Luận văn thạc sỹ đánh giá hiệu quả kinh tế và ảnh hưởng môi trường từ làm bún, đậu tại làng nghề bún, đậu Viên TiênLuận văn thạc sỹ đánh giá hiệu quả kinh tế và ảnh hưởng môi trường từ làm bún, đậu tại làng nghề bún, đậu Viên TiênLuận văn thạc sỹ đánh giá hiệu quả kinh tế và ảnh hưởng môi trường từ làm bún, đậu tại làng nghề bún, đậu Viên TiênLuận văn thạc sỹ đánh giá hiệu quả kinh tế và ảnh hưởng môi trường từ làm bún, đậu tại làng nghề bún, đậu Viên TiênLuận văn thạc sỹ đánh giá hiệu quả kinh tế và ảnh hưởng môi trường từ làm bún, đậu tại làng nghề bún, đậu Viên TiênLuận văn thạc sỹ đánh giá hiệu quả kinh tế và ảnh hưởng môi trường từ làm bún, đậu tại làng nghề bún, đậu Viên Tiên
Trang 1Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 53
Hình 3.5: Hình ảnh sản xuất đậu thực tế
Trang 2Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 54
Hình 3.6: Quy trình sản xuất đậu
Trang 3Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 55
3.2.3 Tình hình sản xuất bún, đậu và hiệu quả kinh tế của các nhóm hộ làm nghề sản xuất bún đậu
Các làng nghề đang từng bước làm thay đổi bộ mặt nông thôn trong huyện, tạo công ăn việc làm và tăng thu nhập cho người dân, giải quyết các vấn đề xã hội phức tạp ở khu vực nông thôn, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế khu vực nông thôn theo hướng CNH – HĐH, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế của địa phương, góp phần bảo tồn các giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc
Theo điều tra thực tế tại làng nghề, làng Viên Tiêu có 121 hộ tham gia sản xuất bún, đậu, hơn 50 hộ gia đình khác sản xuất nông nghiệp, sản xuất phục vụ làng nghề như cơ khí sản xuất công cụ làm bún, xay xát gạo, cung cấp than củi, và nghề khác Trong số các hộ tham gia sản xuất nghề bún, đậu có khoảng 57% hộ sản xuất bún và 43% hộ sản xuất đậu Mỗi hộ có sản xuất với năng suất khác nhau, căn cứ vào năng suất sản xuất của các hộ ta có thể chia các hộ theo các nhóm như sau:
Bảng 3.3: Phân loại nhóm hộ sản xuất bún, đậu tại làng nghề
Số hộ sản xuất
Năng suất (tạ bún/ngày)
Số hộ sản xuất
Năng suất (kg đậu/ngày)
( Nguồn: Tổng hợp điều tra)
Hiện nay, ở Viên Tiêu, quy mô sản xuất của các hộ gia đình còn ở mức vừa
và nhỏ, chỉ có một số hộ tìm được thị trường tiêu thụ lớn, ổn định, có đủ điều kiện phát triển quy mô sản xuất lớn
Trang 4Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 56
Hình 3.7: Quy mô sản xuất bún, đậu
Cụ thể nhìn vào biểu đồ trên ta thấy: đối với sản xuất bún, số hộ có quy mô sản xuất lớn là 9 hộ (chiếm 13%), số hộ có quy mô sản xuất vừa là 39 hộ (chiếm 57%), còn lại là hộ sản xuất với quy mô nhỏ ( chiếm 30%); Đối với sản xuất đậu, số hộ có quy mô sản xuất lớn là 7 hộ (chiếm 13%), số hộ có quy mô sản xuất vừa là 26 hộ ( chiếm 50%), còn lại 37% là số hộ có quy mô sản xuất nhỏ Nhìn chung, nghề làm bún, đậu là nghề chính đem lại nguồn thu nhập chủ yếu cho người dân Viên Tiêu Hoạt động sản xuất của nghề mang tính thời vụ do nhu cầu thị hiếu của người tiêu dùng và nguồn nguyên liệu Ngoài nghề làm bún, do quá trình đô thị hóa nhanh nên các ngành nghề khác cũng ngày càng được mở rộng
3.2.3.1 Tình hình sản xuất bún và hiệu quả kinh tế của các nhóm hộ làm nghề sản xuất bún
Trước kia Viên Tiêu làm bún bằng thủ công, để làm ra sợi bún người làm bún phải tuân theo một quy trình khá nghiêm ngặt từ khâu chọn gạo, vo gạo, ngâm gạo đến xay, giã, nhào bột cho dẻo, tất cả những việc đó người thợ đều phải làm bằng tay, với cách làm thủ công mỗi gia đình cũng chỉ làm được từ 50-70kg bún/ngày và cứ khoảng 3 giờ sáng người làng Viên Tiêu lại chở bún bằng
xe đạp tỏa đi các ngả đường để đến các chợ quê, chợ huyện, các thôn làng trong tỉnh để tiêu thụ bún Mặc dù vất vả nhưng thu nhập từ nghề làm bún tương đối
Trang 5Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 57
ổn định, vì thế mức sống của đại đa số người dân trong thôn đảm bảo Đến nay, việc làm bún đã có nhiều thay đổi do áp dụng máy móc vào sản xuất và nhu cầu tiêu thụ của người dân cũng khác trước, bún bây giờ được sản xuất để bán cả sáng và chiều
Hiện nay, mỗi ngày một hộ gia đình có thể sản xuất trung bình từ 200- 300kg bún, tùy thị trường tiêu thụ tại các thời điểm có thể sản xuất với số lượng lớn hơn Giá bán dao động từ 8.000 – 9.000đ/kg Do có bí quyết cùng với sự phát triển của công nghệ những sợi bún của làng Viên Tiêu có nét đặc trưng riêng, bún làm ra rất trong, dẻo và không có hóa chất nên sản phẩm làm ra luôn luôn tiêu thụ thuận lợi Trong quy trình chế biến bún, các hộ dân còn tận dụng các sản phẩm phụ từ quá trình chế biến để chăn nuôi lợn, gà nên doanh thu từ nghề làm bún cùng với chăn nuôi đã mang lại nguồn thu hàng trăm triệu đồng/năm cho nhiều hộ gia đình Toàn thôn hiện nay hầu hết các hộ sản xuất đều có máy làm bún, tạo việc làm cho hơn 100 lao động có thu nhập từ 100.000-200.000đ/người/ngày Mỗi ngày trung bình một hộ sản xuất bún có thu nhập 400.000 – 500.000đ được thể hiện ở bảng 3.4 sau:
Bảng 3.4: Hiệu quả kinh tế của sản xuất bún
Thu nhập
Gạo Kg/ngày
Giá gạo (đ)
Điện năng tiêu thụ (kw)
Giá điện (đ)
Sản lượng
TB Kg/ngày/ hộ
Giá bán bún (đ)
825.500 Tổng 181x 12.500 + 80 x 1.400 = 2.374.500 400 x 8.000=3.200.000
505.600 Tổng 114x 12.500 + 50 x 1.388 = 1.494.400 250 x 8.000=2.000.000
308.360 Tổng 68 x 12.500 + 30 x 1.388 = 891.640 150 x 8.000=1.200.000
Bình
( Nguồn: Tổng hợp phiểu điều tra và điều tra phỏng vấn)
Trang 6Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 58
Chú thích: Nhóm 1 (nhiều): năng suất trên 3 tạ bún/ngày
Nhóm 2 (vừa): năng suất từ 2-3 tạ bún/ngày Nhóm 3 (ít): năng suất dưới 2 tạ bún/ngày
Đa số các hộ sản xuất bún đều kết hợp chăn nuôi và tận dụng được lượng nhiên liệu từ việc xử lý chất thải chăn nuôi bằng phương pháp Biogas Do đó, tiết kiệm được chi phí trong sản xuất, thu nhập của mỗi hộ từ 300.000 đến 800.000đ/ngày Một số hộ chăn nuôi ít, không xử lý chất thải chăn nuôi bằng phương pháp Biogas có sử dụng than trong công đoạn luộc bột Lượng than tiêu thụ trung bình 15-16 kg than, làm tăng mức chi phí cho sản xuất lên bình quân là 1.495.000đ, thu nhập bình quân mỗi hộ này khoảng 400.000đ/ngày
Bên cạnh những thuận lợi, quá trình phát triển, duy trì làng nghề để tất cả mọi người dân trong làng có cuộc sống ổn định, làm giàu từ làng nghề truyền thống và đảm bảo môi trường cũng gặp những khó khăn, thách thức nhất định Sản xuất bún ở Viên Tiêu dần tạo nên một thương hiệu, song thị trường tiêu thụ hiện nay chưa ổn định, các cơ sở sản xuất trong làng nghề hầu hết có quy mô nhỏ, việc đưa máy móc vào sản xuất còn ở mức thấp, làng nghề chưa được tiếp cận với các nguồn vốn hỗ trợ đầu tư phát triển Đặc biệt việc giải quyết vấn đề ô nhiễm môi trường trong quá trình sản xuất làng nghề đang là một thách thức lớn trong phát triển Bên cạnh đó hiện nay, trên thị trường do ảnh hưởng xấu từ một
số cơ sở sản xuất bún trên cả nước sử dụng hóa chất độc hại trong sản xuất đã ảnh hưởng tới tâm lý người tiêu dùng, làm thị trường tiêu thụ có phần chậm lại Theo điều tra ta thấy, đối với quy mô sản xuất khác nhau, lượng nguyên liệu sử dụng đầu vào, lượng chất thải thải ra môi trường khác nhau Theo điều tra, nguồn nước sử dụng cho sản xuất chủ yếu lấy từ nước mưa và nước giếng khoan, hiện tại người dân ở đây chưa được sử dụng nước sạch Lượng nước sử dụng cho đầu vào tương đối lớn, việc khai thác nước ngầm cũng tác động không nhỏ tới mực nước ngầm trong khu vực Cụ thể:
Trang 7Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 59
Bảng 3.5: Nguyên liệu đầu vào, khối lượng nước sử dụng và
khối lượng nước thải ra
điều tra
Kg gạo /ngày/hộ
kg bún /ngày/hộ
m 3 nước /ngày/hộ
m 3 nước thải/ngày/hộ
và thải ra môi trường 1,34 m3 nước thải Không chỉ nhóm hộ 1, sản xuất với quy
mô lớn, tổng lượng thải ra môi trường lớn mà đối với nhóm hộ 3, sản xuất ở mức ít nhưng số lượng các hộ khá lớn, chiếm 30% các hộ sản xuất bún, tổng lượng thải ra môi trường của nhóm hộ cũng khá lớn (15,66 m3 nước thải), gây áp lực đáng kể tới môi trường Đặc biệt, nhóm hộ 2, sản xuất ở mức trung bình, tổng lượng nước thải ra môi trường là 46,4 m3, lượng thải ra lớn, chiếm gần 60% tổng lượng thải của các hộ sản xuất bún Theo điều tra thực tế, dây truyền sản xuất bún đều sử dụng điện để vận hành, hầu như không phát sinh chất thải rắn Lượng chất thải rắn phát sinh chỉ là xỉ than được sử dụng trong giai đoạn luộc bột Tuy nhiên, hầu như các hộ có chăn nuôi, chất thải chăn nuôi được xử lý bằng biện pháp Biogas,
3.2.3.2 Tình hình sản xuất đậu và hiệu quả kinh tế của các nhóm hộ làm nghề sản xuất đậu
Đậu phụ là món ăn quen thuộc, hầu như mỗi ngày đều có mặt trong bữa cơm của mọi gia đình, bất kể sang giàu hay nghèo hèn.Nghề làm đậu luôn có thị
Trang 8Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 60
trường tiêu thụ ổn định quanh năm, lợi nhuận thu được không cao nhưng ổn định Vì lợi nhuận mà nhiều cơ sở đã quá lạm dụng thạch cao để làm đậu phụ săn chắc và tăng năng suất Những chiếc đậu càng vàng, trông chắc mịn nhưng khô cứng thì càng nhiều nguy cơ dùng thạch cao - một chất gây ngộ độc cho cơ thể Chính những điều này đã gây ảnh hưởng đến tâm lý người tiêu dùng, ảnh hưởng đến việc sản xuất đậu Tuy nhiên, đậu phụ Viên Tiêu có đặc điểm khác biệt với đậu có sử dụng thạch cao, đậu có màu trắng ngà, hạt đậu sau khi ngâm được tách vỏ nên đậu ở đây mịn, chắc, dẻo, thơm, ngậy
Nghề làm đầu phụ đã đem lại thu nhập ổn định cho nhiều gia đình trong thôn Trung bình, sau khi trừ đi các khoản chi phí nguyên vật liệu mỗi người làm nghề có thu nhập khoảng 200.000 – 300.000 đồng/ngày
Bảng 3.6: Hiệu quả kinh tế của sản xuất đậu
Thu nhập
Đậu
tương
Kg/ngày
Giá đậu tương (đ)
Than kg/
ngày
Giá than (đ)
Điện kw/
ngày
Giá điện (đ)
Sản lượng
TB Kg/ngày/
hộ
Giá bán đậu (đ)
Trang 9Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 61
Hầu hết các hộ sản xuất đậu đều kết hợp chăn nuôi và tận dụng được lượng nhiên liệu từ việc xử lý chất thải chăn nuôi bằng phương pháp Biogas Do đó, tiết kiệm được chi phí trong sản xuất Ngoài ra, có một số hộ sử dụng than trong sản xuất đã thải ra môi trường một lượng lớn xỉ than và làm tăng chi phí trong sản xuất Đối với các hộ này, chi phí cho nguyên nhiên liệu từ 648.550đ đến 990.200đ, thu nhập thuần từ sản xuất đậu bình quân các hộ khoảng 542.000đ
Theo điều tra, lượng nước sử dụng cho sản xuất đậu không lớn như đối với các hộ sản xuất bún, nguồn nước sử dụng cho sản xuất chủ yếu lấy từ nước mưa
và nước giếng khoan
Bảng 3.7: Nguyên liệu đầu vào và khối lượng nước sử dụng làm Đậu
điều tra
Đậu tương kg/ngày/hộ Kg đậu/ngày/hộ m
( Nguồn: Tổng hợp phiếu điều tra)
Nhìn vào bảng trên ta thấy: với quy mô sản xuất khác nhau thì nhu cầu sử dụng nước cho sản xuất cũng khác nhau Lượng nước sử dụng cho sản xuất bình quân mỗi hộ là 0,36m3 Khác với sản xuất bún, công nghệ sản xuất đậu còn đơn giản, thủ công truyền thống, lượng chất thải rắn lớn, lượng nước thải ra ít, chỉ một phần được tận dụng cho chăn nuôi hoặc đổ xuống hầm Biogas
Trong sản xuất đậu, hầu hết các hộ gia đình đều tận dụng phế thải để chăn nuôi lợn và có xây hầm Biogas để xử lý chất thải trong chăn nuôi, tận dụng được nguồn chất đốt trong sản xuất, sinh hoạt Một số hộ còn sử dụng than trong sản xuất, lượng xỉ than thải ra hàng ngày tương đối lớn Trung bình từ 1kg đậu tương khô, để sản xuất được 2 – 2,3 kg đậu phụ cần tiêu tốn 1- 1,2 kg than, tương ứng với việc thải bỏ ra 0,3 – 0,4 kg xỉ than
Trang 10Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 62
Bảng 3.8: Khối lượng phế thải, nước thải trong sản xuất Đậu
Nhóm hộ Số hộ
điều tra
Bã tinh bột kg/ngày/hộ
Xỉ than kg/ngày/hộ
Các phế thải khác kg/ngày/hộ (vỏ đậu)
m 3 nước thải/ngày/hộ
hộ còn sử dụng than trong sản xuất, chủ yếu là các hộ sản xuất thuộc nhóm 3 ngoài chất thải giàu tinh bột còn thải ra một lượng tương đối lớn xỉ than, khoảng
10 kg/ngày/ hộ, lượng xỉ than này thường được đổ ra vườn để trồng cây
Không những làm giàu từ việc bán bún, đậu mà các sản phẩm thừa từ khâu sản xuất còn được tận dụng làm thức ăn chăn nuôi rất hiệu quả Hàng năm, ngoài khoản thu nhập từ bún, đậu, người dân còn thu về hơn 1 tỉ đồng từ chăn nuôi Chất thải trong chăn nuôi được sử dụng làm nguyên liệu cho hầm khí Biogas, tạo ra nguồn nhiên liệu phục vụ việc sản xuất bún, đậu Việc áp dụng quá trình khép kín trong sản xuất vừa giảm thiểu ô nhiễm môi trường, vừa tận dụng hết các nguyên liệu trong sản xuất Nhờ vậy, thu nhập bình quân của người dân trong thôn đạt khoảng 15 - 17 triệu đồng/năm
Trang 11Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 63
3.3 Hiện trạng môi trường làng nghề sản xuất bún, đậu Viên Tiêu, xã Tân Hưng, huyện Tiên Lữ
3.3.1 Phế thải rắn làng nghề sản xuất bún, đậu
Nguồn phát thải chất thải rắn từ các hoạt động sản xuất làng nghề, sinh hoạt
và chăn nuôi ngày càng gia tăng, trong khi đó công tác quản lý, xử lý chất thải rắn chưa đạt tiêu chuẩn Chất thải rắn ở nông thôn ngày càng nhiều, phần lớn chưa được tổ chức thu gom, chủ yếu người dân tự xử lý (đốt, ủ làm phân bón, đổ trong vườn, ngoài ngõ, nơi đất trống và các ao làng, …)
3.3.1.1 Tình hình phát sinh, khối lượng thành phần chất thải rắn
Khi tìm hiểu về nguồn gốc phát sinh chất thải rắn tại các làng nghề, ngoài chất thải rắn phát sinh trực tiếp trong quá trình sản xuất, phải tính đến việc phát sinh chất thải rắn trong sinh hoạt và chăn nuôi vì các hoạt động sản xuất của làng nghề gắn liền với hoạt động sinh hoạt, chăn nuôi của người dân Với đặc điểm là làng nghề chế biến thực phẩm, chất thải trong quá trình sản xuất hầu như được tận dụng chăn nuôi, chất thải rắn trong quá trình chăn nuôi như phân động vật được xử lý để tạo khí đốt hoặc ủ tạo phân bón cho cây
Theo kết quả điều tra, trong
quá trình sản xuất bún, phế thải rắn
hầu như không có, chủ yếu là nước
thải trong quá trình sản xuất Trong
quá trình sản xuất đậu, phế thải rắn
chủ yếu là vỏ đậu tương phát sinh
sau khi ngâm, đãi vỏ và bã đậu
phát sinh sau quá trình lọc sữa đậu
Những phế thải này đều được tận
dụng làm thức ăn chăn nuôi Cứ 1
kg đậu tương khô có thể sản xuất
Trang 12Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 64
Với năng suất trung bình 80kg/ngày đậu phụ được sản xuất cần sử dụng khoảng 36- 40 kg/ngày đậu tương khô và thải ra 14 - 15 kg vỏ đậu và 32 – 35 kg
bã đậu sau khi nghiền ướt
Làm bún, đậu là nghề truyền thống của Viên Tiêu Tuy nhiên, nếu chỉ bám vào nghề thì không thể đáp ứng đủ nhu cầu sinh hoạt hàng ngày của người dân Nuôi lợn là một cách vừa để cải thiện thu nhập vừa tận dụng nguồn thải trong quá trình sản xuất có chứa nhiều tinh bột, vì vậy hầu như nhà nào đã làm bún, đậu thì đều nuôi lợn Trung bình một hộ sản xuất nuôi khoảng 6 - 8 con lợn (có gia đình nuôi 15 - 20 con) Tổng số đầu lợn thường xuyên có trong làng là khoảng 700 -
1000 con Hàng ngày, đàn lợn khổng lồ ở làng Viên Tiêu thải ra 1 – 1,5 tấn phân Lượng phân này được xử lý bằng bể Biogas – do Tổ chức Tầm nhìn thế giới thực hiện chương trình phát triển vùng Tiên Lữ đầu tư, hỗ trợ người dân
Phế thải làng nghề thải bỏ chủ yếu là rác thải sinh hoạt Lượng rác trong làng nghề chỉ thu được 75% số hộ gia đình, số hộ còn lại không nộp lệ phí thì mang rác đổ ra các vùng trũng như ao, hồ, mương Kết quả điều tra tổng khối lượng chất thải rắn sinh hoạt phát sinh của làng nghề là 434,01 kg/ngày, tương đương 158,41 tấn/năm Hiện nay, UBND xã đã tổ chức được đội thu gom rác tuy nhiên việc hoạt động chưa đem lại hiệu quả cao
Bảng 3.9: Khối lượng RTSH phát sinh tại xã Tân Hưng
T
Dân số (người)
Lượng rác bình quân (kg/ngày/người)
Khối lượng phát sinh (kg/ngày)
( Nguồn:Báo cáo của UBND xã Tân Hưng)
Trang 13Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 65
Nhìn vào bảng trên ta thấy: lượng rác phát sinh tại các thôn gần giống nhau,
có thôn Viên Tiêu và thôn Trần Phú cao hơn so với các thôn còn lại do thôn Viên Tiêu và thôn Trần Phú có hoạt động sản xuất nghề bún, đậu và chế biến nông sản, dân số cũng đông hơn so với các thôn khác Lượng rác thải bình quân từ 0,45 – 0,52 kg/ngày/người Với mức phát thải bình quân này thì toàn xã phát thải khoảng 2,7 tấn/ngày Đây là một lượng rác thải khá lớn cần được thu gom và xử lý
Nhìn chung, RTSH ở xã Tân Hưng nói chung, đặc biệt ở 2 thôn có hoạt động làng nghề nói riêng đang là vấn đề còn nhiều bất cập, gây bức xúc trong nhân dân, công tác quản lý cũng chưa được chặt chẽ Hiện nay xã đang tích cực đẩy mạnh công tác vệ sinh môi trường là một trong 19 tiêu chí của đề án xây dựng nông thôn mới
Thành phần chất thải rắn tại làng Viên Tiêu có thành phần hỗn tạp, tỷ lệ hữu cơ khá cao trên 70% Rác hữu cơ được người dân tận dụng một phần cho chăn nuôi, phần còn lại thải bỏ vào môi trường Rác vô cơ một phần được tái sử dụng, hầu hết đổ ra vườn nhà và xử lý bằng phương pháp chôn lấp hoặc đốt
Bảng 3.10: Thành phần chất thải sinh hoạt
TT Thành phần Khối lượng (kg/ngày/hộ) % Khối lượng
Trang 14Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 66
Nhìn vào bảng trên ta thấy thành phần RTSH rất phức tạp nhưng chủ yếu vẫn là chất hữu cơ (chiếm 70,9%) có thể sử dụng làm phân compost Tuy biết được tác hại của túi nilon đối với môi trường nhưng người dân vẫn sử dụng túi nilon nhiều, đây là một vấn đề đáng quan tâm
3.3.1.2 Công tác quản lý, thu gom và xử lý chất thải rắn tại làng nghề
a/ Về cơ sở vật chất
UBND xã Tân Hưng đã chỉ đạo thành lập các tổ VSMT hoạt động thu gom RTSH tại các thôn, xóm trong xã, và ký hợp đồng với công ty thị chính Hưng Yên vận chuyển, xử lý rác thải Xã đầu tư xe chở rác, trang thiết bị và các vật dụng cần thiết cho tổ VSMT Đa số người dân đã ý thức được việc bảo vệ môi trường nên đã duy trì hoạt động của tổ VSMT với kinh phí đóng góp có sự bàn bạc và thống nhất trong nhân dân
Về trang thiết bị thu gom: Theo điều tra cho thấy trang thiết bị phục vụ công tác thu gom tại xã còn thiếu, được trang bị ủng, gang tay, chổi quét, xẻng; khẩu trang, quần áo bảo hộ công nhân phải tự trang bị Xe chở rác do UBND xã trang bị, có 3 xe (01 xe 7 tấn, 01 xe 5 tấn và 01 xe 02 tấn) kết hợp với xe chở rác của thôn tự trang bị thu gom rác tại từng thôn
Về mức lương của công nhân thu gom: các công nhân tham gia vào việc thu gom do sự vận động của đoàn thể, phụ nữ, các đơn vị, họ không có lương, cũng không được hưởng chế độ theo quy định của Nhà nước mà chỉ được chi trả phần lệ phí môi trường do người dân đóng góp Mức phí môi trường là 3.000đ/người/tháng Mức phí môi trường ở đây là sự thỏa thuận giữa người dân với tổ VSMT nên nó phần nào phản ánh được mức sống và khối lượng rác thải phát sinh của từng hộ dân
b/ Về khối lượng, tỷ lệ thu gom, tần suất thu gom
Theo điều tra thực tế thì 75% các hộ gia đình trong làng được thu gom rác bởi công nhân thu gom; trong đó, vẫn có một số hộ gia đình đổ rác không đúng nơi quy định, đốt rác cùng lá cây quét trong vườn, đổ xuống ao hồ, xác động vật
Trang 15Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 67
chết vứt ra sông, lá rau già, hỏng không sử dụng được còn vứt bên lề đường, bờ ruộng gây ô nhiễm và khó khăn cho người thu gom dẫn đến tỷ lệ thu gom còn thấp so với lượng phát thải của cả làng
Kết quả điều tra tổng khối lượng chất thải rắn sinh hoạt phát sinh của làng nghề là 434,01 kg/ngày, tương đương 158,41 tấn/năm Tuy nhiên chỉ thu gom rác thải sinh hoạt được từ 75% số hộ dân trong làng Do đó khối lượng thu gom được là 283,19 kg/ngày tương đương với tỷ lệ thu gom bình quân là 87%
Tần suất thu gom: thu gom 2 lần/tuần và quét sạch đường trong xã
Theo điều tra, một phần không nhỏ số người được hỏi phản ánh thái độ của công nhân thu gom còn chưa tốt; chỉ thu gom rác của các hộ gia đình để ở túi nilon, xô hoặc bao tải, không quét dọn đường làng, ngõ xóm và rác rơi vãi, không thu gom rác thường xuyên theo đúng thời gian quy định gây mùi hôi thối,…
3.3.2 Nước thải làng nghề sản xuất bún, đậu
Một đặc điểm chung của các làng nghề chế biến nông sản thực phẩm là các
hộ làm nghề thường chăn nuôi lợn để tận dụng chất thải của quá trình sản xuất Nước thải của các khâu vo gạo, bắt bún, làm chín bún, nước ép đậu đều có thể
sử dụng để làm thức ăn chăn nuôi lợn Do đặc điểm khu vực sản xuất của làng nghề nằm đan xen trong khu vực sinh hoạt, chăn nuôi của người dân nên nước thải trong quá trình sản xuất cũng như sinh hoạt, chăn nuôi thường được thải chung vào cống thải của gia đình hoặc thải trực tiếp xuống ao, mương
Việc nuôi lợn đã mang lại nguồn thu đáng kể cho người dân, làm cuộc sống khấm khá hơn Mặc dù vậy, có một thực tế là các chất thải từ quá trình chăn nuôi lợn như phân, nước tiểu, nước rửa chuồng trại, thức ăn thừa được qua xử lý bằng phương pháp Biogas hoặc một số nhà ủ để bón cho cây nhãn, cung cấp nguồn dinh dưỡng tốt cho cây Cống thoát nước thải của các gia đình hầu như được xây dựng kiên cố, ngầm dưới đất Hệ thống thoát nước của cả làng được xây dựng kiên cố bằng bê tông theo chương trình phát triển vùng Tiên Lữ - tổ chức Tầm nhìn thế giới đầu tư, hỗ trợ xây dựng Nước thải từ các bể Biogas,
Trang 16Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 68
nước thải sinh hoạt, nước thải rửa thiết bị, máy móc được thải chung vào cống thải của gia đình và đổ vào cống thải chung của cả làng Một số hộ gia đình có
ao riêng thường đổ thẳng xuống ao, không qua cống thải chung của làng Theo điểu tra thực tế cho thấy nước thải của cả làng được đổ vào hai cái ao lớn tiếp nhận của cả làng, ao tiếp nhận này có rất nhiều bèo, cây khoai nước, … có hiện tượng phú dưỡng tại ao này, xung quanh ao là nhà dân đã xây dựng bờ kiên cố bằng gạch
- Nước thải trong sản xuất bún
Nước sử dụng trong sản xuất bún là rất lớn Trong mỗi quá trình sản xuất bún đều cần sử dụng nước, lượng nước đầu vào cao hơn lượng nước thải ra Nguyên liệu sử dụng để làm bún hoàn toàn từ gạo, do vậy, tính chất nước thải bún là giàu các chất hữu cơ, dễ phân hủy sinh học Trong sản xuất bún, ước tính
cứ 1 kg gạo sản xuất được từ 2 - 2,3 kg bún và tiêu thụ khoảng 14 lít nước Với năng suất trung bình 2,5 tạ bún/ngày, mỗi hộ sản xuất trong làng sử dụng khoảng 1,14 tạ gạo/ngày, tương ứng với việc sử dụng 1,6 m3 nước/ngày và thải
ra 1,45 m3 nước thải/ngày Trong số đó, chỉ một phần nhỏ dùng cho chăn nuôi, còn lại hầu hết nước thải đổ vào hệ thống cống trong làng Cụ thể lượng nước thải ra ở các công đoạn trong quá trình sản xuất bún như sau:
Bảng 3.11 : Ước tính lượng nước thải từ các công đoạn sản xuất bún
STT Công đoạn sản xuất Lượng nước sử dụng
Trang 17Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 69
Nhìn vào bảng trên nhận thấy giai đoạn vo gạo, đãi bún cần sử dụng nhiều nước nhất, lượng nước đầu vào và lượng thải ra gần như không có sự chênh lệch nhau, đều được thải ra môi trường, chiếm 52% lượng nước thải ra trong quá trình sản xuất
- Nước thải trong sản xuất đậu
Trong sản xuất đậu, ước tính cứ 1 kg đậu tương khô có thể sản xuất được từ
2 – 2,2 kg đậu thành phẩm và tiêu thụ khoảng 10 lít nước Với năng suất trung bình 80kg/ngày đậu phụ được sản xuất cần sử dụng khoảng 32 - 36 kg/ngày đậu tương khô, tiêu thụ khoảng 363 - 400 lít nước và thải ra 320 - 360 lít nước thải
Bảng 3.12 Ước tính lượng nước thải từ các công đoạn sản xuất đậu
STT Công đoạn sản xuất Lượng nước sử dụng
đầu vào (lít/80kg đậu)
Lượng nước thải ra (lít/80kg đậu)
(Nguồn: Tổng hợp phiếu điều tra)
Nhìn vào bảng trên nhận thấy giai đoạn ngâm đỗ và đãi đỗ cần sử dụng nhiều nước nhất, chiếm 44,73% lượng nước cần sử dụng Giai đoạn xay ướt chỉ
sử dụng nước đầu vào để tạo sữa đậu và không có nước thải ra Giai đoạn ép đậu không cần sử dụng nước giai đoạn đầu vào, chỉ sử dụng khoảng 5 lít nước đậu chua để tạo kết tủa đậu hoa, nước ép đậu một phần được sử dụng quay vòng tạo nước đậu chua, một phần thải bỏ
Ngoài nước thải sản xuất bún, đậu kèm theo đó là nước thải sinh hoạt và nước thải từ hoạt động chăn nuôi Một hộ gia đình trung bình có 5 người thì một ngày thải ra khoảng 1 - 1,2 m3 nước thải sinh hoạt Đối với các hộ sản xuất kèm theo chăn nuôi thì lượng nước thải tăng thêm 0,8 m3 nước từ hoạt động chăn nuôi lợn (rửa chuồng, tắm cho lợn, ) Như vậy, ước tính lượng nước thải đối
Trang 18Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 70
với các hộ sản xuất bún là 3,25 – 3,5 m3/ngày/hộ gia đình, đối với các hộ sản xuất đậu là 2,14 – 2,35 m3/ngày/hộ gia đình
- Thực trạng công tác xử lý nước thải
Với nhu cầu nước và lượng nước thải lớn như làng nghề sản xuất bún, đậu Viên Tiêu, thêm vào đó là đặc điểm của làng nghề hiện nay là sản xuất còn mang tính tự phát, nhỏ lẻ, vốn ít… nên việc đầu tư các công nghệ cho xử lý môi trường hầu như chưa có Do đó 100% nước thải được xả trực tiếp ra môi trường tự nhiên
mà không qua xử lý
Viên Tiêu là làng nghề chế biến nông sản thực phẩm, với các hoạt động có lượng nước thải lớn nhất là sản xuất bún, đậu, chăn nuôi Vào thời điểm sản xuất trung bình mỗi ngày đêm toàn xã thải ra khoảng hơn 360 m3 nước, được tập trung đổ về qua mương thoát nước chung rồi chảy ra sông và ao làng
Trước kia nước thải của làng nghề được xả lộ thiên ra cống thoát nước Các cống thoát nước từ các gia đình trong ngõ nhỏ đổ ra mương chung của làng thì không có nắp đậy nên mùi rất khó chịu Sang năm 2012, được sự đầu tư của
tổ chức Tầm nhìn thế giới, chương trình phát triển vùng Tiên Lữ hỗ trợ xây dựng các cống thoát nước của cả làng, các cống thoát nước bằng bê tông, đều có nắp đậy, nước thải không xả lộ thiên nữa Tuy nhiên, vẫn còn một số hộ gia đình
ở cạnh con mương vẫn xả thẳng nước thải xuống đó gây ô nhiễm môi trường, nước tại các con mương đen, có mùi hôi thối
Để đánh giá được chất lượng nước thải sản xuất, sinh hoạt và chăn nuôi tại các hộ gia đình làm nghề tại làng Viên Tiêu, đã tiến hành lấy mẫu M1: Nước thải sản xuất đậu trước khi thải xuống rãnh thoát nước chung của gia đình, M2: Nước thải tại cống thải chung của hộ sản xuất đậu, M3: Nước thải sản xuất bún trước khi thải xuống rãnh thoát nước, M4: Nước thải tại cống thải chung của hộ sản xuất bún, M5: Nước thải tại ao chung tiếp nhận của cả làng
Sau khi lấy mẫu và phân tích mẫu tôi thu được kết quả phân tích các mẫu:
Trang 19Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 71
Bảng 3.13: Bảng số liệu quan trắc, phân tích mẫu nước thải
làng nghề bún, đậu Viên Tiêu
Nhu cầu oxy hóa học (COD)
Nhu cầu oxy hóa sinh học (BOD 5 )
Amoni (N-NH 4 + )
Hàm lượng photphat (P-PO 4 3- )
Nhìn vào bảng số liệu ta thấy rằng, các mẫu nước thải lấy từ cống của các
hộ sản xuất (từ M1 đến M4) đều có pH thấp Giá trị pH dao động trong khoảng
từ 6,42 – 6,63; có tính chất axit nhẹ So sánh các mẫu này với QCVN 08 - 2008 cột B1 ta thấy cả 5 mẫu đều đều nằm trong QCCP là 5,5 - 9 Nguyên nhân là do, ngay trong quy trình sản xuất bún, đậu đã có khâu tách nước chua, làm cho giá trị pH ở các mẫu này thấp Hơn nữa, trong nước thải lại có chứa nhiều tinh bột nên sau một thời gian sẽ lên men làm cho giá trị pH thấp
* BOD 5 và COD
Theo kết quả phân tích, so với QCVN 08-2008 cột B1 thì 100% mẫu nước thải tại nguồn và mẫu nước thải tại các cống thải tập trung của gia đình và tại nơi tiếp nhận nguồn thải cuối cùng của làng nghề đã thu thập đều có các giá trị BOD5 và COD vượt giới hạn cho phép