Công tác chấm điểm tín dụng và xếp hạng khách hàng của ngân hàng ngoại thương việt nam vietcombank .
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
Trong nền kinh tế thị trường, bất cứ một thành phần nào tham gia kinh doanh muốn tồn tại
và phát triển thì đồng vốn luôn được coi là một trong những điều kiện hàng đầu, do đó nhu cầu
về vốn tín dụng cũng là một đòi hỏi tất yếu Ngân hàng thương mại hay còn được goi là Ngân hàng tiền gửi hay Ngân hàng tín dụng được coi là nguồn huy động vốn quan trọng nhất hiện nay
Ngân hàng thương mại là kênh huy động vốn quan trọng của mọi thành phần tham gia kinh doanh, đóng vai trò then chốt trong nền kinh tế Để thực hiện được vai trò của mình, Ngân hàng thương mại phải đối mặt với rất nhiều rủi ro trong quá trình hoạt động như rủi ro về lãi suất, rủi ro về ngoại hối , rủi ro thanh khoản v.v và đặc biệt là rủi ro tín dụng Công tác chấm điểm tín dụng và xếp hạng khách hàng có một ý nghĩa vô cùng quan trọng Bằng hệ thống chấm điểm tín dụng và xếp hạng khách hàng, ngân hàng thương mại có thể kiểm soát được mức độ tín nhiệm khách hàng, thiết lập mức lãi suất cho vay phù hợp với dự báo khả năng thất bại của từng nhóm khách hàng Xếp hạng doanh nghiệp là một đòi hỏi tất yếu khách quan trong hoạt động kinh tế của bất kỳ quốc gia nào trên thế giới Kết quả của hoạt động xếp hạng doanh nghiệp phục vụ không chỉ co một cá nhân, tổ chức mà còn tác động đến rất nhiều chủ thể khác nhau, có quan hệ kinh doanh hay tín dụng với doanh nghiệp Bên cạnh đó, ngân hàng thương mại có thể đánh giá hiệu quả danh mục cho vay thông qua giám sát sự thay đổi dư nợ và phân loại nợ trong từng nhóm khách hàng đã được xếp hạng, qua đó điều chỉnh danh mục theo hướng ưu tiên nguồn lực vào những nhóm khách hàng an toàn Để giúp mọi người hiểu sâu hơn về hoạt động trên, nhóm chúng tôi đã chọn nghiên cứu Công tác chấm điểm tín dụng và xếp hạng khách hàng của Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam Vietcombank đối với Công ty Cổ phần xây dựng giao thông Quảng Nam
Chương I Tổng quan về phương pháp chấm điểm tín dụng và xếp hạng
khách hàng tại Ngân hàng thương mại.
1.1 Khái niệm chấm điểm tín dụng và xếp hàng khách hàng.
Theo Standards & Poor, XHTD là những ý kiến đánh giá hiện tại về rủi ro tín dụng, chất lượng tín dụng, khả năng và thiện ý của chủ thể đi vay trong việc đáp ứng các nghĩa vụ tài chính một cách đầy đủ và đúng hạn
Trang 2Theo Moody's, XHTD là những ý kiến đánh giá về chất lượng tín dụng và khả năng thanh toán nợ của chủ thể đi vay dựa trên những phân tích tín dụng cơ bản và biểu hiện thông qua hệ thống ký hiệu Aaa-C.
Như vậy, chấm điểm tín dụng và xếp hạng khách hàng là một quy trình đánh giá khả năng thực hiện các nghĩa vụ tài chính của một khách hàng đối với một ngân hàng như việc trả lãi và trả gốc nợ vay khi đến hạn hoặc các điều kiện tín dụng khác nhằm đánh giá, xác định rủi ro trong hoạt động tín dụng của ngân hàng Mức độ rủi ro tín dụng thay đổi theo từng đối tượng khách hàng và được xác định thông qua quá trình đánh giá bằng thang điểm, dựa vào các thông tin tài chính và phi tài chính có sẵn của khách hàng tại thời điểm chấm điểm tín dụng và xếp hạng khách hàng
Chấm điểm tín dụng và xếp hạng khách hàng là việc đưa ra nhận định về mức độ tín nhiệm đối với trách nhiệm tài chính hoặc đánh giá mức độ rủi ro tín dụng phụ thuộc các yếu tố bao gồm năng lực đáp ứng các cam kết tài chính, khả năng dễ bị vỡ nợ khi các điều kiện kinh doanh thay đổi, ý thức và thiện chí trả nợ của người đi vay
Đối tượng của XHTD bao gồm thông số, dữ liệu của khách hàng tham gia vay vốn tại các NHTM như: các thông tin tài chính từ báo cáo tài chính của DN, các thông tin phi tài chính (kinh nghiệm của ban quản lý, môi trường kiểm soát nội bộ, sự phụ thuộc vào các đối tác)…
1.2 Tầm quan trọng của việc chấm điểm tín dụng và xếp hạng khách hàng.
Ngân hàng thương mại là kênh huy động vốn quan trọng của mọi thành phần tham gia kinh doanh, đóng vai trò then chốt trong nền kinh tế Để thực hiện được vai trò của mình, Ngân hàng thương mại phải đối mặt với rất nhiều rủi ro trong quá trình hoạt động như rủi ro về lãi suất, rủi
ro về ngoại hối , rủi ro thanh khoản v.v và đặc biệt là rủi ro tín dụng
Khái niệm rủi ro được nhắc đến ở đây là một sự không chắc chắn hay là một tình trạng bất
ổn có thể ước đoán được xác suất xảy ra Còn khái niệm tín dụng được hiểu là quan hệ chuyển giao quyền sử dụng vốn lẫn nhau giữa người cho vay và người đi vay trên nguyên tắc có hoàn trả Quan hệ tín dụng dựa trên nền tảng sự tin tưởng lẫn nhau giữa các chủ thể
Tín dụng ngân hàng là quan hệ tín dụng giữa ngân hàng, tổ chức tín dụng và các tổ chức kinh tế, cá nhân với đặc thù kinh doanh trên lĩnh vực tiền tệ Ngân hàng thương mại là một trung gian tài chính, huy động vốn nhàn rỗi trong nền kinh tế, sau đó cho các tổ chức kinh tế, cá nhân vay lại với lãi suất cao hơn lãi suất huy động để thu lợi nhuận Nếu ngân hàng không đáp ứng đủ vốn cho nền kinh tế hoặc huy động đủ vốn nhưng không có thị trường để cho vay thì ngân hàng hoạt động kém hiệu quả, sẽ dẫn đến rủi ro Việc hoàn trả được nợ gốc trong tín dụng ngân hàng có nghĩa là việc thực hiện được giá trị hàng hóa trên thị trường, còn việc hoàn trả
Trang 3được lãi vay trong tín dụng là việc thực hiện được giá trị thặng dư trên thị trường Do đó, có thể xem rủi ro tín dụng cũng là rủi ro kinh doanh nhưng được xem xét dưới góc độ của ngân hàng.Rủi ro tín dụng là khả năng xảy ra những tổn thất mà ngân hàng phải chịu do khách hàng vay không trả đúng hạn, không trả hoặc không trả đầy đủ vốn và lãi Rủi ro này luôn tiềm ẩn và
là một tất yếu trong hoạt động của bất kỳ ngân hàng nào, nó không chỉ giới hạn ở hoạt động cho vay, mà còn bao gồm nhiều hoạt động mang tính chất tín dụng khác của ngân hàng như bảo lãnh, cam kết, chấp thuận, tài trợ thương mại, cho vay ở thị trường liên ngân hàng, tín dụng thuê mua, cho vay đồng tài trợ Các ngân hàng sẽ đặt ra cho mình một chiến lược quản lý nợ và nếu
tỷ lệ tổn thất tín dụng đạt dưới mức dự kiến của ngân hàng thì đó được coi là một thành công.Trong quan hệ tín dụng có hai đối tượng tham gia là người cho vay và người đi vay Người
đi vay sử dụng tiền vay trong một thời gian, không gian cụ thể, tuân thủ sự chi phối của những điều kiện cụ thể nhất định mà ta gọi là môi trường kinh doanh, và đây là đối tượng thứ ba có mặt trong quan hệ tín dụng Rủi ro tín dụng xuất phát từ môi trường kinh doanh gọi là rủi ro do nguyên nhân khách quan, bao gồm ảnh hưởng biến động quá nhanh và khó dự đoán của nền kinh tế, môi trường pháp lý chưa thuận lợi Rủi ro xuất phát từ người đi vay và ngân hàng cho vay gọi là rủi ro do nguyên nhân chủ quan, bao gồm sử dụng vốn sai mục đích, không có thiện chí trong việc trả nợ vay; năng lực tài chính của người đi vay yếu kém, thiếu minh bạch; khả năng quản trị kém; bất cân xứng thông tin; việc xác định hạn mức tín dụng cho khách hàng còn quá đơn giản
Khi rủi ro tín dụng ảnh hưởng nặng nề đến hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại sẽ gây tâm lý hoang mang lo sợ cho người gửi tiền và có thể những người gửi tiền sẽ ồ ạt rút tiền làm cho toàn bộ hệ thống ngân hàng gặp khó khăn Sự hoảng loạn này ảnh hưởng rất lớn đến nền kinh tế các nước có liên quan do sự hội nhập đã gắn chặt mối liên hệ về tiền tệ, đầu tư giữa các quốc gia
Ngân hàng thương mại gặp rủi ro tín dụng sẽ khó thu được vốn tín dụng đã cấp và lãi cho vay, nhưng ngân hàng phải trả vốn và lãi cho khoản tiền huy động khi đến hạn, điều này làm cho ngân hàng mất cân đối thu chi, mất khả năng thanh khoản, làm mất lòng tin người gửi tiền, ảnh hưởng đến uy tín của ngân hàng
Công tác chấm điểm tín dụng và xếp hạng khách hàng có một ý nghĩa vô cùng quan trọng Bằng hệ thống chấm điểm tín dụng và xếp hạng khách hàng, ngân hàng thương mại có thể kiểm soát được mức độ tín nhiệm khách hàng, thiết lập mức lãi suất cho vay phù hợp với dự báo khả năng thất bại của từng nhóm khách hàng Bên cạnh đó, ngân hàng thương mại có thể đánh giá hiệu quả danh mục cho vay thông qua giám sát sự thay đổi dư nợ và phân loại nợ trong từng nhóm khách hàng đã được xếp hạng, qua đó điều chỉnh danh mục theo hướng ưu tiên nguồn lực vào những nhóm khách hàng an toàn
1.3 Nguyên tắc và quy trình của việc chấm điểm tín dụng và xếp hạng khách hàng.
1.3.1 Nguyên tắc của xếp hạng tín dụng
Ngân hàng thương mại thực hiện chấm điểm tín dụng và xếp hạng khách hàng theo một nguyên tắc nhất định, bao gồm phân tích tín nhiệm trên cơ sở ý thức và thiện chí trả nợ của người đi vay và từng khoản vay; đánh giá rủi ro dài hạn dựa trên ảnh hưởng của chu kỳ kinh doanh và xu hướng khả năng trả nợ trong tương lai; đánh giá rủi ro toàn diện và thống nhất dựa vào hệ thống ký hiệu xếp hạng Để bổ sung cho những phân tích định lượng, trong khi thực hiện
Trang 4chấm điểm xếp hạng cần phải sử dụng phân tích định tính Các chỉ tiêu phân tích có thể thay đổi phù hợp với sự thay đổi của trình độ công nghệ và yêu cầu quản trị rủi ro
1.3.2. Quy trình của xếp hạng tín dụng.
Việc XHTD doanh nghiệp vay vốn được thực hiện theo 5 bước sau:
Thu thập thông tin
Phân loại theo ngành và quy mô
Phân tích các chỉ tiêu và cho điểm
Đưa ra kết quả XHTD
Phê chuẩn và sử dụng kết quả XHTD
1.3.2.1.Thu thập thông tin
Thu thập thông tin liên quan đến các chỉ tiêu sử dụng trong phân tích đánh giá, thông tin xếp hạng của các tổ chức tín nhiệm khác liên quan đến đối tượng xếp hạng Trong quá trình thu thập thông tin, ngoài những thông tin do chính khách hàng cung cấp, cán bộ thẩm định phải sử
Trang 5dụng nhiều nguồn thông tin khác từ các phương tiện thông tin đại chúng, thông tin từ trung tâm tín dụng của ngân hàng, thông tin từ các công ty xếp hạng.
1.3.2.2 Phân loại theo ngành và quy mô
Mỗi ngành nghề kinh doanh có những đặc điểm riêng biệt, tính chất hoạt động khác nhau chịu tác động của các yếu tố khác nhau gây ảnh hưởng lớn đến khả năng trả nợ của doanh nghiệp, ví dụ như ngành công nghiệp cần vốn lớn, lao động ít, vốn quay vòng lâu trong khi đó ngành nông nghiệp phụ thuộc nhiều vào yếu tố tự nhiên, có tính chất mùa vụ, số lượng lao động thủ công lớn
Quy mô của doanh nghiệp là yếu tố vô cùng quan trọng nó ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh cũng như năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp trên thị trường Với những doanh nghiệp có quy mô lớn sẽ có lợi thế về quy mô giá thành sản phẩm thấp, đa dạng hóa sản phẩm, vốn lớn có thể đầu tư theo chiều sâu cải tiến thiết bị… Ngược lại với những doanh nghiệp quy mô nhỏ, vốn ít khả năng cạnh tranh thấp dễ bị phá sản khi gặp những yếu tố tiêu cực từ bên ngoài
1.3.2.3 Phân tích và chấm điểm các chỉ tiêu
Phân tích bằng mô hình để kết luận về mức xếp hạng Sử dụng đồng thời chỉ tiêu tài chính và chỉ tiêu phi tài chính Các chỉ tiêu tài chính được chấm điểm dựa trên ngành nghề và quy mô của doanh nghiệp thường gồm: chỉ tiêu thanh khoản, chỉ tiêu cân nợ, chỉ tiêu hoạt động và chỉ tiêu thu nhập Với mỗi chỉ tiêu có một mức điểm và trọng số khác nhau Các chỉ tiêu phi tài chính thường gồm chỉ tiêu về khả năng trả nợ, uy tín giao dịch với ngân hàng, lưu chuyển tiền tệ…Đặc biệt đối với những chỉ tiêu phi tài chính phải được thiết kế cài xen kẽ để đảm bảo tính thống nhất trong quá trình đánh giá các chỉ tiêu và phải được sử dụng hết sức linh hoạt, khách quan, phù hợp với từng loại hình doanh nghiệp, từng mặt hàng kinh doanh
1.3.2.4 Đưa ra kết quả XHTD
Sau khi chấm điểm các chỉ tiêu tài chính, phi tài chính, CBTD tổng hợp điểm bằng việc nhân với các trọng số tương ứng Để đưa ra kết quả xếp hạng, CBTD sẽ đối chiếu tổng điểm khách hàng đạt được với bảng phân loại khách hàng và đưa ra kết quả xếp hạng khách hàng
Trang 61.3.2.5 Phê chuẩn và sử dụng kết quả xếp hạng
Để đảm bảo hệ thống XHTDNB phù hợp với thực tiễn, kết quả xếp hạng phản ánh được chính xác mức độ rủi ro của từng khách hàng các ngân hàng cần định kỳ ra soát
để chỉnh sửa hoàn thiện hệ thống cụ thể: theo dõi tình trạng tín dụng của đối tượng được xếp hạng để điều chỉnh mức xếp hạng, các thông tin điều chỉnh được lưu giữ; tổng hợp kết quả xếp hạng so sánh với thực tế rủi ro xảy ra, và dựa trên tần suất phải điều chỉnh mức xếp hạng đã thực hiện đối với khách hàng để xem xét điều chỉnh mô hình xếp hạng
Trang 71.4 Mô hình chấm điểm tín dụng và xếp hạng khách hàng.
Mô hình một biến số là mô hình đơn giản được sử dụng trong công tác chấm điểm tín dụng và xếp hạng khách hàng Chỉ tiêu đánh giá phải được thống nhất trong mô hình Tỷ suất tài chính được sử dụng trong mô hình một biến số bao gồm các chỉ tiêu thanh khoản, các chỉ tiêu hoạt động, chỉ tiêu cân nợ, chỉ tiêu lợi tức, chỉ tiêu vay nợ và chi phí trả lãi Các chỉ tiêu phi tài chính thường được sử dụng bao gồm thời gian hoạt động của doanh nghiệp,
số năm kinh nghiệp và trình độ của nhà quản trị cấp cao, triển vọng ngành Nhược điểm của
mô hình một biến số là kết quả dự báo khó chính xác nếu thực hiện phân tích và cho điểm
và các chỉ tiêu đánh giá một cách riêng biệt, hơn nữa, mỗi người có thể hiểu các chỉ tiêu đánh giá theo một cách khác nhau Để khắc phục nhược điểm này, các nhà nghiên cứu đã phát triển những mô hình kết hợp nhiều biến số thành một giá trị để dự báo sự thất bại của doanh nghiệp như mô hình phân tích hồi quy, phân tích lôgich, phân tích xác suất có điều kiện, phân tích phân biệt nhiều biến số Ngân hàng thương mại áp dụng các mô hình khác nhau tùy theo đối tượng xếp loại là cá nhân, doanh nghiệp hay tổ chức tín dụng
Chương II
Hệ thống chấm điểm tín dụng và xếp hạng doanh nghiệp tại
Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam Vietcombank.
2.1 Giới thiệu vài nét về Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam.
Ngân hàng thương mại cổ phần Ngoại thương Việt Nam còn được gọi Vietcombank, là ngân hàng thương mại cổ phần lớn nhất Việt Nam tính theo tổng khối lượng tài sản Ngân hàng được thành lập năm 1963 với tư cách là một ngân hàng thương mại nhà nước Tên trước đây của ngân hàng này là Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam Ngân hàng thương mại
cổ phần Ngoại thương đã phát triển lớn mạnh theo mô hình ngân hàng đa năng với 58 Chi nhánh, 1 Sở Giao dịch, 87 Phòng Giao dịch và 4 Công ty con trực thuộc trên toàn quốc; 2 Văn phòng đại diện và 1 Công ty con tại nước ngoài, với đội ngũ cán bộ gần 6.500 người Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam Vietcombank luôn giữ vai trò chủ lực trong hệ thống Ngân hàng Việt Nam Vietcombank là một trong những thành viên đầu tiên của Hiệp hội
Trang 8Ngõn hàng Việt Nam, đồng thời là thành viờn của Hiệp hội Ngõn hàng Chõu Á và của Cõu lạc bộ Ngõn hàng Chõu Á - Thỏi Bỡnh Dương
Với bề dày kinh nghiệm trong lĩnh vực ngõn hàng đối ngoại cựng với một đội ngũ cỏn
bộ tinh thụng nghiệp vụ, năng động và nhiệt tỡnh, Vietcombank đó đạt được những kết quả
to lớn và được đỏnh giỏ là ngõn hàng cú uy tớn nhất Việt Nam trong cỏc lĩnh vực kinh doanh ngoại hối, thanh toỏn xuất nhập khẩu và cỏc dịch vụ ngõn hàng tài chớnh quốc tế khỏc Trong
5 năm liờn tiếp từ 2000 đến 2004, Vietcombank đó được Tạp chớ The banker – một chi nhỏnh của tập đoàn thụng tin tài chớnh Financial Time – trao tặng giải thưởng “ Ngõn hàng tốt nhất trong năm tại Việt Nam” – “ Bank of the year in Vietnam”
Tỡnh hỡnh hoạt động kinh doanh của ngõn hàng trong những năm gấn đõy:
Tỷ lệ lợi nhuân trước thuế trên vốn tự có
Trang 92.2 Quy trình chấm điểm tín dụng và xếp hạng doanh nghiệp tại Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam
Quy trình gồm 5 bước sau:
Bước 1: Thu thập thông tin và phân loại khách
Bước 5: Trình phê duyệt kết quả chấm điểm
2.2.1 Thu thập thông tin và phân loại khách hàng.
Cán bộ chấm điểm tiến hành điều tra thu thập, xác minh và sàng lọc để tổng hợp thông tin về khách hàng và các phương án sản xuất kinh doanh, dự án đầu tư từ các nguồn:
+ Hồ sơ do khách hàng cung cấp: Hồ sơ pháp lý và các báo cáo tài chính, báo cáo kết quả
hoạt động kinh doanh
+ Phỏng vấn trực tiếp khách hàng (tham khảo bảng câu hỏi trong Quy trình tín dụng);
+ Đi thăm thực địa, cơ sở sản xuất kinh doanh của khách hàng;
+ Từ báo chí và các phương tiện thông tin đại chúng khác;
+ Từ Trung tâm thông tin tín dụng của NHNN Việt Nam;
+ Các nguồn thông tin khác
Báo cáo tài chính để sử dụng là các Báo cáo đầu kỳ và cuối kỳ chấm điểm do HBB quy định trong từng thời kỳ cụ thể Trong trường hợp khách hàng mới thành lập hoặc không có Báo cáo tài chính để chấm điểm theo quy định, Cán bộ chấm điểm sẽ không chấm điểm tài chính
2.2.2 Xác định hình thức sở hữu, ngành nghề sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Bước đầu tiên trong quy trình chấm điểm tín dụng và xếp hạng doanh nghiệp là dựa trên tiêu chí về hình thức sở hữu, quy mô và ngành nghề kinh doanh chính Hình thức sở hữu doanh nghiệp có tác động không nhỏ đến hiệu quả kinh doanh đồng nghĩa với việc nó
Trang 10cũng ảnh hưởng tới khả năng trả các món nợ cho ngân hàng Việc quan tâm đến hình thức sở
hữu doanh nghiệp sẽ giúp ngân hàng đánh giá được trong từng thời kỳ khác nhau, doanh
nghiệp nào có ưu thế hơn sẽ được chấm số điểm cao hơn tương ứng Dựa theo hình thức sở
hữu, các doanh nghiệp được phân loại thành ba nhóm: doanh nghiệp nhà nước, doanh
nghiệp đầu tư nước ngoài và doanh nghiệp khác Trong đó doanh nghiệp nhà nước là tổ
chức kinh tế do Nhà nước sở hữu toàn bộ vốn điều lệ hoặc có cổ phần, vốn góp chi phối
Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài là doanh nghiệp một trăm phần trăm vốn nước
ngoài hoặc liên doanh Doanh nghiệp khác là các doanh nghiệp không thuộc hai hình thức
sở hữu trên
Sau khi phân loại được hình thức sở hữu, ngân hàng sẽ tiến hành xác định ngành nghề
của doanh nghiệp Trong nền kinh tế thị trường hiện nay, số lượng doanh nghiệp đang hoạt
động là không nhỏ, đi kèm với nó là sự đa dạng về nghành nghề, về chủng loại hàng hoá,
chu kỳ kinh doanh, mức độ rủi ro, khả năng sinh lời.v.v.của các doanh nghiệp đó Vì vậy để
đánh giá đúng đối tượng xin vay, ngân hàng cũng cần phải sắp xếp các doanh nghiệp có
những nét tương tự nhau vào cùng một nhóm nhất định Việc sắp xếp này sẽ giúp ngân hàng
nhìn thấy đuợc tiềm năng của mỗi doanh nghiệp trong từng giai đoạn cụ thể Sự phân loại
ngành nghề kinh doanh của doanh nghiệp được trình bày cụ thể ở Bảng 1 Phần phụ lục
theo bốn nhóm ngành chính nông – lâm - ngư nghiệp, thương mại dịch vụ, sản xuất công
nghiệp và xây dựng Từ cách phân loại này, ngân hàng sẽ xây dựng một khung điểm hợp lý
cho các doanh nghiệp Nhưng khung điểm này chỉ có giá trị thời kỳ do các ngành cũng được
tập trung phát triển theo chu kỳ Để lựa chọn mức điểm cho từng ngành nghề trong mỗi giai
đoạn là công việc không đơn giản, nó cũng quyết định một phần sự thành công của bảng
chấm tín dụng
Bảng 1: Xác định doanh nghiệp theo lĩnh vực/ngành của Vietcombank
Sản phẩm, lĩnh vực hoạt động chính của doanh nghiệp Được xếp vào
Lâm nghiệp và các dịch vụ liên quan:
- Trồng rừng, cây phân tán; nuôi rừng, chăm sóc tự nhiên;
khai thác và chế biến gỗ lâm sản tại rừng
- Khai thác gỗ
- Thu nhặt các sản phẩm hoang dã khác
- Vận chuyển gỗ trong rừng
Trang 11- Các hoạt động kinh tế khác: vận tải , kho bãi và thông tin
liên lạc; vận tải đường bộ, đường sông; vận tải đường thuỷ,
vận tải đường không; các hoạt đọng phụ trợ cho vận tải,
hoạt động của các tổ chức du lịch; dịch vụ bưu chính viễn
thông, kinh doanh tài sản và dịch vụ tư vấn, cho thuê máy
móc thiết bị, các hoạt động có liên quan đến máy tính, các
hoạt động kinh doanh khác
Xây dựng:
- Chuẩn bị mặt bằng
- Xây dựng công trình hoặc hạng mục công trình
- Lắp đặt trang thiết bị cho các công trình xây dựng
- Hoàn thiện công trình xây dựng
- Cho thuê thiết bị xây dựng hoặc thiết bị phá dỡ có kèm
người điều khiển
Xây dựng
Sản xuất vật liệu xây dựng
Trang 12Công nghiệp khai thác mỏ:
- Khai thác than các loại
- Khai thác dầu thô, khí tự nhiên và các dịch vụ khai thác dầu
- Sản xuất, chế biến và bảo quản thịt cà sản phẩm từ thịt, thuỷ
sản, rau quả, dầu mỡ
- Xay xát, sản xuất bột và sản xuất thức ăn gia súc
- Sản xuấtthực phẩm khác
- Sản xuất đồ uống
Lương thực, thực phẩm
Sản xuất các sản phẩm thuốc
2.2.3.Chấm điểm rủi ro tín dụng
Chấm điểm quy mô doanh nghiệp
Để tiến hành công tác chấm điểm xếp hạng, quy mô của doanh nghiệp cũng là một
trong những tiêu chí quan trọng cần được xét đến Có thể phân thành ba nhóm là doanh
nghiệp lớn, doanh nghiệp vừa và doanh nghiệp nhỏ Với quy mô nhỏ, doanh nghiệp rất khó
có thể tiến hành đa dạng hóa hoạt động để giảm rủi ro kinh doanh và nâng cao uy thế cạnh
tranh Với quy mô nhỏ, đồng nghĩa doanh nghiệp không có ưu thế về quy mô về sản xuất,
tiềm năng dân sự và tiềm lực về tài chính Những doanh nghiệp có quy mô nhỏ thường chỉ
thiên về kinh doanh một loại sản phẩm và đôi khi có những sản phẩm mang tính chất thời
vụ, nên khả năng rủi ro cao hơn Quy mô của doanh nghiệp được xác định dựa trên nhiều
chỉ tiêu, có thể dựa vào các chỉ tiêu như vốn, lao động, doanh thu thuần và tổng tài sản
Trong các chỉ tiêu đó, quy mô vốn chủ sở hữu là chỉ tiêu được quan tâm hàng đầu Nó đựơc
hiểu là toàn bộ số vốn mà doanh nghiệp bỏ ra khi tiến hành sản xuất kinh doanh, nguồn vốn
này có thể được bổ sung hoặc giảm bớt trong quá trình hoạt động Khoản vốn này không chỉ
nhận được sự quan tâm đặc biệt của chủ doanh nghiệp mà còn được chủ nợ theo dõi sát sao
Lao động là số lao động thực tế sử dụng (doanh nghiệp sẽ cung cấp tại thuyết minh báo cáo
tài chính) tính trung bình 3 năm gần nhất Ngân hàng xác định số điểm cụ thể trong Bảng 2.
Bảng 2: Các chỉ tiêu chấm điểm quy mô của doanh nghiệp.
Vốn
Từ 80 tỷ đồng đến 100 tỷ đồng 25
Trang 13Căn cứ vào thang điểm trên, các doanh nghiệp được xếp loại như sau:
Chấm điểm các chỉ tiêu tài chính
Mục tiêu cao nhất và bắt buộc phải thực hiện để duy trì hoạt động của ngân hàng là phải thu được nợ từ khách hàng Các chỉ tiêu tiêu tài chính phản ánh tổng quát nhất tiềm lực tài chính đồng thời cũng phản ánh rõ nét nhất khả năng trả nợ của doanh nghiệp, nên việc thu thập, phân tích và chấm điểm các chỉ tiêu tài chính doanh nghiệp là việc rất quan trọng Các chỉ tiêu này bao gồm:
* Chỉ tiêu thanh toán: đánh giá khả năng thanh toán các khoản nợ ngắn hạn khi đến
hạn thanh toán
Tài sản lưư động bao gồm tiền, các khoản tương đương tiền, các khoản phải thu, hàng tồn kho và các khoản đầu tư tài chính ngắn hạn Nợ ngắn hạn bao gồm các khoản nợ có thời
H s kh n ng T i s n l u ệ ố ả ă à ả ư độngthanh toán hi n = ệ
th iờ N ng n h nợ ắ ạ
Trang 14hạn dưới 12 tháng Hệ số này phản ánh kha năng chuyển đổi tài sản thành tiền để trang trải các khoản nợ ngắn hạn của doanh nghiệp Nếu giá trị của hệ số này thấp ,có thể kết luận khả năng trả nợ của doanh nghiệp yếu và cũng là dấu hiệu của những khó khăn tài chính tiềm tang Nếu hệ số này cao cho thấy doanh nghiệp có khả năng cao trong việc sẵn sàng thanh toán các khoản nợ đến hạn, tuy nhiên trong một số trường hợp hệ số này quá cao chưa chắc
đã phản ánh đúng năng lực thanh toán của doanh nghiệp, nếu hàng tồn kho là những hàng khó bán thì doanh nghiệp khó thanh lý chúng để trả nợ Khi đó cán bộ tín dụng sẽ xét đến hệ
số thanh toán nhanh:
* Chỉ tiêu hoạt động:
Hệ số này đo lường mức doanh số bán liên quan đến mức độ tồn kho của hàng hoá thành phẩm, nguyên vật liệu Khối lượng hàng tồn kho phụ thuộc nhiều yếu tố như ngành kinh doanh, thời điểm nghiên cứu , mùa vụ…Dùng chỉ tiêu hàng tồn kho bình quân để tính
do hàng tồn kho thường mang tính chất mùa vụ Nếu chỉ tiêu này thấp chứng tỏ hàng hoá tồn kho quá cao so với doanh số bán
Khi hệ số này cao, có nghĩa là các khoản phải thu tăng lên, doanh thu bình quân giảm
và doanh nghiệp đang có nguy cơ tồn đọng nợ Đôi khi doanh nghiệp muốn chiếm lĩnh thị trường thông qua bán hàng trả chậm hay tài trợ cho các chi nhánh đại lý nên làm cho số ngay thu tiền bình quân cao Tuy nhiên khi phân tích tình hình hoạt động của doanh nghiệp theo tiêu thức này cũng cần phải xem xét đến mùa vụ của sản phẩm, dịch vụ mà doanh nghiệp kinh doanh
Điều này có nghĩa là một đồng vốn đầu tư vào doanh nghiệp tạo ra được bao nhiêu đồng doanh thu trong kỳ
* Chỉ tiêu cân nợ:
Hệ số này phản ánh nghĩa vụ của chủ sở hữu doanh nghiệp đối với tất cả các chủ nợ trong việc góp vốn, 1 đồng tài sản hình thành từ nguồn vốn của doanh nghiệp có bao nhiêu đồng là do các chủ nợ tài trợ
H s kh n ng T i s n l u ệ ố ả ă à ả ư động – H ng t n khoà ồthanh toán nhanh =
N ng n h nợ ắ ạVòng quay h ng Giá v n h ng bán à ố à
t n kho = ồ
H ng t n kho bình quânà ồ
K thu ti n Các kho n ph i thuỳ ề ả ả bình quân =
Doanh thu bình quân 1 ng yà
Hi u qu s d ng Doanh thu thu nệ ả ử ụ ầ