1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

LUẬN án TIẾN sĩ GIẢI PHÁP tài CHÍNH THÚC đẩy PHÁT TRIỂN CÔNG NGHỆ SAU THU HOẠCH TRONG điều KIỆN CÔNG NGHIỆP hóa HIỆN đại hóa ở VIỆT NAM

168 537 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 168
Dung lượng 1,42 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Dưới ánh sáng đường lối đổi mới của Đảng và Nhà nước, cùng với sự tác động của khoa học công nghệ (KHCN), nền nông nghiệp Việt Nam đã có những bước phát triển mạnh mẽ. Sản phẩm nông nghiệp tăng lên vượt bậc về số lượng, chất lượng và phong phú về chủng loại. Do đó, phát triển công nghệ sau thu hoạch (CNSTH) để tương xứng với một nền nông nghiệp hàng hóa ở Việt Nam đã trở thành một vấn đề hết sức cấp thiết.

Trang 1

MỞ ĐẦU

1 Sự cần thiết của đề tài nghiên cứu

Dưới ánh sáng đường lối đổi mới của Đảng và Nhà nước, cùng với sựtác động của khoa học - công nghệ (KH-CN), nền nông nghiệp Việt Nam đã

có những bước phát triển mạnh mẽ Sản phẩm nông nghiệp tăng lên vượt bậc

về số lượng, chất lượng và phong phú về chủng loại Do đó, phát triển côngnghệ sau thu hoạch (CNSTH) để tương xứng với một nền nông nghiệp hànghóa ở Việt Nam đã trở thành một vấn đề hết sức cấp thiết CNSTH khôngnhững là biện pháp cấp bách góp phần làm giảm tổn thất đối với nông sản sauthu hoạch, mà còn là một trong những nội dung cốt lõi của quá trình CNH,HĐH nông nghiệp, nông thôn Nhận thức được vai trò của CNSTH đối vớiquá trình phát triển của nông nghiệp và đất nước, Nhà nước đã đề ra nhiềugiải pháp nhằm thúc đẩy CNSTH phát triển, song kết quả đạt được vẫn chưađáp ứng được yêu cầu của giai đoạn mới Cho đến nay, CNSTH vẫn là mộtvấn đề nổi cộm nhất trong nông nghiệp nước ta CNSTH Việt Nam còn lạchậu về trình độ và nhỏ bé về quy mô, nên chưa phát huy tốt vai trò là động lựccho quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH, HĐH) đất nước

Trong thời gian qua đã có nhiều công trình và đề tài nghiên cứu vềCNSTH của các tác giả trong và ngoài nước Tuy nhiên, các công trình và

đề tài nghiên cứu trên chủ yếu quan tâm đến khía cạnh kỹ thuật và mộtphần khía cạnh kinh tế của CNSTH Hiện nay, chưa có một công trìnhnghiên cứu nào đề cập tới tác động của tài chính đến CNSTH một cáchtoàn diện và có hệ thống Trước những bức xúc cả về lý luận và thực tế, tác

giả đã chọn đề tài: "Giải pháp tài chính thúc đẩy phát triển công nghệ sau

thu hoạch trong điều kiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam" cho

luận án của mình

Trang 2

2 Mục đích nghiên cứu của đề tài

- Nghiên cứu một cách có hệ thống về lý luận liên quan đến CNSTH,làm rõ vai trò của tài chính đối với việc phát triển CNSTH ở Việt Nam

- Đánh giá thực trạng của việc sử dụng các giải pháp tài chính đối vớiCNSTH ở nước ta, đồng thời tham khảo kinh nghiệm của các nước Trên cơ

sở đó tìm ra các giải pháp tài chính phù hợp để nhanh chóng đưa CNSTH củaViệt Nam tiến kịp với CNSTH của các nước tiên tiến trên thế giới

3 Đối tượng, phạm vi và phương pháp nghiên cứu của đề tài

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là hệ thống các giải pháp tài chính

chủ yếu bao gồm chi ngân sách nhà nước (NSNN), thuế, tín dụng tác độngđến sự phát triển của CNSTH

Phạm vi nghiên cứu: CNSTH là một vấn đề có liên quan đến cả khía

cạnh kinh tế và khía cạnh kỹ thuật Trên giác độ kinh tế, luận án không đề cậpđến khía cạnh kỹ thuật của CNSTH mà chỉ tập trung vào nghiên cứu các giảipháp tài chính chủ yếu là chi NSNN, tín dụng và thuế có ảnh hưởng đến sựphát triển của CNSTH từ năm 1990 trở lại đây Mặt khác, do tính chất phức tạpcủa đề tài nên tác giả chủ yếu đi sâu phân tích một số khâu trong hệ thống sauthu hoạch (STH) như khâu sơ chế, bảo quản và chế biến Đồng thời, chọnnghiên cứu CNSTH đối với hai loại nông sản chủ yếu là thóc gạo và rau quả

Phương pháp nghiên cứu:

Luận án đã sử dụng kết hợp nhiều phương pháp như: phương phápduy vật biện chứng, phương pháp so sánh, phân tích và tổng hợp, phươngpháp thống kê và phương pháp tiếp cận hệ thống (không nghiên cứu các bộphận riêng lẻ mà đặt chúng trong mối quan hệ với các bộ phận khác để nghiêncứu)

4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

Ý nghĩa khoa học

Trang 3

Luận án đã khái quát hóa, hệ thống hóa và làm rõ thêm các vấn đề về

lý luận có liên quan đến hoạt động STH, CNSTH, đặc điểm của CNSTH vàcác nhân tố tác động đến CNSTH Đặc biệt, luận án đã đi sâu phân tích và chỉ

rõ tính hệ thống trong việc nghiên cứu CNSTH Đồng thời chỉ rõ mối quan hệbiện chứng giữa tài chính với sự phát triển của CNSTH Đây là cơ sở lý luậnquan trọng cho việc tìm ra tính quy luật của sự phát triển CNSTH

Luận án đã đưa ra một bức tranh tương đối toàn diện về tình hình CNSTH

ở Việt Nam và việc sử dụng các giải pháp tài chính để thúc đẩy phát triểnCNSTH Với các số liệu phong phú và đáng tin cậy, luận án đã phân tích vàđánh giá một cách khách quan những mặt đã đạt được và những tồn tại cầnkhắc phục Trên cơ sở đó đề xuất các giải pháp tài chính để tác động một cách

có hiệu quả nhằm thúc đẩy phát triển CNSTH ở Việt Nam

Ý nghĩa thực tiễn

Luận án có ý nghĩa thực tiễn cao trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc

tế ngày càng sâu rộng, yêu cầu nâng cao khả năng cạnh tranh của hàng hóa,nhất là nông sản xuất khẩu của Việt Nam đã trở nên hết sức cấp thiết Vớinhững đề xuất có tính khả thi, luận án đã góp phần vào việc hoàn thiện cácgiải pháp tài chính để thúc đẩy phát triển CNSTH nhằm đẩy nhanh quá trìnhCNH, HĐH đất nước

Kết cấu của luận án

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục,luận án được chia thành ba chương:

Chương 1: Công nghệ sau thu hoạch và vai trò của các công cụ tài

chính đối với công nghệ sau thu hoạch trong điều kiện công nghiệp hóa, hiệnđại hóa đất nước

Chương 2: Tác động của các giải pháp tài chính đối với công nghệ sau

thu hoạch ở Việt Nam

Trang 4

Chương 3: Hoàn thiện các giải pháp tài chính để thúc đẩy phát triển

công nghệ sau thu hoạch ở Việt Nam

Trang 5

Chương 1

CÔNG NGHỆ SAU THU HOẠCH VÀ VAI TRÒ CỦA CÁC CÔNG CỤ TÀI CHÍNH ĐỐI VỚI CÔNG NGHỆ SAU THU HOẠCH TRONG ĐIỀU KIỆN CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA ĐẤT NƯỚC

1.1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ CÔNG NGHỆ SAU THU HOẠCH

1.1.1 Hệ thống sau thu hoạch

1.1.1.1 Giai đoạn sau thu hoạch - giai đoạn tất yếu của dây chuyền cung ứng nông sản

Dây chuyền cung ứng nông sản bao gồm hai giai đoạn là giai đoạn

trước thu hoạch và giai đoạn sau thu hoạch

- Giai đoạn trước thu hoạch: Là giai đoạn sản phẩm đang trong quá

trình sinh trưởng hay trước khi quá trình thu hoạch sản phẩm bắt đầu Đâychính là giai đoạn sản xuất Giai đoạn này có vai trò quyết định đến năng suất

và chất lượng của nông sản thô - nguyên liệu đầu vào cho CNSTH Trong giaiđoạn trước thu hoạch, cây trồng hoặc vật nuôi phải trải qua một thời kỳ biếnđổi sâu sắc về chất và lượng Sự biến đổi đó không những ảnh hưởng đến chấtlượng của nông sản mà còn tác động trực tiếp đến các hoạt động STH Đâychính là giai đoạn cận thu hoạch - một giai đoạn tiếp nối từ giai đoạn trướcthu hoạch sang giai đoạn STH Nhìn chung, giai đoạn trước thu hoạch tương

đối rõ ràng và thuật ngữ "trước thu hoạch" thường có sự thống nhất cao về

mặt nhận thức

- Giai đoạn sau thu hoạch: Hiện nay thuật ngữ STH vẫn còn là vấn

đề đang được tranh cãi vì rất khó xác định thời điểm bắt đầu và thời điểm kếtthúc của giai đoạn STH

+ Thời điểm bắt đầu của giai đoạn STH

"Thu hoạch là một hoạt động có chủ đích để phân tách sản phẩm củacây trồng ra khỏi phần thân cây hoặc ra khỏi đất" [58, tr 1]

Trang 6

Sau thu hoạch là sau khi tách sản phẩm khỏi môi trường hoặc nơi sản xuất Vậy, STH có nghĩa là khi công việc thu hoạch đã được hoàn thành (sau khi thu hoạch xong) Nhưng theo cách hiểu phổ biến ở hầu hết các nước thì

STH bao gồm cả hoạt động thu hoạch và thời điểm bắt đầu của STH đượctính từ khi hoạt động thu hoạch bắt đầu

+ Thời điểm kết thúc của giai đoạn STH

Trong các tài liệu nghiên cứu từ trước đến nay, có rất nhiều cách hiểu

về thời điểm kết thúc của giai đoạn STH

Có quan điểm cho rằng, STH chỉ là quá trình đảm bảo cho sản phẩmvẫn còn tươi sau khi thu hoạch như lựa chọn, phân loại, bảo quản, sơ chế, đónggói sản phẩm Quan điểm này mới chỉ tính đến một khía cạnh của khâu bảoquản trong hoạt động STH Đó là giữ cho sản phẩm tươi nguyên Cách hiểunày làm thu hẹp phạm vi của hoạt động STH

Theo khái niệm nêu trong từ điển Newcollegiate của Webster từ "sau

thu hoạch" có nghĩa là "có liên quan đến, xảy ra hoặc được sử dụng trong thời kỳ sau khi thu hoạch" [63, tr 1] Khái niệm này còn mang tính chất chung

chung và chưa phân định được rõ thời điểm bắt đầu và kết thúc của giai đoạnSTH

Khái niệm do Bourne đưa ra năm 1977, được viện Hàn lâm khoa họcquốc gia Mỹ sửa đổi năm 1978 và được FAO chấp nhận: "Giai đoạn sau thuhoạch bắt đầu từ lúc sản phẩm có thể ăn được tách rời khỏi cây trồng đã sản sinh

ra sản phẩm đó do hành động có chủ tâm của con người và kết thúc khi sảnphẩm được đưa vào quá trình chế biến cho bữa ăn của người tiêu dùng" [60,

tr 5]

Khái niệm này đã nêu tương đối rõ ràng về thời điểm bắt đầu và kếtthúc của giai đoạn STH Song nông sản không phải chỉ sử dụng cho conngười mà còn có thể sử dụng cho vật nuôi Vì vậy, có thể hiểu khái niệm

STH như sau: Thời điểm bắt đầu của giai đoạn sau thu hoạch được tính từ

Trang 7

khi tách sản phẩm khỏi cây trồng và kết thúc khi sản phẩm được đưa vào

chế biến cho tiêu dùng

Nh v y, giai o n STH bao g m nhi u khâu v ư vậy, giai đoạn STH bao gồm nhiều khâu và được chỉ ra một ậy, giai đoạn STH bao gồm nhiều khâu và được chỉ ra một đoạn STH bao gồm nhiều khâu và được chỉ ra một ạn STH bao gồm nhiều khâu và được chỉ ra một ồm nhiều khâu và được chỉ ra một ều khâu và được chỉ ra một à được chỉ ra một đoạn STH bao gồm nhiều khâu và được chỉ ra mộtư vậy, giai đoạn STH bao gồm nhiều khâu và được chỉ ra mộtợc chỉ ra mộtc ch ra m tỉ ra một ộtcách chi ti t trong s ết trong sơ đồ 1.1: ơ đồ 1.1: đoạn STH bao gồm nhiều khâu và được chỉ ra mộtồm nhiều khâu và được chỉ ra một 1.1:

Sản

xuất

Thuhoạch

Sơ chế

Bảoquản

Chếbiến

Vậnchuyển Marketing

Tiêu dùng

Giai đoạn sau thu hoạch

Sơ đồ 1.1: Dây chuyền cung ứng nông sản

Các khâu trong giai đoạn STH có mối quan hệ rất chặt chẽ với nhau.Trình tự của các khâu trong hệ thống STH có thể khác nhau tùy thuộc vào yêucầu của sản phẩm hoặc yêu cầu của người tiêu dùng Để thấy được bức tranh

toàn cảnh về giai đoạn STH cần phải nghiên cứu toàn bộ hệ thống STH

1.1.1.2 Hệ thống sau thu hoạch

Hệ thống STH là tập hợp của các hoạt động, các chủ thể, các giải pháp,các sản phẩm và thị trường cũng như mối quan hệ qua lại giữa các bộ phận,các khâu có liên quan đến các hoạt động STH

Trang 8

- Nhiều chính sách liên quan: chính sách kinh tế (chính sách giá cả, chính sách thị trường…) và chính sách tài chính (chính sách thuế, chính sách đầu tư, chính sách tín dụng…) có tác động mạnh mẽ đến quá trình phát triển

của hệ thống STH

Ngoài ra, hệ thống STH còn liên quan đến nhiều ngành, nhiều lĩnhvực và nhiều thời gian khác nhau Điều này cho thấy tính chất hết sức phức

tạp của hệ thống STH (phụ lục 1) Tính hệ thống của hoạt động STH cho thấy

nếu các khâu phát triển không đồng bộ, không cân đối sẽ dẫn đến sử dụngnguồn lực kém hiệu quả, tác động xấu đến các khâu khác trong hệ thống vàkìm hãm sự phát triển của toàn bộ hệ thống STH

Trong hệ thống STH, tổn thất có thể xảy ra ở bất cứ khâu nào Vì vậy,cần phải nghiên cứu kỹ các loại tổn thất để có biện pháp ngăn ngừa kịp thời

và đạt hiệu quả

1.1.1.3 Tổn thất sau thu hoạch

Ở giai đoạn trước thu hoạch, mọi người đều dễ dàng nhận biết hiệntượng mất mùa ngoài đồng và đã đề ra được những biện pháp phòng chống cóhiệu quả Trong khi đó, ở giai đoạn STH chúng ta thường bỏ qua hiện tượng

"mất mùa trong nhà" Đó chính là tổn thất STH

Tổn thất (Loss) là "bất kỳ sự suy giảm nào về giá trị có thể sử dụng được, khả năng có thể ăn được, về tính ích dụng và sự bổ dưỡng hoặc về chất lượng của nông sản dẫn đến nông sản không thể tiêu thụ được" [39, tr 15]

Tổn thất STH là tổng tổn thất xảy ra trong tất cả các khâu của hệ thống STH Tổn thất STH có thể được phân chia theo nhiều tiêu thức khác nhau:

- Theo tính chất của tổn thất:

+ Tổn thất về số lượng (Weight loss): Là sự suy giảm khối lượng của

sản phẩm trong toàn bộ hệ thống STH Tuy nhiên, một số trường hợp giảmkhối lượng không nhất thiết là bị tổn thất Ví dụ: hiện tượng bốc hơi nước,hiện tượng hô hấp trong phạm vi cho phép được coi là sự hao hụt quy luật

Trang 9

+ Tổn thất về chất lượng (Quality loss): Là sự suy giảm chất lượng

của sản phẩm xảy ra trong quá trình STH hoặc do những biến đổi hóa sinh,tác động của vi sinh vật hoặc côn trùng, chuột và sự xây xát cơ học Tổn thất

về chất lượng được đánh giá bằng nhiều chỉ tiêu như: chỉ tiêu dinh dưỡng (hàm lượng vitamin, khoáng, đường ); chỉ tiêu vệ sinh an toàn thực phẩm (các độc

tố, hóa chất có hại, các vi khuẩn gây bệnh…); chỉ tiêu cảm quan (hình thức bên ngoài, màu sắc, mùi vị ).

+ Tổn thất kinh tế (Economic loss): Là tổng tổn thất về số lượng và

chất lượng được tính thành tiền hoặc tính bằng tỷ lệ % của giá trị nông sảnthu hoạch được

+ Tổn thất xã hội (Social loss): Là những tổn thất về vấn đề xã hội

như môi trường sinh thái, công ăn việc làm, an ninh lương thực

- Theo nguyên nhân gây ra tổn thất:

+ Tổn thất do các nguyên nhân từ bên trong nông sản:

Sự hô hấp của nông sản: Sau khi thu hoạch, hầu hết các nông sản vẫn

tiếp tục quá trình hô hấp Quá trình này của nông sản phụ thuộc vào nhiều yếu

tố như nhiệt độ, sự thông thoáng của môi trường bảo quản, thủy phần và đặctính của mỗi loại nông sản

Quá trình chín sau thu hoạch: Là quá trình chuyển hóa các chất để nông

sản đạt đến độ chín có chất lượng cao nhất Quá trình này là cần thiết songnếu không kiểm soát được, quá trình chín sẽ gây ra tổn thất cho nông sản

Sự nẩy mầm: Nếu nông sản không phải dùng để làm giống thì sự nẩy

mầm sẽ làm cho các chất dự trữ trong nông sản bị phân giải, làm giảm chấtlượng của nông sản

Sự mất nước: Khi nhiệt độ của không khí cao và độ ẩm của không khí

thấp, nông sản thường bị mất nước dẫn đến giảm cả khối lượng và chất lượngcủa nông sản

+ Tổn thất do các nguyên nhân từ bên ngoài tác động vào nông sản

Trang 10

Môi trường:

Nhiệt độ của không khí: Nhiệt độ càng cao và thời gian bảo quản càng

dài thì tổn thất càng lớn, vì hầu hết các yếu tố làm giảm chất lượng xảy ra vớitốc độ cao khi nhiệt độ tăng

Độ ẩm của không khí: Có sự di chuyển của hơi nước giữa nông sản và

môi trường xung quanh theo hướng cân bằng Nếu nông sản có độ ẩm cao nó

sẽ giảm độ ẩm vào không khí và ngược lại, gây ra tổn thất cho nông sản

Sinh vật hại: Bao gồm bốn nhóm chính là vi sinh vật (nấm, mốc, vi khuẩn); côn trùng, sâu bọ; loại gặm nhấm và chim, dơi… Các sinh vật hại gây

tổn thất cho nông sản dưới các hình thức như: ăn hại làm giảm trọng lượngnông sản; làm nhiễm bẩn nông sản do các chất thải của chúng và đưa vàonông sản nhiều độc tố, mầm gây bệnh

Tác động của con người: Tổn thất do con người gây ra bao gồm: thu hoạch không đúng kỹ thuật (đổ vỡ, rơi rụng…); thiếu kỹ năng đóng gói và xử

lý nông sản; thiếu các phương tiện phục vụ cho quá trình vận chuyển, bảo

quản, chế biến nông sản (contener và kho tàng, kho lạnh, máy sấy ); không

phù hợp về trình độ chuyên môn và thiếu kinh nghiệm tổ chức, quản lý

Tổn thất STH ở các nước, các vùng khác nhau chênh lệch nhau rấtlớn Mức độ tổn thất STH ở những nước chậm phát triển thường cao hơnnhiều so với các nước phát triển Các nước ở vùng ôn đới hoặc lạnh có tổnthất STH nhỏ hơn các nước ở vùng nhiệt đới nóng ẩm

1.1.2 Công nghệ sau thu hoạch

1.1.2.1 Công nghệ

Công nghệ được hiểu là hệ thống các công cụ, các phương tiện và cácgiải pháp nhằm biến đổi nguồn lực thành sản phẩm và dịch vụ phục vụ chonhu cầu của con người [54]

Công nghệ bao gồm bốn thành phần chủ yếu sau:

Trang 11

- Phần kỹ thuật: Bao gồm máy móc, thiết bị Nó giúp cho việc tăng

năng lực cơ bắp và tăng trí lực của con người Phần kỹ thuật được coi là

"xương sống" của hoạt động chuyển đổi nguồn lực

- Phần con người: Bao gồm đội ngũ nhân lực để vận hành, điều khiển

và quản lý dây chuyền thiết bị

- Phần thông tin: Bao gồm tư liệu, bản thuyết minh, tài liệu chỉ dẫn, bí quyết (Know how)…

- Phần tổ chức quản lý: Bao gồm việc điều phối, quản lý, tiếp thị… có

liên quan đến nhiệm vụ liên kết các thành phần trên

Các thành phần của công nghệ có mối liên hệ qua lại chặt chẽ vớinhau và được thể hiện qua sơ đồ 1.2

Sơ đồ 1.2: Mối quan hệ giữa các thành phần của công nghệ

Nguồn: Hồ Xuân Phương (1996), Đầu tư phát triển sự nghiệp khoa học - công nghệ của đất nước, tài chính trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, Viện Nghiên cứu Tài chính, Hà Nội.

Các hoạt động chủ yếu của KH-CN bao gồm:

Trang 12

- Nghiên cứu cơ bản: Là hoạt động tư duy sáng tạo của con người

nhằm phát hiện ra bản chất và tính quy luật của các hiện tượng tự nhiên và xãhội Kết quả của nghiên cứu cơ bản thường mang tính lý thuyết và chưa ápdụng được vào thực tế

- Nghiên cứu ứng dụng: Là sử dụng kết quả của nghiên cứu cơ bản để

tạo ra các công nghệ và các sản phẩm mới

- Phát triển công nghệ: Là sử dụng kết quả của nghiên cứu ứng dụng

nhằm hoàn thiện công nghệ hoặc sản phẩm mới Phát triển công nghệ gồm:

triển khai thực nghiệm (ứng dụng kết quả nghiên cứu để tạo ra công nghệ hoặc sản phẩm mới) và sản xuất thử nghiệm (ứng dụng kết quả triển khai thực nghiệm để sản xuất thử ở quy mô nhỏ nhằm hoàn thiện công nghệ, sản phẩm mới).

- Phổ biến và nhân rộng: Là một số hoạt động về dịch vụ KH-CN như

thông tin, tư vấn, đào tạo, phổ biến, ứng dụng, chuyển giao công nghệ [28, tr 19-20].Các hoạt động trên có quan hệ chặt chẽ và đan xen lẫn nhau trong quá trìnhphát triển của KH-CN

1.1.2.2 Công nghệ sau thu hoạch

Công nghệ sau thu hoạch là các giải pháp nhằm giải quyếtcác vấn đề thuộc các hoạt động thu hoạch, các hoạt động trước bảo

quản (đập, phơi sấy, làm sạch, phân loại, thu mua, vận chuyển), các

hoạt động trong quá trình bảo quản, chế biến, hoạt động kiểm traquản lý chất lượng và tiêu chuẩn hóa nông sản cũng như các hoạtđộng mang tính chất kinh tế và xã hội của giai đoạn sau thu hoạch[9, tr 60]

Như vậy, CNSTH bao gồm các công nghệ gắn liền với các khâu của

hệ thống STH Đó là một từ ghép của hai mảng gắn kết chặt chẽ với nhau là

công nghệ và STH Là công nghệ nên CNSTH cũng bao gồm bốn bộ phận

Trang 13

cấu thành là kỹ thuật, con người, thông tin và quản lý Thuộc hệ thống STHnên CNSTH gắn chặt chẽ với nông nghiệp và việc cung ứng nông sản

Trong dây chuyền cung ứng nông sản, tương ứng với hai giai đoạntrước thu hoạch và sau thu hoạch là công nghệ trước thu hoạch và côngnghệ sau thu hoạch Vì mỗi loại nông sản có những hoạt động STH khácnhau nên CNSTH cũng khác nhau tùy thuộc vào từng loại nông sản và đặcđiểm cụ thể của từng nước, từng vùng Song nhìn chung, CNSTH bao gồmcác công nghệ sau:

Sơ đồ 1.3: Giai đoạn sau thu hoạch và công nghệ sau thu hoạch

CNSTH có nhiệm vụ giải quyết các vấn đề thuộc hệ thống STH Mụcđích của CNSTH là giảm tổn thất STH, tăng chất lượng, tăng giá trị nông sản

và đa dạng hóa sản phẩm Ngoài ra, CNSTH còn liên quan đến nhiều vấn đề

Công nghệ thu hoạch

Công nghệ

sơ chế

Công nghệ bảo quản

Công nghệ chế biến

Công nghệ vận chuyển

Công nghệ tiếp thị

Giai đoạn sau thu hoạch Nông sản phẩm

cho tiêu dùng

Trang 14

như: an ninh lương thực, an toàn thực phẩm, bảo vệ môi trường, xóa đói giảmnghèo, tăng trưởng kinh tế và góp phần giải quyết một số vấn đề xã hội.

Để chuyển giao CNSTH một cách có hiệu quả cần phải áp dụng mô

hình lấy người tiếp nhận công nghệ làm trung tâm Mô hình này phản ánh

mối quan hệ khép kín hai chiều Người tiếp nhận công nghệ cũng đồng thời làngười đề xuất công nghệ Các nhà khoa học cùng với người tiếp nhận côngnghệ sẽ tham gia vào việc xác định và đưa ra các CNSTH khả thi cho vấn đềphát sinh Nếu cần phải có sự thay đổi trong hệ thống các quy định hiện hànhthì các nhà kỹ thuật, nhà kinh tế, nhà khoa học và nhà hoạch định chính sáchcùng phối hợp để lựa chọn CNSTH tốt nhất áp dụng trong thực tế Sau đó,CNSTH được kiểm nghiệm để tiếp tục hoàn thiện khi điều kiện thực tế có sựthay đổi Sau khi đưa CNSTH vào ứng dụng, cần xem xét sự phản hồi củanhững người tiếp nhận công nghệ để sửa đổi cho phù hợp với điều kiện thực tếcủa từng địa phương và triển khai áp dụng rộng rãi

Sơ đồ 1.4: Mô hình lấy người tiếp nhận công nghệ làm trung tâm

Nguồn: Regional workshop on farm storage, p 64-65.

Với mô hình này, việc chuyển giao và áp dụng công nghệ bắt đầu vàkết thúc với những người sẽ sử dụng công nghệ đó Những người đầu tư công

4 Đánh giá của người

tiếp nhận CNSTH v à được chỉ ra một

triển khai áp dụng rộng

rãi

- Người tiếp nhận CNSTH

- Vấn đề phát sinh

1 - Phán đoán của các

nh nghiên c à được chỉ ra một ứu

- Người tiếp nhận CNSTH phân tích tình huống

CNSTH phù hợp nhất cho

vấn đề phát sinh

- Người tiếp nhận v các à được chỉ ra một

nh nghiên c à được chỉ ra một ứu CNSTH

- Kiến thức v v à được chỉ ra một ấn đề cần giải quyết

Các CNSTH khả thi cho vấn đề phát sinh

3 Áp dụng v kià được chỉ ra một ểm

nghiệm CNSTH

2 Tìm kiếm CNSTH phù

hợp: Nhóm nghiên cứu gồm người tiếp nhận công nghệ v các nh khoa h à được chỉ ra một à được chỉ ra một ọc của các lĩnh vực liên quan

Trang 15

nghệ sẽ tránh được rủi ro đầu tư vào CNSTH không thích hợp Xác định theocách này, CNSTH tạo ra sẽ áp dụng được vào thực tế và đem lại lợi ích chotất cả những người liên quan đến hoạt động STH

1.1.3 Tính tất yếu của công nghệ sau thu hoạch

Một là: Do đặc điểm của sản xuất nông nghiệp

Khác với sản xuất công nghiệp, sản xuất nông nghiệp mang tính mùa

vụ rất cao Do tính thời vụ nên đến vụ thu hoạch, cung lớn hơn cầu về nôngsản rất nhiều Để kéo dài thời gian cung ứng của nông sản nhằm hạn chế tínhmùa vụ của sản xuất nông nghiệp, nông sản phải được xử lý bằng CNSTH

Hơn nữa, một số nông sản không thể sử dụng trực tiếp được mà phảithông qua khâu chế biến như cà phê hạt phải phơi, sấy, rang, xay mới sử dụngđược Mủ cao su tươi phải chế biến thành các sản phẩm mới tiêu thụ đượctrên thị trường Vì vậy, cần phải có công nghệ chế biến để chuyển nông sảnthô thành các sản phẩm phục vụ cho nhu cầu đa dạng của sản xuất và tiêudùng

Ngoài ra, sản phẩm của nông nghiệp vừa là sản phẩm thiết yếu cho con

người (lương thực, thực phẩm), vừa là đầu vào (giống cây) cho chu kỳ sản xuất tiếp theo hoặc đầu vào (nguyên liệu) cho công nghiệp chế biến Vì vậy,

phải có một giai đoạn kế tiếp từ vụ này sang vụ sau trong quá trình tái sảnxuất Trong giai đoạn này, việc bảo quản sản phẩm STH là một tất yếu kháchquan

Hai là: Do đặc tính tự nhiên của sản phẩm nông nghiệp dễ dẫn đến tổn thất sau thu hoạch cao

Sản phẩm nông nghiệp có đặc tính tự nhiên là tươi sống, có hàmlượng nước cao Với sự tác động của môi trường xung quanh như độ ẩm vànhiệt độ cao, nông sản rất dễ bị tổn thất nếu không có công nghệ bảo quảnhoặc chế biến phù hợp

Trang 16

Theo thống kê của Liên hợp quốc, mỗi năm trung bình thiệt hại củathế giới về lương thực chiếm từ 15 - 20% tổng giá trị sản lượng Tương đươngvới 130 tỉ USD, đủ nuôi sống được 200 triệu người trong một năm [48, tr 6-7].

Đối với nước ta, tổn thất STH cũng rất lớn Tính trung bình đối vớilương thực tổn thất STH là 12%, cây có củ là 20%, rau quả từ 20 - 40% [27,

tr 233]

Tổn thất về chất lượng nông sản do nấm mốc, vi sinh vật phá hoạicũng là mối quan tâm rất lớn cho xã hội Loại tổn thất này không những làmgiảm giá trị nông sản mà còn ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe của conngười và vật nuôi Theo nghiên cứu của một chuyên gia người Úc, thiệt hại doviệc nhiễm độc tố nấm Aflatoxin đối với ngô, lạc ở ba nước: Inđônêsia, Thái

Lan và Philippin là 476,8 triệu AU $ cho cả người, vật nuôi (phụ lục 2).

Trong đó, tổn thất ảnh hưởng đến sức khỏe con người là 176,5 triệu AU $ [16,

tr 5] Vì vậy, phát triển CNSTH trở nên một yêu cầu hết sức bức xúc nhằm

nhanh chóng khắc phục tình trạng "mất mùa trong nhà" và sử dụng nguồn lực

có hiệu quả trong toàn bộ dây chuyền cung ứng nông sản

Ba là: Do nhu cầu phong phú, đa dạng của người tiêu dùng và xã hội

Nhu cầu của người tiêu dùng và xã hội rất phong phú và ngày càngphức tạp Hiện nay, yêu cầu của người tiêu dùng đối với nông sản là:

- Đảm bảo các tiêu chuẩn thương phẩm như độ tươi nguyên, chất dinhdưỡng, chất lượng và thuận tiện cho bữa ăn như thực phẩm chế biến nhanh

- Đảm bảo các tiêu chuẩn về sức khỏe như vệ sinh, an toàn thực phẩm

Trang 17

Để đáp ứng được các yêu cầu trên phải áp dụng CNSTH, đặc biệt làcông nghệ chế biến Công nghệ chế biến có khả năng biến đổi một loạinguyên liệu nông sản thành nhiều loại hàng hóa theo ý muốn Hơn nữa,CNSTH còn cho phép sản xuất ra các sản phẩm mới mà nông sản nguyênliệu bị hạn chế.

Đối với Việt Nam, yêu cầu phát triển CNSTH càng trở nên cấp thiếthơn vì Việt Nam đang chuyển dần từ một nền nông nghiệp tự cung tự cấpsang một nền nông nghiệp hàng hóa Trong nền kinh tế tự cung tự cấp, sốlượng nông sản dư thừa không đáng kể nên vấn đề CNSTH ít được đặt ra.Song với nền nông nghiệp hàng hóa, khối lượng nông sản tạo ra rất lớn,nếu không được bảo quản, sơ chế kịp thời tổn thất sẽ rất cao Bên cạnh đó,

sự phát triển mạnh mẽ của KH-CN đã làm thay đổi cơ bản mức độ và bảnchất của cạnh tranh trên thế giới Việt Nam ngày càng mất dần lợi thế sosánh truyền thống như lao động giản đơn và tài nguyên thiên nhiên Điềunày đã đặt Việt Nam trước những thử thách to lớn trong cuộc chiến khôngcân sức với các nước kinh tế phát triển Vì vậy, để có thể đứng vững trongcuộc cạnh tranh khốc liệt này, Việt Nam phải nhanh chóng phát triểnCNSTH

1.1.4 Đặc điểm của công nghệ sau thu hoạch

CNSTH là công nghệ của các khâu STH nên nó vừa mang những đặcđiểm chung của KH-CN vừa mang những đặc điểm riêng gắn với sản xuất vàtiêu thụ nông sản

1.1.4.1 Đặc điểm chung

- Hoạt động của KH-CN mang tính rủi ro cao

Hoạt động KH-CN là quá trình đi tìm những cái mới nên rất khó dự đoánđược kết quả nghiên cứu Xác suất thất bại của hoạt động nghiên cứu KH-CNtương đối cao Theo số liệu của tổ chức UNESCO thì tỷ lệ thành công hay thấtbại đối với hoạt động KH-CN như sau:

Trang 18

Bảng 1.1: T l th nh công v th t b i c a ho t ỷ lệ thành công và thất bại của hoạt động khoa học - công ệ thành công và thất bại của hoạt động khoa học - công à được chỉ ra một à được chỉ ra một ất bại của hoạt động khoa học - công ạn STH bao gồm nhiều khâu và được chỉ ra một ủa hoạt động khoa học - công ạn STH bao gồm nhiều khâu và được chỉ ra một đoạn STH bao gồm nhiều khâu và được chỉ ra mộtộtng khoa h c - côngọc - công

nghệ thành công và thất bại của hoạt động khoa học - công

Hoạt động KH-CN Tỷ lệ thành công (%) Tỷ lệ thất bại (%)

Nguồn: Bộ Khoa học Công nghệ và Môi trường (1997), Chuyên đề quản lý KH-CN, Hà Nội, tr 3.

Đặc điểm này làm cho tư nhân ít muốn đầu tư vào lĩnh vực KH-CN

- Sản phẩm của KH-CN đòi hỏi phải đầu tư một nguồn lực lớn vớithời gian dài

Để có được một công nghệ mới cần có các trang thiết bị hiện đại vàtiến hành trong một thời gian dài với nguồn nhân lực có trình độ cao Nhữngkhoản đầu tư lớn này tư nhân thường khó có khả năng đảm nhiệm được

- Sản phẩm của KH-CN mang nặng tính chất của hàng hóa công cộng.Hàng hóa công cộng có hai đặc tính là không cạnh tranh và không loại trừ.Tính không cạnh tranh được thể hiện thông qua việc người này tiêudùng không ảnh hưởng đến tiêu dùng của người khác

Tính không loại trừ được thể hiện thông qua việc rất khó hoặc khôngthể loại trừ người tiêu dùng được hưởng những thành quả mà KH-CN đã tạo

ra Vì không loại trừ được người tiêu dùng ra khỏi việc sử dụng các thànhquả đó nên rất khó buộc họ phải trả tiền cho việc tiêu dùng Kết quả là xuất

hiện tình trạng "người ăn theo" Đó là những người tiêu dùng các hàng hóa

phải tốn kém mới tạo ra mà không phải trả tiền cho các hàng hóa đó Các

Trang 19

nghiên cứu STH mang nặng tính chất của hàng hóa công cộng có nghĩa làkhu vực tư nhân sẽ không cung cấp đủ loại hàng hóa này vì rất khó thu hồiđược vốn bỏ ra Do đó, đối với lĩnh vực KH-CN, hơn bao giờ hết, vai trò củaNhà nước rất quan trọng

1.4.1.2 Đặc điểm riêng

Ngoài những đặc điểm chung, CNSTH còn có một số nét đặc thù sau:

Thứ nhất: CNSTH không làm tăng số lượng sản phẩm sản xuất ra.

Các công nghệ trước thu hoạch đều nhằm mục đích tăng năng suất laođộng để tăng số lượng sản phẩm sản xuất ra CNSTH khác với các loại côngnghệ khác là không có khả năng làm tăng lượng nông sản cao hơn so với sốnông sản đã tạo ra Áp dụng CNSTH không làm tăng số lượng mà chỉ nhằmgiữ gìn số lượng nông sản đã tạo ra Vì vậy, khó nhìn thấy một cách rõ ràngkết quả của việc áp dụng CNSTH trong toàn bộ hệ thống STH

Mặt khác, trong sản xuất nông nghiệp, khâu sản xuất và khâu tiêuthụ gắn kết chặt chẽ với nhau nên khó có thể bóc tách kết quả một cách cụthể cho từng khâu Do hiệu quả kinh tế của việc áp dụng CNSTH khôngđược nhìn thấy một cách rõ ràng trong từng khâu cũng như trong toàn bộ

hệ thống STH nên nhiều cấp, nhiều ngành và người dân chưa có sự quantâm đúng mức đến đầu tư phát triển CNSTH Từ đặc điểm này cho thấy,muốn phát triển CNSTH cần phải làm cho mọi người nhận thức rõ đượctầm quan trọng của CNSTH Từ đó có các chính sách đầu tư thỏa đáng đốivới CNSTH

Thứ hai: CNSTH bao gồm nhiều loại hình công nghệ khác nhau và rất

đa dạng

CNSTH không phải là một công nghệ riêng biệt mà là một tập hợp cáccông nghệ kết hợp với nhau như công nghệ sinh học, công nghệ vật lý, côngnghệ hóa học Từ đặc điểm này cho thấy:

Trang 20

- CNSTH được hình thành cho tất cả các quy mô nhỏ, vừa, lớn Do đóđầu tư vào CNSTH có thể theo nhiều mức khác nhau từ nhỏ đến lớn.

- CNSTH phải phù hợp với từng nông sản cũng như điều kiện cụ thể củatừng thị trường Do tính đa dạng của nguồn nguyên liệu và nhu cầu nhiều vẻ củacác thị trường nên CNSTH cũng mang tính chất đa dạng và phong phú Vìvậy, không thể có một CNSTH chung cho tất cả các loại nông sản Thậm chí,không thể áp dụng cùng một CNSTH cho một loại nông sản ở các điều kiệnkhác nhau Từ đặc điểm này cho thấy các chính sách hỗ trợ của Nhà nước choCNSTH cũng phải linh hoạt theo yêu cầu của từng loại nông sản và từng thịtrường

- CNSTH rất đa dạng và phong phú Nó có thể bao gồm từ những côngnghệ cổ truyền rất đơn giản đến những công nghệ tiên tiến hiện đại Vì vậy, cóthể phát triển CNSTH tuần tự từ đơn giản đến hiện đại, đồng thời có thể pháttriển theo hướng đi tắt đón đầu thẳng đến các công nghệ hiện đại Với đặc điểmnày, đầu tư cho CNSTH có thể huy động từ nhiều nguồn khác nhau Đối vớicác công nghệ đơn giản, cổ truyền yêu cầu vốn thấp, vốn đầu tư có thể huyđộng từ nông dân, nội bộ ngành nông nghiệp và các ngành khác Đối với cáccông nghệ hiện đại cần nhiều vốn, phải có sự đầu tư của Nhà nước và sự hỗ trợcủa các nguồn vốn nước ngoài Vì vậy, các chính sách tài chính đối vớiCNSTH cũng phải có sự phân cấp rõ ràng về chủ thể đầu tư để giảm bớt gánhnặng cho ngân sách và huy động được tối đa nguồn lực của toàn xã hội chophát triển CNSTH

Thứ ba: CNSTH gắn với vấn đề vệ sinh và an toàn thực phẩm

Sản phẩm của CNSTH chủ yếu là lương thực, thực phẩm Đó là nhữnghàng hóa đặc biệt vì nó ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe của con người và sựtrường tồn của nòi giống Do phải trải qua nhiều khâu từ người sản xuất đầu tiênđến người chế biến đóng gói, vận chuyển, bảo quản, tiếp thị nên vấn đề nhiễm

độc nông sản cần phải được chú ý ở tất cả các khâu của hệ thống STH (phụ lục 3).

Trang 21

Nền kinh tế càng phát triển, thu nhập của người tiêu dùng càng cao thìđòi hỏi về sản phẩm sạch ngày càng tăng Bên cạnh đó, vấn đề vệ sinh và antoàn thực phẩm còn là điều kiện tiên quyết để sản phẩm nông nghiệp có thểtham gia vào thương mại quốc tế Đây còn là một trong những lợi thế để pháttriển xuất khẩu nông sản và thâm nhập vào các thị trường lớn, khó tính Vìvậy, chính sách tài chính phải có các quy định cụ thể nhằm khuyến khíchnâng cao chất lượng vệ sinh và an toàn thực phẩm.

Thứ tư: Đầu tư cho CNSTH có rủi ro cao, khả năng thu hồi vốn thấp.

Khác với các ngành sản xuất vật chất khác, nông nghiệp là ngànhsản xuất sinh học và phụ thuộc rất lớn vào điều kiện tự nhiên Chu kỳ sảnxuất của cây trồng khá phức tạp, có độ dài về mặt thời gian rất khác nhau.Ngoài ra, tính thời vụ của sản xuất nông nghiệp làm cho sự chu chuyển củavốn chậm chạp nên phải dự trữ vốn trong một thời gian tương đối dài Tínhthời vụ trong sản xuất nông nghiệp còn dẫn đến tình trạng hệ số sử dụngmáy móc thiết bị trong các khâu STH thấp, nhất là đối với hai khâu bảoquản và chế biến nông sản Để khuyến khích các chủ đầu tư trong và ngoàinước tăng cường đầu tư vào CNSTH, chính sách thuế và tín dụng cần có sự

ưu đãi thỏa đáng Đồng thời có sự hỗ trợ và định hướng của vốn NSNN chocác khâu quan trọng trong hệ thống STH

Thứ năm: CNSTH liên kết lợi ích của nhiều chủ thể kinh tế

Có rất nhiều chủ thể tham gia vào hệ thống STH như nông dân, nhàkhoa học, doanh nghiệp, người tiêu dùng, Nhà nước Trong đó lợi ích củacác bên có mối quan hệ qua lại chặt chẽ với nhau thông qua việc phát triển hệ thống STH

Áp dụng CNSTH, người nông dân sẽ tăng thêm thu nhập do giá trị,chất lượng và giá cả của nông sản nguyên liệu được nâng cao Các doanh

nghiệp thu được nhiều lợi nhuận hơn nhờ có nguồn nguyên liệu với chất lượng tốt để tạo ra các sản phẩm có giá trị và giá trị sử dụng cao Các nhà

Trang 22

khoa học có thêm thu nhập nhờ áp dụng các đề tài nghiên cứu về CNSTH vào

thực tế và cung cấp các các dịch vụ kỹ thuật cho các chủ thể của hệ thống

STH Người tiêu dùng có được các sản phẩm với chất lượng cao và đa dạng

hơn Nhà nước có thể giảm bớt chi ngân sách hỗ trợ trong trường hợp nông

sản bị "rớt giá" vì khi xử lý qua CNSTH, nông sản có thể được bảo quản lâu

hơn, chất lượng và giá cả cao hơn

Từ đặc điểm này cho thấy để thúc đẩy sự liên kết trong hệ thống STH,các chính sách tài chính phải thúc đẩy việc huy động sự đóng góp của tất cảcác chủ thể kinh tế có liên quan Trên cơ sở đó, gắn kết lợi ích của từng chủthể với lợi ích chung của toàn bộ hệ thống STH và của đất nước

1.1.5 Các nhân tố tác động đến công nghệ sau thu hoạch

CNSTH chịu tác động của rất nhiều các nhân tố khác nhau Có thểchia tất cả các nhân tố thành 4 nhóm chủ yếu sau:

1.1.5.1 Nhóm nhân tố liên quan đến đầu vào

Nhóm nhân tố này bao gồm nguồn lực tự nhiên, nguồn nhân lực vànguồn vốn

Một là: Nguồn lực tự nhiên.

Hiểu theo nghĩa rộng nguồn lực tự nhiên bao gồm cả điều kiện tự nhiên

(thời tiết khí hậu) và tài nguyên thiên nhiên.

- Điều kiện tự nhiên: Đầu vào của CNSTH là các loại nông sản Do

nguyên liệu cung ứng cho CNSTH là những sản phẩm hữu cơ nên phụ thuộcrất lớn vào tính chất sinh học và điều kiện thời tiết, khí hậu Khi xảy ra thiêntai, mất mùa, nguyên liệu nông sản không đủ cung ứng, chất lượng giảm dẫnđến số ngày hoạt động của CNSTH trong một năm thấp, hiệu quả không cao

Đối với các doanh nghiệp chế biến nông sản nếu việc dự trữ, bảo quảnkhông đáp ứng được yêu cầu sẽ gây ra chậm trễ trong sản xuất hoặc không sửdụng hết công suất của máy móc thiết bị Ngoài ra, sự đa dạng về thời tiết khí

Trang 23

hậu đòi hỏi công nghệ bảo quản và chế biến khác nhau không những đối vớicác nông sản khác nhau mà còn khác nhau đối với cùng một loại nông sản

- Tài nguyên thiên nhiên: Đất đai màu mỡ, đa dạng sẽ góp phần vào

việc tăng năng suất cây trồng, tạo ra các nông đặc sản riêng có của từng vùng,từng nước Đây là một nguồn nguyên liệu tốt, tạo điều kiện cho CNSTH pháttriển

Hai là: Nguồn nhân lực

Chất lượng của nguồn nhân lực là nhân tố quan trọng đối với quá trìnhphát triển của CNSTH nói riêng và của toàn bộ nền kinh tế nói chung Sự tăngtrưởng và phát triển của CNSTH không phải do tổng lượng lao động quyếtđịnh mà chủ yếu do hàm lượng lao động trí tuệ so với lao động giản đơnchiếm trong tổng lượng lao động quyết định

Khi phân tích nền kinh tế Đông Á thời kỳ 1969 - 1985, người ta rút rakết luận: 60% tốc độ tăng trưởng của các nước này là do sự đóng góp của vốnvật chất và vốn con người Trong số 60% đó, vốn vật chất chỉ chiếm từ 35 - 49%còn lại 51 - 65% là đóng góp của vốn con người [49, tr 30-31]

Ba là: Nguồn vốn.

Vốn có tác động rất quan trọng đối với việc phát triển CNSTH Nhucầu về vốn để phát triển CNSTH rất lớn, bao gồm cả vốn bằng tiền và vốn

bằng hiện vật (tài sản hoặc cơ sở hạ tầng kinh tế - kỹ thuật - xã hội) Vốn để

phát triển CNSTH có thể lấy từ các nguồn: vốn NSNN, vốn tín dụng, vốn củacác chủ thể kinh doanh, vốn nhàn rỗi huy động trong dân và vốn nước ngoài.Trong đó nguồn vốn từ NSNN đóng vai trò quyết định đến cơ cấu và phươnghướng đầu tư cho CNSTH

1.1.5.2 Nhóm nhân tố liên quan đến đầu ra

Nhóm này bao gồm thị trường đầu ra và phong tục, tập quán của dân

cư từng vùng

Trang 24

- Thị trường đầu ra

CNSTH chịu tác động rất lớn của giá cả trên thị trường Giá cả cácnông sản đã qua xử lý của CNSTH có tác động mạnh mẽ đến số lượng, chấtlượng, cơ cấu của các loại công nghệ trong hệ thống STH CNSTH khôngthể phát triển được nếu sản phẩm của CNSTH không được thị trường chấpnhận do giá cả cao hoặc sản phẩm không đáp ứng được yêu cầu của ngườitiêu dùng

- Phong tục, tập quán của dân cư từng vùng

Mỗi thị trường tiêu thụ có phong tục, tập quán và thị hiếu tiêu dùngrất khác nhau Ví dụ về gạo: Người Nhật ưa thích loại gạo hạt tròn, dẻo, xayxát thật trắng, tỷ lệ tấm thấp khoảng 5% và yêu cầu về vệ sinh công nghiệp rấtnghiêm ngặt Người Thái Lan ưa thích loại gạo hạt dài, xay xát kỹ và cơm rời.Một số nước ở châu Phi như Ghinê, Xuđăng, Cốtđivoa thích gạo hạt dài hoặctrung bình, tỷ lệ tấm vừa phải từ 10 - 20% [25, tr 90]

Nếu muốn xuất khẩu hàng nông sản vào Pháp thì tối thiểu các doanhnghiệp phải áp dụng một số bộ tiêu chuẩn cơ bản bao gồm tiêu chuẩn chất lượngthực phẩm HACCP; tiêu chuẩn GMP dành cho các nhà máy chế biến; Tiêuchuẩn PRC; SQF 1000 và SQF 2000 dành cho cả quản lý chất lượng, quátrình chế biến lẫn nguồn nguyên liệu phụ [9]

Điều này làm cho CNSTH càng thêm phong phú, phức tạp và luôn đòihỏi phải có sự đầu tư đổi mới công nghệ để đáp ứng được các yêu cầu khácnhau của từng thị trường

1.1.5.3 Nhóm nhân tố liên quan đến các chính sách của Nhà nước

Các chính sách kinh tế hiện hành có tác động rất lớn đến sự phát triểncủa CNSTH thông qua việc tác động đến lợi ích kinh tế của các chủ thể trong

hệ thống STH Hệ thống các chính sách có tác động đến CNSTH bao gồm:chính sách thuế, tín dụng, chi NSNN, chính sách xuất nhập khẩu, chính sáchlưu thông hàng hóa, chính sách phát triển KH-CN, chính sách giá cả Các

Trang 25

chính sách này phù hợp sẽ tạo điều kiện thúc đẩy CNSTH phát triển Ngược lại

sẽ là một lực cản rất lớn đối với sự phát triển của CNSTH

1.1.5.4 Nhóm nhân tố quốc tế

Trong điều kiện hội nhập với kinh tế thế giới hiện nay, các nhân tốquốc tế có tác động rất lớn đến sự phát triển của CNSTH Với các hình thứcđầu tư trực tiếp và gián tiếp của nước ngoài cùng với viện trợ quốc tế sẽ tạo

cơ hội cho Việt Nam có điều kiện tiếp cận với công nghệ hiện đại của thế giới

để đẩy nhanh tốc độ phát triển của CNSTH Song mở cửa thị trường thế giớicũng đồng nghĩa với việc đặt CNSTH của Việt Nam trước sự cạnh tranh gaygắt với CNSTH của các nước tiên tiến trên thế giới

Qua phân tích có thể thấy rằng, CNSTH chịu tác động tổng hợp củarất nhiều các nhân tố: từ các nhân tố tự nhiên đến các nhân tố kinh tế - chínhtrị - xã hội; từ các nhân tố trong nước đến các nhân tố ngoài nước Để thúcđẩy CNSTH phát triển cần phải kết hợp hài hòa và có hiệu quả tác động tổnghợp của tất cả hệ thống các nhân tố trên

1.2 VAI TRÒ CỦA CÔNG NGHỆ SAU THU HOẠCH ĐỐI VỚI SỰ PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP VÀ CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA ĐẤT NƯỚC

1.2.1 Công nghệ sau thu hoạch thúc đẩy quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

CNH, HĐH là một quá trình chuyển đổi từ sử dụng lao động thủ công

là chính sang sử dụng sức lao động kết hợp cùng với công nghệ, phương tiện vàphương pháp tiên tiến, hiện đại để tạo ra năng suất lao động xã hội cao

Nghị quyết Hội nghị lần thứ 5 Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa IX

đã nêu rõ:

Công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp là quá trình chuyểndịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa lớn,gắn với công nghiệp chế biến và thị trường, thực hiện cơ khí hóa,

Trang 26

điện khí hóa, thủy lợi hóa, ứng dụng các thành tựu khoa học - côngnghệ, trước hết là công nghệ sinh học, đưa tiến bộ kỹ thuật và côngnghệ hiện đại vào các khâu sản xuất nông nghiệp nhằm nâng caonăng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh của nông sảnhàng hóa trên thị trường [30].

Đây là quá trình chuyển dịch lao động từ ngành nông nghiệp sang cácngành phi nông nghiệp, quá trình chuyển từ sản xuất nông nghiệp là chínhsang phát triển công nghiệp và chuyển một bộ phận lớn nông dân thành côngnhân nông nghiệp Trong quá trình này, KH-CN nói chung và CNSTH nóiriêng có vai trò đặc biệt quan trọng Thể hiện ở những mặt sau:

1.2.1.1 Công nghệ sau thu hoạch góp phần tạo ra phong cách công nghiệp trong nông nghiệp

Với tính chất công nghiệp trong các hoạt động STH, quá trình đưa CNSTH vào khu vực nông thôn sẽ là nhân tố thúc đẩy nông nghiệp phát triểntheo hướng CNH, HĐH Để đáp ứng yêu cầu về nguyên liệu cho công nghệchế biến, ngành nông nghiệp phải phát triển theo hướng tập trung, chuyêncanh, thâm canh có năng suất cao, tỷ suất hàng hóa lớn và hiệu quả kinh tếcao CNSTH gắn chặt chẽ với nhiều ngành nghề ở nông thôn như công nghiệp

cơ khí, công nghiệp chế biến, dịch vụ tiêu thụ Ngoài ra, những quy địnhchặt chẽ về tiêu chuẩn kỹ thuật của CNSTH buộc người nông dân phải thayđổi cách nghĩ, cách làm theo hướng công nghiệp hóa, tạo ra phong cách côngnghiệp cho người lao động

1.2.1.2 Công nghệ sau thu hoạch góp phần điều chỉnh hợp lý cơ cấu kinh tế

Sự phát triển của CNSTH không chỉ thúc đẩy bản thân ngành nôngnghiệp phát triển mà còn kéo theo nhiều ngành kinh tế khác cùng phát triển

như: xây dựng (bao gồm xây dựng cơ sở hạ tầng, đường sá, kho tàng, bến

Trang 27

bãi…); công nghiệp (công nghiệp chế tạo máy móc thiết bị phục vụ cho hệ thống STH, công nghiệp chế biến…); dịch vụ (tài chính ngân hàng, vận tải, tiêu thụ sản phẩm, quảng cáo, thông tin liên lạc …) Phát triển CNSTH sẽ thúc

đẩy nhanh sự phát triển của công nghiệp, dịch vụ nông thôn, góp phần chuyểndịch cơ cấu kinh tế và đẩy nhanh tốc độ CNH, HĐH các ngành kinh tế khác

Trong quá trình CNH, HĐH đất nước, khu vực nông nghiệp có xuhướng bị thu hẹp dẫn đến lực lượng lao động nông nghiệp dôi dư Phát triển

cơ sở sơ chế, bảo quản và chế biến nông sản sẽ tạo ra nhiều công ăn việc làm,tăng thu nhập cho nông dân ngay cả khi khu vực nông thôn bị thu hẹp Đây lànguồn thu nhập nông nghiệp thay thế nhằm hạn chế luồng di dân từ nông thôn

ra thành thị, góp phần vào việc điều chỉnh lại cơ cấu lao động một cách hợp lý

1.2.1.3 Công nghệ sau thu hoạch góp phần tăng thu ngoại tệ cho đất nước

Đối với các nước kinh tế kém phát triển, nguồn thu ngoại tệ để tiếnhành CNH, HĐH đất nước chủ yếu dựa vào xuất khẩu nông sản Song xuấtkhẩu nguyên liệu thô đem lại hiệu quả kinh tế rất thấp Phát triển CNSTH làcách làm tối ưu để nâng cao hiệu quả xuất khẩu nông sản Phát triển CNSTH

sẽ huy động được nhiều nguồn vốn (vốn trong dân, vốn liên doanh, liên kết, vốn nước ngoài…) để bảo quản và chế biến nông sản, phát huy được lợi thế

về tài nguyên và lao động, thúc đẩy xuất khẩu, tăng thu ngoại tệ cho đất nước

Ngoài ra, CNSTH còn góp phần quan trọng tăng cường tiềm lực khoahọc công nghệ quốc gia để nâng cao sức cạnh tranh của hàng nông sản trên thịtrường thế giới CNSTH không chỉ góp phần bảo vệ thị trường trong nước màcòn tạo điều kiện mở rộng thị trường quốc tế

1.2.2 Công nghệ sau thu hoạch là yếu tố thúc đẩy nông nghiệp phát triển theo hướng sản xuất hàng hóa lớn

CNSTH góp phần gắn kết giữa nguyên liệu với thị trường, giữa sảnxuất với tiêu dùng Thể hiện:

Trang 28

- CNSTH định hướng đầu vào cho sản xuất nông nghiệp

CNSTH có tác động quan trọng đối với khâu trước thu hoạch nhưđịnh hướng phát triển vùng nguyên liệu cả về quy mô, cơ cấu và chất lượngnhằm phát triển nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa Đặc biệt đốivới những cây đặc sản, CNSTH thúc đẩy hình thành những vùng nguyênliệu tập trung quy mô lớn, dựa trên lợi thế so sánh tương đối và tuyệt đốicủa từng vùng

- CNSTH khai thông đầu ra cho sản xuất nông nghiệp

CNSTH được coi như đầu ra, cửa mở cho sản xuất nông nghiệp cótính hàng hóa CNSTH góp phần khai thông những ách tắc thường xảy ratrong sản xuất nông nghiệp như dư cung, ứ đọng không tiêu thụ kịp nông sảntrong thời vụ thu hoạch Nhờ có CNSTH, nông sản được tạo ra trong khâu sảnxuất trở thành nông sản hàng hóa phục vụ cho khâu tiêu dùng Có thể mô tảmối quan hệ đó bằng sơ đồ 1.5

Sơ đồ 1.5: Công nghệ sau thu hoạch liên kết giữa sản xuất và tiêu dùng

Không có CNSTH, thị trường nông sản sẽ bị thu hẹp một mặt do nôngsản có thời gian bảo quản ngắn, mặt khác do sản phẩm dưới dạng thô khôngthể đáp ứng được yêu cầu đa dạng và phong phú của người tiêu dùng

1.2.3 Công nghệ sau thu hoạch là phương tiện để tối đa hóa hiệu quả sử dụng nông sản

Khi nói đến hiệu quả của CNSTH, cần phân biệt rõ giữa sản lượng sảnxuất và sản lượng tiêu dùng nông sản

Trang 29

Trước thu hoạch, có thể tối đa hóa hiệu quả sản xuất (tăng sản lượng sản xuất) bằng cách áp dụng các tiến bộ KH-CN để tạo ra các cây trồng, vật

nuôi có năng suất cao, tăng khả năng thích nghi với môi trường

Sau thu hoạch, có thể tối đa hóa hiệu quả tiêu dùng nông sản (tăng sản lượng tiêu dùng) bằng cách áp dụng CNSTH

Sự chênh lệch giữa sản lượng sản xuất và sản lượng tiêu dùng chính làsản lượng bị tổn thất sau thu hoạch Giảm tổn thất STH cũng đồng nghĩa vớităng sản lượng cho tiêu dùng và xuất khẩu Hơn nữa, giảm tổn thất STH đòi hỏi

ít nguồn lực hơn, hiệu quả kinh tế hơn và ít gây áp lực cho môi trường hơn sovới việc tăng sản xuất để bù đắp cho tổn thất STH Người ta dự tính rằng tổngchi phí về năng lượng để thực hiện bảo quản nông sản chỉ vào khoảng 1% chiphí năng lượng của việc sản xuất ra số nông sản đó

1.2.4 Công nghệ sau thu hoạch góp phần cân đối cung cầu về nông sản

Sản xuất và thu hoạch nông sản theo từng thời vụ nhất định nhưng tiêudùng quanh năm Ngoài ra, sản xuất nông nghiệp còn mang tính vùng và khuvực rất rõ rệt Đặc điểm này của sản xuất nông nghiệp thường dẫn đến tìnhtrạng cung cầu về nông sản mất cân đối cả về không gian và thời gian

Về thời gian: Các loại nông sản thường dư cung vào thời kỳ thu hoạch

và dư cầu vào các thời kỳ khác trong năm Khi hết thời vụ, nông sản thườngkhan hiếm và giá cả tăng cao Trong khi đó, ở thời kỳ thu hoạch, nông sảnkhông tiêu thụ được hoặc phải bán với giá rất thấp

Về không gian: Thường xảy ra dư cung ở những vùng sản xuất ra một

số loại nông đặc sản nào đó và dư cầu ở các vùng khác

Phát triển công nghệ bảo quản và chế biến góp phần khắc phục được tính chất mùa vụ đối với sản xuất nông nghiệp và tạo điều kiện cân đối cungcầu về nông sản trên thị trường cả về không gian và thời gian

Trang 30

1.2.5 Công nghệ sau thu hoạch làm giảm tổn thất sau thu hoạch

và tăng khả năng cạnh tranh của nông sản

Phát triển CNSTH sẽ làm giảm bớt hiện tượng "mất mùa trong nhà".

Đồng thời góp phần tích cực vào việc duy trì và nâng cao chất lượng nôngsản Nền kinh tế thị trường càng phát triển, CNSTH càng đóng vai trò quantrọng trong việc làm tăng giá trị của nông sản Theo báo cáo của một việnnghiên cứu ở Mỹ, đầu thế kỷ 20 trong 100 USD người tiêu dùng mua lươngthực, thực phẩm có 60 USD do người nông dân tạo ra ở khâu sản xuất và 40USD do CNSTH tạo ra ở khâu STH Nhưng đến cuối thế kỷ 20, tỷ lệ này đãthay đổi ngược lại, chỉ có 22 USD do người nông dân tạo ra còn 78 USD là

do CNSTH tạo ra Như vậy, CNSTH đã làm tăng giá trị nông sản lên gấp gầnbốn lần so với giá trị sản phẩm sản xuất ra ban đầu [56, tr 1]

Trên thị trường quốc tế, sản phẩm thô phải chịu nhiều thiệt thòi và bấtbình đẳng như giá bán thấp, không ổn định, tài nguyên bị cạn kiệt, môi trường bị ônhiễm, hệ sinh thái bị mất cân bằng Muốn giành quyền chủ động trên thị trườngquốc tế phải xuất khẩu các sản phẩm đã được xử lý qua CNSTH Hơn nữa,CNSTH không chỉ bảo tồn, giữ gìn chất lượng nông sản, mà còn tạo ra những sảnphẩm dễ bảo quản, dễ vận chuyển, có giá trị và giá trị sử dụng cao, đa dạng về hìnhthức, kiểu dáng, kích cỡ, tăng khả năng cạnh tranh trên cả thị trường trong nước vàquốc tế

1.3 VAI TRÒ CỦA CÁC CÔNG CỤ TÀI CHÍNH TRONG VIỆC THÚC ĐẨY PHÁT TRIỂN CÔNG NGHỆ SAU THU HOẠCH

1.3.1 Các công cụ tài chính chủ yếu tác động đến công nghệ sau thu hoạch

"Tài chính phản ánh tổng hợp các mối quan hệ kinh tế phát sinh trong việc phân phối các nguồn lực thông qua việc tạo lập và sử dụng các quỹ tiền tệ nhằm đáp ứng các nhu cầu khác nhau của các chủ thể trong xã hội" [22, tr 18]

Sự tồn tại của các phạm trù tài chính là cơ sở khách quan để hìnhthành nên các công cụ tài chính Công cụ tài chính là phương tiện để các chủ

Trang 31

thể kinh tế điều khiển nền kinh tế theo những mục tiêu nhất định Giải pháptài chính là việc sử dụng các công cụ tài chính để thực hiện các chính sách tàichính trong từng thời kỳ phát triển kinh tế nhất định

Hệ thống các công cụ tài chính bao gồm: Chi NSNN, thuế, tín dụng,

tỷ giá hối đoái, bảo hiểm nhưng tác động chủ yếu đến CNSTH gồm có chiNSNN, thuế và tín dụng Với việc sử dụng hệ thống các công cụ tài chínhnày, Nhà nước có thể quản lý phần lớn tổng sản phẩm xã hội và ảnh hưởngtrực tiếp hoặc gián tiếp đến tất cả các chủ thể kinh tế cũng như toàn bộ nềnkinh tế

Để các công cụ tài chính phát huy tác động tích cực lớn nhất đến sựphát triển của CNSTH, cần phải lựa chọn đúng mục tiêu, đối tượng, phươngthức tác động của từng công cụ Đồng thời phải sử dụng đồng bộ và tổng hợpcác công cụ tài chính nhằm khơi thông các nguồn lực của đất nước cho pháttriển nông nghiệp và CNSTH

Mục tiêu tác động của các công cụ tài chính bao gồm cả mục tiêu ởtầm vĩ mô và tầm vi mô Ở tầm vĩ mô, các mục tiêu là tăng trưởng, việc làm,

ổn định, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, công bằng xã hội Ở tầm vi mô, cácmục tiêu là phát triển ngành nông nghiệp, phát triển lĩnh vực STH hay mộtkhâu cụ thể như bảo quản hoặc chế biến nông sản Dù ở tầm vi mô hay tầm vĩ

mô, mục tiêu tác động của các công cụ tài chính đối với hệ thống STH đều làlàm giảm bớt tổn thất STH, tăng chất lượng và giá trị nông sản, đa dạng hóacác sản phẩm nông nghiệp và tăng khả năng cạnh tranh của nông sản trên thịtrường trong và ngoài nước

Đối tượng tác động của các công cụ tài chính là lợi ích của các chủ thểkinh tế có liên quan đến CNSTH Đối với các chủ thể trong hệ thống STHđộng lực chủ yếu là lợi ích kinh tế Vì vậy, các công cụ tài chính phải tácđộng một cách hợp lý đến lợi ích của từng chủ thể nhằm đạt được các mụctiêu đề ra trong từng thời kỳ

Trang 32

Phương thức tác động của từng công cụ tài chính không giống nhau.

Có những công cụ tác động trực tiếp đến lợi ích kinh tế của các chủ thể trong

hệ thống STH như chi ngân sách, thuế… Có những công cụ tác động gián tiếpnhư tín dụng, tỷ giá hối đoái

Khả năng về tài chính của một quốc gia không chỉ biểu hiện bằng sốlượng các nguồn tài chính đã có trong tay Nhà nước, mà còn biểu hiện ở việc

sử dụng các công cụ tài chính để chi phối và tác động đến toàn bộ các hoạtđộng trong nền kinh tế Để hiểu rõ vai trò của tài chính đối với sự phát triểncủa CNSTH, cần phải xem xét cụ thể một số công cụ tài chính chủ yếu sau:

1.3.1.1 Chi ngân sách nhà nước

Chi ngân sách là việc phân phối và sử dụng quỹ NSNN nhằm đảm bảothực hiện các chức năng của Nhà nước theo những nguyên tắc nhất định

Chi ngân sách chủ yếu là những khoản chi không mang tính hoàn trảtrực tiếp như: chi cho các ngành, các cấp để thực hiện các chức năng của Nhànước Ngoài ra, cũng có những khoản chi ngân sách để thực hiện các chươngtrình mục tiêu như: chương trình giải quyết việc làm, chương trình xóa đóigiảm nghèo, chương trình chuyển đổi cơ cấu cây trồng, chương trình cải tạogiống Đây chính là khoản cho vay ưu đãi có hoàn trả gốc, không phải trả lãihoặc lãi suất rất thấp Xét về thực chất chi NSNN chính là sự tài trợ, hỗ trợcủa Nhà nước cho lĩnh vực nông nghiệp và CNSTH

Chi NSNN có tác động mạnh mẽ đến sự phát triển của lĩnh vực STH

và nông nghiệp Quy mô chi ngân sách vừa tác động trực tiếp đến sự pháttriển của CNSTH thông qua việc phân bổ các nguồn lực tài chính choCNSTH, vừa tác động gián tiếp đến việc hình thành những điều kiện tiền đề

để phát triển hệ thống STH Cơ cấu chi của NSNN ảnh hưởng đến sự pháttriển đồng bộ của hệ thống STH Do đó ảnh hưởng đến tốc độ phát triển củaCNSTH Thể hiện:

Trang 33

- Chi NSNN là khoản chi thường có mức lớn và để thực hiện nhữngnhiệm vụ khó khăn, đòi hỏi số tiền lớn và không có khả năng thu hồi vốnnhưng lại tạo ra môi trường và điều kiện kinh doanh cần thiết như: phát triểncác cơ sở hạ tầng cho hệ thống STH như kho tàng, bến bãi hoặc chi chonghiên cứu STH Đây là những hàng hóa công cộng mà khu vực tư nhân vìmục đích lợi nhuận sẽ không cung cấp đủ hoặc không cung cấp Hiệu quả củacác khoản chi NSNN phải được xem xét trên phạm vi kinh tế vĩ mô thông quamức tăng trưởng chung của nền kinh tế và hiệu quả xã hội đem lại cho toàn

bộ đất nước Đối với các nước có nền nông nghiệp chậm phát triển, chiNSNN có một vai trò đặc biệt quan trọng vì cơ sở hạ tầng ở nông thôn rất yếukém, tích lũy của bản thân khu vực nông nghiệp thấp

- Mặc dù NSNN có hạn nên quy mô của các khoản chi NSNN choCNSTH còn nhỏ bé, song chi NSNN đóng vai trò là đột phá khẩu, là chất xúctác cho quá trình tạo vốn đối với CNSTH Chi NSNN có tác dụng tạo rakhoản "vốn mồi" ban đầu để kích thích các nguồn vốn của tư nhân và thu hútcác nguồn vốn khác trong toàn xã hội đầu tư vào các khâu STH và nôngnghiệp theo định hướng của Nhà nước

- Chi NSNN góp phần giải quyết những vấn đề cơ bản đang đặt ratrong quá trình công nghiệp hóa nông nghiệp, nông thôn như: chuyển dịch cơcấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn; phát triển nguồn nhân lực; bảo vệ môitrường sinh thái cũng như vấn đề xóa đói giảm nghèo Ngoài ra, chi NSNNcòn góp phần bình ổn thị trường và giá cả nông sản

Trang 34

đã bỏ ra Vì vậy, Nhà nước buộc phải động viên một phần thu nhập của cácchủ thể trong xã hội để trang trải cho các nhu cầu chi tiêu đó

Thuế là khoản phân phối lại không mang tính chất hoàn trả trực tiếp

Nó không phải là một khoản đối giá Người dân không có quyền yêu cầu Nhànước cung cấp cho họ một số lượng hàng hóa hoặc dịch vụ có giá trị tươngđương với khoản thuế mà họ phải nộp

Động viên qua thuế kết hợp giữa phương thức cưỡng chế, có tính pháp

lý cao với kích thích vật chất nhằm tạo sự quan tâm của các chủ thể kinh tếđến hiệu quả kinh doanh và nâng cao thu nhập Vì vậy thuế là một công cụđắc lực của Nhà nước để thực hiện các nhiệm vụ kinh tế xã hội của đất nướctrong từng thời kỳ

Thuế có tác động mạnh mẽ đến nông nghiệp và CNSTH Thể hiện:

- Thuế là nguồn thu chủ yếu của NSNN để tài trợ cho nông nghiệp vàCNSTH Ở Pháp, thuế đóng góp tới 95,3% ngân sách, ở Cộng hòa Liên bangĐức là 92,7% và Mỹ là 90,5% Ở nước ta thuế và phí chiếm khoảng 93% tổngthu của NSNN

- Thuế góp phần thúc đẩy hệ thống STH phát triển đồng bộ, cân đối Ngoài việc tạo nguồn thu cho NSNN, thuế còn phân phối lại thu nhập,điều tiết hoạt động của các chủ thể kinh tế nhằm thúc đẩy sự phát triển cân đốitrong toàn bộ hệ thống STH Sự điều tiết của thuế được thực hiện thông quaviệc tăng hoặc giảm thuế và các ưu đãi về thuế như quy định thuế suất, miễnthuế, hoàn thuế cho các chủ thể trong hệ thống STH Sự điều tiết của thuếtrong lĩnh vực nông nghiệp thường theo hướng hỗ trợ là chủ yếu Nhất là hỗ trợ

để khuyến khích khu vực nông nghiệp và nông dân ứng dụng CNSTH vào thựctế

Trong hệ thống thuế, thuế trực thu như thuế thu nhập doanh nghiệp,thuế thu nhập cá nhân, thuế tài sản có tác động trực tiếp đến lợi ích kinh tế

Trang 35

của người nông dân, người chế biến, người bảo quản và người vận chuyển.Thuế gián thu như thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế giá trị gia tăng (GTGT), thuếxuất nhập khẩu làm thay đổi sức mua của người tiêu dùng và thay đổi lợinhuận của các cơ sở STH Do đó, thuế là một công cụ quan trọng trong việcthúc đẩy sự phát triển của CNSTH và là một giải pháp quan trọng để điều tiết

vĩ mô nền kinh tế một cách mềm dẻo và có hiệu quả

- Thuế góp phần quan trọng trong việc tăng cường khả năng cung cấpnhững hàng hóa công cộng như cơ sở hạ tầng nông thôn, các nghiên cứu cơbản về CNSTH mà kinh tế tư nhân thường từ chối cung cấp Thông qua thuế,các nguồn lực có thể được phân phối lại giữa các tầng lớp dân cư, giữa cácngành, các khu vực để nền kinh tế phát triển theo những mục tiêu đã đề ra

Ngoài ra, thuế còn góp phần đảm bảo công bằng và bình đẳng trong

xã hội Chính sách thuế được quy định thống nhất cho tất cả các thành phầnkinh tế sẽ góp phần vào việc thực hiện sự bình đẳng và công bằng giữa cácđơn vị tham gia vào hệ thống STH

1.3.1.3 Tín dụng

Tín dụng biểu hiện mối quan hệ kinh tế gắn liền với quá trình tạo lập

và sử dụng quỹ tín dụng nhằm mục đích thỏa mãn nhu cầu vốn cho quá trìnhsản xuất và đời sống theo nguyên tắc có hoàn trả

Thực chất của tín dụng là quan hệ sử dụng vốn lẫn nhau giữa các chủthể trong nền kinh tế nhằm thỏa mãn thỏa mãn nhu cầu tạm thời về vốn trongquá trình sản xuất và tiêu dùng

Tín dụng mang tính chất hoàn trả trực tiếp: Các đối tượng đi vay phảihoàn trả cả gốc và lãi trong một thời gian nhất định Điều này làm cho tín dụng

có khả năng thúc đẩy việc hạch toán kinh doanh hơn là vốn từ NSNN Với tínhchất này tín dụng góp phần thúc đẩy các cơ sở đi vay phải giám sát chặt chẽcác khoản vay để đảm bảo khả năng thanh toán, đồng thời tạo ra động lực đểthúc đẩy việc đầu tư một cách có hiệu quả

Trang 36

Tín dụng mang tính chất tự nguyện: Do không mang tính chất bắt buộcnên phải sử dụng đòn bẩy lãi suất và các điều kiện khác để thu hút người vay

và người cho vay Cơ chế lãi suất và điều kiện vay linh hoạt sẽ điều tiết việcphân bổ nguồn tài chính một cách hợp lý

Trong nền kinh tế thị trường, các quan hệ tín dụng được biểu hiện rất

đa dạng thành nhiều loại tín dụng khác nhau:

- Tín dụng thương mại: là quan hệ tín dụng giữa các doanh nghiệp

được thực hiện dưới hình thức mua bán chịu hàng hóa của nhau

- Tín dụng ngân hàng: là quan hệ tín dụng giữa một bên là ngân hàng

và bên kia là các tác nhân kinh tế tài chính của toàn xã hội

- Tín dụng nhà nước: là quan hệ tín dụng giữa Nhà nước với các

doanh nghiệp, cá nhân và các tổ chức xã hội thông qua việc phát hành tráiphiếu hoặc quan hệ tín dụng giữa các nhà nước với nhau, hoặc giữa các doanhnghiệp, các tổ chức quốc tế Hình thức tín dụng này có thể bằng hàng hóa,cũng có thể bằng tiền

- Tín dụng thuê mua: là quan hệ tín dụng giữa công ty tài chính với

những người sản xuất, kinh doanh dưới hình thức cho thuê tài sản [43, tr 65]

- Tín dụng tiêu dùng: là quan hệ tín dụng phục vụ cho tiêu dùng của

dân cư dưới hình thức hàng hóa thông qua việc bán chịu trả góp giữa cácdoanh nghiệp hoặc các tổ chức tài chính cho người tiêu dùng

Nền kinh tế thị trường càng phát triển thì vốn của thị trường chứngkhoán càng có vai trò quan trọng Song ở Việt Nam thị trường chứng khoánchưa phát triển nên tín dụng ngân hàng và tín dụng nhà nước vẫn là kênh dẫnvốn chủ yếu trong lĩnh vực nông nghiệp và sau thu hoạch

Tín dụng tác động đến CNSTH chủ yếu trên các mặt sau:

Trang 37

- Đảm bảo nhu cầu về vốn cho phát triển hệ thống STH Cùng với cơchế tăng cường tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các doanh nghiệp trongsản xuất, kinh doanh, yêu cầu về vốn của các doanh nghiệp ngày càng tăng Bêncạnh đó, nông dân cũng có nhu cầu lớn đối với vốn vay để ứng dụng CNSTH.Trong điều kiện vốn của NSNN có hạn, nguồn vốn tín dụng đóng một vai trò

quan trọng, đặc biệt là vốn đầu tư của tín dụng nhà nước (trung và dài hạn)

cho đổi mới công nghệ, tăng cường cơ sở vật chất kỹ thuật, đảm bảo sự pháttriển không ngừng của hệ thống STH

- Tín dụng Nhà nước thường có sự ưu đãi về lãi suất nên các chủ thểkinh tế trong hệ thống STH có điều kiện tiếp cận được các nguồn lực tài chínhvới chi phí thấp để nâng cao sức cạnh tranh của sản phẩm Mặt khác, Nhànước có ưu thế trong việc huy động vốn tín dụng với khối lượng lớn, thời gian

dài (phát hành trái phiếu Chính phủ, vay của các Chính phủ và các tổ chức nước ngoài…) để cho vay đầu tư trung vay dài hạn Thông qua hình thức tín

dụng Nhà nước (thực chất là một khoản chi của NSNN có hoàn trả cả gốc lẫnlãi), vốn của NSNN được sử dụng một cách có hiệu quả hơn, khắc phục đượctình trạng sử dụng lãng phí vốn của NSNN

- Khuyến khích phát triển CNSTH thông qua tín dụng ưu đãi: Tíndụng ưu đãi bao gồm ưu đãi về số lượng vốn vay, thời hạn vay và lãi suất tiềnvay Các khoản tín dụng ưu đãi giúp cho các chủ thể hoạt động trong hệ thốngSTH tiếp cận được vốn vay với chi phí thấp để mở rộng quy mô sản xuất kinhdoanh, tạo điều kiện cho các chủ thể đầu tư vào những máy móc, công nghệhiện đại nhằm giảm tổn thất STH và tăng chất lượng nông sản Đối với các hộnông dân, vay vốn tín dụng để áp dụng máy móc, công nghệ mới trong cáckhâu thu hoạch, đập, sấy khô, bảo quản ở quy mô hộ gia đình và liên hộ giađình là cách làm có hiệu quả kinh tế cao Nhất là trong điều kiện hiện nay ởnước ta nền sản xuất hàng hóa chưa phát triển

- Giảm bớt sự mất cân đối cung cầu về nông sản

Trang 38

Quan hệ cung cầu về nông sản thường xuyên ở trong tình trạng mấtcân đối do tính thời vụ của sản xuất nông nghiệp Chính sách tín dụng gópphần tăng cầu về nông sản thông qua việc thúc đẩy khả năng hoạt động củacác doanh nghiệp chế biến nông sản, hỗ trợ công tác thu mua, dự trữ của cácdoanh nghiệp kinh doanh xuất nhập khẩu nông sản Hơn nữa, lãi suất tín dụngkhông chỉ là một công cụ để ngân hàng và các tổ chức tín dụng thực hiện việchuy động vốn và cho vay, mà còn là một công cụ để Nhà nước điều chỉnh cơcấu cây trồng và cơ cấu ngành nghề ở nông thôn Hỗ trợ cho CNSTH bằng tíndụng thông qua lãi suất là hình thức hỗ trợ có tác dụng cao và phù hợp với điềukiện cụ thể của nước ta khi thị trường vốn còn chưa phát triển

Mỗi công cụ tài chính có tác động khác nhau đến sự phát triển củaCNSTH Có những công cụ tác động trực tiếp, có những công cụ tác độnggián tiếp đến lợi ích kinh tế của các chủ thể Nhưng tựu chung lại, chúng cóhai vai trò quan trọng là hỗ trợ nguồn lực tài chính để phát triển CNSTH vớitốc độ cao và điều chỉnh để đạt được sự cân đối, hợp lý trong toàn bộ hệthống STH Để phát huy được vai trò trên, các công cụ tài chính phải tác độngmột cách đồng bộ vào hệ thống STH

1.3.2 Vai trò của các công cụ tài chính trong việc thúc đẩy phát triển công nghệ sau thu hoạch

Tài chính đóng một vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy phát triểnCNSTH, đặc biệt là trong điều kiện CNH, HĐH đất nước và xu hướng hộinhập với kinh tế quốc tế Tài chính là một yếu tố quan trọng giúp cho cácdoanh nghiệp và quốc gia nâng cao năng lực cạnh tranh Theo diễn đàn kinh

tế thế giới (WEF), năm 1999 tài chính chỉ chiếm 1/6 trong tổng các yếu tố tạonên năng lực cạnh tranh của quốc gia Đến năm 2000, đóng góp của tài chính

đã tăng lên chiếm 1/3 trong tổng các yếu tố xác định năng lực cạnh tranh củaquốc gia [28, tr 111] Vai trò quan trọng này được thể hiện ở những mặt sau:

Trang 39

1.3.2.1 Tập trung vốn để xây dựng cơ sở vật chất cho hệ thống sau thu hoạch

Trong nông nghiệp, do năng suất, hiệu quả của hoạt động nông nghiệpcòn thấp, khả năng tích lũy trong nội bộ ngành còn ít, sức hấp dẫn đầu tư từ cácngành, các lĩnh vực khác của nền kinh tế cho nông nghiệp kém nên nguồn lựctài chính do bản thân khu vực nông nghiệp tạo ra còn rất hạn chế Vì vậy, việchuy động và sử dụng có hiệu quả các nguồn vốn cho khu vực nông nghiệp nóichung và cho các khâu STH nói riêng là vai trò hết sức quan trọng của cáccông cụ tài chính Đặc biệt, đối với nước ta đi lên chủ nghĩa xã hội từ một nềnnông nghiệp lạc hậu, tình trạng thiếu vốn rất phổ biến Hơn nữa, khả năng thuhồi vốn đầu tư vào CNSTH lâu, khả năng sinh lời của vốn đầu tư thấp và độ rủi

ro cao

Trước hết, chi ngân sách là nguồn vốn chủ yếu đầu tư phát triển cơ sở

hạ tầng - một điều kiện tiền đề cần thiết để phát triển hệ thống STH Cơ sở hạtầng tạo điều kiện cho sự hoạt động của hệ thống STH bao gồm cơ sở hạ tầnggiao thông như cầu cống đường sá; cơ sở hạ tầng về thị trường như hệ thốngchợ, trung tâm giao dịch nông sản; cơ sở hạ tầng về bảo quản như kho tàngbến bãi; cơ sở hạ tầng về thông tin như hệ thống cung cấp thông tin, hệ thốngđiện, các văn phòng giới thiệu sản phẩm Giải quyết tốt cơ sở hạ tầng mộtmặt tạo điều kiện cho sự lưu thông hàng hóa thông suốt, tránh tình trạng ứđọng hàng hóa cục bộ, nơi thừa, nơi thiếu Mặt khác, phát triển cơ sở hạ tầngcòn tạo khả năng thu hút vốn đầu tư trong và ngoài nước, thu hút "chất xám"

và các nguồn lực khác để phát triển CNSTH Trên cơ sở đó, thay đổi cơ cấukinh tế nông thôn theo hướng CNH, HĐH

Cơ sở vật chất là điều kiện không thể thiếu đối với việc phát triển hệthống STH Sự hỗ trợ của NSNN góp phần quan trọng trong việc trang bị cácmáy móc hiện đại, đồng bộ cho tất cả các khâu STH như xay xát, bảo quản,

Trang 40

chế biến, vận chuyển nhằm phát huy tối đa hiệu quả kinh tế - xã hội củatoàn bộ quá trình sản xuất nông nghiệp

Thứ hai, ngoài nguồn vốn của ngân sách, vốn chủ sở hữu của các cơ sở,

vốn tín dụng chiếm một vị trí quan trọng trong việc phát triển CNSTH Hiệnnay, NSNN còn hạn hẹp, không thể đảm bảo toàn bộ vốn cho yêu cầu phát triểncủa CNSTH Trong nhiều trường hợp, chi ngân sách chỉ có tác dụng hướng dẫncho đầu tư tư nhân, tạo ra tiền đề ban đầu để thu hút các nguồn vốn khác trongtoàn xã hội đầu tư vào CNSTH Mặt khác, nông dân và khu vực nông nghiệpcòn nghèo, nếu chỉ dựa vào vốn tự có thì khó có thể phát triển được CNSTH.Trong thực tế, nguồn vốn tín dụng chiếm tỷ trọng lớn trong trong tổng vốn đầu

tư của các chủ thể trong hệ thống STH Với các khoản vay ngắn hạn, lãi suất ưuđãi, thủ tục đơn giản, những người hoạt động trong hệ thống STH sẽ duy trìđược hoạt động thường xuyên Với các khoản vay dài hạn họ có điều kiện đầu

tư theo chiều sâu để đổi mới dây chuyền công nghệ, mua sắm trang thiết bị,xây dựng nhà xưởng mới, tạo ra cơ sở vật chất vững chắc cho toàn bộ hệ thốngSTH

Vốn tín dụng cũng là nguồn vốn chủ yếu đối với các cơ quan nghiêncứu khoa học và các doanh nghiệp trong việc thực hiện các dự án ứng dụngcông nghệ vào sản xuất Trong đó, lãi suất ưu đãi luôn là động lực thúc đẩynhanh quá trình ứng dụng các đề tài KH-CN vào thực tế

Thứ ba, thuế tác động đến năng lực cạnh tranh của sản phẩm, của

doanh nghiệp và của toàn bộ nền kinh tế

Để khắc phục tình trạng công nghệ lạc hậu, chi phí sản xuất cao, quy

mô nhỏ, các doanh nghiệp cần phải đẩy nhanh quá trình tích tụ vốn Kinhnghiệm của thế giới cho thấy trong thời kỳ đầu CNH, chính phủ các nước đềuthực hiện chiến lược ưu đãi thuế

Ngày đăng: 22/10/2016, 15:17

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ 1.2: Mối quan hệ giữa các thành phần của công nghệ - LUẬN án TIẾN sĩ   GIẢI PHÁP tài CHÍNH THÚC đẩy PHÁT TRIỂN CÔNG NGHỆ SAU THU HOẠCH TRONG điều KIỆN CÔNG NGHIỆP hóa HIỆN đại hóa ở VIỆT NAM
Sơ đồ 1.2 Mối quan hệ giữa các thành phần của công nghệ (Trang 11)
Sơ đồ 1.3: Giai đoạn sau thu hoạch và công nghệ sau thu hoạch - LUẬN án TIẾN sĩ   GIẢI PHÁP tài CHÍNH THÚC đẩy PHÁT TRIỂN CÔNG NGHỆ SAU THU HOẠCH TRONG điều KIỆN CÔNG NGHIỆP hóa HIỆN đại hóa ở VIỆT NAM
Sơ đồ 1.3 Giai đoạn sau thu hoạch và công nghệ sau thu hoạch (Trang 13)
Hình lấy người tiếp nhận công nghệ làm trung tâm. Mô hình này phản ánh - LUẬN án TIẾN sĩ   GIẢI PHÁP tài CHÍNH THÚC đẩy PHÁT TRIỂN CÔNG NGHỆ SAU THU HOẠCH TRONG điều KIỆN CÔNG NGHIỆP hóa HIỆN đại hóa ở VIỆT NAM
Hình l ấy người tiếp nhận công nghệ làm trung tâm. Mô hình này phản ánh (Trang 14)
Bảng 1.1: Tỷ lệ thành công và thất bại của hoạt động khoa học - công nghệ - LUẬN án TIẾN sĩ   GIẢI PHÁP tài CHÍNH THÚC đẩy PHÁT TRIỂN CÔNG NGHỆ SAU THU HOẠCH TRONG điều KIỆN CÔNG NGHIỆP hóa HIỆN đại hóa ở VIỆT NAM
Bảng 1.1 Tỷ lệ thành công và thất bại của hoạt động khoa học - công nghệ (Trang 18)
Sơ đồ 1.5: Công nghệ sau thu hoạch liên kết giữa sản xuất và tiêu dùng - LUẬN án TIẾN sĩ   GIẢI PHÁP tài CHÍNH THÚC đẩy PHÁT TRIỂN CÔNG NGHỆ SAU THU HOẠCH TRONG điều KIỆN CÔNG NGHIỆP hóa HIỆN đại hóa ở VIỆT NAM
Sơ đồ 1.5 Công nghệ sau thu hoạch liên kết giữa sản xuất và tiêu dùng (Trang 28)
Bảng 2.2: Số lượng máy sấy ở đồng bằng sông Cửu Long năm 1997 - LUẬN án TIẾN sĩ   GIẢI PHÁP tài CHÍNH THÚC đẩy PHÁT TRIỂN CÔNG NGHỆ SAU THU HOẠCH TRONG điều KIỆN CÔNG NGHIỆP hóa HIỆN đại hóa ở VIỆT NAM
Bảng 2.2 Số lượng máy sấy ở đồng bằng sông Cửu Long năm 1997 (Trang 62)
Bảng 2.3: Giá gạo xuất khẩu FOB ngày 12-7-2001 của 4 nước xuất khẩu - LUẬN án TIẾN sĩ   GIẢI PHÁP tài CHÍNH THÚC đẩy PHÁT TRIỂN CÔNG NGHỆ SAU THU HOẠCH TRONG điều KIỆN CÔNG NGHIỆP hóa HIỆN đại hóa ở VIỆT NAM
Bảng 2.3 Giá gạo xuất khẩu FOB ngày 12-7-2001 của 4 nước xuất khẩu (Trang 68)
Sơ đồ 2.1: Tỷ trọng tổng sản phẩm quốc nội theo ngành kinh tế - LUẬN án TIẾN sĩ   GIẢI PHÁP tài CHÍNH THÚC đẩy PHÁT TRIỂN CÔNG NGHỆ SAU THU HOẠCH TRONG điều KIỆN CÔNG NGHIỆP hóa HIỆN đại hóa ở VIỆT NAM
Sơ đồ 2.1 Tỷ trọng tổng sản phẩm quốc nội theo ngành kinh tế (Trang 70)
Bảng 2.5: Chi ngân sách Nhà nước cho nghiên cứu nông nghiệp - LUẬN án TIẾN sĩ   GIẢI PHÁP tài CHÍNH THÚC đẩy PHÁT TRIỂN CÔNG NGHỆ SAU THU HOẠCH TRONG điều KIỆN CÔNG NGHIỆP hóa HIỆN đại hóa ở VIỆT NAM
Bảng 2.5 Chi ngân sách Nhà nước cho nghiên cứu nông nghiệp (Trang 76)
Bảng 2.6: Tình hình tiêu thụ sản phẩm của các hộ, - LUẬN án TIẾN sĩ   GIẢI PHÁP tài CHÍNH THÚC đẩy PHÁT TRIỂN CÔNG NGHỆ SAU THU HOẠCH TRONG điều KIỆN CÔNG NGHIỆP hóa HIỆN đại hóa ở VIỆT NAM
Bảng 2.6 Tình hình tiêu thụ sản phẩm của các hộ, (Trang 83)
Bảng 2.7: Tốc độ tăng trưởng kinh tế, đầu tư và xuất khẩu năm 1999-2003 - LUẬN án TIẾN sĩ   GIẢI PHÁP tài CHÍNH THÚC đẩy PHÁT TRIỂN CÔNG NGHỆ SAU THU HOẠCH TRONG điều KIỆN CÔNG NGHIỆP hóa HIỆN đại hóa ở VIỆT NAM
Bảng 2.7 Tốc độ tăng trưởng kinh tế, đầu tư và xuất khẩu năm 1999-2003 (Trang 89)
Bảng 2.9: Hợp phần sau thu hoạch của dự án Danida - LUẬN án TIẾN sĩ   GIẢI PHÁP tài CHÍNH THÚC đẩy PHÁT TRIỂN CÔNG NGHỆ SAU THU HOẠCH TRONG điều KIỆN CÔNG NGHIỆP hóa HIỆN đại hóa ở VIỆT NAM
Bảng 2.9 Hợp phần sau thu hoạch của dự án Danida (Trang 99)
Bảng 2.11: Lãi suất bình quân của khu vực nông nghiệp và thành thị - LUẬN án TIẾN sĩ   GIẢI PHÁP tài CHÍNH THÚC đẩy PHÁT TRIỂN CÔNG NGHỆ SAU THU HOẠCH TRONG điều KIỆN CÔNG NGHIỆP hóa HIỆN đại hóa ở VIỆT NAM
Bảng 2.11 Lãi suất bình quân của khu vực nông nghiệp và thành thị (Trang 105)
Sơ đồ 2.3: Vòng luẩn quẩn sản xuất nhỏ, thiếu công nghệ sau thu hoạch - LUẬN án TIẾN sĩ   GIẢI PHÁP tài CHÍNH THÚC đẩy PHÁT TRIỂN CÔNG NGHỆ SAU THU HOẠCH TRONG điều KIỆN CÔNG NGHIỆP hóa HIỆN đại hóa ở VIỆT NAM
Sơ đồ 2.3 Vòng luẩn quẩn sản xuất nhỏ, thiếu công nghệ sau thu hoạch (Trang 109)
Sơ đồ 3.1: Phương thức phân bổ kinh phí gắn kết giữa cung với cầu về công - LUẬN án TIẾN sĩ   GIẢI PHÁP tài CHÍNH THÚC đẩy PHÁT TRIỂN CÔNG NGHỆ SAU THU HOẠCH TRONG điều KIỆN CÔNG NGHIỆP hóa HIỆN đại hóa ở VIỆT NAM
Sơ đồ 3.1 Phương thức phân bổ kinh phí gắn kết giữa cung với cầu về công (Trang 136)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w