1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

ĐỀ tài NGHIÊN cứu KHOA học mô HÌNH tổ CHỨC CHÍNH QUYỀN THỜI kỳ PHONG KIẾN ở VIỆT NAM

107 1,3K 5

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 107
Dung lượng 581,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hiện nay có khá nhiều những công trình nghiên cứu đề cập đến cách thức tổ chức bộ máy nhà nước thời kỳ phong kiến ở Việt Nam nhưng phần lớn là tập trung vào mô tả theo lịch đại, chưa có một công trình nào nghiên cứu một cách đầy đủ, toàn diện và khái quát hoá thành các mô hình tổ chức chính quyền. Nghiên cứu mô hình tổ chức chính quyền thời kỳ phong kiến ở Việt Nam bằng phương pháp liên ngành, đặc biệt là dưới góc độ lý luận – lịch sử nhà nước và pháp luật là một cách tiếp cận mới. Kết quả mà đề tài đem lại phục vụ trực tiếp cho môn học Lịch sử nhà nước và pháp luật Việt Nam được giảng dạy ở Khoa Luật trực thuộc Đại học Quốc gia Hà nội.

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

MÔ HÌNH TỔ CHỨC CHÍNH QUYỀN

Chủ trì đề tài: THS Nguyễn Minh Tuấn

Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà nội

Cố vấn khoa học: PGS.TS Hoàng Thị Kim Quế

Phó chủ nhiệm Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà nội

Hà nội, tháng 12/2005

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

K H O A L U Ậ T

CHỦ TRÌ ĐỀ TÀI: THS NGUYỄN MINH TUẤN

CỐ VẤN KHOA HỌC: PGS.TS HOÀNG THỊ KIM QUẾ

-THE MODEL OF ORGANIZING AUTHORITIES

IN FEUDAL PERIOD IN VIETNAM

Hà Nội – 2005

Đề tài nghiên cứu khoa học cơ bản cấp ĐHQGHN

(Mã số CB.04.27):

Trang 3

MÔ HÌNH TỔ CHỨC CHÍNH QUYỀN

THỜI KỲ PHONG KIẾN Ở VIỆT NAM

-Chủ trì đề tài: ThS Nguyễn Minh Tuấn

Cố vấn khoa học: PGS.TS Hoàng Thị Kim Quế

PHÂN CÔNG BIÊN SOẠN:

PGS.TS Hoàng Thị Kim Quế & ThS Nguyễn Minh Tuấn

Báo cáo tổng quan đề tài, Mục lục, Kết luận chung và danh mục tài liệu

tham khảo

ThS Nguyễn Minh Tuấn

Phần I, Phần II, Phần III, Phần IV, Phần VI

Trang 4

A BÁO CÁO TỔNG QUAN ĐỀ TÀI

I Đặt vấn đề

II Tóm tắt nội dung nghiên cứu của đề tài

B NỘI DUNG NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI

Phần 1

Mô hình thời kỳ Ngô - Đinh – Tiền Lê

(Từ 938 đến đầu thế kỷ XI)

Mô hình chính quyền quân sự

1.1 Xây dựng mô hình chính quyền quân sự thời kỳ Ngô - Đinh

- Tiền Lê (từ năm 938 đến đầu thế kỷ XI) - một nhu cầu tấtyếu

1.2 Mô hình tổ chức chính quyền thời kỳ Ngô - Đinh - Tiền Lê1.2.1 Tổ chức chính quyền ở trung ương

1.2.2 Tổ chức chính quyền ở địa phương

Phần 2

Mô hình thời kỳ Lý – Trần – Hồ

(Từ thế kỷ XI đến đầu thế kỷ XV)

-Mô hình chính quyền tập quyền thân dân

2.1 Vài nét về thời kỳ Lý - Trần - Hồ (Từ thế kỷ XI đến đầu thế

kỷ XV)

2.2 Mô hình tổ chức chính quyền thời Lý – Trần – Hồ: mô hìnhtập quyền thân dân

2.2.1 Mô hình chính quyền thời Lý

2.2.1.1 Tổ chức chính quyền thời Lý ở trung ương2.2.1.2 Tổ chức chính quyền địa phương thời Lý 2.2.2 Nhà Trần (từ 1225 – 1400)

2.2.2.1 Tổ chức chính quyền thời Trần ở trung ương

Trang 5

2.2.2.2 Tổ chức chính quyền thời Trần ở địa phương

Phần 3

Thời Lê (Thế kỷ XV)

Mô hình chính quyền tập quyền quan liêu

3.1 Đặc điểm của Triều Lê

3.2 Mô hình tổ chức chính quyền thời Lê - mô hình tập quyền quan liêu:

3.2.1 Tổ chức chính quyền ở trung ương

3.2.2 Tổ chức chính quyền ở địa phương

Phần 4

Thời kỳ Trịnh – Nguyễn phân tranh

(từ 1600 đến 1786)

Mô hình chính quyền lưỡng đầu ở miền Bắc

4.1 Tổ chức chính quyền ở trung ương

4.2 Tổ chức chính quyền ở địa phương thời Vua Lê - Chúa

Trịnh

Phần 5

Thời Nguyễn (từ năm đầu thế kỷ XIX đến năm 1858)

-Mô hình tập quyền chuyên chế

5.1 Tổ chức chính quyền ở trung ương

5.2 Tổ chức chính quyền ở địa phương

4

Trang 6

Phần 6

Nhận xét về mô hình tổ chức chính quyền

Việt Nam thời kỳ phong kiến

6.1 Nhận xét về sự phát triển của nhà nước phong kiến ở một sốlĩnh vực

6.2 Những đặc trưng cơ bản của nhà nước phong kiến Việt Nam

Trang 7

cứu một cách đầy đủ, toàn diện và khái quát hoá thành các mô hình tổ chức chính quyền Nghiên cứu mô hình tổ chức chính quyền thời kỳ phong kiến ở Việt Nam bằng phương pháp liên ngành, đặc biệt là dưới góc độ lý luận – lịch sử nhà nước và pháp luật là một cách tiếp cận mới Kết quả mà đề tài

đem lại phục vụ trực tiếp cho môn học Lịch sử nhà nước và pháp luật ViệtNam được giảng dạy ở Khoa Luật trực thuộc Đại học Quốc gia Hà nội

6

Trang 8

2 Tình hình nghiên cứu.

+ Về tổ chức bộ máy nhà nước ở Việt Nam thời kỳ phong kiến tiếp

cận dưới góc độ lịch sử theo trình tự về thời gian dưới dạng sách chuyên

khảo đã có những công trình như: Đất nước Việt Nam qua các đời, NXB Sử học, Hà nội, 1964 và Việt Nam Văn hoá Sử cương Nhà xuất bản văn hoá

thông tin, Hà nội, 2003 của tác giả Đào Duy Anh; Lịch sử Việt Nam tập I

(thời kỳ nguyên thuỷ đến thế kỷ X), Nhà xuất bản Đại học và trung học

chuyên nghiệp, Hà nội ,1983 của tập thể tác giả Phan Huy Lê - Trần Quốc

Vượng - Hà Văn Tấn - Lương Ninh.; Lịch sử chế độ phong kiến Việt Nam,

Tập III, NXB Giáo dục, Hà nội, 1960 của các tác giả Phan Huy Lê, Chu

Thiên, Vương Hoàng Tuyên, Đinh Xuân Lâm,; Lịch sử chế độ phong kiến

Việt Nam, Tập II, NXB Giáo dục, Hà nội, 1960 của tác giả Phan Huy Lê;

Sơ thảo lịch sử nhà nước và pháp quyền Việt Nam (Từ nguồn gốc đến thế kỷ

XIX), NXB Khoa học xã hội, Hà nội, 1968 của tác giả Đinh Gia Trinh.

Luật và xã hội Việt Nam thế kỷ XVII - XVIII, Nhà xuất bản Khoa học xã hội,

Hà nội, 1994 của tác giả INSUN YU…

Trong đề tài này, nhóm tác giả đã kế thừa nhiều ý tưởng và lý thuyết

về mô hình tổ chức chính quyền từ bài giảng dành cho Học viên cao học

Khoa Luật - ĐHQGHN của GS.TSKH Vũ Minh Giang, từ tên gọi các mô

hình đến nhiều nội dung cụ thể Kế thừa phương pháp tiếp cận liên ngành,đặc biệt bằng phương pháp tư duy pháp lý, nhóm tác giả cũng đã mở rộngnghiên cứu, phát triển đề tài này với nhiều nội dung mới

3 Mục tiêu của đề tài

+ Chỉ rõ đặc trưng việc tổ chức chính quyền thời kỳ phong kiến, tácgiả không đi sâu nghiên cứu tất cả các triều đại, mà trên cơ sở tìm hiểu cách

Trang 9

thức tổ chức chính quyền trung ương và địa phương qua các thời kỳ để kháiquát hoá thành các mô hình tổ chức chính quyền;

+ Tương ứng với từng mô hình tổ chức chính quyền chỉ ra cơ sở củaviệc xuất hiện mô hình, ý nghĩa của mỗi mô hình qua từng thời kỳ;

+ Rút ra hệ luận của từng mô hình và ảnh hưởng, cũng như bài họcđối với tổ chức bộ máy nhà nước ở Việt Nam hiện nay

4 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp luận: Phương pháp duy vật biện chứng và phương

pháp duy vật lịch sử;

- Phương pháp nghiên cứu cụ thể: Phương pháp liên ngành; phương

pháp so sánh; phương pháp phân tích - tổng hợp

5 Những kết quả đạt được

Đề tài NCKH cấp Đại học Quốc gia Hà Nội trên đây đã có những

đóng góp nhất định trên các phương diện lập pháp, khoa học và đào tạo như

sau

5.1 Đóng góp về mặt lập pháp – các kết quả nghiên cứu được công bố

của Đề tài NCKH này ở một chừng mực nhất định là nguồn tư liệu bổ ích vàquý báu cho các nhà làm luật Việt Nam sử dụng làm tài liệu tham khảo trongviệc xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa hiện nay

5.2 Đóng góp về mặt khoa học – các kết quả nghiên cứu bao gồm 80

trang A4, đóng bìa cứng, được trình bày rõ ràng, sạch đẹp, đảm bảo tính

8

Trang 10

khoa học và lôgíc Tính đến thời điểm nghiệm thu, chủ trì đề tài đã đăng tảitrên các trang sách báo pháp lý 03 công trình khoa học liên quan trực tiếp tới

đề tài:

1) Nguyễn Minh Tuấn Xây dựng xã hội công dân từ xã hội làng

xã cổ truyền Việt Nam, Tạp chí Khoa học và Tổ quốc, số 11+ 12/2004

2) Nguyễn Minh Tuấn Đặc trưng của dân chủ trong chế độ

phong kiến Việt Nam, Tạp chí nghiên cứu lập pháp, số 9/2004.

3) Nguyễn Minh Tuấn, Những ảnh hưởng tích cực của Nho

giáo trong Bộ Luật Hồng Đức, Tạp chí Khoa học Đại học Quốc gia Hà

nội, Chuyên san Kinh tế - Luật, T.XXI, No3, 2005, tr.38 - 47.

5.3 Đóng góp về mặt đào tạo – các kết quả nghiên cứu của đề tài này

có thể được dùng làm tài liệu giảng dạy cho sinh viên, học viên cao học,cũng như làm tài liệu tham khảo cho các cán bộ giảng dạy, nghiên cứu khoahọc và thực tiễn trong lĩnh vực lịch sử nhà nước và pháp luật Việt Nam

II

TÓM TẮT NỘI DUNG NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI

- Đề tài tập trung nghiên cứu mô hình tổ chức bộ máy nhà nước

phong kiến thông qua 5 mô hình: 1 Mô hình chính quyền quân sự thời kỳ

Ngô - Đinh – Tiền Lê (Từ 938 đến đầu thế kỷ XI); 2 Mô hình chính quyền tập quyền thân dân thời kỳ Lý – Trần – Hồ (Từ thế kỷ XI đến

đầu thế kỷ XV);3: Mô hình chính quyền tập quyền quan liêu Thời Lê (Thế kỷ XV); 4 Mô hình chính quyền lưỡng đầu Thời kỳ Trịnh –

Trang 11

Nguyễn phân tranh (từ 1600 đến 1786); 5 Mô hình tập quyền chuyên chế Thời Nguyễn (từ đầu thế kỷ XIX đến năm 1858)

11 Các chuyên đề nghiên cứu dự kiến của đề tài (tên và nội dung chính của từng chuyên đề):

Chuyên đề 1: Mô hình chính quyền quân sự thời kỳ Ngô - Đinh – Tiền

Lê: (Từ 938 đến đầu thế kỷ XI)

Mô hình chính quyền quân sự là mô hình tổ chức chính quyền đầutiên được thiết lập sau hơn một nghìn năm tồn tại dưới sự cai trị của phongkiến Trung Hoa Một chính quyền khi còn trong trứng nước như thế sẽkhông thể tồn tại được nếu không chú ý đến vấn đề phòng thủ đất nước.Bằng việc chỉ ra những điều kiện, tính chất, nội dung của việc tổ chức chínhquyền thời kỳ Ngô - Đinh – Tiền Lê, nhóm tác giả đi đến khẳng định, chỉ ratính tất yếu của việc xây dựng mô hình chính quyền quân sự thời kỳ Ngô -

Đinh - Tiền Lê (từ năm 938 đến đầu thế kỷ XI) Đồng thời bằng phương

pháp nghiên cứu lý luận – lịch sử, trong chuyên đề này nhóm tác giả dự kiếnlàm rõ nguyên nhân của việc chuyển đổi từ mô hình chính quyền quân sựvào đầu thế kỷ XI sang một mô hình mới – mô hình chính quyền tập quyềnthân dân

Chuyên đề 2: Mô hình chính quyền tập quyền thân dân thời kỳ Lý –

Trần – Hồ (Từ thế kỷ XI đến đầu thế kỷ XV)

Sau khi nghiên cứu những nét khái quát những đặc điểm chung của

thời kỳ Lý - Trần - Hồ (Từ thế kỷ XI đến đầu thế kỷ XV) nhằm chỉ ra cơ sở, tính chất “thân dân” – một tính chất phát triển cao nhất trong thời kỳ phong

kiến ở giai đoạn này, nhóm tác giả sẽ tập trung làm rõ tính chất, đặc trưng cơbản của mô hình tổ chức chính quyền thời kỳ này Bằng phương phápnghiên cứu lý luận – lịch sử, trong chuyên đề này nhóm tác giả sẽ làm

10

Trang 12

rõ sự kế thừa và những phát triển đặc sắc trong việc tổ chức chínhquyền so với giai đoạn trước đó, cũng như nguyên nhân của việcchuyển đổi từ mô hình chính quyền thân dân vào đầu thế kỷ XI sangmột mô hình mới – mô hình chính quyền tập quyền quan liêu.

Chuyên đề 3: Mô hình chính quyền tập quyền quan liêu Thời Lê

(Thế kỷ XV)

Thời nhà Lê (Thế kỷ XV) được coi là thời kỳ phát triển huy hoàngnhất trong lịch sử phong kiến Việt Nam trên nhiều lĩnh vực, đặc biệt là vềluật pháp, nhóm tác giả sẽ tập trung khai thác, làm rõ tính chất, đặc trưng cơbản của mô hình tổ chức chính quyền thời kỳ này, đồng thời bằng phươngpháp nghiên cứu lý luận – lịch sử, trong chuyên đề này nhóm tác giả sẽ làm

rõ những điểm tiến bộ và những mặt hạn chế khi áp dụng mô hình này, chỉ

ra những hệ quả của việc áp dụng mô hình này vào cuối thế kỷ XV

Chuyên đề 4: Mô hình chính quyền lưỡng đầu (vua Lê - chúa Trịnh)

(từ 1600 đến 1786);

Một nhà nước đồng thời có 2 người cùng đứng đầu, cùng cai quản đấtnước, chỉ qua biểu hiện bên ngoài của nó đã đủ cho thấy nét độc đáo, lý thúbậc nhất trong toàn bộ thời kỳ phong kiến Song sự vận hành của chúng rasao, cơ sở cho sự tồn tại của mô hình này, và giá trị lịch sử của nó - liệu môhình ấy có những điểm tích cực gì có thể tiếp tục nghiên cứu để vận dụngtrong việc tổ chức chính quyền hiện nay hay không Thông qua việc trìnhbày những nét sơ lược, nhóm tác giả sẽ khai thác và chỉ rõ đặc trưng cơ bảncủa từng thiết chế trong mô hình này và phần nào làm sáng tỏ những bănkhoăn kể trên

Trang 13

Chuyên đề 5: Mô hình tập quyền chuyên chế Thời Nguyễn (từ

năm đầu thế kỷ XIX đến năm 1858):

Nội dung chủ yếu của chương này là chỉ ra những đặc trưng của một

mô hình phát triển cao nhất trong lịch sử phong kiến Việt Nam về tính chất

“chuyên chế” Lâu nay có rất nhiều quan điểm cho rằng đã là kiểu nhà nước

phong kiến tất cả đều có hình thức nhà nước là quân chủ chuyên chế, nhưngtheo nhóm tác giả thì phải thực sự bắt đầu từ thời kỳ đầu nhà Nguyễn, lúc ấy

xã hội Việt Nam mới thực sự bước vào thời kỳ chuyên chế thực sự Vớinhững qui định được triều đình đặt ra như không lập hoàng hậu, không lậptrạng nguyên, không lập tể tướng, không phong vương…cùng với cách caitrị tập trung khiến cho tính chất tập quyền đã được đẩy lên có thể nói là caonhất trong suốt thời kỳ phong kiến Nhưng liệu mô hình tập quyền chuyênchế có phải chỉ chứa đựng tính chất tập quyền mà lâu nay được nhiều nhànghiên cứu nhận xét là phản tiến bộ hay không Theo nhóm tác giả trong môhình tập quyền chuyên chế còn có khá nhiều những nét độc đáo, tiến bộ, và

cả sự kế thừa mà xét về thời điểm có thể nói những qui định ấy cũng không

xa so với thời điểm hiện tại, và chắc chắn còn nhiều điểm đáng phải kế thừacho việc xây dựng chính quyền hiện nay

Chuyên đề 6: Nhận xét về mô hình tổ chức chính quyền Việt Nam

thời kỳ phong kiến

Qua việc tổng kết của cả 5 mô hình, nhóm tác giả rút ra nhữngđặc điểm cơ bản nhất, và không chỉ dừng lại ở những nhận xét nhómtác giả phần nào cũng cố gắng chỉ ra những đặc điểm tích cực nổi trộilàm nên những nét đặc thù về mô hình tổ chức chính quyền Việt Namthời kỳ phong kiến cũng như những hệ luận, những di căn, những tồntại mà chúng ta phải dám đối diện, dám nhìn thẳng để không mắc sailầm từ cách thức tổ chức đến việc thực hiện, từ lối tư duy đến lúc chúng

12

Trang 14

được hoá thân thành qui định của pháp luật, thành cơ chế và con người,hay thành những công việc rất cụ thể - những công việc tưởng như đâu

đó xa lắm, cũ lắm nhưng hình như lại đang lội ngược dòng, như đanglặp lại từ chính trong tư duy và trong cách vận hành các thiết chế nhànước

Trang 16

MÔ HÌNH CHÍNH QUYỀN QUÂN SỰ

[1.1] Xây dựng mô hình chính quyền quân sự thời kỳ Ngô - Đinh

– Tiền Lê (từ 939 đến đầu thế kỷ XI) – một nhu cầu tất yếu:

Sau khi đánh bại quân nam Hán, Ngô Quyền1 xưng Vương, đóng đô ở

Cổ Loa, như lời sử cũ để tỏ ý nối tiếp quốc thống xưa của An Dương Vương

và bắt đầu xây dựng một chính quyền trung ương độc lập Vốn có một thờigian dài lãnh thổ Việt Nam nằm trong An nam đô hộ phủ vốn là một bộphận của chính quyền cai trị Trung Hoa, nay được tách ra thành một quốcgia độc lập, việc xây dựng một mô hình cho phù hợp là một vấn đề rất khókhăn

1 Các đời vua Triều Ngô (938 - 965) bao gồm: 1 Tiền Ngô Vương (938 – 944); Dương Bình Vương (945 - 950); Hậu Ngô Vương (951 - 965)

Trang 17

Chính quyền mới phải đứng trước bài toán giải quyết cho được vấn đềmối quan hệ giữa Phân tán và tập quyền2 Trong thời kỷ cai trị phong kiếnphương Bắc tính tự trị địa phương là rất cao, luôn trong thế bùng phát, nguy

cơ phân tán quyền, không ai chịu ai là khó tránh khỏi

Từ năm 938 - 944 khi Ngô Quyền mất, em vợ của Ngô Quyền làDương Tam Kha cướp ngôi vua, một số quan lại, tướng sĩ của Ngô quyềnkhông chịu, nổi lên chống lại Dương Tam Kha; mỗi người cầm quân chiếmgiữ một địa phương, lạp thành giang sơn riêng, gây nên tình trạng cát cứ -

loạn 12 sứ quân Điều này thể hiện sự thắng thế của tính tiểu nông vốn vẫn

do vậy khi chính quyền mạnh thì họ thần phục, nhưng khi chính quyền suyyếu thì họ nổi dậy và tiến hành cát cứ Năm 967, xuất hiện một vị thủ lĩnh tài

ba tên là Đinh Bộ Lĩnh3 thống nhất đất nước, lập nên 1 quốc gia thống nhất

có tên là Đại Cồ Việt Như vậy nếu tính về mặt thời gian thì tình trạng (xuhướng) cát cứ4 tồn trại rất ngắn, vì nó không có cơ sở kinh tế - xã hội để duytrì Nguyên nhân cơ bản là nhu cầu đấu tranh bảo vệ độc lập dân tộc, và nhucầu xây dựng, quản lí các công trình trị thuỷ luôn thắng thế Chính từ nhận

2 Lưu ý yếu tố phân tán l b à b ản chất của kinh tế tiểu nông

3 Các đời vua Triều Đinh (968 - 980) bao gồm: Đinh Tiên Ho ng (968 - 980); à b Đinh Phế Đế (980).

4 Tác giả cũng đồng tình với quan điểm cho rằng đây chỉ l th à b ời điểm có những biểu hiện ban đầu của

xu hướng cát cứ chứ chưa thể kết luận rằng đây l m à b ột mô hình chính quyền phong kiến cát cứ như ở Tây Âu thế kỉ IX - X.

16

Trang 18

thức đó ta sẽ thấy ngay từ đầu tính đại diện của nhà nước đã nổi trội, giống

như một hằng số không chỉ khi xuất hiện nhà nước, mà còn cả khi nhà nước

đó tồn tại và chính nó cũng qui định chức năng của nhà nước đồng thời giúp

lí giải vì sao xu hướng tập quyền luôn thắng thế

Muốn xây dựng một chính quyền đủ mạnh không còn cách nào khác

là phải giải quyết được mối quan hệ giữa tập quyền và phân tán, và vì vậy việc xây dựng một mô hình tổ chức chính quyền mới – mô hình chính quyền quân sự5 là một giải pháp hợp lý và tất yếu, có tính lịch sử, nhằm tậptrung tối đa quyền lực cho việc xây dựng chính quyền quân sự tập trungthống nhất

Triều Đinh tồn tại không bao lâu, năm 979, Đinh Tiên Hoàng bị ámhại, sau đó nhiều vụ xung đột trong nước xảy ra, bên ngoài nạn ngoại xâmluôn uy hiếp Trong điều kiện đó, quân sĩ và một số quan lại đã suy tôn LêHoàn – một người có uy tín trong triều, đang giữ chức Thập đạo tướng quânlàm vua, mở đầu cho triều Tiền Lê6 Ông nhanh chóng tổ chức lực lượng tiếnhành kháng chiến chống Tống, khôi phục và củng cố chính quyền quân sựcủa triều Đinh

[1.2] Mô hình tổ chức chính quyền thời kỳ Ngô - Đinh - Tiền Lê:

1.2.1 Tổ chức chính quyền ở Trung ương:

Trong giai đoạn phôi thai của nhà nước phong kiến, khi cuộc đấutranh vũ trang giữa các lực lượng cát cứ với nhau và giữa chính quyền trungương với các lực lượng cát cứ địa phương diễn ra mạnh mẽ, thì tổ chức của

5 Giai đoạn n y th à b ể hiện khá rõ sự thắng thế của xây dựng một chính quyền mạnh (chính quyền Trung ương tập quyền)

6 Các triều vua thời Tiền Lê (980 – 1009) gồm: 1 Lê Ho n (980 – 1005); 2 Lê Trung Tông (1005); Lê à b Ngoạ Triều (1005 – 1009)

Trang 19

bộ máy Nhà nước do triều đình trung ương điều khiển có tính chất nặng vềquân sự Lực lượng quân đội đã được các vua Ngô, Đinh, Tiền Lê đặc biệtquan tâm xây dựng Thực chất việc xây dựng mô hình chính quyền quân sự

là một sứ mệnh lịch sử, một chính quyền mới giành được độc lập còn trongtrứng nước, còn trăm bề khó khăn làm thế nào để tồn tại trước một đế chếTrung Hoa hùng cường quả là việc không đơn giản Chúng tôi cho rằng, ởthời điểm lịch sử ấy việc xây dựng lực lượng quân đội hùng mạnh khôngnhững cần thiết để đối phó với nạn ngoại xâm, bảo vệ nền độc lập quốc giamới giành được mà còn cần thiết cho việc đấu tranh nội bộ chống lại các hàotrưởng cát cứ Vậy nên việc tổ chức chính quyền quân sự không đơn giản chỉ

là để gìn giữ độc lập chủ quyền, mà quan trọng không kém là để giải quyết

nguy cơ phân tán (bản chất của tính tiểu nông vốn vẫn tiềm ẩn) với yêu cầu tập quyền

Về tổ chức nhà nước, thời Ngô Quyền đặt ra các chức quan văn - võ,qui định các nghi lễ trong triều và màu sắc trang phục của quan lại các cấp.Đến thời nhà Đinh, Đinh Bộ lĩnh xưng Đế7, chọn Hoa Lư8 làm căn cứ quân

sự

Nhà Đinh chia cả nước làm 10 đạo Năm 974, Đinh Tiên Hoàng tổchức lại quân đội trong cả nước, gồm 10 đạo, mỗi đạo 10 quân, mỗi quân 10

lữ, mỗi lữ 10 tốt, mỗi tốt 10 ngũ, mỗi ngũ 10 người Tổng chỉ huy quân đội

là Thập đạo tướng quân điện tiền chỉ huy sứ9

7 Người xưng đế đầu tiên trong lịch sử Việt Nam l Lý Bôn, x à b ưng Lý Nam Đế năm Tân Dậu (541)

8 Hoa Lư l vùng à b đất xung quanh bao bọc l núi thu à b ận lợi cho xây dựng một chính quyền quân sự đủ mạnh

9 Năm 971, Đinh Tiên Ho ng cho Lê Ho n ch à b à b ức võ tướng Thập đạo tướng quân Chức n y l T à b à b ổng chỉ huy quân đội đương thời Năm 947 mới định 10 đạo gồm cả thảy một triệu quân V o th à b ời Lý, các vệ quân giao cho Tướng quân chỉ huy ví như Uy vệ tướng quân, Kiêu vệ tướng quân, Định Thắng tướng

quân Thời Trần các võ quan cũng có chức Thân vệ tướng quân (Xem : Vũ Văn Ninh, Từ điển chức

quan, Nh xuà b ất bản thanh niên, 2002, tr.661)

18

Trang 20

Có hai vấn đề đặt ra:

Thứ nhất, với số liệu trên cho ta thấy, tổng số quân đội thời kì này lên

đến 1.000.000 người Nhưng liệu sự thật có phải tổng số quân ở thời kì đó

đã đạt được con số khổng lồ như vậy trên tổng dân số Đại Việt mới có khoảng 3.000.000 dân? Với tư liệu sử sách quá ít ỏi, chưa cho phép ta

khẳng định một cách xác đáng, nghiêm túc về vấn đề này, nhưng phần nào

cũng giúp ta nhận diện rằng đây là thời kì quân đội được chú trọng xây dựng và phát triển cả về số lượng và chế độ luyện tập.

Thứ hai, cả nước chia thành 10 đạo, trong 10 đạo ấy liệu có bao gồm

những người thường dân khác hay không? Tại sao 10 đạo lại tương ứng với

1 triệu người Vậy những người thường dân khác nằm trong bộ phận nào?hoà nhập hay tách riêng? qui chế pháp lí gì riêng cho thường dân không? Tất

cả vẫn là những câu hỏi chưa có lời giải đáp, chỉ biết rằng bằng tư duy líluận - lịch sử ta có thể khẳng định rằng việc phân chia thành các đạo, 10 đạotương ứng 1 triệu quân chứng tỏ tính chất của nó không giản đơn là đơn vị

hành chính mà thực chất đạo là một đơn vị tổ chức quân sự.

Quan lại trong triều có các chức thái sư, quân sư, đại tổng quản Dướitổng quản có thái uý, đô hộ phủ sĩ sư, thập đạo tướng quân Về ban văn cóNguyễn Bặc được phong Định Quốc Công đứng đầu triều, Lưu Cơ giữ chức

Đô hộ phủ sĩ sư coi việc hình án, Thái sư Hồng Hiến, Sứ quan Trịnh Tú Vềban võ có Lê Hoàn giữ chức Thập đạo tướng quân đứng đầu quân đội, Thân

vệ tướng quân Phạm Bạch Hổ cầm quân trong kinh thành, Ngoại giáp ĐinhĐiền cầm quân ngoài, Vệ uý Phạm Hạp Về sau, năm 1002, Lê Hoàn đổi 10đạo làm Lộ, Phủ, Châu Thời Lê Hoàn, ở một số vùng trọng yếu, nhà vua cử

Trang 21

các con đến trấn trị, có quân đội để kịp thời trấn áp các cuộc nổi dậy, chốngđối.

Hình 1: Tổ chức bộ máy nhà nước thời nhà Đinh

Từ mô hình tổ chức bộ máy nhà nước đến các biện pháp quản lý xãhội thời kỳ này còn mang đậm mầu sắc quân sự, hệ tư tưởng Nho gia chưa

có dấu ấn trong tổ chức bộ máy nhà nước, thực chất bộ máy nhà nước cònmang bóng dáng của một bộ máy tự quản của làng xã được mở rộng trongphạm vi cả nước

Dưới triều Tiền Lê, Lê Hoàn và các vua tiếp sau củng cố và tăngcường thêm quân đội thường trực, đặt ngạch thân binh, tuyển lính túc vệđóng ở kinh thành Các chức quan cao cấp chỉ huy quân đội được đặt ra nhưThái uý, Khu mật sứ Ngoài quân đội của nhà vua còn có quân đội do các

20

Ho ng à b đế

Bộ máy quan lại

(trong đó chỉ huy quân sự l th à th ập đạo tướng quân

điện tiền chỉ huy sứ

12 Đạo/ Lộ

Giáp

Trang 22

Vương hầu, quý tộc chiêu mộ và điều khiển ở điền trang, thái ấp, mà vua cóthể điều động khi cần đến.

Trong triều đình Ngô - Đinh - Tiền Lê, các vị vua đã tiến hành phongtước, mà trước hết là một số người trong hoàng tộc, điển hình nhất đó làtước vương Thời kì này trật tự lễ nghi trong triều đình đã bước đầu đượcđịnh hình, các vị vua khi mới lên ngôi đều đã chế định triều nghi, phẩmphục

Mỗi nhà nước phải có bệ đỡ về tư tưởng, nhà Đinh và Nhà Lê không

muốn dập khuôn theo mô hình Nho Giáo, đã chọn Phật giáo nhằm tranh thủnhân tâm Điều đáng tiếc là Phật giáo lại quá xa lạ với luật pháp nhà Đinh, vìvậy đã tạo ra một sự phản kháng hết sức gay gắt trong thời gian này

Về tình hình pháp luật, cho đến nay chưa có một công trình nào có đủcăn cứ khoa học để khẳng định rằng thời kì này đã có luật pháp thành văn,mặc dù trong sử sách đôi chỗ cũng chép lại những hiện tượng như vua "địnhluật lệ", "xuống chiếu", "chế định triều nghi phẩm phục" Đặt vào hoàncảnh lúc bấy giờ thì việc quan trọng của các vương triều Ngô - Đinh - Tiền

Lê phải tập trung bảo vệ chủ quyền, vì vậy việc chưa có điều kiện quan tâmnhiều đến việc xây dựng pháp luật cũng là điều dễ hiểu

Nghiên cứu về lịch sử thời kì này có 10 tội gọi là thập ác là hình thứctàn ác nhất với mục đích là để xây dựng một chính quyền Trung ương đủmạnh10, khá nhiều tác giả đánh giá rằng đây là thời kì luật pháp rất hà khắc

và tàn bạo11 Chúng tôi cho rằng điều đó đúng, nhưng không hoàn toàn như

10 Đòi hỏi khách quan phải xây dựng một chính quyền Trung ương đủ mạnh đó l à b đến thế kỷ 10, Chăm

pa đã l m à b ột quốc gia hùng mạnh v c à b ường thịnh, giao tiếp thường xuyên với họ l Nh T à b à b ống Tuy nhiên ta cũng thấy rằng để xây dựng một hệ thống quân sự như vậy l vô cùng t à b ốn kém vì vậy việc nảy sinh mâu thuẫn giữa mối quan hệ giữa nước với l ng l không th à b à b ể tránh khỏi.

11 Năm 968, Đinh Tiên Ho ng à b đã hạ lệnh "đặt vạc dầu ở sân triều, nuôi hổ dữ trong cũi, kẻ n o trái à b phép phải chịu tội bỏ vạc dầu cho hổ ăn"

Trang 23

vậy Nếu đặt vào thời điểm thế kỉ X, ta sẽ thấy nhiều quốc gia trong thời kìnày cũng không thiếu những hình phạt vô cùng tàn bạo, dã man Với một đấtnước vừa mới giành được độc lập, các thế lực chống đối thường xuyênchống đối, nên việc qui định các biện pháp khắc nghiệt để thị uy, trừng trị

những kẻ chống đối, chứ tuyệt nhiên không phải những hình phạt này được

áp dụng đối với toàn dân Bên cạnh hình thức quan phương (qui định của

nhà nước), nếu xét một cách công bằng các yếu tố phi quan phương (đặc

biệt là tập quán, lệ làng) lúc bấy giờ mới thực sự giữ một tỉ trọng lớn và là công cụ đặc biệt điều chỉnh hành vi con người

[1.2.2] Về tổ chức chính quyền địa phương:

Sau khi đánh bại quân Nam Hán, Ngô Quyền xưng vương (năm 939),bước đầu xác lập nhà nước trung ương tập quyền ở nước ta Tuy nhiên,chính quyền địa phương Triều Ngô chưa có gì thay đổi, việc phân chia đơn

vị hành chính lãnh thổ vẫn được giữ nguyên như thời họ Khúc, chính quyềnđịa phương gồm các cấp: lộ - phủ - châu - giáp - xã

Đến Triều Đinh, nước ta được chia làm 10 đạo Dưới cấp đạo là giáp,

xã Các cấp phủ, châu đã bị xoá bỏ (tuy nhiên, ở những vùng xa xôi mà triềuđình chưa trực tiếp với tới được thì vẫn để đơn vị châu như trước đây) Ở cácđạo, lộ, phủ có các chức Quản giáp, Trấn tướng, thứ sử các châu

Đến năm 1002, nhà Tiền Lê khôi phục lại phủ, châu cùng với việc đổiđạo thành lộ Đứng đầu các lộ là An phủ sứ, đứng đầu các phủ là Tri phủ vàđứng đầu các châu là Tri châu Các quan lại địa phương ngoài quyền hànhchính còn có cả quyền tư pháp.12 Về cấp cơ sở và tổ chức quản lý của cấp

12 Khoa Luật - Đại học quốc gia H Nà b ội Giáo trình Lịch sử nh n à th ước v pháp lu à th ật Việt Nam Nxb Đại

học quốc gia H N à b ội, H n à b ội, 1999, tr 46

22

Trang 24

này không được sử sách chép đến nhưng có lẽ, cấp giáp và cấp xã có từ thời

họ Khúc vẫn được giữ nguyên

Hình 2: So sánh mô hình tổ chức chính quyền địa phương thời Ngô

-Đinh - Tiền Lê

Năm 1009 Lý Công Uẩn lúc bấy giờ là thập đạo tướng quân thập tiềnchỉ huy sứ Sau khi Lê Long Đĩnh qua đời, quần thần tôn Lý Công Uẩn lênngôi vua, lúc này mối quan hệ làng - nước chuyển sang một mô hình mới:

mô hình chính quyền thân dân

Tóm lại, về tổ chức chính quyền địa phương, Thời Ngô - Đinh - Tiền

Lê đã thực sự tồn tại bộ máy quản lý chính quyền địa phương các cấp Ởnông thôn tuy có những thay đổi khác nhau nhưng trên đại thể vẫn duy trìcấp giáp và cấp xã đã được khẳng định và chính thống từ thời họ Khúc Tuy

NgôThời thuộc

GiápGiáp

Phủ

Châu

HươngXã

Trang 25

nhiên, có thể khẳng định rằng, chính quyền trung ương vẫn chưa với tayquản lý được tất cả các vùng của đất nước Các vùng thượng du, các vùnghẻo lánh, một số vùng đồng bằng xa xôi vẫn nằm ngoài phạm vi kiểm soátcủa triều đình và vẫn do các thủ lĩnh địa phương quản lý theo truyền thống

tự quản của tổ chức công xã nông thôn xa xưa

Nhìn một cách tổng thể, mô hình chính quyền quân sự thời Ngô

-Đinh - Tiền Lê nổi lên 3 mâu thuẫn cơ bản:

Thứ nhất, nhìn dưới góc độ cơ sở hạ tầng, nền tảng kinh tế - xã hội ta

có thể thấy một đất nước mới trải qua 1000 năm Bắc thuộc, mới giành đượcđộc lập, điều kiện kinh tế còn đang gặp rất nhiều khó khăn, trong khi đó môhình cai trị thời Ngô - Đinh - Tiền Lê là mô hình tập quyền quân sự, quânđội lên đến 1 triệu người, xây dựng như vậy tự thân nó đã chứa đựng mâuthuẫn Một mô hình như vậy sẽ không có điều kiện duy trì vì kiến trúcthượng tầng được xây dựng không phù hợp với cơ sở hạ tầng, với tính chất

và trình độ của lực lượng sản xuất

Thứ hai, về địa thế, Hoa Lư là một vùng hiểm yếu có núi vây quanh,

xung quanh là thung lũng, không thể có điều kiện để mở rộng giao thương,

phát triển kinh tế, văn hoá Tại thời điểm xây dựng mô hình chính quyền

quân sự, địa thế của Hoa Lư rất phù hợp, vì nó là địa thế tốt cho việc phòngthủ và tập luyện; nhưng nếu tính lâu dài thì Hoa Lư không có điều kiện để

mở rộng, phát triển kinh tế

Thứ ba, Muốn xây dựng một chính quyền nhất thiết phải có một bệ đỡ

tư tưởng Đây là một trong ba yếu tố cốt tử cùng với kinh tế, chính trị duy

trì trật tự của một chính quyền, đồng thời cũng thể hiện rõ nhất sự thống trịcủa giai cấp Bệ đỡ tư tưởng thời kỳ này là Phật giáo, hay nói cách khác Phậtgiáo được lựa chọn làm quốc giáo, tuy vậy Phật giáo lại mâu thuẫn với chính

24

Trang 26

sách quân sự hà khắc của thời kỳ này Để quản lý một đội quân lên tới 1triệu người cần phải có kỉ luật nhưng với những qui định về tội thập ác, vớinhững hình phạt rất tàn khốc thì chính sách này lại mâu thuẫn với tư tưởngcủa đạo Phật

Phần 2

Trang 27

THỜI KỲ LÝ – TRẦN – HỒ (TỪ THẾ KỶ XI ĐẾN ĐẦU THẾ KỶ XV):

MÔ HÌNH CHÍNH QUYỀN TẬP QUYỀN THÂN DÂN

[2.1] Vài nét về thời kỳ Lý - Trần - Hồ:

Năm Kỉ Dậu (1009) ngay sau khi Lê Ngọa Triều mất, đại diện choquan lại là Đào Cam Mộc và đại diện cho nhà sư là sư Vạn Hạnh, đãcùng nhau hợp lực tôn phò mã Lý Công Uẩn lên ngôi vua Tháng 10 năm

đó, Lý Công Uẩn lên ngôi Hoàng đế, đây cũng là thời điểm khai sinh

26

Trang 28

vương triều Lý Sau khi Lý Công Uẩn lên ngôi, năm 1010 Lý Công Uẩnrời đô về Thăng Long13 Trong lịch sử Việt Nam, triều Lý là một triều đạilớn để lại dấu ấn rất sâu sắc không chỉ ở việc xây dựng một mô hìnhchính quyền thân dân đặc sắc mà còn biểu hiện trên nhiều lĩnh vực khácnhau Về chính trị, đây là một trong hai triều đại tiêu biểu của chế độ quí

tộc trị nước Về kinh tế, đây là một trong hai triều đại tiêu biểu của chế

độ điền trang - thái ấp Về văn hoá, triều Lý là một triều mở đầu cho một

giai đoạn văn hoá lớn - văn hoá Lý - Trần, phát triển rực rỡ trên nhiềuphương diện, mà nổi bật nhất đó là Triều Lý đã đánh dấu sự mở đầu mộtthời kỳ phát triển Nho học

Tháng 12 năm Ất Dậu (1225), Lý Chiêu Hoàng nhường ngôi choTrần Cảnh Triều Trần được dựng lên kể từ đó Triều Trần (1225 – 1400)

có nhiều điểm tương đồng về mặt thể chế chính trị, kết cấu xã hội, đặctrưng văn hoá của triều Lý Thời Trần, nước Đại Việt là một trong nhữngquốc gia hùng cường, gắn liền với hàng loạt những nhân vật lịch sử nhưTrần Thái Tông, Trần Thánh Tông, Trần Nhân Tông, Trần Anh Tông,Trần Minh Tông và các vị vương tước xuất chúng, nổi bật là Hưng ĐạoVương Trần Quốc Tuấn

Ngày 28 tháng 2 năm 1400, Hồ Quý Ly cướp ngôi nhà Trần, Triều

Hồ được dựng lên kể từ đó, và chỉ tồn tại chưa đầy 7 năm Tháng 11 năm

1397, Hồ Quý Ly đã ép vua Trần Thuận Tông dời đô vào Đại La Ngày

28 tháng 2 năm 1400, Hồ Quý Ly đã cướp ngôi nhà Trần từ tay cháungoại mới lên 4 tuổi là Trần An (tức vua Trần Thiếu Đế), xưng vương vàđổi quốc hiệu là Đại Ngu Cuối năm 1406, quân Minh mượn cớ Phù Trần

13 Khác với Hoa Lư l n à b ơi chỉ thích hợp với xây dựng chính quyền quân sự mạnh Thăng Long là b vùng đất ở giữa đồng bằng điều n y th à b ể hiện rõ sự đổi mới về mặt tư duy l h à b ướng v o phát tri à b ển kinh tế, xã hội, xây dựng một chính quyền thân dân.

Trang 29

diệt Hồ đã đem quân sang xâm lược nước ta Cuộc kháng chiến chốngquân Minh do triều Hồ lãnh đạo đã thất bại vào giữa năm 1407, kể từ đónước ta bị quân Minh đô hộ.

[2.2] Mô hình tổ chức nhà nước thời Lý - Trần - Hồ - mô hình tập quyền thân dân:

[2.2.1] Mô hình tổ chức nhà nước ở trung ương thời Lý 14

Ngay sau khi lên ngôi, năm 1010, Lý Thái Tổ chia lại khu vực hànhchính trong cả nước, đổi 10 đạo thời Đinh - Lê thành 24 lộ, dưới lộ là phủ

và huyện và cuối cùng là hương, giáp và thôn

Hình 3: Mô hình tổ chức chính quyền thời Lý - Trần

14 Các triều vua thời Lý: 1 Lý Thái Tổ (1010 – 1028); 2 Lý Thái Tông (1028 – 1054); 3 Lý Thánh Tông (1054 – 1072); 4 Lý Nhân Tông (1072 – 1127); 5 Lý Thần Tông (1128 – 1138); 6 Lý Anh Tông (1138 – 1175); 7 Lý Cao Tông (1175 – 1210); 8 Lý Huệ Tông (1210 – 1224); 9 Lý Chiêu Ho ng à b (1224 – 1225)

Trang 30

Bộ máy nhà nước dưới triều Lý được thiết lập từ trung ương tới tậnđịa phương và tập trung quyền hành vào tay triều đình đứng đầu là vua Vua

là người nắm quyền hành cao nhất về tất cả các mặt chính trị, kinh tế, xã hội

và tôn giáo

Theo Phan Huy Chú trong Lịch triều hiến chương loại chí thì quan

chế nhà Lý đại lược như sau: Phẩm trật các hàng quan văn võ đều 9 bậcđược xác định trong Hội điển Những chức quan cao cấp nhất trong triềuđình chia ra ngạch văn và ngạch võ Các đại thần đứng đầu ở ngạch văn thì

có tam thái (thái sư, thái phó, thái bảo); tam thiếu (thiếu sư, thiếu phó, thiếubảo) ở ngạch võ có thái uý, thiếu uý và một số chức vụ khác ở bên dưới

Trang 31

hàng quan văn thì có các thượng thư mà đứng đầu các bộ các tả và hữu thamtri, và và hữu gián nghị, trung thư thị lang, bộ thị lang Quan võ ở triều đình

có đô thống, nguyên suý, tổng quản, xu mật sứ, tả, hữu kim ngô, thượngtướng, đại tướng, đô tướng, tướng quân các vệ Chức quan nắm quyền binhcao nhất trong triều coi như Tể tướng được gọi là Tướng công dưới thời LýThái Tổ, phụ quốc thái uý dưới thời Lý Thái Tông và Lý Nhân Tông, có giaphong phẩm trật là “bình chương quân quốc trọng sự” Các địa phương cũngđặt quan văn, quan võ, ở xã có xã quan như trước Hiện nay chúng ta chưa

có điều kiện xác định được quyền hạn, nhiệm vụ của từng chức quan trên,nhưng nhìn chung tổ chức bộ máy này, có nhiều điểm phỏng theo quan chếnhà Tống, tuy có giản lược hơn và được sắp xếp theo cách thức riêng Thời

Lý và cả thời Trần sau này, quan lại được lựa chọn theo nguyên tắc: “người

có quan tước, con cháu được thừa ấm mới được làm quan Người giàu, khoẻmạnh mà không có quan tước thì sung quân, đời đời làm lính” Tuy nhiêntrước sự phát triển của nhà nước, nguyên tắc này không thể giữ nguyên mãi

Trong bộ máy chính quyền thời Lý, tầng lớp quí tộc bao gồm nhữngngười thân thuộc của nhà vua và một số công thần nắm giữ các trọng trách

ở trung ương và địa phương Các hoàng tử được phong tước vương và cử đitrấn trị các nơi trọng yếu Từ năm 1075, Nhà Lý bắt đầu mở khoa thi đểtuyển chọn nhân tài

Ngoài một số quan lại, quý tộc có công được phong cấp ruộng đất, nóichung quan lại không được trả lương mà thường được ban một số hộ dântrong vùng để cai quản, để thu thuế và bổng lộc và sống bằng các khoản thu

từ dân Chỉ riêng một số quan lại giữ việc ngục tụng được nhà vua cấp lươngbổng hàng năm tính theo tiền và thóc

30

Trang 32

[2.2.2] Tổ chức chính quyền địa phương Triều Lý:

Bộ máy nhà nước dưới triều Lý được thiết lập từ trung ương tới địaphương Năm 1010, Lý Thái Tổ đổi 10 đạo thành 24 lộ Ở miền núi, các khuvực được chia thành trại; các miền xa trung tâm như châu Ái (Thanh Hóa),châu Hoan (Nghệ An) cũng được đổi là trại Đứng đầu lộ là Thông phán,đứng đầu trại là Chủ trại

Lộ, trại được chia thành các phủ (ở miền xuôi) và được chia thành cácchâu (ở miền núi), đứng đầu các phủ và châu là Tri phủ, Tri châu Dưới cấpphủ, châu là cấp xã Giai đoạn này được coi là bước mở đầu cho quá trìnhchuyển biến lâu dài từ công xã nông thôn sang làng phong kiến Việt Nam

Từ đầu thế kỷ XII nhà Lý tiến hành chia làng xã thành các bảo: “cứ 3nhà làm một bảo” với lý do để giám sát lẫn nhau trong việc mổ trâu bònhưng thực chất là để giám sát lẫn nhau trong việc chấp hành pháp luật của

nhà nước Cũng vào thời Lý, lần đầu tiên ở Việt Nam xuất hiện các tên thôn

với tư cách là đơn vị tụ cư dưới xã Thôn khi ấy về thực chất cũng là làng,nhưng là làng mới hình thành, thường là quy mô nhỏ và chưa phải là mộtđơn vị hành chính, kinh tế - xã hội độc lập

Theo Việt sử thông giám cương mục, ở đời Lý, địa danh giáp xuất

hiện trong một đạo chiếu năm 1041 của Lý Thái Tông, quy định cứ 15 ngườithì hình thành một giáp và nhóm này chọn ra một người làm quản giáp.Quản giáp chịu trách nhiệm đôn đốc thuế má, lao dịch, binh dịch của giápmình Nếu theo văn bản này thì giáp chỉ là một nhóm tự quản nhỏ chứ khôngphải là một đơn vị hành chính như ở thời họ Khúc

Trang 33

Nhà Lý thực hiện chính sách "khuyến nông" - khuyến khích phát triển

nông nghiệp, nhà vua cải trang đi vi hành để xem đời sống thực của ngườidân để từ đó đưa ra những chính sách phù hợp, khách quan Về ngoại giao,

nhà Lý thực hiện " nhu viễn" - mềm mỏng với phương xa Kế sách nhà Lý

đưa ra tranh thủ các tù trưởng hoặc các thủ lĩnh để thông qua đó thắt chặtkhối đại đoàn kết dân tộc và mở rộng ảnh hưởng quyền lực của triều đìnhtrung ương tới vùng miền núi, biên viễn; hoặc là gả con gái cho tù trưởnghoặc đôi khi nhà vua lấy con gái tù trưởng làm phi15 Sau khi lên ngôi, LýCông Uẩn đã gả con gái cho tù trưởng động Giáp ở Lạng Châu (vùng BắcGiang và phía Nam Lạng Sơn hiện nay) là Giáp Thừa Quý (sau đổi ra họThân) và phong làm Châu mục Lạng Châu Qui định chế độ thi cử để tuyểnchọn nhân tài Năm 1015, Nhà Lý cho xây Quốc Tử Giám, tái lập lại tưtưởng Khổng Giáo

Thời kỳ này xuất hiện hiện tượng Tam giáo đồng nguyên (Đạo - Phật

- Nho) Nho giáo thời kỳ này đã có sự ảnh hưởng khá sâu sắc, thực chất Nhogiáo là học thuyết dành cho người trị quốc nên mặc dù thiết lập vương triều

trên cơ sở sự ủng hộ của Phật giáo, Nhà Lý vẫn không thể không lựa chọn

hệ tư tưởng Nho giáo Trong tổ chức bộ máy nhà nước Nho giáo có ảnh

hưởng rất rõ thể hiện ở 3 mặt: thứ nhất, Nhà Lý dùng quan niệm của Nho

giáo để thiết lập một nhà nước, trên cơ sở xác lập mối quan hệ và trật tự của

nó; thứ hai, Nho giáo được sử dụng để tuyển chọn, đào tạo quan lại cho bộ máy nhà nước; thứ ba, Nho giáo là công cụ để Triều Lý giáo dục, tuyên

truyền thuyết phục dân chúng, hướng dẫn họ thực thi bổn phận thần dân.Dưới thời Lý, một mặt Nho giáo mở rộng ảnh hưởng toàn bộ đời sống vănhoá xã hội, mặt khác nó cũng dần dần thích ứng và chuyển biến cho phù hợp

15 Phan Hữu Dật, Chính sách dân tộc của các chính quyền nh n à th ước phong kiến Việt Nam (sách tham khảo), Nh xuà b ất bản chính trị quốc gia, H n à b ội, 2001 tr.20 –21.

32

Trang 34

với hoàn cảnh thực tế ở Việt Nam Sự tồn tại và biến thiên của Nho giáo ởViệt Nam gắn liền với vấn đề dân tộc và chính trên nhu cầu phát triển củaquốc gia dân tộc Phật giáo thời Lý cũng mang tinh thần cởi mở, dựa trên

nền tảng của triết lý “vô chấp, vô trụ”16

Nhà Lý cũng chú trọng xây dựng quân đội, sử dụng kế sách: "ngựbinh ư nông", Nhà nước không xây dựng quân đội thường trực mà xây dựngmột lực lượng dân đinh17 Về Luật pháp, năm 1042 nhà Lý tham khảo các bộ

luật của Trung Hoa xây dựng nên Bộ Luật Hình thư Bộ Luật Hình thư đã

bị thất truyền, phần lớn nhiều tài liệu của ta đã bị mất dưới triều nhà Minh

Đại Việt Sử kí toàn thư đã ghi "Trước kia việc kiện tụng trong nước phiền

nhiễu, quan lại giữ luật pháp trong nước luật văn, cốt làm cho khắc nghiệt thêm, thầm chí nhiều người bị oan uổng quá đáng Vua lấy làm thương xót, sai trung thư san định luật lệnh, châm chước cho thích ứng với thời thế, chia ra môn loại, biến thành điều khoản, làm thành sách hình thư của một triều đại để cho người xem dễ hiểu Sách làm xong xuống chiếu ban hành, dân lấy làm tiện"18

Vua Lý Thánh Tông:

+ Năm 1055, trời rất rét Vua bảo các quan rằng: “Trẫm ở trong

cung, nào lò sởi ngự, nào áo rét dày mà còn rét như thế này, nghĩ đến người

16 Triết lý “Vô chấp, vô trụ” l tâm yà b ếu của pháp môn nhằm đạt đến phá chấp giải thoát: trong phạm vi suy nghĩ, h nh à b động không bị vướng mắc, ngăn ngại bởi những nhận thức do giác quan đưa lại, sự dung thông các ý hệ v v à b ăn hoá dị biệt, đây l nét riêng c à b ủa Phật Giáo thời Lý, l y à b ếu chỉ của Thiền gia,

l c à b ứu cánh của con đường giác ngộ v gi à b ải thoát để đạt tới tâm thái an nhiên - tự tại - ho à b đồng

(Xem Lương Gia Tĩnh, Nét đặc sắc của Phật giáo thời Lý, in trong Kỷ yếu Hội thảo khoa học Lý Công

Uẩn v v à b ương triều Lý (kỷ niệm 990 năm Thăng Long - H n à b ội), Nh xu à b ất bản Đại học Quốc Gia H à b nội, 2001, trang 243)

17 Bản chất của kế sách "ngự binh ư nông" chính l s à b ự vận dụng khéo léo quan điểm "Tĩnh vi nông, động vi binh", khi m chi à b ến tranh xảy ra có thể huy động được mọi người cùng tham gia quân đội Điểm tích cực ở kế sách n y à b đó l xây d à b ựng được lực lượng quốc phòng đủ mạnh, nhưng ngược lại

nh n à b ước lại không tốn kém nhiều tiền.

18 Đại việt Sử kí to n th à b ư, Tập I, tr.271, 272.

Trang 35

tù trong ngục, chưa biết rõ ngay gian ra sao, trẫm rất thương xót, vậy ra lệnh cho Hữu ty phát chăn chiếu và cấp cơm ăn ngày hai bữa”

+ Năm 1064, Vua khi xử án đã chỉ vào công chúa mà nói: “Ta

yêu con ta cũng như lòng ta làm cha mẹ dân Dân không hiểu biết mà mắc vào hình pháp, trẫm rất thương xót Từ nay về sau, không cứ tội nặng hay

nhẹ đều nhất luật khoan giảm”

Mặc dù Bộ Hình thư thời Lý – bộ luật thành văn đầu tiên trong lịch sửViệt nam không còn nữa, nhưng Bộ luật này đã được nhiều nhà khoa họccăn cứ vào các cứ liệu và chứng minh rằng Luật thời Lý không dừng lại ởmức độ mô phỏng luật Đường mà đã có sự điều chỉnh, thay đổi cho phù hợpvới tình hình thực tế của quốc gia Đại Việt khi đó19 Pháp luật triều Lý có t ư

t ưởng áp dụng nhiều chính sách khoan dung với tội phạm nhằm cải tạo,

giáo hoá họ VD: + Triều Lý thường xuyên có lệnh đại xá, đặc xá [Năm

1009 vua Lý Thái Tổ lên ngôi đã ra lệnh đại xá cho cả nớc xoá bỏ tù ngục Năm 1016, vì được mùa trong cả nước, vua Lý ra lệnh tha tội lưu, tội đồ và

giảm tiền thuế….] Nhà Lý đã cho đặt lầu chuông ở điện Long Trì để dân

chúng ai có khiếu kiện oan ức oan uổng thì đánh chuông lên (tinh thần luậtphải gần dân);

Thời Lý kết thúc năm 1225 đã tạo dựng được một mô hình tương đốihoàn chỉnh là một mô hình nhà nước khoan thứ sức dân, một mô hình thândân

[2.3] Mô hình tổ chức bộ máy nhà nước thời Trần (thời kỳ từ

1225 – 1400) :

19 Xem Insun Yu (GS,TS Đại học Quốc Gia Seoul H n Qu à b ốc), Luật pháp triều Lý - sự tiếp thu luật

Đường v s à th ự ảnh hưởng của nó tới hình luật nh Lê à th , in trong Kỷ yếu Hội thảo khoa học Lý Công Uẩn

v v à b ương triều Lý (kỷ niệm 990 năm Thăng Long - H n à b ội), Nh xu à b ất bản Đại học Quốc Gia H n à b ội, 2001,tr.205

34

Trang 36

[2.3.1] Tổ chức bộ máy nhà nước ở trung ương dưới thời Trần:

Nhà Trần vẫn tiếp tục dựa vào mô hình Nhà nước thân dân, thậm chíđạt đến độ hoàn thiện20 Thời kỳ này nổi lên mô hình coi già làng là người cóvai trò lớn trong những quyết sách quan trọng của quốc gia.21

Nhà Trần đã tiến hành chia lại các đơn vị hành chính Năm 1242, đổi

24 lộ thời Lý ra làm 12 bộ Lộ gồm các châu, huyện và xã Trong triều, nhàTrần đặt thêm nhiều chức quan và các cơ quan chuyên trách mới đã đáp ứngyêu cầu của bộ máy hành chính, trong số đó có những cơ quan tư pháp nhưThẩm hình viện, Tam ty viện do các cơ quan chuyên môn phụ trách, các cơquan văn hoá giáo dục như Quốc sử viện, Thái y viện Nhìn chung nhiều cơquan được đặt ra thành hệ thống riêng gọi là quán, các, sảnh, cục, đài, viện

Ngoài các chức quan dưới triều Lý, nhà Trần có đặt thêm các chức tư

đồ, tư mã, tư không, gọi chung là tam tư; tướng quốc và các chức đại hànhkhiển, tham tri chính sự đứng đầu bách quan Tướng quốc tương đương tểtướng Thực ra Tam tư có từ thời Hạ và duy trì tới thời Đường đến đời Tốngthì bãi bỏ, nước ta bị bãi bỏ dưới thời Lê Thánh Tông22 Về đại thể chứctrách của tam tư như sau:

20 Đại Việt Sử Ký to n th à b ư, kể rằng dưới thời Vua Trần Nhân Tông, Phí Mạnh l An phà b ủ sứ Diễn Châu Vua nghe tin Phí Mạnh không thanh liêm, cậy thế ức hiếp dân l nh à b đã triệu Phí Mạnh về kinh đô Thăng Long v à b đ ánh tr ợ ng trớc triều thần Sau đó, Vua Trần vẫn cho Phí Mạnh về nh ậ m tr ị , gi ữ ch ứ c c

ũ tại Diễn Châu.Sau một thời gian, Vua Trần nhận đợc tin nhân dân địa phương hết lời ca ngợi Phí

Mạnh về tính thanh liêm, chính trực Vua Trần nghe tin thấy vui sướng vô cùng

21 Thời nh Tr à b ần xuất hiện vị tướng lĩnh t i ba có tên l Tr à b à b ần Hưng Đạo giúp nh Tr à b ần 3 lần chiến thắng quân Nguyên Mông, trước khi lâm trung, Trần Hưng Đạo có nói một câu rất nổi tiếng đó l mu à b ốn giữ được nước không phải dựa v o binh hùng t à b ướng mạnh m ph à b ải dựa v o dân: " à b Khoan thứ sức dân

l m k à th ế sâu rễ gốc bền, ấy l th à th ượng sách giữ nước" Trong Đại Việt Sử kí to n thà b ư tr.180 có chép

đoạn vua Trần Minh Tông: "Trẫm l cha m à th ẹ dân,, nếu sinh dân mắc phải cảnh lầm than thì phải cứu gấp, chả lẽ đi so đo khó dễ, lợi hại hay sao?"

22 Xem Bùi Văn Nguyên Tư liệu tham khảo lịch sử văn học Việt Nam (từ thế kỷ XI đến giữa thế kỷ

XVIII), Nh xuà b ất bản Giáo dục H n à b ội, 1979, tr27 - 28.

Trang 37

+ Tư đồ: phụ trách các công việc ngoại giao, văn hoá, lễ nghi Dochức năng quan trọng như vậy tư đồ thường kiêm nhiệm chức tể tướng.

+ Tư mã: phụ trách quốc phòng, công an, tư pháp

+ Tư không: phụ trách các vấn đề còn lại

Một đặc điểm nữa thể hiện trình độ cao hơn đó là nhà Trần chia thànhcác Thái ấp, mục đích là đưa quan lại về các vùng địa phương giải quyết tốthơn mối quan hệ làng - nước.23

[2.3.2] Mô hình tổ chức chính quyền địa phương thời Trần:

Năm 1242, nhà Trần tiến hành chia lại các đơn vị hành chính, đổi 24 lộthời Lý ra làm 12 lộ Ở cấp lộ, đứng đầu là An phủ chánh sứ, có An phủ phó

sứ giúp việc (có lộ đặt chức Trấn phủ, Thông phán để cai trị)

Lộ chia thành các phủ (miền xuôi), các châu (miền núi), đứng đầu là Triphủ, Chuyển vận sứ Phủ, châu lại được chia thành các xã Hồi đó, chínhsách liên xã đã bắt đầu được áp dụng Theo chính sách này thì 2,3 hay 4 xã

có những quyền lợi tương tự thì được họp thành một xã lớn gọi là Liên xã.Đứng đầu Liên xã là các chức quan: Đại tư xã hay Tiểu tư xã do nhà vua bổnhiệm tuỳ theo sự quan trọng của Liên xã Chức Đại tư xã được giao cho cácquan từ hàm ngũ phẩm trở lên, còn chức Tiểu tư xã được giao cho các quan

từ lục phẩm trở xuống đảm nhiệm Đứng đầu mỗi xã, nhà vua đặt một xãquan gọi là xã chính, ngoài ra còn có xã xử, xã giám giúp việc.24

23 Lưu ý thời nh Tr à b ần có 2 điển tích khá nổi tiếng đó l à b điển tích: Hội nghị Diên Hồng, v tích Ho ng à b à b

Cự Đ v vi à b à b ệc ăn xo i, à b điều n y lý gi à b ải một cách sâu sắc nhất tính cách thân dân v coi s à b ự công bằng mới l y à b ếu tố quan trọng.Đặc biệt khi Trần Hưng Đạo sắp qua đời được Vua Trần Anh Tông hỏi về kế giữ nước đã nói rằng: “Thần nghĩ ta thắng giặc giữ, trên dưới đồng lòng Vì vậy, khoan thứ sức dân

l m k à b ế gốc rễ bền, ấy l th à b ượng sách giữ nước.”

24 Có quan điểm cho rằng ba chức: xã chính, xã xử, xã giám thực chất chỉ l m à b ột xã quan được gọi là b

chính xử giám Xem: Vũ Quốc Thông Pháp chế sử Nxb S i Gòn, 1971, tr 148 à b

36

Trang 38

Năm 1397, nhà Trần định quy chế quan ngoài, “lộ đặt chức An phủ sứ

và Phó sứ; phủ đặt chức Trấn phủ sứ và Phó sứ, châu đặt chức Thông phán

và Thiêm phán, huyện đặt Lệnh uý, Chủ bạ để cai trị Lộ coi phủ, phủ coichâu, châu coi huyện”25 Như vậy, từ năm 1397, chính quyền địa phương thờinhà Trần được tổ chức như sau: nước chia thành lộ, lộ chia thành các phủ,đứng đầu phủ là Trấn phủ sứ, có Phó trấn phủ sứ giúp việc Phủ chia thànhcác châu, đứng đầu là Thông phán, chức phó là Thiêm phán Châu chiathành các huyện26 Đứng đầu huyện là Lệnh uý, có Chủ bạ giúp việc Huyệnchia thành xã, đứng đầu là Xã quan do triều đình bổ nhiệm, được gọi là Xãchính Mỗi xã gồm nhiều giáp (mỗi giáp khoảng 15 người) nhưng cũng như

ở triều Lý, giáp không phải là đơn vị hành chính của xã Các Liên xã đềuđược bãi bỏ cùng với các chức quan: Đại tư xã và Tiểu tư xã Đặc biệt, ởgiai đoạn này, nhiều lộ ở gần miền biên giới hay các địa điểm quan trọng đã

được họp lại thành Hạt và các quan văn đứng đầu mỗi Hạt là Tổng quản hay

Thái thú Các vị quan này được triều đình trao cho quyền hành rất rộng rãi.Năm 1230, Nhà Trần ban hành Quốc triều thông chế 20 quyển Năm 1341,Trương Hán Siêu soạn Hoàng triều đại điển, và bộ hình thư

25 Đại Việt sử ký to n th à b ư, tập II, Nxb Khoa học xã hội, H N à b ội, 1971, tr 220

26 Dưới thời Lý - Trần, lần đầu tiên chính quyền tự chủ có cấp h nh chính huy à b ện.

Trang 39

Hình 4: So sánh tổ chức chính quyền địa phương

thời Lý; Trần; Trần (1397), Hồ; và thời Minh

Phủ, châu (Tri phủ, chuyện vận sứ)

Lộ(An phủ chánh sứ)

Phủ(Trấn phủ sứ)

Châu (Thông phán Thiêm phán)

Huyện(Lệnh uý)

Xã(Xã chính)

Quận (Ty Bồ chính,

Ty án sát, Ty Đô)Phủ

Huyện, châu

Lý (Lý trưởng)

Xã(Xã chính)

Trang 40

Hệ quả của mô hình tập quyền thân dân thời kỳ Lý - Trần - Hồ:

Đường lối chính trị thân dân cho thấy chính quyền thời Lí - Trầnthường lấy sự an cư lạc nghiệp của người dân gắn với sự thịnh suy của triềuđình Mỗi khi lên ngôi hay trong những dịp đại lễ, hoặc khi người dân mấtmùa, đói kém, nhà vua vẫn thường miễn giảm tô thuế, đại xá tù nhân, pháttrẩn, đặc biệt các vua Lí vẫn đến các miền quê xem người dân cày ruộng, gặtlúa, hoặc vẫn duy trì lệ cày "tịch điền" Vua Trần Thái Tông đã từng nói: "

Trẫm muốn đi ra ngoài chơi, để được nghe tiếng nói của dân và xem xét lòng dân, cho biết tình trạng khó khăn của dân"27

Như vậy có thể thấy về cơ bản chính quyền thời Lí - Trần là một môhình coi trọng ý dân, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân, là điểm đặc sắc rõnét tính dân tộc, tính nhân dân của nhà nước phong kiến Tuy vậy đến cuốithời kỳ này mô hình thân dân đã tỏ ra không còn phù hợp vì: không giữ

được sự hoà đồng trong giới quí tộc Không coi là một cường quốc mạnh vì

bản thân nhà nước không đủ mạnh28 Nhà nước luôn phải dựa vào làng

xã, nhiều phong kiến tư nhân giàu lên, chính quyền Trung ương không kiểmsoát được với phong kiến tư nhân Quí tộc mâu thuẫn với nông dân, nhằmbảo vệ quyền lợi của giai cấp quí tộc

27 Thơ văn Lí - Trần, Tập 3, Nxb Khoa học xã hội, H n à b ội, 1977, tr.325.

28 Lúc n y nh n à b à b ước cũng không đủ mạnh để giải quyết được mối quan hệ với l ng v v à b à b ới phong kiến

tư nhân (phong kiến tư nhân cũng đủ mạnh để lập nên các điền trang thái ấp, thực chất l không ph à b ụ thuộc v o tri à b ều đình)

Ngày đăng: 21/10/2016, 20:14

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1] Đào Duy Anh, Đất nước Việt Nam qua các đời, NXB Sử học, Hà nội, 1964 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đất nước Việt Nam qua các đời
Nhà XB: NXB Sử học
[2] Đào Duy Anh. Việt Nam Văn hoá Sử cương. Nhà xuất bản văn hoá thông tin, Hà nội, 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam Văn hoá Sử cương
Nhà XB: Nhà xuất bản văn hoá thông tin
[3] Đào Duy Anh, Lịch sử Việt Nam, quyển thượng, Nhà xuất bản Văn hoá - Hà nội, 1958 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Việt Nam
Nhà XB: Nhà xuất bản Văn hoá - Hà nội
[6] Nguyễn Lương Bích, Lược sử Ngoại giao Việt Nam các thời trước, Nhà xuất bản Quân đội nhân dân, Hà nội, 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lược sử Ngoại giao Việt Nam các thời trước
Nhà XB: Nhà xuất bản Quân đội nhân dân
[7] Phan Huy Chú, Lịch triều hiến chương loại chí, NXB Sử học, Hà nội, 1960 - 1961 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch triều hiến chương loại chí
Nhà XB: NXB Sử học
[8] Phan Đại Doãn (chủ biên), Một số vấn đề về Nho giáo Việt Nam, Nhà xuất bản chính trị Quốc Gia, Hà nội, 1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề về Nho giáo Việt Nam
Nhà XB: Nhà xuất bản chính trị Quốc Gia
[9] Đại nam thực lục chính biên, Bản dịch của NXB KHXH, Hà nội, 1974 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại nam thực lục chính biên
Nhà XB: NXB KHXH
[10] Trần Bá Đệ (chủ biên), Một số chuyên đề lịch sử Việt Nam, Nhà xuất bản Đại học Quốc Gia Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số chuyên đề lịch sử Việt Nam
Nhà XB: Nhà xuất bản Đại học Quốc Gia Hà nội
[11] Lê Quý Đôn, Đại Việt thông sử, Nhà xuất bản Khoa học xã hội, Hà nội, 1978 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại Việt thông sử
Nhà XB: Nhà xuất bản Khoa học xã hội
[13] Hoàng Xuân Hãn, Lý Thường Kiệt - Lịch sử ngoại giao và tông giáo triều Lý, Nhà xuất bản Quân đội nhân dân, Hà nội, 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý Thường Kiệt - Lịch sử ngoại giao và tông giáo triều Lý
Nhà XB: Nhà xuất bản Quân đội nhân dân
[14] Vũ Đình Hoè. Thanh Nghị Hồi Ký. Nhà xuất bản Văn học, Hà nội, 2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thanh Nghị Hồi Ký
Nhà XB: Nhà xuất bản Văn học
[15] INSUN YU, Luật và xã hội Việt Nam thế kỷ XVII – XVIII, Nhà xuất bản Khoa học xã hội, Hà nội, 1994 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật và xã hội Việt Nam thế kỷ XVII – XVIII
Nhà XB: Nhà xuất bản Khoa học xã hội
[16] Trần Trọng Kim. Nho Giáo. Nhà xuất bản Văn hoá Thông tin, Hà nội, 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nho Giáo
Nhà XB: Nhà xuất bản Văn hoá Thông tin
[17] Trần Trọng Kim. Việt Nam Sử lược. Nhà xuất bản Đà nẵng, 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam Sử lược
Nhà XB: Nhà xuất bản Đà nẵng
[18] Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà nội, Nhà nước và pháp luật Việt nam trước thềm thế kỷ XXI, Nhà xuất bản Công an nhân dân, Hà nội, 2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhà nước và pháp luật Việt nam trước thềm thế kỷ XXI
Nhà XB: Nhà xuất bản Công an nhân dân
[19] Phan Huy Lê - Trần Quốc Vượng - Hà Văn Tấn - Lương Ninh. Lịch sử Việt Nam tập I (thời kỳ nguyên thuỷ đến thế kỷ X), Nhà xuất bản Đại học và trung học chuyên nghiệp, Hà nội ,1983 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Việt Nam tập I (thời kỳ nguyên thuỷ đến thế kỷ X)
Nhà XB: Nhà xuất bản Đại học và trung học chuyên nghiệp
[20] Phan Huy Lê, Chu Thiên, Vương Hoàng Tuyên, Đinh Xuân Lâm, Lịch sử chế độ phong kiến Việt Nam, Tập III, NXB Giáo dục, Hà nội, 1960 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử chế độ phong kiến Việt Nam
Nhà XB: NXB Giáo dục
[21] Phan Huy Lê, Lịch sử chế độ phong kiến Việt Nam, Tập II, NXB Giáo dục, Hà nội, 1960 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử chế độ phong kiến Việt Nam
Nhà XB: NXB Giáo dục
[22] Phan Huy Lê, Chế độ ruộng đất và kinh tế nông nghiệp thời Lê sơ, Nhà xuất bản Văn Sử Địa – 1959 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chế độ ruộng đất và kinh tế nông nghiệp thời Lê sơ
Nhà XB: Nhà xuất bản Văn Sử Địa – 1959
[23] Nguyễn Hiến Lê - Thiên Giang. Lịch sử thế giới. Nhà xuất bản Văn hoá - Thông tin, Hà nội, 1998. (tập 1) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử thế giới
Nhà XB: Nhà xuất bản Văn hoá - Thông tin

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1: Tổ chức bộ máy nhà nước thời nhà Đinh - ĐỀ tài NGHIÊN cứu KHOA học   mô HÌNH tổ CHỨC CHÍNH QUYỀN THỜI kỳ PHONG KIẾN ở VIỆT NAM
Hình 1 Tổ chức bộ máy nhà nước thời nhà Đinh (Trang 21)
Hình 3: Mô hình tổ chức chính quyền thời Lý - Trần - ĐỀ tài NGHIÊN cứu KHOA học   mô HÌNH tổ CHỨC CHÍNH QUYỀN THỜI kỳ PHONG KIẾN ở VIỆT NAM
Hình 3 Mô hình tổ chức chính quyền thời Lý - Trần (Trang 29)
Hình 5: Chức năng, nhiệm vụ của Lục Bộ dưới thời Lê - ĐỀ tài NGHIÊN cứu KHOA học   mô HÌNH tổ CHỨC CHÍNH QUYỀN THỜI kỳ PHONG KIẾN ở VIỆT NAM
Hình 5 Chức năng, nhiệm vụ của Lục Bộ dưới thời Lê (Trang 45)
Hình 6:      Sự phân chia theo đơn vị hành chính lãnh thổ - ĐỀ tài NGHIÊN cứu KHOA học   mô HÌNH tổ CHỨC CHÍNH QUYỀN THỜI kỳ PHONG KIẾN ở VIỆT NAM
Hình 6 Sự phân chia theo đơn vị hành chính lãnh thổ (Trang 46)
Hình 7: Sơ đồ tổ chức chính quyền địa phương Triều Lê - ĐỀ tài NGHIÊN cứu KHOA học   mô HÌNH tổ CHỨC CHÍNH QUYỀN THỜI kỳ PHONG KIẾN ở VIỆT NAM
Hình 7 Sơ đồ tổ chức chính quyền địa phương Triều Lê (Trang 60)
Hình 8: Tổ chức chính quyền lưỡng đầu thời Vua Lê - Chúa Trịnh - ĐỀ tài NGHIÊN cứu KHOA học   mô HÌNH tổ CHỨC CHÍNH QUYỀN THỜI kỳ PHONG KIẾN ở VIỆT NAM
Hình 8 Tổ chức chính quyền lưỡng đầu thời Vua Lê - Chúa Trịnh (Trang 67)
Hình 9: Tổ chức chính quyền địa phương thời kỳ nội chiến - ĐỀ tài NGHIÊN cứu KHOA học   mô HÌNH tổ CHỨC CHÍNH QUYỀN THỜI kỳ PHONG KIẾN ở VIỆT NAM
Hình 9 Tổ chức chính quyền địa phương thời kỳ nội chiến (Trang 75)
Hình 10: Tổ chức chính quyền địa phương Triều Nguyễn - ĐỀ tài NGHIÊN cứu KHOA học   mô HÌNH tổ CHỨC CHÍNH QUYỀN THỜI kỳ PHONG KIẾN ở VIỆT NAM
Hình 10 Tổ chức chính quyền địa phương Triều Nguyễn (Trang 88)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w