Hiện nay có khá nhiều những công trình nghiên cứu đề cập đến cách thức tổ chức bộ máy nhà nước thời kỳ phong kiến ở Việt Nam nhưng phần lớn là tập trung vào mô tả theo lịch đại, chưa có một công trình nào nghiên cứu một cách đầy đủ, toàn diện và khái quát hoá thành các mô hình tổ chức chính quyền. Nghiên cứu mô hình tổ chức chính quyền thời kỳ phong kiến ở Việt Nam bằng phương pháp liên ngành, đặc biệt là dưới góc độ lý luận – lịch sử nhà nước và pháp luật là một cách tiếp cận mới. Kết quả mà đề tài đem lại phục vụ trực tiếp cho môn học Lịch sử nhà nước và pháp luật Việt Nam được giảng dạy ở Khoa Luật trực thuộc Đại học Quốc gia Hà nội.
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
MÔ HÌNH TỔ CHỨC CHÍNH QUYỀN
Chủ trì đề tài: THS Nguyễn Minh Tuấn
Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà nội
Cố vấn khoa học: PGS.TS Hoàng Thị Kim Quế
Phó chủ nhiệm Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà nội
Hà nội, tháng 12/2005
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
K H O A L U Ậ T
CHỦ TRÌ ĐỀ TÀI: THS NGUYỄN MINH TUẤN
CỐ VẤN KHOA HỌC: PGS.TS HOÀNG THỊ KIM QUẾ
-THE MODEL OF ORGANIZING AUTHORITIES
IN FEUDAL PERIOD IN VIETNAM
Hà Nội – 2005
Đề tài nghiên cứu khoa học cơ bản cấp ĐHQGHN
(Mã số CB.04.27):
Trang 3MÔ HÌNH TỔ CHỨC CHÍNH QUYỀN
THỜI KỲ PHONG KIẾN Ở VIỆT NAM
-Chủ trì đề tài: ThS Nguyễn Minh Tuấn
Cố vấn khoa học: PGS.TS Hoàng Thị Kim Quế
PHÂN CÔNG BIÊN SOẠN:
PGS.TS Hoàng Thị Kim Quế & ThS Nguyễn Minh Tuấn
Báo cáo tổng quan đề tài, Mục lục, Kết luận chung và danh mục tài liệu
tham khảo
ThS Nguyễn Minh Tuấn
Phần I, Phần II, Phần III, Phần IV, Phần VI
Trang 4A BÁO CÁO TỔNG QUAN ĐỀ TÀI
I Đặt vấn đề
II Tóm tắt nội dung nghiên cứu của đề tài
B NỘI DUNG NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI
Phần 1
Mô hình thời kỳ Ngô - Đinh – Tiền Lê
(Từ 938 đến đầu thế kỷ XI)
Mô hình chính quyền quân sự
1.1 Xây dựng mô hình chính quyền quân sự thời kỳ Ngô - Đinh
- Tiền Lê (từ năm 938 đến đầu thế kỷ XI) - một nhu cầu tấtyếu
1.2 Mô hình tổ chức chính quyền thời kỳ Ngô - Đinh - Tiền Lê1.2.1 Tổ chức chính quyền ở trung ương
1.2.2 Tổ chức chính quyền ở địa phương
Phần 2
Mô hình thời kỳ Lý – Trần – Hồ
(Từ thế kỷ XI đến đầu thế kỷ XV)
-Mô hình chính quyền tập quyền thân dân
2.1 Vài nét về thời kỳ Lý - Trần - Hồ (Từ thế kỷ XI đến đầu thế
kỷ XV)
2.2 Mô hình tổ chức chính quyền thời Lý – Trần – Hồ: mô hìnhtập quyền thân dân
2.2.1 Mô hình chính quyền thời Lý
2.2.1.1 Tổ chức chính quyền thời Lý ở trung ương2.2.1.2 Tổ chức chính quyền địa phương thời Lý 2.2.2 Nhà Trần (từ 1225 – 1400)
2.2.2.1 Tổ chức chính quyền thời Trần ở trung ương
Trang 52.2.2.2 Tổ chức chính quyền thời Trần ở địa phương
Phần 3
Thời Lê (Thế kỷ XV)
Mô hình chính quyền tập quyền quan liêu
3.1 Đặc điểm của Triều Lê
3.2 Mô hình tổ chức chính quyền thời Lê - mô hình tập quyền quan liêu:
3.2.1 Tổ chức chính quyền ở trung ương
3.2.2 Tổ chức chính quyền ở địa phương
Phần 4
Thời kỳ Trịnh – Nguyễn phân tranh
(từ 1600 đến 1786)
Mô hình chính quyền lưỡng đầu ở miền Bắc
4.1 Tổ chức chính quyền ở trung ương
4.2 Tổ chức chính quyền ở địa phương thời Vua Lê - Chúa
Trịnh
Phần 5
Thời Nguyễn (từ năm đầu thế kỷ XIX đến năm 1858)
-Mô hình tập quyền chuyên chế
5.1 Tổ chức chính quyền ở trung ương
5.2 Tổ chức chính quyền ở địa phương
4
Trang 6Phần 6
Nhận xét về mô hình tổ chức chính quyền
Việt Nam thời kỳ phong kiến
6.1 Nhận xét về sự phát triển của nhà nước phong kiến ở một sốlĩnh vực
6.2 Những đặc trưng cơ bản của nhà nước phong kiến Việt Nam
Trang 7cứu một cách đầy đủ, toàn diện và khái quát hoá thành các mô hình tổ chức chính quyền Nghiên cứu mô hình tổ chức chính quyền thời kỳ phong kiến ở Việt Nam bằng phương pháp liên ngành, đặc biệt là dưới góc độ lý luận – lịch sử nhà nước và pháp luật là một cách tiếp cận mới Kết quả mà đề tài
đem lại phục vụ trực tiếp cho môn học Lịch sử nhà nước và pháp luật ViệtNam được giảng dạy ở Khoa Luật trực thuộc Đại học Quốc gia Hà nội
6
Trang 82 Tình hình nghiên cứu.
+ Về tổ chức bộ máy nhà nước ở Việt Nam thời kỳ phong kiến tiếp
cận dưới góc độ lịch sử theo trình tự về thời gian dưới dạng sách chuyên
khảo đã có những công trình như: Đất nước Việt Nam qua các đời, NXB Sử học, Hà nội, 1964 và Việt Nam Văn hoá Sử cương Nhà xuất bản văn hoá
thông tin, Hà nội, 2003 của tác giả Đào Duy Anh; Lịch sử Việt Nam tập I
(thời kỳ nguyên thuỷ đến thế kỷ X), Nhà xuất bản Đại học và trung học
chuyên nghiệp, Hà nội ,1983 của tập thể tác giả Phan Huy Lê - Trần Quốc
Vượng - Hà Văn Tấn - Lương Ninh.; Lịch sử chế độ phong kiến Việt Nam,
Tập III, NXB Giáo dục, Hà nội, 1960 của các tác giả Phan Huy Lê, Chu
Thiên, Vương Hoàng Tuyên, Đinh Xuân Lâm,; Lịch sử chế độ phong kiến
Việt Nam, Tập II, NXB Giáo dục, Hà nội, 1960 của tác giả Phan Huy Lê;
Sơ thảo lịch sử nhà nước và pháp quyền Việt Nam (Từ nguồn gốc đến thế kỷ
XIX), NXB Khoa học xã hội, Hà nội, 1968 của tác giả Đinh Gia Trinh.
Luật và xã hội Việt Nam thế kỷ XVII - XVIII, Nhà xuất bản Khoa học xã hội,
Hà nội, 1994 của tác giả INSUN YU…
Trong đề tài này, nhóm tác giả đã kế thừa nhiều ý tưởng và lý thuyết
về mô hình tổ chức chính quyền từ bài giảng dành cho Học viên cao học
Khoa Luật - ĐHQGHN của GS.TSKH Vũ Minh Giang, từ tên gọi các mô
hình đến nhiều nội dung cụ thể Kế thừa phương pháp tiếp cận liên ngành,đặc biệt bằng phương pháp tư duy pháp lý, nhóm tác giả cũng đã mở rộngnghiên cứu, phát triển đề tài này với nhiều nội dung mới
3 Mục tiêu của đề tài
+ Chỉ rõ đặc trưng việc tổ chức chính quyền thời kỳ phong kiến, tácgiả không đi sâu nghiên cứu tất cả các triều đại, mà trên cơ sở tìm hiểu cách
Trang 9thức tổ chức chính quyền trung ương và địa phương qua các thời kỳ để kháiquát hoá thành các mô hình tổ chức chính quyền;
+ Tương ứng với từng mô hình tổ chức chính quyền chỉ ra cơ sở củaviệc xuất hiện mô hình, ý nghĩa của mỗi mô hình qua từng thời kỳ;
+ Rút ra hệ luận của từng mô hình và ảnh hưởng, cũng như bài họcđối với tổ chức bộ máy nhà nước ở Việt Nam hiện nay
4 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp luận: Phương pháp duy vật biện chứng và phương
pháp duy vật lịch sử;
- Phương pháp nghiên cứu cụ thể: Phương pháp liên ngành; phương
pháp so sánh; phương pháp phân tích - tổng hợp
5 Những kết quả đạt được
Đề tài NCKH cấp Đại học Quốc gia Hà Nội trên đây đã có những
đóng góp nhất định trên các phương diện lập pháp, khoa học và đào tạo như
sau
5.1 Đóng góp về mặt lập pháp – các kết quả nghiên cứu được công bố
của Đề tài NCKH này ở một chừng mực nhất định là nguồn tư liệu bổ ích vàquý báu cho các nhà làm luật Việt Nam sử dụng làm tài liệu tham khảo trongviệc xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa hiện nay
5.2 Đóng góp về mặt khoa học – các kết quả nghiên cứu bao gồm 80
trang A4, đóng bìa cứng, được trình bày rõ ràng, sạch đẹp, đảm bảo tính
8
Trang 10khoa học và lôgíc Tính đến thời điểm nghiệm thu, chủ trì đề tài đã đăng tảitrên các trang sách báo pháp lý 03 công trình khoa học liên quan trực tiếp tới
đề tài:
1) Nguyễn Minh Tuấn Xây dựng xã hội công dân từ xã hội làng
xã cổ truyền Việt Nam, Tạp chí Khoa học và Tổ quốc, số 11+ 12/2004
2) Nguyễn Minh Tuấn Đặc trưng của dân chủ trong chế độ
phong kiến Việt Nam, Tạp chí nghiên cứu lập pháp, số 9/2004.
3) Nguyễn Minh Tuấn, Những ảnh hưởng tích cực của Nho
giáo trong Bộ Luật Hồng Đức, Tạp chí Khoa học Đại học Quốc gia Hà
nội, Chuyên san Kinh tế - Luật, T.XXI, No3, 2005, tr.38 - 47.
5.3 Đóng góp về mặt đào tạo – các kết quả nghiên cứu của đề tài này
có thể được dùng làm tài liệu giảng dạy cho sinh viên, học viên cao học,cũng như làm tài liệu tham khảo cho các cán bộ giảng dạy, nghiên cứu khoahọc và thực tiễn trong lĩnh vực lịch sử nhà nước và pháp luật Việt Nam
II
TÓM TẮT NỘI DUNG NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI
- Đề tài tập trung nghiên cứu mô hình tổ chức bộ máy nhà nước
phong kiến thông qua 5 mô hình: 1 Mô hình chính quyền quân sự thời kỳ
Ngô - Đinh – Tiền Lê (Từ 938 đến đầu thế kỷ XI); 2 Mô hình chính quyền tập quyền thân dân thời kỳ Lý – Trần – Hồ (Từ thế kỷ XI đến
đầu thế kỷ XV);3: Mô hình chính quyền tập quyền quan liêu Thời Lê (Thế kỷ XV); 4 Mô hình chính quyền lưỡng đầu Thời kỳ Trịnh –
Trang 11Nguyễn phân tranh (từ 1600 đến 1786); 5 Mô hình tập quyền chuyên chế Thời Nguyễn (từ đầu thế kỷ XIX đến năm 1858)
11 Các chuyên đề nghiên cứu dự kiến của đề tài (tên và nội dung chính của từng chuyên đề):
Chuyên đề 1: Mô hình chính quyền quân sự thời kỳ Ngô - Đinh – Tiền
Lê: (Từ 938 đến đầu thế kỷ XI)
Mô hình chính quyền quân sự là mô hình tổ chức chính quyền đầutiên được thiết lập sau hơn một nghìn năm tồn tại dưới sự cai trị của phongkiến Trung Hoa Một chính quyền khi còn trong trứng nước như thế sẽkhông thể tồn tại được nếu không chú ý đến vấn đề phòng thủ đất nước.Bằng việc chỉ ra những điều kiện, tính chất, nội dung của việc tổ chức chínhquyền thời kỳ Ngô - Đinh – Tiền Lê, nhóm tác giả đi đến khẳng định, chỉ ratính tất yếu của việc xây dựng mô hình chính quyền quân sự thời kỳ Ngô -
Đinh - Tiền Lê (từ năm 938 đến đầu thế kỷ XI) Đồng thời bằng phương
pháp nghiên cứu lý luận – lịch sử, trong chuyên đề này nhóm tác giả dự kiếnlàm rõ nguyên nhân của việc chuyển đổi từ mô hình chính quyền quân sựvào đầu thế kỷ XI sang một mô hình mới – mô hình chính quyền tập quyềnthân dân
Chuyên đề 2: Mô hình chính quyền tập quyền thân dân thời kỳ Lý –
Trần – Hồ (Từ thế kỷ XI đến đầu thế kỷ XV)
Sau khi nghiên cứu những nét khái quát những đặc điểm chung của
thời kỳ Lý - Trần - Hồ (Từ thế kỷ XI đến đầu thế kỷ XV) nhằm chỉ ra cơ sở, tính chất “thân dân” – một tính chất phát triển cao nhất trong thời kỳ phong
kiến ở giai đoạn này, nhóm tác giả sẽ tập trung làm rõ tính chất, đặc trưng cơbản của mô hình tổ chức chính quyền thời kỳ này Bằng phương phápnghiên cứu lý luận – lịch sử, trong chuyên đề này nhóm tác giả sẽ làm
10
Trang 12rõ sự kế thừa và những phát triển đặc sắc trong việc tổ chức chínhquyền so với giai đoạn trước đó, cũng như nguyên nhân của việcchuyển đổi từ mô hình chính quyền thân dân vào đầu thế kỷ XI sangmột mô hình mới – mô hình chính quyền tập quyền quan liêu.
Chuyên đề 3: Mô hình chính quyền tập quyền quan liêu Thời Lê
(Thế kỷ XV)
Thời nhà Lê (Thế kỷ XV) được coi là thời kỳ phát triển huy hoàngnhất trong lịch sử phong kiến Việt Nam trên nhiều lĩnh vực, đặc biệt là vềluật pháp, nhóm tác giả sẽ tập trung khai thác, làm rõ tính chất, đặc trưng cơbản của mô hình tổ chức chính quyền thời kỳ này, đồng thời bằng phươngpháp nghiên cứu lý luận – lịch sử, trong chuyên đề này nhóm tác giả sẽ làm
rõ những điểm tiến bộ và những mặt hạn chế khi áp dụng mô hình này, chỉ
ra những hệ quả của việc áp dụng mô hình này vào cuối thế kỷ XV
Chuyên đề 4: Mô hình chính quyền lưỡng đầu (vua Lê - chúa Trịnh)
(từ 1600 đến 1786);
Một nhà nước đồng thời có 2 người cùng đứng đầu, cùng cai quản đấtnước, chỉ qua biểu hiện bên ngoài của nó đã đủ cho thấy nét độc đáo, lý thúbậc nhất trong toàn bộ thời kỳ phong kiến Song sự vận hành của chúng rasao, cơ sở cho sự tồn tại của mô hình này, và giá trị lịch sử của nó - liệu môhình ấy có những điểm tích cực gì có thể tiếp tục nghiên cứu để vận dụngtrong việc tổ chức chính quyền hiện nay hay không Thông qua việc trìnhbày những nét sơ lược, nhóm tác giả sẽ khai thác và chỉ rõ đặc trưng cơ bảncủa từng thiết chế trong mô hình này và phần nào làm sáng tỏ những bănkhoăn kể trên
Trang 13Chuyên đề 5: Mô hình tập quyền chuyên chế Thời Nguyễn (từ
năm đầu thế kỷ XIX đến năm 1858):
Nội dung chủ yếu của chương này là chỉ ra những đặc trưng của một
mô hình phát triển cao nhất trong lịch sử phong kiến Việt Nam về tính chất
“chuyên chế” Lâu nay có rất nhiều quan điểm cho rằng đã là kiểu nhà nước
phong kiến tất cả đều có hình thức nhà nước là quân chủ chuyên chế, nhưngtheo nhóm tác giả thì phải thực sự bắt đầu từ thời kỳ đầu nhà Nguyễn, lúc ấy
xã hội Việt Nam mới thực sự bước vào thời kỳ chuyên chế thực sự Vớinhững qui định được triều đình đặt ra như không lập hoàng hậu, không lậptrạng nguyên, không lập tể tướng, không phong vương…cùng với cách caitrị tập trung khiến cho tính chất tập quyền đã được đẩy lên có thể nói là caonhất trong suốt thời kỳ phong kiến Nhưng liệu mô hình tập quyền chuyênchế có phải chỉ chứa đựng tính chất tập quyền mà lâu nay được nhiều nhànghiên cứu nhận xét là phản tiến bộ hay không Theo nhóm tác giả trong môhình tập quyền chuyên chế còn có khá nhiều những nét độc đáo, tiến bộ, và
cả sự kế thừa mà xét về thời điểm có thể nói những qui định ấy cũng không
xa so với thời điểm hiện tại, và chắc chắn còn nhiều điểm đáng phải kế thừacho việc xây dựng chính quyền hiện nay
Chuyên đề 6: Nhận xét về mô hình tổ chức chính quyền Việt Nam
thời kỳ phong kiến
Qua việc tổng kết của cả 5 mô hình, nhóm tác giả rút ra nhữngđặc điểm cơ bản nhất, và không chỉ dừng lại ở những nhận xét nhómtác giả phần nào cũng cố gắng chỉ ra những đặc điểm tích cực nổi trộilàm nên những nét đặc thù về mô hình tổ chức chính quyền Việt Namthời kỳ phong kiến cũng như những hệ luận, những di căn, những tồntại mà chúng ta phải dám đối diện, dám nhìn thẳng để không mắc sailầm từ cách thức tổ chức đến việc thực hiện, từ lối tư duy đến lúc chúng
12
Trang 14được hoá thân thành qui định của pháp luật, thành cơ chế và con người,hay thành những công việc rất cụ thể - những công việc tưởng như đâu
đó xa lắm, cũ lắm nhưng hình như lại đang lội ngược dòng, như đanglặp lại từ chính trong tư duy và trong cách vận hành các thiết chế nhànước
Trang 16MÔ HÌNH CHÍNH QUYỀN QUÂN SỰ
[1.1] Xây dựng mô hình chính quyền quân sự thời kỳ Ngô - Đinh
– Tiền Lê (từ 939 đến đầu thế kỷ XI) – một nhu cầu tất yếu:
Sau khi đánh bại quân nam Hán, Ngô Quyền1 xưng Vương, đóng đô ở
Cổ Loa, như lời sử cũ để tỏ ý nối tiếp quốc thống xưa của An Dương Vương
và bắt đầu xây dựng một chính quyền trung ương độc lập Vốn có một thờigian dài lãnh thổ Việt Nam nằm trong An nam đô hộ phủ vốn là một bộphận của chính quyền cai trị Trung Hoa, nay được tách ra thành một quốcgia độc lập, việc xây dựng một mô hình cho phù hợp là một vấn đề rất khókhăn
1 Các đời vua Triều Ngô (938 - 965) bao gồm: 1 Tiền Ngô Vương (938 – 944); Dương Bình Vương (945 - 950); Hậu Ngô Vương (951 - 965)
Trang 17Chính quyền mới phải đứng trước bài toán giải quyết cho được vấn đềmối quan hệ giữa Phân tán và tập quyền2 Trong thời kỷ cai trị phong kiếnphương Bắc tính tự trị địa phương là rất cao, luôn trong thế bùng phát, nguy
cơ phân tán quyền, không ai chịu ai là khó tránh khỏi
Từ năm 938 - 944 khi Ngô Quyền mất, em vợ của Ngô Quyền làDương Tam Kha cướp ngôi vua, một số quan lại, tướng sĩ của Ngô quyềnkhông chịu, nổi lên chống lại Dương Tam Kha; mỗi người cầm quân chiếmgiữ một địa phương, lạp thành giang sơn riêng, gây nên tình trạng cát cứ -
loạn 12 sứ quân Điều này thể hiện sự thắng thế của tính tiểu nông vốn vẫn
do vậy khi chính quyền mạnh thì họ thần phục, nhưng khi chính quyền suyyếu thì họ nổi dậy và tiến hành cát cứ Năm 967, xuất hiện một vị thủ lĩnh tài
ba tên là Đinh Bộ Lĩnh3 thống nhất đất nước, lập nên 1 quốc gia thống nhất
có tên là Đại Cồ Việt Như vậy nếu tính về mặt thời gian thì tình trạng (xuhướng) cát cứ4 tồn trại rất ngắn, vì nó không có cơ sở kinh tế - xã hội để duytrì Nguyên nhân cơ bản là nhu cầu đấu tranh bảo vệ độc lập dân tộc, và nhucầu xây dựng, quản lí các công trình trị thuỷ luôn thắng thế Chính từ nhận
2 Lưu ý yếu tố phân tán l b à b ản chất của kinh tế tiểu nông
3 Các đời vua Triều Đinh (968 - 980) bao gồm: Đinh Tiên Ho ng (968 - 980); à b Đinh Phế Đế (980).
4 Tác giả cũng đồng tình với quan điểm cho rằng đây chỉ l th à b ời điểm có những biểu hiện ban đầu của
xu hướng cát cứ chứ chưa thể kết luận rằng đây l m à b ột mô hình chính quyền phong kiến cát cứ như ở Tây Âu thế kỉ IX - X.
16
Trang 18thức đó ta sẽ thấy ngay từ đầu tính đại diện của nhà nước đã nổi trội, giống
như một hằng số không chỉ khi xuất hiện nhà nước, mà còn cả khi nhà nước
đó tồn tại và chính nó cũng qui định chức năng của nhà nước đồng thời giúp
lí giải vì sao xu hướng tập quyền luôn thắng thế
Muốn xây dựng một chính quyền đủ mạnh không còn cách nào khác
là phải giải quyết được mối quan hệ giữa tập quyền và phân tán, và vì vậy việc xây dựng một mô hình tổ chức chính quyền mới – mô hình chính quyền quân sự5 là một giải pháp hợp lý và tất yếu, có tính lịch sử, nhằm tậptrung tối đa quyền lực cho việc xây dựng chính quyền quân sự tập trungthống nhất
Triều Đinh tồn tại không bao lâu, năm 979, Đinh Tiên Hoàng bị ámhại, sau đó nhiều vụ xung đột trong nước xảy ra, bên ngoài nạn ngoại xâmluôn uy hiếp Trong điều kiện đó, quân sĩ và một số quan lại đã suy tôn LêHoàn – một người có uy tín trong triều, đang giữ chức Thập đạo tướng quânlàm vua, mở đầu cho triều Tiền Lê6 Ông nhanh chóng tổ chức lực lượng tiếnhành kháng chiến chống Tống, khôi phục và củng cố chính quyền quân sựcủa triều Đinh
[1.2] Mô hình tổ chức chính quyền thời kỳ Ngô - Đinh - Tiền Lê:
1.2.1 Tổ chức chính quyền ở Trung ương:
Trong giai đoạn phôi thai của nhà nước phong kiến, khi cuộc đấutranh vũ trang giữa các lực lượng cát cứ với nhau và giữa chính quyền trungương với các lực lượng cát cứ địa phương diễn ra mạnh mẽ, thì tổ chức của
5 Giai đoạn n y th à b ể hiện khá rõ sự thắng thế của xây dựng một chính quyền mạnh (chính quyền Trung ương tập quyền)
6 Các triều vua thời Tiền Lê (980 – 1009) gồm: 1 Lê Ho n (980 – 1005); 2 Lê Trung Tông (1005); Lê à b Ngoạ Triều (1005 – 1009)
Trang 19bộ máy Nhà nước do triều đình trung ương điều khiển có tính chất nặng vềquân sự Lực lượng quân đội đã được các vua Ngô, Đinh, Tiền Lê đặc biệtquan tâm xây dựng Thực chất việc xây dựng mô hình chính quyền quân sự
là một sứ mệnh lịch sử, một chính quyền mới giành được độc lập còn trongtrứng nước, còn trăm bề khó khăn làm thế nào để tồn tại trước một đế chếTrung Hoa hùng cường quả là việc không đơn giản Chúng tôi cho rằng, ởthời điểm lịch sử ấy việc xây dựng lực lượng quân đội hùng mạnh khôngnhững cần thiết để đối phó với nạn ngoại xâm, bảo vệ nền độc lập quốc giamới giành được mà còn cần thiết cho việc đấu tranh nội bộ chống lại các hàotrưởng cát cứ Vậy nên việc tổ chức chính quyền quân sự không đơn giản chỉ
là để gìn giữ độc lập chủ quyền, mà quan trọng không kém là để giải quyết
nguy cơ phân tán (bản chất của tính tiểu nông vốn vẫn tiềm ẩn) với yêu cầu tập quyền
Về tổ chức nhà nước, thời Ngô Quyền đặt ra các chức quan văn - võ,qui định các nghi lễ trong triều và màu sắc trang phục của quan lại các cấp.Đến thời nhà Đinh, Đinh Bộ lĩnh xưng Đế7, chọn Hoa Lư8 làm căn cứ quân
sự
Nhà Đinh chia cả nước làm 10 đạo Năm 974, Đinh Tiên Hoàng tổchức lại quân đội trong cả nước, gồm 10 đạo, mỗi đạo 10 quân, mỗi quân 10
lữ, mỗi lữ 10 tốt, mỗi tốt 10 ngũ, mỗi ngũ 10 người Tổng chỉ huy quân đội
là Thập đạo tướng quân điện tiền chỉ huy sứ9
7 Người xưng đế đầu tiên trong lịch sử Việt Nam l Lý Bôn, x à b ưng Lý Nam Đế năm Tân Dậu (541)
8 Hoa Lư l vùng à b đất xung quanh bao bọc l núi thu à b ận lợi cho xây dựng một chính quyền quân sự đủ mạnh
9 Năm 971, Đinh Tiên Ho ng cho Lê Ho n ch à b à b ức võ tướng Thập đạo tướng quân Chức n y l T à b à b ổng chỉ huy quân đội đương thời Năm 947 mới định 10 đạo gồm cả thảy một triệu quân V o th à b ời Lý, các vệ quân giao cho Tướng quân chỉ huy ví như Uy vệ tướng quân, Kiêu vệ tướng quân, Định Thắng tướng
quân Thời Trần các võ quan cũng có chức Thân vệ tướng quân (Xem : Vũ Văn Ninh, Từ điển chức
quan, Nh xuà b ất bản thanh niên, 2002, tr.661)
18
Trang 20Có hai vấn đề đặt ra:
Thứ nhất, với số liệu trên cho ta thấy, tổng số quân đội thời kì này lên
đến 1.000.000 người Nhưng liệu sự thật có phải tổng số quân ở thời kì đó
đã đạt được con số khổng lồ như vậy trên tổng dân số Đại Việt mới có khoảng 3.000.000 dân? Với tư liệu sử sách quá ít ỏi, chưa cho phép ta
khẳng định một cách xác đáng, nghiêm túc về vấn đề này, nhưng phần nào
cũng giúp ta nhận diện rằng đây là thời kì quân đội được chú trọng xây dựng và phát triển cả về số lượng và chế độ luyện tập.
Thứ hai, cả nước chia thành 10 đạo, trong 10 đạo ấy liệu có bao gồm
những người thường dân khác hay không? Tại sao 10 đạo lại tương ứng với
1 triệu người Vậy những người thường dân khác nằm trong bộ phận nào?hoà nhập hay tách riêng? qui chế pháp lí gì riêng cho thường dân không? Tất
cả vẫn là những câu hỏi chưa có lời giải đáp, chỉ biết rằng bằng tư duy líluận - lịch sử ta có thể khẳng định rằng việc phân chia thành các đạo, 10 đạotương ứng 1 triệu quân chứng tỏ tính chất của nó không giản đơn là đơn vị
hành chính mà thực chất đạo là một đơn vị tổ chức quân sự.
Quan lại trong triều có các chức thái sư, quân sư, đại tổng quản Dướitổng quản có thái uý, đô hộ phủ sĩ sư, thập đạo tướng quân Về ban văn cóNguyễn Bặc được phong Định Quốc Công đứng đầu triều, Lưu Cơ giữ chức
Đô hộ phủ sĩ sư coi việc hình án, Thái sư Hồng Hiến, Sứ quan Trịnh Tú Vềban võ có Lê Hoàn giữ chức Thập đạo tướng quân đứng đầu quân đội, Thân
vệ tướng quân Phạm Bạch Hổ cầm quân trong kinh thành, Ngoại giáp ĐinhĐiền cầm quân ngoài, Vệ uý Phạm Hạp Về sau, năm 1002, Lê Hoàn đổi 10đạo làm Lộ, Phủ, Châu Thời Lê Hoàn, ở một số vùng trọng yếu, nhà vua cử
Trang 21các con đến trấn trị, có quân đội để kịp thời trấn áp các cuộc nổi dậy, chốngđối.
Hình 1: Tổ chức bộ máy nhà nước thời nhà Đinh
Từ mô hình tổ chức bộ máy nhà nước đến các biện pháp quản lý xãhội thời kỳ này còn mang đậm mầu sắc quân sự, hệ tư tưởng Nho gia chưa
có dấu ấn trong tổ chức bộ máy nhà nước, thực chất bộ máy nhà nước cònmang bóng dáng của một bộ máy tự quản của làng xã được mở rộng trongphạm vi cả nước
Dưới triều Tiền Lê, Lê Hoàn và các vua tiếp sau củng cố và tăngcường thêm quân đội thường trực, đặt ngạch thân binh, tuyển lính túc vệđóng ở kinh thành Các chức quan cao cấp chỉ huy quân đội được đặt ra nhưThái uý, Khu mật sứ Ngoài quân đội của nhà vua còn có quân đội do các
20
Ho ng à b đế
Bộ máy quan lại
(trong đó chỉ huy quân sự l th à th ập đạo tướng quân
điện tiền chỉ huy sứ
12 Đạo/ Lộ
Giáp
Xã
Trang 22Vương hầu, quý tộc chiêu mộ và điều khiển ở điền trang, thái ấp, mà vua cóthể điều động khi cần đến.
Trong triều đình Ngô - Đinh - Tiền Lê, các vị vua đã tiến hành phongtước, mà trước hết là một số người trong hoàng tộc, điển hình nhất đó làtước vương Thời kì này trật tự lễ nghi trong triều đình đã bước đầu đượcđịnh hình, các vị vua khi mới lên ngôi đều đã chế định triều nghi, phẩmphục
Mỗi nhà nước phải có bệ đỡ về tư tưởng, nhà Đinh và Nhà Lê không
muốn dập khuôn theo mô hình Nho Giáo, đã chọn Phật giáo nhằm tranh thủnhân tâm Điều đáng tiếc là Phật giáo lại quá xa lạ với luật pháp nhà Đinh, vìvậy đã tạo ra một sự phản kháng hết sức gay gắt trong thời gian này
Về tình hình pháp luật, cho đến nay chưa có một công trình nào có đủcăn cứ khoa học để khẳng định rằng thời kì này đã có luật pháp thành văn,mặc dù trong sử sách đôi chỗ cũng chép lại những hiện tượng như vua "địnhluật lệ", "xuống chiếu", "chế định triều nghi phẩm phục" Đặt vào hoàncảnh lúc bấy giờ thì việc quan trọng của các vương triều Ngô - Đinh - Tiền
Lê phải tập trung bảo vệ chủ quyền, vì vậy việc chưa có điều kiện quan tâmnhiều đến việc xây dựng pháp luật cũng là điều dễ hiểu
Nghiên cứu về lịch sử thời kì này có 10 tội gọi là thập ác là hình thứctàn ác nhất với mục đích là để xây dựng một chính quyền Trung ương đủmạnh10, khá nhiều tác giả đánh giá rằng đây là thời kì luật pháp rất hà khắc
và tàn bạo11 Chúng tôi cho rằng điều đó đúng, nhưng không hoàn toàn như
10 Đòi hỏi khách quan phải xây dựng một chính quyền Trung ương đủ mạnh đó l à b đến thế kỷ 10, Chăm
pa đã l m à b ột quốc gia hùng mạnh v c à b ường thịnh, giao tiếp thường xuyên với họ l Nh T à b à b ống Tuy nhiên ta cũng thấy rằng để xây dựng một hệ thống quân sự như vậy l vô cùng t à b ốn kém vì vậy việc nảy sinh mâu thuẫn giữa mối quan hệ giữa nước với l ng l không th à b à b ể tránh khỏi.
11 Năm 968, Đinh Tiên Ho ng à b đã hạ lệnh "đặt vạc dầu ở sân triều, nuôi hổ dữ trong cũi, kẻ n o trái à b phép phải chịu tội bỏ vạc dầu cho hổ ăn"
Trang 23vậy Nếu đặt vào thời điểm thế kỉ X, ta sẽ thấy nhiều quốc gia trong thời kìnày cũng không thiếu những hình phạt vô cùng tàn bạo, dã man Với một đấtnước vừa mới giành được độc lập, các thế lực chống đối thường xuyênchống đối, nên việc qui định các biện pháp khắc nghiệt để thị uy, trừng trị
những kẻ chống đối, chứ tuyệt nhiên không phải những hình phạt này được
áp dụng đối với toàn dân Bên cạnh hình thức quan phương (qui định của
nhà nước), nếu xét một cách công bằng các yếu tố phi quan phương (đặc
biệt là tập quán, lệ làng) lúc bấy giờ mới thực sự giữ một tỉ trọng lớn và là công cụ đặc biệt điều chỉnh hành vi con người
[1.2.2] Về tổ chức chính quyền địa phương:
Sau khi đánh bại quân Nam Hán, Ngô Quyền xưng vương (năm 939),bước đầu xác lập nhà nước trung ương tập quyền ở nước ta Tuy nhiên,chính quyền địa phương Triều Ngô chưa có gì thay đổi, việc phân chia đơn
vị hành chính lãnh thổ vẫn được giữ nguyên như thời họ Khúc, chính quyềnđịa phương gồm các cấp: lộ - phủ - châu - giáp - xã
Đến Triều Đinh, nước ta được chia làm 10 đạo Dưới cấp đạo là giáp,
xã Các cấp phủ, châu đã bị xoá bỏ (tuy nhiên, ở những vùng xa xôi mà triềuđình chưa trực tiếp với tới được thì vẫn để đơn vị châu như trước đây) Ở cácđạo, lộ, phủ có các chức Quản giáp, Trấn tướng, thứ sử các châu
Đến năm 1002, nhà Tiền Lê khôi phục lại phủ, châu cùng với việc đổiđạo thành lộ Đứng đầu các lộ là An phủ sứ, đứng đầu các phủ là Tri phủ vàđứng đầu các châu là Tri châu Các quan lại địa phương ngoài quyền hànhchính còn có cả quyền tư pháp.12 Về cấp cơ sở và tổ chức quản lý của cấp
12 Khoa Luật - Đại học quốc gia H Nà b ội Giáo trình Lịch sử nh n à th ước v pháp lu à th ật Việt Nam Nxb Đại
học quốc gia H N à b ội, H n à b ội, 1999, tr 46
22
Trang 24này không được sử sách chép đến nhưng có lẽ, cấp giáp và cấp xã có từ thời
họ Khúc vẫn được giữ nguyên
Hình 2: So sánh mô hình tổ chức chính quyền địa phương thời Ngô
-Đinh - Tiền Lê
Năm 1009 Lý Công Uẩn lúc bấy giờ là thập đạo tướng quân thập tiềnchỉ huy sứ Sau khi Lê Long Đĩnh qua đời, quần thần tôn Lý Công Uẩn lênngôi vua, lúc này mối quan hệ làng - nước chuyển sang một mô hình mới:
mô hình chính quyền thân dân
Tóm lại, về tổ chức chính quyền địa phương, Thời Ngô - Đinh - Tiền
Lê đã thực sự tồn tại bộ máy quản lý chính quyền địa phương các cấp Ởnông thôn tuy có những thay đổi khác nhau nhưng trên đại thể vẫn duy trìcấp giáp và cấp xã đã được khẳng định và chính thống từ thời họ Khúc Tuy
NgôThời thuộc
GiápGiáp
Phủ
Châu
HươngXã
Trang 25nhiên, có thể khẳng định rằng, chính quyền trung ương vẫn chưa với tayquản lý được tất cả các vùng của đất nước Các vùng thượng du, các vùnghẻo lánh, một số vùng đồng bằng xa xôi vẫn nằm ngoài phạm vi kiểm soátcủa triều đình và vẫn do các thủ lĩnh địa phương quản lý theo truyền thống
tự quản của tổ chức công xã nông thôn xa xưa
Nhìn một cách tổng thể, mô hình chính quyền quân sự thời Ngô
-Đinh - Tiền Lê nổi lên 3 mâu thuẫn cơ bản:
Thứ nhất, nhìn dưới góc độ cơ sở hạ tầng, nền tảng kinh tế - xã hội ta
có thể thấy một đất nước mới trải qua 1000 năm Bắc thuộc, mới giành đượcđộc lập, điều kiện kinh tế còn đang gặp rất nhiều khó khăn, trong khi đó môhình cai trị thời Ngô - Đinh - Tiền Lê là mô hình tập quyền quân sự, quânđội lên đến 1 triệu người, xây dựng như vậy tự thân nó đã chứa đựng mâuthuẫn Một mô hình như vậy sẽ không có điều kiện duy trì vì kiến trúcthượng tầng được xây dựng không phù hợp với cơ sở hạ tầng, với tính chất
và trình độ của lực lượng sản xuất
Thứ hai, về địa thế, Hoa Lư là một vùng hiểm yếu có núi vây quanh,
xung quanh là thung lũng, không thể có điều kiện để mở rộng giao thương,
phát triển kinh tế, văn hoá Tại thời điểm xây dựng mô hình chính quyền
quân sự, địa thế của Hoa Lư rất phù hợp, vì nó là địa thế tốt cho việc phòngthủ và tập luyện; nhưng nếu tính lâu dài thì Hoa Lư không có điều kiện để
mở rộng, phát triển kinh tế
Thứ ba, Muốn xây dựng một chính quyền nhất thiết phải có một bệ đỡ
tư tưởng Đây là một trong ba yếu tố cốt tử cùng với kinh tế, chính trị duy
trì trật tự của một chính quyền, đồng thời cũng thể hiện rõ nhất sự thống trịcủa giai cấp Bệ đỡ tư tưởng thời kỳ này là Phật giáo, hay nói cách khác Phậtgiáo được lựa chọn làm quốc giáo, tuy vậy Phật giáo lại mâu thuẫn với chính
24
Trang 26sách quân sự hà khắc của thời kỳ này Để quản lý một đội quân lên tới 1triệu người cần phải có kỉ luật nhưng với những qui định về tội thập ác, vớinhững hình phạt rất tàn khốc thì chính sách này lại mâu thuẫn với tư tưởngcủa đạo Phật
Phần 2
Trang 27THỜI KỲ LÝ – TRẦN – HỒ (TỪ THẾ KỶ XI ĐẾN ĐẦU THẾ KỶ XV):
MÔ HÌNH CHÍNH QUYỀN TẬP QUYỀN THÂN DÂN
[2.1] Vài nét về thời kỳ Lý - Trần - Hồ:
Năm Kỉ Dậu (1009) ngay sau khi Lê Ngọa Triều mất, đại diện choquan lại là Đào Cam Mộc và đại diện cho nhà sư là sư Vạn Hạnh, đãcùng nhau hợp lực tôn phò mã Lý Công Uẩn lên ngôi vua Tháng 10 năm
đó, Lý Công Uẩn lên ngôi Hoàng đế, đây cũng là thời điểm khai sinh
26
Trang 28vương triều Lý Sau khi Lý Công Uẩn lên ngôi, năm 1010 Lý Công Uẩnrời đô về Thăng Long13 Trong lịch sử Việt Nam, triều Lý là một triều đạilớn để lại dấu ấn rất sâu sắc không chỉ ở việc xây dựng một mô hìnhchính quyền thân dân đặc sắc mà còn biểu hiện trên nhiều lĩnh vực khácnhau Về chính trị, đây là một trong hai triều đại tiêu biểu của chế độ quí
tộc trị nước Về kinh tế, đây là một trong hai triều đại tiêu biểu của chế
độ điền trang - thái ấp Về văn hoá, triều Lý là một triều mở đầu cho một
giai đoạn văn hoá lớn - văn hoá Lý - Trần, phát triển rực rỡ trên nhiềuphương diện, mà nổi bật nhất đó là Triều Lý đã đánh dấu sự mở đầu mộtthời kỳ phát triển Nho học
Tháng 12 năm Ất Dậu (1225), Lý Chiêu Hoàng nhường ngôi choTrần Cảnh Triều Trần được dựng lên kể từ đó Triều Trần (1225 – 1400)
có nhiều điểm tương đồng về mặt thể chế chính trị, kết cấu xã hội, đặctrưng văn hoá của triều Lý Thời Trần, nước Đại Việt là một trong nhữngquốc gia hùng cường, gắn liền với hàng loạt những nhân vật lịch sử nhưTrần Thái Tông, Trần Thánh Tông, Trần Nhân Tông, Trần Anh Tông,Trần Minh Tông và các vị vương tước xuất chúng, nổi bật là Hưng ĐạoVương Trần Quốc Tuấn
Ngày 28 tháng 2 năm 1400, Hồ Quý Ly cướp ngôi nhà Trần, Triều
Hồ được dựng lên kể từ đó, và chỉ tồn tại chưa đầy 7 năm Tháng 11 năm
1397, Hồ Quý Ly đã ép vua Trần Thuận Tông dời đô vào Đại La Ngày
28 tháng 2 năm 1400, Hồ Quý Ly đã cướp ngôi nhà Trần từ tay cháungoại mới lên 4 tuổi là Trần An (tức vua Trần Thiếu Đế), xưng vương vàđổi quốc hiệu là Đại Ngu Cuối năm 1406, quân Minh mượn cớ Phù Trần
13 Khác với Hoa Lư l n à b ơi chỉ thích hợp với xây dựng chính quyền quân sự mạnh Thăng Long là b vùng đất ở giữa đồng bằng điều n y th à b ể hiện rõ sự đổi mới về mặt tư duy l h à b ướng v o phát tri à b ển kinh tế, xã hội, xây dựng một chính quyền thân dân.
Trang 29diệt Hồ đã đem quân sang xâm lược nước ta Cuộc kháng chiến chốngquân Minh do triều Hồ lãnh đạo đã thất bại vào giữa năm 1407, kể từ đónước ta bị quân Minh đô hộ.
[2.2] Mô hình tổ chức nhà nước thời Lý - Trần - Hồ - mô hình tập quyền thân dân:
[2.2.1] Mô hình tổ chức nhà nước ở trung ương thời Lý 14
Ngay sau khi lên ngôi, năm 1010, Lý Thái Tổ chia lại khu vực hànhchính trong cả nước, đổi 10 đạo thời Đinh - Lê thành 24 lộ, dưới lộ là phủ
và huyện và cuối cùng là hương, giáp và thôn
Hình 3: Mô hình tổ chức chính quyền thời Lý - Trần
14 Các triều vua thời Lý: 1 Lý Thái Tổ (1010 – 1028); 2 Lý Thái Tông (1028 – 1054); 3 Lý Thánh Tông (1054 – 1072); 4 Lý Nhân Tông (1072 – 1127); 5 Lý Thần Tông (1128 – 1138); 6 Lý Anh Tông (1138 – 1175); 7 Lý Cao Tông (1175 – 1210); 8 Lý Huệ Tông (1210 – 1224); 9 Lý Chiêu Ho ng à b (1224 – 1225)
Trang 30Bộ máy nhà nước dưới triều Lý được thiết lập từ trung ương tới tậnđịa phương và tập trung quyền hành vào tay triều đình đứng đầu là vua Vua
là người nắm quyền hành cao nhất về tất cả các mặt chính trị, kinh tế, xã hội
và tôn giáo
Theo Phan Huy Chú trong Lịch triều hiến chương loại chí thì quan
chế nhà Lý đại lược như sau: Phẩm trật các hàng quan văn võ đều 9 bậcđược xác định trong Hội điển Những chức quan cao cấp nhất trong triềuđình chia ra ngạch văn và ngạch võ Các đại thần đứng đầu ở ngạch văn thì
có tam thái (thái sư, thái phó, thái bảo); tam thiếu (thiếu sư, thiếu phó, thiếubảo) ở ngạch võ có thái uý, thiếu uý và một số chức vụ khác ở bên dưới
Trang 31hàng quan văn thì có các thượng thư mà đứng đầu các bộ các tả và hữu thamtri, và và hữu gián nghị, trung thư thị lang, bộ thị lang Quan võ ở triều đình
có đô thống, nguyên suý, tổng quản, xu mật sứ, tả, hữu kim ngô, thượngtướng, đại tướng, đô tướng, tướng quân các vệ Chức quan nắm quyền binhcao nhất trong triều coi như Tể tướng được gọi là Tướng công dưới thời LýThái Tổ, phụ quốc thái uý dưới thời Lý Thái Tông và Lý Nhân Tông, có giaphong phẩm trật là “bình chương quân quốc trọng sự” Các địa phương cũngđặt quan văn, quan võ, ở xã có xã quan như trước Hiện nay chúng ta chưa
có điều kiện xác định được quyền hạn, nhiệm vụ của từng chức quan trên,nhưng nhìn chung tổ chức bộ máy này, có nhiều điểm phỏng theo quan chếnhà Tống, tuy có giản lược hơn và được sắp xếp theo cách thức riêng Thời
Lý và cả thời Trần sau này, quan lại được lựa chọn theo nguyên tắc: “người
có quan tước, con cháu được thừa ấm mới được làm quan Người giàu, khoẻmạnh mà không có quan tước thì sung quân, đời đời làm lính” Tuy nhiêntrước sự phát triển của nhà nước, nguyên tắc này không thể giữ nguyên mãi
Trong bộ máy chính quyền thời Lý, tầng lớp quí tộc bao gồm nhữngngười thân thuộc của nhà vua và một số công thần nắm giữ các trọng trách
ở trung ương và địa phương Các hoàng tử được phong tước vương và cử đitrấn trị các nơi trọng yếu Từ năm 1075, Nhà Lý bắt đầu mở khoa thi đểtuyển chọn nhân tài
Ngoài một số quan lại, quý tộc có công được phong cấp ruộng đất, nóichung quan lại không được trả lương mà thường được ban một số hộ dântrong vùng để cai quản, để thu thuế và bổng lộc và sống bằng các khoản thu
từ dân Chỉ riêng một số quan lại giữ việc ngục tụng được nhà vua cấp lươngbổng hàng năm tính theo tiền và thóc
30
Trang 32[2.2.2] Tổ chức chính quyền địa phương Triều Lý:
Bộ máy nhà nước dưới triều Lý được thiết lập từ trung ương tới địaphương Năm 1010, Lý Thái Tổ đổi 10 đạo thành 24 lộ Ở miền núi, các khuvực được chia thành trại; các miền xa trung tâm như châu Ái (Thanh Hóa),châu Hoan (Nghệ An) cũng được đổi là trại Đứng đầu lộ là Thông phán,đứng đầu trại là Chủ trại
Lộ, trại được chia thành các phủ (ở miền xuôi) và được chia thành cácchâu (ở miền núi), đứng đầu các phủ và châu là Tri phủ, Tri châu Dưới cấpphủ, châu là cấp xã Giai đoạn này được coi là bước mở đầu cho quá trìnhchuyển biến lâu dài từ công xã nông thôn sang làng phong kiến Việt Nam
Từ đầu thế kỷ XII nhà Lý tiến hành chia làng xã thành các bảo: “cứ 3nhà làm một bảo” với lý do để giám sát lẫn nhau trong việc mổ trâu bònhưng thực chất là để giám sát lẫn nhau trong việc chấp hành pháp luật của
nhà nước Cũng vào thời Lý, lần đầu tiên ở Việt Nam xuất hiện các tên thôn
với tư cách là đơn vị tụ cư dưới xã Thôn khi ấy về thực chất cũng là làng,nhưng là làng mới hình thành, thường là quy mô nhỏ và chưa phải là mộtđơn vị hành chính, kinh tế - xã hội độc lập
Theo Việt sử thông giám cương mục, ở đời Lý, địa danh giáp xuất
hiện trong một đạo chiếu năm 1041 của Lý Thái Tông, quy định cứ 15 ngườithì hình thành một giáp và nhóm này chọn ra một người làm quản giáp.Quản giáp chịu trách nhiệm đôn đốc thuế má, lao dịch, binh dịch của giápmình Nếu theo văn bản này thì giáp chỉ là một nhóm tự quản nhỏ chứ khôngphải là một đơn vị hành chính như ở thời họ Khúc
Trang 33Nhà Lý thực hiện chính sách "khuyến nông" - khuyến khích phát triển
nông nghiệp, nhà vua cải trang đi vi hành để xem đời sống thực của ngườidân để từ đó đưa ra những chính sách phù hợp, khách quan Về ngoại giao,
nhà Lý thực hiện " nhu viễn" - mềm mỏng với phương xa Kế sách nhà Lý
đưa ra tranh thủ các tù trưởng hoặc các thủ lĩnh để thông qua đó thắt chặtkhối đại đoàn kết dân tộc và mở rộng ảnh hưởng quyền lực của triều đìnhtrung ương tới vùng miền núi, biên viễn; hoặc là gả con gái cho tù trưởnghoặc đôi khi nhà vua lấy con gái tù trưởng làm phi15 Sau khi lên ngôi, LýCông Uẩn đã gả con gái cho tù trưởng động Giáp ở Lạng Châu (vùng BắcGiang và phía Nam Lạng Sơn hiện nay) là Giáp Thừa Quý (sau đổi ra họThân) và phong làm Châu mục Lạng Châu Qui định chế độ thi cử để tuyểnchọn nhân tài Năm 1015, Nhà Lý cho xây Quốc Tử Giám, tái lập lại tưtưởng Khổng Giáo
Thời kỳ này xuất hiện hiện tượng Tam giáo đồng nguyên (Đạo - Phật
- Nho) Nho giáo thời kỳ này đã có sự ảnh hưởng khá sâu sắc, thực chất Nhogiáo là học thuyết dành cho người trị quốc nên mặc dù thiết lập vương triều
trên cơ sở sự ủng hộ của Phật giáo, Nhà Lý vẫn không thể không lựa chọn
hệ tư tưởng Nho giáo Trong tổ chức bộ máy nhà nước Nho giáo có ảnh
hưởng rất rõ thể hiện ở 3 mặt: thứ nhất, Nhà Lý dùng quan niệm của Nho
giáo để thiết lập một nhà nước, trên cơ sở xác lập mối quan hệ và trật tự của
nó; thứ hai, Nho giáo được sử dụng để tuyển chọn, đào tạo quan lại cho bộ máy nhà nước; thứ ba, Nho giáo là công cụ để Triều Lý giáo dục, tuyên
truyền thuyết phục dân chúng, hướng dẫn họ thực thi bổn phận thần dân.Dưới thời Lý, một mặt Nho giáo mở rộng ảnh hưởng toàn bộ đời sống vănhoá xã hội, mặt khác nó cũng dần dần thích ứng và chuyển biến cho phù hợp
15 Phan Hữu Dật, Chính sách dân tộc của các chính quyền nh n à th ước phong kiến Việt Nam (sách tham khảo), Nh xuà b ất bản chính trị quốc gia, H n à b ội, 2001 tr.20 –21.
32
Trang 34với hoàn cảnh thực tế ở Việt Nam Sự tồn tại và biến thiên của Nho giáo ởViệt Nam gắn liền với vấn đề dân tộc và chính trên nhu cầu phát triển củaquốc gia dân tộc Phật giáo thời Lý cũng mang tinh thần cởi mở, dựa trên
nền tảng của triết lý “vô chấp, vô trụ”16
Nhà Lý cũng chú trọng xây dựng quân đội, sử dụng kế sách: "ngựbinh ư nông", Nhà nước không xây dựng quân đội thường trực mà xây dựngmột lực lượng dân đinh17 Về Luật pháp, năm 1042 nhà Lý tham khảo các bộ
luật của Trung Hoa xây dựng nên Bộ Luật Hình thư Bộ Luật Hình thư đã
bị thất truyền, phần lớn nhiều tài liệu của ta đã bị mất dưới triều nhà Minh
Đại Việt Sử kí toàn thư đã ghi "Trước kia việc kiện tụng trong nước phiền
nhiễu, quan lại giữ luật pháp trong nước luật văn, cốt làm cho khắc nghiệt thêm, thầm chí nhiều người bị oan uổng quá đáng Vua lấy làm thương xót, sai trung thư san định luật lệnh, châm chước cho thích ứng với thời thế, chia ra môn loại, biến thành điều khoản, làm thành sách hình thư của một triều đại để cho người xem dễ hiểu Sách làm xong xuống chiếu ban hành, dân lấy làm tiện"18
Vua Lý Thánh Tông:
+ Năm 1055, trời rất rét Vua bảo các quan rằng: “Trẫm ở trong
cung, nào lò sởi ngự, nào áo rét dày mà còn rét như thế này, nghĩ đến người
16 Triết lý “Vô chấp, vô trụ” l tâm yà b ếu của pháp môn nhằm đạt đến phá chấp giải thoát: trong phạm vi suy nghĩ, h nh à b động không bị vướng mắc, ngăn ngại bởi những nhận thức do giác quan đưa lại, sự dung thông các ý hệ v v à b ăn hoá dị biệt, đây l nét riêng c à b ủa Phật Giáo thời Lý, l y à b ếu chỉ của Thiền gia,
l c à b ứu cánh của con đường giác ngộ v gi à b ải thoát để đạt tới tâm thái an nhiên - tự tại - ho à b đồng
(Xem Lương Gia Tĩnh, Nét đặc sắc của Phật giáo thời Lý, in trong Kỷ yếu Hội thảo khoa học Lý Công
Uẩn v v à b ương triều Lý (kỷ niệm 990 năm Thăng Long - H n à b ội), Nh xu à b ất bản Đại học Quốc Gia H à b nội, 2001, trang 243)
17 Bản chất của kế sách "ngự binh ư nông" chính l s à b ự vận dụng khéo léo quan điểm "Tĩnh vi nông, động vi binh", khi m chi à b ến tranh xảy ra có thể huy động được mọi người cùng tham gia quân đội Điểm tích cực ở kế sách n y à b đó l xây d à b ựng được lực lượng quốc phòng đủ mạnh, nhưng ngược lại
nh n à b ước lại không tốn kém nhiều tiền.
18 Đại việt Sử kí to n th à b ư, Tập I, tr.271, 272.
Trang 35tù trong ngục, chưa biết rõ ngay gian ra sao, trẫm rất thương xót, vậy ra lệnh cho Hữu ty phát chăn chiếu và cấp cơm ăn ngày hai bữa”
+ Năm 1064, Vua khi xử án đã chỉ vào công chúa mà nói: “Ta
yêu con ta cũng như lòng ta làm cha mẹ dân Dân không hiểu biết mà mắc vào hình pháp, trẫm rất thương xót Từ nay về sau, không cứ tội nặng hay
nhẹ đều nhất luật khoan giảm”
Mặc dù Bộ Hình thư thời Lý – bộ luật thành văn đầu tiên trong lịch sửViệt nam không còn nữa, nhưng Bộ luật này đã được nhiều nhà khoa họccăn cứ vào các cứ liệu và chứng minh rằng Luật thời Lý không dừng lại ởmức độ mô phỏng luật Đường mà đã có sự điều chỉnh, thay đổi cho phù hợpvới tình hình thực tế của quốc gia Đại Việt khi đó19 Pháp luật triều Lý có t ư
t ưởng áp dụng nhiều chính sách khoan dung với tội phạm nhằm cải tạo,
giáo hoá họ VD: + Triều Lý thường xuyên có lệnh đại xá, đặc xá [Năm
1009 vua Lý Thái Tổ lên ngôi đã ra lệnh đại xá cho cả nớc xoá bỏ tù ngục Năm 1016, vì được mùa trong cả nước, vua Lý ra lệnh tha tội lưu, tội đồ và
giảm tiền thuế….] Nhà Lý đã cho đặt lầu chuông ở điện Long Trì để dân
chúng ai có khiếu kiện oan ức oan uổng thì đánh chuông lên (tinh thần luậtphải gần dân);
Thời Lý kết thúc năm 1225 đã tạo dựng được một mô hình tương đốihoàn chỉnh là một mô hình nhà nước khoan thứ sức dân, một mô hình thândân
[2.3] Mô hình tổ chức bộ máy nhà nước thời Trần (thời kỳ từ
1225 – 1400) :
19 Xem Insun Yu (GS,TS Đại học Quốc Gia Seoul H n Qu à b ốc), Luật pháp triều Lý - sự tiếp thu luật
Đường v s à th ự ảnh hưởng của nó tới hình luật nh Lê à th , in trong Kỷ yếu Hội thảo khoa học Lý Công Uẩn
v v à b ương triều Lý (kỷ niệm 990 năm Thăng Long - H n à b ội), Nh xu à b ất bản Đại học Quốc Gia H n à b ội, 2001,tr.205
34
Trang 36[2.3.1] Tổ chức bộ máy nhà nước ở trung ương dưới thời Trần:
Nhà Trần vẫn tiếp tục dựa vào mô hình Nhà nước thân dân, thậm chíđạt đến độ hoàn thiện20 Thời kỳ này nổi lên mô hình coi già làng là người cóvai trò lớn trong những quyết sách quan trọng của quốc gia.21
Nhà Trần đã tiến hành chia lại các đơn vị hành chính Năm 1242, đổi
24 lộ thời Lý ra làm 12 bộ Lộ gồm các châu, huyện và xã Trong triều, nhàTrần đặt thêm nhiều chức quan và các cơ quan chuyên trách mới đã đáp ứngyêu cầu của bộ máy hành chính, trong số đó có những cơ quan tư pháp nhưThẩm hình viện, Tam ty viện do các cơ quan chuyên môn phụ trách, các cơquan văn hoá giáo dục như Quốc sử viện, Thái y viện Nhìn chung nhiều cơquan được đặt ra thành hệ thống riêng gọi là quán, các, sảnh, cục, đài, viện
Ngoài các chức quan dưới triều Lý, nhà Trần có đặt thêm các chức tư
đồ, tư mã, tư không, gọi chung là tam tư; tướng quốc và các chức đại hànhkhiển, tham tri chính sự đứng đầu bách quan Tướng quốc tương đương tểtướng Thực ra Tam tư có từ thời Hạ và duy trì tới thời Đường đến đời Tốngthì bãi bỏ, nước ta bị bãi bỏ dưới thời Lê Thánh Tông22 Về đại thể chứctrách của tam tư như sau:
20 Đại Việt Sử Ký to n th à b ư, kể rằng dưới thời Vua Trần Nhân Tông, Phí Mạnh l An phà b ủ sứ Diễn Châu Vua nghe tin Phí Mạnh không thanh liêm, cậy thế ức hiếp dân l nh à b đã triệu Phí Mạnh về kinh đô Thăng Long v à b đ ánh tr ợ ng trớc triều thần Sau đó, Vua Trần vẫn cho Phí Mạnh về nh ậ m tr ị , gi ữ ch ứ c c
ũ tại Diễn Châu.Sau một thời gian, Vua Trần nhận đợc tin nhân dân địa phương hết lời ca ngợi Phí
Mạnh về tính thanh liêm, chính trực Vua Trần nghe tin thấy vui sướng vô cùng
21 Thời nh Tr à b ần xuất hiện vị tướng lĩnh t i ba có tên l Tr à b à b ần Hưng Đạo giúp nh Tr à b ần 3 lần chiến thắng quân Nguyên Mông, trước khi lâm trung, Trần Hưng Đạo có nói một câu rất nổi tiếng đó l mu à b ốn giữ được nước không phải dựa v o binh hùng t à b ướng mạnh m ph à b ải dựa v o dân: " à b Khoan thứ sức dân
l m k à th ế sâu rễ gốc bền, ấy l th à th ượng sách giữ nước" Trong Đại Việt Sử kí to n thà b ư tr.180 có chép
đoạn vua Trần Minh Tông: "Trẫm l cha m à th ẹ dân,, nếu sinh dân mắc phải cảnh lầm than thì phải cứu gấp, chả lẽ đi so đo khó dễ, lợi hại hay sao?"
22 Xem Bùi Văn Nguyên Tư liệu tham khảo lịch sử văn học Việt Nam (từ thế kỷ XI đến giữa thế kỷ
XVIII), Nh xuà b ất bản Giáo dục H n à b ội, 1979, tr27 - 28.
Trang 37+ Tư đồ: phụ trách các công việc ngoại giao, văn hoá, lễ nghi Dochức năng quan trọng như vậy tư đồ thường kiêm nhiệm chức tể tướng.
+ Tư mã: phụ trách quốc phòng, công an, tư pháp
+ Tư không: phụ trách các vấn đề còn lại
Một đặc điểm nữa thể hiện trình độ cao hơn đó là nhà Trần chia thànhcác Thái ấp, mục đích là đưa quan lại về các vùng địa phương giải quyết tốthơn mối quan hệ làng - nước.23
[2.3.2] Mô hình tổ chức chính quyền địa phương thời Trần:
Năm 1242, nhà Trần tiến hành chia lại các đơn vị hành chính, đổi 24 lộthời Lý ra làm 12 lộ Ở cấp lộ, đứng đầu là An phủ chánh sứ, có An phủ phó
sứ giúp việc (có lộ đặt chức Trấn phủ, Thông phán để cai trị)
Lộ chia thành các phủ (miền xuôi), các châu (miền núi), đứng đầu là Triphủ, Chuyển vận sứ Phủ, châu lại được chia thành các xã Hồi đó, chínhsách liên xã đã bắt đầu được áp dụng Theo chính sách này thì 2,3 hay 4 xã
có những quyền lợi tương tự thì được họp thành một xã lớn gọi là Liên xã.Đứng đầu Liên xã là các chức quan: Đại tư xã hay Tiểu tư xã do nhà vua bổnhiệm tuỳ theo sự quan trọng của Liên xã Chức Đại tư xã được giao cho cácquan từ hàm ngũ phẩm trở lên, còn chức Tiểu tư xã được giao cho các quan
từ lục phẩm trở xuống đảm nhiệm Đứng đầu mỗi xã, nhà vua đặt một xãquan gọi là xã chính, ngoài ra còn có xã xử, xã giám giúp việc.24
23 Lưu ý thời nh Tr à b ần có 2 điển tích khá nổi tiếng đó l à b điển tích: Hội nghị Diên Hồng, v tích Ho ng à b à b
Cự Đ v vi à b à b ệc ăn xo i, à b điều n y lý gi à b ải một cách sâu sắc nhất tính cách thân dân v coi s à b ự công bằng mới l y à b ếu tố quan trọng.Đặc biệt khi Trần Hưng Đạo sắp qua đời được Vua Trần Anh Tông hỏi về kế giữ nước đã nói rằng: “Thần nghĩ ta thắng giặc giữ, trên dưới đồng lòng Vì vậy, khoan thứ sức dân
l m k à b ế gốc rễ bền, ấy l th à b ượng sách giữ nước.”
24 Có quan điểm cho rằng ba chức: xã chính, xã xử, xã giám thực chất chỉ l m à b ột xã quan được gọi là b
chính xử giám Xem: Vũ Quốc Thông Pháp chế sử Nxb S i Gòn, 1971, tr 148 à b
36
Trang 38Năm 1397, nhà Trần định quy chế quan ngoài, “lộ đặt chức An phủ sứ
và Phó sứ; phủ đặt chức Trấn phủ sứ và Phó sứ, châu đặt chức Thông phán
và Thiêm phán, huyện đặt Lệnh uý, Chủ bạ để cai trị Lộ coi phủ, phủ coichâu, châu coi huyện”25 Như vậy, từ năm 1397, chính quyền địa phương thờinhà Trần được tổ chức như sau: nước chia thành lộ, lộ chia thành các phủ,đứng đầu phủ là Trấn phủ sứ, có Phó trấn phủ sứ giúp việc Phủ chia thànhcác châu, đứng đầu là Thông phán, chức phó là Thiêm phán Châu chiathành các huyện26 Đứng đầu huyện là Lệnh uý, có Chủ bạ giúp việc Huyệnchia thành xã, đứng đầu là Xã quan do triều đình bổ nhiệm, được gọi là Xãchính Mỗi xã gồm nhiều giáp (mỗi giáp khoảng 15 người) nhưng cũng như
ở triều Lý, giáp không phải là đơn vị hành chính của xã Các Liên xã đềuđược bãi bỏ cùng với các chức quan: Đại tư xã và Tiểu tư xã Đặc biệt, ởgiai đoạn này, nhiều lộ ở gần miền biên giới hay các địa điểm quan trọng đã
được họp lại thành Hạt và các quan văn đứng đầu mỗi Hạt là Tổng quản hay
Thái thú Các vị quan này được triều đình trao cho quyền hành rất rộng rãi.Năm 1230, Nhà Trần ban hành Quốc triều thông chế 20 quyển Năm 1341,Trương Hán Siêu soạn Hoàng triều đại điển, và bộ hình thư
25 Đại Việt sử ký to n th à b ư, tập II, Nxb Khoa học xã hội, H N à b ội, 1971, tr 220
26 Dưới thời Lý - Trần, lần đầu tiên chính quyền tự chủ có cấp h nh chính huy à b ện.
Trang 39Hình 4: So sánh tổ chức chính quyền địa phương
thời Lý; Trần; Trần (1397), Hồ; và thời Minh
Phủ, châu (Tri phủ, chuyện vận sứ)
Lộ(An phủ chánh sứ)
Phủ(Trấn phủ sứ)
Châu (Thông phán Thiêm phán)
Huyện(Lệnh uý)
Xã(Xã chính)
Quận (Ty Bồ chính,
Ty án sát, Ty Đô)Phủ
Huyện, châu
Lý (Lý trưởng)
Xã(Xã chính)
Trang 40Hệ quả của mô hình tập quyền thân dân thời kỳ Lý - Trần - Hồ:
Đường lối chính trị thân dân cho thấy chính quyền thời Lí - Trầnthường lấy sự an cư lạc nghiệp của người dân gắn với sự thịnh suy của triềuđình Mỗi khi lên ngôi hay trong những dịp đại lễ, hoặc khi người dân mấtmùa, đói kém, nhà vua vẫn thường miễn giảm tô thuế, đại xá tù nhân, pháttrẩn, đặc biệt các vua Lí vẫn đến các miền quê xem người dân cày ruộng, gặtlúa, hoặc vẫn duy trì lệ cày "tịch điền" Vua Trần Thái Tông đã từng nói: "
Trẫm muốn đi ra ngoài chơi, để được nghe tiếng nói của dân và xem xét lòng dân, cho biết tình trạng khó khăn của dân"27
Như vậy có thể thấy về cơ bản chính quyền thời Lí - Trần là một môhình coi trọng ý dân, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân, là điểm đặc sắc rõnét tính dân tộc, tính nhân dân của nhà nước phong kiến Tuy vậy đến cuốithời kỳ này mô hình thân dân đã tỏ ra không còn phù hợp vì: không giữ
được sự hoà đồng trong giới quí tộc Không coi là một cường quốc mạnh vì
bản thân nhà nước không đủ mạnh28 Nhà nước luôn phải dựa vào làng
xã, nhiều phong kiến tư nhân giàu lên, chính quyền Trung ương không kiểmsoát được với phong kiến tư nhân Quí tộc mâu thuẫn với nông dân, nhằmbảo vệ quyền lợi của giai cấp quí tộc
27 Thơ văn Lí - Trần, Tập 3, Nxb Khoa học xã hội, H n à b ội, 1977, tr.325.
28 Lúc n y nh n à b à b ước cũng không đủ mạnh để giải quyết được mối quan hệ với l ng v v à b à b ới phong kiến
tư nhân (phong kiến tư nhân cũng đủ mạnh để lập nên các điền trang thái ấp, thực chất l không ph à b ụ thuộc v o tri à b ều đình)