1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

SKKN sáng kiến kinh nghiệm THPT biện pháp nghệ thuật so sánh trong ca dao ở chương trình THPT

44 913 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 44
Dung lượng 91,95 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cấu trúc của tiểu luận Ngoài các phần mở đầu, kết luận, nội dung chính của tiểu luận được triểnkhai trong 3 chương: Chương 1 : Khái quát về biện pháp nghệ thuật so sánh, ẩn dụ, biểu tượn

Trang 1

MỤC LỤC

LỜI MỞ ĐẦU 3

1 Lý do chọn đề tài 3

2 Lịch sử vấn đề 4

3 Đối tượng, mục đích nghiên cứu 4

4 Phạm vi của đề tài 5

5 Phương pháp nghiên cứu 5

6 Đóng góp của đề tài 5

7 Cấu trúc của tiểu luận 5

NỘI DUNG 6

Chương 1: KHÁI QUÁT VỀ BIỆN PHÁP NGHỆ THUẬT 6

SO SÁNH, ẨN DỤ, BIỂU TƯỢNG 6

A.Khái quát về biện pháp nghệ thuật so sánh 6

I So sánh là gì ? 6

II.Đặc điểm của so sánh 8

1 Xét về mặt hình thức 8

2 Xét về mặt nội dung 12

3 Chức năng của so sánh 12

B.Khái quát về ẩn dụ và biểu tượng 12

I Ẩn dụ và biểu tượng – con đường khám phá thế giới tâm hồn 12

II Nguồn gốc và phân loại biểu tượng 14

1 Nguồn gốc của biểu tượng 14

2 Phân loại biểu tượng 16

Chương 2: BIỆN PHÁP NGHỆ THUẬT SO SÁNH 17

TRONG CA DAO 17

A Thống kê những bài ca dao có trong chương trình các cấp học 17

I Thống kê ca dao có sử dụng biện pháp nghệ thuật so sánh trong phân môn tập đọc ở tiểu học 17

1 Thống kê theo sự xuất hiện trong sách giáo khoa 17

2 Thống kê theo chủ đề của ca dao 17

Trang 2

II Thống kê cao dao có sử dụng biện pháp nghệ thuật so sánh trong chương

trình môn Ngữ văn ở THCS 17

1 Thống kê theo sự xuất hiện trong sách giáo khoa 17

2 Thống kê theo chủ đề của ca dao 17

III Thống kê ca dao có sử dụng biện pháp nghệ thuật so sánh trong chương trình môn Ngữ văn THPT 20

1 Thống kê theo sự xuất hiện trong sách giáo khoa 20

2 Thống kê theo chủ đề của ca dao 20

B Phân loại những hình ảnh so sánh mang ý nghĩa ẩn dụ, biểu tượng 25

I Hệ thống hình ảnh so sánh thuộc thế giới tự nhiên 25

1 Hệ thống các hiện tượng tự nhiên, vật thể vũ trụ, môi trường địa lý 25

2.Hệ thống hình ảnh so sánh thuộc thế giới thực vật 31

1 Hệ thống hình ảnh so sánh thuộc thế giới động vật 33

Chương 3 36

Ý NGHĨA, GIÁ TRỊ CỦA BIỆN PHÁP 36

NGHỆ THUẬT SO SÁNH TRONG CA DAO 36

1 Giá trị tạo hình 36

3 Giá trị thẩm mỹ 39

KẾT LUẬN 42

Trang 3

LỜI MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Trong kho tàng văn học dân gian Việt Nam, ca dao luôn được coi là viênngọc quý long lanh ngời sáng Đó là viên ngọc toả chiếu vẻ đẹp thuần khiết,thanh cao trong tâm hồn tình cảm và trí tuệ con người Việt Nam, trải qua nhiềuthế hệ Biểu hiện qua văn hoá ứng xử trong cuộc sống; qua tình yêu thắm thiếtđối với thiên nhiên, với quê hương gia đình; qua tình yêu lứa đôi, hôn nhân -hạnh phúc… Ca dao vì thế thực sự gắn liền và trở thành một bộ phận không thểtách rời với đời sống tinh thần của nhân dân ta Kể từ khi lọt lòng mẹ cho tới lúctrưởng thành, có ai trong mỗi chúng ta chưa từng được một lần lạc vào thế giới

của con “cò bay lả bay la” qua lời ru âu yếm của bà của mẹ Những lời ru thấm

đẫm yêu thương cứ thế từng ngày bồi đắp trong ta tình yêu mến, tự hào đối với

ca dao dân tộc

Trải qua thời gian với bao thăng trầm, ca dao vẫn tồn tại và giữ nguyên sứcsống của nó Đó không chỉ nhờ vào nội dung đặc sắc mà còn vì cả một thế giớinghệ thuật ngôn từ tinh tuý, trong sáng đến mức tự nhiên

Sức sống mạnh mẽ, bất diệt của ca dao được tạo nên bởi nhiều giá trị, màtrước hết và chủ yếu là giá trị nội dung và nghệ thuật Trong các đặc trưng nghệthuật của thể loại này phải kể tới biện pháp so sánh Không phải ngẫu nhiên mà

ca dao có nơi còn gọi là hát ví “ những câu hát ví chất ba đình” đầy nghệ thuật

so sánh đã tạo ra rất nhiều cách nói, cách diễn đạt với hiều sắc thái tinh tế khácnhau để biểu thị nội dung ca dao, làm cho việc diễn đạt trở nên sâu sắc, phongphú, sinh động, bóng bẩy và tế nhị Bằng thế giới hình ảnh so sánh vừa đa dạng,dồi dào vừa thân thuộc, gần gũi, những ý niệm trừu tượng, mơ hồ như nhữngcung bậc tình cảm: yêu, ghét…chẳng hạn được cụ thể một cách độc đáo, sâu sắc

và bình dị Chúng ta sẽ khám phá được những liên tưởng độc đáo, bất ngờ và lốinói quen thuộc nhưng sắc sảo của người lao động, từ đó cảm nhận được đặc thù

về tư tưởng, tình cảm của họ

Trang 4

Chính vì vậy, tìm hiểu và khảo sát các vấn đề thuộc thi pháp ca dao mà cụthể là biện pháp so sánh nghệ thuật ở các bài ca dao, có trong chương trình giảngdạy phổ thông là cần thiết và rất có ý nghĩa đối với việc giảng dạy thể loại này.

2 Lịch sử vấn đề

Ca dao là một bộ phận chiếm số lượng lớn nhất trong kho tàng văn học dângian Việt Nam, đồng thời cũng được xem là một thể loại độc đáo nhất Là sảnphẩm của văn học dân gian – khi công bố mới là khi bắt đầu quá trình sáng tạo,

vì vậy công việc nghiên cứu ca dao tuy không đơn giản nhưng rất thú vị Chính

vì lẽ đó, đã từ lâu, trong giới nghiên cứu phê bình văn học, ca dao trở thành một

đề tài hấp dẫn, phong phú Đã có nhiều công trình nghiên cứu tìm hiểu phươngdiện hình thức biểu hiện của ca dao :

- “Nhận xét đặc điểm câu mở đầu trong thơ ca dân gian”- Đinh Gia Khánh

- “Những yếu tố trùng lặp trong ca dao trữ tình”- Đặng Văn Lung

Dưới góc độ thi pháp học, các công trình nghiên cứu : “Thi pháp ca dao”của Nguyễn Xuân Kính, “Thi pháp văn học dân gian” của Lê Trường Phát…cũng đã đề cập đến nhiều vấn đề phương thức biểu hiện của ca dao

Ngoài ra, các đề tài khoá luận, luận văn thạc sỹ, luận văn tiến sỹ cũng có sựquan tâm đặc biệt đến thể loại ca dao với những biểu hiện đa dạng về mặt hìnhthức của nó Tuy vậy, dường như vẫn chưa có một công trình nào thực sự đi sâunghiên cứu so sánh tu từ Nói đúng hơn, một số ít công trình cũng đề cập đếnvấn đề so sánh nhưng đặt trong mối tương quan với các biện pháp tu từ vàphương tiện tu từ khác như : ẩn dụ, nhân hoá, cường điệu, chơi chữ…

Trên cơ sở kế thừa và phát huy những công trình đi trước, em đã thực hiệnbài tiểu luận này với hy vọng góp phần làm phong phú thêm những hiểu biết vềbiện pháp tu từ nói chung và so sánh tu từ nói riêng trong ca dao

3 Đối tượng, mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở xác định một số vấn đề lí thuyết liên quan đến đề tài, tiểu luậntiến hành khảo sát so sánh tu từ trong các cuốn sách Tiếng việt ở bậc tiểu học,sách ngữ văn ở bậc trung học

Trang 5

Từ đó tiểu luận nhằm tìm ra những đặc điểm về cấu trúc và giá trị nghệthuật của so sánh tu từ trong ca dao.

4 Phạm vi của đề tài

Tuy số lượng ca dao rất phong phú nhưng với giới hạn một tiểu luận, emchỉ tiến hành khảo sát việc sử dụng so sánh tu từ trong ca dao ở sách ngữ văncủa chương trình trung học phổ thông

5 Phương pháp nghiên cứu

Trong khi làm đề tài, em đã sử dụng những phương pháp chủ yếu sau:

- Phương pháp thống kê, phân loại

- Phương pháp phân tích , tổng hợp : Phân tích các hiện tượng đồng thờivới quá trình tổng hợp để rút ra những nhận định tổng quát

6 Đóng góp của đề tài

Tiểu luận này góp phần làm sáng tỏ biểu hiện của so sánh tu từ trong cadao ở chương trình trung học Đó là cách sử dụng biến hoá các kiểu cấu trúc sosánh để phát huy tác dụng biểu đạt một cách tối đa Tiểu luận này cũng góp phầnthiết thực hơn vào việc nghiên cứu, giảng dạy ca dao ở trường phổ thông

7 Cấu trúc của tiểu luận

Ngoài các phần mở đầu, kết luận, nội dung chính của tiểu luận được triểnkhai trong 3 chương:

Chương 1 : Khái quát về biện pháp nghệ thuật so sánh, ẩn dụ, biểu tượng.Chương 2 : Biện pháp nghệ thuật so sánh trong ca dao

Chương 3 : Ý nghĩa, giá trị của biện pháp nghệ thuật so sánh trong ca dao

Trang 6

NỘI DUNG Chương 1: KHÁI QUÁT VỀ BIỆN PHÁP NGHỆ THUẬT

Nhớ ai bổi hổi bồi hồi, Như đứng đống lửa, như ngồi đống than.

Đây là tâm trạng của một người khi yêu Đã có ai nhìn thấy được hình hàicủa nỗi nhớ xem nó gầy béo, to nhỏ như thế nào không? Không và sẽ không baogiờ có chuyện như thế Nhớ là cái mà nó mà chỉ có cung bậc, mức độ Làm saomới có thể nói hết những lo âu, thổn thức của nỗi nhớ Thế nhưng vừa đọc quacâu ca dao chúng ta đã hình dung ra ngay nỗi nhớ của nhân vật trữ tình qua haihình ảnh “đứng đống lửa, ngồi đống than” Ai đã từng đứng trên đống lửa, ai đãtừng ngồi trên đống than mà không có cảm giác khó chịu bởi sức nóng móngmãnh liệt đó

Điều đó giúp ta liên tưởng ngay đến tâm trạng của nhân vật trữ tình lúc bấygiờ

Cũng vì nhớ nhung mà trong lòng như thiêu, như đốt, luôn có một trạngthái không yên Hay câu ca dao:

Trang 7

Đôi ta như thể con tằm, Cùng ăn một lá, cùng nằm một nong.

Ở câu ca dao này chúng ta không thể hiểu nghĩa nào khác hơn ngoài niềmhạnh phúc, sự xứng đôi Từ trong thực tế đời sống, hình ảnh “con tằm” luôn ănchung một lá, luôn nằm cùng một nong Dựa vào sự tương đồng đó tác giả dângian đã liên tưởng sang tình yêu của mình lúc này cũng luôn gắn bó, quấn quýtbên nhau

Rõ ràng, để diễn tả tình cảm của mình thì tác giả dân gian đã thông quanhững hình ảnh rất cụ thể, rất chân thực Điều mà tác giả dân gian muốn nói tới

ở đây tất nhiên không phải là đứng trên đống lửa, ngồi trên đống than thì sẽnóng như thế nào hay con tằm có đặc điểm ra sao mà dựa vào một vài đặc điểm,tính chất của hình ảnh để liên tưởng đến tình cảm của mình Nhờ những hìnhảnh đó mà tâm trạng của tác giả dân gian như có hình, có khối cụ thể trước mắtchúng ta và vì thế mà dễ hiểu, dễ cảm hơn, hiệu quả tiếp nhận cao hơn Vậy làtác giả dân gian đã sử dụng một biện pháp nghệ thuật Đó là so sánh

So sánh cũng là một trong những biện pháp tu từ ngữ nghĩa được cấu tạotheo quan hệ liên tưởng Tuy không có sự chuyển đổi ý nghĩa nhưng so sánhđược xem là cơ sở của những biện pháp tu từ khác Qua cách đối chiếu giữa haihay nhiều đối tượng, so sánh tìm ra một nét tương đồng nào đó về hình thức bênngoài hay tính chất bên trong của đối tượng

So sánh là một biện pháp nghệ thuật được sử dụng phổ biến không nhữngtrong văn học viết mà còn trong văn học dân gian, đặc biệt là ca dao Hơn thếnữa, trong lời ăn tiếng nói hàng ngày chúng ta cũng thường bắt gặp biện phápnày Chính đặc điểm dễ vận dụng đó làm cho so sánh trở nên gần gũi với cuộcsống của chúng ta Khác với ẩn dụ, do đặc điểm đối chiếu giữa nhiều đối tượngnên so sánh được công khai hai vế Nhờ vậy mà cái cần biểu đạt thì lại rõ rànghơn, có tính định hướng hơn

Trong giới ngôn ngữ học cũng đã có những khái niệm về biện pháp tu từ sosánh của nhiều tác giả Nhìn chung các tác giả đều đi đến thống nhất cho rằngviệc đối chiếu giữa nhiều đối tượng để tìm ra một nét tương đồng nào đó là

Trang 8

nhằm gợi ra những hình ảnh cụ thể, những cảm xúc thẩm mỹ trong nhận thứccủa người tiếp nhận Điều này được thể hiện qua những ví dụ trên.

Tóm lại, so sánh là một biện pháp nghệ thuật được sử dụng phổ biến, đặc

biệt trong ca dao Vì được cấu tạo theo quan hệ liên tưởng dựa trên sự đối chiếugiữa nhiều đối tượng nên so sánh đã đem lại cho ca dao một kho tàng hình ảnhthật đồ sộ Với mục đích nhằm tìm ra một nét tương đồng chứ không hoàn toànđồng nhất về hình thức bên ngoài hay tính chất bên trong giữa các đối tượng, sosánh đã, mang lại những hình ảnh cụ thể, những cảm xúc thẩm mỹ thật sâu sắccho mỗi chúng ta Bởi lẽ nhờ so sánh tu từ mà người ta có thể giải thích, đánhgiá, miêu tả hoặc biểu lộ tình cảm của mình một cách hình ảnh, sinh động, cụthể

II.Đặc điểm của so sánh.

- Ở dạng không đồng nhất: hơn, không bằng

Những từ chỉ quan hệ này đã hiện diện trong ca dao bằng các kết cấu cụ thểhơn Điển hình ở hai dạng:

a.1 Cấu trúc so sánh triển khai.

Như trên đã trình bày, so sánh khác với ẩn dụ bởi so sánh luôn công khaihai vế: vế so sánh (A) và vế được so sánh (B) Trong cấu trúc triển khai này vếđược so sánh (B) bao giờ cũng được triển khai, miêu tả, giải thích rõ ràng, cụ thể(B’) Không ai có thể phủ nhận tính chất trữ tình, ngọt ngào trong ca dao ViệtNam Làm nên đặc trưng đó, thể thơ lục bát đã đóng vai trò rất quan trọng

Trang 9

Trong kết cấu này, câu lục thường nêu lên nhận định có tính chất khái quát

về đối tượng: A như B (A và B là hai đối tượng dị loại)

Còn câu bát thì miêu tả hay giải thích cụ thể một đặc điểm nào đó của đốitượng theo quan hệ tương đồng bởi (B’)

Hoặc nói về thân phận của người phụ nữ trong xã hội cũ, ca dao có câu:

Thân em như ớt chín cây, Càng tươi ngoài vỏ càng cay trong lòng.

Tại sao phải có (B’) trong kết cấu này? Như đã biết, câu bát làm nhiệm vụ

cụ thể hoá đối tượng Nếu như chỉ dừng lại ở câu lục thì chẳng ai biết tác giả dângian muốn nói gì “Thân em như ớt chín cây” thì vẫn chưa thể hiện được điều gìcả

Nhưng khi đọc qua câu bát thì cảm hứng về thân phận hẩm hiu của ngườiphụ nữ lại hiện lên ngay

Vì vậy, có thể thấy rằng, việc chọn lựa đặc điểm của đối tượng để triểnkhai, giải thích phải tuỳ vào tình cảm mà tác giả dân gian muốn giãi bày

a.2 So sánh có kết cấu tương hỗ, bổ sung.

Từ bao đời nay, thiên nhiên vốn là đối tượng để con người chinh phục.Nhưng thiên nhiên cũng là dòng thác cảm xúc cho những nhà văn, nhà thơ

Trang 10

Nhân dân ta rất khéo léo trong việc mượn thiên nhiên để chia sẻ bầu tâm sự củamình Một câu ca dao ngắn gọn nhưng lại chứa đựng nhiều hình ảnh thiên nhiên.Dầu vậy nhưng việc bộc bạch tâm trạng vẫn đảm bảo nhu cầu thẩm mỹ Điềunày được thể hiện rõ qua cấu trúc so sánh triển khai.

Vẫn đảm bảo đặc điểm của so sánh là công khai hai vế nhưng ở đây mỗi vếlại có sự phong phú về đối tượng rất nhiều Kết cấu bổ sung trong so sánh đượcthực hiện khi đối chiếu một hoặc hai đối tượng cùng lúc với nhiều sự vật khácnhau

Nếu ở so sánh triển khai, câu bát miêu tả, giải thích một đặc điểm nào đócủa đối tượng theo dấu hiệu tương đồng thì ở kết cấu này có phần mở rộng hơn.Các sự vật trong kết cấu bổ sung có thể có những nét tương đồng hoặc đối lậpnhau

Việc vận dụng so sánh trong kết cấu bổ sung, tác giả dân gian không cầnphải giải thích hay triển khai đặc trưng của đối tượng Bản thân của các đốitượng sẽ có sự tương tác lẫn nhau, bổ sung ý nghĩa cho nhau Sự liệt kê, điệp ýtrong kết cấu này có tác dụng nhấn mạnh đặc điểm tương đồng hoặc đối lập củacác đối tượng

b So sánh khi không có từ chỉ quan hệ so sánh (kết cấu đối ngẫu, kết cấu song

hành).

Khác với các kết cấu trên, chúng ta hoàn toàn không bắt gặp một từ chỉquan hệ nào ở đây cả Nhưng nếu vậy thì liệu kết cấu này có đồng nhất với ẩn dụhay không?

Bởi lẽ khi muốn hiểu được điều tác giả dân gian muốn nói thì chúng tacũng phải thông qua việc liên tưởng dựa trên những nét tương đồng nào đó như

ẩn dụ Có thể nói, kết cấu này còn được gọi là so sánh chìm Vì đây là sự kếthợp giữa ẩn dụ và so sánh chứ không hoàn toàn là ẩn dụ

Ví dụ:

Năng mưa thì giếng năng đầy, Anh năng đi lại mẹ thầy năng thương.

Trang 11

Chuông già đồng điếu chuông kêu, Anh già lời nói em xiêu tấm lòng.

Qua ví dụ trên ta thấy, mặc dù không có từ so sánh nhưng chúng ta vẫnnhận ra có sự so sánh ở đây Chủ thể so sánh ở đây chưa ẩn hoàn toàn Vế (A)nêu lên những đặc điểm có tính bản chất, quy luật của thiên nhiên Tính bản chất

đó có nét tương đồng với vế (B) tức là bức tranh tâm trạng của con người Dựavào nét tương đồng đó mà tác giả dân gian đã làm nên một đột phá nghệ thuậtthật đáng ngờ

Chính quy luật vững vàng đó của thiên nhiên đã làm cho tâm trạng của tácgiả dân gian càng tăng sức thuyết phục, tăng khả năng biểu hiện vượt bậc Hơnnữa, nó trở nên gần gũi, thân quen nhờ những quy luật vốn tồn tại trong cuộcsống mà thiên nhiên đem lại

So với kết cấu so sánh có từ chỉ quan hệ thì kết cấu này tạo khả năng liêntưởng rộng rãi hơn Nếu trong so sánh triển khai hay so sánh bổ sung, đối tượngvốn có rất nhiều đặc điểm nhưng chỉ được chọn một đặc điểm nào đó phù hợpvới nội dung cần biểu đạt thì ở đây lại khác đi Chúng ta thấy rõ ràng khi không

có từ chỉ quan hệ thì đồng thời nét tương đồng cũng không bị giới hạn Tuỳ vàosức liên tưởng của mỗi người mà câu ca dao có những nét nghĩa gần hay xa nhấtđịnh dựa trên đặc tính cố định của thiên nhiên Chúng ta không thể phủ nhận ýnghĩa nếu mưa thường xuyên thì giếng nước sẽ mau đầy Nhưng chúng ta cũngkhông nhất thiết hiểu cách được lòng của mẹ thầy người yêu mà tác giả dân gian

đề cập chỉ đơn thuần là việc thường xuyên đi lại

Trên đây chỉ là những kết cấu mà em cho rằng nó được biểu hiện rõ ràngnhất trong ca dao Tuy việc phân định chỉ ở một chừng mực nào đó nhưng nhìnchung, so sánh có kết cấu rất đa dạng Những kết cấu này luôn vận động linhhoạt vào những tình cảm cụ thể mà tác giả dân gian muốn biểu hiện Giữa nộidung biểu đạt (tâm trạng, tình cảm,…) và phương thức biểu đạt ( so sánh) cómối quan hệ mật thiết với nhau, tương tác lẫn nhau Một mặt, so sánh giúp tácgiả dân gian bày tỏ lòng mình một cách tế nhị, cụ thể và hàm xúc

Trang 12

Mặt khác, chính nhu cầu biểu hiện tình cảm ngày càng cao của mình, tácgiả dân gian đã đem lại cho so sánh sự hoàn thiện hơn, phong phú hơn Hơn baogiờ hết, sự xuất hiện của cả một hệ thống hình ảnh cùng với ánh sáng muôn màucủa kết cấu trong ca dao đã chứng minh khả năng liên tưởng phong phú cùng ócsang tạo mạnh mẽ của nhân dân ta.

B.Khái quát về ẩn dụ và biểu tượng.

Với đề tài “ Biện pháp nghệ thuật so sánh trong ca dao” thì tại sao chúngtaphải tìm hiểu về ẩn dụ và biểu tượng?

Như đã biết, so sánh là một biện pháp nghệ thuật đã mang lại hiệu quả caotrong việc biểu hiện tình cảm của nhân dân ta Thế nhưng, để thấy được so sánh

đã góp phần biểu hiện nội dung như thế nào thì chúng ta không chỉ dựa vào kếtcấu là đủ Bởi lẽ, so sánh là sự kết hợp giữa hình ảnh và kết cấu để thực hiệnchức năng biểu đạt.Và hễ nhắc đến hình ảnh được dùng làm so sánh thì chúng talại càng không thể bỏ qua những hình ảnh mang ý nghĩa ẩn dụ biểu tượng

Mặc dầu vậy nhưng đây chỉ là những cơ sở lý thuyết cho việc tìm hiểu đềtài Vì thế chúng tôi chỉ đi vào những đặc điểm mà đối tượng góp phần làm sáng

tỏ đề tài

I Ẩn dụ và biểu tượng – con đường khám phá thế giới tâm hồn.

Chắc hẳn ai cũng đã biết, nói đến văn chương là nói đến tính hình tượng.Những tâm tư, trăn trở mà người nghệ sĩ muốn ký thác vào đứa con tinh thần

Trang 13

của mình đều phải thông qua thế giới hình tượng Trong ca dao, đó là nhu cầubiểu hiện tình cảm một cách cụ thể, hàm súc bằng những hình tượng sinh động.

Và lẽ tất yếu, những hình tượng này có thể trở thành ẩn dụ hoặc biểu tượng.Như đã biết, ẩn dụ là một biện pháp nghệ thuật cũng được sử dụng rất phổbiến không chỉ trong ca dao mà còn trong văn học Với đặc điểm không côngkhai hai vế như so sánh nhưng ẩn dụ cũng dựa trên sự liên tưởng về nét tươngđồng giữa các đối tượng để thực hiện việc chuyển nghĩa Nghĩa của những hìnhảnh ẩn dụ thường mang tính chất bóng gió xa xôi Thế nhưng đây là những nétnghĩa không cố định Cùng là một hình ảnh ẩn dụ nhưng đặt trong văn cảnh nàychúng lại có nghĩa là (A), đặt trong văn cảnh khác chúng lại có nghĩa là (B)

Nhưng ở câu ca dao khác:

Thuyền anh mắc cạn trên đây, Mượn đôi dải yếm làm dây kéo thuyền.

Thì “ thuyền” ở đây lại là cái cớ để cho người con trai tỏ tình

Trang 14

Qúa trình hình thành nghĩa biểu tượng là rất lâu dài Khi hình ảnh ẩn dụđược sử dụng đi sử dụng lại nhiều lần và dần tạo thành nét nghĩa cố định thì lúc

đó ta có biểu tượng Nghĩa biểu tượng tồn tại trong tâm trí của chúng ta rất vữngvàng, cố định Chẳng hạn khi nói đến hình tượng “rồng – mây”, “trúc – mai” thìchúng ta liên tưởng ngay đến người con trai và người con gái Cho dù ẩn dụ vàbiểu tượng mang nét nghĩa cố định hay linh hoạt thì đây cũng là những phươngtiện nghệ thuật chủ yếu trong ca dao nói riêng, văn học nói chung

Đối với người nghệ sĩ, đây là những con đường thể hiện tâm hồn mình mộtcách cụ thể, thẩm mỹ mà lại không kém phần sâu sắc Đối với chúng ta, nhữngngười khám phá vẻ đẹp tâm hồn đó thì ẩn dụ và biểu tượng là chìa khoá để mởcách cửa bí mật của trái tim Những cái vốn rất khó nói hoặc không thể nói rabằng lời được thì giờ chẳng những nói ra được mà nó còn đi vào trong sâu thẳmtrái tim của người tiếpnhận

Vì đều là những hình ảnh mang nghĩa bóng nên ẩn dụ và biểu tượng đã làmtăng khả năng liên tưởng của con người, đặc biệt là người tiếp nhận Có thể nói,

so sánh đã sử dụng với mật độ cao những hình ảnh ẩn dụ và biểu tượng Từnhững hình ảnh đơn lẻ đến những hình ảnh sóng đôi Nhờ những hình ảnh này

mà so sánh mới có thể giúp tác giả dân gian thể hiện tình cảm của mình mộtcách cụ thể, bóng bẩy và chân thật như nó vốn có Chính vì không chỉ có kết cấu

mà so sánh còn sử dụng những hình ảnh ẩn dụ , biểu tượng nên chúng có mốiquan hệ rất mật thiết với nhau Cùng tương tác vào nhau nhằm thực hiện mộtmục đích chung là làm rõ cái cần biểu đạt

II Nguồn gốc và phân loại biểu tượng.

1 Nguồn gốc của biểu tượng

Như chúng ta đã biết, văn học nghệ thuật là tài sản tinh thần vô giá của bất

kỳ một dân tộc nào Ca dao Việt Nam nói riêng, là tiếng nói tâm tình, là lời cangọt ngào cất lên từ đồng ruộng, từ luỹ tre làng, từ những cuộc đối đáp giaoduyên,… Ở đó, nhân dân ta đã trao gửi biết bao niềm vui, nỗi buồn hay sự vất vảnhọc nhằn trong cuộc sống Nhu cầu bộc lộ tình cảm là chủ yếu trong ca dao

Trang 15

Nhưng điều đó không có nghĩa là người nghệ sĩ muốn giãi bày như thế nào cũngđược Bở lẽ, làm nghệ thuật cũng là một hình thức tư duy Họ phải tìm cho mìnhcách biểu đạt như thế nào thật ngắn gọn nhưng lại hàm xúc và chuyển tải hếtđiều muốn nói Đó không còn cách gì khác ngoài “hình tượng” Chúng ta vẫnnhận định, ca dao Việt Nam có hệ thống hình tượng vô cùng phức tạp Trải quaquá trình sử dụng những hình tượng ấy dần định hình và trở nên cố định Vậythế giới đó có nguồn gốc từ đâu?

Theo tác giả Nguyễn Thị Ngọc Điệp thì biểu tượng trong ca dao Việt Nam

có thể xuất phát từ phong tục tập quán của người Việt Nam, từ quan niệm tínngưỡng dân gian Ở nhóm này, ta có các biểu tượng: trầu – cau, cây đa…Trong

ca dao, so sánh đã sử dụng nhiều những biểu tượng thuộc nhóm này và nhiềuhơn hết đó là biểu tượng “trầu – cau” Với ý nghiã, giá trị truyền thống bề vững,nhưng biểu tượng trên đã được so sánh đưa vào ca dao với những chức năngbiểu hiện tình cảm riêng Mặc dù vậy, nhưng với nguồn gốc xuất phát đó, biểutượng “trầu – cau, cây đa” đã góp phần tô đậm màu sắc dân tộc đậm đà cho cadao Việt Nam Bên cạnh đó, tác giả cũng cho rằng, những biểu tượng trong cadao Việt Nam còn xuất phát từ văn học cổ Việt Nam và Trung Quốc

Những biểu tượng thuộc nhóm văn học cổ Việt Nam là tên của các nhânvật xuất phát từ nền văn học cổ Việt Nam: Thuý Kiều – Kim Trọng (TruyệnKiều – Nguyễn Du), Lục Vân Tiên – Nguyệt Nga (Lục Vân Tiên – Nguyễn ĐìnhChiểu),…Đáng chú ý ở nhóm này là Truyện Kiều của Nguyễn Du Và cũng nhưnhững nhân vật khác, Thuý Kiều – Kim Trọng trở thành biểu tượng của tìnhyêu, của lòng thuỷ chung son sắc

Đó còn là những biểu tượng xuất phát từ văn học cổ Trung Quốc Nhữngbiểu tượng: dây tơ hồng, chỉ thắm, ông Tơ bà Nguyệt,…là những biểu tượng củatình yêu

Tuy nhiên những biểu tượng xuất phát từ sự quan sát trực tiếp hàng ngàycủa nhân dân ta đã được sử dụng với mật độ cao hơn, chiếm số lượng lớn nhấttrong những hình ảnh so sánh dùng làm ẩn dụ và biểu tượng Điều này làm cho

ca dao như một môi trường sống thu nhỏ mà tâm hồn năng động, tinh tế của

Trang 16

nhân dân ta là mạch sống để nuôi môi trường ấy càng xanh tốt Như vậy, tuygiới hạn trong khuôn khổ của biện pháp so sánh nhưng ca dao vẫn chứng minhđược môi trường sống hàng ngày chính là nguồn cảm xúc vô tận để tác giả dângian bày tỏ lòng mình Những hình tượng dù bình thường nhất, đơn giản nhấtđều có thể bước vào ca dao Việc tìm hiểu nguồn gốc của biểu tượng được xemnhư một phương tiện để tìm hiểu ca dao Bởi lẽ trong so sánh, tác giả dân gian

đã su dụng những hình tượng đó với mục đích gì? Câu hỏi đó đặt ra nhằm giúpchúng ta đến đích cuối cùng là tâm tư, tình cảm của nhân dân ta được thể hiệnnhư thế nào qua biện pháp so sánh

2 Phân loại biểu tượng.

Có thể nói, để bộc lộ cho tâm tình của mình thì nhân dân ta đã sử dụng một

hệ thống hình tượng đa dạng Hiện thực khách quan chính là môi trương màu

mỡ cho thế giới ấy phát triển Cũng đã có nhiều bài viết về việc phân loại biểutượng

Điển hình là cách phân loại của tác giả Nguyễn Xuân Kính và Nguyễn ThịNgọc Điệp

a Thế giới các hiện tượng thiên nhiên, tự nhiên.

· Các hiện tượng tự nhiên (trăng, sao, mây, gió,…)

· Những hình ảnh biểu tượng thuộc về thế giới thực vật

· Những hình ảnh biểu tượng thuộc về thế giới động vật

b Thế giới các vật thể nhân tạo.

· Các đồ dùng cá nhân

· Các dụng cụ sinh hoạt gia đình

· Các dụng cụ sản xuất

· Các công trình kiến thiết

Bên cạnh đó, từ việc xác định nguồn gốc của biểu tượng mà chúng ta cónhóm phân loại

c Những hình ảnh biểu tượng thuộc về thế giới con người.

· Những biểu tượng xuất phát từ phong tục tập quán của nười Việt nam

· Những biểu tượng xuất phát từ văn học Việt Nam và Trung Quốc

· Bộ phận cơ thể người

· Điển tích, điển cố liên quan đến tên người

Trang 17

Có thể thấy, đây là cách phân loại có khả năng bao quát cao Tuy nhiên, dùcho chúng ta có những cách phân loại như thế nào đi chăng nữa thì mục đíchcuối cùng cũng là nhằm tìm ra cái hay, cái đẹp của ca dao, đặc biệt trong biệnpháp so sánh.

Chương 2: BIỆN PHÁP NGHỆ THUẬT SO SÁNH

TRONG CA DAO

A Thống kê những bài ca dao có trong chương trình các cấp học

I Thống kê ca dao có sử dụng biện pháp nghệ thuật so sánh trong phân môn tập đọc ở tiểu học

1 Thống kê theo sự xuất hiện trong sách giáo khoa

• Tiếng Việt 3, tập 1, trang 97

• Tiếng Việt 5, tập 1, trang 168,169

2 Thống kê theo chủ đề của ca dao.

• Cảnh đẹp non sông ( Tiếng Việt 3, tập 1, trang 97)

− Đường vô xứ Nghệ quanh quanh

Non xanh nước biếc như tranh họa đồ

• Ca dao về lao động sản xuất (Tiếng Việt 5, tập 1, trang 168,169):

- Cày đồng đang buổi ban trưa

Mồ hôi thánh thót như mưa ruộng cày

Ai ơi bưng bát cơm đầy

Dẻo thơm một hạt, đắng cay muôn phần

Trang 18

II Thống kê cao dao có sử dụng biện pháp nghệ thuật so sánh trong chương trình môn Ngữ văn ở THCS

1 Thống kê theo sự xuất hiện trong sách giáo khoa

∙ Ngữ văn 7, tập 2, trang 35, 37, 38

2 Thống kê theo chủ đề của ca dao

∙ Ca dao, dân ca những câu hát về tình cảm gia đình

( Ngữ văn 7, tập 1,trang 35, 37)

- Công cha như núi ngất trời, Nghĩa mẹ như nước ở ngoài biển Đông.

Núi cao biển rộng mênh mông,

Cù lao chín chữ ghi lòng con ơi!

− Ngó lên nuộc lạt mái nhà, Bao nhiêu nuộc lạt nhớ ông bà bấy nhiêu.

− Anh em nào phải người xa, Cùng chung bác mẹ, một nhà cùng thân.

Yêu nhau như thể tay chân, Anh em hòa thuận, hai tay vui vầy.

− Ơn cha nặng lắm ai ơi, Nghĩa mẹ bằng trời, chín tháng cưu mang.

− Cây khô chưa dễ mọc chồi, Bác mẹ chưa dễ ở đời với ta;

Non xanh bao tuổi mà già Bởi vì sương tuyết hóa ra bạc đầu.

− Con người có cố, có ông, Như cây có cội, như sông có nguồn.

Trang 19

− Anh em như chân với tay Rách lành đùm bọc, dở hay đỡ đần.

− Lên non mới biết non cao Nuôi con mới biết công lao mẹ thầy

− Ân cha lành cao như núi Thái, Đức mẹ hiền sâu tựa biển khơi,

Dù cho dâng trọn một đời, Cũng không trả hết ân người sinh ta.

− Cây xanh thì lá cũng xanh Cha mẹ hiền lành để đức cho con.

− Có cha có mẹ thì hơn Không cha không mẹ như đàn đứt dây

Còn cha gót đỏ như son, Đến khi cha mất gót con đen sì.

Con có cha như nhà có nóc Con không cha như nòng nọc đứt đuôi.

− Con ho lòng mẹ tan tành, Con sốt lòng mẹ như bình nước sôi.

− Đố ai đếm được lá rừng

Đố ai đếm được mấy tầng trời cao

Đố ai đếm được vì sao

Đố ai đếm được công lao mẹ già.

− Đêm nay con ngủ giấc tròn

Trang 20

Mẹ là ngọn gió của con suốt đời.

∙ Những câu hát về tình yêu quê hương, đất nước, con người

− Đường vô xứ Huế quanh quanh Non xanh nước biếc như tranh họa đồ.

Ai vô xứ Huế thì vô…

− Đứng bên ni đồng, ngó bên tê đồng, mênh mông bát ngát,

Đứng bên tê đồng, ngó bên ni đồng, bát ngát mênh mông

Thân em như chẽn lúa đồng đồng, Phất phơ dưới ngọn nắng hồng ban mai.

− Sông Đồng Nai nước trong lại mát Đường Hiệp Hòa lắm cát dễ đi Gái Hiệp Hòa xinh như hoa thiên lý Trai Hiệp Hòa chí khí hiên ngang.

− Xem kìa Yên Thái như kia, Giếng sâu chín trượng, nước thì trong xanh.

Đầu chợ Bưởi điếm cầm canh, Người đi kẻ lại như tranh họa đồ.

Cổng chợ có miếu vua cha Đường cái chính xứ lên chùa Thiên Niên.

III Thống kê ca dao có sử dụng biện pháp nghệ thuật so sánh trong chương trình môn Ngữ văn THPT

1 Thống kê theo sự xuất hiện trong sách giáo khoa

∙ Ngữ văn 10, tập 1, trang 82, 83

2 Thống kê theo chủ đề của ca dao

a Cao dao than thân, yêu thương tình nghĩa

Trang 21

a.1 Những câu ca dao có trong chương trình( Ngữ văn 10, tập 1, trang 82,83)

− Thân em như tấm lụa đào Phất phơ giữa chợ biết vào tay ai.

− Thân em như củ ấu gai Ruột trong thì trắng vỏ ngoài thì đen.

Ai ơi nếm thử mà xem ! Nếm ra, mới biết rằng em ngọt bùi.

− Trèo lên cây khế nửa ngày,

Ai làm chua xót lòng này, khế ơi ! Mặt trăng sánh với mặt trời, Sao Hôm sánh với sao Mai chằng chằng.

Mình ơi! có nhớ ta chăng ?

Ta như sao Vượt chờ trăng giữa trời.

a.2.Một số bài ca dao có cũng chung chủ đề

− Thân em như hạt mưa sa Hạt vào đài các, hạt ra luống cày.

− Thân em như hạt mưa rào Hạt rơi xuống giếng, hạt vào vườn hoa.

− Thân em như thể trăng rằm Mây đen có phủ khôn lần giá trong

− Thân em như thể cánh bèo, Ngược xuôi, xuôi ngược theo chiều nước trôi.

− Thiếp than cha mẹ thiếp nghèo, Thiếp than phận thiếp như bèo trôi sông.

Trang 22

− Chàng ơi! Thương thiếp mồ côi, Như bèo cạn nước biết trôi đằng nào.

− Thân chị như cánh hoa sen, Chúng em như bèo bọt chẳng chen được vào.

− Đem thân vào chốn cát lầm, Cho thân lấm láp như mầm hoa sen.

− Nhát trông thấy bóng một người, Răng đen nhưng nhứt, miệng cười như hoa.

− Em thương ai con mắt lim dim, Chân di thát thểu như chim tha mồi.

− Thương nhau nên phải đi tìm, Nhớ nhau một lúc như chim lạc đàn.

− Tìm em như thể tìm chim, Chim ăn bể Bắc đi tìm bể Đông

− Ước gì có cánh như chim, Bay cao, liệng thấp đi tìm người thương.

− Bây giờ em đã có chồng, Như chim vào lồng, như cá cắn câu.

− Tình cờ bắt gặp mình đây, Như cá gặp nước, như mây gặp rồng.

Ngày đăng: 21/10/2016, 09:56

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình tượng “trăng sao” xuất hiện thường gắn liền với khung cảnh mênh mông của “bầu trời” - SKKN sáng kiến kinh nghiệm THPT biện pháp nghệ thuật so sánh trong ca dao ở chương trình THPT
Hình t ượng “trăng sao” xuất hiện thường gắn liền với khung cảnh mênh mông của “bầu trời” (Trang 26)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w