bao gồm vốn đầu tư để phát triển vốn cốđịnh, tăng vốn lưu động và tăng vốn cho các dạng hoạt động khác
Đa số các nhà kinh tế cho rằng vốn đầu tư cơ bản là những chi phí xãhội cần thiết để xây dựng mới và hoàn thiện kỹ thuật (mở rộng, cải tạo vàtrang bị lại kỹ thuật) tài sản cố định
Những chi phí, để hình thành vốn lưu động ở doanh nghiệp mới, tăngvốn lưu động ở các doanh nghiệp đang hoạt động và tăng vốn cho các dạnghoạt động khác không thuộc về vốn đầu tư cơ bản Do đó, vốn đầu tư cơ bản
là một bộ phận cấu thành của vốn đầu tư:
Trang 19Vốn đầu tư cơ bảnVốn đầu tư Vốn đầu tư vận hành
Vốn đầu tư khácNhư vậy, phạm vi của vốn đầu tư cơ bản hẹp hơn phạm vi của vốn đầu
tư Đối tượng của vốn đầu tư cơ bản cụ thể hơn, nó tạo ra cơ sở vật chất chocác ngành sản xuất và phi sản xuất
Đặc điểm của vốn đầu tư cơ bản là khối lượng vốn lớn, thời gian thựchiện dài, luân chuyển chậm và thời gian thu hồi vốn lâu
Cơ cấu vốn đầu tư cơ bản được xem xét theo các khía cạnh khác nhaunhư: cơ cấu theo lĩnh vực sản xuất và phi sản xuất; cơ cấu theo các ngành,lĩnh vực sản xuất; cơ cấu theo các địa phương, khu vực và lãnh thổ; cơ cấugiữa kinh tế trung ương và kinh tế địa phương; cơ cấu tái sản xuất vốn đầu tư
cơ bản; cơ cấu kỹ thuật vốn đầu tư cơ bản; cơ cấu theo các thành phần kinh tế;
cơ cấu theo thời gian
Vốn đầu tư cơ bản tham gia vào quá trình tái sản xuất giản đơn và mởrộng tài sản cố định cho các ngành (sản xuất và phi sản xuất), nói cách khác quátrình tạo ra cơ sở vật chất cho các ngành kinh tế - xã hội của đất nước Vì vậy,vốn đầu tư cơ bản quyết định đến sự ổn định và phát triển kinh tế - xã hội củamọi quốc gia, đặc biệt đối với những nước chưa phát triển và đang phát triển.Vốn đầu tư cơ bản tác động đến nhiều mặt nền kinh tế - xã hội quốc gia, như:
- Vốn đầu tư cơ bản vừa tác động đến tổng cầu, vừa tác động đến tổngcung;
- Vốn đầu tư cơ bản tác động đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế;
- Vốn đầu tư cơ bản với việc tăng khả năng khoa học và công nghệcủa đất nước;
- Vốn đầu tư cơ bản tác động đến tăng trưởng nền kinh tế - xã hội đất nước;
Trang 20- Vốn đầu tư cơ bản tạo điều kiện vật chất cho việc củng cố, tăngcường vai trò kinh tế của Nhà nước, nâng cao năng lực tích lũy, tăng công ănviệc làm góp phần nâng cao đời sống cho nhân dân;
- Vốn đầu tư cơ bản tạo điều kiện vật chất cho tăng cường củng cố anninh và quốc phòng
- Vốn đầu tư cơ bản tạo điều kiện vật chất cho việc xây dựng nền kinh
tế tự chủ, đủ sức thực hiện sự phân công và hợp tác quốc tế
- Vốn đầu tư cơ bản quyết định sự ra đời, tồn tại và phát triển của mỗidoanh nghiệp
Như vậy, vị trí của vốn đầu tư cơ bản đối với nền kinh tế nói chung,đối với doanh nghiệp nói riêng có ý nghĩa quan trọng cả trước mắt và lâu dài
Để đầu tư cơ bản phát huy có hiệu quả cho nền kinh tế - xã hội, cần phải cóchính sách đầu tư đúng đắn cho từng thời kỳ Một trong những nội dung củachính sách đầu tư cơ bản là sử dụng tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước
để điều hành vĩ mô nền kinh tế
1.1.4 Vị trí của vốn đầu tư phát triển trong nền kinh tế thị trường
Vốn đầu tư phát triển là một bộ phận cấu thành quan trọng của vốnđầu tư toàn xã hội Quy mô sản xuất (trên phương diện kinh tế vi mô) và quy
mô nền kinh tế (trên phương diện kinh tế vĩ mô) phụ thuộc vào khối lượng vàchất lượng của vốn đầu tư phát triển
Hệ số ICOR (Incremental Capital Output Rate) là đại lượng phản ánh hiệu quả của việc sử dụng vốn đầu tư phát triển, đánh giá nhu cầu về tỷtrọng (%) vốn đầu tư phát triển trong GDP để đảm bảo cho GDP tăng trưởngđược 1% Hay nói cách khác, cần tỷ trọng (%) vốn đầu tư phát triển trongGDP là bao nhiêu để có được 1% tăng trưởng GDP trong điều kiện sản xuấtkinh doanh bình thường hay cần bao nhiêu đồng vốn đầu tư phát triển để đảmbảo tăng trưởng 1 đồng GDP
Trang 21ICOR = [ (VĐT*100) / GDP ] / Tr
VĐT - Vốn đầu tư phát triển toàn xã hội trong chu kỳ tính toán (1 năm);GDP - Tổng thu nhập quốc nội trong chu kỳ tính toán (1 năm);
Tr - Tốc độ tăng (%) GDP trong chu kỳ tính toán (1 năm);
Trong cùng một trình độ công nghệ, kỹ thuật, năng suất lao động (hệ
số ICOR không đổi) tổng mức vốn đầu tư phát triển càng lớn sẽ đem lại tốc
độ tăng trưởng GDP càng cao
Do vậy, việc huy động tối đa các nguồn lực cho đầu tư phát triển, địnhhướng đầu tư và quản lý có hiệu quả nguồn vốn đầu tư phát triển đóng vai tròcực kỳ quan trọng, mang tính quyết định đối với quá trình tăng trưởng kinh tế
1.2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TÍN DỤNG ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN CỦA NHÀ NƯỚC TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
1.2.1 Quan điểm và mục tiêu phát triển kinh tế xã hội trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Công nghiệp hóa, hiện đại hóa là giai đoạn phát triển có tính chất lịch
sử tất yếu đối với các quốc gia thực hiện chiến lược phát triển kinh tế - xã hộităng tốc Từ thực tiễn quá trình công nghiệp hóa trên thế giới và ở nước ta,Đại hội Đảng lần thứ VIII đã đưa ra các quan điểm:
- Trong thời đại ngày nay công nghiệp hóa phải gắn liền với hiện đạihóa
- Xây dựng nền kinh tế mở, hội nhập với khu vực và thế giới, hướngmạnh về xuất khẩu, đồng thời thay thế nhập khẩu
- Công nghiệp hóa, hiện đại hóa là sự nghiệp của toàn dân, của mọithành phần kinh tế, trong đó kinh tế nhà nước đóng vai trò chủ đạo
Trang 22- Lấy việc phát huy nguồn lực con người làm yếu tố cơ bản cho sựphát triển nhanh và bền vững, tăng trưởng kinh tế phải gắn liền với tiến bộkinh tế và tiến bộ xã hội.
- Khoa học công nghệ là động lực của công nghiệp hóa, hiện đại hóa;kết hợp công nghệ truyền thống với công nghệ hiện đại, tranh thủ đi nhanhvào hiện đại ở những khâu quyết định
- Lấy hiệu quả kinh tế - xã hội làm tiêu chuẩn cơ bản để xác địnhphương án phát triển, lựa chọn dự án đầu tư vào công nghệ
- Kết hợp kinh tế với quốc phòng - an ninh [21, tr 85-86]
Mục tiêu của công nghiệp hóa, hiện đại hóa là "xây dựng nước ta thànhmột nước công nghiệp có cơ sở vật chất - kỹ thuật hiện đại, cơ cấu kinh tế hợp
lý, quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sảnxuất, đời sống vật chất và tinh thần cao, quốc phòng - an ninh vững chắc, dângiàu nước mạnh, xã hội công bằng văn minh từ nay đến năm 2020 ra sức phấnđấu đưa nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp" [21, tr 80]
Kinh nghiệm hơn 10 năm phát triển nền kinh tế mở cho thấy, rằngphát huy nội lực là nhân tố quyết định sự thành công của sự nghiệp côngnghiệp hóa, hiện đại hóa Phát huy tối đa nội lực trên cơ sở nghiên cứu, tranhthủ kinh nghiệm của các nước đã thực hiện công nghiệp hóa, nhất là các nướcđang phát triển ở Đông Á và Đông Nam Á sẽ góp phần rút ngắn thời gianthực hiện công nghiệp hóa, khắc phục được nguy cơ tụt hậu nhằm tiến kịp cácnước đi trước theo chủ trương đi tắt, đón đầu tiến thẳng vào công nghệ tiêntiến
Những nước mà điều kiện kinh tế, xã hội, địa lý có nhiều nét tươngđồng với nước ta ở Đông Á và Đông Nam Á đã thực hiện khá thành công sựnghiệp công nghiệp hóa trong một khoảng thời gian tương đối ngắn, khoảng
ba đến bốn thập kỷ
Trang 23Từ kinh nghiệm thực hiện thành công chính sách công nghiệp của cácnước Đông Á, các nhà kinh tế nhận định rằng, Việt Nam hiện nay đang ở giaiđoạn đầu của tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa Đây là giai đoạn pháttriển công nghiệp sử dụng nhiều lao động, thực hiện phát triển các loại sảnphẩm thay thế nhập khẩu và dần hướng tới xuất khẩu.
1.2.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội Việt Nam trong thời kỳ đổi mới
Nhìn chung, trước Đại hội Đảng lần thứ VI nền kinh tế nước ta rất khó khăn, những kết quả đạt được chưa vững chắc, sản xuất mang tính chất
tự cấp tự túc, sản xuất hàng hóa kém phát triển, sản phẩm thặng dư chưanhiều, năng lực sản xuất chưa được sử dụng tốt nên hiệu quả kinh tế còn thấp,tiềm năng kinh tế đất nước lớn nhưng chưa được khai thác, sử dụng hợp lý vàhiệu quả
Sau Đại hội Đảng lần thứ VI, công cuộc "đổi mới" đã đạt được nhữngthành tựu bước đầu rất quan trọng Bước vào thập kỷ 90, đất nước vẫn chưa rakhỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội.Thực hiện đường lối đổi mới theo tinh thầnNghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI, VII và các Nghị quyết củaBan chấp hành Trung ương, Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ về cụthể cương lĩnh và chiến lược trên hầu hết các lĩnh vực, Nghị quyết Đại hộiVIII và các Nghị quyết của Ban chấp hành Trung ương tiếp theo, nhất là Nghịquyết Trung ương IV, Trung ương V, chúng ta đã đạt được nhiều thành tựu tolớn và quan trọng trên tất cả các mặt kinh tế -xã hội trong 10 năm (1991-2000) Tuy nhiên, tình hình kinh tế xã hội có những diễn biến phức tạp, cụ thểlà:
- Trong lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn đã có những nét đổi mới sâusắc Những thành tựu mà ngành nông nghiệp đạt được trong thời gian qua làhết sức cơ bản và quan trọng, là nền tảng cho sự ổn định để tiếp tục phát triểnnền kinh tế Nông nghiệp đã đạt được tốc độ tăng trưởng khá và toàn diện trênnhiều lĩnh vực; nhiều tiến bộ khoa học - kỹ thuật, công nghệ đã được áp dụng,
Trang 24góp phần quan trọng cho phát triển nông nghiệp và kinh tế nông thôn Cơ sởvật chất, kỹ thuật được cải thiện, tạo sự chuyển biến quan trọng cho phát triểnlực lượng sản xuất nông nghiệp và nông thôn Nguồn vốn cho đầu tư pháttriển nông nghiệp và nông thôn chiếm bình quân 10,2% trong tổng số vốn đầu
tư toàn xã hội Hệ thống giao thông nông thôn được nâng cấp và phát triển,công nghiệp chế biến có bước phát triển khá, một số cơ sở chế biến đã đượcxây dựng ngay trên vùng nguyên liệu
- Quan hệ sản xuất ở nông thôn đã có sự thay đổi căn bản, tạo độnglực quan trọng để giải phóng và phát triển lực lượng sản xuất trong nôngnghiệp và nông thôn Các hợp tác xã kiểu mới ở nông thôn được thành lập, đảmđương chức năng dịch vụ trong nông nghiệp và kinh tế nông thôn Kinh tếtrang trại đã xuất hiện và phát triển khá nhanh (đến nay đã có khoảng 11,5vạn trang trại, chủ yếu ở vùng trung du và miền núi) Nông lâm trường quốcdoanh đã được tổ chức quy hoạch lại nên việc sử dụng đất hợp lý hơn và có hiệuquả hơn
- Đời sống ở nhiều vùng nông thôn đã được nâng lên một bước đáng
kể, điều kiện ăn, ở, đi lại, học hành, chữa bệnh, vui chơi giải trí đã được cảithiện; bộ mặt kinh tế - xã hội ở một số vùng nông thôn đã có sự thay đổi rõrệt, hàng triệu hộ nông dân đã dần trở nên giàu có
- Ngành công nghiệp đã từng bước đổi mới công nghệ, tổ chức lại sảnxuất, nâng cao chất lượng sản phẩm, tăng khả năng cạnh tranh trên thị trường,đáp ứng yêu cầu sản xuất và tiêu dùng của xã hội Phát triển công nghiệptrong giai đoạn vừa qua đã góp phần phân bổ lao động một cách hợp lý hơn,tạo tiền đề hình thành nhiều cơ sở công nghiệp, nhiều trung tâm công nghiệpmới, trong đó đặc biệt là trên địa bàn các vùng kinh tế trọng điểm của đấtnước như khu vực ngoại thành của các đô thị lớn: Hà Nội, Thành phố Hồ ChíMinh, Đà Nẵng, Bà Rịa - Vùng Tàu
Trang 25- Ngành du lịch đã phát triển tương đối đa dạng, đáp ứng nhu cầu tăngtrưởng kinh tế và phục vụ đời sống xã hội; từng bước nâng cao chất lượngphục vụ, giảm chi phí hoạt động để tiếp tục phát triển Dịch vụ du lịch chấtlượng cao được hình thành như: các tuyến du lịch được thiết lập mới cảđường bộ, đường sông, đường biển, miền núi, cao nguyên, đồng bằng, vùngven biển và hải đảo; cùng với sự phát triển nhanh của khách du lịch và hệthống cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch, lực lượng lao động trong ngành du lịchphát triển nhanh, bình quân hàng năm tăng khoảng 25% Chất lượng kinhdoanh và chất lượng lao động ngành du lịch dần được nâng cao (50% số laođộng đã được đào tạo qua các trường dạy nghề, các khóa bồi dưỡng ngắn hạn
về du lịch)
- Ngành vận tải về cơ bản đã đáp ứng được nhu cầu giao lưu hàng hóa
và đi lại của nhân dân với nhiều loại phương tiện đa dạng và phương thứcthuận lợi; cơ chế quản lý vận tải đã có những đổi mới quan trọng, đảm bảoquá trình lưu thông hàng hóa, hành khách được thông suốt
- Bưu chính viễn thông phát triển nhanh và khá hiện đại Mạng lưới viễnthông trong nước đã được hiện đại hóa về cơ bản Tất cả các tỉnh, các huyệntrong cả nước đã được trang bị tổng đài điện tử với nhiều loại hình dịch vụthông tin mới nhằm bước đầu thỏa mãn nhu cầu thông tin thương mại củacông chúng
- Quan hệ kinh tế đối ngoại ngày càng được mở rộng sau khi nước tagia nhập ASEAN; Mỹ xóa bỏ cấm vận và dần bình thường hóa quan hệthương mại với nước ta
- Hoạt động xuất nhập khẩu đã có những bước phát triển khá bất kể thịtrường xuất khẩu bị thu hẹp một cách đột ngột do sự tan rã của Liên Xô vàkhối các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu
- Sự nghiệp giáo dục và đào tạo có bước phát triển mới cả về quy mô,chất lượng, hình thức đào tạo và cơ sở vật chất Quy mô học sinh tiếp tục tăng
Trang 26ở tất cả các bậc học, ngành học, đáp ứng nhu cầu học tập ngày càng lớn củanhân dân Chất lượng giáo dục có sự chuyển biến rõ rệt Chất lượng đội ngũgiáo viên các bậc học được cải thiện Cơ sở vật chất kỹ thuật các trường họcđược nâng cấp, cải thiện rõ rệt, mỗi năm bình quân xây dựng mới 15.000phòng học, cải tạo nâng cấp 16.000 phòng học.
- Công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân đã có những tiến bộ đáng ghinhận: chất lượng khám chữa bệnh từng bước được nâng lên, trang thiết bị y tế
đã được nâng cấp ở các tuyến
Trong suốt 10 năm thực hiện các nhiệm vụ chiến lược "ổn định vàphát triển kinh tế xã hội đến năm 2000" tình hình kinh tế - xã hội của đất nước
có nhiều biến đổi sâu sắc và tích cực đạt được những thành tựu quan trọngtrên, song bên cạnh những mặt làm được cũng còn đan xem những yếu kém,tồn tại nổi lên mấy vấn đề về kinh tế xã hội đáng chú ý sau:
- Sản xuất nông nghiệp và kinh tế nông thôn vẫn còn chứa đựng nhiềuyếu tố chưa vững chắc làm cho tăng trưởng của ngành thiếu ổn định Một sốsản phẩm chưa nhiều nhưng đã bắt đầu dư thừa, nhiều loại sản phẩm không
đủ tiêu chuẩn vệ sinh thực phẩm
Năng suất, chất lượng và hiệu quả sản xuất nông nghiệp còn thấp, giáthành sản phẩm cao nên khả năng cạnh tranh sản phẩm kém cả ở thị trườngtrong nước và xuất khẩu Lao động dư thừa nhiều, tỷ lệ được đào tạo thấp,ngành nghề truyền thống ở nông thôn kém phát triển, cơ cấu kinh tế chậmđược đổi mới Lao động nông nghiệp vẫn chiếm khoảng 70% lực lượng laođộng cả nước
Cơ sở vật chất và kỹ thuật còn yếu kém, chưa đáp ứng được yêu cầucủa một nền nông nghiệp tiên tiến Thu nhập, đời sống, trình độ văn hóa, dântrí của cộng đồng dân cư nông thôn nhìn chung còn thấp Tỷ lệ hộ đói nghèo
Trang 27của một số vùng còn cao Chênh lệch về thu nhập giữa dân cư nông thôn vàthành thị có xu hướng gia tăng.
Môi trường một số vùng đã bị ô nhiễm Rừng đã bị tàn phá, nhiều làngnghề, nhiều nguồn nước, nhiều dòng sông bị ô nhiễm
- Trong công nghiệp còn nhiều tồn tại, yếu kém, sản xuất chưa ổnđịnh, năng suất, chất lượng và hiệu quả không cao, tính cạnh tranh thấp, thiếunhiều yếu tố và cơ sở cho phát triển bền vững Công tác xây dựng chiến lược,quy hoạch ngành tuy đã được quan tâm nhưng chất lượng thấp, tính khả thikém, dự báo không chính xác, nhiều quy hoạch nặng về mong muốn chủquan, do vậy quy hoạch thường bị phá vỡ Chất lượng lao động trong côngnghiệp còn thấp, đặc biệt là công việc đòi hỏi tay nghề cao Việc đào tạo vàđào tạo lại lực lượng cán bộ, công nhân kỹ thuật chưa được quan tâm đúngmức, chưa tìm được mô hình phù hợp và có hiệu quả dẫn đến tình trạng nơithừa, nơi thiếu, chất lượng lao động thấp, lạc hậu trước kỹ thuật mới, côngnghệ mới và phương thức quản lý mới
- Dịch vụ vận tải còn bị hạn chế, nhất là vận tải công cộng ở các thànhphố lớn như: Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh Ngành giao thông vận tải chưachuyển biến kịp thời trong việc quản lý mạng lưới vận tải có nhiều thành phầnkinh tế tham gia
- Ngành du lịch còn yếu kém cả về cơ sở vật chất lẫn điều kiện vàphương thức hoạt động, thiếu các loại hình du lịch hỗn hợp, kết hợp nhiềuloại phương tiện vận chuyển nên chất lượng sản phẩm du lịch còn thấp vàchưa có sự cạnh tranh cao
- Hiệu quả đầu tư còn thấp, đầu tư lại phân tán, không tập trung dứtđiểm gây lãng phí, thất thoát nguồn lực Đầu tư vào những dự án không cóhiệu quả hoặc sinh lời thấp làm cho hiệu quả sử dụng vốn đầu tư thấp, cơ cấuđầu tư theo ngành và theo vùng chưa hợp lý, chưa khai thác hết thế mạnhtrong từng ngành, từng vùng phát triển
Trang 28- Tình trạng không có việc làm trở thành vấn đề gay gắt nổi cộm nhất
về kinh tế - xã hội hiện nay
- Giáo dục ở vùng sâu, vùng xa phát triển chậm, chất lượng dạy vàhọc tuy có tốt hơn trước nhưng nhìn chung vẫn còn thấp cả về kiến thức, nănglực thực hành và đạo đức
- Cơ sở vật chất của ngành y tế tuy có được cải thiện, nhưng vẫn cònthiếu thốn, nghèo nàn, lạc hậu, nhất là tuyến huyện và xã Quy hoạch mạnglưới y tế chưa hợp lý, phân bổ không đồng đều giữa các vùng và chất lượngdịch vụ còn kém
- Nhiều vấn đề xã hội đang đặt ra cấp bách, nhiều hiện tượng đáng longại: tình hình buôn lậu, gian lận thương mại và tệ nạn tham nhũng khônggiảm Các tệ nạn xã hội như ma túy, mại dâm đang tồn tại và nhức nhối Tộiphạm kinh tế, tội phạm hình sự có xu hướng gia tăng, có nhiều vụ trọng ánhơn trước Khiếu nại của dân, trước hết là của nông dân diễn ra phức tạp hơn,rộng lớn hơn nhưng chưa được giải quyết kịp thời
Tóm lại, tình hình kinh tế - xã hội ở nước ta trong thời gian qua cónhững đặc trưng cơ bản sau:
Trình độ phát triển của nước ta còn thấp hơn nhiều so với các nướcxung quanh Sự ổn định và phát triển kinh tế chưa vững chắc, còn nhiều yếu
tố chưa đảm bảo cho sự phát triển bền vững Chất lượng và hiệu quả hoạtđộng của nền kinh tế thấp, sức cạnh tranh kém Nhiều ngành, lĩnh vực có tăngtrưởng nhưng không ổn định, sản xuất kinh doanh đang gặp nhiều khó khăn
Các thành phần kinh tế chưa mạnh dạn và chưa có ý thức làm ăn lâudài và còn dè dặt Môi trường đầu tư chưa sôi động
Trình độ dân trí nhiều vùng còn quá thấp, môi trường sống và môitrường sinh thái bị ô nhiễm nặng Cơ sở hạ tầng nông thôn chưa được pháttriển; các ngành nghề truyền thống chưa được khai thác triệt để; một số vấn
Trang 29đề xã hội bức xúc và gay gắt chưa được giải quyết tốt đã làm tăng thêm tínhphức tạp của tâm lý xã hội hạn chế các động lực phát triển đang cản trở quátrình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Luật Ngân sách Nhà nước đầu tiên đã ra đời năm 1996 khẳng địnhrằng Ngân sách Nhà nước không trực tiếp tham gia tài trợ các hoạt động sảnxuất kinh doanh Ngân sách Nhà nước chỉ tài trợ cho các dự án đầu tư cơ sởkinh tế - kỹ thuật, hạ tầng xã hội không có khả năng thu hồi vốn trực tiếp Đâychính là một trong những cơ sở và tiền đề xuất hiện tín dụng đầu tư phát triểncủa Nhà nước trong quá trình chuyển đổi nền kinh tế quan liêu, bao cấp sangnền kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước
1.2.3 Tín dụng và tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước: cơ sở hình thành, bản chất và vai trò trong chính sách đầu tư của Nhà nước
Tín dụng ra đời và phát triển cùng với nền sản xuất hàng hóa Kinh tếhàng hóa càng phát triển thì tín dụng càng giữ vai trò quan trọng trong việcthúc đẩy sản xuất và lưu thông hàng hóa Mục đích và tính chất của tín dụngđược quy định bởi mục đích và tính chất của nền sản xuất hàng hóa trong xãhội Sự vận động của tín dụng luôn luôn chịu sự chi phối của các quy luật kinh tế khách quan trong phương thức sản xuất nhất định Vậy bản chất củatín dụng là gì? Hiện nay có nhiều quan niệm khác nhau về bản chất của tín
Trang 30dụng Một số nhà kinh tế cho rằng, tín dụng là quan hệ vay - trả, trong đó mộtbên cung cấp tiền, hàng hóa, dịch vụ trên cơ sở cam kết hoàn trả trong tươnglai của bên kia, hay tín dụng là quan hệ vay mượn dựa trên nguyên tắc hoàntrả[25, tr 72].
Một số nhà kinh tế khác lại hiểu tín dụng là phạm trù kinh tế, phảnánh quan hệ sử dụng vốn lẫn nhau giữa các pháp nhân và thể nhân trong nềnkinh tế hàng hóa Tín dụng là "một giao dịch giữa hai bên, trong đó một bên(trái chủ hoặc người cho vay) chu cấp tiền, hàng hóa, dịch vụ hoặc chứngkhoán dựa vào lời hứa thanh toán lại trong tương lai của bên kia (thu trái hoặcngười đi vay) Thông thường, những giao dịch như vậy còn bao gồm cả việcthanh toán lợi tức cho người cho vay" [58, tr 17]
Quá trình vận động của tín dụng được khái quát qua các giai đoạn sau:
- Giai đoạn 1: hoạt động của vốn tín dụng dưới hình thức cho vay Ở
giai đoạn này, vốn tiền tệ hoặc giá trị vật tư hàng hóa được chuyển từ ngườicho vay sang người đi vay Khi cho vay giá trị vốn tín dụng được chuyển sangngười đi vay Đây là đặc điểm cơ bản khác với việc mua bán hàng hóa, trong
đó người thứ nhất thì nhượng đi giá trị dưới hình thái hàng hóa, người thứ hainhượng đi giá trị dưới hình thái tiền tệ Còn trong việc cho vay, chỉ có mộtbên nhận được giá trị và cũng chỉ một bên nhượng đi giá trị mà thôi
- Giai đoạn 2: sử dụng vốn tín dụng trong quá trình sản xuất Sau khi
nhận được giá trị vốn tín dụng, người đi vay được quyền sử dụng giá trị đó đểthỏa mãn mục đích nhất định Tuy nhiên, người đi vay không có quyền sởhữu giá trị đó, mà chỉ được quyền sử dụng trong một khoảng thời gian nhấtđịnh
- Giai đoạn 3: sự hoàn trả của tín dụng Đây là giai đoạn kết thúc một
vòng tuần hoàn của tín dụng Sau khi vốn tín dụng đã hoàn thành việc "chudu" một chu kỳ sản xuất để trở về hình thái tiền tệ thì vốn tín dụng đượcngười đi vay hoàn trả cho người cho vay
Trang 31Sự hoàn trả của tín dụng là đặc trưng thuộc về bản chất vận động củatín dụng và là "dấu ấn" phân biệt tín dụng với các phạm trù kinh tế khác Mặtkhác, sự hoàn trả của tín dụng là một khâu trong quá trình tái sản xuất của vốntín dụng Hình thái vật chất của sự hoàn trả là sự vận động dưới hình tháihàng hóa hoặc giá trị Tuy nhiên, sự vận động đó không phải với tư cách làphương tiện lưu thông, mà với tư cách một lượng giá trị vận động Chính vìthế, sự hoàn trả luôn luôn phải được bảo toàn về mặt giá trị và có phần tăngthêm dưới hình thức lợi tức.
C.Mác nhiều lần viết về hai hình thức của giá trị - hàng hóa và tiền tệkhi chia hệ thống quan hệ hàng hóa - tiền tệ thành hai phân hệ, xuất phát từchức năng của tiền tệ (tiền tệ thực hiện năm chức năng trong đó có chức năngthước đo giá trị, phương tiện thanh toán, phương tiện lưu thông) Khi thựchiện chức năng thứ nhất - thước đo giá trị - tiền tệ trên ý niệm mang tính chất
"tính toán" Chức năng này có trong tất cả các hình thức biểu hiện của quan
hệ hàng hóa - tiền tệ và sử dụng trong kế hoạch hóa, kế toán, phân tích, xácđịnh giá cả, cấp phát, tín dụng, thanh toán bằng tiền mặt và không bằng tiềnmặt, thanh toán lương, thành lập các quỹ khuyến khích Khi thực hiện chứcnăng thứ hai và thứ ba tiền tệ không chỉ được thực hiện chức năng thước đogiá trị mà còn mang tính chất hiện thực, bởi vì nó là vật ngang giá của đạilượng hàng hóa tiền tệ trong lưu thông
Quan hệ tài chính tín dụng khác với các khái niệm khác của quan hệhàng hóa tiền tệ ở chỗ tiền tệ được sử dụng ở đây không chỉ thực hiện chức năngthước đo giá trị mà còn thực hiện chức năng thanh toán, chức năng lưu thông, cónghĩa là tiền tệ trong quá trình thực hiện chức năng phương tiện thanh toán vàphương tiện lưu thông là đối tượng trực tiếp của quan hệ tài chính tín dụng.Nhà nước tác động đến sự vận động của hình thức tiền tệ của giá trị cũngchính là tác động lên sự vận động của hình thức hàng hóa của giá trị Bản chấtcủa vấn đề là ở chỗ mỗi đại lượng giá trị được biểu hiện hai lần (lần thứ nhất
Trang 32là hàng hóa, lần thứ hai là tiền tệ) Trường hợp này tiền tệ vận động độc lập,không có mối quan hệ trực tiếp với sự vận động của hàng hóa, nhưng mỗi lầntiền tệ đóng vai trò vật ngang giá phải phù hợp với khối lượng vật tư hànghóa.
Các nhà kinh tế nước ta đã có cố gắng định nghĩa tín dụng dựa trênbản chất của nó, trong đó đầu tiên định nghĩa tín dụng là hình thức vận động
có kế hoạch của quỹ cho vay của Nhà nước [27, tr 122] Định nghĩa này nếuđem phân tích một cách cặn kẽ sẽ chứa đựng những hạn chế rất căn bản,không bảo đảm được các quy tắc của định nghĩa Vì rằng tín dụng được địnhnghĩa thông qua quỹ cho vay của Nhà nước mà nội dung của bản thân kháiniệm quỹ cho vay Nhà nước cũng đang còn được bàn cãi Ngoài ra, địnhnghĩa tín dụng như vậy dường như đã phủ nhận khả năng đưa vào lưu thông(bổ sung) những phương tiện thanh toán mới thông qua việc cấp tín dụng Bởi
lẽ về lôgíc, sự vận động không làm cho vật chất tăng thêm Điều này cũng xảy
ra đối với quỹ cho vay của Nhà nước trong quá trình vận động theo kế hoạch
Và cuối cùng, trong định nghĩa tín dụng trên, đối tượng định nghĩa khôngtương đương với nhau bởi lẽ không phải quỹ cho vay của Nhà nước được huyđộng cho tất cả các hình thức tín dụng (ít nhất sự ngoại lệ là tín dụng cho dân
cư và các khoản cho vay của các hợp tác xã tín dụng, các ngân hàng thươngmại và của các quốc gia khác) Việc đưa tính kế hoạch vào trong định nghĩatín dụng làm ta ngờ vực việc đưa vào phạm vi tín dụng các khoản tín dụngquá hạn không có bảo đảm và các khoản tín dụng khác mà nguyên do xuấthiện của chúng chính là sự vi phạm kỷ luật kế hoạch
Trong sách báo ở nước ta có nhiều định nghĩa về tín dụng Với sự đadạng của các cách diễn đạt phần lớn các định nghĩa này đều đi đến việc nhìnnhận tín dụng với tư cách là các phạm trù kinh tế hoặc là hệ thống các quan
hệ kinh tế liên quan đến việc hình thành một cách có kế hoạch các quỹ tiền tệ
Trang 33tập trung, phi tập trung và việc sử dụng chúng cho nhu cầu tái sản xuất mởrộng và thỏa mãn các nhu cầu xã hội khác.
Theo quan điểm của chúng tôi, việc xem xét tín dụng như các phạmtrù kinh tế cho phép chỉ ra được bản chất kinh tế - xã hội của chúng nhưngcác phạm trù kinh tế chỉ là sự thể hiện có tính lý thuyết, "sự trừu tượng hóacác quan hệ sản xuất xã hội" Tính trừu tượng đó là sự phản ánh một mặt đốitượng nghiên cứu trong tiềm thức con người Tính cụ thể là việc tái hiện mộtcách toàn vẹn đối tượng hoặc là dưới dạng hệ thống các khái niệm trừu tượng,hoặc dưới dạng cảm tính - trực quan Nguyên tắc cụ thể đòi hỏi tiếp cận vớithực tế của đời sống xã hội không phải bằng các công thức và mô hình chung
mà phải xét đến các điều kiện thực tế khi đối tượng được nhận biết tồn tại.Như vậy, việc hoàn thiện và sử dụng các quan hệ tín dụng vào thực tế đòi hỏiphải nhìn nhận chúng một cách cụ thể dưới hình thức cảm tính - trực quansinh động Điều này không những không làm giảm ý nghĩa của việc nghiêncứu tín dụng với tư cách trừu tượng khoa học mà đòi hỏi phải nghiên cứu với
tư cách là các hình thức và các phương pháp sử dụng tiền thực trong quá trìnhvận động của chúng
Tóm lại, theo ý kiến chúng tôi, tín dụng là các quan hệ kinh tế nảy sinhliên quan đến sự vận động của đồng tiền theo nguyên tắc hoàn trả Tính hoàntrả là đặc điểm đặc trưng phân biệt tín dụng với các phạm trù kinh tế khác
Sự hoàn lại các nguồn tài chính là các khoản thu được sử dụng theothể thức đã được quy định Có thể xảy ra trường hợp giá trị ứng trước khôngđược hoàn lại mà là sự hoàn lại giá trị mới sáng tạo Bản thân giá trị ứng ra thìvận hành liên tục trong vòng luân chuyển
Nhận xét về đặc điểm của tư bản cho vay C Mác viết:
Tư bản cho vay quay vòng lại 2 lần, trong quá trình tái sảnxuất nó trở thành tư bản hoạt động, còn sau đó việc quay vòng được
Trang 34lặp lại 1 lần nữa khi tư bản được trả lại cho chủ nợ là tư bản tiền tệvới tư cách hoàn trả lại tư bản cho chủ sở hữu đích thực của nó, trởlại điểm xuất phát pháp lý của tư bản [9, tr 18].
Ranh giới giữa các quan hệ tài chính và tín dụng được đặc trưng vớitính vận động cao, mặc dù trong từng bước vận động cụ thể của hình thái tiền
tệ của giá trị được biểu lộ khá rõ rệt Với sự độc lập tương đối với nhau, cácquan hệ này vận động và phát triển trong mối quan hệ phụ thuộc chặt chẽ, làmtiền đề và bổ sung lẫn nhau
Theo chúng tôi, mặc dù bản chất của tín dụng có thể diễn đạt bằngnhiều cách khác nhau, song nội dung cơ bản của những quan niệm trên làthống nhất và đều phản ánh một bên là người cho vay, còn bên kia là người đivay Quan hệ giữa hai bên được ràng buộc bởi cơ chế tín dụng và pháp luậthiện hành Nhưng hiểu theo nghĩa hẹp, tín dụng là sự chuyển nhượng quyền
sử dụng một lượng giá trị nhất định dưới hình thức hiện vật, tiền tệ hay giá trịtrong một thời hạn nhất định từ người sở hữu sang người sử dụng và người sửdụng phải hoàn trả lại cho người sở hữu với lượng giá trị lớn hơn khi đến hạn.Khoản giá trị dôi ra này được gọi là lợi tức tín dụng Hiểu theo nghĩa rộng,quan hệ tín dụng gồm hai mặt: huy động và cho vay
Tóm lại, tín dụng là một quan hệ kinh tế giữa người cho vay và người
đi vay, là sự vận động của quy luật giá trị Vốn tín dụng được thể hiện dưới hìnhthái tiền tệ hoặc hàng hóa Tín dụng bao gồm nhiều hình thức khác nhau, đặcbiệt trong nền kinh tế thị trường tín dụng hoạt động rất đa dạng và phong phú
1.2.3.2 Tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước là sự tồn tại khách quan trong chính sách đầu tư của Chính phủ
Bên cạnh những mặt ưu điểm, kinh tế thị trường không phải là một
mô hình kinh tế hoàn hảo mà còn chứa đựng những khuyết tật thuộc bản chấtvốn có của nó như không chú ý đến lợi ích chung của toàn xã hội, phân hoá
Trang 35thu nhập và bất bình đẳng làm nảy sinh các hiện tượng tiêu cực, gây mất ổnđịnh kinh tế, chính trị, xã hội và dẫn đến việc hình thành cơ cấu kinh tế tựphát, sự phát triển mất cân đối, bất ổn định của một quốc gia Trong lúc đó,chiến lược phát triển kinh tế của nước ta đòi hỏi phải có sự phát triển cân đối,đồng bộ giữa các ngành, các vùng, đòi hỏi phải có những ngành kinh tế mũinhọn để tạo thế cho nền kinh tế phát triển nhanh chóng và bền vững Chính vì
lý do này mà mô hình kinh tế hỗn hợp đang ngày càng chiếm ưu thế, ở đó vaitrò điều tiết của Nhà nước ngày càng được khẳng định Thực hiện vai trò điềutiết kinh tế, Nhà nước thường sử dụng các công cụ tài chính vốn có như thuế,phí, chi ngân sách Nhà nước v.v Ngoài ra, Nhà nước còn sử dụng công cụtín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước và coi đó là một trong những biệnpháp điều tiết vĩ mô hữu hiệu của Nhà nước trong một giai đoạn lịch sử nhấtđịnh của quá trình phát triển kinh tế mỗi nước
Lịch sử phát triển và kinh nghiệm phát triển kinh tế thị trường của cácnước, bao gồm các nước kinh tế thị trường phát triển và các nước kinh tế thịtrường mới nổi lên, đều có thể xuất hiện rõ một xu thế mang tính quy luật làxuất phát từ nhu cầu khách quan điều tiết kinh tế vĩ mô và thỏa mãn các lợiích chung của xã hội, tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước được hìnhthành cùng với sự xác lập và hoàn thiện cơ chế kinh tế thị trường
Do quy mô chi của Ngân sách Nhà nước từng bước mở rộng, nhưngthu Ngân sách Nhà nước lại luôn bị hạn chế bởi những giới hạn nhất định củamức nộp thuế được pháp luật xác định nên thường dẫn đến sự thiếu hụt vốnđầu tư từ Ngân sách Nhà nước Thiếu vốn cho đầu tư không những làm choNhà nước thiếu hậu thuẫn về Ngân sách để điều chỉnh kinh tế vĩ mô mà cònlàm cho việc xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng phải dựa chủ yếu vàoNgân sách Nhà nước sẽ gặp rất nhiều khó khăn Ngoài ra, nếu chỉ dựa vàoNgân sách Nhà nước hàng năm (tuy có xu hướng tăng lên) nguồn vốn đầu tưvẫn rất thiếu Do đó, cần phải phát huy tốt hơn vai trò của tín dụng đầu tư
Trang 36phát triển của Nhà nước để mở rộng kênh nguồn vốn Ngân sách, tăng cườngchức năng điều tiết kinh tế vĩ mô của Nhà nước
Sử dụng hình thức tín dụng đầu tư phát triển, ngoài việc khuyến khích,phát huy được nguồn vốn đầu tư phát triển của các thành phần kinh tế, Nhànước còn có khả năng quản lý, chi phối và điều tiết nguồn vốn đầu tư pháttriển gấp nhiều lần nguồn vốn đầu tư phát triển được chi ra từ Ngân sách Nhànước hàng năm
Một đặc điểm phổ biến và nổi bật trong phát triển kinh tế của các quốcgia trên thế giới hiện nay là hướng ra bên ngoài, hội nhập cùng với sự pháttriển của kinh tế thế giới bằng việc đẩy mạnh các hoạt động ngoại thương vàcác hoạt động đối ngoại khác Hơn nữa, xu thế toàn cầu hóa và tự do hóa cácluồng vốn là một tất yếu trong thế kỷ XXI Chính sự phát triển của kinh tế thếgiới và sự mở rộng các hoạt động đối ngoại cũng như xu thế toàn cầu hóa, tự
do hóa các luồng vốn là cơ sở phát sinh các mối quan hệ tín dụng đầu tư pháttriển của Nhà nước giữa các quốc gia với nhau
Sự phát triển không đồng đều giữa các nước cho thấy một thực tế làtrong các hoạt động trao đổi quốc tế, các nước đang phát triển và kém pháttriển thường hay bị rơi vào thế bất lợi, thường xuyên bị thiếu hụt cán cânthanh toán quốc tế và cần đến các khoản tín dụng để thực hiện điều chỉnh cáncân thanh toán của mình Các nước phát triển có số thặng dư lớn trên cán cânthanh toán quốc tế ra sức tìm mọi cách để đầu tư số thặng dư đó ra nước ngoàitrong đó có đầu tư tín dụng nhằm tìm kiếm lợi nhuận cao, chiếm lĩnh thị trườngtiêu thụ hàng hóa và tranh thủ các điều kiện thương mại có lợi cho mình
Để giải quyết nhu cầu về vốn cho đầu tư phát triển, giải quyết nhữngkhó khăn về tài chính và thiếu hụt trong cán cân thanh toán quốc tế, các nướcthành viên đã thường xuyên quan hệ và mở rộng các quan hệ tín dụng với các
tổ chức tài chính quốc tế hoặc khu vực
Trang 37Ở Việt Nam, từ sau năm 1996 khi Luật Ngân sách Nhà nước lần đầutiên ra đời và đi vào cuộc sống thì vốn đầu tư phát triển từ Ngân sách Nhànước chỉ cấp phát trực tiếp cho những công trình kết cấu hạ tầng kinh tế - xãhội không có khả năng thu hồi vốn trực tiếp Còn đối với những dự án đầu tư,những công trình có khả năng thu hồi vốn trực tiếp, nhưng lại chưa có đủ khảnăng đứng vững trong thị trường cạnh tranh tự do mà Nhà nước vẫn cần thiếtphải nắm giữ hoặc dự án có hiệu quả kinh tế - xã hội gián tiếp cao mà chỉ cókhả năng thu hồi một phần vốn đầu tư thì Nhà nước phải thông qua hình thứctín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước để đầu tư phát triển Riêng nhữngchương trình mang tính xã hội thì vai trò tín dụng đầu tư phát triển của Nhànước trong việc điều tiết nền kinh tế và đảm bảo công bằng xã hội thật sự đượcphát huy hiệu quả.
Sự mở rộng và phát triển vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước
là một trong những công cụ thực hiện chủ trương xóa bao cấp trong đầu tưcủa Đảng và Nhà nước, đã được chú trọng trong giai đoạn phát triển nền kinh
tế thị trường có sự điều tiết của Nhà nước nhằm "kết hợp chặt chẽ kế hoạchhóa với các chính sách kinh tế, tài chính để định hướng và khuyến khích nhân
dân, doanh nghiệp đầu tư, kinh doanh" [22, tr.49] và tiến hành "tách chứcnăng thực hiện chính sách với chức năng kinh doanh của ngân hàng thươngmại" [24, tr 198]
Phát huy kết quả của 10 năm đổi mới, Nghị quyết Đại hội VIII củaĐảng đã đề ra chủ trương thực hiện chính sách đầu tư phát triển theo hướng:
Dành nguồn vốn để giải quyết những nhu cầu bức xúc củacác vùng khác, nhất là phát triển kết cấu hạ tầng và hỗ trợ tín dụng,tạo điều kiện để các vùng còn kém phát triển, các vùng nông thôn,miền núi có thể phát triển nhanh hơn, khắc phục dần tình trạng
Trang 38chênh lệch quá lớn về trình độ phát triển kinh tế - xã hội giữa cácvùng [21, tr 171].
Thực hiện chủ trương phát triển kinh tế - xã hội của Đảng, xóa dầnbao cấp trong đầu tư, năm 1996 Quỹ Hỗ trợ đầu tư Quốc gia ra đời khẳngđịnh sự cần thiết và lớn mạnh của tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước.Đây là một tổ chức có quy mô hoạt động lớn, chuyên quản lý tín dụng đầu tưphát triển của Nhà nước Để thống nhất quản lý và nâng cao hiệu quả sử dụngtín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước, năm 2000 Quỹ Hỗ trợ phát triển đãchính thức ra đời và đi vào hoạt động
Như vậy, việc mở rộng và phát triển hình thức tín dụng đầu tư củaNhà nước là một tất yếu khách quan Chẳng phải ngẫu nhiên mà hiện nay các
tổ chức tài chính tiền tệ quốc tế như IMF, WB, ADB hàng năm vẫn phải dànhnguồn tín dụng ưu đãi cho các nước chậm phát triển Ngoài mục đích chínhtrị, nguồn vốn này còn nhằm rút ngắn dần khoảng cách phát triển giữa nhữngnước giàu và nước nghèo trên thế giới Trong điều kiện và bối cảnh thế giớihiện nay, nước nghèo khó có cơ hội đuổi kịp và vượt các nước phát triển tiêntiến nếu không huy động tối đa nguồn vốn tích lũy từ nội bộ nền kinh tế vàkhông có chính sách thích hợp thu hút nguồn vốn nước ngoài để đầu tư pháttriển
Từ những phân tích trên có thể đi đến kết luận rằng, việc mở rộng vàphát triển tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước là một đòi hỏi tất yếukhách quan trong chính sách đầu tư Tuy nhiên, khi nền kinh tế đã phát triển,các chủ thể kinh tế - tài chính khẳng định được vị trí trên thị trường trong vàngoài nước thì vai trò vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước sẽ giảmdần, cho vay ưu đãi cũng không được ưa chuộng nữa vì nó tiềm ẩn sự bấtbình đẳng và có thể bóp méo hoạt động của thị trường tài chính lành mạnh
1.2.3.3 Bản chất của tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước
Trang 39Tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước là hoạt động vay - trả giữaNhà nước với các tác nhân hoạt động trong nền kinh tế, phục vụ cho mục đíchquản lý nền kinh tế vĩ mô của Nhà nước
Tín dụng Nhà nước ra đời, thoạt tiên để bù đắp thiếu hụt Ngân sáchcho các khoản chi tiêu dùng thường xuyên và không tham gia vào chu trìnhtái sản xuất của nền kinh tế Qua quá tình phát triển, chức năng bù đắp thiếuhụt Ngân sách của tín dụng Nhà nước được sử dụng tích cực hơn nhằm để bùđắp những khoản chi cho đầu tư phát triển nền kinh tế, tăng thêm nguồn lựctài chính cho Nhà nước để thực thi các chính sách quản lý vĩ mô nền kinh tế
Do vậy, tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước là công cụ cho vay đầu tưcủa Nhà nước theo kế hoạch, định hướng của Nhà nước thông qua hệ thống tổchức quản lý tín dụng Nhà nước
Tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước là một dạng của tín dụngNhà nước Chức năng cơ bản của tín dụng Nhà nước là bù đắp thiếu hụt Ngânsách, còn chức năng chủ yếu của tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước làphân phối lại nguồn vốn nhằm thỏa mãn nhu cầu đầu tư theo kế hoạch, địnhhướng của Nhà nước Bản chất tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước được thểhiện:
- Tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước là một biện pháp điều tiếttài chính Tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước có tính song trùng của tàichính và ngân hàng Tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước có mối quan hệphối hợp chặt chẽ với tín dụng ngân hàng chứ không phải loại trừ nhau Hailoại tín dụng này đều có tính chất hoàn trả, có vay có trả và đều có tính chấtthời hạn cụ thể Ngoài hiệu quả kinh tế, tín dụng đầu tư phát triển của Nhànước chú trọng tới cả hiệu quả xã hội
- Đối tượng của tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước là các lĩnhvực then chốt, trọng điểm của các ngành, các vùng;
Trang 40- Lãi suất cho vay của tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước thấphơn lãi suất tín dụng trên thị trường;
- Tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước vừa mang tính kinh tế, vừa
có tính xã hội và chính trị Sự kết hợp hài hòa lợi ích kinh tế, chính trị và xãhội là đặc trưng của tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước và là mục tiêuhoạt động, tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả hoạt động của công tác quản lý tíndụng đầu tư phát triển của Nhà nước
Lợi ích kinh tế thể hiện trực tiếp trên lợi tức tiền vay, thể hiện giántiếp qua việc hưởng thụ các tiện nghi công cộng, có thêm việc làm do đầu tưcủa tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước mang lại Đối với vay nợ nướcngoài, lợi ích kinh tế không chỉ thể hiện trên lợi tức tiền vay mà còn mang lạicho nước chủ nợ nhiều khoản lợi ích khác về thuế quan, về xuất nhập khẩuhàng hóa
Lợi ích chính trị, xã hội của tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nướcthể hiện ở lòng tin của dân chúng đối với Chính phủ, ở trách nhiệm và mốiquan tâm của Chính phủ đối với dân chúng chẳng hạn như cho vay đầu tư,giải quyết việc làm, xóa đói giảm nghèo Trong quan hệ đối ngoại, lợi íchchính trị của tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước thể hiện mối quan hệchính trị, ngoại giao giữa nước chủ nợ và nước con nợ
Xuất phát từ bản chất, theo ý kiến chúng tôi tín dụng đầu tư phát triểncủa Nhà nước có những đặc trưng chủ yếu sau:
- Đối tượng cho vay hẹp, tập trung và phụ thuộc vào mục tiêu pháttriển kinh tế - xã hội của Nhà nước trong từng thời kỳ
- Lãi suất cho vay thấp hơn lãi suất cho vay tín dụng ngân hàng thươngmại