Đảng và Nhà nước Việt Nam tiếp tục thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, rộng mở, đa dạng hoá, đa phương hoá quan hệ quốc tế, chủ động hội nhập quốc tế với phương châm “Việt Nam
Trang 1MỤC LỤC
TÓM TẮT 2
MỞ ĐẦU 3
NỘI DUNG 5
CHƯƠNG 1: TÌNH HÌNH VIỆT NAM SAU CÁCH MẠNG 5
THÁNG TÁM 1945 5
1.1 Thắng lợi của Tổng khởi nghĩa tháng Tám 1945 và sự ra đời của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa 5
1.2 Những thuận lợi và khó khăn của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa sau cách mạng tháng Tám 1945 7
1.2.1 Thuận lợi 7
1.2.2 Khó khăn 7
CHƯƠNG 2: CHÍNH SÁCH NGOẠI GIAO CƠ BẢN CỦA VIỆT NAM SAU CÁCH MẠNG THÁNG TÁM 1945 ĐẾN 19/12/1946 8
2.1 Ngoại giao hòa hoãn với Tưởng 8
2.1.1 Nguyên nhân: 8
2.1.2 Nội dung 9
2.2.1 Tình thế mới 12
2.2.2 Hiệp định sơ bộ 6/3/1946 Hòa để tiến 14
C KẾT LUẬN 19
TÀI LIỆU THAM KHẢO 20
Trang 2TÓM TẮT
Sau khi cách mạng tháng Tám 1945 thành công, Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời Từ đó cho đến 19/12/1946 là một giai đoạn lịch sử đặc biệt của dân tộc ta Đất nước vừa giành độc lập, chính quyền cách mạng vừa mới thành lập còn non trẻ và thiếu kinh nghiệm ngay lập tức đã phải đối phó với nhiều thử thách nghiêm trọng, đặc biệt là giặc ngoại xâm.
Để bảo vệ chính quyền trong điều kiện có nhiều kẻ thù cùng một lúc như kì 1946-1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta đã có một đường lối đối ngoại đúng đắn, đánh giá từng loại kẻ thù trong từng thời điểm để có thể đưa ra những đối sách thích hợp, loại dần từng kẻ thù một, cuối cùng tập trung mũi nhọn vào kẻ thù chủ yếu tránh không để bị rơi vào tình trạng phải đối phó với nhiều kẻ thù cùng một lúc.
Trang 3MỞ ĐẦU
Hiện nay, xu thế chung mà các quốc gia trên thế giới hướng tới là sự hòa bình, hợp tác và phát triển Các quốc gia ngày càng có nhiều mối quan hệ về kinh tế, chính trị, xã hội Để những mối quan hệ này trở nên tốt đẹp, bền vững, mỗi quốc gia cần có quan hệ ngoại giao tốt với các quốc gia khác trong khu vực
và trên thế giới
Việt Nam, sau 20 năm đổi mới, đang có lợi thế rất lớn là tình hình chính trị,
xã hội cơ bản ổn định nhưng chúng ta cũng đang phải đối mặt với nhiều thách thức rất lớn Đảng và Nhà nước Việt Nam tiếp tục thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, rộng mở, đa dạng hoá, đa phương hoá quan hệ quốc tế, chủ động hội nhập quốc tế với phương châm “Việt Nam sẵn sàng là bạn và là đối tác tin cậy của tất cả các nước trong cộng đồng thế giới phấn đấu vì hoà bình, độc lập
và phát triển.” Những phương châm, đường lối đối ngoại của ta bắt đầu cùng với
sự hình thành của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Đến nay, những chính sách đó vẫn là những công cụ sắc bén giúp Việt Nam bảo vệ độc lập chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, phát triển về các mặt: kinh tế, văn hóa, xã hội
Tìm hiểu về chính sách đối ngoại của Việt Nam giúp ta hiểu rõ về hoạt động ngoại giao của nước nhà Từ đó, ta rút ra được những kinh nghiệm quý báu
để vận dụng, sáng tạo góp phần phát triển đất nước Đồng thời, những kiến thức
mà ta thu được qua tìm hiểu các chính sách ngoại giao, hoạt động ngoại giao cũng giúp ích cho ta trong việc ứng xử, trong công việc hàng ngày
Trong hơn 70 năm lịch sử ngoại giao cách mạng thì giai đoạn 2/9/1945 đến ngày 19/12/1946 là giai đoạn ngành ngoại giao mới thành lập Ngành ngoại giao cách mạng còn non trẻ này phải gánh vác một sứ mạnh lịch sử hết sức to lớn và nặng nề Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Đông Dương, nay là Đảng cộng sản Việt Nam và lãnh tụ Hồ Chí Minh, ngoại giao Việt Nam đã thực hiện những sách lược hết sức đúng đắn, khôn khéo vừa kiên quyết vừa linh hoạt: lúc hoà với Tưởng, tập trung sức chống Pháp xâm lược ở miền Nam, rồi hoà với Pháp với việc ký kết Hiệp định sơ bộ ngày 6/3/1946 để đuổi Tưởng về nước, góp phần giữ vững Nhà nước độc lập non trẻ Ngoại giao Việt Nam 1945-1946 lúc này
Trang 4phải phát huy hết khả năng để giữ vững độc lập, chủ quyền và đưa đất nước đi lên Đây là thời kì mà ngoại giao Việt Nam được thể hiện rất rõ nét với những mục tiêu và nhiệm vụ cụ thể Vì những lý do trên đây, chúng tôi đã chọn đề tài:
“Sách lược ngoại giao của Việt Nam sau cách mạng tháng Tám 1945 – 19/12/1946” làm vấn đề nghiên cứu của mình.
Trang 5NỘI DUNG CHƯƠNG 1: TÌNH HÌNH VIỆT NAM SAU CÁCH MẠNG
THÁNG TÁM 1945 1.1 Thắng lợi của Tổng khởi nghĩa tháng Tám 1945 và sự ra đời của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa
a Nguyên nhân bùng nổ Tổng khởi nghĩa tháng Tám
Từ giữa năm 1944, tình hình thế giới và trong nước phát triển gấp rút có lợi cho cách mạng Cuộc chiến tranh chống phát xít bước vào giai đoạn kết thúc, quân đội Liên Xô phản công quân Đức trên nhiều mặt trận và đẩy lùi chúng ra khỏi biên giới Quân Nhật thua đậm ở mặt trận Châu Á Thái Bình Dương
Ngày 7/5/1944, Tổng bộ Việt Minh ra chỉ thị cho các cấp sửa soạn khởi nghĩa và kêu gọi nhân dân “sắm vũ khí đuổi thù chung”
Vào đầu năm 1945, cuộc chiến tranh thế giới bước vào giao đoạn kết thúc Trên chiến trường Châu Âu, phát xít Đức đã bị quét sạch khỏi lãnh thổ Liên Xô, thủ đô Béc lin sắp thất thủ Ở mặt trận Thái Bình Dương, phát xít Nhật cũng khốn đốn Thực dân Pháp ở Đông Dương đang nhân cơ hội đó để ngóc đầu dậy, chúng ráo riết hoạt động, đợi khi quân đồng minh kéo vào Đông Dương đánh Nhật sẽ nổi dậy hưởng ứng để giành lại địa vị thống trị cũ Mâu thuẫn đối kháng giữa Nhật và Pháp ở Đông Dương trở nên gay gắt
Vào ngày 9/3/1945, Nhật đảo chính Pháp Đang lúc Nhật đảo chính Pháp, Ban thường vụ Trung ương Đảng họp tại làng Đình Bảng (Từ Sơn, Bắc Ninh) Vào ngày 12/3/1945, Ban thường vụ Trung ương ra chỉ thị “Nhật-Pháp bắn nhau
và hành động của chúng ta”
b.Tổng khởi nghĩa tháng Tám thành công
Trước sự chuyển biến mau lẹ, ngay khi nghe tin chính phủ Nhật đầu hàng
từ ngày 13 đến 15/8/1945, Hội nghị toàn quốc của Đảng Cộng sản Đông Dương họp tại Tân Trào quyết định phát động Tổng khởi nghĩa trong cả nước
Khởi nghĩa đã nổ ra ở nhiều xã huyện thuộc các tỉnh châu thổ sông Hồng, Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Thừa Thiên Huế, Khánh Hòa Ngày 18/8 nhân dân Bắc Giang, Hà Tĩnh, Quảng Nam đã giành chính quyền ở tỉnh lị
Trang 6Ở Hà Nội, Ủy ban đã quyết định khởi nghĩa giành chính quyền vào ngày 19/8 Ngày 18/8 cờ đỏ sao vàng đã xuất hiện trên các đường phố ở Hà Nội Tối ngày 19/8, cuộc khởi nghĩa giành chính quyền ở Hà nội giành thắng lợi
Ở Huế, ngày 20/8 Ủy ban khởi nghĩa tỉnh được thành lập Ủy ban quyết định giành chính quyền vào ngày 23/8 Hàng vạn nhân dân nổi dậy kéo nhau biểu tình thị uy chiếm các công sở Chính quyền thuộc về nhân dân
Ở Sài Gòn, xứ ủy Nam kì quyết định khởi nghĩa vào ngày 25/8 Sáng 25/8 các công nhân nông dân các tỉnh Gia Định, Biên hòa, Thủ Dầu Một…kéo nhau
về thành phố Quần chúng chiếm Sở mật thám, sở cảnh sát, nhà ga, bưu điện… giành chính quyền ở Sài Gòn
Thắng lợi của các cuộc khởi nghĩa ở Hà Nội, Huế, Sài Gòn đã có tác dụng
vô cùng quan trọng và có ý nghĩa quyết định tới thắng lợi của Cách mạng tháng Tám trong phạm vi cả nước
Ngày 2/9/1945, tại quảng trường Ba Đình lịch sử, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đọc Bản Tuyên nguyên độc lập, tuyên bố với nhân dân trong cả nước và các quốc gia trên thế giới biết rằng nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã ra đời, có chủ quyền như các quốc gia dân tộc khác
c Ý nghĩa thắng lợi của Tổng khởi nghĩa tháng Tám
Cách mạng tháng Tám là cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân do giai cấp công nhân lãnh đạo trong đó nổi bật lên tính chất giải phóng dân tộc, đó là cuộc cách mạng biểu hiện tinh thần chủ động sáng tạo biết tranh thủ thời cơ, tự mình đứng lên giải phóng cho mình
Cách mạng tháng Tám 1945 thắng lợi đã đánh dấu bước ngoặt lịch sử vĩ đại của cách mạng Việt Nam, chấm dứt hơn 80 năm thống trị của thực dân Pháp
và lật đổ chế độ phong kiến tồn tại hơn một ngàn năm trên đất nước ta khai sinh
ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa
Cách mạng tháng Tám đã phát huy truyền thống kiên cường bất khuất, anh dũng sáng tạo và đoàn kết của dân tộc Việt Nam
Trang 7Ngoài ra, cách mạng tháng Tám còn có ý nghĩa quốc tế vô cùng to lớn, là thắng lợi của chủ nghĩa Mác Lênin trong một nước thuộc địa nữa phong kiến, làm phong phú thêm kho tàng lí luận của phong trào cách mạng vô sản thế giới,
cỗ vũ tinh thần các dân tộc bị áp bức đứng lên đấu tranh giành lại chính quyền độc lập tự do
1.2 Những thuận lợi và khó khăn của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa sau cách mạng tháng Tám 1945
1.2.1 Thuận lợi
Sau cách mạng tháng Tám 1945, ta đã có chính quyền trong tay, Đảng Cộng Sản lãnh đạo công khai, nhân dân có sự đổi mới từ than phân nô lệ lên làm chủ đất nước Đó bước chuyển để giúp ta có cơ sở xây dựng và củng cố chính quyền vững mạnh, là động lực cho Đảng và nhân dân quyết tâm hơn trong việc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
Trên thế giới, hệ thống xã hội chủ nghĩa đang hình thành, phong trào giải phóng dân tộc đang dâng cao ở một số nước thuộc địa và phụ thuộc, phong trào đấu tranh vì hòa bình, dân chủ phát triển ở nhiều nước tư bản
1.2.2 Khó khăn
Từ vĩ tuyến 16 trở ra Bắc có gần 20 vạn quân Trung Hoa Dân Quốc đóng ở
Hà nội và hầu hết các tỉnh Từ vĩ tuyến 16 trở vào Nam, quân Anh tạo điều kiện cho thực dân Pháp trởi lại xâm lược nước ta
Đất nước ta vừa thoát ra khỏi cuộc sống nô lệ, sự thống trị, bóc lột của thực dân Pháp và phát xít Nhật vẫn còn để lại hậu quả nặng nề, hậu quả của chính sách vơ vét, bóc lột của Nhật-Pháp cùng với thiên tai làm cho nền kinh tế nông nghiệp nước ta vốn đã lạc hậu lại bị chiến tranh tàn phá trở nên kiệt quệ Nhiều
xí nghiệp còn nằm trong tay tư bản Pháp Hàng hoá khan hiếm, giá cả tăng vọt đời sống nhân dân gặp nhiều khó khăn…
Về tài chính: ngân sách nhà nước trống rỗng Chính quyền cách mạng chưa nắm được ngân hàng Đông Dương Quân Tưởng tung ra thị trường các loại tiền mất giá làm cho tình hình tài chính của nước ta càng thêm rối loạn
Trang 8Về mặt xã hội: Hơn 90% dân ta không biết chữ, các tệ nạn mê tín dị đoan… phổ biến ở nông thôn
Chính quyền cách mạng non trẻ, chưa được củng cố, thiếu kinh nghiệm lãnh đạo việc củng cố chính quyền, lực lượng vũ trang còn non trẻ, trang bị thô
sơ thiếu kinh nghiệm chiến đấu
CHƯƠNG 2: CHÍNH SÁCH NGOẠI GIAO CƠ BẢN CỦA VIỆT NAM
SAU CÁCH MẠNG THÁNG TÁM 1945 ĐẾN 19/12/1946
2.1 Ngoại giao hòa hoãn với Tưởng
2.1.1 Nguyên nhân:
Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời trong điều kiện quốc tế rất thuận lợi Trên thế giới phe Đồng minh đã giành thắng lợi hoàn toàn, ba nước Trục thất bại thảm hại Tại Đông Dương, Pháp đã bị Nhật Bản hạ bệ, Nhật đầu hàng quân Đồng minh Phong trào dân tộc phát triển mạng mẽ, ở Châu Á nhân dân Indonesia đã nổi lên giành chính quyền
Tình hình Việt Nam có những biến đổi sâu sắc, những nhân tố trái ngược nhau Niềm vui độc lập làm cho người ta hầu như quên cả khó khăn trong cuộc sống, những khó khăn trong lòng các nhà lãnh đạo về tất cả mọi mặt: kinh tế, tài chính,…
Kinh tế: nạn đói mà thực dân Pháp và quân phiệt Nhật Bản đã gây ra làm chết 2 triệt người chưa chấm dứt Nạn lụt giữa năm 1945 nước lũ lên to, đê sông Hồng bị vỡ, làm ngập lụt nhiều cánh đồng Sau vụ chiêm 1946, có thóc mới đời sống nhân dân khá hơn nhưng đến giữa năm, bọn nhà buôn Pháp và quân đội Tưởng tung tiền ra vơ vét gạo gây khó khăn trong chính quyền nhân dân
Tài chính: trong tình trạng nguy ngập
Trong bối cảnh đó, một Chính phủ bình thường cũng không đứng vững được, nhưng khó khăn chính trị còn ghê gớm hơn nhiều, chính quyền cách mạng chưa có chỗ đứng vững chắc đã phải chống lại sức ép từ mọi phía
Từ 1944 sau khi Tổng thống Roosevelt qua đời, Phó tổng thống Truman lên thay, và ông tuyên bố: “Dù thế nào, về vấn đề Đông Dương, Chính phủ tôi
Trang 9không phản đối uy quyền và quân đội Pháp trở lại xứ này”, đối với Pháp đó là sự thừa nhận rõ ràng chủ quyền của họ đối với Đông Dương
Lực lượng 20 vạn quân Tưởng do tướng Lư Hán chỉ huy bọn tay sai Việt Nam Cách mệnh Đồng minh hội Việt Nam Quốc dân Đảng đứng đầu là Nguyễn Hải Thần, Nguyễn Tường Tam, Vũ Hồng Khanh là công cụ của chính phủ Trùng khánh và lực lượng quân phiệt Vân Nam, Quảng Tây, chúng đang thực hiện kế hoạch “Hoa quân nhập Việt” nhằm dựng lên một chính phủ Trùng khánh Lư Hán và Tiêu Vân đến Hà nội nhằm âm mưu lật đổ Chính quyền Việt Minh Nhưng trước phong trào toàn dân ủng hộ Chính phủ Hồ Chí Minh, chúng không thể làm được, chúng ép ta lập chính quyền ba phái có Việt Cách, Việt Quốc tham gia Họ xúi giục và giúp đỡ bọn Việt Cách, Việt Quốc gây tình hình không ổn định ở Hà Nội và cách tỉnh khác
Ở miền Nam vấn đề đã rõ: Anh đồng ý cho pháp trở lại Đông Dương và tạo điều kiện cho Pháp tái chiếm miền Nam thì ta không có con đường nào khác là chống lại quân Pháp Nhưng trên miền Bắc có quân Tưởng và bọn tay sai Việt Cách, Việt Quốc và trong một tương lai không xa sẽ có quân Pháp trở lại
Dù đang có nhiều kẻ thù, có thù trong giặc ngoài, bao giờ cũng phải nhằm
kẻ thù chính là thực dân Pháp Đối với Trung Quốc, chủ trương của ta là hòa hoãn, làm cho họ rút quân càng nhanh càng tốt ra khỏi miền Bắc nước ta Quyết định hòa hoãn với Tưởng, phía ta đã chủ trương trong lúc chấp nhận một số nhượng bộ về kinh tế, chính trị cần phải tuân thủ nguyên tắc giữ vững chủ quyền quốc gia, Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa thực hiện khẩu hiện “Hoa-Việt thân thiện” ưu đãi Hoa kiều
2.1.2 Nội dung
Nội dung chính của chính sách “Hoa- Việt thân thiện" là tạm thời hoà hoãn với quân Tưởng ở miền Bắc, tập trung chống thực dân Pháp xâm lược ở miền Nam (9-1945 đến 3-1946) Với những nội dung sau:
Biện pháp biểu dương lực lượng: Biện pháp đầu tiên mà chủ tịch Hồ chí Minh và chính phủ VNDCCH thực hiện là tổ chức biểu dương lực lượng bao
Trang 10gồm 30 vạn nhân dân thủ đô Hà Nội trong buổi chào đón Hà Ứng Khâm, Tổng
tư lệnh quân đội Tưởng và phái bộ đồng minh đến Hà Nội ngày 2/10/1945 Việc biểu dương lực lượng là cần thiết và có ý nghĩa vô cùng quan trọng khi nước ta đang ở trong tình thế “ngàn cân treo sợi tóc” bởi: Thứ nhất nó biểu thị ý chí và sức mạnh của nhân dân ta đoàn kết xung quanh chính phủ Hồ Chí Minh, điều này chứng tỏ rằng chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã và đang được sự ủng hộ của đông đảo quần chúng nhân dân Đó là điều không dễ gì có được cũng như không dễ gì thay đổi Thứ hai hành động đó đồng thời thể hiện thiện chí, sự hoan nghênh và mong muốn hoà với quân Tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Việt Nam Dân chủ Cộng hòa
Lợi dụng mâu thuẫn, tránh xung đột Hồ Chí Minh đã vận dụng sáng tạo và linh hoạt chủ nghĩa Mác - Lênin về vần đề lợi dụng mâu thuẫn trong hàng ngũ
kẻ thù Phép ứng xử ngoại giao khéo léo kết hợp với hiểu thấu nội bộ địch đã khẳng định vai trò quan trọng của vị lãnh thiên tài Hồ Chí Minh, không chỉ vậy người phần nào lấy được thiện cảm của Lư Hán bằng chứng là y gọi người là
“Hồ Chủ tịch” lời gọi ấy không chỉ minh chứng cho sự tôn trọng của Lư Hán đối với Bác mà còn với cả bộ máy chính phủ lâm thời Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Đối với trung tướng Tiêu Văn, Bác nắm rõ lý lịch cũng như ý định của y khi sang Việt Nam nhìn thấu những bất đồng trong nội bộ của hắn, từ đó có những đối sách phù hợp Với nhiệm vụ giải quyết các vấn đề chính trị của Việt Nam, tới Hà Nội thấy chính quyền ta đã thành lập y rất bực bội với sự đã rồi và tuyên
bố “Hồ Chí Minh thập đại tội” ngay lập tức Bác chủ động đến thăm y, giải thích
rõ tình hình hiện tại và đề nghị hợp tác với ta giải quyết mọi vấn đề trong quan
hệ Hoa – Việt, việc làm này ít nhiều xoa dịu tâm lý căng thẳng và giải quyết một
số hiểu lầm giữa Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Quốc dân đảng Bằng tài trí thông minh và ngoại giao nhạy bén, qua tiếp xúc nhiều Bác dần lấy được cảm tình từ Tiêu Văn, nhờ thế phản ứng của y với chính phủ lâm thời bớt căng thẳng hơn Hành động ngoại giao Bác mời vợ chồng Tiêu Văn ăn cơm, tặng vợ y một vài đồ trang sức quý giá, cho phép buôn vài tấn gạo và một số loại hàng hóa, tưởng chừng như đơn giản, sáo rỗng nhưng lại có ý nghĩa sâu xa bởi nhận lời