Để làm rõ hơn về những quy định của pháp luật liên quan đến vấn đề bảo vệ quyền tác giả trong giai đoạn hiện nay và có cái nhìn tổng thể tình hình vi phạm quyền tác giả, quyền liên quan ở Việt Nam. Vì thế, người viết chọn đề tài: “Thực trạng xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan với chương trình máy tính và giải pháp hạn chế việc xâm phạm quyền tác giả với chương trình máy tính ở Việt Nam” để làm bài tiểu luận và làm rõ vấn đề này.
Trang 11 Lý do chọn đề tài 3
2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4
3 Phương pháp nghiên cứu 4
CHƯƠNG 1 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUYỀN TÁC GIẢ VÀ HÌNH THỨC XÂM PHẠM QUYỀN TÁC GIẢ VỚI CHƯƠNG TRÌNH MÁY TÍNH Ở VIỆT NAM 1
1.1 Một số khái niệm cơ bản 1
1.1.1 Khái niệm quyền tác giả, quyền liên quan 1
1.1.2 Khái niệm về chương trình máy tính 1
1.1.3 Vi phạm bản quyền phần mềm 2
1.2 Đặc trưng của quyền tác giả 2
1.3 Tội xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan được quy định tại Bộ luật Hình sự Việt Nam 3
1.4 Một số hình thức xâm phạm quyền tác giả đối với chương trình máy tính ở Việt Nam 4
1.4.1 Sao chép trái phép (Softlifting) 4
1.4.2 Không hạn chế sự truy cập của máy khách 4
1.4.3 Tải sẵn trong ổ cứng 5
1.4.4 Vi phạm hợp đồng phân phối giữa người bán hàng và nhà sản xuất phần mềm 5
CHƯƠNG 2 6
THỰC TRẠNG XÂM PHẠM QUYỀN TÁC GIẢ 6
VỚI CHƯƠNG TRÌNH MÁY TÍNH 6
THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM 6
2.1.Sự hình thành của pháp luật Việt Nam về bảo vệ quyền tác giả 6
2.2 Tình hình xâm phạm quyền tác giả với chương trình máy tính ở Việt Nam 7
2.2.1 Tình hình chung 7
2.2.2 Tình trạng xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan với chương trình máy tính ở Việt Nam 8
2.3 Nguyên nhân của việc vi phạm bản quyền phần mềm 9
Chương 3 10
MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM GÓP PHẦN GIẢI QUYẾT TÌNH TRẠNG VI PHẠM BẢN QUYỀN PHẦN MỀM TẠI VIỆT NAM 10
3.1 Hoàn thiện hệ thống pháp luật về bảo hộ quyền tác giả 10
Trang 2KẾT LUẬN 13 TÀI LIỆU THAM KHẢO 14
Trang 3PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong những năm qua, hệ thống pháp luật nước ta càng được củng cố và cải thiện trong đó, có pháp luật về sở hữu trí tuệ cũng dần dần quy định chi tiết hơn mà
cụ thể là quyền tác giả, quyền liên quan đang từng bước được hoàn thiện Bên cạnh
đó, nội dung của việc quy định xâm hại về quyền tác giả, quyền liên quan cũng được
Bộ Luật Hình sự 1999 được sửa đổi, bổ sung năm 2009 cũng quy định tại Điều 170a trong chương XVI về các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế
Từ việc quy định cụ thể trên, quyền và lợi ích hợp pháp của từng chủ thể từng bước được quan tâm chú trọng, trong đó là việc bảo hộ quyền tác giả, quyền liên quan Bảo hộ quyền tác giả, quyền liên quan là vấn đề quan trọng luôn được người dân và Nhà nước quan tâm vì quyền tác giả không chỉ đem lại lợi ích kinh tế cho tác giả, mà trong nhiều trường hợp, nó có thể đem lại giá trị kinh tế lớn cho những ai có được nó Hiện nay, nước ta đang trong quá trình hội nhập quốc tế, nhu cầu xây dựng
hệ thống pháp luật bảo hộ hữu hiệu quyền sở hữu với các đối tượng là điều hết sức cần thiết Do đó, trong những năm qua nước ta đã ký kết nhiều điều ước quốc tế như: Công ước Berne1, Hiệp ước quyền tác giả của Wipo2, Hiệp định TRIPs3, … Trong đó Công ước Berne có hiệu lực trước tiên vào ngày 26/10/2004, Hiệp định TRIPs về các khía cạnh thương mại của quyền SHTT có hiệu lực ngày 11 tháng 01 năm 2007 đồng thời với thời điểm Việt Nam là thành viên của Tổ chức Thương mại thế giới WTO Bên cạnh đó, nhà nước ta cũng ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến quyền tác giả như: BLDS năm 2005; Luật SHTT năm 2005; Luật SHTT năm
2005 sửa đổi bổ sung năm 2009; Nghị định số 85/2011/NĐ-CP ngày 20/9/2011 về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 100/2006/NĐ-CP; Bộ luật Hình
sự 1999 sửa đổi, bổ sung năm 2009
Tuy nhiên, một thực tế là tình trạng vi phạm quyền tác giả vẫn đang diễn ra ở hầu hết các lĩnh vực với nhiều hình thức khác nhau mà cụ thể trong bài tiểu luận này, người viết xin được đề cập đến vấn đề vi phạm sở hữu trí tuệ (quyền tác giả) trong lĩnh vực chương trình máy tính đang là vấn đề nghiêm trọng được quan tâm hàng đầu
Để làm rõ hơn về những quy định của pháp luật liên quan đến vấn đề bảo vệ quyền tác giả trong giai đoạn hiện nay và có cái nhìn tổng thể tình hình vi phạm quyền tác giả, quyền liên quan ở Việt Nam Vì thế, người viết chọn đề tài: “Thực trạng xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan với chương trình máy tính và giải pháp hạn chế việc xâm phạm quyền tác giả với chương trình máy tính ở Việt Nam”
để làm bài tiểu luận và làm rõ vấn đề này
1 http://luatvn.net/van-ban-phap-luat/cong-uoc-khongso.33.56105.html , Truy cập ngày 09/6/2016
2
http://thuvienphapluat.vn/van-ban/So-huu-tri-tue/http://luatvn.net/van-ban-phap-luat/cong-uoc-khongso.33.56105.htmlHiep-uoc-quyen-tac-gia-WCT-1996-cua-WIPO-66846.aspx , Truy cập ngày 09/6/2016
3 http://thuvienphapluat.vn/van-ban/Thuong-mai/Hiep-dinh-khia-canh-lien-quan-toi-thuong-mai-cua-Quyen-so-huu-tri-tue-1994-12722.aspx , Truy cập ngày 09/6/2016
Trang 42 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Trong bài tiểu luận này, người viết xin đề cập đến một phần trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ về chương trình máy tính (bản quyền phần mềm) để xác xác định dấu hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự đối với hành vi xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan Trên cơ sở, các quy định của pháp luật và thực tiễn vi phạm hiện nay, từ đó nêu lên cách xác định hành vi xâm phạm, nguyên nhân của sự xâm phạm, hướng hoàn thiện nhằm ngăn chặn và hạn chế hành vi xâm phạm quyền tác giả
3 Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu, người viết đã sử dụng kiến thức từ quá trình học tập; đọc báo; internet và các tài liệu liên quan đến đề tài cũng như vận dụng phương pháp phân tích, tổng hợp, liệt kê, so sánh để làm sáng tỏ nội dung nghiên cứu
4 Bố cục đề tài
Chương 1 Cơ sở lý luận về quyền tác giả và hình thức xâm phạm quyền tác giả với chương trình máy tính ở Việt Nam
Chương 2 Thực trạng xâm phạm quyền tác giả với chương trình máy tính theo pháp luật Việt Nam
Chương 3 Một số giải pháp nhằm góp phần giải quyết tình trạng vi phạm bản quyền phần mềm máy tính tại Việt Nam
Tháng 6 năm 2016 Học viên Cao học Luật Kinh tế Khóa 4 – đợt 2 năm 2015
Nguyễn Thanh Tuấn
Trang 5CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUYỀN TÁC GIẢ VÀ HÌNH THỨC XÂM PHẠM QUYỀN TÁC GIẢ VỚI CHƯƠNG TRÌNH
MÁY TÍNH Ở VIỆT NAM
Trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ, trong đó có quyền tác giả ngày càng có vị trí quan trọng trong đời sống kinh tế hiện đại của mỗi quốc gia, đặc biệt là trong bối cảnh hội nhập và toàn cầu hóa Do vậy, việc xây dựng một hệ thống pháp luật về thiết lập và bảo hộ hữu hiệu quyền sở hữu trí tuệ trong nước phù hợp với các Điều ước quốc tế là nhu cầu cấp thiết đối với sự phát triển nền kinh tế của quốc gia và là yêu cầu tất yếu của quá trình hội nhập và toàn cầu hóa trong giai đoạn hiện nay
1.1 Một số khái niệm cơ bản
1.1.1 Khái niệm quyền tác giả, quyền liên quan
Quyền tác giả hay tác quyền hoặc bản quyền (tiếng Anh: copyright) là độc
quyền của một tác giả cho tác phẩm của người này Quyền tác giả được dùng để bảo
vệ các sáng tạo tinh thần có tính chất văn hóa (cũng còn được gọi là tác phẩm) không
bị vi phạm bản quyền, ví dụ như các bài viết về khoa học hay văn học, sáng tác nhạc, ghi âm, tranh vẽ, hình chụp, phim và các chương trình truyền thanh, phần mềm máy tính Quyền này bảo vệ các quyền lợi cá nhân và lợi ích kinh tế của tác giả trong mối liên quan với tác phẩm này Một phần người ta cũng nói đó là sở hữu trí tuệ (intellectual property) và vì thế là đặt việc bảo vệ sở hữu vật chất và sở hữu trí tuệ song đôi với nhau, thế nhưng khái niệm này đang được tranh cãi gay gắt Mỗi một quốc gia khác nhau lại có những khái niệm khác nhau về quyền tác giả4
Ở Việt Nam, tại khoản 2 Điều 4 Luật sở hữu trí tuệ 2005 sửa đổi bổ sung một
số điều 2009 quy định: “Quyền tác giả là quyền của tổ chức, cá nhân đối với tác
phẩm do mình sáng tạo ra hoặc sở hữu” Như vậy, chúng ta có thể hiểu quyền tác giả
là những quyền mà mọi người được hưởng đối với một tác phẩm văn học nghệ thuật, khoa học, hay một dạng chuỗi ký tự nào đó Người đó, có thể là người sáng tạo ra tác phẩm, sản phẩm hay chỉ đơn thuần là người sở hữu tác phẩm, sản phẩm
Tại khoản 3 Điều 4 Luật sở hữu trí tuệ 2005 sửa đổi bổ sung một số điều 2009
quy định: “Quyền liên quan đến quyền tác giả (sau đây gọi là quyền liên quan) là
quyền của tổ chức, cá nhân đối với cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng, tín hiệu vệ tinh mang chương trình được mã hóa
1.1.2 Khái niệm về chương trình máy tính
Chương trình máy tính là một chuỗi các lệnh được mô tả bằng bất kỳ ngôn ngữ, mã hay hệ thống ký hiệu nào và được thể hiện hoặc lưu trữ trong các vật mang tin được dùng trực tiếp hoặc dùng gián tiếp sau khi qua một hoặc hai khâu: Chuyển đổi sang một ngôn ngữ, mã, hệ thống ký hiệu khác; Tái tạo sang một vật mang tin
4 https://vi.wikipedia.org/wiki/Quy%E1%BB%81n_t%C3%A1c_gi%E1%BA%A3 , Truy cập ngày 09/6/2016
Trang 6khác, làm cho một dụng cụ có khả năng xử lý thông tin thực hiện một chức năng nào đó
Tại Điều 22 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 quy định về: “Quyền tác giả đối với chương trình máy tính, sưu tập dữ liệu”:
1 Chương trình máy tính là tập hợp các chỉ dẫn được thể hiện dưới dạng các lệnh, các mã, lược đồ hoặc bất kỳ dạng nào khác, khi gắn vào một phương tiện mà máy tính đọc được, có khả năng làm cho máy tính thực hiện được một công việc hoặc đạt được một kết quả cụ thể
Chương trình máy tính được bảo hộ như tác phẩm văn học, dù được thể hiện dưới dạng mã nguồn hay mã máy
2 Sưu tập dữ liệu là tập hợp có tính sáng tạo thể hiện ở sự tuyển chọn, sắp xếp các tư liệu dưới dạng điện tử hoặc dạng khác
Việc bảo hộ quyền tác giả đối với sưu tập dữ liệu không bao hàm chính các tư liệu đó, không gây phương hại đến quyền tác giả của chính tư liệu đó
1.1.3 Vi phạm bản quyền phần mềm
Theo Luật sở hữu trí tuệ 2005 tại khoản 10 Điều 28 Hành vi xâm phạm quyền tác quy định “Vi phạm bản quyền phần mềm là việc nhân bản, sản xuất bản sao, phân phối, trưng bày hoặc truyền đạt tác phẩm đến công chúng qua mạng truyền thông và các phương tiện kỹ thuật số mà không được phép của chủ sỡ hữu quyền tác giả”
Như vậy, hành vi vi phạm bản quyền có thể được thực hiện bằng cách sao chép, tải xuống, chia sẽ, bán, cài đặt nhiều lần một bản sao vào máy tính cá nhân hoặc máy tính làm việc
1.2 Đặc trưng của quyền tác giả
Quyền tác giả là một bộ phận của quyền sở hữu trí tuệ, do vậy quyền tác giả có đầy đủ các đặc trưng của quyền sở hữu trí tuệ Quyền sở hữu trí tuệ là một lĩnh vực
sở hữu đặc thù có đối tượng là các tài sản vô hình, tài sản phi vật thể hình thành từ hoạt động sáng tạo của con người Chính điều này cho phép phân biệt giữa sở hữu trí tuệ và sở hữu tài sản thông thường
Việc phân biệt cơ bản của sở hữu trí tuệ và sở hữu thông thường là đối tượng của nó Như chúng ta đã biết, đối tượng của sở hữu tài sản thông thường là các tài sản vật chất hữu hình, có thể tiếp cận, nhìn, ngắm được Còn đối tượng của sở hữu trí tuệ
là các tài sản vô hình, phi vật thể, là kết quả của hoạt động sáng tạo của con người, con người không thể tiếp cận như cầm, nắm vào chúng
Ví dụ cho đối tượng của sở hữu trí tuệ là một phát minh, một bài thơ, một tác phẩm hay một chương trình máy tính nào đó mà chúng ta không thể tiếp cận được và chỉ khi chúng được thể hiện ra dưới một hình thức vật chất nào đó: được in, vẽ trên giấy
GVHD: TS Phạm Văn Beo Trang 2 HVTH: Nguyễn Thanh Tuấn
Trang 71.3 Tội xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan được quy định tại Bộ luật Hình sự Việt Nam
Theo pháp luật Hình sự Việt Nam “Tội xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan” được quy định tại điều 170a của Bộ luật Hình sự năm 1999 được sửa đổi, bổ sung năm 2009 của Chương XVI Các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế Và sắp tới đây, Bộ luật Hình sự 2015 có hiệu lực thì việc quy định về tội xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan được quy định tại Điều 225 của Mục 3 Chương XVIII Các tội xâm phạm về quản lý kinh tế điều này cho thấy việc quy định của bộ luật mới là một bước tiến mới đáp ứng được nhu cầu về mặt quản lý và xử phạt một cách nghiêm khắc hơn
Điều 170a Tội xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan (Bộ luật Hình sự
1999 được sửa đổ, bổ sung năm 2009)
“1 Người nào không được phép của chủ thể quyền tác giả, quyền liên quan
mà thực hiện một trong các hành vi sau đây xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan đang được bảo hộ tại Việt Nam với quy mô thương mại, thì bị phạt tiền từ năm mươi triệu đồng đến năm trăm triệu đồng hoặc cải tạo không giam giữ đến hai năm:
a) Sao chép tác phẩm, bản ghi âm, bản ghi hình;
b) Phân phối đến công chúng bản sao tác phẩm, bản sao bản ghi âm, bản sao bản ghi hình.
2 Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ bốn trăm triệu đồng đến một tỷ đồng hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm:
a) Có tổ chức;
b) Phạm tội nhiều lần.
3 Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ hai mươi triệu đồng đến hai trăm triệu đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm”.
Điều 225 Tội xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan (Bộ luật Hình sự 2015)
“1 Người nào không được phép của chủ thể quyền tác giả, quyền liên quan
mà cố ý thực hiện một trong các hành vi sau đây, xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan đang được bảo hộ tại Việt Nam, thu lợi bất chính từ 50.000.000 đồng đến dưới 300.000.000 đồng hoặc gây thiệt hại cho chủ thể quyền tác giả, quyền liên quan
từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng hoặc hàng hóa vi phạm trị giá từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 300.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm:
a) Sao chép tác phẩm, bản ghi âm, bản ghi hình;
b) Phân phối đến công chúng bản sao tác phẩm, bản sao bản ghi âm, bản sao bản ghi hình.
Trang 82 Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 300.000.000 đồng đến 1.000.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
a) Có tổ chức;
b) Phạm tội 02 lần trở lên;
c) Thu lợi bất chính 300.000.000 đồng trở lên;
d) Gây thiệt hại cho chủ thể quyền tác giả, quyền liên quan 500.000.000 đồng trở lên;
đ) Hàng hóa vi phạm trị giá 500.000.000 đồng trở lên.
3 Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.
4 Pháp nhân thương mại phạm tội quy định tại Điều này, thì bị phạt như sau: a) Pháp nhân thương mại thực hiện hành vi quy định tại khoản 1 Điều này, đã
bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 300.000.000 đồng đến 1.000.000.000 đồng;
b) Phạm tội thuộc trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này, thì bị phạt tiền
từ 1.000.000.000 đồng đến 3.000.000.000 đồng hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn
từ 06 tháng đến 02 năm;
c) Pháp nhân thương mại còn có thể bị phạt tiền từ 100.000.000 đồng đến 300.000.000 đồng, cấm kinh doanh, cấm hoạt động trong một số lĩnh vực nhất định hoặc cấm huy động vốn từ 01 năm đến 03 năm”.
1.4 Một số hình thức xâm phạm quyền tác giả đối với chương trình máy tính ở Việt Nam
Tình trạng xâm phạm quyền tác giả đối với chương trình máy tính ở nước ta hiện nay chủ yếu tập trung vào những hình thức sau:
1.4.1 Sao chép trái phép (Softlifting)
Softlifting là thuật ngữ được dùng khi một người mua một bản sao cấp phép chỉ dành cho việc sử dụng của một người đối với một chương trình nhưng người này lại tải lên nhiều máy
1.4.2 Không hạn chế sự truy cập của máy khách
Việc xâm phạm bằng cách không hạn chế việc truy cập máy khách diễn ra khi bản sao của một chương trình phần mềm được sao đến máy chủ5 của một tổ chức và
hệ thống máy khách6 của tổ chức đó được phép truy cập tự do phần mềm này
5 https://www.google.com.vn/?gws_rd=cr,ssl&ei=z4BuV62oCYH2vAS435TwCg#q=m%C3%A1y+ch%E1%BB
%A7+l%C3%A0+g%C3%AC , truy cập ngày 25/6/2016
6 https://vi.wikipedia.org/wiki/Client-server , truy cập ngày 25/6/2016
GVHD: TS Phạm Văn Beo Trang 4 HVTH: Nguyễn Thanh Tuấn
Trang 91.4.3 Tải sẵn trong ổ cứng
Hình thức tải sẳn trong ổ cứng diễn ra khi một cá nhân hay công ty bán máy tính cài vào máy tính bán các bản sao phần mềm bất hợp pháp
1.4.4 Vi phạm hợp đồng phân phối giữa người bán hàng và nhà sản xuất phần mềm
Một số phần mềm được biết đến là phần mềm OEM7 (Original Equipment Manufactuner – Nhà sản xuất thiết bị gốc) chỉ được phép bán một cách hợp pháp với các phần cứng cụ thể Khi chương trình này được sao chéo và bán tách rời với phần cứng thì đây được xem là sự vi phạm hợp đồng phân phối giữa người bán hàn và nhà sản xuất phần mềm Tương tự thuật ngữ “Unbundling” chỉ cho hành vi bán phần mềm một cách riêng rẽ đó được xem là hành vi hợp pháp khi nằm trong phần tron gói khác Chương trình phần mềm được đánh dấu bởi dòng chữ “không cho bán” thường
là các ứng dụng trọn gói
7 http://winbanquyen.com/win8/hoi-dap-win8/2225-ban-quyen-windows-ky-hieu-oem-oei-olp-fpp-khac-nhau-nhu-the-nao.html , truy cập ngày 25/6/2016
Trang 10CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG XÂM PHẠM QUYỀN TÁC GIẢ
VỚI CHƯƠNG TRÌNH MÁY TÍNH THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM 2.1.Sự hình thành của pháp luật Việt Nam về bảo vệ quyền tác giả
Sau Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng năm 1986, đất nước bắt đầu công cuộc đổi 0 mới với sự chuyển đổi nền kinh tế từ kế hoạch hóa tập trung sang kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa Trong công cuộc đổi mới này, quyền dân sự - trong đó có quyền sở hữu trí tuệ, mà cụ thể là quyền tác giả của
cá nhân được tôn trọng và bảo vệ hơn
Từ năm 1989, Đảng và Nhà nước ta xác định rõ vai trò của tài sản trí tuệ và bảo hộ quyền tác giả là một trong những yếu tố quan trọng trong xây dựng nền kinh
tế thị trường, vì thế Đảng và Nhà nước ta đã nỗ lực xây dựng hệ thống pháp luật sở hữu trí tuệ, đặc biệt là về quyền tác giả
Ngay từ bản Hiến Pháp đầu tiên năm 1946, Nhà nước Việt Nam đã ghi nhận những quyền cơ bản của công dân, trong đó có đề cập đến quyền tác giả, thể hiện tư tưởng tiến bộ, nhân văn về con người Tư tưởng lập pháp đó được tiếp tục ghi nhận trong các bản Hiến pháp 1959, 1980, 1992 và gần đây nhất là Hiến pháp 2013 Tại Điều 40 Hiến pháp 2013 có quy định: “Mọi người có quyền nghiên cứu khoa học và công nghệ, sáng tạo văn học, nghệ thuật và thụ hưởng lợi ích từ các hoạt động đó”
Năm 1985, Bộ luật Hình sự ra đời8 được coi là một dấu mốc quan trọng trong
sự phát triển của pháp luật Việt Nam đặc biệt là về sở hữu trí tuệ Việt Nam được quy định tại Điều 126 Bộ luật Hình sự 1985 Tội xâm phạm quyền tác giả, quyền sáng chế, phát minh
Thêm vào đó, Luật Sở hữu trí tuệ được Quốc hội Việt Nam thông qua tại kỳ họp thứ 8 ngày 19 tháng 11 năm 2005 và có hiệu lực ngày 01 tháng 7 năm 2006 thể hiện bước tiến vượt bậc của pháp luật về quyền tác giả Việt Nam và tính hoàn thiện của hệ thống pháp luật về quyền tác giả, cùng với Bộ luật Hình sự 1999 được sửa đổi,
bổ sung năm 2009 và các văn bản hướng dẫn thi hành tạo hành lang pháp lý an toàn, khuyến khích các hoạt động sáng tạo và bảo hộ thành quả của lao động sáng tạo, bảo đảm hài hòa lợi ích giữa các chủ thể sáng tạo và các chủ thể khác, bảo vệ lợi ích quốc gia, tương thích với luật pháp quốc tế, thể hiện sự minh bạch, khả thi, góp phần thúc đẩy hoạt động bảo hộ quyền tác giả tại quốc gia
Tuy nhiên, qua một thời gian áp dụng, Luật sở hữu trí tuệ vẫn bộc lộ một số hạn chế và để khắc phục hạn chế này, Luật sở hữu trí tuệ năm 2005 đã được kỳ họp thứ 5 Quốc hội Khóa XII thông qua sửa đổi, bổ sung một số điều ngày 19/6/2009 và
có hiệu lực từ ngày 01/01/2010 gồm 6 phần, 18 chương và 222 điều Trong đó, quyền tác giả và quyền liên quan được ghi nhận tại Phần 2 bao gồm các quy định: Điều kiện
8 http://www.moj.gov.vn/vbpq/lists/vn%20bn%20php%20lut/view_detail.aspx?itemid=3276 , truy cập ngày 24/6/2016
GVHD: TS Phạm Văn Beo Trang 6 HVTH: Nguyễn Thanh Tuấn