1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

SKKN sáng kiến kinh nghiệm mầm non sử dụng trò chơi dân gian nhằm phát triển kỹ năng hợp tác nhóm cho trẻ mẫu giáo 5 6 tuổi qua hoạt động ngoài trời

32 779 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 32
Dung lượng 89,22 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Giáo dục trang bị cho thế hệ trẻ một hệ thống giá trị, năng lực và khả năng phùhợp với sự phát triển của một xã hội hiện đại đồng thời đảm bảo phát huy những giá trịtruyền thống của ngườ

Trang 1

MỤC LỤC

1 Đặt vấn đề 1

2 Lý luận chung 3

2.1 Một số vấn đề trò chơi dân gian của trẻ mầm non 5 - 6 tuổi 3

2.1.1 Khái niệm trò chơi dân gian 3

2.1.2 Đặc điểm của trò chơi dân gian 3

2.1.3 Phân loại trò chơi dân gian 4

2.1.4 Cách tổ chức, tiến hành trò chơi dân gian 4

2.1.5 Vai trò của trò chơi dân gian đối với sự phát triển khả năng hợp tác nhóm của trẻ 5-6 tuổi 7

2.2 Một số vấn đề về kĩ năng hợp tác nhóm 7

2.2.1 Khái niệm “hợp tác nhóm” 7

2.2.2 Đặc điểm về kỹ năng hợp tác nhóm của trẻ 5-6 tuổi 11

2.2.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến sự hình thành hợp tác nhóm của trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi 11

2.3 Một số vấn đề về hoạt động ngoài trời 15

2.3.1 Khái niệm hoạt động ngoài trời 15

2.3.2 Đặc điểm hoạt động ngoài trời 15

2.3.3 Cách tổ chức hoạt động ngoài trời 16

2.4 Đặc điểm phát triển tâm sinh lý của trẻ 5-6 tuổi 17

2.4.1 Đặc điểm phát triển tâm lý của trẻ 17

2.4.2 Đặc điểm phát triển sinh lý của trẻ 18

3 Sử dụng hệ thống trò chơi dân gian 19

3.1 Cơ sở xây dựng hệ thống trò chơi dân gian 19

3.2 Hệ thống bài tập trò chơi dân gian 20

3.2.1 Trò chơi dân gian vận động 20

3.2.2 Trò chơi trí tuệ 22

3.2.3 Trò chơi sáng tạo 25

4 KẾT LUẬN 26

TÀI LIỆU THAM KHẢO 27

PHỤ LỤC 1

Trang 2

1 Đặt vấn đề

Hiện nay thế giới đang diễn ra sự chuyển biến mạnh mẽ trên nhiều lĩnh vực củađời sống xã hội, kinh tế, văn hoá, khoa học, trong đó sự giao thoa giữa các nền vănhoá giữa các nước trong khu vực và trên thế giới là một tất yếu Đại hội Đảng VIIIkhẳng định "Văn hoá là nền tảng tinh thần xã hội, vừa là mục tiêu vừa là động lực thúcđẩy sự phát triển kinh tế xã hội, .phải nhằm xây dựng và phát triển nền văn hoá tiêntiến, đậm đà bản sắc dân tộc, xây dựng con người Việt Nam về tư tưởng, đạo đức, tâmhồn, tình cảm, lối sống, xây dựng môi trường văn hoá lành mạnh cho sự phát triển xãhội" Điều này được cụ thể hoá trong xác định mục tiêu chiến lược phát triển giáo dục

và đào tạo của nước ta trong giai đoạn hiện nay, Đảng và nhà nước khẳng định “Đưanước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển, nâng cao rõ rệt đời sống vật chất, văn hoá,tinh thần của nhân d ân, tạo nền tảng để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành mộtnước công nghiệp theo hướng hiện đại"

Giáo dục trang bị cho thế hệ trẻ một hệ thống giá trị, năng lực và khả năng phùhợp với sự phát triển của một xã hội hiện đại đồng thời đảm bảo phát huy những giá trịtruyền thống của người Việt Nam, điều này đã được khẳng định trong chiến lược xâydựng và phát triển kinh tế xã hội đồng thời là nhiệm vụ, nội dung công tác giáo dục thế

hệ trẻ trong giai đoạn hiện nay Vấn đề giáo dục năng lực, phẩm chất đạo đức của conngười mới, đặc biệt là nét văn hoá mang bản sắc dân tộc cho thế hệ trẻ trong xu thếphát triển toàn cầu hiện nay là vô cùng quan trọng, cần thiết đồng thời là sứ mạng của

sự nghiệp giáo dục và đào tạo nước nhà được khẳng định trong mục tiêu giáo dục

"đào tạo con người phát triển toàn diện, có đạo đức, trí tuệ, sức khoẻ, thẩm mĩ và nghềnghiệp, trung thành với lí tưởng độc lập dân tộc và yêu nước, lòng tự hào dân tộc, ýthức trách nhiệm, niềm tự hào về việc giữ gìn và phát huy truyền thống văn hoá dântộc, tôn vinh bản sắc văn hoá dân tộc " ngày 17/11/2008 Thủ tướng chính phủ đã raquyết định về ngày văn hoá các dân tộc Việt Nam là ngày 19/ 04 hàng năm

+ Giáo dục mầm non là cấp học đầu tiên của hệ thống giáo dục quốc dân, có vaitrò quan trọng trong việc đặt nền móng cho sự hình thành và phát triển nhân cách conngười.Giáo dục mầm non có nhà trẻ và mẫu giáo, tổ chức thực hiện việc nuôi dưỡng,chăm sóc, giáo dục trẻ em từ ba tháng tuổi đến sáu tuổi theo chương trình giáo dụcmầm non do Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành

Vấn đề mà giáo dục mầm non đang hướng tới là giúp trẻ phát triển về các mặtnhư: Thể chất, tình cảm, trí tuệ, thẩm mỹ, hình thành những yếu tố đầu tiên của nhâncách, chuẩn bị cho trẻ em vào lớp một; hình thành và phát triển ở trẻ em những chứcnăng tâm sinh lí, năng lực và phẩm chất mang tính nền tảng, những kỹ năng sống cầnthiết phù hợp với lứa tuổi, khơi dậy và phát triển tố đa những khả năng tiềm ẩn, đặtnền tảng cho việc học ở các cấp học tiếp theo và cho việc học tập suốt đời

Trang 3

Giáo dục Mầm non là bước đệm đầu tiên cho các cấp học, giúp trẻ có điều kiệnhình thành và phát tiển nhân cách cũng như trí tuệ Chính vì thế cấp học này có vai tròrất quan trọng buộc giáo dục phải quan tâm.

- Kỹ năng hợp tác có vai trò hết sức quan trọng đối với sự phát triển của conngười nói chung và trẻ em nói riêng Bởi sự phát triển của mỗi cá nhân phụ thuộc rấtnhiều vào khả năng hòa nhập cuộc sống, xã hội hóa của cá nhân đó Đối với trẻ em, kỹnăng hợp tác là điều kiện quan trọng để hình thành và phát triển toàn diện nhân cách,trí tuệ, tình cảm, ý chí, ngôn ngữ Đặc biệt khi tham gia vào các hoạt động chung thìcác hành vi xã hội của trẻ cũng được cải thiện và thử thách Mục tiêu chiến lược vềphát triển giáo dục mầm non đến năm 2020 được xác định: “Hướng tới việc đặt nềnmóng, tiền đề nhân cách con người mới phát triển toàn diện cả về thể chất, trí tuệ, tìnhcảm đạo đức- xã hội và thẩm mĩ, chuẩn bị cho trẻ vào lớp một Giáo dục mầm non tạo

ra sự khởi đầu cho sự phát triển toàn diện cho trẻ, đặt nền tảng cho việc học tập ở cácbậc học tiếp theo và việc học tập suốt đời” Để đáp ứng xu hướng phát triển của thờiđại, mục tiêu giáo dục mầm non nhấn mạnh vào việc hình thành những giá trị, kĩ năngsống cần thiết cho bản thân, gia đình và cộng đồng như: tự tin, mạnh dạn, tự lực, linhhoạt, sáng tạo, chia sẻ, hợp tác, nhân ái, hội nhập Như vậy, việc giáo dục kỹ năng hợptác cho trẻ là một trong những nhiệm vụ ngành giáo dục mầm non hiện nay đanghướng đến Có rất nhiều phương tiện để giáo dục kỹ năng hợp tác cho trẻ và trò chơidân gian là một trong những phương tiện đó Bởi thông qua trò chơi dân gian trẻ đượctiếp xúc với cuộc sống và xã hội của con người Việt Nam, giúp trẻ lĩnh hội đượcnhững kinh nghiệm lịch sử xã hội của nền văn hóa người Mặt khác, trò chơi dân gianmang tính cộng đồng rõ nét, trong khi chơi trẻ phải biết hợp tác cùng nhau để thựchiện nhiệm vụ chơi chung Đây chính là môi trường để rèn luyện kỹ năng hợp tác, tậpcho trẻ biết ứng xử và tham gia vào hoạt động cộng đồng với tư cách là con người xãhội

- Hoạt động ngoài trời là một hoạt động không thể thiếu trong chế độ sinh hoạthàng ngày của trẻ Bởi thông qua đó, tạo cơ hội cho tất cả các trẻ được tiếp xúc, gầngũi với thiên nhiên, hít thở bầu không khí trong lành, được thực hành, trải nghiệm Đồng thời trẻ được khám phá, thoả mãn trí tò mò của trẻ khi tham gia vào các trò chơidân gian

Ở độ tuổi mẫu giáo lớn (5 - 6 tuổi) đây là giai đoạn phát triển quan trọng trongcuộc đời của bé Ở giai đoạn này, trẻ đã hình thành nhận thức, phát triển các kỹ nănggiao tiếp xã hội, phát triển về mặt tư duy, trí tuệ, thể chất và nhiều kĩ năng khác Nếukhông được tham gia các hoạt động ngoài trời, sẽ ảnh hưởng không nhỏ đến tâm lý,tình cảm, kỹ năng giao tiếp của trẻ, có thể khiến trẻ mất tự tin, thiếu sự linh hoạt, khóhòa đồng… Hoạt động ngoài trời được tổ chức hằng ngày từ 10h – 10h35 phút

Trang 4

- Thực tiễn giáo dục Mầm con cho thấy, việc sử dụng trò chơi dân gian như mộtphương tiện giáo dục kỹ năng hợp tác cho trẻ hợp tác cho trẻ 5- 6 tuổi chưa được một

số trường quan tâm, quan tâm một cách sơ sài mang tính hình thức hoặc chỉ quan tâmkhi có đoàn thanh tra về khảo sát Phần lớn các trường Mầm non đều có xu hướngthiên về sử dung các trò chơi có sẵn trong chương trình khiến trẻ phải chơi đi chơi lạimột trò chơi dẫn đến nhàm chán, không hứng thú tham gia chơi Điều này hạn chế sứchấp dẫn và tính giáo dục của trò chơi dân gian đối với trẻ em Vì vậy, việc sưu tầm vàtìm ra các biện pháp để tổ chức trò chơi dân gian nhằm giáo dục kỹ năng hơp tác nhómcho trẻ mẫu giáo nói chung và trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi nói riêng là một vấn đề cần đượcquan tâm

Xuất phát từ những lý do trên, tôi quyết định chọn đề tài “Sử dụng trò chơi dân gian nhằm phát triển kỹ năng hợp tác nhóm cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi qua hoạt động ngoài trời” để nghiên cứu.

2 Lý luận chung

2.1 Một số vấn đề trò chơi dân gian của trẻ mầm non 5 - 6 tuổi

2.1.1 Khái niệm trò chơi dân gian

- Trò chơi dân gian là một hoạt động đặc thù chỉ trong xã hội loài người, được

nhân dân sáng tạo ra từ thực tiễn cuộc sống của họ, được lưu truyền tự nhiên qua nhiềuthế hệ và luôn được cải biên, bổ sung cho phù hợp với từng nơi, từng lúc, nhằm thỏamãn về nhu cầu vui chơi giải trí, giao lưu văn hóa và phát triển các mặt thể chất, tinhthần của con người

2.1.2 Đặc điểm của trò chơi dân gian

Trò chơi dân gian xưa được xem là hình thức giáo dục đơn giản giúp hình thànhnhân cách cũng như phát triển thể chất cho trẻ nhỏ, nó thường được thể hiện là hành vibắt chước của trẻ nhỏ từ các hoạt động của người lớn hay là sự truyền dạy của ngườilớn cho trẻ nhỏ Cứ như thế các trò chơi dân gian thường được lưu truyền từ thế hệ nàysang thế hệ khác như một di sản văn hóa dân tộc

Do không lệ thuộc vào hình thức lễ hội như trò chơi của người lớn nên trò chơidân gian trẻ em có những nét đặc trung cơ bản như: Trò chơi dân gian thường đơngiản, dễ chơi, phổ biến rộng rãi, không chịu sự ràng buộc một cách nghiêm ngặt về sốlượng, không gian và thời gian Dù bất cứ nơi đâu, trong gia đình, tại trường học haytrên đường làng đều có thể tổ chức được các trò chơi dân gian phù hợp Nếu sân nhànho nhỏ thì các em chơi ô ăn quan, chơi cờ, đánh chuyền, chặt cây dừa chừa cây mận,bắt ve… Nếu diện tích rộng hơn thì có thể chơi rồng rắn lên mây, đá cầu, trốn tìm, bịtmắt bắt dê… Ở những bãi cỏ lớn thì có thể tổ chức các trò cướp cờ, đánh đu, đá gà,chồng bông sen, cờ chém…Người chơi thường là những trẻ em ,túm tụm ngoài bãi cỏ,

Trang 5

ngoài sân,… ngoài việc vui đùa, rèn luyện thân thể, còn thể hiện nỗi khát khao chiếnthắng tiềm ẩn trong mỗi đứa trẻ.

2.1.3 Phân loại trò chơi dân gian

Cũng như nhiều nước trên thế giới, ở Việt Nam có nhiều trò chơi dân gian cổtruyền dành cho trẻ em Trò chơi dân gian trẻ em phong phú, không chỉ nhiều về sốlượng mà còn đa dạng về thể loại Trò chơi dân gian được phân loại như sau:

- Trò chơi vận động

Gồm các trò chơi trẻ em vận động chân tay, chạy, nhảy, gây không khí vui nhộn

và sinh động như: "Bịt mắt bắt dê", "Rồng rắn lên mây", Những trò chơi này thườngđược chơi ở ngoài trời để tiếp xúc với thiên nhiên, nhằm tăng cường sức khỏe và các

tố chất về thể lực cho trẻ

- Trò chơi trí tuệ

Đó là những trò chơi nhằm phát triển trí tuệ cho trẻ, dạy cho các cháu biết quansát, tính toán Có khi chỉ là một bài đồng dao, trẻ ngồi bên nhau cùng hát, cùng đốithoai để giới thiệu các sự vật, hiện tượng xung quanh Cách chơi này giúp cho trẻ hiểu

về con người và hiện tượng thiên nhiên xung quanh mình, tiếp thu tri thức về cuộcsống Có khi là những trò chơi bày cách tính toán như: "Ô ăn quan" giúp phát triển trítuệ cho trẻ

- Trò chơi sáng tạo

Có những đồ chơi trong đó trẻ em tự tay làm nên những đồ vật bằng vật liệu tựnhiên (xếp lá dừa thành cái chong chóng, xé lá chuối làm con cào cào, xếp cọng rơmthành hình người) Những trò chơi này giúp cho đôi bàn tay trẻ khéo léo hơn, phát huytrí tưởng tượng, óc sáng tạo, khơi dậy khiếu thẩm mỹ cần thiết cho cuộc sống và laođộng sau này

- Trò chơi mô phỏng

Là những trò chơi mà trẻ mô phỏng, bắt chước các hoạt động sinh hoạt hàngngày của người lớn như cày ruộng, nấu ăn Những trò chơi này có tác dụng phát huymạnh trí tưởng tượng của trẻ em Đối với trò chơi của trẻ thì một mẫu lá cũng được coi

là món ăn ngon, một chiếc vỏ hến cũng được coi là chiếc nồi, chiếc bát Trong tròchơi này, trẻ hóa thân ,nhập vai thành những người lớn mà trẻ thích Nhờ đó trẻ nhậpvai vào các mối quan hệ xã hội, học cách ứng xử giữa con người với nhau

2.1.4 Cách tổ chức, tiến hành trò chơi dân gian

* Một số vấn đề cần lưu ý khi tổ chức trò chơi dân gian

Khi lựa chọn các trò chơi dân gian cho trẻ mẫu giáo lớn, chúng tôi thực hiệntheo các tiêu chí sau:

- Lựa chọn các trò chơi dân gian phù hợp với lứa tuổi của trẻ

+ Trò chơi không quá đơn giản nhưng cũng không quá phức tạp

Trang 6

+ Đồ dùng đồ chơi phục vụ cho trò chơi dễ kiếm, dễ tìm.

+ Giúp củng cố tư duy, ngôn ngữ, vận động, kỹ năng cho trẻ

+ Gây được hứng thú, thu hút sự chú ý của trẻ

+ Có sự tham gia của tập thể lớp hoặc nhóm trẻ trong lớp

Từ những tiêu chí trên, chúng tôi đã lựa chọn các trò chơi sau cho trẻ lớp MGL:

“Thả đỉa ba ba”, “Ô ăn quan”, “Chuyền thẻ”, “Hát chuyền sỏi”, “Trốn tìm”, “Đếmsao”, “Kéo co”, “Rồng rắn lên mây”, “Chồng đống chồng đe”, “Trồng nụ trồng hoa”,

“Ném còn”, “Cướp cờ”…

- Chuẩn bị đồ dùng đồ chơi cho các trò chơi dân gian:

Đồ dùng đồ chơi của các trò chơi dân gian cũng vô cùng đa dạng và phong phú,mang tính đặc trưng và được thiết kế dựa vào cách chơi và luật chơi của từng trò chơi.Mỗi trò chơi dân gian có một hoặc nhiều loại đồ dùng đồ chơi tương ứng mà thiếu nóthì trò chơi không thể tiến hành được

Ví dụ như trò: “Chơi chuyền” đòi hỏi phải có 10 que chuyền và một đồ vật códạng khối cầu như quả bóng, quả bưởi non…Trò chơi “Ném còn” không thể diễn ranếu thiếu quả còn – đồ chơi truyền thống của trò chơi đó Hay đơn giản như trò chơi

“Bịt mắt bắt dê” cũng không thể được tổ chức nếu không có dải vải hoặc dải khăn bịtmắt…

Chính vì vậy, trước khi tổ chức cho trẻ chơi một trò chơi dân gian nào đó, giáoviên cần tìm hiểu kỹ lưỡng về luật chơi, cách chơi cũng như việc có hay không có đồdùng đồ chơi phục vụ cho trò chơi để từ đó có thể chuẩn bị đầy đủ các yếu tố cần thiếtcho trò chơi

- Dạy trẻ đọc thuộc lời ca (Đối với những trò chơi có lời đồng dao) Một đặc điểm đặc trưng của trò chơi dân gian đó là khi chơi trẻ không bao giờ chỉhùng hục thực hiện các vận động của mình mà chúng thường vừa chơi vừa hát hoặcđọc lời đồng dao nào đó Các bài đồng dao đó khiến cho không khí chơi vui vẻ, nhộnnhịp hơn Mặc dù không phải bài đồng dao nào cũng có ý nghĩa, song bài nào cũngphù hợp với tư duy hồn nhiên của trẻ Ví dụ như: Trò chơi “Chi chi chành chành”, trẻhát “Chi chi chành chành – Cái đanh thổi lửa – Con ngựa chết trương – Tam vươngngũ đế…” Câu hát dường như chẳng có mạch ý nào rõ ràng, nhưng thiếu nó thì tròchơi không thể tiến hành Hay như chơi “Rải ranh” trẻ hát “Rải ranh – Bẻ cành – Háingọn – Chọn đôi” Cùng với lời hát trong trẻo là bàn tay rải những viên sỏi một cáchkhéo léo, tung viên cái lên, nhặt một hoặc hai viên con dưới đất, rồi lại giơ tay đỡ viêncái vừa rơi xuống

Trò chơi chỉ có thể được tổ chức khi trẻ đã thuộc lời đồng dao Chính vì vậy, tôithường cho trẻ làm quen với lời đồng dao của các trò chơi dân gian trước khi hướngdẫn trẻ chơi vào các thời điểm trong ngày của trẻ như: hoạt động chiều, hoạt động

Trang 7

ngoài trời…Khi trẻ đã thuộc lời đồng dao, tôi tổ chức cho trẻ chơi các trò chơi tươngứng với lời đồng dao đó Vì thế, trẻ chơi rất hứng thú và tích cực tham gia chơi.

* Chuẩn bị địa điểm để tổ chức trò chơi:

Mỗi trò chơi dân gian có một cách chơi và luật chơi khác nhau Có những tròchơi vận động mang tính tập thể rất cao, thường có số lượng người tham gia chơi lớn

và đòi hỏi địa điểm chơi phải có diện tích rộng như “Kéo co”, “Rồng rắn lên mây”,

“Thả đỉa ba ba”, “Trồng nụ trồng hoa”…

Nhưng lại cũng có những trò chơi tĩnh, trẻ hay chơi theo các nhóm nhỏ như: “Chichi chành chành”, “Tập tầm vông”, “Rải ranh”, “Chuyền thẻ”, “Ô ăn quan”…Chính vì vậy, giáo viên cần nắm vững cách chơi, luật chơi, đặc điểm của từng trò chơi

để từ đó lựa chọn địa điểm cho phù hợp trước khi tổ chức cho trẻ chơi

- Tổ chức các trò chơi phù hợp với tính chất của hoạt động ngoài trời.Mỗi hoạt động của trẻ đều nhằm đạt được một mục đích nhất định Vì thế, hoạt độngnào cũng có tính chất riêng của nó Nếu như hoạt động chung được tổ chức nhằm cungcấp các kiến thức cho trẻ thì hoạt động ngoài trời lại giúp trẻ được gần gũi với thiênnhiên, khám phá các hiện tượng tự nhiên và phát triển thể chất; hay như ở hoạt độnggóc trẻ lại được mở rộng thêm về kinh nghiệm sống và kỹ năng chơi theo nhóm Chính

vì vậy, giáo viên cần chú ý lựa chọn và tổ chức các trò chơi dân gian cho phù hợp vớitính chất của từng hoạt động

Với hoạt động ngoài trời: Tận dụng không gian rộng và thoáng, giáo viên nên tổchức cho trẻ chơi các đồ chơi ngoài trời vận động nhằm rèn luyện và phát triển thể lựccho trẻ như: “Rồng rắn lên mây”, “Bịt mắt bắt dê”, “Nhảy dây”, “Nhảy lò cò”, “Thảđỉa ba ba”…

- Động viên tất cả các trẻ tham gia vào trò chơi Một ưu thế của trò chơi dân gianchính là kở chỗ nó có thể dung nạp tất cả những ai muốn chơi Không bao giờ trò chơidân gian quy định số người chơi nhất định Vì vậy tôi luôn khuyến khích, động viên tất

cả các trẻ tham gia chơi càng đông càng vui Nếu chơi ” Bịt mắt bắt dê”, mỗi khi cómột người vào thêm, vòng chỉ rộng ra một chút chứ trò chơi không thay đổi Còn tròchơi ” Rồng rắn lên mây” thì thêm một người, “Cái đuôi” sẽ dài ra một chút và tất cảmọi người đều được chơi, được chạy như nhau

* Cách tiến hành

Bước 1: Ổn định tổ chức, giới thiệu tên trò chơi, tác dụng của trò chơi

Sử dụng các thủ thuật nhằm kích thích sự chú ý của trẻ vào trò chơi

Bước 2: Phổ biến nội dung, cách chơi, luật chơi

Hướng dẫn cho trẻ cách chơi, luật chơi

Bước 3: Tổ chức cho trẻ chơi

Giáo viên quan sát, bao quát trẻ chơi, giải quyết khi xảy ra mâu thuẫn

Trang 8

Bước 4: Nhận xét quá trình chơi, kết quả chơi (Khen thưởng đội thắng, phạt vàkhích lệ đội thua).

2.1.5 Vai trò của trò chơi dân gian đối với sự phát triển khả năng hợp tác nhóm của trẻ 5-6 tuổi

Kỹ năng hợp tác nhóm có vai trò hết sức quan trọng đối với sự phát triển củacon người nói chung và trẻ em nói riêng Bởi sự phát triển của mỗi cá nhân phụ thuộcrất nhiều vào khả năng hòa nhập cuộc sống, xã hội hóa của cá nhân đó Đối với trẻ em,

kỹ năng hợp tác nhóm là điều kiện quan trọng để hình thành và phát triển toàn diệnnhân cách, trí tuệ, tình cảm, ý chí, ngôn ngữ Đặc biệt khi tham gia vào các hoạt độngchung thì các hành vi xã hội của trẻ cũng được cải thiện và thử thách Mục tiêu chiếnlược về phát triển giáo dục mầm non đến năm 2020 được xác định: “Hướng tới việcđặt nền móng, tiền đề nhân cách con người mới phát triển toàn diện cả về thể chất, trítuệ, tình cảm đạo đức- xã hội và thẩm mĩ, chuẩn bị cho trẻ vào lớp một Giáo dục mầmnon tạo ra sự khởi đầu cho sự phát triển toàn diện cho trẻ, đặt nền tảng cho việc họctập ở các bậc học tiếp theo và việc học tập suốt đời” Để đáp ứng xu hướng phát triểncủa thời đại, mục tiêu giáo dục mầm non nhấn mạnh vào việc hình thành những giá trị,

kĩ năng sống cần thiết cho bản thân, gia đình và cộng đồng như: tự tin, mạnh dạn, tựlực, linh hoạt, sáng tạo, chia sẻ, hợp tác, nhân ái, hội nhập Như vậy, việc giáo dục kỹnăng hợp tác nhóm cho trẻ là một trong những nhiệm vụ ngành giáo dục mầm nonhiện nay đang hướng đến Có rất nhiều phương tiện để giáo dục kỹ năng hợp tác nhómcho trẻ và trò chơi dân gian là một trong những phương tiện đó Bởi thông qua trò chơidân gian trẻ được tiếp xúc với cuộc sống và xã hội của con người Việt Nam, giúp trẻlĩnh hội được những kinh nghiệm lịch sử xã hội của nền văn hóa người Mặt khác, tròchơi dân gian mang tính cộng đồng rõ nét, trong khi chơi trẻ phải biết hợp tác cùngnhau để thực hiện nhiệm vụ chơi chung Đây chính là môi trường để rèn luyện kỹ nănghợp tác nhóm, tập cho trẻ biết ứng xử và tham gia vào hoạt động cộng đồng với tưcách là con người xã hội

2.2 Một số vấn đề về kĩ năng hợp tác nhóm

2.2.1 Khái niệm “hợp tác nhóm”

* Khái niệm kỹ năng

Kỹ năng là vấn đề được nhiều nhà nghiên cứu tâm lý học và giáo dục học quantâm Có rất nhiều quan điểm khác nhau về kỹ năng Tuy nhiên, qua quá trình nghiêncứu nhiều tài liệu khác nhau chúng tôi quy về hai quan điểm chính sau:

+ Quan điểm thứ nhất

Quan điểm thứ nhất xem xét kỹ năng từ gốc độ kỹ thuật của hành động, củathao tác mà ít quan tâm đến kết quả của hành động

Trang 9

- V.A Kruchetxki cho rằng: “Kỹ năng là thực hiện một hành động hay một hoạt

động nào đó nhờ sử dụng những kỹ thuật, những phương thức đúng đắn”

- A.G.Covaliop: Kỹ năng là phương thức thực hiện hành động thích hợp với

mục đích và điều kiện hành động Ở đây ông không đề cập đến kết quả của hành động.Theo ông kết quả hành động phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó quan trọng hơn cả lànăng lực của con người chứ không đơn giản là cứ nắm vững cách thức hành động thìđem lại kết quả tương ứng

- PGS Trần Trọng Thủy cho rằng: Kỹ năng là mặt kỹ thuật của hành động, conngười nắm được hành động tức là kỹ thuật hành động có kỹ năng

- PGS.TS Hà Nhật Thăng cho rằng: “Kỹ năng là kỹ thuật của hành động thểhiện các thao tác của hành động

Như vậy, theo quan điểm này kỹ năng là phương tiện thực hiện hành động phùhợp với mục đích và điều kiện hành động mà con người đã nắm vững Theo các tác giảtrên, người có kỹ năng hoạt động nào đó là người nắm được các tri thức về hoạt động

đó và thực hiện hành động theo đúng yêu cầu của nó mà không cần tính đến kết quảcủa hành động

+ Quan điểm thứ 2:

Quan điểm xem xét kỹ năng từ gốc độ không đơn thuần chỉ là mặt kỹ thuật củahành động mà còn là biểu hiện của năng lực của chủ thể hành động và nhấn mạnh đếnkết quả của hành động

- Các tác giả K.K Platonop và G.G.Golubev cho rằng: kỹ năng là năng lực củacon người thực hiện công việc có kết quả là một chất lượng cần thiết trong những điềukiện mới và trong những khoảng thời gian tương ứng

- X.I Kiêgóp cho rằng: “Kỹ năng là khả năng thực hiện có hiệu quả hệ thốngcác hành động phù hợp với các mục đích và điều kiện của hệ thống này”

- Theo P.A Ruđích: “Kỹ năng là tác động mà cơ sở của nó là sự vận dụng thực

tế của kiến thức đã tiếp thu được để đạt được kết quả trong một hình thức hoạt động cụthể”

- H.D.Levitov thì cho rằng, kỹ năng là sự thực hiện có kết quả một tác động nào

đó hay một hành động phức tạp hơn bằng cách lựa chọn và áp dụng đúng đắn các hìnhthức hành động nhằm thực hiện hành động có kết quả

- Theo TS Vũ Dũng: “Kỹ năng là năng lực vận dụng có kết quả những tri thức

về phương thức hành động đã được chủ thể lĩnh hội để thực hiện những nhiệm vụtương ứng

- Các nhà Tâm lý học Việt Nam như PGS.TS Ngô Công Hoàn, PGS.TS Nguyễn

Thị Ánh Tuyết, GS Nguyễn Quang Uẩn, Trần Quốc Thành cho rằng kỹ năng là mộtmặt năng lực của con người thực hiện một công việc có hiệu quả

Trang 10

Như vậy, hai quan điểm này tuy về hình thức diễn đạt có vẻ khác nhau nhưngthực chất chúng không hoàn toàn mâu thuẫn hay loại trừ lẫn nhau Dù theo quan điểmnào thì khi nói đến kỹ năng chúng ta đều phải quán triệt một số điểm sau:

- Mọi kỹ năng đều dựa trên cơ sơ tri thức, muốn hành động, muốn thao táctrước hết phải có kiến thức về nó dù cho tri thức có thể ẩn chứa ở nhiều dạng khácnhau

- Nói kỹ năng của con người là nói tới hành động có mục đích, tức khi hànhđộng, thao tác con người luôn hình dung kết quả đạt tới

- Để có kỹ năng con người cũng phải biết cách thực hiện hành động trongnhững điều kiện cụ thể và hành động theo quy trình với sự tập luyện nhất định

- Kỹ năng liên quan mật thiết đến năng lực của con người Nó là biểu hiện cụthể của năng lực

Từ phân tích trên kỹ năng có thể hiểu như sau:

Kỹ năng là khả năng thực hiện có kết quả một hành động, công việc nào đó trên cơ

sở nắm vững phương thức thực hiện và vận dụng những tri thức, kinh nghiệm đã có phù hợp với những điều kiện nhất định Như vậy, kỹ năng không chỉ đơn thuần là mặt kỹ thuật

hành động mà nó còn là biểu hiện của năng lực cá nhân

* Khái niệm hợp tác

Nhân cách là tổng hòa các phẩm chất tâm lý của cá nhân được hình thành vàphát triển trong mối quan hệ xã hội Nhân cách được hình thành bằng hoạt động, nhờhoạt động hệ thống xã hội Con người không thể sống ngoài xã hội mà phải dựa vàonhau, phải phối hợp với nhau để cùng tồn tại và phát triển thành con người xã hội.Theo C.Mác “Sự phát triển của cá thể phụ thuộc vào sự phát triển của nhiều cá thểkhác mà nó đã giao tiếp trực tiếp hay gián tiếp” Thông qua giao tiếp với người khác

mà con người trưởng thành, xem xét mình qua thái độ để đánh giá họ và để điều chỉnhhành vi tương ứng Mặt khác, con nguời không chỉ phụ thuộc chịu ảnh hưởng trongmối quan hệ xã hội mà còn tác động trở lại đến mối quan hệ xã hội, giúp nó trở nênsinh động và phong phú hơn C.Mác cũng chỉ cho chúng ta thấy: “Sự hợp tác của conngười trong mối quan hệ xã hội không phải dấu cộng về số lượng mà nhờ sự hợp táctạo nên một sức lao động chiến đấu có hiệu quả Sức mạnh của con người cũng chính

là xã hội mà ở đó hợp tác với nhau trong cuộc sống để tồn tại và phát triển

Như vậy, bất kỳ mỗi một cá nhân nào cũng có một nhóm xã hội là do xã hộiquy định và có vị trí nhất định trong nhóm Trong nhóm xã hội, mỗi cá nhân đều cómối liên hệ lẫn nhau và có vai trò của cá nhân trong đó nhóm xã hội là do xã hội quyếtđịnh một cách khác quan Các cá nhân phải thực hiện vai trò đó theo chức năng củamình trong sự hợp tác với người khác Vì thế, vai trò của xã hội tạo thành vai trò của

cá nhân cụ thể

Trang 11

Trong các mối quan hệ xã hội, mỗi cá nhân đều có sự lệ thuộc lẫn nhau Mỗingười đều cần người khác để thực hiện mục đích của mình Sự tham gia như là sự tìmkiếm mối liên hệ với người khác mà trong đó sự hợp tác là cơ chế chính của sự thamgia giai đoạn này Theo quan niệm chung hợp tác là chung sức giúp đỡ nhau trong mộtcông việc, một lĩnh vực nào đó nhằm đặt mục đích chung

Theo C.Mác định nghĩa: Hình thức lao động của nhiều người làm việc bênnhau, với nhau trong cùng một quá trình sản xuất hay trong các quá trình sản xuất khácnhau, nhưng liền với nhau theo kế hoạch gọi là hợp tác Theo nghiên cứu của nhiều

nhà khoa học, việc tiếp thu khái niệm “Hợp tác” của kinh tế học đã dẫn đến “tương tác

xã hội” trong tâm lý học, nghĩa là “Sự tác động qua lại ít nhất là hai cá nhân trong mộthoạt động bất kỳ nào đó thuộc một hoạt động trong cuộc sống diễn ra trong hệ quachiều không gian, thời gian chung”

Dựa trên kết quả phân tích trên chúng tôi thấy rằng hợp tác có thể hiểu như sau:

Hợp tác là quá trình tương tác xã hội, trong đó con người chung sức hỗ trợ, giúp đỡ lẫn nhau trong một công việc nào đó nhằm đạt được mục đích chung.

* Khái niệm kỹ năng hợp tác

Dựa trên sự phân tích khái niệm “Kỹ năng” và “Hợp tác” chúng tôi xác định kỹnăng hợp tác như sau:

Kỹ năng hợp tác là khả năng tương tác cùng thực hiện có hiệu quả một hành động, một công việc nào đó của con người dựa trên những tri thức và vốn kinh nghiệm

đã có trong điều kiện nhất định.

Từ khái niệm “Kỹ năng hợp tác”, chúng tôi đưa ra khái niệm về kỹ năng hợptác của trẻ mầm non như sau:

Kỹ năng hợp tác của trẻ mầm non là khả năng tương tác cùng thực hiện hiệu quả một hành động, một công việc nào của trẻ dựa trên những tri thức và vốn kinh nghiệm đã có trong điều kiện nhất định.

Qua sự phân tích trên, một cách trực quan chúng tôi có thể quy kỹ năng hợp tác

về những hành động, hành vi quan sát được Những kỹ năng hợp tác được biểu hiệnthành hành vi quan sát/kiếm soát được cần hình thành cho trẻ em chúng tôi sẽ đưa ra ởchương sau

* Khái niệm nhóm

Nhóm là một tập thể từ hai người trở lên với những khả năng, năng lực, kinhnghiệm và nền tảng giáo dục khác nhau cùng đến với nhau vì mục đích chung Bêncạnh sự khác biệt của mỗi cá nhân, mục tiêu chung ấy mang lại sợi chỉ xuyên suốtkhẳng định họ là một nhóm

Trang 12

* Hợp tác nhóm

Hợp tác nhóm chính là một tập thể từ hai người trở lên với những khả năng, nănglực, kinh nghiệm khác nhau cùng kết hợp lại, phân chia công việc, giúp đỡ lẫn nhau,phối hợp với nhau tạo nên sức mạnh trí tuệ, tinh thần, thể chất để cùng vượt qua khókhăn, đem lại kết quả cao hơn trong công việc chung

2.2.2 Đặc điểm về kỹ năng hợp tác nhóm của trẻ 5-6 tuổi

Đối với trẻ 5 – 6 tuổi, các kỹ năng hợp tác nhóm được thể hiện rất rõ trong tất

cả các hoạt động của trẻ Trẻ đã biết quan tâm đến hành động của bạn, bắt đầu biếtđiều chỉnh các hành động của mình phù hợp với yêu cầu chung của nhóm, khi có mâuthuẫn xảy ra trẻ cũng đã biết tìm cách giải quyết để tiếp tục thực hiện nhiệm vụ nhậnthức Ở tuổi này, ý thức về bản thân của trẻ đã được phát triển, bước đầu có khả năng

tự khẳng định mình trong tập thể Ý thức tập thể của trẻ cũng đang được hình thành,trẻ đã biết cùng hành động với nhau, đặc biệt trẻ đã biết đưa ra các nhận xét, ý kiến vềhành động cùng như kết quả hoạt động của chính mình và các bạn trong lớp

Với những nội dung và nhiệm vụ nhận thức, cách thức tổ chức, cách đánhgiá mới, là cơ hội để giúp trẻ duy trì hoạt động và thúc đẩy trẻ hợp tác với nhau bềnvững và hiệu quả hơn Ở lứa tuổi này sự trao đổi, thoả thuận và thiết lập các mốiquan hệ giữa các thành viên trong nhóm hoạt động đã trở nên thành thục, sự phốihợp hành động cùng trở nên nhịp nhàng hơn Trẻ đã biết cùng nhau phân chianhiệm vụ cho từng thành viên trong nhóm

Như vậy, sự hợp tác của trẻ mẫu giáo được phát triển không chỉ phụ thuộc vàolứa tuổi mà còn phụ thuộc rất nhiều vào cách thức tổ chức, hướng dẫn của người lớn.Nếu như người lớn chúng ta không quan tâm, không tạo điều kiện, cơ hội cho trẻ thamgia vào các hoạt động chung của tập thể với những nội dung, cách thức, phương pháphấp dẫn thì sự hình thành và phát triển các kỹ năng hợp tác của trẻ sẽ bị hạn chế

Hợp tác nhóm là một trong những kỹ năng rất cần thiết cho con người mới, đó

là một trong những tiêu chí để đánh giá sự phát triển toàn diện nhân cách của một conngười Vì vậy, ngay từ lứa tuổi mầm non, chúng ta cần phải quan tâm đến việc kíchthích nhu cầu và hình thành kỹ năng hợp tác cho trẻ

2.2.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến sự hình thành hợp tác nhóm của trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi

* Sự trưởng thành của bản thân trẻ

Sự lớn lên và phát triển của trẻ là một quá trình diễn ra liên tục theo một trình

tự và quy luật định sẵn Những thay đổi trong quá trình trưởng thành của trẻ ở lứa tuổiMGL cho phép trẻ giải quyết những tình huống phức tạp hơn Thông qua các hoạtđộng hàng ngày trẻ tiếp tục được phát triển những kỹ năng cần thiết: kỹ năng vậnđộng, kỹ năng tự phục vụ, kỹ năng hợp tác cùng chung sống Những bước tiến trong

Trang 13

sự phát triển của cơ thể giúp cho trẻ trở nên độc lập, mạnh dạn và dễ dàng hoà nhậpvào cuộc sống cộng đồng hơn.

Trẻ càng lớn thì môi trường hoạt động của trẻ càng được mở rộng, trẻ không chỉtiếp xúc với những người thân trong gia đình mà còn được tham gia vào các hoạt động

xã hội khác nhau, có nhiều cơ hội để tiếp xúc với những nguời xung quanh, đặc biệt làđược chơi, hoạt động với bạn Trong quá trình tham gia vào các hoạt động xã hội khácnhau thì vốn kinh nghiệm của trẻ cũng được tăng lên, đồng thời trẻ cũng trở nên mạnhdạn, tự tin hơn

Các nhà tâm lý học cho rằng, sự tự ý thức về bản thân đóng vai trò điều chỉnh,điều kiện quan trọng trong hành vi của con nguời Nó quyết định đến thái độ của cánhân đối với bản thân và những người xung quanh Khi trẻ biết tự ý thức về bản thânthì trẻ không chỉ có khả năng tự đánh giá bản thân mà còn biết đánh giá người khác đểnhận thức được cái đúng cái sai, cái hay cái dở Từ đó, trẻ biết điều chỉnh hành vi củamình cho phù hợp với những quy tắc và yêu cầu chung Như vậy, trẻ càng có nhiều cơhội được trải nghiệm xã hội thì càng có nhiều khả năng hợp tác

* Hứng thú đối với công việc chung

Hứng thú là một thái độ đặc thù của cá nhân đối với đối tượng, công việc nào

đó, do ý nghĩa của nó trong đời sống và do sự hấp dẫn tình cảm của chính nó Hứngthú có vai trò hết sức quan trọng trong đời sống hoạt động của con người Con ngườicảm thấy sống đầy đủ và hạnh phúc khi họ có hứng thú Hứng thú sẽ tác động làm conngười trở nên tích cực hơn, gần gũi, thân thiện với nhau hơn Công việc nào phù hợpvới hứng thú thì được hình thành và phát triển một cách rõ ràng và có hiệu quả

- Hứng thú với công việc chung có ảnh hưởng rất lớn đến sự hợp tác của trẻ, bởikhi có hứng thú thì trẻ sẽ hợp tác với nhau dễ dàng hơn Hứng thú với công việc chungcàng cao thì trẻ càng hợp tác với nhau Trong hoạt động chung nếu thiếu hứng thú thì mốiquan hệ hợp tác của trẻ sẽ lỏng lẻo, không bền vững và việc hình thành kỹ năng hợp táccho trẻ cũng sẽ gặp rất nhiều khó khăn

- Hứng thú với công việc chung như là một sự thúc đẩy bên trong làm biến đổi

một cách đáng kể mối quan hệ giữa các trẻ với nhau, trẻ trở nên thân thiện, dễ đồng

cảm và dễ chia sẻ với nhau hơn Đồng thời, hứng thú sẽ làm giảm sự cằng thẳng, mệtnhọc và nó mở ra con đường dẫn tới sự hợp tác, nó giúp cho trẻ tham gia vào hoạtđộng hợp tác một cách thoải mái, say mê và hiệu quả hơn Thậm chí, hứng thú với

công việc chung có thể làm thay đổi cả kết quả hoạt động của trẻ

- Quá trình hoạt động khám phá giáo viên có thể hình thành, duy trì, điều khiểnđược hứng thú với công việc chung mọi lúc bằng việc xây dựng mục tiêu, nội dung,phương pháp, biện pháp, phương tiện dạy học phù hợp cho từng hoạt động

Trang 14

- Hứng thú thường biểu hiện một cách chủ quan của các trạng thái xúc cảm của

cá thể trong quá trình tổ chức trò chơi dân gian, khi hứng thú với công việc chung đạtđến cao độ sẽ tạo thành niềm đam mê, biểu hiện như một nhu cầu hoạt động do chínhhứng thú tạo nên Đây là một trong những yếu tố có ảnh hưởng lớn đến sự hợp tác củatrẻ trong tất cả các hoạt động chung

* Môi trường giáo dục

Môi trường giáo dục là những điều kiện cần thiết như: nhà giáo dục, gia đình,

cơ sở vật chất…để tác động đến trẻ nhằm đặt được mục đích giáo dục Môi trườnggiáo dục có vai trò hết sức quan trọng đối với quá trình hình thành và phát triển toàndiện nhân cách cho trẻ nói chung và kỹ năng hợp tác cho trẻ nói riêng

Sự hợp tác xuất phát từ gia đình, trong đó bố mẹ có ảnh hưởng rất lớn đến trẻ.Theo thống kê của nhiều nhà giáo dục: Nếu trong gia đình, người lớn biết quan tâm tạođiều kiện cho trẻ được tham gia vào các hoạt động xã hội và luôn xem trẻ như mộtthành viên thực thụ của gia đình, đối xử với trẻ một cách bình đẳng, cho phép trẻ đượcnói lên ý kiến của mình về các vấn đề có liên quan đến trẻ, luôn lắng nghe và tôn trọngtrẻ thì sẽ tạo cho trẻ có cảm giác mình được tin tưởng, mình có giá trị với tư cách làmột thành viên của gia đình Từ đó trẻ rất tự tin, mạnh dạn và dễ dàng hoà nhập vàocác mối quan hệ xã hội

Trẻ nhỏ học cách hợp tác qua việc quan sát người lớn xung quanh chúng nhưcho trẻ thấy sự hợp tác bằng cách làm mẫu Vì vậy, bố mẹ hãy tập trung việc của mìnhthay vì tạo ra sự cạnh tranh bằng sự hợp tác Sự tác động của bố mẹ sẽ phát huy cao độ

và triệt để những điều kiện bên trong, giúp trẻ dễ dàng hoà nhập vào cuộc sống xã hộisau này

Trường mầm non là gia đình thứ hai của trẻ, ở đó trẻ có cô giáo, có rất nhiềubạn và có không gian, thời gian để hoạt động khám phá thế giới bí ẩn xung quanh Tất

cả những hành động của cô giáo, các bạn đều có tác động rất lớn đều phát triển toàndiện nhân cách của trẻ nói chung và quá trình hình thành kỹ năng hợp tác của trẻ nóriêng Vì vậy, để thúc đẩy trẻ hợp tác với nhau, cô giáo cần làm mẫu hợp tác cho trẻhọc theo và tạo cho trẻ cảm giác ấm áp, an toàn, được tôn trọng, được đối xử bìnhđẳng như đang ở gia đình mình Đồng thời, cho phép trẻ được cùng bạn giải quyết vấn

đề theo cách riêng của mình và phải tôn trọng ý kiến của trẻ, dù đó là ý kiến chưađúng

Không gian lớp học cũng có ảnh hướng rất lớn đến sự hợp tác của trẻ Vì vậy,nơi hoạt động của trẻ cần được chia thành các diện tích nhỏ có độ cách biệt tương đối

để trẻ có thể hoạt động tập trung mà không bị ảnh hưởng phân tán sự chú ý, suy nghĩbởi các nhóm khác Các giá đựng đồ dùng phục vụ cho hoạt động của trẻ cần để vừa

Trang 15

và ở trạng thái mở để có thể khuyến khích trẻ sử dụng phù hợp với ý tưởng và cáchlàm của nhóm mình.

Như vậy, môi trường giáo dục có hưởng rất lớn đến sự hình thành kỹ năng hợptác của trẻ nhỏ, người lớn có thể giúp trẻ học cách không bạo lực để làm được điềumình muốn qua việc thực hiện nghệ thuật “đàm phán, thoả hiệp ngay chính trong môitrường sống của trẻ Chính sự đàm phán, thoả hiệp đã giúp trẻ có sự mặc cả với nhau

và cùng hợp tác

* Quy mô nhóm

Hợp tác là một kỹ năng là một trong những kỹ năng sống quan trọng, nó giúpcho trẻ giải quyết các vấn đề một cách nhanh chóng và hợp lý Qua quá trình nghiêncứu, nhiều nhà khoa học đã chứng minh trẻ chỉ hợp tác khi được hoạt động trongnhóm và quy mô nhóm lại có ảnh hưởng đến sự hình thành kỹ năng hợp tác của trẻ.Quy mô nhóm đã tạo cho trẻ các tuyến quan hệ giao tiếp và công việc giữa các cánhân Quy mô nhóm cũng tạo ra môi trường và tình huống xã hội hoá trong học tập.Đồng thời, quy mô nhóm đã tạo điều kiện thuận lợi thúc đẩy trẻ hợp tác trong các mốiquan hệ giữa các học sinh như: thi đua, cạnh tranh, chia sẻ, đoàn kết, đấu tranh, phêbình và tự phê bình, đánh giá và tự đánh giá

TS Trần Lan Hương cho rằng, hoạt động hợp tác là những hành động cần có ítnhất một người bạn Nếu nhóm quá nhỏ (2 thành viên) thì trẻ sẽ có được ít cơ hội trẻtrao đổi ý kiến và tham khảo ý tưởng của nhiều người Nếu quy mô nhóm quá lớn sẽlàm cho các mối quan hệ của trẻ trong nhóm trở nên quá phức tạp đối với trẻ Và nhưvậy các mối quan hệ cũng trở nên lộn xộn và phức tạp hơn, trẻ sẽ gặp rất nhiều khókhăn khi thảo luận, đàm phán, xây dựng kế hoạch, phân công nhiệm vụ và thống nhấttrong công việc

Theo nghiên cứu của TS Đặng Thành Hưng sự hợp tác của trẻ có hiệu quả nhấtkhi trẻ được hoạt động trong nhóm nhỏ từ 3 đến 6 trẻ

Dựa trên quan điểm của TS Đặng Thành Hưng, để hình thành kỹ năng hợp táccho trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi qua trò chơi dân gian, chúng tôi sẽ tổ chức hoạt động hợptác cho trẻ theo nhóm nhỏ từ 3 đến 6 trẻ

* Yếu tố thi đua

Việc thành kỹ năng hợp tác cho trẻ chỉ mang lại hiệu quả khi trẻ được khuyếnkhích cùng nhau trao đổi, đàm phán, thoả thuận, chia sẻ kinh nghiệm để cùng bạn trảinghiệm khi tham gia vào trò chơi dân gian

Không khí lớp học là rất quan trọng đối với tâm trạng của trẻ trong mối quan hệđối với việc học Sự tự tin phát triển tốt khi tất cả sự khác biệt của cá nhân được tôntrọng và chấp nhận Các em phải hiểu được rõ cô giáo muốn gì ở cả lớp, ở các hành vi

Trang 16

và ở các mối quan hệ của trẻ Đồng thời, cô giáo phải thừa nhận sự nỗ lực, sự đónggóp tích cực của trẻ vào trong các hoạt động của lớp.

Việc thi đua với bạn khác để hoàn thành một sản phẩm giống nhau sẽ gây ra sựchán nản, thất vọng nhiều ở trẻ Trong trò chơi dân gian, trẻ có thể thi đua để làm ranhững sản phẩm khác nhau hoặc các sản phẩm thay thế phù hợp bằng nhiều cách khácnhau mà không có sự thất vọng chán nản vì những tình huống xảy ra cho phép nhiềusản phẩm ở mức độ khác nhau Giáo viên có thể cung cấp cho trẻ cơ hội để trẻ có thểvừa tạo ra sản phẩm như hướng dẫn của cô giáo vừa làm theo cách sáng tạo riêng củamình Trong lớp học, khi trẻ được kích thích tự đánh giá về thành quả của mình đã đạtđược, chúng sẽ phát triển được cảm giác thi đua lành mạnh với chính thành quả củamình

Việc tổ chức thi đua không phải là để xem ai nhanh hơn, mạnh hơn, ai làmđược nhiều sản phẩm hơn, ai thắng ai thua mà thi đua ở đây là để tìm ra ai tạo ra nhiềusản phẩm sáng tạo bằng nhiều cách thức khác nhau Trò chơi dân gian nếu giáo viênbiết tổ chức cho trẻ thi đua lành mạnh, công bằng, dân chủ với các bạn trong nhóm/lớp thì sẽ kích thích ở trẻ hứng thú học tập và giúp trẻ hợp tác với nhau chặt chẽ vàbền vững hơn

2.3 Một số vấn đề về hoạt động ngoài trời

2.3.1 Khái niệm hoạt động ngoài trời

Hoạt động ngoài trời là hoạt động được tổ chức cho trẻ vui chơi, tham quan ngoàitrời, nhằm tạo điều kiện cho trẻ được tiếp xúc thường xuyên với môi trường tự nhiên,qua đó giúp trẻ thỏa mãn nhu cầu vận động, nhu cầu được tìm tòi, khám phá

Hoạt động ngoài trời rất tốt đối với sức khỏe và việc học tập vui chơi của trẻ lànhu cầu không thể thiếu được đối với trẻ mẫu giáo trong trường mầm non Nó manglại cho trẻ không khí trong lành, trẻ được tắm nắng ban mai, thỏa mãn nhu cầu vậnđộng, tiếp cận thông tin, khám phá sự vật hiện tượng thiên nhiên, xã hội dưới sựhướng dẩn của cô giáo

2.3.2 Đặc điểm hoạt động ngoài trời

- Khi tham gia hoạt động ngoài trời trẻ được thay đổi môi trường hoạt động,trẻ được tiếp xúc với thiên nhiên, được trực tiếp quan sát những hoạt động của xãhội, khám phá những điều mới lạ qua các hoạt động như: Quan sát hiện tượng thiênnhiên, môi trường sống của các sự vật, tiếp xúc với nước, cát, sỏi, nhặt lá cây cùng côlàm những đồ chơi đơn giản, chăm sóc vật nuôi, cây trồng của lớp của trường …

- Điều này được thể hiện qua nhận thức của trẻ, trẻ tò mò ham hiểu biết, mạnhdạn nêu lên những gì trẻ đã được trải nghiệm, trẻ thường nêu lên những câu hỏi phứctạp, số lượng câu hỏi nhiều hơn về các sự vật, hiện tượng theo từng chủ đề mà trẻ cầnkhám phá

Ngày đăng: 21/10/2016, 09:56

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1]. Đào Thanh Âm (Chủ biên), Trịnh Dân, Nguyễn Thị Hòa, Đinh Văn Vang (1997), Giáo dục mầm non, tập 1,2,3, NXB Đại học Sư phạm quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục mầm non
Tác giả: Đào Thanh Âm (Chủ biên), Trịnh Dân, Nguyễn Thị Hòa, Đinh Văn Vang
Nhà XB: NXB Đại học Sư phạm quốc gia Hà Nội
Năm: 1997
[2]. Trần Hòa Bình, Bùi Lương Việt (5 - 2009), Trò chơi dân gian trẻ em , NXB Giáo dục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trò chơi dân gian trẻ em
Nhà XB: NXB Giáodục Việt Nam
[3]. Nguyễn Ngọc Chúc (1982), Hướng dẫn tổ chức hoạt động vui chơi, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn tổ chức hoạt động vui chơi
Tác giả: Nguyễn Ngọc Chúc
Nhà XB: NXB Giáodục
Năm: 1982
[4]. Nguyễn Thị Hương Giang (2010), Biện pháp tổ chức trò chơi dân gian nhằm giáo dục kĩ năng hợp tác cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi dân tộc H'Mông, luận văn Thạc sĩ khoa học giáo dục mầm non, trường Đại học Sư phạm Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Biện pháp tổ chức trò chơi dân gian nhằmgiáo dục kĩ năng hợp tác cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi dân tộc H'Mông
Tác giả: Nguyễn Thị Hương Giang
Năm: 2010
[5]. Nguyễn Thị Hồng (2008), 150 trò chơi dân gian Việt Nam, NXB Lao động - Xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: 150 trò chơi dân gian Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Thị Hồng
Nhà XB: NXB Lao động - Xãhội
Năm: 2008
[6]. Tiêu Kiều (5 - 2000), Trò chơi dân gian của thiếu nhi, NXB Trẻ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trò chơi dân gian của thiếu nhi
Nhà XB: NXB Trẻ
[7]. Nguyễn Ánh Tuyết (2006), Tâm lý học trẻ em (tập 2), NXB Đại học Sư phạm.[8]. www.Mamnon .com Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lý học trẻ em (tập 2)
Tác giả: Nguyễn Ánh Tuyết
Nhà XB: NXB Đại học Sư phạm.[8]. www.Mamnon .com
Năm: 2006

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w