Hiện trạng nhận thức của trẻ em nông thôn về các quy định pháp luât, so sánh với yêu cầu thực tiễn của công tác tuyên truyề giáo dục pháp luật hiên nay. Đánh giá vấn đề và đưa ra giải pháp. Khóa Luận tốt nghiệp loại giỏi ngành Xã Hội học
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Việt Nam là một trong các nền kinh tế tăng trưởng nhanh nhất trên thế giới vàđồng thời là nước dẫn đầu khu vực và thế giới trong việc hoàn thành các Mục tiêu Pháttriển Thiên Niên Kỷ, thế nhưng phát triển kinh tế xã hội nhanh đi đôi với quá trình đôthị hóa mãnh mẽ cũng đặt ra các vấn đề xã hội cũng như các thách thức mới
Sự biến đổi tác động đến mọi mặt của đời sống, cấu trúc gia đình Việt Namđang thay đổi nhanh chóng Tỷ lệ ly hôn tăng và di cư vì động cơ kinh tế về cơ bản
đã làm thay đổi cấu trúc gia đình truyền thống Gánh nặng buộc phải kiếm đủ tiền
để nuôi gia đình dẫn đến hệ quả là năm 2006 có 7% các bà mẹ và 22% các ông bốkhông có thời gian chăm sóc con cái hàng ngày [1] và tỉ lệ này không ngừng tănglên Vai trò của nhà trường và xã hội đối với trẻ em ngày càng tăng thêm trong khi
hệ thống giáo dục cũng như chính sách xã hội cho trẻ em còn nhiều bất cập Đó là
hệ quả của một vấn đề xã hội nhức nhối hiện nay: trẻ em vi phạm chuẩn mực đạođức, vi phạm pháp luật ngày càng tăng
Bộ Công an báo cáo tổng kết 5 năm trở lại đây, mỗi năm có 16.000 - 18.000trẻ em chưa thành niên phạm tội nghiêm trọng Con số này chiếm 15 - 18% tộiphạm Tức là với diễn biến như vậy chỉ sau 5 - 10 năm nữa đất nước chúng ta sẽ cógần 1 triệu người có tiền án tiền sự, trong đó có 200.000 người dưới 30 tuổi.[2] Đó
là những vụ việc được thống kê với các đối tượng trẻ em đủ tuổi chịu trách nhiệmpháp lý Song trong thực tế xuất hiện ngày càng nhiều những hành vi lệch chuẩn từtrẻ em như đánh nhau hội đồng, tụ tập bỏ nhà đi bụi, chia bè phái, lập hội tẩy chaybạn hay sử dụng các phương tiên giao thông chưa cho phép, vi phạm kỉ luật trườnghọc…vv còn chưa được thống kê!
Mặt khác, trẻ em hiện nay bị lạm dụng, bạo hành, bóc lột sức lao động, khảnăng tự bảo vệ kém cũng trở thành vấn đề bức thiết của xã hội Tức là hiện naynước ta đang phải đối mặt với nguy cơ tội pham trẻ em và phạm tội trẻ em ngàycàng tăng về số lượng và mức độ nghiêm trọng
Trang 2Ưu tiên cho trẻ em- tương lai của đất nước, Việt Nam là một trong số nhữngquốc gia có hệ thống các văn bản luật và chính sách cho trẻ em khá nhiều, là quốcgia đầu tiên của châu Á công nhận quyền trẻ em trong công ước liên hợp quốc, vàpháp luật quốc gia: Luật bảo vệ, chăm sóc, và giáo dục trẻ em năm 2004 …vv thếnhưng từng ngày những vấn đề trẻ em vẫn diễn ra ngày càng nghiêm trọng và giảiquyết vấn đề này trở thành cấp thiết Đặc biệt trong thống kê của Tòa án nhân dâncác cấp cho biết giai đoạn từ năm 2005 đến nay có đến hơn 70% đối tượng phạmpháp là trẻ em không nhận thức được hành phi phạm pháp của mình, không lườngtrước được hậu quả Hơn 60% các vụ việc nghiêm trọng do các đối tượng trẻ em ởcác vùng nông thôn vùng núi hải đảo thực hiện do thiếu hiểu biết pháp luật.[3]Tỉ lệtrẻ em được thống kê bị lạm dụng, bóc lột sức lao động được thống kê có đến 78%
là trẻ em xuất than từ các vùng nông thôn, miền núi [4]
Như vậy có thể nhận thấy rõ ràng giáo dục tuyên truyền pháp luật cho trẻ emnói chung, trẻ em nông thôn nói riêng là điều vô cùng cần thiết cần thiết song việcthực hiện vai trò này của gia đình, nhà trường và xã hội vẫn đang gặp nhiều vướngmắc, khó khăn
Do yêu cầu cấp thiết của vấn đề, trong những năm qua đã có rất nhiều côngtrình nghiên cứu khoa học của các nghành, bài viết, phóng sự đã đi vào nhận địnhtình hình, đưa ra những phân tích về nguyên nhân , đồng thời đề ra những giải phápcho tình trạng đáng báo động của tội phạm trẻ em và phạm tội với trẻ hiện nay Haytheo một hướng nghiên cứu nhấn mạnh vai trò chăm sóc, nuôi dưỡng cho trẻ em củagia đình xã hội và hầu hết các nghiên cứu đều mang tính khái quát chung, cách thứcgiải quyết vấn đề vẫn chưa đạt được hiệu quả cao Chưa có một đề tài nào đi vàonghiên cứu tại sao chúng ta có một hệ thống pháp luật bảo vệ trẻ em khá đầy đủ mà
tỉ lệ phạm pháp vẫn ở mức cao? Vấn đề thực sự nằm ở nhận thức pháp luật của trẻ
em hay công tác tuyên truyền giáo dục của gia đình, nhà trường và xã hội chưa thực
sự hiệu quả? Những yếu tố gì chi phối đến quá trình nhận thức, tuyên truyền giáodục và pháp luật cho trẻ em nông thôn?
Vì những thắc mắc trên với những vấn đề còn tồn tại, tác giả quyết định lựa
chọn đề tài nghiên cứu: “Tuyên truyền giáo dục pháp luật cho trẻ em nông thôn
Trang 3hiện nay.( Khảo sát tại xã Khánh Phú- huyện Yên Khánh- tỉnh Ninh Bình)”.
Nhằm tìm hiểu thực trạng nhận thức pháp luật của nhóm trẻ em nông thôn hiên nay
và các hoạt động cũng như hiệu quả tuyên truyền giáo dục pháp luật của các bộphận trong đời sống xung quanh các em Đánh giá các yếu tố tác động nhận địnhvấn đề tồn tại, đưa ra những khuyến nghị giải pháp hiệu quả cho vấn đề trẻ em viphạm pháp luật và ngăn chặn phạm tôi trẻ em ngày càng gia tăng
2 Tổng quan vấn đề nghiên cứu
Nuôi dưỡng, chăm sóc bảo vệ và giáo dục trẻ em luôn là vấn đề quan trọngcủa bất kì quốc gia nào, không chỉ riêng Việt Nam Song đi cùng với điều kiện cuộcsống ngày càng nâng cao những biến đổi xã hội cũng kéo theo nhưng hệ lụy củaphát triển không đồng bộ, thiếu kiểm soát Trẻ em đi cùng những cơ hội là nhữngnguy cơ phạm tội gia tăng, suy nghĩ hành động lệch chuẩn, bị lạm dụng…vv Do đó,trong những năm gần đây nghiên cứu về các vấn đề trẻ em đang trở thành yêu cầucần thiết,cấp bách, đã có rất nhiều các đề tài nghiên cứu, công trình nổi tiếng củanhiều tác giả có liên quan như:
Báo cáo “Trẻ em nghèo Việt Nam sống ở đâu?- Xây dựng và áp dụng cách tiếp cận đa chiều về trẻ em nghèo Việt Nam”tháng 11 năm 2008 Bộ Lao động,
Thương binh và Xã hội, UNICEF Việt Nam Nhằm mục đích làm công cụ vận động
để nâng cao nhận thức của công chúng, mặt khác cũng được sử dụng trong quá trìnhthiết kế và giám sát chính sách Do đó, báo cáo đã vừa đưa ra số liệu thống kê tổnghợp trực quan dễ hiểu, mặt khác cung cấp những thông tin chi tiết ở nhiều cấp độ vàphân tích khác nhau về các vấn đề trẻ em riêng ở Việt Nam Báo cáo là một côngtrình lớn khái quát được vấn đề trẻ em nghèo song cũng là chuẩn mực về cácphương pháp đo lưởng trong nghiên cứu trẻ em Tuy không đi sâu hẳn vào một vấn
đề cụ thể mà tiếp cận đối tượng trẻ em theo nhiều chiều hướng, do đó khóa luận sẽ
sử dụng kết quả của báo cáo để làm rõ vấn đề nghiên cứu đồng thời tìm hiểu, tiếpthu hiệu quả phương pháp đo lường, nghiên cứu phù hợp với đối tượng, khách thểnghiên cứu của khóa luận
Trang 4Đề tài nghiên cứu khoa học” Một số vấn đề cơ bản về trẻ em Việt Nam” do
ThS Đặng Bích Thủy làm chủ nhiệm, Viện Gia đình và Giới là cơ quan thực hiện.
( Năm 2009- 2010) Với mục tiêu nghiên cứu của đề tài nhằm chỉ ra những vấn đề
xã hội mang tính gay gắt mà trẻ em đang phải đối mặt và lý giải, phân tích bối cảnh,nguyên nhân của vấn đề từ góc độ chính sách đến nhận thức và hành động xã hội;
dự báo xu hướng, đề xuất giải pháp cho giai đoạn 2010-2020 nhằm góp phần hạnchế và giải quyết các vấn đề của trẻ em Đề tài đi vào tìm hiểu hệ thống pháp luật vàchính sách của Việt Nam những năm qua về những vấn đề chăm sóc, bảo vệ và giáodục trẻ em Tìm hiểu thực trạng việc tiếp cận các cơ hội phát triển của trẻ em trongcác lĩnh vực y tế, giáo dục và bảo vệ trẻ em trong những năm gần đây, chỉ ra nhữngvấn đề mang tính thách thức, nguyên nhân và các yếu tố tác động
Bài viết: “Tăng cường giáo dục pháp luật và đạo đức trong các nhà trường” tác giả Phan Hồng Dương đăng trên http://www.bentre.edu.vn ngày 16
tháng 11 năm 2010 Bài viết đã chỉ thẳng vào thực tế đó là tình trạng đạo đức lốisống của một bộ phận giới trẻ có nhiều bất ổn, từ thái độ học tập, ý thức chấp hànhnội quy, kỷ luật của nhà trường, chấp hành pháp luật đến những hành vi tiêu cựctrong học tập, thi cử của học sinh và sự xâm nhập các tệ nạn xã hội vào học đường.Trong đó tác giả Hồng Dương có sử dụng dẫn chứng xác thực là kết quả khảo sátcủa Viện Nghiên cứu và phát triển Giáo dục Việt Nam, tỉ lệ học sinh đi học muộn:Tiểu học 20%, THCS 21%, THPT 58%, tỉ lệ quay cóp: tiểu học 8%, THCS 55%,THPT 60%, tỉ lệ nói dối cha mẹ: Tiểu học 22%, THCS 50%, THPT 60%, tỉ lệkhông chấp hành an toàn giao thông: Tiểu học 4%, THCS 35%, THPT 70%: Nhữngcon số cho thấy ý thức học sinh ngày càng đi xuống theo sự phát triền của độ tuổi.Đồng thời từ thực trạng tác giả còn chỉ ra thực trạng đó đang tồn tại trong khi ở nhàtrường, chương trình giáo dục lại chưa thể hiệnđược vai trò giáo dục pháp luật nângcao đạo đức trong các môn học Tuy mới đề cập vấn đề giáo dục trẻ em trong nhàtrường, chưa xem xét các yếu tố khác như môi trường gia đình, xã hội hay sự tổchức, lôi quấn của các tổ chức đoàn thể xã hội,mới chỉ thiên về phản ánh thực trạngcủa vấn đề thiếu sót trong giáo dục pháp luật và đạo đức cho trẻ em Song bài viết
là nguồn tư liệu quý giá đối với khóa luận, vì đã nói lên một phần thực trạng của
Trang 5vấn đề và sự cần thiết phải giáo dục pháp luật, vừa kế thừa vừa phát triển thêm cácyếu tố để làm sang tỏ giải pháp cho vấn đề giáo dục pháp luật trong nhà trường-một trong những nội dung trọng tâm mà khóa luận hướng đến.
Hội thảo: “ Quyền trẻ em trong pháp luật quốc gia và quốc tế- đánh giá thực hiện quyền trẻ em tại Việt Nam” Do Ủy ban văn hóa, giáo dục, thanh niên,
thiếu niên và nhi đồng (VHGDTNTN&NĐ) của Quốc hội phối hợp với Quỹ nhi đồng Liên hợp quốc tại TP HCM tổ chức, tháng 1 năm 2013, các chuyên gia về bảo
vệ trẻ em và chuyên gia Unicef trình bày các báo cáo: Về quyền trẻ em trong luậtpháp quốc gia; báo cáo về quyền trẻ em trong luật pháp quốc tế; một số nội dungcủa Ban soạn thảo đề xuất sửa đổi, bổ sung Luật bảo vệ chăm sóc giáo dục trẻ em(BVCSGDTE) năm 2004; báo cáo quốc gia về tình hình thực hiện Công ước quyềntrẻ em giai đoạn 2008-2011; các khuyến nghị với Chính phủ Việt Nam của Ủy banQuyền trẻ em.Từ đó cung cấp cái nhìn tổng thể về tình hình thực hiện quyền trẻ emtại Việt Nam trong giai đoạn hiện nay Đồng thời đánh giá hệ thống chính sách,pháp luật về quyền trẻ em của Việt Nam trên cơ sở chuẩn mực của quốc tế; phântích những nội dung còn bất cập, chưa khả thi, chưa được quy định trong văn bănpháp luật hiện nay của Việt Nam; thảo luận về tình hình và chia sẽ kinh nghiệmtrong việc thực hiện quyền trẻ em tại địa phương, đề xuất những nội dung phù hợpcần đưa vào luật sửa đổi
Đề tài nghiên cứu khoa học: “Vai trò của gia đình đối với người chưa thành niên vi phạm pháp luật hiện nay” (Nghiên cứu tại trường giáo dưỡng số 2-
Ninh Bình) tác giả Phạm Thị Thùy Dung, tháng 5 năm 2012, đề tài là một công
trình nghiên cứu của chính tác giả về vai trò của gia đình đối với đối tượng là trẻ em
vi phạm pháp luật, kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng hoàn cảnh gia đình và thái độ củacha mẹ đối với con cái chính là yếu tố quan trọng quy định hành vi cũng như cách
cư xử của con trẻ Đối với trẻ em những quy định pháp luật chỉ được cụ thể hóatrong từng hành vi cử chỉ thường ngày của mỗi người xung quanh, do đó khóa luận
sẽ là nghiên cứu bước tiếp của đề tài khi xem xét hiệu quả cũng như cách thức giáodục, tuyên truyền pháp luật đối với con cái của gia đình
Trang 6Ngoài ra còn có rất nhiều đề tài khác nghiên cứu khá sâu về các vấn đề trẻ
em Trong vấn đề này, các tác giả đã cố gắng góp phần giải đáp các khía cạnh khácnhau của vấn đề bằng những phương diện khác nhau, phân tích những tác nhân thúcđẩy, những ảnh hưởng tích cực, tiêu cực đến vấn đề chăm sóc, bảo vệ và giáo dụctrẻ em nói chung và theo các chế định pháp luật nói riêng một cách hiệu quả nhấttrước những tác động của biến đổi xã hội…
Tuy nhiên cho đến nay,nhận thấy chưa có một nghiên cứu nào đi sâu vào vấn
đề tuyên truyền giáo dục pháp luật cho trẻ em nói chung và đặc biệt là trẻ em nôngthôn Tác giả nhận thấy có một vấn đề đang tồn tại rõ đó là dù có một hệ thống phápluật, chính sách cho trẻ em hoàn thiện đến mức nào mà khi chính bản thân các em-gia đình các em- môi trường mà các em đang sống không hề có nhận thức hiểu biếtthì pháp luật- quy định đó cũng là sáo rỗng, hình thức, không có giá trị Bởi vậy,xây dựng luật trên cơ sở đời sống song phải đưa pháp luật trở lại cuộc sống thì luậtmới có ý nghĩa, điều này chỉ có được thông qua công tác tuyên truyền giáo dục Do
đó đi sâu nghiên cứu vào thực trạng các hoạt động tuyên truyền giáo dục pháp luậtcho trẻ em nông thôn, vai trò của các bộ phận gia đình- nhà trường- xã hội tạo trongviệc tạo nên một môi trường sống lành mạnh có trật tự pháp luật được thể hiện nhưthế nào, trẻ em cần gì ở những quy định pháp luật của nhà nước… là những vấn đề
mà khóa luận hướng đến Vì vậy có thể khẳng định đây là đề tài đầu tiên đi vàonghiên cứu về tuyên truyền giáo dục pháp luật cho trẻ em ở nông thôn hiện nay,trong bối cảnh môi trường nông thôn Việt Nam đang đứng trước những biến đổi tolớn của quá trình CNH- HĐH- ĐTH và khách thể là đối tượng trẻ em luôn cần sựquan tâm, chăm sóc của toàn xã hội
3 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài
3.1 Ý nghĩa khoa học của đề tài
- Việc tiến hành nghiên cứu đề tài chính là quá trình vận dụng một cách sángtạo những kiến thức của ngành Xã hội học vào một vấn đề cụ thể, một lĩnh vực cụthể để nghiên cứu một vấn đề thực tiễn Từ đó có thể là tài liệu tham khảo bổ íchcho các công trình nghiên cứu về sau với các vấn đề có liên quan
Trang 7- Nghiên cứu đề tài giúp chúng ta có cái nhìn khách quan, khoa học, đánh giátương đối toàn diện thực trạng hiểu biết pháp luật của trẻ em nông thôn hiện nay, lýgiải những vấn đề suy thoái đạo đức và những hành vi lệch chuẩn mà trẻ em thựchiện ngày càng phổ biến hiện nay.
- Thông qua nghiên cứu đề tài, phần nào làm sáng tỏ hệ thống khái niệm, lýthuyết, phương pháp nghiên cứu Trong đó, làm rõ các khái niệm: trẻ em, tuyêntruyền giáo dục, gia đình, trường học, tổ chức xã hội
3.2 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài
Qua kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ góp phần phân tích và làm rõ hơn vềthực trạng giáo dục và tuyên truyền pháp luật cho trẻ em nông thôn hiện nay Qua
đó, giúp các nhà quản lý và hoạch định chính sách xã hội nói chung và các cấpchính quyền địa phương nói riêng đánh giá được những mặt tích cực và hạn chếcủa việc tuyên truyền giáo dục trẻ em hiểu biết, phân biệt và có những hành vi đúngvới chuẩn mực đạo đức và pháp luật Từ đó có những giải pháp thích hợp, để tạo lậpcác chính sách cụ thể về vấn đề đưa các quy định pháp luật vào nhận thức của mọitầng lớp nhân dân nói chung và trẻ em nông thôn nói riêng, hướng đến xây dựngmột đất nước phát triển bền vững “Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ
và văn minh, với một thế hệ tương lai giàu cả về thể lực trí lực và đạo đức
4 Mục đích, mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
4.1 Mục đích nghiên cứu
Đề tài hi vọng sẽ là nghiên cứu mới về trẻ em trong vấn đề hiểu biết phápluật đi từ hoạt động tuyên truyền giáo dục trong môi trường sống của các em củacác em từ trong gia đình, đến nhà trường và các tổ chức đoàn thể xã hội Đánh giánhận thức về pháp luật và hành vi của trẻ em từ đó có thể đưa ra những biện pháp
để nâng cao nhận thức cho trẻ em đồng thời có những khuyến nghị để có nhữngđiều chỉnh vai trò, chức năng của môi trường sống của trẻ em cho phù hợp với thựctiễn phát triển
Từ mục mục đích trên, tác giả xác định mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu:
Trang 84.2.Mục tiêu nghiên cứu:
- Làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn việc tuyên truyền và giáo dục pháp luậtcho trẻ em nông thôn
- Đánh giá nhận thức pháp luật thông qua hành vi của trẻ em
- Làm rõ mối quan hệ giữa mức độ nhận thức đó với các hoạt động giáo dụctuyên truyền pháp luật của gia đình nhà trường và các tổ chức đoàn thể xã hội
- Đánh giá vai trò của các bộ phận: GĐ- NT- XH trong tuyên truyền giáo dụcpháp luật cho trẻ em
- Tìm ra các nguyên nhận ảnh hưởng đến hiệu quả của các hoạt động tuyêntruyền và chất lượng giáo dục pháp luật cho trẻ em
- Đưa ra những khuyến nghị giải pháp cho những vấn đề nghiên cứu
4.3.Nhiệm vụ nghiên cứu
- Thao tác hóa một số khái niệm cơ bản
- Đánh giá thực trạng nhận thức của trẻ em nông thôn về pháp luật( cácquyền và nghĩa vụ cơ bản)
- Đánh giá việc thực hiện các chức năng giáo dục và tuyên truyền pháp luậtcủa : gia đình, nhà trường và các tổ chức đoàn thể xã hội ( trong đó hoạt độngtuyên truyền tập trung vào các tổ chức đoàn thể, chính quyền; chức năng giáo dụctập trung đến vai trò của gia đình và nhà trường)
- Tìm hiểu tác động và hiệu quả của việc giáo dục tuyên truyền đến trẻ em
- Tìm ra các yếu tố ảnh hưởng đến việc tuyên truyền và giáo dục pháp luậtcho các nhóm trẻ em nông thôn
- Đưa ra được những khuyến nghị cho vấn đề nêu ra
5 Đối tượng khách thể và phạm vi nghiên cứu
5.1 Đối tượng nghiên cứu
Tuyên truyền giáo dục pháp luật pháp luật cho trẻ em nông thôn hiện nay
5.2 Khách thể nghiên cứu
Trẻ em trên địa bàn xã đang học tại các trường tiểu học, trung học cơ sở,trung học phổ thông; gia đình của các em, nhà trường và các tổ chức đoàn thể xã
Trang 9hội có những hoạt động gần với trẻ em( như: Đội thiếu niên tiền phong ĐoànThanh Niên, …)
5.3 Phạm vi nghiên cứu
-Thời gian nghiên cứu:
Thời gian thực hiện đề tài: từ tháng 1 đến tháng 5 năm 2013
Thời gian nghiên cứu: từ năm 2009- 2013
- Không gian nghiên cứu:
Trên địa bàn xã Khánh Phú – huyện Yên Khánh- Tỉnh Ninh Bình
- Nội dung nghiên cứu:
Đề tài hướng đến 3 nội dung lớn:
Một là, Đánh giá thực trạng nhận của trẻ em nông thôn về pháp luật, trong đóquan tâm đến mối quan hệ giữ nhận thức và hành vi thể hiện trong thực tế
Hai là, Đánh giá vai trò của GĐ, NT, và TCĐT trong giáo dục tuyên truyềnpháp luật cho trẻ, trong đó hoạt động giáo dục của Gia đình, nhà trường được xem
là trọng tâm nghiên cứu, TCXH sẽ được xem xét như các môi trường tác động
Ba là, Tìm ra các yếu tố tác động đến hiệu quả giáo dục tuyên truyền phápluật ở nông thôn cho trẻ em
6 Phương pháp nghiên cứu
6.1.Phương pháp luận
Với đề tài này, nhóm em lấy chủ nghĩa duy vật lịch sử và chủ nghĩa duy vậtbiện chứng của chủ nghĩa Mac- Lênin để làm cơ sở cho vệc nghiên cứu đề tài củamình Thông qua đó, các hành động cũng như sự kiện, hiện tượng sảy ra được nhìnnhận và đánh giá một cách khách quan, khoa học và chính xác
Thứ nhất, các sự vật hiện tượng trên thế giới, chỉ biều hiện sự tồn tại củamình thông qua các mối quan hệ, vận động, tác động qua lại lẫn nhau Chúng cómối quan hệ mật thiết với nhau, một nguyên nhân có thể mang lại nhiều kết quảkhác nhau, hay cùng có thể chỉ một kết quả do một nguyên nhân Do đó, việc xácđịnh đánh giá hiệu quả cũng như vai trò của các bộ phận gia đình nhà trường hay xã
Trang 10hội trong việc giáo dục tuyên cho truyền giáo dục pháp luật cho trẻ em cũng có mốiquan hệ gắn bó với nhau không tách rời.
Thứ hai, các sự kiện, sự vật sảy ra, tồn tai luôn gắn liền với thực tiễn đờisống, do đó quá trình nghiên cứu luôn phải gắn với thực tiền đời sống, điều kiệnkinh tế xã hội, bối cảnh xã hội trong thời điểm nghiên cứu
Như vậy, với việc sử dụng các phương pháp luận khoa học nói trên sẽ chochúng ta có một quan điểm đúng đắn khi tiến hành lập luận, cũng như giải thích cácđặc điểm cơ bản của quá trình nhận thức khi tiến hành nghiên cứu này
6.2 Phương pháp nghiên cứu cụ thể
6.2.1 Phương pháp phân tích tài liệu
Để có được những nguồn thông tin cần thiết phục vụ cho quá trình nghiêncứu, nhóm em sử dụng các tài liệu:
+ Kết quả của những nghiên cứu trước
+ Thông tin từ sách báo,internet và các phương tiện truyền thông
+ Báo cáo của địa phương, nhà trường và các đoàn thể xã hội về các hoạtđộng tuyên truyền giáo dục pháp luật
Đặc biệt, tác giả sử dụng nguồn tài liệu là các Video clip, báo tường củachính các em học sinh khi tham gia các hoạt động tuyên truyền giáo dục pháp luật
để làm rõ thêm các yếu tố ảnh hưởng đến hiểu quả giáo dục đạo đức pháp luật chotrẻ em nông thôn
Phân tích, đánh giá kết quả, chọn lọc, kế thừa và vận dụng vào đề tài
6.2.2 Phương pháp điều tra bảng hỏi
Tiến hành phương pháp điều tra bảng hỏi với hai nhóm đối tượng:
- Nhóm một: Trẻ em trong độ tuổi từ 7 đến dưới 18 tuổi Điều tra bẳng bảnghỏi tự ghi,cho 90 mẫu theo phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên đơn giản
- Nhóm hai: Người dân xã Khánh Phú( phụ huynh học sinh, thầy cô, cán bộđịa phương )
Trưng cầu ý kiến 90 mẫu theo phương pháp chon mẫu ngẫu nhiên đơn giản
Trang 117 Giả thuyết nghiên cứu và khung lý thuyết
7.1 Giả thuyết nghiên cứu
Giả thuyết 1: Nhận thức về pháp luật của trẻ em nông thôn hiện nay còn
thấp
Giả thuyết 2: Tuyên truyền giáo dục pháp luật cho trẻ em nông thôn còn
nặng tính hình thức, giáo điều, chưa đạt được hiệu quả
Giả thuyết 3: Đối với trẻ em vai trò giáo dục pháp luật trong gia đình đóng
vai trò quan trọng và hiệu quả nhất
Trang 127.2 Khung lý thuyết
Tuyên truyền giáo dục pháp luật cho trẻ em.
Tuyên truyền giáo dục pháp luật cho trẻ em.
Đặc điểm nhân khẩu
Đặc điểm nhân khẩu
Điều kiện KT- VH- CT- XH
Gia đình
Gia đình
Nhà trường
Nhà trường
Hình thức
Nội dung
Hiệu quả
Trẻ em nông thôn
Trẻ em nông thôn
Các tổ chức đoàn thể XH
Trang 13Vai trò là một khái niệm then chốt trong lý thuyết xã hội học Nó nhấn mạnhnhững kì vọng xã hội gắn với những vị thế hay vị trí nhất định trong xã hội và nóphân tích sự kì vọng ấy.
Tiếp cận phát triển nhân học xã hội của Ralph Linton đưa ra một giải thíchcấu trúc về các vai trò trong hệ thống xã hội Ở đây vai trò trở thành các nhómquyền lợi và nghĩa vụ được quy chuẩn, được thiết chế hóa nghiêm ngặt
Các giải thích cấu trúc về vai trò tìm cách xác định một vị thế trong xã hội
Do đó lý thuyết vai trò cho rằng mỗi vị thế trong xã hội sẽ đi kèm với một loạiquyền lợi và trách nhiệm chuẩn mực gắn với một loại kiểu lý tưởng của vị trí này
Và sự kì vọng của xã hội trong việc thực thực thi quyền lợi và trách nhiệm đó cấuthành vai trò Bất cứ ai cũng sẽ giữ một loạt vị thế( như làm mẹ, làm giáo viên…)
và chúng tạo nên các vị thế, với mỗi vị thế đều chứa đựng một vai trò riêng của nó.Mỗi một vai trò gắn với một đối tác khác nhau, và mỗi nhóm lại có hệ kì vọng riêngcủa họ
Trong hệ thống lý thuyết xã hội của Parson, những khuôn mẫu vai trò đượcxác định thông qua cái gọi là các biến số khuôn mẫu, hay sự lựa chọn giữa các cặpchuẩn mực loại trừ nhau Song vai trò là sự kết hợp của khuôn mẫu tác phong bênngoài (hành động) và tác phong tinh thần( kiến thức, sự suy nghĩ) Nó không phảibao giờ cũng là những cơ chế tác phong độc đoán, cứng rắn, thụ động( như các vaitrò trong một số nghi thức tôn giáo) mà chỉ có tính co dãn, chủ yếu chịu tác động từ
Trang 14phía chủ thể, phong cách thực hiện vai trò, mức độ tích cực, và mức độ nhận thức
về vai trò đó
Trong đề tài này, tác giả muốn hướng đến xem xét các bộ phận trong môitrường sống của trẻ em nông thôn: gồm gia đình nhà trường và các tổ chức chínhtrị- xã hội đoàn thể đã và đang đảm nhận vai trò trong tuyên truyền và giáo dụcpháp luật cho trẻ em như thế nào Những phương thức để các bộ phận đó thực hiệnđược các chức năng của mình một cách hiệu quả nhất song hiệu quả đạt được cóđưa pháp luật vào bảo vệ trẻ em
Mặt khác, sự khác biệt về tầm quan trọng của các vai trò và việc xác định cácloại vai trò sẽ tạo nên sự khác biệt trong việc thực hiện vai trò của từng thành phầntrong môi trường xã hội hóa
1.1.2 Lý thuyết tương tác xã hội
Lý thuyết tương tác nổi lên từ cuối thế kỷ XIX- đầu thế kỷ XX ở Mỹ người
ta coi Gerber Mead là nhà sáng lập ra thuyết tương tác nhưng chính Herber Blumer
là người đấu tranh cho những công lao và tính khả dụng của lý thuyết này đối vớiphân tích xã hội học Ba tiền đề được Blumer phát biểu gồm:
Tiền đề 1 “Con người hành động hướng về những sự vật trên cơ sở củanhững nghĩa mà sự vật ấy có đối với họ”
Tiền đề 2 “Nghĩa của những sự vật ấy được phát sinh, hay nảy sinh từ những
sự tương tác xã hội của con người ta với những người đồng hội của mình”
Tiền đề 3 “Những nghĩa này được xử lý, được trao đổi trong một tiến trình
lý giải của ai đó khi xử lý những sự vật mà mình gặp phải”
Con người là những hữu thể có ý thức, luôn chủ động định hướng hành vicủa mình, tuy nhiên chính sự tương tác xã hội làm cho con người trở thành nhữngđối tượng phản ứng lại với những tác động kích thích bên ngoài hay hành động theonhu cầu tâm lý hoặc những mong đợi xã hộ Các nhà tương tác luận cũng cho rằngphải tìm hiểu cách tương tác của các cá nhân hay nhóm xã hội như thế nào, đánh giácác tác nhân xã hội đã kiến tạo, tác động đến quyết định, hành động của cá nhân,nhóm trong đời sống hàng ngày
Trang 15Do đó đối với vấn đề “ tuyên truyền và giáo dục pháp luật cho trẻ em nông thôn
ta phải xem xét hành động hành vi của trẻ em thông qua sự tác động của môi trườngsống, cách thức giáo dục và định hướng hành vi của GĐ, NT, hay XH, qua sự tươngtác hai chiều của các yếu tố Hành vi ứng xử của trẻ em bản chất là sự tương tác vớimôi trường sống bao gồm cả: môi trường tự nhiên và môi trường xã hội
1.1.3 Lý thuyết cấu trúc chức năng
Lý thuyết này nhấn mạnh tính liên kết chặt chẽ các bộ phận cấu thành nênmột chính thể, mà mỗi bộ phận đều có một chức năng nhất định, góp phần đảm bảo
sự tồn tại của một chính thể đó với tư các là một cấu trúc tương đối ổn định bềnvững Thuyết cấu trúc chức năng nhấn mạnh tính cân bằng, ổn định và khả năngthích nghi của nó hoạt động nhịp nhàng với nhau đảm bảo sự công bằng chung củacấu trúc, bất kì sự thay đổi nào ở thành phần này cũng kéo theo sự thay đổi ở thànhphần khác
Những người theo lý thuyết cấu trúc chức năng vi mô nhấn mạnh đến mốiquan hệ của thành viên xã hội trong nghĩa của một cấu trúc và các vai trò thực hiệnnhững hành động mà thành viên trong xã hội phải thực hiện cho phù hợp với vai tròcủa họ đóng góp
Nghiên cứu tuyên truyền giáo dục pháp luật cho trẻ em theo lý thuyết cấuchúc chức năng nhấn mạnh đến yếu tố môi trường xã hội hóa với mỗi bộ phận trong
cả một tổng thể, yêu cầu của cả một hệ thống để đảm bảo cho hệ thống đó hoạtđộng ổn định, và làm “tròn vai” mà xã hội quy định Gia đình, nhà trường địnhhướng giáo dục không thể hiệu quả nếu thiếu tấm gương xã hội phản ảnh hiện thựcnhân rộng bằng công tác tuyên truyền, truyền thông
1.2 Các khái niệm công cụ
1.2.1.Trẻ em
Hiện nay trên thế giới vẫn chưa có một định nghĩa cụ thể thống nhất về trẻ
em cũng như độ tuổi xác định trẻ em
Điều 1, Công ước quốc tế về quyền trẻ em được Đại hội đồng Liên hợp quốcthông qua ngày 20/11/1989 có ghi: “Trong phạm vi Công ước này, trẻ em có nghĩa
Trang 16là người dưới 18 tuổi, trừ trường hợp luật pháp áp dụng đối với trẻ em có quy địnhtuổi thành niên sớm hơn”.[5]
Theo Điều 1-Luật về Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em của Quốc hộinước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ngày 15 tháng 6 năm 2004: “Trẻ em làcông dân Việt Nam dưới 16 tuổi”.[6]
Là thành viên của Công ước quốc tế về quyền trẻ em Việt Nam đã có những
đề nghị sửa đổi luật quốc gia về độ tuổi trẻ em để có những quy định chính sáchphù hợp với tình hình thực tiễn, nhưng trên thực tiễn vẫn chưa được sửa đổi
Song trong phạm vi nghiên cứu của đề tài này , trẻ em được xác định là ngườidưới 18 tuổi Đồng thời trẻ em có đặc điểm là những người chưa hoàn toàn phát triểnđầy đủ về nhân cách, chưa có đầy đủ quyền lợi và nghĩa vụ của một công dân
Nhằm nghiên cứu về tác động của pháp luật với trẻ em nên cách định nghĩatrẻ em của đề tài có sự trùng hợp với người chưa thành niên Ở Việt Nam, độ tuổingười chưa thành niên được xác định thống nhất trong Hiến Pháp năm 1992, Bộluật Hình sự năm 1999, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003, Bộ luật Lao động, Bộluật Dân sự, Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính và một số văn bản quy phạm phápluật khác Tất cả các văn bản pháp luật đó đều quy định tuổi của người chưa thànhniên là dưới 18 tuổi và quy định riêng những chế định pháp luật đối với người chưathành niên trong từng lĩnh vực cụ thể
1.2.2 Nông thôn
Theo từ điển Xã hội học: “Nông thôn là phần lãnh thổ của một nước hay củamột đơn vị hành chính nằm ngoài lãnh thổ đô thị, có môi trường tự nhiên, hoàncảnh kinh tế xã hội, điều kiện sống khác biệt với thành thị và dân cư chủ yếu làmnông nghiệp.”
Nghĩa hẹp: nông thôn là khu vực hay địa bàn mà ở đó dân cư tập trung chủyếu là nghề nông
Nghĩa rộng: nông thôn bao gồm cả những khu vực mà ở đó dân cư khôngnhất thiết phải làm nông nghiệp song sự tồn tại và phát triển của nó phụ thuộc vàonông nghiệp và thực hiện các dịch vụ cần thiết cho dân cư nông thôn và nôngnghiệp
Trang 17Vậy khu vực nông thôn có thể hiểu là khu vực mà việc làm ở đây chủ yếu lànông nghiệp, việc làm phi nông nghiệp chiếm tỷ lệ nhỏ.
Nông thôn cũng là nơi cung cấp nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu phát triểncủa các ngành kinh tế, an ninh, quốc phòng Là nơi tiêu thụ sản phẩm hàng hóa củacác ngành kinh tế khác: công nghiệp, xây dựng cơ bản…
Dân cư nông thôn chủ yếu là nông dân sống cùng gia đình của họ ngoài racùng một số người làm việc ở nông thôn sống ở đô thị và một số người làm việc ở
đô thị nhưng sinh sống ở nông thôn.[7]
Từ đây có thể xác định, trẻ em nông thôn là người dưới 18 tuổi đang sốngcùng gia đình ở các vùng nông thôn
1.2.3.Tuyên truyền- Giáo dục
Tuyên truyền (propaganda) là một dạng đặc biệt của truyền thông và có lịch
sử nhiều ngàn năm Khái niệm tuyên truyền biến đổi với thời gian và thời cuộc
Theo Từ điển Tiếng Việt-2009, Nhà xuất bản Đà Nẵng: “Tuyên truyền làphổ biến, giải thích rộng rãi để thuyết phục mọi người tán thành, ủng hộ, làm theo"
Theo R A Nelson, tuyên truyền được định nghĩa một cách trung tính
“như một dạng truyền thông có hệ thống, có chủ ý nhằm tác động đến cảm xúc,thái độ, ý kiến và hành động của một nhóm người xác định vì các mục đích tưtưởng, chính trị hay thương mại thông qua việc truyền các thông điệp một chiều,được kiểm soát trên các phương tiện truyền thông”[8]
Theo cách tiếp cận của xã hội học, tuyên truyền là một hình thức lan rộngthông tin qua các PTTTĐC nhằm mục đích truyền bá thông tin một cách rộng rãiđến bộ phận đông đảo dân chúng
- Giáo dục
Giáo dục là hiện tượng xã hội mang tính lịch sử, xuất hiện cùng với sự xuấthiện của xã hội loài người Lúc đầu, giáo dục mang tính tự phát, giản đơn theo lốiquan sát – bắt trước, càng về sau giáo dục càng hoàn thiện, trở thành một hoạt động
có ý thức Ngày nay giáo dục đã trở thành một hoạt động được tổ chức đặc biệt, đạttới trình độ cao, có chương trình, kế hoạch, có nội dung, phương pháp hiện đại trởthành yếu tó quyết định cho sự phát triển của xã hội
Trang 18Như vậy, “Giáo dục là một hiện tượng xã hội đặc biệt, bản chất của nó là sựtruyền đạt và lĩnh hội kinh nghiệm lịch sử xã hội của các thế hệ loài người, nhờ cógiáo dục mà các thế hệ nối tiếp nhau phát triển, tinh hoa văn hóa dân tộc và nhânloại được kế thừa, bổ sung và trên cơ sở đó mà xã hội loài người không ngừng pháttriển lên”.
Theo cách tiếp cận của xã hội học, khái niệm giáo dục được sử dụng theonghĩa rộng và nghĩa hẹp Theo nghĩa hẹp: “Giáo dục được hiểu là một quá trình tácđộng có định hướng đến con người từ phía chủ thể giáo dục nhất định nhằm mụcđích truyền đạt cho người nhận hệ thống xác định của khái niệm, chuẩn mực, kinhnghiệm xã hội” ; Theo nghĩa rộng, “Giáo dục được hiểu là sự tác động đến conngười của toàn bộ hệ thống các mối quan hệ xã hội với mục đích truyền tải các kinhnghiệm xã hội Do đó các cá nhân có thể thu nhận các kinh nghiệm này ở mọi nơi,trong mọi nhóm xã hội khác nhau Giáo dục ở đây đồng nghĩa với quá trình xã hộihóa con người”
Trong quá trình hình thành nhân cách con người, giáo dục có vai trò quyếtđịnh nhất, nó là con đường ngắn nhất giúp thế hệ trẻ phát triển, bỏ qua những mòmẫm, vấp váp không cần thiết trong cuộc đời Trong ba loại hình giáo dục cơ bản(gia đình, nhà trường và xã hội) giáo dục gia đình là sự tác động đầu tiên và xuyênsuốt cuộc đời con người, là cơ sở để giáo dục nhà trường và xã hội tiếp tục tácđộng Với đặc điểm chủ yếu là quan hệ tình yêu, pháp lý và huyết thống Giáo dụcgia đình được xây dựng trên cơ sở tình cảm có ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triểncủa mỗi con người Ngày nay, các nhà khoa học đã quan tâm đến mối quan hệtương tác chặt chẽ đến các bộ phận tạo nên một cơ chế giáo dục hoàn thiện nhất đó
là sự kết hợp giữa gia đình nhà trường và xã hội
1.2.4.Gia đình, Nhà trường, tổ chức đoàn thể xã hội
- Gia đình
Theo Từ điển xã hội học Oxford ( Oxford Dictionary of Sociology) “Giađình là một nhóm thân thuộc hợp thành từ những người có mối liên hệ với nhaubằng những ràng buộc dòng máu, bạn tình hay những ràng buộc về pháp luật Nó làmột đơn vị xã hội rất dẻo dai đã tồn tại và thích nghi theo thời gian.”[9]
Trang 19Ngày càng có nhiều nghiên cứu vượt ra ngoài ranh giới của các bộ môn, đivào xem xét các mối quan hệ lẫn nhau giữa đời sống gia đình và lao động, xem xétnhững qua hệ gia đình vi mô bị ảnh hưởng như thế nào bởi các thay đổi kinh tế và
xã hội vĩ mô Đặc biệt trong những năm gần đây, đã có sự đánh giá lại mang tínhcấp tiến về tình trạng của gia đình hiện đại và về mức độ mong muốn đối với sự tồntại của nó Vì thực tế cho thấy gia đình chính là môi trường xã hội hóa cá nhân đầutiên và quan trọng nhất của mỗi con người
Trong đề tài này, gia đình sẽ được xem như một bộ phận tạo nên môi trườngsống cho trẻ em, trong đó để cao vai trò giáo dục định hướng của gia đình trongviệc giáo dục con cái của họ có những hành vi đúng, không vi phạm các quy địnhcủa xã hội
Nhà trường có nhiệm vụ và quyền hạn: tổ chức giảng dạy học tập và các hoạtđộng giáo dục khác theo mục tiêu chương trình giáo dục, tuyển sinh và quản lýngười học, phối hợp với gia đình người họ, tổ chức, cá nhân trong hoạt động giáodục”- Trích khoản 1, 3,6 Điều 58 Luật giáo dục Việt Nam, 2006)
Nhà trường cũng có vai trò riêng của nó và không thay thế được Vấn đề làmỗi nhà trường khác nhau sẽ có những sứ mệnh cụ thể khác nhau, từ bậc tiểu học,phổ thông, đại học hay đào tạo nghề Nhưng có một sứ mệnh chung nhất cho cácnhà trường: tập hợp các nhà giáo, nhà nghiên cứu, chuyên gia… lại để tạo ra môi
Trang 20trường tốt nhất, điều kiện tốt nhất cho người học làm chủ sự học của họ Và đồngthời nhà trường cũng là nơi xác lập những chuẩn mực về đạo đức và lương tâm của
xã hội Đây cũng chính là nơi sáng tạo, chia sẻ và truyền bá tri thức [10]
- Các tổ chức đoàn thể xã hội
Tổ chức xã hội là khái niệm thường dùng trong xã hội học, và có thể được
hiểu theo nghĩa hẹp hoặc rộng Theo nghĩa rộng, tổ chức xã hội để chỉ bất kể tổchức nào trong xã hội Theo nghĩa hẹp, thì tổ chức xã hội chính là một tiểu hệ thống
xã hội trong một tổ chức xã hội nào đó
Khái niệm tổ chức xã hội được dùng với nhiều nghĩa khác nhau trong cácngành khoa học khác nhau và trong tư duy đời thường Tổ chức xã hội có thể đượchiểu hoặc là một thành tố của cơ cấu xã hội, hoặc là một dạng hoạt động, hay làmức độ trật tự nội tại, sự hài hòa giữa các thành phần của một chỉnh thể Khái niệm
tổ chức xã hội được xem như là một thành tố của cơ cấu xã hội; với ý nghĩa này, tổchức xã hội chính là một hệ thống các quan hệ, tập hợp liên kết cá nhân nào đó đểđạt được một mục đích nhất định Như vậy, định nghĩa này nhấn mạnh đến hệ thốngcác quan hệ liên kết cá nhân chứ không phải chính tập hợp cá nhân trong các tổchức và các quan hệ ở đây là các quan hệ xã hội Nếu như giữa tập hợp các cá nhânkhông có những quan hệ xã hội thì họ chưa thể được coi là thành viên của một tổchức xã hội nào đó Những quan hệ này sẽ liên kết các cá nhân vào một nhóm để họcùng thực hiện một hoạt động chung nào đó nhằm đạt được những lợi ích nhất định
1.2.5 Pháp luật
Theo cách hiểu luật học: “Pháp luật là hệ thống các quy tắc xử sự do nhànước ban hành và bảo đảm thực hiện, thể hiện ý chí của giai cấp thống trị trong xãhội, là nhân tố điều chỉnh các quan hệ xã hội”.[11]
Theo cách hiểu xã hội học: “Luật- những nguyên tắc của hành động hay cácđạo luật được thiết lập bởi các nhà cầm quyền như nhà nước- là một đối tượng trungtâm của mối quan hệ lý thuyết cũng như thực tiễn đối với các nhà sáng lập xã hộihọc.”[12]
Trong đề tài này pháp luật được hiểu: là các hệ thống các quy định, quy tắc
xử sự bắt buộc phải tuân thủ đối với mọi người khi cư xử với trẻ em, và các quy tắc
Trang 21ứng xử mà trẻ em phải thực hiện tuân theo Pháp luật trong đề tài này có thể hiểutheo một nghĩa rộng hơn bảo trùng các quy định, quy chế của nhà trường, địaphương nhằm định hướng những hành vi cho trẻ em và vì trẻ em
1.2.6 Hành vi và hành vi vi phạm pháp luật
- Hành vi là phản ứng, cách cư xử được biểu hiện ra bên ngoài của con ngườitrong những hoàn cảnh, điều kiện nhất định.[13]
- Hành vi vi phạm pháp luật là những hành vi phản ứng tiêu cực của một số
cá nhân hoặc tổ chức đi ngược lại ý chí Nhà nước được thể hiện trong các quy phạmpháp luật Nó là một hiện tượng mang tính tiêu cực, một tệ nạn trong xã hội Nhữngphản ứng có tính chất tiêu cực đó luân gây hại cho Nhà nước, xã hội và công dân,
do vậy chúng luôn bị Nhà nước, xã hội và công dân lên án đấu tranh đòi hỏi phảiloại bỏ chúng ra khỏi đời sống xã hội[14]
- Vi phạm pháp luật là hành vi trái pháp luật, có lỗi do chủ thể có năng lực tráchnhiệm pháp lý thực hiện, xâm hại đên các quan hệ xã hội được pháp luật bảo vệ
Những dấu hiệu của vi phạm pháp luật :
Là hành vi nguy hiểm cho xã hội
Trái pháp luật xâm phạm tới các quan hệ xã hội được pháp luật xác lập vàbảo vệ
Có lỗi của chủ thể
Chủ thể có năng lực trách nhiệm pháp lý
Hành vi vi phạm pháp luật của người chưa thành niên là hành vi vi phạmpháp luật do chủ thể là người dưới 18 tuổi thực hiện.[15]
Trang 22CHƯƠNG 2 TUYÊN TRUYỀN, GIÁO DỤC PHÁP LUẬT CHO TRẺ EM
NÔNG THÔN HIỆN NAY 2.1 Khái quát điều kiện kinh tế - xã hội xã Khánh Phú- Huyện Yên Khánh- Tỉnh Ninh Bình
2.1.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế- chính trị- xã hội xã Khánh Phú
Khánh Phú là một trong số 18 xã thuộc huyện Yên Khánh, tỉnh Ninh Bình.Với diện tích tự nhiên 553,53ha, trong đó diện tích đất canh tác 382ha, Dân số:
5464 người Mật độ dân số: 923 người/km² Địa giới hành chính, xã nằm trên trụcđường quốc lộ số 10, phía tây giáp xã Khánh Hòa, Ninh Phúc (thành phố NinhBình), phía Đông bắc giáp song Đáy, phía Đông Nam giáp Khánh An Năm 2004nhà nước thu hồi 269,4ha làm đất khu công nghiệp, do vậy nghề chính của nhân dân địa phương từ làm ruộng sang làm nghề tiều thủ công nghiệp và dịch vụ. Nằm cách trung tâm thành phố Ninh Bình 5Km về phía Đông Nam, KhánhPhú là một xã có điều kiện giao thông thuận lợi và kinh tế phát triển nhanh chóng.Khánh Phú có 1356 hộ/ 5961 nhân khẩu, trong đó có 1250 nhân khẩu theo đạo thiênchúa (chiếm 21% dân số toàn xã) Tốc độ tăng trưởng kinh tế năm 2012 đạt24,97%, trong đó ngành nông lâm thủy sản đạt 7,3%, công nghiệp TTCN đạt32.5%, ngành dịch vụ đạt 28.1% Cơ cấu kinh tế năm 2012 (theo giá hiện hành)gồm ngành nông lâm, thủy sản đạt 20.17%, công nghiệp thủ công nghiệp đạt41,47%, nghành dịch vụ đạt 38,35% Tổng sản phẩm ước thưch hiện 105,60 tỷđồng [16]
Trên nền tảng là một xã phát triển nông nghiệp, sản xuất nông nghiệp của xãtiếp tục được duy trì và phát triển theo hướng tích cực áp dụng các tiến bộ khoa học
kĩ thuật vào sản xuất Bình quân giá trị trên một đơn vị diện tích dất nông nghiệp
2012 đạt 89 triệu đông một ha Tổng giá trị sản xuất nông nghiệp đạt 21,3 tỷ đồng
Song trong lộ trình phát triển Khánh Phú đang hướng tới trở thành một trungtâm công nghiệp với sự phát triển của khu công nghiệp Khánh Phú, đường giaothông thuận lợi nối liền các khu công nhiệp Khánh An và cầu cảng Ninh Phúc, đưa
Trang 23công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp đưa giá trị ngành công nghiệp ước đạt lên đến
44 tỉ đồng (năm 2012) Ngoài hoạt động công nghiệp kinh tế thủ công nghiệp tiếptục được duy trì và phát triển, tạo việc lầm ổn định cho hàng trăm lao động, gópphần chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng CN-TTCN một cách tích cực
Về thương mại dịch vụ: Giá trị sản xuất thương mại dịch vụ ước đạt 40,5 tỷđồng tăng 28.1% so với năm 2011.Các hoạt động dịch vụ tiếp tục tăng mạnh về quy
mô và chất lượng, đa dạng các loại hình kinh doanh dịch vụ Một số nghành dịch vụ
có tốc độ tăng trưởng khá là dịch vụ vận chuyển, dịch vụ thương nghiệp, dịch vụ tíndụng, nhà hàng nhà trọ tăng nhanh
Về lĩnh vực văn hóa xã hội: Trong giáo dục đào đạo xã có 3 cơ sở giáo dụccông lập là trường Mầm non, Trường tiểu học và trường THCS, với tỉ lệ phổ cậpgiáo dục tiểu học hoàn thành và lộ trình phổ cập giáo dục THCS Với tổng số trênmột nghìn trẻ em đang trong độ tuổi đi học, Khánh Phú là một trong những lá cờđầu trong giáo dục đào tạo toàn tỉnh
Trong công tác DS- GĐ- TE, tập trung chỉ đạo tuyên truyền về chính sách vềgia đình, pháp luật trẻ em, cũng như các hoạt động văn hóa thông tin thể thao tậptrung chỉ đạo triển khai, tổ chức thực hiện tốt các hoạt động văn hóa văn nghệ
Khánh Phú là địa phương nông thôn có địa hình thuận lời tcho phát triểnkinh tế, là một trong những địa phương có tốc độ phát triển nhanh về mọi mặt đờisống, là khu vững nông thô đang diễn ra mạh mẽ của quá trình đô thị hóa hiện đạihóa nông nghiệp nông thôn Sự chuyển dịc cơ cấu lao động, sản xuất nhanh chóng
đã tác động không nhỏ đến đời sống, lối sống của người dân nơi đây
2.1.2 Khái quát đặc điểm của trẻ em vùng nông thôn xã Khánh Phú
Trẻ em xã Khánh Phú là nhóm đối tượng mang tính đặc thù của nhóm trẻ emnông thôn
Trước hết trẻ em nông thôn mang đầy đủ đặc điểm lứa tuổi nhận thức chưachín chắn, hành động nông nổi, và có nhiều nhu cầu đặc thù: nhu cầu tình cảm, tựlập, khẳng định mình, thích khám phá, thích vượt qua thử thách… Đây là giai đoạnsảy ra nhiều thay đổi nhất của một con người cả mặt thể chất, đến tâm lý và các mối
Trang 24quan hệ xã hội Tuy nhiên có thể nhận thấy các đặc điểm riêng biệt của trẻ em nôngthôn và trẻ em thành thị:
Trẻ nông thôn hầu hết đều biết giúp cha mẹ làm việc nhà” và “thói quen ứng
xử có đạo đức và tinh thần tập thể đối với bạn bè đồng trang lứa” của trẻ nông thônchiếm tỷ lệ cao hơn Bởi trẻ ở nông thôn có điều kiện để tự lập hơn vì hoàn cảnhgia đình thường gắn những công việc lao động chân tay Chính sự tự trải nghiệmcủa trẻ nông thôn làm cho các em có khả năng hình thành các kỹ năng cần thiết
Tinh thần tập thể với bạn bè ở trẻ nông thôn cũng được hình thành từ rấtsớm, bởi khi còn nhỏ, các em cùng chơi với nhau các trò dân gian đòi hỏi có sựtham gia của nhiều người Các em sống trong cộng đồng tình làng, nghĩa xóm, khi
“tối lửa tắt đèn có nhau” Chính vì vậy, hầu hết trẻ ở nông thôn hay quan tâm nhiềuđến bạn bè xung quanh, các em cũng hình thành thái độ, trách nhiệm với cộng đồng(phương châm 5 cùng: cùng đi, cùng học, cùng chơi, cùng làm việc, cùng chia sẻkhó khăn)
Tuy nhiên với những biến đổi trong bối cảnh kinh tế xã hội, từ hoạt độngchuyển đổi phương thức sản xuất kinh tế nông nghiệp gia đình sang thủ côngnghiệp- công nghiệp và dịch vụ, nhiều gia đình bỗng chốc có một khoản tiền lớn từđền bù đất, mặt khác là thời gian lao động của các thành viên đổi thành các ca làmtrong nhàn máy công nghiệp, hay đi xuất khẩu lao động hay chuyển dịch sang kinhdoanh các ngành dịch vụ, một số không nhỏ trẻ em trong các gia đình trên địa bàn
có những biểu hiện lệch hướng thích hưởng thụ, lười lao động, tụ tập đi bụi…vvLối sống đô thi du nhập vào môi trường sống nông thôn mang theo những yếu tốtiêu cực tác động lên trẻ em nông thôn một cách nhanh chóng
Từ thực tiễn, tác giả nhận thấy trẻ em nông thôn Khánh Phú cần được trang
bị cho mình những kĩ năng sống cần thiết, những hiểu biết pháp luật căn bản đểthích nghi được với những biến đổi trong xã hội Do đó các em xã Khánh phú đượclựa chọn là khách thể nghiên cứ của đề tài
Trang 252.2 Nhận thức của trẻ em nông thôn hiện nay về quy định pháp luật
2.2.1 Thực trạng nhận thức về quyền và nghĩa vụ của trẻ em
Việt Nam được thế giới biết đến là đất nước đầu tiên trong khu vực châu Á
và là nước thứ 2 trên thế giới phê chuẩn Công ước Liên Hợp Quốc về quyền trẻem,trong đó phòng ngừa tuyên truyền, giáo dục vận động XH được coi là biện phápđầu tiên quan trọng trong hệ thống bảo vệ trẻ em Song hiệu quả của công tác đóhiện nay như thế nào và nhận thức của trẻ em nông thôn về các hệ thống pháp luật
bảo vệ đó ra sao là vấn đề cần được phản ánh? Để làm rõ vấn đề tuyên truyền giáo
dục pháp luật cho trẻ em nông thôn, qua quá trình tiếp cận địa bàn nghiên cứu xãKhánh Phú, tác giả đã tiến hành đánh giá về nhận thức cũng như hành vi của trẻ em
về việc thực hiện các nội quy quy đinh hành ngày trong các hành vi đơn thuầnthường ngày
Quá trình lớn lên của một đứa trẻ là quá trình nhận thức liên tục về thế giớixung quanh Tùy thuộc vào đặc điểm của từng cá thể, mỗi em nhỏ có một cách nhìnriêng để từ đó nó soi chiếu, suy tư và hiểu về thế giới Nói cách khác, tư tưởng vàtình cảm của trẻ là yếu tố quan trọng nhất trong việc định hình cách thức chúng tiếpnhận thông tin từ thế giới xung quanh, suy nghĩ về những kinh nghiệm xảy ra chomình và từ đó lựa chọn một cách thức phản ứng lại với những sự việc đó
Một số trẻ sở hữu một cơ chế tư duy có tính chất xây dựng, giúp chúng chỉchú tâm vào việc lọc ra những mặt tốt của một sự vật hiện tượng, nhờ vậy mà thấmnhuần niềm tin tích cực để có những hành động đúng đắn trong tư thế chủ động Ví
dụ, nếu mắc lỗi trong giờ học, chúng sẽ cho đó là bài học quý báu giúp chúng tự sửamình để ngày một tốt hơn Nếu được giao một công việc khó khăn hơn các bạn,chúng sẽ nghĩ đó là cơ hội để thử thách mình, giúp mình tiến bộ hơn các bạn, vàngược lại
Pháp luật đối với trẻ em ban đầu được thể hiện ở những quyền mà trẻ emđược hưởng, cao hơn là những nghĩa vụ, những quy chuẩn đạo đức, ngững nguyêntắc cộng đồng chung các em phải tuân theo
Trước hết tác giả, tiến hành đo lường về nhận thức của các em bằng cách đểchính các em đánh giá về ý thức của bản thân mình
Trang 26Bảng 2.1.Mức độ hiểu biết pháp luật của bản thân
(Nguồn : Kết quả xử lý của đề tài)
Từ bảng số liệu trên cho thấy, khi tự đánh giá về mức độ hiểu biết về các quyđịnh của pháp luật tỷ lệ trẻ em đánh giá ở mức tốt khá cao 77.8% trong đó rất tốt có28.9% em, mức tốt chiếm 48.9%, 18/90 em (chiếm 20% )em cho rằng mình có nhậnthức bình thường về vấn đề này và rất khó đánh giá, 2.2% số em cho rằng mình cónhận thức thấp về các kiến thức luật pháp Nhận định ban đầu, đối tượng được khảosát bước đầu đã có được những nhận định về pháp luật và hiểu biết của bản thân
Để tiếp tục làm rõ thêm về nhận định của khách thể là nhóm trẻ em đượcchọn, để làm rõ giả thuyết về thực trạng nhận thức của trẻ em nông thôn đối với cácquy định pháp luật hiện nay, tác giải tiếp tục đi sâu vào vấn đề này bằng một câuhỏi nhận định khác, và thu được bảng số liệu:
Bảng 2.2 Mức độ chấp hành pháp luật của bản thân
(Nguồn : Kết quả xử lý của đề tài)
Bảng số liệu 2.2.2.là sự so sánh trực quan về nhận thức và hành vi của trẻ emđối với các quy tắc mà trẻ em phải tuân thủ Tự nhận định về khía cạnh này, có trên80% số em cho rằng mình luôn chấp hành tốt quy định của pháp luật hiện hành, chỉ
có 1.1% tự đánh giá ý thức chấp hành LP của mình không tốt, 16.7% là tỉ lệ đánhgiá về mức độ bình thường
Trang 27Từ đây có thể thấy, trong đánh giá chủ quan của nhóm trẻ em nông thônđược nghiên cứu, nhận thức hành vi và ý thức hệ hành vi đang có sự tương đồngnhau, tức là các em nghĩ rằng hiểu biết của mình là đúng, đủ và thực hiện các hànhđộng như cách mình suy nghĩ
Tuy nhiên, tác giả nhận thấy cần làm rõ vấn đề này bằng các chỉ báo cụ thểhơn, như thực trạng việc thực hiện những quyền cơ bản cho trẻ em, việc trẻ emnhận thức về những quyền được thể hiện trong các hành động cụ thể được tiếp xúctrong cuộc sống thường ngày.Cụ thể:
Bảng 2.3 Thực hiện những quyền cơ bản cho trẻ em nông thôn hiện nay.
Tần suất Tỉ lệ % Tần suất Tỉ lệ %
5.Được vui chơi thể thao văn nghệ 71 78.9 19 21.16.Được chọn vào các đội tuyển học sinh giỏi 28 31.1 62 68.97.Được chọn vào đội thể dục thể thao văn nghệ 60 66.7 30 33.38.Được phát biểu ý kiến, đề đạt nguyện vọng
với thầy cô, cha mẹ
9.Được cha mẹ, thầy cô, bạn bè yêu quý 90 100 0 0
(Nguồn : Kết quả xử lý của khóa luận)
Kết quả từ bảng trên cho thấy, nhận định ban đầu khi mà đời sống nông thônngày càng được cải thiện có thế nhận thấy rõ ràng trẻ em ngày càng được quan tâmchăm sóc chu đáo hơn và các em nhận thức được điều đó, 100% ( 90/90) số emđược hỏi khẳng định mình được cha mẹ chăm sóc, yêu quý, được chữa bệnh vàđược khám chữa bệnh khi ốm đau Bên cạnh đó có 71.1% số em được khám sứckhỏe định kì, 31.1% số em đượ phát triển năng khiếu qua các lớp bồi dưỡng họcsinh giỏi, 67.7% số em được tham gia thương xuyên vào các hoạt động vui chơi giảitrí, hoạt động thể thao văn nghệ Như vậy, từ số liệu trên có thể thấy những quyền
cơ bản nhất của trẻ em như được học tập, vui chới chăm sóc sức khỏe … đã đượcquan tâm và đảm bảo Các em hơn hết là những người đã nhận thức được sự quan
Trang 28tâm chăm sóc của gia đình và những người xung quanh, tuy nhiên để làm rõ thêmnhận thức của trẻ em nông thôn với việc thực hiện các hành vi trong cuộc sốnghàng ngày của các em Tác giả tiến hành kết hợp các phương pháp thu thập thôngtin để thu được bảng số liệu:
Với hai câu hỏi: “Em nghĩ có nên…” và “ Em nghĩ em đã…” để đo lường vềnhận thức và hành vi của trẻ em
Bảng 2.4 Nhận thức, hành vi của trẻ em về các hoạt động thường ngày
1.Yêu quý , kính trọng hiếu
thảo với ông bà cha mẹ, kính
trọng thầy cô, lễ phép với
người lớn, yêu thương cha mẹ
3.Giữ trật tự công cộng 85 94.4 5 5.6 80 88.9 2 2.2
4.Bảo vệ môi trường, tham gia
các hoạt động bảo vệ môi
(Nguồn : Kết quả xử lý của đề tài)
Từ số liệu bảng trên thấy rõ được sự khác biệt, cụ thể có 100% các em đượchỏi, cho rằng các em cần yêu thương, yêu quý , kính trọng hiếu thảo với ông bà cha
mẹ, kính trọng thầy cô, lễ phép với người lớn, yêu thương cha mẹ, song khi đượchỏi em đã làm được việc này chưa thì 94.4% số em đưa ra câu trả lời có, và vẫn còn5.6% trẻ em cho rằng bản thân mình chưa yêu quý gia đình, chưa gắn bó với nhữngngười than vì những lý do như: “bố em suốt ngày say sỉn, đánh mẹ con em, emkhông tôn trọng bố” (trích biên bản phỏng vấn sâu học sinh số 1), “ bố mẹ em đisuốt ngày có ở nhà đâu mà yêu quý” ( trích biên bản phỏng vấn sâu học sinh số 2)…
Trang 29Tiếp tục đi sâu phân tích các yếu tố khác: đối với việc học tập 93.3% số emđều khẳng định việc chăm học thực sự cần thiết đối với trẻ em, nhưng số em chorằng mình đã thực sự chăm chỉ học tập đạt 66.7 %, 33.3% trả lời mình chưa thực sựhọc tập tốt.
Trong việc đảm bảo trật tự công cộng, đa số trẻ em đều nghĩ và thực hiệnnhững hành vi tốt, cụ thể có 94.4% các em trả lời trẻ em cũng cần giữ trật tự an toàntrong xã hội trong đó qua số liệu thống kê ở đia phương tỷ lệ trẻ vi phạm hành vigây mất trật tự chỉ chiếm 0.6% nhừng hành vi vi phạm trên địa bàn
Về bảo vệ môi trường, tham gia các hoạt động bảo vệ môi trường có 94.4%trẻ em nói nên tham gia, và có nghĩa vụ bảo vệ môi trường, 5.6% nói đó là việc quálớn không phải là việc của trẻ em, song chỉ có 55,6% số em cho rằng mình đã trựctiếp tham gia các hoạt động bảo vệ môi trường, như dọn vệ sinh, bỏ rác đúng quyđịnh…vv, 13.3% cho rằng mình chưa từng có hoạt đông bảo vệ môi trường, 31.3%trong số được hỏi không đưa ra câu trả lời cho hành vi có hay không bảo vệ môitrường trong cuộc sống hành ngày của mình
Đối với nội quy của nhà trường, được coi là những quy định gần gũi nhất
mà trẻ em phải tuân theo khi đến trường, cũng được tác giả lựa chọn là một tiêu chí
đo lường, có 88/90 (chiếm 97.8%) số em được hỏi khẳng định trẻ em cần tuân theonội quy của nhà trường, 2/90 em ( chiếm 2.2%) phủ định điều này, có thể thấy các
em đã ý thức được quy định cần phải tuân thủ, song khi được hỏi em đã từng viphạm các quy định của nhà trường có 33.3% số em trả lới có, 66.7% trả lời rằngmình luôn chấp hành các quy định của nhà trường
Về hoạt động lao động sản xuất sinh hoạt của trẻ em nông thôn, có một sựkhác biệt rõ rệt, cụ thể có đến 78.8% số em cho rằng trẻ em có thể phụ giúp gia đìnhnhững công iệc vừa sức, 21.1% số em tham gia trả lời phủ định điều này Song đivào thống kê một số hoạt động cụ thể bao gồm: dọn nhà cửa, chăm sóc vật nuôi,làm các công việc nhà nông…vv thì có đến 91,1% trả lời đã và đang thực hiệnnhững công việc đó hàng ngày, các em thực hiện các hoạt động đó như các sinhhoạt thường ngày mà không nhận thức đó là những công việc gia đình, có 4.5%( 4/90 em) được hỏi trả lời không tham gia bất cứ hoạt động cụ thể nào được nêu
Trang 30Một khía cạnh khác cũng được phản ánh từ bảng số liệu, cho thấy con số vềtrẻ em hiện vừa đang đi học vừa thực hiện các công việc làm thuê kiếm tiền 11,1%
số trẻ đang tham gia vào hoạt động này là một con số đáng lưu ý, bời lao động trẻ
em được coi là một nhóm lao dộng đặc thù Theo số liệu đã thống kê: Giá trị ướclượng theo số liệu MICS chỉ rằng 24% số trẻ tuổi từ 5-14 làm việc có trả lương hặctham gia lao động sản xuất cùng gia đình; trong đó tỷ lệ này sử dụng số liệu VHLSS
là 9% tổng số trẻ trong độ tuổi 6-15 tham gia lao động.[17]
Hình 1 : Nhóm nghề thủ công- một trong những nhóm ngành cấm lao động trẻ em
hiện đang sử dụng rất nhiều lao động trẻ em.( Nguồn Internet)
Với tính đặc thù của hoạt động sản xuất kinh tế đị phương có rất nhiều cơ sởsản xuất thủ công nhận lao động trẻ em vào sản xuất có trả lương như các lao độngkhác Nhưng được biết trong tất cả các em có câu trả lời có thâm gia làm thuê kiếmtiền không có em nào có sự bảo lãnh của cha mẹ, người giám hộ khi làm việc cũngnhưng hoàn toàn không có hợp đồng lao động
Về nhận thức trong hoạt động ngăn chặn và tố giác hành vi tội phạm, đây làmột trong số các tiêu chí đo lường khiến nhiều em lung túng, khi đưa ra câu trả lời
có 55/90 (chiếm 61,1%) cho đó là quy định mà trẻ em hoàn toàn có thể thực hiệnđược khi bắt gặp trong cuộc sống, 35/90 em chiếm 38,9% không nghĩ mình sẽ ngănchặn được hay có thể tố giác các hành vi tội phạm vì nhiều lý do: “vì mình quá nhỏ,
sẽ nguy hiểm cho bản than hay mình chưa đủ tuổi nói không ai tin…vv( trích biênbản phỏng vấn sâu học sinh số 1)
Trang 31Từ các những số liệu phân tích trên,nhận thấy rằng hầu như trẻ emtham giakhảo sát đều thực hiện các hoạt động sống thường ngày theo định hướng chủ quan
mà hoàn toàn không có một căn cứ, định hướng pháp luật nào.Để làm rõ nhận địnhtrên tác giả đưa ra một trường hợp giả định cụ thế, để đánh giá hành vi của trẻ : khicác em bắt gặp bạn bè mình bị người khác bắt nạt, đe dọa, bạn sẽ làm gì? Tác giả đãthu được số liệu, được thể biện qua biều đồ sau
Biểu đồ 2.1 Xử sự khi bắt gặp bạn mình bị người khác bắt nạt
(Nguồn : Kết quả xử lý của đề tài)
Từ biều đồ trên kết hợp với số liệu mục 9 bảng 2.2.4, có thể thấy rõ sự khácbiệt giữa suy nghĩ và hành động của trẻ em, trong tình huống nhìn thấy bạn bị ngườikhác bắt nạt, hay xâm phạm đến thân thể và tài sản của người khác được coi là hành
vi phạm luật, dù có trên 60% số em được hỏi mình sẽ ngăn chặn và tố giác tộiphạm nhưng trương trường hợp cụ thể bắt gặp khá nhiều trong cuộc sống có đếntrên 30% (33.3%) số em quyết định mặc kệ không liên quan, 6.6% trực tiếp ngănchặn hành vi này, 28.9% lựa chọn phương án đi báo cho những người khác có thểcan thiệp, 1.1% số em tỏ ra thận trọng lựa chon các em thận trọng lựa chọn cácphương án khác tùy tình hình sự việc tinhg huống để có nhừng hành động phug hợp
Trang 32mà đảm bảo an toàn, Mặt khác cũng có 18/90 % số em được hỏi ( chiếm trên 20%)
tỏ ra lung túng không đưa ra câu trả lời cho tình huống này
Như vậy các số liệu trên đã phần nào phản ánh về thực trạng nhận thức vàcác cư xử của của khách thể nghiên cứu, nhận thấy trẻ em nông thôn hiện nay đã cónhững nhận thức nhất định về các quy định, quy tắc trong cuộc sống thường ngày,tuy nhiên cách hiểu và cách thực hiện lại rất khác nhau, tức là theo nhận định củatác giả nhận thức này vẫn còn mang tính hình thức và chưa thực tế để trẻ em có thểvận dụng vào cuộc sống thực tiền, việc hành động cư xử như thế nào trong các tìnhhuống cuộc sống của trẻ em nông thôn thường là theo thói quen, trực giác hoặc bắtchước của môi trường sống Để có thể làm rõ thêm nhận định về thực trạng nhậnthức về pháp luật của trẻ em nông thôn hiện nay, tác giả đi vào đo lường với nhữngchỉ báo cụ thể hơn để tìm ra mối quan hệ giữa nhận thức và hành vi cụ thể của trẻ emnông thôn vùng nghiên cứu để tìm ra một phép so sánh về các yếu tố trong môitrường sống tác động đến trẻ em và các quy phạm pháp luật trong cuộc sống được ápdụng bảo vệ, chăm sóc, đảm bảo sự phát triển của các mầm non tương lai đất nước
2.2.2 Mối tương quan giữa nhận thức và hành vi của trẻ em trong việc thực hiện các quy đinh của pháp luật
Pháp luật đối với trẻ em được hiểu một các đơn thuần nhất là các quy tắc cư
xử với trẻ em và cách trẻ em thực hiện hành vi theo đúng cách như mục đích củanhà luật, của trật tự xã hội Cuộc đời của mỗi người là một chuỗi những biến cố Cóchuyện được ta coi là vui, có chuyện buồn, có việc đúng như ý và cũng có nhữngviệc ngoài mong muốn Nhưng liệu có phải mỗi sự việc đều có bản chất bất biến làvui hay buồn, tốt hay xấu không? Hay cái sự vui – buồn, tốt – xấu ấy là do chúng tagán cho sự việc? Cách hiểu thứ hai chính xác hơn vì nó bao gồm cả vai trò của chủthể tiếp nhận sự việc ấy
Chuỗi biến cố của cái tuổi ngày ngày cắp sách đến trường bao gồm: đạt điểmtốt, xấu hay trung bình, được thầy cô khen chê hay chẳng bao giờ được nhắc đến,được phép tham gia hay bị cấm trong một trò chơi yêu thích, ngoài ra còn những sựviệc xảy ra với những người trong gia đình hoặc bạn bè, trực tiếp hoặc gián tiếp ảnhhưởng tới chúng Lý thuyết tương tác đã nhấn mạnh đến 3 mệnh đề :
Trang 33Tiền đề 1 “Con người hành động hướng về những sự vật trên cơ sở củanhững nghĩa mà sự vật ấy có đối với họ”
Tiền đề 2 “Nghĩa của những sự vật ấy được phát sinh, hay nảy sinh từ những
sự tương tác xã hội của con người ta với những người đồng hội của mình”
Tiền đề 3 “Những nghĩa này được xử lý, được trao đổi trong một tiến trình
lý giải của ai đó khi xử lý những sự vật mà mình gặp phải” ,
Tức là con người có thể định hướng suy nghĩ và hành động của mình theonhận định chủ quan đối với mỗi sự vật sự việc trong cuộc sống
Từ đây để thấy được thực trạng về mối quan hệ về nhận thức và hành vi củatrẻ em nông thôn hiện nay, tác giả cho rằng cần đặt trẻ vào chính môi trường pháttriển thực tại, xem xét cách xử lý các tình huống cụ thể của nhóm mẫu trẻ em đượcchọn, để có thể đưa ra những kết luận về mối quan hệ nay
Thứ nhất, với cùng một tình huống bị bạn bè bắt nạt,tác giả chia nhóm kháchthể trẻ em ra thành 3 nhóm nhỏ theo tuổi: 11 tuổi (đại diện cho nhóm HS tiểu học)
15 tuổi (nhóm đại diện cho HS THCS) 17 tuổi (nhóm tuổi đại diện cho HS THPT)
và kết quả đã chỉ ra rằng các nhóm tuổi có xu hướng giải quyết tình huống nàykhác nhau
Trang 34Bảng2.5 So sánh nhận thức giữa các nhóm tuổi trong tình huống cụ thể
Nhóm tuổi
Biểu đồ 2.2 Xử sự của trẻ em khi bị người khác xâm hại đến thân thể, sức khỏe
(Nguồn : Kết quả xử lý của khóa luận)
Từ bảng số liệu được cụ thể hóa biểu đồ 2.2.2, hành vi của trẻ em ở mỗinhóm tuổi thể hiện rất rõ đặc điểm tâm lý, hành vi của mỗi độ tuổi: Nhóm học sinhTiểu học với độ tuổi đại diện 11 tuổi, là độ tuổi cuối cấp của cấp học thấp nhất củaphổ thông,ở lứa tuổi này các em được giáo dục làm dần tự lập song vẫn được coi lànhỏ tuổi, do đó với tình huống bị bạn bắt nạt gia đình vẫn là nơi các em tin tưởngnhất khi có sự việc sảy ra, với 70% các em sẽ tâm sự việc này cho bố mẹ, ngườithân trong gia đình, chiếm tỉ lệ cũng không thua kém nhóm tuổi này cũng coi thầy
cô là chỗ dựa đáng tin cậy với 66% em sẽ thông báo với thầy cô, 33% số em ở độ
Trang 35tuổi này lực chọn sẽ nhờ vào sự giúp đỡ bào vệ của bạn bè, 16% lựa chọn sẽ tựmình bảo vệ bản than, ngăn chặn hành vi của bạn, tuy nhiên vẫn có đến 12% trong
số được hỏi chọn biện pháp im lặng chịu đựng trong tình huống bị bạn bắt nạt
Song ở nhóm tuổi thứ hai, cách thể hiện các hoạt động lại có xu hướng hoàntoàn khác, ở nhóm tuổi HS THCS đối với bạn bè xấu, thầy cô ngay tại môi trườngcủa những người bạn đó, các em cho rằng thầy cô là nơi tin tưởng nhất để giải quyếtvấn đề này với 65% lựa chọn thông báo sự việc với thầy cô, 54 % lựa chọn nhờ vào
sự giúp đỡ của bạn bè, bố mẹ, gia đình trở thành lựa chon thứ ba khi vấn đề chưađược gải quyết 43% đã hướng sự giúp đỡ đến họ Đặc biệt, xu hướng tự giải quyếtvấn đề cá nhân tăng vọt với 42% em cho rằng sẽ tự bảo vệ mình trong tình huốngnày gấp đôi sự lựa chọn của nhóm tuổi tiểu học Tuy nhiên, tỉ lệ số em lựa chonphương án mặc kệ, cam chịu hành vi bạo lực cũng ở mức khá cao 20% số em
Ở nhóm tuổi thứ 3, nhóm HS PTTH sự khác biệt ngày càng thể hiện rõ: tựbảo vệ bản than, tự giải quyết vấn đề của mình trở thành suy nghĩ độc lập của lứatuổi này, 54% ý kiến đã chọn phương án tự bảo vệ mình, sau đó là 53% số em lựachọn đến sức bảo vệ của những người bạn, gia đình và thầy cô trở thành nhữngphương án thứ yếu với 28 % và 31%, đồng thời tỉ lệ số em chon phương án chịuđựng , mặc kệ cũng chiếm tỉ lệ 16 % Có thể thấy rõ sự khác biệt rõ nét của cácnhóm tuổi trên trong các xử trí một trường hợp cụ thể
Đây là một tình huống khá điển hình, và ngày càng sảy ra nhiều trong môitrường của trẻ, nó được coi như một biểu hiện của bạo lực học đường, từ tình huốnggiả định này có thể suy rộng ra kĩ năng giải quyết tình huống thực tế trong đời sốngcủa các em, khi bị xâm hại về thân thể, tính mạng sức khỏe, tinh thần trẻ em thường
có rất nhiều cách phản ứng lại, tuy nhiên các cách sử trí thường thiên về cảm tínhtheo yếu tố nhân cách lứa tuổi, tác giả nhận định rằng giữa nhận thức và hành vi củatrẻ em chưa có mối liên hệ chặt chẽ của quá trình giáo dục tuyên truyền pháp luật
Ở lứa tuổi nhỏ còn phụ thuộc các em tìm đến sự trợ giúp của người lớn như một chỗdựa, ở tuổi vị thành niên lứa tuổi dần có sự phát triển mạnh mẽ về thể chất và nhâncách các em lại có xu hướng tìm đến sự trợ giúp tương sức như bạn bè Ở lứa tuổi
Trang 36trưởng thành hơn, trẻ em nhận thức về giá trị bản thân và mong muốn hướng đến sựđộc lập, tự bảo vệ mình chứng tỏ bản thân trở thành lựa chọn hàng đầu.
Thứ hai, để đi vào nhận định rõ hơn về mức độ thể hiện các hành vi trong đờisống của trẻ em, tác giả tiếp tục đi sâu vào đo lường các biểu biện tiêu cực cụ thểtrong cuộc sống của trẻ em nông thôn để thấy được rõ hơn luận điểm nghiên cứu
Bảng2.6 Nhận thức và hành vi của trẻ em nông thôn trong cuộc sống thường
(Nguồn : Kết quả xử lý của đề tài)
Bảng số liệu trên là một trong những điều cấm của pháp luật đối với trẻ em,tuy nhiên khi thu thập số liệu trên địa bàn nghiên cứu, cho thấy mức độ vi phạm cáchành vi cấm sảy ra ngày càng nhiều đối với trẻ em theo độ tuổi, cụ thể, đối vớinhóm học sinh tiểu học hút thuốc lá, uống bia rượu, lái xe gắn máy hầu như không
vi phạm, lỗi trốn học có 6.7% em vi phạm, đặc biệt có đến 9/30 em( chiếm 30% ýkiến) trả lời đã từng chơi pháo nổ Nhóm tuổi thứ hai, HS THCS số lượng các hành
vi vi phạm tăng vọt với 36.67% em có trốn học, 53.3% em đã biết sử dụng xe gắnmáy, 6/30 em chiếm 20% trẻ em có hút thuốc lá, 43,3% trong số trả lời đã từng chơipháo nổ, 20% HS THCS có sử dụng bia rượu các chất gây kích thích khác Tỷ lệnày tiếp tục tăng với nhóm tuổi lớn hơn, cụ thể 46.67% học sinh THPT nói mình đãtừng trốn học, trên 80% trả lời trong nhóm này có sử dụng xe gắn máy, 40 % emtham gia nói đã có sử dụng thuốc lá, hơn 60% có chơi pháo nổ và trên 70% có sửdụng bia rượu Có thể thấy rõ sự trượt dốc trong hành vi ứng xử của trẻ em khingày càng nhiểu hành vi cấm đối với trẻ được thực hiện một cách thường xuyên
Trang 37hơn ở độ tuổi lớn hơn Đây là vấn đề đáng báo động hiện nay, Thực trạng này là dođâu?
Từ đây có thể nhận định, trước những tác động đáng kích lệ của quá trình đôthị hóa- hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn, cuộc sống của các gia đình ngày càngkhấm khá hơn, thay vì những công việc mang tính mùa vụ lao động nông thôn đangdần được công nghiệp hóa, những ông bố bà mẹ trở thành những người công nhânlàm việc theo ca trong những nhà máy, những bậc phụ huynh trở thành những chủ
cơ sở kinh doanh, các hoạt động, loại hình giải trí ngày càng đa dạng… đi cũng với
sự phát triển của các phương tiện thông tin đại chúng, trẻ em nông thôn ngày càng
có nhiều điều kiện để phát triển Tuy nhiên bối cảnh đó, dường như đang tạo nên mộtthực trạng trái chiều khi kinh tế- xã hội phát triển chưa kéo theo kịp một phương thứcgiáo dục cho trẻ em Các em ngày càng có xu hướng độc lập, chứng tỏ bản thân songkiến thức, hiểu biết chưa đến nơi đến chốn đã trực tiếp dẫn đến những vấn đề xã hội:tội phạm trẻ em, xâm hại trẻ em, hay suy giảm giá trị đạo đức ở trẻ em
Mặt khác, khẳng định quá trình trưởng thành của mỗi cá nhân là quá trìnhtiếp nhận và xử lý các mối quan hệ xã hội thông qua sự tác động từ nhiều phía và từnhiều cấp độ khác nhau Để xử lý các mối quan hệ đó, con người đã sử dụng nhiềuloại quy phạm, trong đó quy phạm pháp luật đóng một vai trò đặc biệt quan trọng,giữ vai trò chủ đạo trong quá trình điều chỉnh hành vi của con người trong xã hội
Nhận thức pháp luật bao hàm nhiều vấn đề hợp thành, đó là kiến thức cơ bản
về pháp luật, về những vấn đề nảy sinh trong mối liên hệ với pháp luật hiện hành,những yêu cầu nghiêm ngặt của pháp luật đối với các thành viên của xã hội, về việcgiải quyết những vấn đề nảy sinh giữa các thành viên trong cộng đồng xã hội, về tráchnhiệm hành vi của mỗi thành viên trong xã hội Những vấn đề này có mối quan hệchặt chẽ với nhau và tạo nên nội dung cơ bản của công tác giáo dục pháp luật
Do đó,có thể khẳng định nhận thức về pháp luật vừa là mục đích vừa là kếtquả của của quá trình TTGDPL
Bảng 2.7.Mức độ cần thiết hiểu biết pháp luật đối với bản thân
Trang 38(Nguồn : Kết quả xử lý của khóa luận)
Từ bảng số liệu trên cho thấy 80% ý kiến đánh giá mức độ cần thiết của việchiểu biết các quy định pháp luật là một con số khá chân thực, và đáng nghi nhận đểtriển khai các chương trình tuyên truyền giáo dục pháp luật cho trẻ em, tuy nhiên20% ý kiến cho rằng việc trang bị kiến thức pháp luật là bình thường có cũng đượckhông có cũng không sao, cùng như không cần thiết lại cho thấy một lỗ hổng trongnhận thức về tầm quan trọng của pháp luật trong cuộc sống cua con người trong xãhội tiến bộ- một thách thức được đặt ra Bởi chỉ khi con người nhận thức được mụcđích của hành động thì học mới chủ động tìm hiểu và thực hiện hành vi, hành động
đó Đối với các quy phạm pháp luật cũng vậy chỉ khi trẻ em- và những bộ phận tạonên môi trường sống của các em nhận thức được mục đích, ý nghĩa của pháp luậtthì pháp luật mới đi vào cuộc sống
Như vậy, các số liệu khảo sát đã cho chúng ta thấy rõ một sự thật tồn tạitrong xã hội hiện nay về nhận thức pháp luật còn mang tính hình thức của trẻ em, vàcác hành động còn mang nặng ý thức hệ chủ quan của môi trường sống được taonên từ các bộ phận trực tiếp tác động vào trẻ em bao gồm: gia đình- nhà trường –các tổ chức đoàn thể xã hội trong tổng hòa các mối quan hệ nông thôn Việt Nam
2.3 Tuyên truyền giáo dục pháp luật trong cuộc sống cho trẻ em nông thôn hiện nay
Trước khi đi vào tìm hiểu thực trạng tuyên truyền và giáo dục pháp luật chotrẻ em nông thôn hiện nay, tác giả xin nêu ra một ví dụ về tầm quan trọng vềphương thức giáo dục- tuyên truyền pháp luật và định hướng hành vi cho trẻ em
Vào những ngày tháng 8 năm 2011, cả xã hội một phen bàng hoàng bởi tin
vụ án Lê Văn Luyện đột nhập vào tiệm vàng Ngọc Bích, ở phố Sàn, huyện Lục
Trang 39Nam, tỉnh Bắc Giang ra tay sát hại vợ chồng chủ tiệm vàng là anh Trịnh ThànhNgọc, SN 1974 và chị Đinh Thị Chín, SN 1976 tại tầng 3 ngôi nhà Sau đó, Luyệnvào phòng ngủ tầng 2 sát hại cháu Trịnh Thị Thảo, SN 2010 và chém đứt một bàntay cùng nhiều nhát khác lên người cháu Trịnh Thị Bích, SN 2003, là hai con gáicủa vợ chồng chủ tiệm vàng Sau khi gây ra vụ thảm sát, Luyện xuống tầng 1 đểcướp vàng, cho vào ba lô rồi tẩu thoát lối cửa sau ở tầng 1 Sau nhiều ngày lẩn trốn,chiều 30/8/2011, Lê Văn Luyện đã bị các chiến sĩ Đồn biên phòng Na Hình, tỉnhLạng Sơn bắt giữ…Quá trình điều tra, xét xử sơ thẩm, và Phiên phúc thẩm ngày30/3 xét xử Lê Văn Luyện, HĐXX nhận định, hành vi của bị cáo Luyện là dã man,gây hoang mang trong dư luận, bức xúc cho người dân về hành động dã man củaLuyện y án 18 năm tù (không tử hình như hành động dã man mà y đã gây ra)… Tuynhiên, trái chiều với những bức xúc của những người trưởng thành, một bộ phậnkhông nhỏ thanh thiếu niên đã tôn sùng hành vi của Luyện như một “anh hùng”, cácnhóm trẻ đó tụ tập, sử dụng hàng nóng (dao, phớ, sung, thuốc nổ…) và tự xưng là
“đàn em của anh Luyện” để gây ra hàng loạt các vụ việc nghiêm trọng với một suynghĩ rất đơn giản: dù làm gì, giết hại bao nhiêu người , độc ác đến đâu thì chúng sẽkhông bao giờ bị xử tử hình Từ một hành vi giết người dã man để chiếm đoạt tàisản của người khác được coi như một “ anh hùng” để làm theo Đây phải chăng làmột sai sót của quá tình tuyên truyền giáo dục pháp luật cho trẻ em, đối tượng cầnnhất những định hướng hành vi đúng
Hiện nay, vấn đề quyền trẻ em đang là mối quan tâm lớn không chỉ của từngquốc gia mà là của toàn xã hội Tương lai của mỗi quốc gia, dân tộc phụ thuộcnhiều vào việc bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em Tuy nhiên, ở nhiều nơi trên thếgiới nói chung và Việt Nam nói riêng, tình trạng trẻ em phải tự lao động kiếm sống,
bị lừa gạt, bạo lực, bóc lột sức lao động và sa vào các tệ nạn xã hội đang có chiềuhướng gia tăng Bởi vậy, hơn lúc nào hết, vấn đề quyền trẻ em được đặt ra như mộtnhu cầu bức bách cần được giải quyết, nhằm giành lại cho các em quyền được sống,quyền được học hành, vui chơi, được chăm sóc và bảo vệ Những khẩu hiệu “Trẻ emhôm nay, thế giới ngày mai”, “Hãy dành tất cả những gì tốt đẹp nhất cho trẻ em màmình có” đã và đang là khẩu hiệu hành động của các quốc gia
Trang 40Ở nước ta, ngay từ khi phê chuẩn Công ước quốc tế về quyền trẻ em (1990),UNICEF đã phối hợp chặt chẽ với chính phủ Việt Nam xây dựng Chương trìnhhành động quốc gia vì trẻ em và nỗ lực triển khai thực hiện UNICEF đã kiên trìthực hiện các hoạt động truyền thông nhằm nâng cao nhận thức của những người cóvai trò và ảnh hưởng đối với trẻ em Bởi vậy, trẻ em Việt Nam đã, đang và sẽ đượchưởng những cơ hội tốt đẹp hơn so với trước đây Mức sống của nhiều gia đìnhđược cải thiện, các bậc cha mẹ có sự lựa chọn dễ dàng hơn trong việc tổ chức cuộcsống và điều này có ảnh hưởng tích cực tới lợi ích của trẻ em
Nhưng để có được sự lựa chọn đi tới quyết định đúng đắn trong việc chămsóc trẻ em, các gia đình cần được tiếp cận thông tin nhiều hơn nữa Nhà trường bộphận gắn bó chặt chẽ với trẻ em, xã hội môi trường bao bọc các em… tất cả đi cùngTruyền thông đã và đang tiếp tục mở rộng tầm ảnh hưởng tới trẻ em Các thông tin
xã hội có định hướng, trong đó các vấn đề trẻ em được truyền tải nhiều hơn tới dânchúng cả về chất lượng và số lượng “Nhận thức toàn dân” về quyền cũng như cácvấn đề của trẻ em không ngừng được cải thiện
Mặc dù vậy, vẫn còn một khoảng cách khá lớn giữa nhận thức về Quyền trẻ
em và các hành động cụ thể, cho đến việc giáo dục và tuyên truyền cho trẻ em hiểu,biết và hành động đúng theo pháp luật, dực vào pháp luật để bảo vệ mình Hànhđộng của gia đình, nhà trường và môi trường xã hội chính là tấm gương phản ánhhành vi cho trẻ, vậy hoạt động đó đang được thể hiện như thế nào? Gia đình nhàtrường và các tổ chức xã hội đã và đang thực hiện vai trò giáo dục định hướng hành
vi cho trẻ theo đúng chuẩn mực xã hội và pháp luật như thế nào?
2.3.1 Gia đình
Nhiều nhà xã hội học coi gia đình là “hòn đá tảng của xã hội” theo nghĩa nó
là đơn vị cơ bản của tổ chức xã hội, là một bộ phận không thể thiếu của xã hội conngười, và khó lòng hình dung xã hội con người sẽ vận hành ra sao nếu thiếu giađình Song trong những năm gần đây, trên thế giới đã có sự đánh giá mang tính cấptiến về tình trạng cũng như vai trò của gia đình hiện đại và mức độ mong muốn đốivới sự tồn tại của nó Trên thế giới, sự tồn tại của gia đình được đặt ra bàn luận, khi