Trong công cuộc đổi mới hiện nay, Đảng ta xác định: Các vấn đề đại đoàn kết toàn dân tộc, công tác dân tộc và tôn giáo đều là những vấn đề chính trị lớn, có ý nghĩa chiến lược đối với sự nghiệp cách mạng của nước ta... và là vấn đề có tính đặc thù quan trọng 39, tr. 57. Các vấn đề đó đòi hỏi phải được đặt ra và giải quyết trong tổng thể, theo phương hướng và nội dung cơ bản của nhiệm vụ phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, đồng thời hết sức chú ý của tính đặc thù của từng vấn đề ấy
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong công cuộc đổi mới hiện nay, Đảng ta xác định: "Các vấn đề đạiđoàn kết toàn dân tộc, công tác dân tộc và tôn giáo đều là những vấn đề chínhtrị lớn, có ý nghĩa chiến lược đối với sự nghiệp cách mạng của nước ta" và
là vấn đề "có tính đặc thù quan trọng" [39, tr 5-7] Các vấn đề đó đòi hỏi phải
được "đặt ra và giải quyết trong tổng thể, theo phương hướng và nội dung cơ
bản của nhiệm vụ phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, đồng thời hết
sức chú ý của tính đặc thù của từng vấn đề ấy" [29, tr 83]
Trong quá trình tồn tại và phát triển, Phật giáo ảnh hưởng khá sâu sắcđến đời sống chính trị, tư tưởng, văn hóa, xã hội và đến lối sống, tâm lý, đạođức, phong tục tập quán của các tầng lớp người - nhất là với thế hệ trẻ Mộttrong những vấn đề có ảnh hưởng lớn trong thanh thiếu niên (TTN) Phật giáohiện nay là vấn đề Gia đình Phật tử (GĐPT) Tuy mức độ đậm nhạt có khácnhau, song nhìn chung sức thu hút của tổ chức GĐPT với lứa tuổi TTN tín đồPhật giáo có xu hướng ngày một gia tăng và ảnh hưởng ở mức độ sâu sắctrong đời sống tuổi trẻ
Gia đình Phật tử - một tổ chức giáo dục TTN của Phật giáo - ra đời
và phát triển trong những hoàn cảnh lịch sử cụ thể và chịu sự tác động của các
yếu tố chính trị - xã hội nhất định, nên nó cũng có những đặc thù nhất định.
Thời gian qua, sự hồi sinh và phát triển của GĐPT ở các tỉnh, thành phía Namnước ta có xu hướng gia tăng, gây biến động phức tạp và ảnh hưởng khôngnhỏ đến đời sống của TTN tín đồ Phật giáo, thậm chí nhiều khi nó là nguyênnhân gây nên các "điểm nóng" chính trị - xã hội Tuy nhiên, do chưa nghiêncứu đánh giá đầy đủ về vấn đề GĐPT nên trong nhận thức và chỉ đạo của cáccấp ủy Đảng, chính quyền, các đoàn thể chính trị - xã hội chưa nhất quán vàthiếu sự phối hợp đồng bộ; thậm chí còn có nhiều ý kiến trái ngược trong cách
Trang 2ứng xử Điều này đã khiến cho hoạt động GĐPT càng diễn biến theo cácchiều hướng phức tạp và rất dễ bị các thế lực thù địch lợi dụng "kích động tín đồnhằm phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc, gây mất ổn định chính trị" [29, tr.46-47] Tình hình đó đòi hỏi cấp thiết cần phải:
Tiến hành nghiên cứu thực trạng, tình hình các tôn giáo ởViệt Nam và đời sống thanh thiếu nhi có đạo một cách sâu sắc, toàndiện và khách quan, nhằm nắm chắc mặt mạnh, mặt yếu, cái hay cái
dở của ảnh hưởng tôn giáo trong thanh thiếu nhi, cũng như ý đồ củacác tôn giáo cách tân, tác động nhằm xác lập thế giới quan hữuthần, tâm lý thụ động, tư duy mơ hồ, chủ nghĩa hư vô, niềm tin mùquáng và hành vi nhẫn nhục hoặc cực đoan Vấn đề lực lượng thùđịch lợi dụng tôn giáo và ảnh hưởng của nó trong việc tập hợpthanh thiếu nhi cũng là vấn đề đáng lưu tâm trong việc giáo dụcthanh thiếu nhi [118, tr 222]
Việc xác lập quan điểm khoa học với vấn đề GĐPT và ảnh hưởng của
nó trong đời sống thế hệ trẻ hiện nay nhằm xác định một thái độ ứng xử đúngđắn để tăng cường sự đồng thuận xã hội, động viên mạnh mẽ mọi tầng lớp nhândân - trong đó có TTN tín đồ Phật giáo - tham gia xây dựng khối đại đoàn kếttoàn dân, bảo đảm giữ vững ổn định chính trị - xã hội, là vấn đề có tính cấp bách
và có ý nghĩa chiến lược lâu dài Điều này lại càng có ý nghĩa trong việc kịp thời
đề xuất những kiến nghị để điều chỉnh, bổ sung, cụ thể hóa các chủ trương chínhsách, giải pháp nhằm thực hiện thắng lợi nghị quyết của Đảng về công tác tôngiáo trên cơ sở: "Để phát huy sức mạnh đại đoàn kết dân tộc, chúng ta đặc
biệt coi trọng việc giải quyết đúng và thực hiện tốt các chính sách; chính sách chung cho mọi tầng lớp nhân dân và chính sách cụ thể cho từng giai cấp và
giai tầng xã hội, cho mọi giới, mọi lứa tuổi cho các dân tộc và tôn giáo" [29,
tr 85]
Trang 3Đoàn kết, tập hợp TTN tín đồ các tôn giáo nói chung và TTN tín đồ Phậtgiáo nói riêng được xác định là một bộ phận quan trọng trong khối đại đoànkết toàn dân dưới sự lãnh đạo của Đảng; là "nhiệm vụ hàng đầu của các cấp
bộ Đoàn và là bộ phận không tách rời của công tác xây dựng Đoàn" [38, tr.6] Thời gian qua tổ chức Đoàn, Hội các cấp đã đóng vai trò nòng cốt chính trịtrong việc đoàn kết, tập hợp TTN tín đồ tôn giáo Tuy vậy, "việc tập hợpthanh thiếu niên ở các địa bàn, lĩnh vực đặc thù còn khó khăn, lúng túng vàđang đứng trước những thách thức mới" [38, tr 5] Một trong các địa bàn
"đặc thù" đó là sinh hoạt các TTN tín đồ Phật giáo trong tổ chức GĐPT.Nhiều nơi, nhiều lúc các cấp bộ Đoàn, Hội còn thực sự lúng túng trong việcxác lập phương thức đoàn kết, tập hợp đối tượng TTN tín đồ Phật giáo; thậmchí có nơi còn bỏ trống trận địa để cho các thế lực thù địch lợi dụng kíchđộng, lôi kéo thế hệ trẻ tín đồ Phật giáo nhằm mục đích phá hoại khối đạiđoàn kết toàn dân tộc, gây mất ổn định chính trị Hơn lúc nào hết việc đổi mớinội dung và phương thức đoàn kết tập hợp TTN tín đồ Phật giáo nhằm pháthuy sức mạnh tổng hợp của các tầng lớp TTN trong sự nghiệp xây dựng vàbảo vệ Tổ quốc, làm thất bại âm mưu "diễn biến hòa bình" của các thế lực thùđịch là vấn đề hết sức cần thiết và cấp bách
Vấn đề GĐPT và đoàn kết, tập hợp TTN tín đồ Phật giáo là một trongnhững vấn đề hệ trọng nhưng rất nhạy cảm, cần phải được giải quyết một
cách khách quan và khoa học [29, tr 81] Bởi vì, những hoạt động có tính đặc thù của nó không chỉ dừng lại ở giới hạn tín ngưỡng, tôn giáo; mà còn liên
quan đến lĩnh vực chính trị và pháp luật Nó đòi hỏi tiếp cận vấn đề ở tất cảcác phương diện như chính trị, đạo đức, văn hóa và với sự hỗ trợ của các trithức khoa học liên ngành như chính trị học, triết học chính trị, xã hội học, tôngiáo, lịch sử Tuy vậy, để góp phần hiện thực hóa nhiệm vụ của công tác tôngiáo mà nghị quyết Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương (BCHTƯ)Đảng (khóa IX) về phát huy sức mạnh đại đoàn kết dân tộc: "Tăng cường
Trang 4nghiên cứu cơ bản, tổng kết thực tiễn, góp phần cung cấp luận cứ khoa họccho việc xây dựng và thực hiện các chủ trương, chính sách trước mắt và lâu
dài đối với tôn giáo" [29, tr 52]; chúng tôi vẫn mạnh dạn chọn vấn đề " Gia đình Phật tử và vấn đề đoàn kết, tập hợp thanh thiếu niên tín đồ Phật giáo
ở nước ta hiện nay (qua khảo sát ở một số tỉnh miền Trung)" làm đề tài
nghiên cứu
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Trong những năm gần đây, vấn đề ảnh hưởng của tôn giáo trong TTN vàcông tác đoàn kết, tập hợp TTN tín đồ các tôn giáo trong khối đại đoàn kết toàndân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng đã trở thành đề tài thu hút sự quan tâmnghiên cứu của nhiều nhà khoa học và nhiều cơ quan nghiên cứu Về vấn đềđoàn kết, tập hợp TTN tín đồ Phật giáo đã có những công trình nghiên cứu đáng
chú ý là: Đề tài nghiên cứu KTN 93.07 về "Công tác đoàn kết, tập hợp thanh thiếu niên tín đồ Phật giáo" năm 1995 của Viện Nghiên cứu Thanh niên thuộc Trung ương Đoàn; đề tài KTN 97.03 về "Công tác đoàn kết, tập hợp thanh niên tôn giáo trong thời kỳ mới" năm 1999 của Trung ương Đoàn thanh niên cộng sản (TNCS) Hồ Chí Minh; đề tài KTN 2000.08 về "Các giải pháp của Hội liên hiệp thanh niên Việt Nam trong công tác vận động thanh niên tôn giáo" năm 2001
của Trường Cán bộ TTN Trung ương; đề tài khoa học cấp Bộ của Phân viện ĐàNẵng (Học viện Chính trị Quốc gia (CTQG) Hồ Chí Minh) năm 1997 - 1999 về
"Đặc điểm và xu hướng vận động của Phật giáo miền Trung và một số kiến nghị
về chính sách đối với Phật giáo trong giai đoạn hiện nay"; Luận văn tốt nghiệp
Đại học chính trị của tác giả Ngô Văn Trân năm 1996 (Học viện CTQG Hồ Chí
Minh) với đề tài "Gia đình Phật tử và công tác đoàn kết tập hợp thanh thiếu niên tín đồ Phật giáo tại Thừa Thiên - Huế"; công trình "Công tác đoàn kết, tập hợp thanh niên vùng có đông tín đồ tôn giáo" (Nxb Thanh niên, Hà Nội,
1998) Về ảnh hưởng của tôn giáo trong đời sống của TTN Việt Nam thì có
Trang 5công trình KX-07-03 về "Ảnh hưởng của các hệ tư tưởng và tôn giáo đối với con người Việt Nam hiện nay" của Viện Triết học; Luận văn thạc sĩ của tác giả Phạm Thị Xê năm 1996 (Học viện CTQG Hồ Chí Minh) về vấn đề "Ảnh hưởng của tư tưởng Phật giáo trong lối sống người Huế hiện nay"
Chọn lọc và kế thừa các thành tựu quan trọng của các công trình nghiêncứu nói trên; tác giả luận án đã bước đầu trình bày một cách hệ thống nhữngvấn đề liên quan đến sinh hoạt của GĐPT và công tác đoàn kết, tập hợp TTNtín đồ Phật giáo của Đoàn TNCS Hồ Chí Minh và Hội Liên hiệp thanh niên(LHTN) Việt Nam trong thời gian qua
3 Mục đích và nhiệm vụ của luận án
* Mục đích
Dưới góc độ khoa học chính trị, trọng tâm của luận án nghiên cứu vấn
đề GĐPT và công tác đoàn kết, tập hợp TTN tín đồ Phật giáo trong giai đoạnhiện nay Từ đó góp phần cung cấp luận cứ khoa học cho việc hoạch định chínhsách, xác định thái độ ứng xử với vấn đề GĐPT và nâng cao hiệu quả công tácđoàn kết, tập hợp TTN tín đồ Phật giáo trong khối đại đoàn kết toàn dân
* Nhiệm vụ
Để đạt được mục đích nghiên cứu như trên, luận án có nhiệm vụ:
- Khắc họa bản chất, đặc điểm và xu hướng vận động của GĐPT
- Thông qua việc phân tích bản chất, đặc điểm và phương thức hoạt độngcủa GĐPT để xem xét ảnh hưởng của nó đối với TTN tín đồ Phật giáo Đồngthời khảo sát và đánh giá thực trạng công tác đoàn kết, tập hợp TTN tín đồ Phậtgiáo của Đoàn TNCS Hồ Chí Minh và Hội LHTN Việt Nam trong thời gian qua
- Đề xuất một số kiến nghị trong việc giải quyết những vấn đề liênquan đến GĐPT và công tác đoàn kết, tập hợp TTN tín đồ Phật giáo (chủ yếu
là của Đoàn TNCS Hồ Chí Minh và Hội liên hiệp thanh niên Việt Nam)
Trang 64 Phạm vi nghiên cứu của luận án
Nghiên cứu vấn đề GĐPT, ảnh hưởng của nó trong TTN và công tácđoàn kết, tập hợp TTN tín đồ Phật giáo là vấn đề rộng lớn và phức tạp Đây làđối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học như triết học, xã hội họcchính trị, tôn giáo học, lịch sử, chính trị học Sự phân định rạch ròi giữa các
cách tiếp cận nói trên không phải là điều dễ dàng bởi tính liên ngành của vấn
đề nghiên cứu Trên cơ sở khoa học liên ngành, dưới góc độ của chuyên
ngành Chính trị học, luận án xác định phạm vi nghiên cứu của mình là nghiên
cứu bản chất, đặc điểm và xu hướng vận động của GĐPT và ảnh hưởng của
nó đối với TTN tín đồ Phật giáo; thực trạng công tác đoàn kết, tập hợp TTNtín đồ Phật giáo của Đoàn TNCS Hồ Chí Minh và Hội LHTN Việt Nam.Đồng thời, luận án cũng đưa ra một số đề xuất, kiến nghị trong việc quản lýhoạt động của GĐPT và việc nâng cao hiệu quả công tác đoàn kết, tập hợpTTN tín đồ Phật giáo (của Đoàn TNCS Hồ Chí Minh và Hội LHTN ViệtNam)
Ngoài việc kế thừa các kết quả nghiên cứu của đề tài KTN 93-07 của
Trung ương Đoàn TNCS Hồ Chí Minh về "Công tác đoàn kết, tập hợp thanh thiếu niên tín đồ Phật giáo" được khảo sát ở Quảng Trị, Thừa Thiên Huế, thành
phố Hồ Chí Minh (với 653 thanh niên Phật giáo, 198 đoàn sinh GĐPT, 134 cán
bộ Đoàn); kết quả điều tra của Tỉnh đoàn Thừa Thiên - Huế (với 1.500 TTNPhật giáo, 258 đoàn sinh GĐPT, 106 phụ huynh Đoàn sinh GĐPT; 250 cán bộĐoàn) , để có thêm cơ sở thực tiễn, tác giả đã tiến hành khảo sát ở các đối
tượng: Đoàn sinh GĐPT là 308 phiếu điều tra; cán bộ Đoàn TNCS Hồ Chí Minh, Hội LHTN Việt Nam là 233 phiếu điều tra; phụ huynh đoàn sinh Gia đình Phật tử là 207 phiếu điều tra Địa bàn điều tra tập trung ở các địa phương trên khu
vực miền Trung Ngoài ra, tác giả còn tiến hành điền dã để trao đổi, tìm hiểu tâm
tư nguyện vọng của các huynh trưởng, các đoàn sinh GĐPT (sinh hoạt hợp pháp
Trang 7và bất hợp pháp); các chức sắc trong tổ chức Giáo hội Phật giáo Việt Nam(GHPGVN); các cán bộ Đoàn, Hội về các vấn đề mà luận án quan tâm.
5 Đóng góp về mặt khoa học của luận án
- Trình bày có hệ thống các vấn đề liên quan đến sinh hoạt GĐPT; ảnhhưởng của nó đối với TTN tín đồ Phật giáo và thực trạng công tác đoàn kết, tậphợp TTN tín đồ Phật giáo của Đoàn TNCS Hồ Chí Minh và Hội LHTN ViệtNam
- Bước đầu rút ra một số nhận xét và kiến nghị trong việc xác lập quanđiểm khoa học đối với vấn đề GĐPT và đề xuất các phương thức nhằm nângcao hiệu quả công tác đoàn kết, tập hợp TTN Phật giáo
- Kết quả nghiên cứu của luận án có ý nghĩa trong việc góp phần cungcấp luận cứ khoa học cho việc hoạch định, điều chỉnh, bổ sung cụ thể hóa cácchủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về công tác tôn giáo nói chung
và GĐPT nói riêng trong giai đoạn hiện nay Luận án còn có thể sử dụng làmtài liệu tham khảo trong nghiên cứu, giảng dạy những vấn đề có liên quan đếnlĩnh vực chính trị học, tôn giáo học, xã hội học chính trị và áp dụng trongcông tác dân vận, xử lý các tình huống chính trị - xã hội
6 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Để hoàn thành mục đích và nhiệm vụ đã được đặt ra, luận án được xử
lý trên cơ sở:
- Những nguyên lý và phương pháp luận của chủ nghĩa Mác -Lênin làchủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử Các nguyên tắc vàcác quan điểm cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin; của Chủ tịch Hồ Chí Minh;của Đảng và Nhà nước ta về vấn đề tôn giáo, chính trị
Trang 8- Ngoài ra, luận án còn chú ý sử dụng các tác phẩm và các bài phátbiểu của các đồng chí lãnh đạo Đảng và Nhà nước, các nhà nghiên cứu trong
và ngoài nước liên quan đến đề tài
- Các phương pháp được sử dụng trong nghiên cứu là phương pháplịch sử - lôgíc, phân tích - tổng hợp, diễn dịch - quy nạp, đặc thù - phổ biến,phương pháp điều tra xã hội học
7 Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục,nội dung của luận án gồm 3 chương, 6 tiết
Trang 9Chương 1
GIA ĐÌNH PHẬT TỬ - ĐẶC ĐIỂM VÀ XU HƯỚNG VẬN ĐỘNG
1.1 VỀ NỘI DUNG CỦA KHÁI NIỆM GIA ĐÌNH PHẬT TỬ
Khái niệm Gia đình trong thuật ngữ Gia đình Phật tử ở đây không
thuần túy là Gia đình theo cách hiểu thông thường (Gia đình là tế bào của xãhội, trong đó các thành viên cùng sinh sống dựa trên mối quan hệ hôn nhân
hoặc huyết thống ); mà nó được hiểu là một tổ chức, một đoàn thể có nhiệm
vụ giáo dục, huấn luyện TTN tín đồ Phật giáo thành những "Phật tử chânchính" Nó được các nhà sáng lập ra GĐPT xem như một "gia đình thứ hai
sau gia tộc" [72, tr 113] Bàn về nội dung của khái niệm GĐPT, có thể xem
xét hai loại ý kiến sau đây:
1.1.1 Ý kiến của các tổ chức và cá nhân Phật giáo
- Khi đề cập đến quá trình hình thành của Đoàn thanh niên Phật học Đức dục, Gia đình Phật hóa phổ, các nhà sáng lập ra hai tổ chức tiền thân của
GĐPT quan niệm rằng: "Đoàn thanh niên Phật học Đức Dục của An Nam Phật
học hội thành lập, nguyện thực hành và tuyên truyền đức dục theo giáo lý nhàPhật chủ trương đào tạo những thế hệ thanh thiếu đồng niên Phật tử tiếp tụcphục vụ chánh pháp với tư cách của những Phật tử chân chính " [65, tr 29]
Nghị định số 15 của Ban trị sự Tỉnh hội Thừa Thiên (Hội Việt Nam Phật học)
ngày 11-11-1950 xác định: "Gia đình Phật hóa phổ là một tiểu ban của tổ
chức Khuôn Tịnh Độ, với mục đích là giáo dục hàng con cháu Phật tử theo lờiPhật dạy và xây dựng hạnh phúc gia đình trên nền tảng luân lý Phật giáo" và
"Đoàn lấy một số gia đình chính làm nòng cốt, ghép thêm một số con em ở cácgia đình lân cận để Phật hóa các em bằng cách dạy một ít giáo lý căn bản, tậpcho các em sống theo đức dục Phật giáo" [65, tr 33-46]; "danh hiệu Gia đìnhPhật hóa phổ gợi lên cho chúng ta ý niệm Phật hóa gia đình tổ chức Gia
Trang 10đình Phật hóa phổ quy tụ nhiều lớp tuổi và sinh hoạt thuần túy giáo lý Mụctiêu là cá nhân (Phật tử chân chính) và gia đình (hạnh phúc gia đình)" [46, tr.38]
- Nội quy trình GĐPT (1951) của Hội Việt Nam Phật học (phụ lục
17) cho thấy: về danh hiệu thì "lấy danh hiệu Gia đình Phật tử thay thế danh hiệu Gia đình Phật hóa phổ"; về mục đích thì "mục đích của Gia đình Phật tử
là huấn luyện thanh, thiếu, đồng niên Phật tử về ba phương diện: trí dục, đứcdục, thể dục trên nền tảng Phật giáo để đào tạo thành những Phật tử chân
chính"; về tổ chức thì "mỗi Gia đình Phật tử là một tổ chức gồm có các đoàn:
Đoàn nam Phật tử, Đoàn nữ Phật tử, Đoàn thiếu niên Phật tử, Đoàn thiếu nữPhật tử, Đoàn đồng niên Phật tử, Đoàn đồng nữ Phật tử và do huynh trưởngtrông coi Mỗi đoàn có 4 Đội (cho trai) hay 4 Chúng (cho gái) sắp xuống Mỗi
Đội hay Chúng có từ 8 em sắp xuống" [65, tr 54-55] Nội quy GĐPT (1967)
quy định: về danh hiệu thì "Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất có một
tổ chức giáo dục thanh niên lấy danh hiệu Gia đình Phật tử Việt Nam Tổ chức này nằm trong Tổng vụ thanh niên của Viện Hóa đạo"; về mục đích của GĐPT là "đào luyện thanh, thiếu, đồng niên thành Phật tử chân chính Góp phần xây dựng xã hội theo tinh thần Phật giáo"; về tổ chức gồm có cấp Trung ương, cấp Miền, cấp Tỉnh - Thị xã, cấp Gia đình (mỗi gia đình có tối thiểu là
2 Đoàn và tối đa là 6 Đoàn Mỗi Đoàn có tối thiểu là 2 Đội, Chúng và số đoànviên từ 12 đến 32 em ) [46, tr 5-12] (Phụ lục 18)
- Tác giả Võ Đình Cường trong ấn phẩm ĐÂY GIA ĐÌNH cho rằng:
"Gia đình Phật tử là một tổ chức giáo dục trong Hội Phật học, là một đoàn
thể giáo dục Chúng tôi vì mục đích giáo dục mà chọn Phật giáo làm nền
tảng" [21, tr 135-137] và Gia đình là "Gia đình của những người con tin Phật
chung sống dưới bóng từ bi Chúng ta nghe, học và thực hành vì lời Phật dạy" [21, tr 5] Trong ấn phẩm SỨ MỆNH GIA ĐÌNH PHẬT TỬ, tác giả Lữ Hồ
lại xác định: Gia đình Phật tử là một "tổ chức thanh niên Phật giáo , một
Trang 11Đoàn thể thanh niên Phật giáo, là một tổ chức giáo dục thanh, thiếu nhi ; là
một tổ chức gồm đủ mọi lứa tuổi, mọi đẳng cấp xã hội, mọi giới, mọi nghề trong thành phần huynh trưởng đã có đủ: trí thức, thợ thuyền, quân nhân,công chức Gia đình Phật tử có đủ học sinh, sinh viên, thiếu nhi, nông thôn,
lao động " [72, tr 15-88-90] Một số ấn phẩm khác thì xem GĐPT là "một tổ chức, đoàn thể thanh niên có nhiệm vụ giáo dục thanh thiếu nhi theo tinh thần Phật giáo"; " một tổ chức giáo dục cho thế hệ thanh thiếu đồng niên" [65, tr.
35-95]
Như vậy, ngay từ đầu các nhà sáng lập, lãnh đạo GĐPT đa phần đều
khẳng định rằng: GĐPT là một tổ chức giáo dục, một ngành hoạt động của Giáo hội Phật giáo, nó có nhiệm vụ đào luyện thanh thiếu, đồng niên thành Phật tử chân chính; góp phần xây dựng xã hội theo tinh thần Phật giáo [21, tr 136], [72,
do GHPHVN quản lý là: "Sinh hoạt của bộ phận thanh thiếu niên con em giađình theo đạo Phật tự nguyện tham gia, được tu học giáo lý, đạo đức Phật giáo
ở trong chùa, tự, viện, niệm phật đường với sự bảo trợ giúp đỡ và chịu tráchnhiệm của vị sư trụ trì hoặc vị sư bảo trợ thuộc Giáo hội Phật giáo Việt Nam
ở cơ sở" [10, tr 90-91] Nội quy tạm thời hướng dẫn GĐPT của GHPGVN
năm 1999 (Phụ lục 19) xác định danh hiệu của GĐPT "Giáo hội Phật giáo Việt Nam có trách nhiệm quản lý các đơn vị giáo dục thanh, thiếu, đồng niên Phật tử lấy danh hiệu là Gia đình Phật tử do Ban Hướng dẫn Phật tử chuyên trách"; với mục đích là "đào luyện thanh, thiếu, đồng niên tin Phật thành Phật tử
chân chính Góp phần phụng sự đạo pháp và xây dựng xã hội [63] Ấn phẩm
Trang 12"Một số vấn đề về tôn giáo " của MTTQ Việt Nam lại cho rằng: "Gia đình
Phật tử là hình thức tập hợp Phật tử; chủ yếu là thanh thiếu niên; học tập giáo
lý, đạo đức do Giáo hội Phật giáo Việt Nam quản lý, trực tiếp do Ban Hướngdẫn Gia đình Phật tử của Giáo hội chỉ đạo hướng dẫn hoạt động, với mục đíchđào tạo các Phật tử có phẩm hạnh" [125, tr 41]
- Ở một số tư liệu khác như Đề tài KTN 93-07 của Viện Nghiên cứu
Thanh niên xem GĐPT là "một tổ chức thanh thiếu nhi Phật giáo, tập hợp các
tầng lớp tuổi trẻ cùng chung tín ngưỡng, không phân biệt giới tính, thànhphần, ngành nghề với mục đích giáo dục thanh thiếu nhi, chú trọng mặt đạo
đức tôn giáo và các hoạt động thanh niên" [12, tr 20]; Đề tài KX 07-03 của
Viện Triết học lại quan niệm GĐPT là: "Hệ thống tổ chức nam nữ cư sĩ Phật
tử Tổ chức này gồm các nam nữ cư sĩ trẻ tuổi từ 7 - 22 tuổi, được hướng dẫn
về giáo lý đạo Phật và sinh hoạt tập thể theo lứa tuổi Tổ chức cư sĩ Phật tửvới mục đích là đào luyện thanh thiếu nhi thành Phật tử chân chính, góp phầnxây dựng xã hội theo tinh thần Phật giáo và Phật tử chân chính" [118, tr 209]
1.1.3 Ý kiến của tác giả luận án
Thông thường để đưa ra khái niệm về một tổ chức nào đó (tổ chức chính trị, tổ chức xã hội ) thì chỉ cần dựa vào mục đích, tôn chỉ, nội quy, điều lệ, đường hướng hoạt động của tổ chức đó Thế nhưng khi bàn đến vấn
đề GĐPT thì khó có thể đưa ra một khái niệm vừa phản ánh đúng bản chất của nó và vừa đúng với mọi hoàn cảnh lịch sử Bởi vì, trong tiến trình phát
triển từ trước đến nay, GĐPT đã rất nhiều lần thay đổi, tu chỉnh nội quy, mụcđích, tôn chỉ (1951, 1954, 1967, 1970, 1973 1999) và đường hướng hoạtđộng của GĐPT trong từng giai đoạn lịch sử cụ thể lại chịu sự tác động bởicác xu hướng chính trị - xã hội khác nhau Đặc biệt do sự tác động của những
xu thế khác nhau (xu thế dân tộc hóa, xu thế đa dạng hóa và hiện đại hóa, xuthế thế tục hóa ), với các hoạt động đan xen (tôn giáo - phi tôn giáo, Đạo -
Trang 13Đời và Đời - Đạo ) đã làm cho không khí của đời sống tôn giáo nói chung vàGĐPT nói riêng trở nên sôi động, phức tạp hơn Do vậy, việc tìm hiểu nội
dung khái niệm GĐPT phải được xem xét trong từng giai đoạn lịch sử cụ thể:
- Nếu chỉ dựa vào mục đích, tôn chỉ của Đoàn thanh niên Phật học Đức dục, Gia đình Phật hóa phổ, Nội quy trình GĐPT (năm 1951) của Hội Phật học thì có thể xem Gia đình Phật tử là một tổ chức giáo dục thanh thiếu niên của Phật giáo, sinh hoạt trong khuôn khổ pháp lý của một tổ chức Giáo hội hợp pháp và luật pháp đương thời, với mục đích đào luyện thanh thiếu niên tin Phật thành Phật tử chân chính
- Tuy nhiên, trong quá trình hoạt động do chịu sự tác động bởi các yếu
tố chính trị - xã hội nên "Gia đình Phật tử đã vượt biên giới gia đình để đi vào
xã hội" với phương châm hoạt động "Đạo phải ở trong Đời, phải phụng sự cõi đời và Đời cũng phải ở trong Đạo " [72, tr 85-86] Nghĩa là từ một "tổ chức hoàn toàn giáo dục" [21, tr 136], chỉ với mục đích "đào tạo thanh, thiếu,
đồng niên thành những Phật tử chân chính"; GĐPT còn đặt ra cho mìnhnhiệm vụ "góp phần xây dựng xã hội theo tinh thần Phật giáo" [46, tr 5].Trong giai đoạn từ năm 1954 đến năm 1975, hoạt động của GĐPT đã mang
tính chất của một Hội đoàn tôn giáo, một tổ chức thanh niên tôn giáo [72, tr 90] GĐPT lúc này không còn thuần túy là sinh hoạt của một "gia đình" mà
nó đã thực sự trở thành một Đoàn thể thanh niên Phật giáo - đặc biệt có lúc còn đòi đổi danh hiệu GĐPT thành Đoàn thanh niên Phật tử Việt Nam [72, tr.
88-90] Điều này được minh chứng trong ấn phẩm SỨ MỆNH GIA ĐÌNH PHẬT
TỬ của tác giả Lữ Hồ (xuất bản năm 1964): Đối với lịch sử thì "Gia đình Phật
tử chưa hề từ bỏ sứ mệnh lịch sử của mình chưa từng từ bỏ sự đóng gópbằng cân não, bằng xương máu vào cuộc phục hưng độc lập và thống nhất
cho dân tộc"; đối với đạo pháp thì "Gia đình Phật tử là hiếu tử của bổn sư là
lớp đạo hữu trung kiên là bức tường thành bảo vệ tín ngưỡng là thế hệ
Trang 14đang lên của Giáo hội"; đối với tổ chức thì "Gia đình Phật tử không từ chối
mọi việc tương trợ cần thiết cho sự sinh tồn của tổ chức" và "Giáo hội không
có Gia đình Phật tử là Giáo hội chết" [72, tr 89-209]; đối với xã hội, GĐPT
còn đặt cho mình sứ mệnh đấu tranh giành độc lập, đấu tranh cho thống nhất,cho hòa bình với quan niệm "là công dân của nước, cá nhân Phật tử có bổnphận góp phần vào cuộc đấu tranh chính trị, ủng hộ chính quyền của dân vàtham gia chính đảng hợp chính nghĩa", bởi vì "chương trình giáo dục và xãhội không dễ gì thực hiện được khi mà áp lực của chính trị và hoàn cảnhchiến tranh ngày một tàn khốc Phải hiểu chính trị để bảo tồn sức mạnh củaphong trào" [72, tr 218-233] Theo họ, để thực hiện các sứ mệnh trên thì "đoànviên Gia đình Phật tử phải phụng sự một nhiệm vụ kép là tín ngưỡng và Tổquốc, tu cho mình và hành cho người" và muốn thành công "phải tính chuyệncủng cố hàng ngũ sẵn có, phải lưu tâm nuôi dưỡng cho Gia đình Phật tử tồn tạivững mạnh" [72, tr 262-265]
Rõ ràng xu thế thế tục hóa đã làm cho hoạt động của Phật giáo nói
chung, GĐPT nói riêng "dường như sôi động hơn, nhưng đã bị chia rẽ nhiềuhơn, phân tán hơn, phức tạp hơn, gắn với sự xoay vần của trần thế và diễnbiến theo tình hình của chính trị" [127, tr 169]; nhiều khi các hoạt động đã
nhuốm màu sắc chính trị và "các thế lực chính trị - xã hội không ngần ngại lợi
dụng sự chuyển biến đầy phức tạp của tôn giáo, phục vụ cho ý đồ riêng tư" [127,
tr 178] Do vậy, trong giai đoạn này (1954 - 1975) có thể xem GĐPT là một đoàn thể thanh thiếu niên Phật giáo, sinh hoạt trong khuôn khổ pháp lý của một tổ chức Giáo hội hợp pháp và luật pháp đương thời với mục đích đào luyện thanh thiếu niên tín đồ Phật giáo thành Phật tử chân chính, góp phần phụng sự đạo pháp và xây dựng xã hội theo tinh thần Phật giáo.
- Vấn đề đặt ra hiện nay là danh hiệu, mục đích, tôn chỉ GĐPT được quan niệm như thế nào? "Nội quy tạm thời Hướng dẫn GĐPT" của GHPGVN (1999) xác định: Về danh hiệu của GĐPT " Giáo hội Phật giáo Việt Nam có
Trang 15trách nhiệm quản lý các đơn vị giáo dục thanh, thiếu, đồng niên Phật tử lấy danh hiệu là Gia đình Phật tử do Ban Hướng dẫn Phật tử chuyên trách", và mục đích của GĐPT là "đào luyện thanh, thiếu, đồng niên tin Phật thành Phật tử chân chính; góp phần phụng sự đạo pháp và xây dựng xã hội" [63] Tuy nhiên, việc xác định mục đích như vậy là chưa thỏa đáng, vì không chỉ rõ việc xây dựng xã hội đó là xã hội gì? Để giải quyết vấn đề này một cách hợp lý thì
nên căn cứ vào tư cách pháp nhân, mục đích, tổ chức và phương châm hoạt động
của GHPGVN (Tổ chức Phật giáo Việt Nam cả nước lấy danh hiệu là
GHPGVN; GHPGVN là tổ chức Giáo hội duy nhất của tăng ni, phật tử Việt
Nam, hoạt động trong khuôn khổ của Hiến pháp và pháp luật; mục đích hoạt
động là điều hòa hợp nhất các hệ phái Phật giáo Việt Nam tham gia xây dựngbảo vệ Tổ quốc, phục vụ dân tộc góp phần xây dựng hòa bình an lạc cho thế
giới; phương châm hoạt động là "Đạo pháp - Dân tộc - Chủ nghĩa xã hội") [64,
tr 4-6] ) để xác định danh hiệu và mục đích hoạt động của GĐPT Khi đã
xác định GĐPT là một ngành hoạt động [62, tr 9], là đơn vị giáo dục [63] của
GHPGVN; thì GĐPT phải hoạt động trong khuôn khổ pháp lý của tổ chứcGiáo hội hợp pháp (GHPGVN) và luật pháp hiện hành Như vậy, theo chúng
tôi, có thể xem GĐPT là một phương thức giáo dục TTN của Phật giáo, sinh hoạt trong khuôn khổ pháp lý của GHPGVN và luật pháp hiện hành, với mục đích đào luyện TTN tin Phật thành Phật tử chân chính, góp phần phụng sự đạo pháp và xây dựng xã hội theo phương châm "Đạo pháp - Dân tộc - Chủ nghĩa xã hội".
1.2 TIẾN TRÌNH HOẠT ĐỘNG VÀ BẢN CHẤT, ĐẶC ĐIỂM CỦA GIA ĐÌNH PHẬT TỬ
1.2.1 Tiến trình hoạt động của Gia đình Phật tử
1.2.1.1 Khái lược một số đặc điểm cơ bản của Phật giáo Việt Nam (giai đoạn 1930 đến nay) có liên quan đến vấn đề GĐPT
Trang 16Phật giáo là một tôn giáo có bề dày lịch sử, luôn gắn bó với dân tộctrong sự nghiệp dựng và giữ nước, trải qua nhiều cuộc thăng trầm, thịnh suy củađất nước trong suốt gần 20 thế kỷ qua; đã trở thành một bộ phận không thểtách rời của truyền thống tinh thần dân tộc Trong phạm vi nghiên cứu của luận
án, chúng tôi không đi sâu giới thiệu lịch sử du nhập, phân tích những đóng góp
to lớn của Phật giáo cho đất nước trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội,
mà chỉ khái quát một số đặc điểm cơ bản của Phật giáo Việt Nam (PGVN)trong những năm gần đây có liên quan, tác động đến hoạt động của GĐPT
Đầu tiên phải nói đến sự đa dạng của PGVN; điều mà mà GS Đặng
Nghiêm Vạn đồng ý với nhận định trong cuốn Présence du Bouddhisme:
"Đạo Phật trên toàn thế giới, ta thấy tuy ở đâu cũng bám vào giáo lý của Phật,nhưng cách hiểu và cách giải thích và nhất là sự thể hiện ra ở các nghi thức,phương pháp tu hành thì rất khác nhau" [126, tr 42]
PGVN nói chung cũng là một thực thể không thuần nhất; ở mỗi thờiđại, mỗi giai đoạn lịch sử và ở những khu vực, miền địa phương khác nhau, Phậtgiáo mang những nét riêng rất đặc thù, phong phú và đa dạng [45, tr 271] Cóthể nói rằng: "Tính đa dạng là một thực tế khách quan cần lưu ý, và lại càngcần lưu ý hơn, vì qua hai cuộc chiến tranh, không phải chỉ có phân rẽ về giáo lý,
mà còn phân rẽ về chính trị hay vì danh, vì lợi" [45, tr 271] Sự phân rẽ đó, như
GS Nguyễn Tài Thư đã nhận xét: "Tuy không quan trọng bằng vấn đề thế giớiquan và nhân sinh quan nhưng đã gây ra sự ngộ nhận, nếu không được giảiquyết thỏa đáng thì chúng sẽ gây ra những trở ngại cho sinh hoạt bình thườngtrong Phật giáo cũng như trong xã hội nói chung" [117, tr 100] Tìm hiểu nhữngđặc điểm chung, riêng của bức tranh trên chính là yêu cầu đặt ra cho việc nắmđược bản chất của vấn đề và xác định một thái độ, một phương pháp ứng xửđúng đắn trong việc thực hiện chính sách tôn giáo nói chung, Phật giáo vàGĐPT nói riêng Chính sách đó "không thể dừng lại ở cái nhìn tổng thể, mà
Trang 17phải có những biện pháp cụ thể với từng miền, từng tôn giáo khác nhau;không chỉ dưới góc độ chính trị mà cả dưới góc độ văn hóa, đạo đức " [126,
tr 114]
a) Giai đoạn 1930 đến 1954
Trong phong trào chấn hưng Phật giáo: Vào những năm 30 của thế
kỷ XX, một số nhà tu hành cùng với một số nhân sĩ trí thức có tinh thần dântộc và mến đạo, đã đứng ra vận động "Chấn hưng Phật giáo"
Về các tổ chức ở thời kỳ này có: Ở miền Nam có Hội Nam kỳ nghiên cứu Phật học, Hội Tăng già Nam Việt (thành lập tháng 6/1951) Ở miền Trung có An nam Phật học (thành lập năm 1932) và Hội này cũng đã sáng lập
ra tổ chức GĐPT Cũng trong năm 1935, Phật học đường Báo Quốc được thành lập; các tổ chức đoàn thể như Đoàn thanh niên Phật học Đức Dục, Gia đình Phật hóa phổ, Đồng ấu Phật tử (các tổ chức tiền thân của GĐPT) lần
lượt ra đời và đã đào tạo nhiều nhà sư trí thức, hình thành một loạt tổ chứcmượn mẫu đoàn thể xã hội theo lứa tuổi Ngoài ra còn có Hội tăng già Trung
Việt thành (thành lập năm 1949) Ở miền Bắc có Hội Phật giáo Bắc kỳ do ông
Nguyễn Năng Quốc (thành lập năm 1934); Hội chỉnh lý Tăng ni Bắc Việt donhà sư Tố Liên (thành lập năm 1949) Năm 1951, tại Huế các tổ chức Phật
giáo nói trên đã họp lập ra "Tổng hội Phật giáo Việt Nam" - đây được coi là
cuộc vận động thống nhất Phật giáo đầu tiên ở Việt Nam
Trong giai đoạn này, bên cạnh hình thức tổ chức đạo Phật theo mônphái truyền thống, thì đã xuất hiện một dạng tổ chức Giáo hội Phật giáo tácđộng bởi các yếu tố chính trị - xã hội và thay đổi theo từng giai đoạn lịch sử
cụ thể Trong thời kỳ này, thực dân Pháp cũng đã tìm nhiều cách, kể cả việclôi kéo thao túng một số nhân vật và tổ chức Phật giáo, để thực hiện mưu toantập hợp các lực lượng tôn giáo làm chỗ dựa chính trị [120] Tuy vậy, đại bộ
Trang 18phận tăng ni, Phật tử vẫn giữ nếp tu hành theo sơn môn, tông phái và tích cựctham gia đóng góp sức người, sức của vào thắng lợi của công cuộc khángchiến chống thực dân Pháp xâm lược Đã có nhiều tăng ni, Phật tử tham gia tổchức Phật giáo cứu quốc như các cư sĩ Lê Đình Thám, Tôn Thất Tùng, NgôĐiền, Ngô Thừa; nhiều chùa chiền là cơ sở hội họp, che giấu cán bộ ViệtMinh.
b) Thời kỳ 1954 - 1975
Đây là giai đoạn đất nước tạm thời bị chia cắt, tình hình Phật giáo haimiền Nam - Bắc có sự phát triển khác nhau
Phật giáo ở miền Bắc thuần nhất một hệ phái Đại thừa, sau năm 1954
đã hòa hợp trong một tổ chức thống nhất là Hội Phật giáo Thống nhất ViệtNam cho đến ngày thống nhất Phật giáo cả nước vào năm 1981
Trong lúc đó ở miền Nam, xét về mặt tổ chức thì nội bộ Phật giáo có
sự phân hóa đa dạng và phức tạp Đó là sự ra đời của nhiều tổ chức, hệ phái
với nhiều hình thức và phương pháp tu hành khác nhau - với 22 hệ phái và
được chia thành 34 tổ chức, trong đó phải kể đến sự ra đời của Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất (GHPGVNTN) vào năm 1963 Tổ chức này đã tập
hợp được 11 hệ phái và tổ chức Phật giáo ở miền Nam thời bấy giờ.GHPGVNTN có Hiến chương và lập ra Hội đồng Lưỡng Viện - đó là ViệnTăng thống do Hòa Thượng Thích Tịnh Khiết làm Viện trưởng và Thượng tọaThích Trí Quang làm Chánh thư ký; Viện Hóa đạo do Thượng tọa Thích TâmChâu làm Viện trưởng
Khách quan mà xét thì sau khi ra đời, GHPGVNTN tiếp tục vai trò
của Tổng hội Phật giáo Việt Nam trước đây trong việc tiếp tục chủ trương phát
động phong trào đấu tranh chống chế độ độc tài Ngô Đình Diệm đàn áp Phậtgiáo Phong trào đấu tranh của Phật giáo chống Ngô Đình Diệm tuy tính chấtthuần túy tôn giáo, nhưng nhiều lúc nó cũng đã hòa quyện vào phong trào đấu
Trang 19tranh cách mạng ở miền Nam Điều này được khẳng định rõ trong bài phátbiểu của ông Lê Quang Vịnh (nguyên Trưởng ban Tôn giáo của Chính phủ):
"Cuộc đấu tranh này vừa có nội dung và mục tiêu Phật giáo đòi tự do, bình đẳngtín ngưỡng tôn giáo và tự bảo vệ mình, vừa là một bộ phận của cuộc chiến đấuchống đế quốc Mỹ và tay sai của nhân dân ta ở vùng đô thị tạm chiếm" [130,
Còn theo tác giả Lê Cung: "Phong trào Phật giáo miền Nam Việt Nam năm
1963 là một phong trào yêu nước của đồng bào theo đạo Phật và là một bộphận của phong trào đô thị, phong trào của nhân dân miền Nam chống Mỹ -Diệm" [18, tr 291-295] Và cũng thật không khách quan, không công bằng vàkhông biện chứng lịch sử nếu nói đến phong trào Phật giáo miền Nam mà
không nhắc đến vai trò của các huynh trưởng và đoàn sinh GĐPT trong quá
trình đấu tranh chống chế độ ngụy quyền ở miền Nam - đặc biệt đáng chú ý làvai trò của sinh viên Phật tử Có thể nói, đây là lực lượng xung kích trongcuộc đấu tranh đòi tự do, bình đẳng tín ngưỡng tôn giáo Trong bối cảnh
chính trị - xã hội đó, nhiều đoàn thể Thanh niên Phật tử được thành lập, như
Đoàn thanh niên cứu nguy Phật giáo, Thanh niên Tăng đoàn Việt Nam, Thanhniên đoàn Quốc Tuệ, Việt Nam thanh niên ái quốc đoàn Các đoàn thể nàycũng đã "góp phần vào việc làm sụp đổ chế độ Ngô Đình Diệm, từng bướcđánh bại bọn xâm lược và tay sai, biểu hiện ý thức dân tộc, lòng yêu nước củađông đảo tăng ni tín đồ Phật giáo" [18, tr 263]
Trở lại vấn đề các tổ chức, hệ phái Phật giáo ở miền Nam trước năm
1975, có thể nhận xét rằng, trong phong trào "Chấn hưng Phật giáo", do những
nguyên nhân lịch sử nhất định khiến cho phong trào Phật giáo nước ta rất đadạng và nhiều lúc "Phật giáo canh tân mang tính chất hội đoàn xã hội cho nênvấn đề tổ chức trở nên quan trọng hơn vấn đề giáo lý" [71, tr 227] Vấn đềnày phản ánh một thực tế là sự ra đời của các chi phái, hệ phái nhỏ không chỉ
vì nguyên nhân giáo lý, pháp môn tu hành, mà còn chịu sự tác động của xu
Trang 20hướng chính trị - xã hội Điều này được phản ánh trong lời thừa nhận của Hòathượng Thích Mật Thể: "Ôi tinh thần Phật giáo đến đây hầu như đã tuyệtdiệt", "40 năm cố gắng chưa đưa được tăng giới Việt Nam ra khỏi tình trạngsuy đồi" [45, tr 247] Nếu trước thế kỷ XX, Phật giáo nước ta tuy có sựkhông thống nhất về tư tưởng giáo lý, nhưng lại không dẫn đến mâu thuẫn về
tổ chức Trái lại, qua quá trình "Chấn hưng Phật giáo" tuy có sự thống nhất
về tư tưởng giáo lý, nhưng sự không thống nhất về tổ chức ngày càng biểu
hiện đa dạng và phức tạp Đặc biệt là sự:
Không tương đương với sự hòa đồng trong pháp môn tu hành,các tăng ni miền Nam xuất thân từ các miền, giáo hội, tông phái,pháp môn khác nhau - những phân biệt trên mang tính hình thứcnhiều hơn giáo học - vẫn còn những tình cảm nhất định với xuất xứcủa mình, tạo xu hướng địa phương cục bộ bản vị trong nội bộ tăngđoàn [45, tr 263]
Sau năm 1963, sự tác động của yếu tố chính trị - xã hội càng thể hiện
rõ nét trong các tổ chức Phật giáo ở miền Nam - trong đó phải kể đến hoạt
động của Giáo hội Phật giáo Việt Nam thống nhất GHPGVNTN ra đời từ
phong trào đấu tranh chống chế độ độc tài Ngô Đình Diệm đàn áp Phật giáo
đó đã tập hợp được nhiều hệ phái và nhiều tổ chức, môn phái Phật giáo ởmiền Nam Là tổ chức mạnh nhất, chi phối các hoạt động của Phật giáo các
tỉnh miền Nam, song nội bộ của nó cũng có những mâu thuẫn - nhất là trong
hàng giáo phẩm lãnh đạo: "Một bộ phận tăng ni và một vài tổ chức đã bị chiphối bởi khuynh hướng chính trị xa rời dân tộc, thoát ly truyền thống hòanhập, đoàn kết của Phật giáo Việt Nam" [69, tr 232-233] Điều này cho thấyrằng tuy "tổ chức tôn giáo không phải là bản chất tôn giáo", nhưng "tổ chứcphụ thuộc vào tập thể lãnh đạo ở đấy có những khuynh hướng khác nhau, đấutranh với nhau Tất nhiên ý đồ phụ thuộc vào người đứng đầu" [127, tr 182]
Trang 21Đây là điểm mà các thế lực chính trị luôn tìm cách lợi dụng để phục vụ cho ý
đồ riêng tư
Hệ quả của sự phân hóa của GHPGVNTN đã cho ra đời tổ chức "Phật giáo Ấn Quang" và "Phật giáo Việt Nam quốc tự" Năm 1972 - 1973 do âm mưu
thâm độc của Mỹ - Ngụy, chính nhóm "GHPGVNTN Ấn Quang" lại bị chia
rẽ phân tranh, nồi da xáo thịt Trong cuộc phân hóa này, một bộ phận vẫn giữlập trường dân tộc và đạo pháp, tỏ rõ thái độ dứt khoát chống đế quốc Mỹ vàtay sai, yêu cầu chấm dứt chiến tranh xâm lược, ủng hộ độc lập hòa bình, hòahợp dân tộc [130, tr 3]; một bộ phận bị Mỹ - Ngụy lôi kéo, lợi dụng và một
bộ phận không nhỏ khác bị tác động chi phối theo đường lối trung lập Sựphân hóa này cũng đã tác động rất lớn đến tổ chức, đội ngũ đoàn sinh vàhuynh trưởng GĐPT
c) Thời kỳ 1975 đến nay
Sau năm 1975 nước nhà độc lập, thống nhất, hòa bình; giang sơn thu
về một mối Trong bối cảnh đó, nguyện vọng của đồng bào Phật tử và của các
tổ chức Giáo hội đương thời (bao gồm Hội Phật giáo Thống nhất Việt Nam ởmiền Bắc và Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất ở vùng tạm chiếm cũmiền Nam; Ban liên lạc Phật giáo yêu nước chủ yếu từ vùng giải phóng trở
về, cùng một số sơn môn, tông phái khác) là sớm hòa hợp thống nhất Phậtgiáo trong cả nước Tuyệt đại bộ phận tăng ni tín đồ GHPGVNTN (ẤnQuang) nói riêng; các tổ chức, hệ phái Phật giáo ở miền Nam nói chung đãhăng hái, tự nguyện tham gia công cuộc đại thống nhất Phật giáo Hơn thế,chân lý và luật pháp nước ta quy định:
Tất cả hình thức tổ chức tồn tại hợp pháp ở vùng địchchiếm, dưới chế độ cũ, đương nhiên bị giải thể và xóa bỏ, cùng với
sự sụp đổ của ngụy quyền; tổ chức nào muốn hoạt động lại phảiđược phép của Nhà nước trong chế độ mới Xét vì Giáo hội Phật
Trang 22giáo Việt Nam thống nhất (Ấn Quang) cũ vốn là tổ chức Phật giáotừng được một bộ phận nhân dân là đông đảo tăng ni tín đồ Phật tử
ở vùng tạm chiến nhìn nhận, lại có tinh thần dân tộc, có công tíchđóng góp đấu tranh chống đế quốc và tay sai, nên tổ chức nàykhông mất đi mà vẫn tiếp tục hòa nhập, tồn tại và phát huy trongmột tổ chức Phật giáo lớn hơn, đoàn kết thống nhất các tổ chức, hệphái và tăng ni tín đồ của cả nước [130, tr 1]
Trên tinh thần đó kể từ ngày 4 - 7/11/1981 Hội nghị đại biểu thốngnhất Phật giáo vẫn được tổ chức tại Hà Nội với sự tham gia của 165 đại biểutăng ni Phật tử, đại diện cho 9 tổ chức và hệ phái Phật giáo trong cả nước về
dự Hội nghị đã thống nhất Phật giáo trên nguyên tắc "thống nhất ý chí vàhành động, thống nhất lãnh đạo và tổ chức, tuy nhiên các truyền thống hệ pháicũng như các pháp môn và phương tiện tu hành đúng chánh pháp đều được
tôn trọng và duy trì " Hội nghị đã thông qua Hiến chương và lấy tên là Giáo hội Phật giáo Việt Nam Đây là sự kiện trọng đại trong lịch sử PGVN, nó đáp
ứng tình cảm, nguyện vọng tha thiết của tăng ni, Phật tử cả nước; đồng thờitạo điều kiện hơn bao giờ hết cho PGVN tiếp tục phát huy truyền thống gắn
bó với dân tộc để "hộ trì hoàng dương Phật pháp, phục vụ Tổ quốc Việt Nam
xã hội chủ nghĩa, góp phần đem lại hòa bình an lạc cho thế giới" [62, tr 4-5]
Về nguyên tắc và đường lối thì "Giáo hội Phật giáo Việt Nam là tổ chức Giáohội duy nhất đại diện cho tăng ni, Phật tử Việt Nam" và "Giáo hội Phật giáoViệt Nam hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật của nước Cộnghòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam" [62, tr 4-5]
Kể từ ngày thống nhất Phật giáo cả nước đến nay GHPGVN đã qua 5 lầnĐại hội (1981, 1987, 1992, 1997, 2002) Kể từ đó đến nay, GHPGVN thật sự
là ngôi nhà chung đại hòa hợp, đại thống nhất, đại biểu chân chính của tất cả
hệ phái, tông môn và tăng ni cư sĩ Phật giáo trong, ngoài nước Cũng vớiđường hướng hành đạo theo phương châm "Đạo pháp - Dân tộc - Chủ nghĩa
Trang 23xã hội"; GHPGVN đã làm được nhiều việc lợi đạo ích đời, làm cho PGVNngày càng xứng đáng là một tôn giáo của sự từ bi và trí tuệ với giáo lý vô ngã
vị tha, cứu khổ độ sinh của nhà Phật, thực hiện tinh thần nhập thế của PGVN;vận động tăng ni, Phật tử trong cả nước tích cực tham gia vào các hoạt động
xã hội, tham gia công tác xóa đói giảm nghèo; vận động cứu trợ nhân đạo,giúp đỡ người già cả neo đơn, trẻ em mồ côi Tất cả những điều đó thể hiệnPGVN là một tôn giáo luôn gắn đạo với đời, sát với thực tế và luôn đồng hànhvới dân tộc, là một tôn giáo có truyền thống yêu nước gắn bó với dân tộc.Những thành tựu Phật sự nói trên vừa chỉ rõ Phật tử Việt Nam thật sự chứng
tỏ là một lực lượng công dân to lớn, đã hăng hái đóng góp xứng đáng vàocông cuộc đổi mới đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; vừa thuyết minh sựsáng suốt của chính sách của Đảng và Nhà nước ta trước sau như một là luôntôn trọng và đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân; đảm bảomọi sinh hoạt tôn giáo theo pháp luật; đồng thời chăm lo phát triển kinh tế đểngày càng nâng cao đời sống cho nhân dân; tạo điều kiện cho đồng bào và cácchức sắc tôn giáo trong đó có tăng ni, Phật tử Việt Nam thực hiện tốt ướcnguyện tu hành của mình và làm tròn nghĩa vụ của công dân đối với Tổ quốc
Tuy vậy, bên cạnh các thành tựu Phật sự nói trên, thời gian qua một số
vị tăng ni, cư sĩ lợi dụng danh nghĩa của GHPGVNTN (Ấn Quang) và cả một
số tác nhân ngoại hộ, vẫn còn những ngộ nhận, cố chấp Biểu hiện của sự cốchấp, ngộ nhận đó là các hoạt động của số tăng ni, cư sĩ cực đoan nhằm phụchồi GHPGVNTN; công khai đả kích, nói xấu GHPGVN; bịa đặt và vu cáo Đảng
và Nhà nước ta vi phạm quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo; tích cực đẩy mạnhcác hoạt động Phật sự bất hợp pháp nhằm khuếch trương lực lượng, giành giật
và lôi kéo các tăng ni, Phật tử Những hoạt động đó đã làm cho mâu thuẫn
trong Giáo hội - giữa Giáo hội hợp pháp (GHPGVN) và nhóm Tăng đoàn
(Giáo hội bất hợp pháp) - ngày càng trở nên phức tạp và gay gắt Sự phân hóa
Trang 24trong nội bộ của Phật giáo không chỉ gây phương hại đến các hoạt động Phậtsự; mà còn ảnh hưởng không tốt đến sự đoàn kết nhân dân, ổn định chính trị
xã hội ở địa phương Nhiều lúc, nhiều nơi đã xảy ra các vụ việc và những:
"Vụ việc không phải dừng lại trong phạm vi tôn giáo, mà đã tổ chức thànhchống phá về chính trị và pháp luật Các đương sự đã vọng ngữ và vọng động,trắng trợn bộc lộ ý đồ và thủ đoạn hòng lật đổ chế độ và nhà nước ta, phá vỡcuộc sống ổn định chính trị - xã hội, an cư lạc nghiệp của nhân dân ta" [130, tr.6] Những vụ việc đó được phản ánh một cách rõ rệt trong "điểm nóng" Phậtgiáo ở Thừa Thiên - Huế vào các năm 1992, 1993, 1994 Những hành vi của một
số người bất mãn đó đã được các thế lực phản động ở nước ngoài lợi dụng đểchia rẽ Phật giáo và chống phá đất nước Đặc biệt gần đây, ngày 19-11-2003, Hạnghị viện Mỹ đã bỏ phiếu thông qua Nghị quyết H.Res 427 và ngày 20-11-2003Nghị viện châu Âu thông qua nghị quyết về cái gọi là "Tình hình tự do tôn giáotại Việt Nam" Các nghị quyết đó đã xuyên tạc chính sách và thực tiễn về tự
do tôn giáo ở Việt Nam, trong đó có nội dung vu cáo Chính phủ Việt Nam
đàn áp, bắt giam và ngăn cản các hoạt động của cái gọi là "Giáo hội Phật giáo Việt Nam thống nhất" Những hoạt động này chỉ là sự lặp đi, lặp lại con
bài "tự do tôn giáo và nhân quyền" mà họ từng sử dụng để tạo nguyên cớ canthiệp vào công việc nội bộ của nước khác Ngày 25-11-2003, Quốc hội nướcCộng hòa XHCN Việt Nam cũng đã ra tuyên bố chỉ rõ: Các nghị quyết nóitrên xuyên tạc chính sách và thực tiễn về tự do tôn giáo ở Việt Nam dựa trênnhững thông tin sai lệch do một số phần tử cực đoan lợi dụng chiêu bài tôn
giáo vì mục đích chính trị, bóp méo lịch sử hình thành của Giáo hội Phật giáo Việt Nam sau khi đất nước được thống nhất; cái gọi là "Giáo hội Phật giáo Việt Nam thống nhất" hiện nay chỉ là tập hợp của một nhóm người nuôi
dưỡng những động cơ chính trị chống lại lợi ích dân tộc và thể hiện tham
vọng cá nhân Có thể nói rằng, sự phân hóa trong nội bộ Giáo hội Phật giáo như đã trình bày đã kéo theo sự phân hóa phức tạp trong hàng ngũ đoàn sinh,
Trang 25huynh trưởng GĐPT và gây nên tâm lý hoang mang trong nhận thức của TTN
tín đồ Phật giáo, gây mất ổn định chính trị - xã hội Đây chính là vấn đề màluận án quan tâm nghiên cứu
Tóm lại, tính đa dạng của Phật giáo Việt Nam là một thực tế khách quan
cần lưu ý - đó không chỉ là nét đặc thù của Phật giáo Việt Nam, mà còn là nétđặc thù của tổ chức GĐPT Phó giáo sư Nguyễn Duy Hinh trong công trìnhnghiên cứu của mình cũng đã nhấn mạnh vấn đề này: "Khi nghiên cứu và ứng
xử với Phật giáo nước ta hiện nay, không thể không nhận thức đầy đủ chỗ đồng
và bất đồng trong phong trào tôn giáo vốn lâu đời gắn bó với dân tộc" [71, tr.
229] Đặc biệt, những khác biệt lịch sử như thế lại rất dễ bị những kẻ đội lốttôn giáo lợi dụng để phục vụ cho những ý đồ xấu Điều này không chỉ đưa lạinhững tổn hại cho phong trào Phật giáo, cho dân tộc; mà còn gây mất ổn địnhchính trị - xã hội của đất nước Tìm hiểu những đặc điểm chung, riêng của
bức tranh trên chính là yêu cầu đặt ra cho việc hiểu, để xác định một thái độ, một thế ứng xử đúng đắn đối với Phật giáo nói chung và GĐPT nói riêng [45, tr.
232]
1.2.1.2 Hoạt động của Gia đình Phật tử qua các giai đoạn
a) Vài nét về hoàn cảnh ra đời của Gia đình Phật tử
Vào những năm 30 - 40 của thế kỷ XX, trong bối cảnh đất nước bị nô
lệ, nhân dân mất tự do, văn hóa dân tộc bị nô dịch; một số tăng ni, cư sĩ yêunước đã đứng ra tổ chức các đoàn thể thanh niên Phật tử để xây dựng lýtưởng: "Tinh thần Dân tộc và Đạo pháp trong hàng ngũ thanh niên tin Phật;
để chống lại văn hóa nô dịch mất gốc được thực dân Pháp thực hiện nhằm phátan tinh thần yêu nước, yêu quê hương, yêu giống nòi của dân tộc Việt Nam"[53, tr 140] Mục đích hoạt động ban đầu của các đoàn thể thanh niên Phật tửđược xác định là nhằm chống lại "sự đồng hóa của nền văn hóa ngoại lai" [ 53,
tr 140], khắc phục hiện trạng đạo đức suy đồi với "thảm họa khủng hoảng
Trang 26luân lý, đời sống sa đọa trụy lạc, nếp sống buông thả ở các thành thị, sự bànhtrướng của loại văn nghệ diễm tĩnh, đọa lạc" [72, tr 23-50] để bảo tồn "mộtnếp sống đạo lý cao đẹp, một nền văn hóa nhân bản và một tinh thần baodung hòa hợp" [58, tr 2] Trước tình hình đó thực dân Pháp bắt đầu lo sợ;chúng tìm cách tấn công, phân hóa các tổ chức Hội đoàn thanh niên tôn giáobằng nhiều hình thức như khủng bố, bắt bớ những thanh niên có tinh thần yêunước; tha hóa số trung lập, cầu an bằng con đường ăn chơi hưởng thụ, dụ dỗmua chuộc số tham danh lợi để dùng làm tay sai
Vào thời điểm ấy Phật giáo Việt Nam đang bước vào giai đoạn Chấnhưng khắp ba miền (như đã trình bày ở phần 1.2.1.1) Một số thanh niên trí thứctheo đạo Phật thấy các tổ chức thanh niên ngoài xã hội luôn bị thực dân Phápdòm ngó, ngăn cấm; mặt khác do đạo đức thanh niên trong xã hội ngày càng bịxuống cấp nên họ dựa vào phong trào "Chấn hưng Phật giáo" để tổ chức cácHội đoàn thanh thiếu nhi trong Phật giáo, lấy nhà chùa làm chỗ dựa hợp pháp
Từ đó, các Hội đoàn thanh thiếu nhi trong Phật giáo ra đời dưới các danh
xưng "Phật tử Đồng ấu" (ra đời năm 1935, đến năm 1943 đổi thành Gia đình Phật hóa phổ") và "Đoàn Phật học Đức dục" (ra đời năm 1940) với mục đích
chăm lo "Đức dục", "Trí dục" cho thanh thiếu nhi theo tinh thần Phật giáo Các
vị lãnh đạo các hội đoàn trên quan niệm: "Đạo Phật là đạo của mọi người, thìđạo Phật cũng là đạo của tuổi trẻ Cần giáo dục đạo Phật cho thanh thiếu nhi
có phương pháp phải lo xây dựng tín ngưỡng thuần chánh cho con em hộiviên, nhất là lớp tuổi trẻ ấy đang sống giữa một thời đại phức tạp hỗn loạn vàmất gốc" [53, tr 140]
Từ lúc thành lập, các người sáng lập tuyên bố tổ chức của họ từ trướcđến nay là một đoàn thể thiện ái và nhân bản, vượt lên trên mọi quan điểm vềchính trị - xã hội: "Chí hướng của họ là góp phần xây dựng xã hội lành mạnh,đào tạo và giáo dục các thế hệ TTN giữ được truyền thống đạo đức dân tộc khỏi
bị ảnh hưởng bởi nếp sống trụy lạc, đầy dục vọng và cạm bẫy làm băng hoại
Trang 27và tha hóa đạo đức " [118, tr 245] Tuy vậy, xét về mặt lịch sử, có thể nói rằng:
"Việc thành lập GĐPT, cũng như các đoàn thể khác của Phật giáo; một mặt
do nhu cầu củng cố Phật giáo, củng cố tinh thần dân tộc ; mặt khác do tácđộng mạnh mẽ của phong trào TTN hoạt động có tổ chức dưới những màu sắcchính trị, xã hội, tôn giáo khác nhau" [5, tr 230]
b) Giai đoạn hình thành tổ chức và xây dựng bước đầu của Gia đình Phật tử (1940 - 1954)
Như đã nói trên, từ phong trào "Chấn hưng Phật giáo" và những điều
kiện lịch sử lúc bấy giờ, GĐPT ra đời từ hai tổ chức tiền thân là "Phật tử Đồng ấu" (tức Gia đình Phật hóa phổ) và "Đoàn Phật học Đức dục", với
những người sáng lập và hướng dẫn đầu tiên là các ông: Lê Đình Thám, TônThất Tùng, Ngô Thừa, Ngô Điền, Phạm Hữu Bình, Đinh Văn Nam (Hòathượng Thích Minh Châu), Võ Đình Cường, Nguyễn Hữu Ba, Nguyễn HữuQuán Đó cũng là những cư sĩ đi đầu trong việc Phục hưng và Canh tân Phậtgiáo ở nước ta
"Đoàn Phật học Đức dục" thành lập năm 1940 tại Huế, người chỉ đạo
cơ sở là bác sĩ, cư sĩ Tâm Minh Lê Đình Thám Theo các nhà sáng lập thìĐoàn thanh niên Phật học Đức dục ra đời là do hai nhu cầu lúc bấy giờ: nhucầu khách quan là vấn đề Đức dục trong xã hội xuống cấp, đầy những trụy lạcnguy hiểm; nhu cầu chủ quan là "An Nam Phật học hội chủ trương đào tạonhững thế hệ thanh thiếu đồng niên Phật tử phục vụ chánh pháp với tư cáchcủa những người Phật tử chân chính" [65, tr 28] Do vậy họ đã họp nhau
"thành đoàn thể" để "nguyện thực hành và tuyên truyền đức dục theo giáo lý
nhà Phật" [65, tr 29] cho thế hệ TTN
Về "Gia đình Phật hóa phổ": Song song với việc tu học, trau dồi đạo
đức, nghiên cứu kinh điển, "Đoàn Phật học Đức dục" còn tổ chức những đoàn
"Đồng ấu Phật tử", là đoàn thể quy tụ thiếu nhi của Phật giáo miền Trung.Bên cạnh sự ra đời của "Đồng ấu Phật tử" còn có các tổ chức khác như
Trang 28"Thanh niên Phật tử", "Hướng đạo Phật tử" và "Gia đình Phật hóa phổ" Năm
1947, Tổng trị sự Hội Việt Nam Phật học quyết định cải tổ chương trình tu
học, hợp nhất cả bốn tổ chức trên thành tổ chức duy nhất là Gia đình Phật hóa phổ Huynh trưởng Võ Đình Cường được đề cử đứng ra hướng dẫn tổ
chức, cùng với sự cộng tác của các anh, chị Phan Cảnh Tuân, Phan XuânSanh, Văn Đình My, Hoàng Thị Kim Cúc Mục đích của Gia đình Phật hóaphổ là "dạy cho các em biết sơ qua giáo lý của Đức Phật Tập cho các emsống theo đạo đức của Phật giáo Chuẩn bị cho các em trở thành những Phật
tử chân chính để phục vụ chánh pháp" [65, tr 33], với châm ngôn là "Hòathuận - Tin Yêu - Vui vẻ" Lúc đầu Gia đình Phật Hóa phổ phát triển mạnh ởHuế, sau đó lan nhanh ra các thành phố lớn của đất nước như Đà Nẵng,Quảng Trị, Nha Trang, Đà Lạt, Sài Gòn, Hà Nội
Nhìn chung, do những người sáng lập là các thanh niên trí thức, cótinh thần yêu nước, nên các hoạt động của hai tổ chức trên lúc đầu ít nhiềumang màu sắc dân tộc, đạo đức, truyền thống; phản ứng lại sự nô dịch, ngoạilai và trụy lạc trong xã hội đương thời Nội dung hoạt động của nó chủ yếu tậptrung vào "Đức dục", "Trí dục" cho thanh thiếu nhi theo tinh thần Phật giáo
được chấn hưng và cải cách Điều đó cho thấy tiền thân GĐPT là một tổ chức
có nội dung hoạt động tương đối lành mạnh, có ý thức dân tộc
Bước vào cuộc kháng chiến chống Pháp, một bộ phận cư sĩ và huynhtrưởng như các ông Lê Đình Thám, Tôn Thất Tùng, Ngô Điền, Ngô Thừa, PhạmHữu Bình đã tham gia cách mạng Họ từng là những nòng cốt của phong tràoPhật giáo cứu quốc, có những người trở thành nhân sĩ, cán bộ trung cao cấp củaĐảng, Chính phủ, Mặt trận; trong đó phải kể đến cư sĩ Lê Đình Thám - nguyênChủ tịch Ủy ban Hòa bình Việt Nam, nguyên Phó Hội trưởng Hội Phật giáoViệt Nam Thống nhất Ở vùng tự do, các tổ chức thanh thiếu nhi Phật giáo nóitrên không hoạt động nữa, tất cả tuổi trẻ đều tham gia phong trào kháng chiến
Trang 29cứu nước Ở vùng tạm chiếm, xuất phát và tập trung tại Huế, các cư sĩ VõĐình Cường, Hoàng Thị Kim Cúc, Phan Cảnh Tuân, Nguyễn Hữu Ba, Tống HồCầm, Lê Khắc Quyến, Phan Đăng Trí (làm huynh trưởng) và các nhà sư MinhChâu, Đức Tâm, Thiên Ân, Chơn Trì (làm cố vấn giáo hạnh) đã tiếp tục xâydựng, phát triển phong trào Gia đình Phật Hóa phổ cho đến những năm 1949 -
1950 Năm 1951 Đại hội Phật giáo toàn quốc (vùng tạm chiếm) họp tại Huế;Tổng Hội Phật giáo Việt Nam được thành lập, trong Tổng hội đó có ủy viênGĐPT do ông Võ Đình Cường phụ trách Ngày 24, 25, 26 tháng 4 năm 1951,
Đại hội đầu tiên bàn về GĐPT được tổ chức tại chùa Từ Đàm (Huế) gồm đại
biểu của tám tỉnh miền Trung và các đại diện chính thức của Gia đình Phật Hóaphổ miền Bắc và miền Nam Tại Đại hội này, danh hiệu của tổ chức được đổi là
"GIA ĐÌNH PHẬT TỬ" Hội nghị vạch ra bản nội quy cho GĐPT với mục đích:
"Huấn luyện thanh thiếu và đồng niên Phật tử về phương diện trí dục, đức dục
và thể dục trên nền tảng Phật giáo, để đào tạo thành những người Phật tử chânchính" [53, tr 142] Từ đó GĐPT chính thức ra đời, có quy chế, cấp hiệu phùhiệu riêng và có cơ cấu tổ chức từ Trung ương đến địa phương Ngày 1/4/1953Đại hội GĐPT lần thứ hai được tổ chức tại chùa Từ Đàm (Huế) Đại hội nhằmmục đích "cải thiện đời sống tinh thần và thể chất GĐPT" với ba khẩu hiệu:
"Đạo trong đời, đời trong đạo Lý thuyết cho thực hành và thực hành cho lýthuyết áp dụng đúng thời và hợp thế" [21, tr 159-160] Vấn đề này sẽ đượcphân tích trong phần ảnh hưởng của GĐPT trong TTN Điểm đặc biệt là tạiĐại hội này danh hiệu, tổ chức và sinh hoạt của GĐPT được thống nhất trên
cả ba miền Trung - Nam - Bắc
Nhìn chung, trong giai đoạn này thông qua các Đại hội, GĐPT đãđược củng cố về mặt tổ chức Tuy vậy, trong nội dung giáo dục của nó vẫn chỉ dừng lại ở giới hạn để đào tạo thanh thiếu nhi thành những Phật tử chânchính [53, tr 142] và chỉ nhằm mục đích để phản ứng lại hiện trạng đạo đức
Trang 30xã hội suy đồi, sa đọa, nô dịch, mất gốc [53, tr 140] Ngoại trừ một số cư sĩ,huynh trưởng thực sự yêu nước, hăng hái tham gia cách mạng; một bộ phận
cư sĩ, huynh trưởng khác vẫn còn dừng lại ở tinh thần dân tộc chung chung,
có tính chất trung lập với thái độ "lập lờ hai mặt" và định kiến đối với sựnghiệp kháng chiến cứu quốc của Đảng và nhân dân ta: "Mặc dầu thế chiếnthứ hai đã chấm dứt từ năm 1945, suốt 20 năm nay Việt Nam chưa hề có mộtngày ngưng tiếng súng Hầu hết các chính quyền đều tuyên bố đấu tranh cho hòa
bình và họ đã đấu tranh cho hòa bình bằng vũ khí Người ta đã cố tâm hòa đồng kháng chiến với cộng sản" [72, tr 324] và "giới lãnh đạo kháng chiến
không có được con mắt bao dung đối với Phật giáo" [50, tr 200] Đặc biệt,
trong giai đoạn này trong nội bộ GĐPT bắt đầu xuất hiện sự bất đồng giữa
các huynh trưởng và giữa một số cư sĩ, huynh trưởng với tổ chức Giáo hộiđương thời: "Trái lại, chúng tôi đã quá buồn nhiều khi nhận thấy sự bất đồng
ý kiến quá rõ rệt của các đạo hữu những bất hòa giữa những bậc đàn anhtrong Hội bất đồng ý kiến giữa Tỉnh Hội và anh chị em Gia đình Phật tử"
[21, tr 15-139] Đây là điểm hạn chế của tổ chức GĐPT mà các thế lực thù
địch thường lợi dụng để thực hiện những mưu đồ chính trị
c) Giai đoạn 1954 - 1975
- Sau năm 1954, GĐPT chỉ hoạt động ở miền Nam Chính sách kỳ thịtôn giáo của chế độ Ngô Đình Diệm đã làm cho Phật giáo, cũng như GĐPTgặp nhiều khó khăn Ngày 31-7-1955, GĐPT họp Đại hội lần thứ 3 tại chùaLinh Sơn (Đà Lạt) Mục đích của Đại hội nhằm bổ sung một số điều khoảncủa nội dung tu học; thiết lập Quy chế Huynh trưởng; tu chỉnh nguyên tắc tổchức và điều hành sinh hoạt Đoàn, Đội; vấn đề y phục, huy hiệu, cấp hiệu vàsau hết là vấn đề đào tạo Huynh trưởng [58, tr 81] Năm 1958, Đại hộiHuynh trưởng (Trung phần) lần thứ tư được tổ chức tại Chùa Từ Đàm (Huế);đại hội đã điều chỉnh quy chế Huynh trưởng và mục đích của GĐPT cũngđược điều chỉnh lại là: "Đào tạo những thanh, thiếu và đồng niên Phật tử
Trang 31thành những Phật tử chân chánh để phục vụ chánh pháp và trở thành nhữnghội viên xứng đáng cho Giáo hội" Năm 1961, Đại hội Huynh trưởng toànquốc lần thứ năm được tổ chức ở Sài Gòn; mục đích của Đại hội là kiểm điểmtình hình chung của tổ chức, tu chỉnh nội quy, đề xuất với những phương thứcđối phó với những chủ trương, chính sách của chính quyền Mỹ - Diệm (đangtìm cách ngăn chặn sự phát triển của tổ chức GĐPT)
Nhìn chung, trong giai đoạn này GĐPT có điều kiện thu hút, tập hợpđối tượng của mình và phát triển tổ chức Điều này biểu hiện một nhu cầu tìmkiếm sự ổn định về đời sống tâm linh và phản ứng lại chế độ Ngô Đình Diệmđộc tài của quần chúng miền Nam Khi phong trào đấu tranh giải phóng miềnNam mở ra; ở các vùng giải phóng một bộ phận huynh trưởng và đoàn sinhGĐPT tham gia công tác kháng chiến [50, tr 200]; ở các vùng tranh chấp hoặcđịch kiểm soát phần lớn huynh trưởng có thái độ cầu an; đặc biệt một bộ phậnđoàn sinh, huynh trưởng khác tham gia trong bộ máy ngụy quân, ngụy quyền
Năm 1963, trong công cuộc đòi bình đẳng tôn giáo và công bằng xã hộicủa PGVN; chống lại chính sách kỳ thị tôn giáo của chế độ độc tài Ngô ĐìnhDiệm "GĐPT trở thành lực lượng nòng cốt, xung kích trong cuộc đấu tranh
đó Nhiều huynh trưởng và đoàn sinh GĐPT bị đàn áp, bắt bớ, khủng bố tratấn, tù đày Một số chủ tăng ni và Phật tử đã hy sinh hiến thân mạng mìnhcho công cuộc đấu tranh chung của Phật giáo và dân tộc" [58, tr 135] Tronggiai đoạn này vai trò của GĐPT trong Giáo hội Phật giáo được nâng cao:
"Những năm 1954 - 1963, Mỹ Diệm kỳ thị, đàn áp Phật giáo đã tạo điều kiệncho GĐPT phát triển, thu hút đông đảo TTN tham gia và là lực lượng đi đầutrong các cuộc xuống đường đấu tranh bảo vệ Phật giáo, chống chế độ độc tàigia đình trị, chống bạo quyền chống chiến tranh phi nghĩa Đã có nhữngtrường hợp tử đạo trong các cuộc đấu tranh nói trên" [5, tr 235]
Trang 32Tuy vậy cuộc đấu tranh này có ý nghĩa trong việc "đòi quyền bình đẳngcủa các tôn giáo" [117, tr 109], vì sự sống còn của một tôn giáo; chứ khônghoàn toàn xuất phát từ một tổ chức tự thân có mục tiêu chính trị nhất định và
đó cũng không phải là nguyên nhân duy nhất quyết định sự sụp đổ của chế độđộc tài Ngô Đình Diệm như một số huynh trưởng đã ngộ nhận [29, tr 294]
- Sau năm 1964, GĐPT phát triển mạnh mẽ về tổ chức và số lượng đoànsinh Nhưng do tác động trực tiếp của tình hình chính trị - xã hội và các khuynhhướng của Phật giáo, nên GĐPT có những diễn biến phức tạp: Sau khi chính
quyền Ngô Đình Diệm sụp đổ; ngày 31/12/1963 Giáo hội Phật giáo Việt Nam thống nhất được thành lập với hai Viện là Viện Tăng thống và Viện Hóa đạo;
trong đó GĐPT nằm trong Tổng vụ Thanh niên của Viện Hóa đạo (Điều 14 Hiếnchương ngày 14/1/1964 của GHPGVNTN) Thời kỳ này có số lượng đoànsinh cả triệu người và 5 vạn huynh trưởng ở các tỉnh miền Trung và một ít tỉnhthành miền Nam, với một hệ thống chỉ đạo xuyên suốt từ Trung ương đến cơ
sở
Ngày 28, 29, 30 tháng 8 năm 1964 đã diễn ra Đại hội Huynh trưởngtoàn quốc ở Sài Gòn với sự tham gia của 200 đại biểu Đại hội đã thông qua
Nội quy và Quy chế GĐPT, chương trình hoạt động của GĐPT, bầu Ban hướng
dẫn Trung ương nhiệm kỳ 1964 -1966 (trưởng ban là Võ Đình Cường; phótrưởng ban là Tống Hồ Cầm và Hoàng Thị Kim Cúc) Kể từ đây: "GĐPT trở
thành một ban chuyên môn của Giáo hội, có hệ thống chỉ đạo chặt chẽ từ trên
xuống dưới, tương ứng với các cấp của Giáo hội" [5, tr 234] Trong nhữngnăm 1966, 1967 phong trào đấu tranh vì đạo pháp và dân tộc của Phật giáo lạiđược dấy lên nhằm đòi hỏi tự do, dân chủ, bảo vệ truyền thống dân tộc, kêugọi hòa bình, phản đối chính quyền đương thời đàn áp Phật giáo (phong tràođấu tranh Phật giáo lần 2) Điển hình cho cuộc đấu tranh này là sự hy sinh củathiếu nữ GĐPT Đào Thị Yến Phi (Nha Trang), Nguyễn Thị Vân (Huế), Đào ThịTuyết (Sài Gòn), Huynh trưởng Nguyễn Đại Thức và Phan Văn Diên (Huế)
Trang 33Trong cuộc đấu tranh này, nhiều huynh trưởng và đoàn sinh GDPT bị theodõi, bắt bớ, giam giữ, kết án, lưu đày Năm 1967, Hội nghị GĐPT toàn quốcdiễn ra ở Sài Gòn với 221 đại biểu tham dự Hội nghị đã bàn thảo và đặt ranguyên tắc học tập cho GĐPT: "Gây ý thức gắn liền đạo pháp và dân tộc, đàotạo con người Phật giáo và con người Việt Nam, giữ truyền thống dân tộc,khai phóng sáng tạo nhưng không hướng ngoại mất gốc, tu chỉnh tài liệu họctập, huấn luyện và nội quy GĐPT, quy chế huynh trưởng" [58, tr 158] Năm
1973, Đại hội huynh trưởng GĐPT toàn quốc lại được tổ chức ở Đà Nẵng
nhằm đúc kết thành quả của một quá trình 30 năm sinh hoạt và "tiên liệu những thời tiết trong tương lai, để hoạch định một đường lối sinh hoạt thích hợp với hoàn cảnh đất nước trong thời hậu chiến" [58, tr 179]
Có thể nói, đây là giai đoạn GĐPT phát triển mạnh nhất trong lịch sử
50 năm xây dựng [58, tr 207] Tuy vậy một vấn đề cần lưu ý là trong giai
đoạn này cùng với sự phân hóa của các chức sắc lãnh đạo trong
GHPGVNTN, số huynh trưởng và đoàn sinh GĐPT vẫn bị lôi kéo vào cuộccạnh tranh giữa hai phái Phật giáo Việt Nam Quốc tự và Phật giáo Ấn Quang(như đã trình bày ở phần 1.2.1.1) Do đó nhiều lúc GĐPT không còn là tổchức thuần túy chuyên lo "đức dục", "giáo dục" cho TTN Phật giáo như mụctrên ban đầu của các người sáng lập; mà nó đã bị sự chi phối rất lớn bởi nhiều
yếu tố Nếu xét về mặt tổ chức, thì trước đây GĐPT là một ban chuyên môn
của Giáo hội nằm trong Vụ GĐPT, thuộc Tổng vụ Thanh niên của Viện HóaĐạo (thuộc tổ chức GHPGVNTN) do các cư sĩ, huynh trưởng tổ chức điềuhành với một hệ thống chỉ đạo chặt chẽ từ trên xuống dưới tương ứng với cáccấp của Giáo hội Tuy vậy, trong quá trình phát triển, do chịu ảnh hưởng trựctiếp của tình hình chính trị - xã hội và do tác động bởi các khuynh hướng
trong tổ chức Phật giáo nên GĐPT đã hình thành một hệ thống tổ chức gần như tồn tại song song và độc lập tương đối với GHPGVNTN Trong bối cảnh lịch sử đó, Giáo hội gần như không quản lý được hoạt động của GĐPT mà
Trang 34chỉ mang tính chất cố vấn giáo hạnh và các hoạt động của GĐPT gần như đều do các huynh trưởng GĐPT lãnh đạo, chi phối [30, tr 24] Trong hàng
ngũ đoàn sinh, huynh trưởng lúc này có một bộ phận tham gia trong bộ máyngụy quân, ngụy quyền và trong số họ có một bộ phận tích cực ủng hộ chế độđương thời chống phá cách mạng; số đông huynh trưởng vẫn có thái độ cầu
an và khi có điều kiện họ sẵn sàng tham gia trong phong trào đấu tranh chungcủa Phật giáo; một bộ phận huynh trưởng, đoàn sinh là tri thức, giáo viên,sinh viên, học sinh vẫn tham gia phong trào đấu tranh đô thị, có người bị tùđày, có người là cơ sở cách mạng ở nội thành, có người thoát ly ra vùng giảiphóng trở thành cán bộ chiến sĩ cách mạng [30, tr 36] Đây là giai đoạn sôiđộng và đầy kịch tính của lịch sử Phật giáo Việt Nam nói chung và GĐPT nói
riêng Điểm "đặc thù" về mặt lịch sử nói trên của GĐPT là điều mà các phe
nhóm chính trị phản động thường xuyên tìm cách chi phối, lôi kéo, lợi dụng
d) Giai đoạn 1975 đến 1986
Sau năm 1975, đất nước thống nhất; TTN con em các gia đình theoĐạo Phật hòa nhập vào phong trào của tuổi trẻ cả nước do Đoàn TNCS HồChí Minh và Hội LHTN Việt Nam tổ chức nhằm khắc phục, hàn gắn vếtthương chiến tranh; phục hồi sản xuất, phát triển kinh tế, góp phần xây dựngquê hương đất nước Đa số đoàn sinh, huynh trưởng GĐPT là cơ sở cáchmạng hoặc có cảm tình với cách mạng đã tích cực tham gia các hoạt động củachính quyền cách mạng và trở thành cán bộ, nhân viên các ban ngành đoànthể trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội Một số huynh trưởng tuy vẫngiữ tình cảm luyến tiếc GĐPT, nhưng do trong điều kiện mới không biết hoạtđộng như thế nào cho thích hợp nên cũng thôi không hoạt động nữa Một bộphận huynh trưởng đã từng tham gia trong bộ máy chính quyền cũ hoặc cóvướng mắc về chính trị thì phải đi học tập cải tạo Một số huynh trưởng di tản
ra nước ngoài tiếp tục tập hợp sinh hoạt GĐPT trong các trại tỵ nạn, khu định
cư ở các nước Mỹ, Canada, Nhật Bản, các nước châu Âu và châu Úc
Trang 35Sau Đại hội thống nhất Phật giáo toàn quốc năm 1981, tuy có một số vịcao tăng vẫn luyến tiếc với tổ chức này, nhưng vấn đề GĐPT không được đề cậptrong Hiến chương của Giáo hội Thái độ của GHPGVN lúc này là: xét thấy duytrì tổ chức GĐPT như cũ là không phù hợp với tình hình đất nước sau giải phóngmiền Nam thống nhất nhà nước GHPGVN vẫn coi trọng việc giáo dục quản lý,đạo đức và sinh hoạt tôn giáo của TTN phật tử, nhưng không chủ trương tổchức riêng thành một tổ chức như trước đây
Nhìn chung hoạt động của GĐPT trong giai đoạn này vẫn diễn ra "trongthầm lặng", chưa có những biểu hiện và tác động nhiều đến các mặt của đờisống xã hội, đặc biệt là TTN tín đồ Phật giáo
e) Giai đoạn 1986 đến nay
Từ những năm 1986 trở đi với không khí đổi mới, các nhu cầu và hìnhthức sinh hoạt xã hội được đa dạng hóa dần so với trước; nhiều tổ chức hội đoàntôn giáo có từ trước năm 1975 được phục hồi trở lại Những biểu hiện của sựphục hồi và phát triển đó có nhiều nguyên nhân: Đầu tiên phải kể đến việcĐảng và Nhà nước ta xác định tôn giáo là vấn đề còn tồn tại lâu dài Tínngưỡng tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân [29, tr 45].Ngoài ra, một lý do nữa cần phải kể đến là sự lo lắng của nhiều bậc phụhuynh của TTN tín đồ Phật giáo về tình trạng đạo đức xã hội trong nền kinh
tế thị trường có nhiều biểu hiện phức tạp; trong lúc đó hiệu quả hoạt động củacác đoàn thể chính trị - xã hội còn hạn chế, công tác mặt trận của Đoàn TNCS
Hồ Chí Minh và Hội LHTN Việt Nam còn mang tính hình thức, chưa đáp ứngtình hình và nhu cầu của quần chúng tuổi trẻ nói chung và TTN tín đồ Phậtgiáo nói riêng Do vậy, một bộ phận phụ huynh TTN tín đồ Phật giáo có nhu cầugửi gắm con em họ trong một môi trường giáo dục đạo đức gần gũi với tín
ngưỡng của họ, đó là GĐPT Họ phần nào tin tưởng đó là chỗ dựa và lối thoát
cho con em họ trước "những tệ nạn xã hội cần được ngăn ngừa, phòng chống"[57, tr 13] Hơn nữa nhiều huynh trưởng GĐPT cũ trước đây (tuổi 50, 60, 70)
Trang 36vẫn còn luyến tiếc quá khứ và hoài niệm về "vai trò" và "sứ mệnh" của GĐPTtrong lịch sử Điều này được minh chứng qua một số ấn phẩm và các hoạtđộng của GĐPT: "Chúng tôi nghĩ rằng không có gì có thể ngăn cấm được sựsinh hoạt của một tổ chức giáo dục đạo đức cho con em và cho huynh trưởngtrong GĐPT; nó đã trở thành lẽ sống và sự sống của chúng ta Chúng ta dứtkhoát kiên trì giữ vững lý tưởng tôn thờ lý tưởng cao đẹp đó" [58, tr 463-487] Ngoài ra, một số tăng ni, cư sĩ (thuộc GHPGVNTN Ấn Quang trướcđây) ở trong nước và ngoài nước, đã thường xuyên hỗ trợ GĐPT hoạt độngtrở lại với những động cơ vụ lợi khác nhau (chính trị, địa vị, danh vọng,quyền lợi)
Từ năm 1989 trở đi hoạt động GĐPT có chiều hướng mở rộng và trởthành vấn đề được dư luận xã hội quan tâm Hoạt động này đã lan rộng hầuhết các tỉnh miền Trung, một số tỉnh miền Nam và có xu hướng phát triểnthêm ở Hà Nội, Hải Phòng Lúc này "tùy theo hoàn cảnh của từng địa phương";dựa vào sự bảo trợ của các tăng sĩ, giáo phẩm trong Ban trị sự Giáo hội cáctỉnh, thành phố một số trại huấn luyện và họp bạn thường xuyên được tổchức Điển hình là: Trại Hạnh (Ngành Nữ) do GĐPT Thừa Thiên - Huế tổchức 1991 với sự tham gia 1652 trại sinh; Trại huấn luyện Huyền Trang I vàTrại huấn luyện Lộc Uyển, A Dục, Trại Họp Bạn do Ban hướng dẫn GĐPTLong Khánh tổ chức từ 1991 đến 1994; Trại huấn luyện Lộc Uyển, A Dục,Huyền Trang, Vạn Hạnh và thi vượt bậc ngành Thiếu, ngành Oanh từ năm
1992 - 1994 ở Đà Nẵng; Trại huấn luyện Huyền Trang với 104 trại sinh củaBan hướng dẫn GĐPT Quảng Trị tổ chức 1994; Trại huấn luyện Lộc Uyển -
A Dục - Huyền Trang ở Phú Yên năm 1994 Song song với các trại huấnluyện các lễ Hiệp kỵ Việt Nam, các hoạt động cứu trợ, các lớp học "tìnhthương", các "căn nhà tình thương" là các hoạt động của GĐPT Thừa Thiên
- Huế, Quảng Nam - Đà Nẵng, Phú Yên, Đà Lạt, Sài Gòn tổ chức trong giaiđoạn này [58, tr 463-487]
Trang 37Trước sự phục hồi và phát triển của GĐPT, về mặt quản lý nhà nướcnhiều nơi, nhiều lúc các cấp chính quyền cũng thực sự lúng túng vàGHPGVN cũng chậm triển khai hướng dẫn sinh hoạt GĐPT theo thẩm quyền
và trách nhiệm của mình Cụ thể, có một số vị cao tăng lãnh đạo GHPGVNkiên quyết không thừa nhận hoạt động GĐPT; nhưng một số vị khác lại côngkhai ủng hộ sự phục hồi và phát triển của GĐPT Trong Đại hội lần I củaGHPGVN (1981) vấn đề GĐPT hoàn toàn không được nhắc đến Tại Đại hội
II (1986) chỉ đề cập đến vấn đề cơ sở và sau đó chuyển thành vấn đề nam nữPhật tử bao gồm cả trung niên và thanh niên Cho đến Đại hội đại biểu toànquốc lần thứ III (1991) vấn đề GĐPT mới được đề cập trong Hiến chương:
"Nguyện vọng giáo dục, giáo lý Phật và đạo đức Phật giáo cho nam nữ Phật
tử, trong đó kể cả TTN Phật tử là nguyện vọng chính đáng Cần phải tạo điềukiện thuận lợi để thực hiện nguyện vọng đó" Trước tình hình đó, "xét thấytính chất tu học giáo lý đạo đức thuần túy, giáo dục văn thể mỹ lành mạnh,hướng thiện cho các phật tử từ tuổi TTN và bản chất truyền thống yêu nước,tích cực phụng sự xã hội của GĐPT" [130, tr 8]; Đảng và Nhà nước ta đãchấp thuận đề nghị của GHPGVN cho phép GĐPT được tổ chức tu học, sinhhoạt trong phạm vi GHPGVN [130, tr 8] Về phương diện quản lý nhà nướcBan tôn giáo của Chính phủ (BTGCCP) đã có các Thông tư số 01/TT/TGCPngày 3/5/1995, Công văn số 286/TGCP-V2 và số 287/TGCP ngày 16/6/1999hướng dẫn về việc quản lý sinh hoạt GĐPT của GHPGVN Trên cơ sở đóGHPGVN cũng đã có Thông bạch số 455/TB/HĐTS về việc hướng dẫn quản
lý sinh hoạt GĐPT và đã ban hành nội quy tạm thời hướng dẫn GĐPT củaGHPGVN (Phụ lục 8)
Tuy đặt vấn đề như vậy, nhưng trên thực tế vẫn còn có nhiều ý kiếnkhác nhau (thậm chí trái ngược nhau) về nhận thức và đánh giá, hướng dẫn,quản lý hoạt động GĐPT Có một số cấp lãnh đạo Đảng và chính quyền đặtvấn đề không cho GĐPT sinh hoạt hợp pháp Điều này cũng có lý do là: Vìlực lượng huynh trưởng GĐPT rất phức tạp về chính trị và có nhiều bằng
Trang 38chứng cho thấy mối quan hệ thông tin tài trợ giữa số chống cộng lưu vong ởnước ngoài với số huynh trưởng trong nước Hơn nữa chiều hướng phát triểnGĐPT thành một tập hợp lực lượng tổ chức chính trị từ Trung ương đến cơ
sở, hoạt động không mang tính chất thuần túy tôn giáo, có một số huynhtrưởng xấu tuyên truyền xuyên tạc đường lối chính sách tôn giáo của Đảng,gây chia rẽ nội bộ Phật giáo, tranh giành quyền lực với GHPGVN, phát huythanh thế và vị trí trong xã hội, gây mất ổn định chính trị [4]
Nhưng ngược lại, ở một số địa phương khác, thái độ của một số cấplãnh đạo lại không rõ ràng, không cho nhưng cũng không cấm và cứ thả nổivấn đề, khiến cho hoạt động GĐPT phát triển một cách tự phát, vượt khỏi giớihạn quy định của pháp luật Nhà nước ta
Trước tình hình như vậy, Ban Bí thư Trung ương (BBTTƯ) Đảng đã
ra Thông báo 76-TW ngày 4-11-1994 về vấn đề GĐPT: Cho phép Giáo hộiPhật giáo thực hiện sinh hoạt Gia đình Phật tử cho thanh thiếu niên con emcủa gia đình theo đạo Phật với nội dung tín ngưỡng, đạo đức và vui chơi
hướng thiện trong phạm vi tổ chức hoạt động của Giáo hội ở các chùa đối với những nơi đã có sinh hoạt này; nơi chưa có thì không đặt ra Sinh hoạt Gia đình Phật tử là một phương thức sinh hoạt, không phải là một tổ chức đoàn thể, không thừa nhận và không biến thành một đoàn thể Giáo hội Phật giáo
Việt Nam chịu trách nhiệm trực tiếp quản lý sinh hoạt Gia đình Phật tử, cáchuynh trưởng phải phục tùng sự quản lý và hướng dẫn của Giáo hội Sinhhoạt Phật sự này nằm trong quy định của Giáo hội và trong khuôn khổ của phápluật; kiên quyết không để số cơ hội chi phối và bọn xấu lợi dụng Các đoànthể, trước hết là Đoàn TNCS Hồ Chí Minh và Hội LHTN Việt Nam và cơquan chức năng, dưới sự lãnh đạo của Đảng phải tăng cường liên hợp vậnđộng, xây dựng cốt cán và thông qua lực lượng cốt cán để nắm và định hướngđúng đắn cho những thanh thiếu niên huynh trưởng và tăng ni trong sinh hoạtGia đình Phật tử [26]
Trang 39Trên cơ sở những nguyên tắc chỉ đạo của BBTTƯ Đảng về sinh hoạtGĐPT, Ban Dân vận Trung ương (BDVTƯ) có Hướng dẫn số 36/DV-TWngày 20/3/1995 và BTGCCP có Thông tư 01/TT/TGCP ngày 3/5/1995 vềviệc Hướng dẫn sinh hoạt GĐPT của GHPGVN Các văn bản hướng dẫn trên
đã đề ra một số chủ trương về quản lý và sinh hoạt GĐPT như sau:
Sinh hoạt Gia đình Phật tử do Giáo hội Phật giáo Việt Namquản lý là sinh hoạt của một bộ phận thanh thiếu niên con em giađình theo đạo Phật tự nguyện tham gia, được tu học giáo lý, đạođức Phật giáo ở trong chùa, tự, viện, niệm phật đường với sự bảotrợ, giúp đỡ và chịu trách nhiệm của vị sư trụ trì hoặc vị sư bảo trợthuộc Giáo hội Phật giáo Việt Nam ở cơ sở Vị sư bảo trợ sinh hoạtGia đình Phật tử xin phép chính quyền, trực tiếp chịu trách nhiệmtrước Giáo hội và pháp luật về địa bàn, nội dung sinh hoạt, tư cáchcông dân của huynh trưởng, số lượng và danh sách thanh thiếu niêntham gia Những sinh hoạt trên không làm trở ngại đến học tập, laođộng sản xuất và công tác của thanh thiếu niên [27, tr 90-91]
Trên cơ sở những thông báo, chỉ thị, thông tư của Đảng và Nhà nước.Thông bạch của GHPGVN hoạt động của GĐPT đã có những khởi sắc và đivào nề nếp Có thể nói rằng:
Mặc dù gặp không ít nghịch duyên và có thể còn làm tốt hơn,nhưng chúng ta phải nhìn nhận rằng: Việc tu học của nam nữ Phật
tử lão niên, trung niên và thiếu niên ở nhiều địa phương ổn định vàphát triển liên tục Sau Hội nghị toàn thể kỳ 2 khóa IV của Hộiđồng Trị sự tháng 2-1999, tình hình sinh hoạt Gia đình Phật tử vàhoạt động của hàng huynh trưởng trong Giáo hội Phật giáo ViệtNam được ổn định và cải thiện hơn trước Nhiều Ban Trị sự tỉnhthành hội tổ chức các trại hè, trại huấn luyện trong tinh thần bi -trí - dũng, thuần thục học Phật, tích cực giúp nước, giúp đời, yên tâmphấn khởi [130, tr 4]
Trang 40Theo số liệu thống kê trong năm 2002 của BTGCCP ở 21 tỉnh thành
có 1.332 đơn vị GĐPT đã đăng ký hoạt động (ngoài ra còn có nhiều đơn vịGĐPT chưa đăng ký ở 14 tỉnh thành khác); với số lượng đoàn sinh GĐPT trên89.637; số lượng huynh trưởng GĐPT là 19.061 (Phụ lục 1, 2, 3)
Những thành tựu đó đã đóng góp một phần không nhỏ vào sự nghiệp ổnđịnh và phát triển đất nước, xây dựng xã hội; trong đó có việc đáp ứng nhu cầuđời sống văn hóa tinh thần của các TTN tín đồ Phật giáo Nó phản ánh và thuyếtminh sự sáng suốt của chính sách của Đảng và Nhà nước ta "Tôn giáo là vấn đềcòn tồn tại lâu dài Tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phậnnhân dân Đạo đức tôn giáo có nhiều điều phù hợp với công cuộc xây dựng xãhội mới" [29, tr 45-46] Nó chỉ ra những gì đúng đắn, tốt đẹp mà GHPGVN cầntranh thủ và Đảng, Nhà nước cần ủng hộ một cách tích cực, tin cậy trên conđường "hộ quốc an dân", "tốt đời, đẹp đạo"
Tuy vậy, một vấn đề đáng quan tâm cần được giải quyết ở đây là trongquá trình tồn tại và phát triển, một bộ phận không nhỏ các huynh trưởng dongộ nhận, cố chấp, hoặc bị đế quốc tay sai lợi dụng đã có những hoạt độngvượt quá giới hạn của hành vi tôn giáo, vi phạm pháp luật và chống phá chế
độ Hàng ngũ huynh trưởng GĐPT đã có sự phân hóa rõ nét: Nhóm thứ nhất
có khuynh hướng ủng hộ chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước ta và
các thông bạch của GHPGVN về vấn đề GĐPT; nhóm thứ hai muốn phục hồi
hoạt động của GĐPT trong GHPGVN, nhưng lại có xu hướng muốn duy trì hoạtđộng theo nội quy và quy chế cũ (xem GĐPT là một tổ chức đoàn thể riêng,
có hệ thống chỉ đạo xuyên suốt từ Trung ương đến địa phương do các huynh
trưởng lãnh đạo, còn Giáo hội chỉ bảo kê về mặt pháp lý); nhóm thứ ba tập
hợp một số huynh trưởng có động cơ, thái độ xấu về chính trị muốn chi phối
tổ chức GĐPT theo hướng cực đoan, hoạt động độc lập không chịu sự quản lýcủa GHPGVN, công khai chống đối GHPGVN và ủng hộ GHPGVNTN