LỜI MỞ ĐẦU1.Lý do chọn đề tàiKinh doanh quốc tế đóng một vai trò rất quan trọng vào sự thành công của kinh tế đất nước. Trong đó, xuất khẩu là hoạt động quan trọng góp phần thúc đẩy nền kinh tế trong nước hội nhập với nền kinh tế thế giới đặc biệt là xuất khẩu các mặt hàng nông sản, chiếm một tỷ trọng rất lớn trong tổng giá trị xuất khẩu của Việt Nam.Một trong những mặt hàng nông sản xuất khẩu chủ lực của Việt Nam phải nói đến là cà phê. Theo số liệu thống kê từ Bộ Nông nghiệp PTNT, năm 2015, cà phê thuộc nhóm hàng nông sản, chỉ đứng thứ hai (sau mặt hàng gạo, kim ngạch đạt mức hơn 2.8 USD) về kim ngạch xuất khẩu với giá trị đạt được gần 2.6 tỷ USD. Đồng thời Việt Nam là một trong những quốc gia xuất khẩu cà phê lớn nhất thế giới, là thành viên có vị thế trong Hiệp Hội Cà Phê Thế Giới (ICO). Tuy nhiên, việc đẩy mạnh xuất khẩu cũng như hoạt động xuất khẩu cà phê còn nhiều vấn đề khó khăn như giá cà phê xuất khẩu, chất lượng cà phê xuất khẩu,…Đơn cử như giá cà phê xuất khẩu, hiện nay Việt Nam đứng thứ hai về sản lượng xuất khẩu cà phê với 1,190,863 tấn (năm 2015) sau Braxin (2,091,398 tấn, 2015) nhưng chỉ đứng thứ ba về kim ngạch xuất khẩu (2,649,566 nghìn USD, năm 2015) sau Braxin (6,158,740 nghìn USD) và Colombia (2,810,169 nghìn USD). Kim ngạch xuất khẩu cà phê của Việt Nam đứng sau Colombia mặc dù sản lượng xuất khẩu lại hơn Colombia tới 456,259 tấn. Điều này chứng tỏ giá xuất khẩu cà phê của Việt Nam thấp hơn hai nước trên rất nhiều, mức giá bình quân xuất khẩu cà phê các loại năm 2015 đạt 2,225 USDtấn, của Braxin đạt 2,945 USDtấn, của Colombia đạt mức cao nhất 3,825 USDtấn. Những vấn đề khó khăn xảy ra như nêu trên có thể xuất phát từ chính sách xuất khẩu cà phê của chính phủ chưa phù hợp; cách thức trồng trọt, canh tác cà phê của các hộ nông dân hay hoạt động xuất khẩu của các doanh nghiệp xuất khẩu cà phê chưa hiệu quả,…Trong đó, hoạt động xuất khẩu của các doanh nghiệp xuất khẩu cà phê có vai trò hết sức quan trọng trong việc xuất khẩu cà phê sang thị trường thế giới của ngành cà phê Việt Nam. Khi tham gia vào hoạt động xuất khẩu, các doanh nghiệp có nhiều cơ hội phát triển tại thị trường thế giới nhưng cũng phải đối mặt với nhiều thách thức như sự cạnh tranh từ các doanh nghiệp xuất khẩu cà phê lớn trên thế giới, những rào cản kĩ thuật, rào cản thương mại, các chính sách xuất nhập khẩu của quốc gia mà doanh nghiệp xuất khẩu. Điều này đòi hỏi các doanh nghiệp phải không ngừng cải tiến chất lượng sản phẩm, nâng cao năng lực quản lí, kinh nghiệm kinh doanh xuất khẩu,…để hoạt động xuất khẩu được thuận lợi.Nhận thấy được tầm quan trọng của vấn đề trên, cùng với sự hướng dẫn của TS. Nguyễn Viết Bằng, tác giả quyết định chọn đề tài “ Các yếu tố tác động đến hoạt động xuất khẩu cà phê của các doanh nghiệp Việt Nam” làm khóa luận tốt nghiệp chuyên ngành kinh doanh quốc tế.2.Mục tiêu nghiên cứuMục tiêu tổng quát: Tìm hiểu và phân tích các yếu tố tác động đến hoạt động xuất khẩu cà phê của các doanh nghiệp Việt Nam để nắm rõ mức độ tác động của các yếu tố đó. Từ kết quả phân tích, đưa ra một số đề xuất nhằm nâng cao hoạt động xuất khẩu cà phê của các doanh nghiệp Việt Nam.Mục tiêu cụ thể: Hệ thống lại một số cơ sở lý thuyết về xuất khẩu, hoạt động xuất khẩu, vai trò của xuất khẩu, các mô hình lý thuyết về các nhân tố tác động đến hoạt động xuất khẩu. Dựa trên các cơ sở đó, phân tích tình hình xuất khẩu cà phê của Việt Nam những năm gần đây và phân tích rõ các yếu tố tác động đến hoạt động xuất khẩu cà phê của các doanh nghiệp Việt Nam. Từ đó, đề ra những phương hướng hợp lí để có thể hạn chế những tác động tiêu cực và tận dụng những tác động tích cực của các yếu tố nhằm nâng cao hoạt động xuất khẩu cà phê của các doanh nghiệp Việt Nam trong tương lai.3.Đối tượng nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu của đề tài khóa luận tốt nghiệp này là các yếu tố tác động đến hoạt động xuất khẩu cà phê của các doanh nghiệp Việt Nam.4.Phạm vi nghiên cứuPhạm vi không gian: Các yếu tố tác động đến hoạt động xuất khẩu cà phê của các doanh nghiệp Việt Nam.Phạm vi thời gian: phạm vi thời gian nghiên cứu của đề tài từ năm 2010 đến 2015.Phạm vi lý thuyết: Do nghiên cứu này chủ yếu dùng phương pháp thống kê mô tả để đánh giá chung về hoạt động xuất khẩu cà phê của các doanh nghiệp Việt Nam nên tác giả lựa chọn sẽ đánh giá chủ yếu dựa trên tiêu chí bán hàng (kim ngạch xuất khẩu và số lượng xuất khẩu).5.Phương pháp nghiên cứuTrong khóa luận này, tác giả sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp để hệ thống lại các cơ sở lý thuyết; sử dụng các phương pháp thống kê mô tả, phân tích, tổng hợp, so sánh kết hợp với việc sử dụng số liệu thứ cấp lấy chủ yếu từ mạng Internet, sách báo,...để phân tích tình hình xuất khẩu cà phê của Việt Nam và phân tích các yếu tố tác động đến hoạt động xuất khẩu cà phê của các doanh nghiệp Việt Nam.6.Kết cấu của khóa luận: Ngoài lời mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, khóa luận gồm 3 chương:Chương 1: Cơ sở lý thuyết. Ở chương này, tác giả sẽ giới thiệu về khái niệm của xuất khẩu, hoạt động xuất khẩu, vai trò của xuất khẩu; đưa ra một số mô hình lý thuyết về các yếu tố tác động đến hoạt động xuất khẩu, một số nghiên cứu thực nghiệm của các mô hình đó.Chương 2: Phân tích các yếu tố tác động đến hoạt động xuất khẩu cà phê của các doanh nghiệp Việt Nam. Ở chương này, tác giả sẽ khái quát về tình hình xuất khẩu cà phê của Việt Nam, phân tích các yếu tố tác động đến hoạt động xuất khẩu cà phê của các doanh nghiệp Việt Nam dựa trên mô hình lý thuyết đã được nêu ở chương 1.Chương 3: Một số đề xuất nhằm nâng cao hoạt động xuất khẩu cà phê của các doanh nghiệp Việt Nam. Ở chương này, tác giả sẽ dựa trên sự tác động của các yếu tố đã được phân tích ở chương 2 để đưa ra đề xuất nhằm nâng cao hoạt động xuất khẩu cà phê của các doanh nghiệp Việt Nam. CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ THUYẾT1.1. Khái niệm xuất khẩuTheo GS. TS Đoàn Thị Hồng Vân: Xuất khẩu là bán hàng hóa hoặc dịch vụ ra nước ngoài. Cũng theo đó, “xuất khẩu hàng hóa là việc hàng hoá được đưa ra khỏi lãnh thổ Việt Nam hoặc đưa vào khu vực đặc biệt nằm trên lãnh thổ Việt Nam được coi là khu vực hải quan riêng theo quy định của pháp luật”3Như vậy, xuất khẩu hàng hoá là hoạt động kinh doanh buôn bán ở phạm vi quốc tế. Nó không phải là hành vi buôn bán riêng lẻ mà là cả một hệ thống các quan hệ mua bán trong một nền thương mại có tổ chức cả bên trong và bên ngoài nhằm bán sản phẩm, hàng hoá sản xuất trong nước ra nước ngoài thu ngoại tệ, tăng tích lũy cho ngân sách nhà nước, phát triển sản xuất kinh doanh, khai thác ưu thế tiềm năng đất nước và nâng cao đời sống nhân dân.Hoạt động xuất khẩu hàng hoá là việc bán hàng hoá và dịch vụ cho một quốc gia khác trên cơ sở dùng tiền tệ làm phương tiện thanh toán, với mục tiêu là lợi nhuận. Tiền tệ ở đây có thể là ngoại tệ đối với một quốc gia hoặc với cả hai quốc gia. Mục đích của hoạt động này là khai thác được lợi thế của từng quốc gia trong phân công lao động quốc tế. Hoạt động xuất khẩu là hình thức cơ bản của hoạt động ngoại thương đã xuất hiện từ rất lâu và ngày càng phát triển. Hình thức sơ khai của hoạt động xuất khẩu chỉ là hoạt động trao đổi hàng hóa nhưng cho đến nay nó đã phát triển rất mạnh mẽ và được thể hiện dưới nhiều hình thức. Nó diễn ra trên mọi lĩnh vực, mọi điều kiện kinh tế, từ xuất khẩu hàng tiêu dùng cho đến hàng hoá tư liệu sản xuất, từ máy móc thiết bị cho đến công nghệ kỹ thuật cao. Tất cả hoạt động đó đều nhằm mục tiêu đem lại lợi nhuận cho các quốc gia tham gia.Hoạt động xuất khẩu diễn ra trên phạm vi rất rộng về không gian và thời gian. Nó có thể diễn ra trong thời gian rất ngắn song cũng có thể kéo dài hàng năm, có thể diễn ra trên phạm vị một quốc gia hay nhiều quốc gia khác nhau.
Trang 1thành khóa học cũng như khóa luận tốt nghiệp
Tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến TS Nguyễn Viết Bằng, người đã dànhnhiều thời gian và tâm huyết hướng dẫn, giúp đỡ, góp ý tận tình cho tôi trong quátrình thực hiện khóa luận này
Đồng thời, tôi cũng xin gửi lời cảm ơn tới một số giảng viên khác và bạn bè đãgiúp đỡ tôi trong việc cung cấp những thông tin bổ ích cho việc nghiên cứu
Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn tới ba mẹ và gia đình đã luôn bên cạnh ủng
hộ, cổ động tinh thần trong suốt quá trình tôi làm khóa luận này
Xin chân thành cảm ơn!
Trang 2TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÔN ĐỨC THẮNG
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi và được sựhướng dẫn khoa học của TS Nguyễn Viết Bằng Các nội dung nghiên cứu, kết quảtrong đề tài này là trung thực và chưa công bố dưới bất kỳ hình thức nào trước đây.Những số liệu trong các bảng biểu phục vụ cho việc phân tích, nhận xét, đánh giáđược chính tác giả thu thập từ các nguồn khác nhau có ghi rõ trong phần tài liệutham khảo
Ngoài ra, trong khóa luận còn sử dụng một số nhận xét, đánh giá cũng như sốliệu của các tác giả khác, cơ quan tổ chức khác đều có trích dẫn và chú thích nguồngốc
Nếu phát hiện có bất kỳ sự gian lận nào tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về nội dung khóa luận của mình Trường đại học Tôn Đức Thắng không
liên quan đến những vi phạm tác quyền, bản quyền do tôi gây ra trong quá trìnhthực hiện (nếu có)
TP Hồ Chí Minh, ngày 09 tháng 08 năm 2016
Tác giả (ký tên và ghi rõ họ tên)
Trang 3Nam trong giai đoạn năm 2010 - 2015 Về tình hình sản xuất, nhìn chung diện tích
và sản lượng đều có sự tăng lên qua các năm Về tình hình xuất khẩu, cà phê là mặthàng xuất khẩu hàng đầu trong nhóm mặt hàng nông nghiệp của Việt Nam với sảnlượng xuất khẩu đứng thứ hai thế giới hàng năm Qua phân tích về sản lượng vàkim ngạch xuất khẩu cà phê, năm 2012 được cho là một năm thành công mỹ mãntrong xuất khẩu cà phê của Việt Nam do sản lượng và kim ngạch cà phê xuất khẩuđều tăng mạnh và đạt mức cao nhất trong giai đoạn với mức giá xuất khẩu khá tốt.Ngoài ra, Đức và Mỹ là hai thị trường xuất khẩu cà phê lớn nhất của Việt Nam, càphê nhân sống là mặt hàng được xuất khẩu nhiều nhất
Dựa trên các mô hình lý thuyết về các nhân tố tác động đến hoạt động xuấtkhẩu, tác giả sử dụng phương pháp thống kê mô tả kết hợp các nguồn số liệu thứcấp để phân tích các yếu tố tác động đến hoạt động xuất khẩu cà phê của các doanhnghiệp Việt Nam Qua đó thấy được tác động tích cực và tiêu cực của từng yếu tốđến hoạt động xuất khẩu cà phê của các doanh nghiệp Việt Nam Chẳng hạn nhưyếu tố công nghệ có tác động tiêu cực đến hoạt động xuất khẩu cà phê của cácdoanh nghiệp do công nghệ sản xuất và chế biến cà phê của các doanh nghiệp hiệnnay chưa được đầu tư nhiều và còn lạc hậu so với thế giới Ngoài ra, các yếu tố cònlại như chính sách xuất khẩu cà phê của Nhà nước, chất lượng, chiến lược, văn hóacủa nước nhập khẩu đều có những tác động tích cực lẫn tiêu cực đến hoạt động xuấtkhẩu cà phê của các doanh nghiệp
Từ những phân tích các yếu tố tác động đến hoạt động xuất khẩu cà phê củacác doanh nghiệp Việt Nam, tác giả đưa ra những đề xuất tiếp tục tận dụng và đẩymạnh đối với các yếu tố có tác động tích cực và hạn chế, khắc phục tác động tiêucực của một số yếu tố nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động xuất khẩu cà phê của cácdoanh nghiệp Việt Nam trong tương lai
Trang 41.1 Khái niệm xuất khẩu 5
1.2 Các mô hình lý thuyết 6
1.2.1 Mô hình của Aaby & Slater (1989) 6
1.2.2 Mô hình của Zou & Stan (1998) 8
1.2.3 Mô hình của Gemünden (1991) 10
1.2.4 Mô hình của Madsen (1987) 11
1.2.5 Mô hình của Mô hình Leonidou, Katsikeas và Samiee (2002) 12
1.3 Một số các nghiên cứu liên quan 13
1.3.1 Đề tài nghiên cứu của Trần Thanh Long: Đánh giá tác động của gia nhập WTO đến kết quả kinh doanh xuất khẩu của doanh nghiệp Việt Nam 13
1.3.2 Đề tài nghiên cứu của Bùi Thanh Tráng và Lê Tấn Bửu: Các nhân tố tác động đến kết quả xuất khẩu của các doanh nghiệp xuất khẩu cà phê nhânViệt Nam 14
1.3.3 Đề tài nghiên cứu của Carole Maurel: Các nhân tố tác động đến hoạt động xuất khẩu của các doanh nghiệp xuất khẩu rượu vang Pháp 15
CHƯƠNG 2 PHÂN TÍCH CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU CÀ PHÊ CỦA CÁC DOANH NGHIỆP VIỆT NAM 17
2.1 Khái quát về tình hình xuất khẩu cà phê của Việt Nam 17
2.1.1 Tình hình sản xuất 17
2.1.2 Tình hình xuất khẩu 20
2.1.2.1 Kim ngạch và sản lượng xuất khẩu cà phê của Việt Nam 20
2.1.2.2 Cơ cấu thị trường xuất khẩu 22
Trang 52.2 Phân tích các yếu tố tác động đến hoạt động xuất khẩu cà phê của các doanh
nghiệp Việt Nam 25
2.2.1 Các yếu tố bên ngoài 27
2.2.1.1 Rào cản thương mại của các nước nhập khẩu cà phê 27
2.2.1.2 Văn hóa của các nước nhập khẩu cà phê 30
2.2.1.3 Chính sách xuất khẩu cà phê của Việt Nam 33
2.2.1.4 Cạnh tranh tại thị trường quốc tế 36
2.2.2 Các yếu tố bên trong 39
2.2.2.1 Năng lực 39
2.2.2.2 Đặc điểm của các doanh nghiệp xuất khẩu cà phê Việt Nam 41
2.2.2.3 Chiến lược xuất khẩu 44
CHƯƠNG 3 MỘT SỐ ĐỀ XUẤT NHẰM NÂNG CAO HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU CÀ PHÊ CỦA CÁC DOANH NGHIỆP VIỆT NAM 53
3.1 Mục tiêu phát triển ngành cà phê 53
3.1.1 Mục tiêu chung 53
3.1.2 Mục tiêu cụ thể 53
3.2 Một số các đề xuất 53
3.2.1 Đề xuất về chính sách xuất khẩu cà phê của Nhà nước 53
3.2.1.1 Đối với hoạt động xuất khẩu cà phê của Việt Nam 53
3.2.1.2 Đối với các doanh nghiệp xuất khẩu cà phê 55
3.2.2 Đề xuất liên quan đến thị trường các quốc gia nhập khẩu 56
3.2.3 Đề xuất về chất lượng cà phê xuất khẩu 57
Trang 63.2.5.1 Về nguồn vốn 60
3.2.5.2 Về quản lý 61
3.2.6 Đề xuất về chiến lược 61
3.2.6.1 Đề xuất về sản phẩm 61
3.2.6.2 Đề xuất về giá cả 63
3.2.6.3 Đề xuất về chiêu thị 63
KẾT LUẬN 65
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 67 PHỤ LỤC
Trang 7Bộ Nông nghiệp & PTNT: Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn
Công ty CP: Công ty cổ phần
EU: European Union - Liên minh Châu Âu
HS: Harmonized Commodity Description and Coding System - Hệ thống hài hòa
mô tả và mã hóa hàng hóa
ICO: Hiệp Hội Cà Phê Thế Giới
IMF: International Monetary Fund - Quỹ tiền tệ thế giới
USD: United States Dollar - Đồng Đô la Mỹ
Vicofa: Hiệp hội cà phê ca cao Việt Nam
WB: World Bank - Ngân hàng thế giới
Trang 8Bảng 2.2 Sản lượng cà phê phân theo khu vực giai đoạn 2010 – 2015 19Bảng 2.3 Kim ngạch xuất khẩu các mặt hàng nông sản Việt Nam 2010 - 2015 20Bảng 2.4 Thị trường xuất khẩu cà phê chính của Việt Nam trong giai đoạn năm
2011 – 2015 22Bảng 2.5 Thống kê tiêu thụ cà phê của người Mỹ trong năm 1999, năm 2012 vànăm 2015 31Bảng 2.6 Sản lượng và kim ngạch xuất khẩu của một số nước xuất khẩu cà phê lớntrến thế giới năm 2015 36Bảng 2.7 Đơn giá bình quân xuất khẩu cà phê các loại của một số quốc gia trên thếgiới năm 2015 51
Danh mục biểu đồ
Biểu đồ 2.1 Kim ngạch và sản lượng xuất khẩu cà phê của Việt Nam giai đoạn
2010 – 2015 21 Biểu đồ 2.2 Thị phần xuất khẩu cà phê năm 2015 23 Biểu đồ 2.3 Sản lượng và kim ngạch xuất khẩu cà phê các loại của Việt Nam 24
Trang 9Hình 1.2 Mô hình của Zou & Stan (1998) 8
Hình 1.3 Mô hình của Gemünden (1991) 10
Hình 1.4 Mô hình của Madsen (1987) 11
Hình 1.5 Mô hình của Mô hình Leonidou, Katsikeas và Samiee (2002) 12
Trang 10LỜI MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Kinh doanh quốc tế đóng một vai trò rất quan trọng vào sự thành công củakinh tế đất nước Trong đó, xuất khẩu là hoạt động quan trọng góp phần thúc đẩynền kinh tế trong nước hội nhập với nền kinh tế thế giới đặc biệt là xuất khẩu cácmặt hàng nông sản, chiếm một tỷ trọng rất lớn trong tổng giá trị xuất khẩu của ViệtNam
Một trong những mặt hàng nông sản xuất khẩu chủ lực của Việt Nam phải nóiđến là cà phê Theo số liệu thống kê từ Bộ Nông nghiệp & PTNT, năm 2015, cà phêthuộc nhóm hàng nông sản, chỉ đứng thứ hai (sau mặt hàng gạo, kim ngạch đạtmức hơn 2.8 USD) về kim ngạch xuất khẩu với giá trị đạt được gần 2.6 tỷ USD.Đồng thời Việt Nam là một trong những quốc gia xuất khẩu cà phê lớn nhất thếgiới, là thành viên có vị thế trong Hiệp Hội Cà Phê Thế Giới (ICO)
Tuy nhiên, việc đẩy mạnh xuất khẩu cũng như hoạt động xuất khẩu cà phê cònnhiều vấn đề khó khăn như giá cà phê xuất khẩu, chất lượng cà phê xuất khẩu,…Đơn cử như giá cà phê xuất khẩu, hiện nay Việt Nam đứng thứ hai về sản lượngxuất khẩu cà phê với 1,190,863 tấn (năm 2015) sau Braxin (2,091,398 tấn, 2015)nhưng chỉ đứng thứ ba về kim ngạch xuất khẩu (2,649,566 nghìn USD, năm 2015)sau Braxin (6,158,740 nghìn USD) và Colombia (2,810,169 nghìn USD) Kimngạch xuất khẩu cà phê của Việt Nam đứng sau Colombia mặc dù sản lượng xuấtkhẩu lại hơn Colombia tới 456,259 tấn Điều này chứng tỏ giá xuất khẩu cà phê củaViệt Nam thấp hơn hai nước trên rất nhiều, mức giá bình quân xuất khẩu cà phê cácloại năm 2015 đạt 2,225 USD/tấn, của Braxin đạt 2,945 USD/tấn, của Colombia đạtmức cao nhất 3,825 USD/tấn
Những vấn đề khó khăn xảy ra như nêu trên có thể xuất phát từ chính sáchxuất khẩu cà phê của chính phủ chưa phù hợp; cách thức trồng trọt, canh tác cà phêcủa các hộ nông dân hay hoạt động xuất khẩu của các doanh nghiệp xuất khẩu càphê chưa hiệu quả,…Trong đó, hoạt động xuất khẩu của các doanh nghiệp xuất
Trang 11khẩu cà phê có vai trò hết sức quan trọng trong việc xuất khẩu cà phê sang thịtrường thế giới của ngành cà phê Việt Nam Khi tham gia vào hoạt động xuất khẩu,các doanh nghiệp có nhiều cơ hội phát triển tại thị trường thế giới nhưng cũng phảiđối mặt với nhiều thách thức như sự cạnh tranh từ các doanh nghiệp xuất khẩu càphê lớn trên thế giới, những rào cản kĩ thuật, rào cản thương mại, các chính sáchxuất nhập khẩu của quốc gia mà doanh nghiệp xuất khẩu Điều này đòi hỏi cácdoanh nghiệp phải không ngừng cải tiến chất lượng sản phẩm, nâng cao năng lựcquản lí, kinh nghiệm kinh doanh xuất khẩu,…để hoạt động xuất khẩu được thuậnlợi.
Nhận thấy được tầm quan trọng của vấn đề trên, cùng với sự hướng dẫn của
TS Nguyễn Viết Bằng, tác giả quyết định chọn đề tài “ Các yếu tố tác động đến hoạt động xuất khẩu cà phê của các doanh nghiệp Việt Nam” làm khóa luận tốt
nghiệp chuyên ngành kinh doanh quốc tế
2 Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu tổng quát: Tìm hiểu và phân tích các yếu tố tác động đến hoạt động
xuất khẩu cà phê của các doanh nghiệp Việt Nam để nắm rõ mức độ tác động củacác yếu tố đó Từ kết quả phân tích, đưa ra một số đề xuất nhằm nâng cao hoạt độngxuất khẩu cà phê của các doanh nghiệp Việt Nam
Mục tiêu cụ thể: Hệ thống lại một số cơ sở lý thuyết về xuất khẩu, hoạt động
xuất khẩu, vai trò của xuất khẩu, các mô hình lý thuyết về các nhân tố tác động đếnhoạt động xuất khẩu Dựa trên các cơ sở đó, phân tích tình hình xuất khẩu cà phêcủa Việt Nam những năm gần đây và phân tích rõ các yếu tố tác động đến hoạt
động xuất khẩu cà phê của các doanh nghiệp Việt Nam Từ đó, đề ra những phương
hướng hợp lí để có thể hạn chế những tác động tiêu cực và tận dụng những tác độngtích cực của các yếu tố nhằm nâng cao hoạt động xuất khẩu cà phê của các doanhnghiệp Việt Nam trong tương lai
3 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài khóa luận tốt nghiệp này là các yếu tố tác
Trang 12động đến hoạt động xuất khẩu cà phê của các doanh nghiệp Việt Nam.
Phạm vi lý thuyết: Do nghiên cứu này chủ yếu dùng phương pháp thống kê
mô tả để đánh giá chung về hoạt động xuất khẩu cà phê của các doanh nghiệp ViệtNam nên tác giả lựa chọn sẽ đánh giá chủ yếu dựa trên tiêu chí bán hàng (kim ngạchxuất khẩu và số lượng xuất khẩu)
5 Phương pháp nghiên cứu
Trong khóa luận này, tác giả sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp để hệthống lại các cơ sở lý thuyết; sử dụng các phương pháp thống kê mô tả, phân tích,tổng hợp, so sánh kết hợp với việc sử dụng số liệu thứ cấp lấy chủ yếu từ mạngInternet, sách báo, để phân tích tình hình xuất khẩu cà phê của Việt Nam và phântích các yếu tố tác động đến hoạt động xuất khẩu cà phê của các doanh nghiệp ViệtNam
6 Kết cấu của khóa luận:
Ngoài lời mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, khóa luận gồm 3chương:
Chương 1: Cơ sở lý thuyết
Ở chương này, tác giả sẽ giới thiệu về khái niệm của xuất khẩu, hoạt độngxuất khẩu, vai trò của xuất khẩu; đưa ra một số mô hình lý thuyết về các yếu tố tácđộng đến hoạt động xuất khẩu, một số nghiên cứu thực nghiệm của các mô hình đó.Chương 2: Phân tích các yếu tố tác động đến hoạt động xuất khẩu cà phê củacác doanh nghiệp Việt Nam
Ở chương này, tác giả sẽ khái quát về tình hình xuất khẩu cà phê của ViệtNam, phân tích các yếu tố tác động đến hoạt động xuất khẩu cà phê của các doanh
Trang 13nghiệp Việt Nam dựa trên mô hình lý thuyết đã được nêu ở chương 1.
Chương 3: Một số đề xuất nhằm nâng cao hoạt động xuất khẩu cà phê của cácdoanh nghiệp Việt Nam
Ở chương này, tác giả sẽ dựa trên sự tác động của các yếu tố đã được phântích ở chương 2 để đưa ra đề xuất nhằm nâng cao hoạt động xuất khẩu cà phê củacác doanh nghiệp Việt Nam
Trang 14CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT 1.1 Khái niệm xuất khẩu
Theo GS TS Đoàn Thị Hồng Vân: Xuất khẩu là bán hàng hóa hoặc dịch vụ ra
nước ngoài Cũng theo đó, “xuất khẩu hàng hóa là việc hàng hoá được đưa ra khỏi
lãnh thổ Việt Nam hoặc đưa vào khu vực đặc biệt nằm trên lãnh thổ Việt Nam đượccoi là khu vực hải quan riêng theo quy định của pháp luật”[3]
Như vậy, xuất khẩu hàng hoá là hoạt động kinh doanh buôn bán ở phạm viquốc tế Nó không phải là hành vi buôn bán riêng lẻ mà là cả một hệ thống các quan
hệ mua bán trong một nền thương mại có tổ chức cả bên trong và bên ngoài nhằmbán sản phẩm, hàng hoá sản xuất trong nước ra nước ngoài thu ngoại tệ, tăng tíchlũy cho ngân sách nhà nước, phát triển sản xuất kinh doanh, khai thác ưu thế tiềmnăng đất nước và nâng cao đời sống nhân dân
Hoạt động xuất khẩu hàng hoá là việc bán hàng hoá và dịch vụ cho một quốcgia khác trên cơ sở dùng tiền tệ làm phương tiện thanh toán, với mục tiêu là lợinhuận Tiền tệ ở đây có thể là ngoại tệ đối với một quốc gia hoặc với cả hai quốcgia Mục đích của hoạt động này là khai thác được lợi thế của từng quốc gia trongphân công lao động quốc tế
Hoạt động xuất khẩu là hình thức cơ bản của hoạt động ngoại thương đã xuấthiện từ rất lâu và ngày càng phát triển Hình thức sơ khai của hoạt động xuất khẩuchỉ là hoạt động trao đổi hàng hóa nhưng cho đến nay nó đã phát triển rất mạnh mẽ
và được thể hiện dưới nhiều hình thức Nó diễn ra trên mọi lĩnh vực, mọi điều kiệnkinh tế, từ xuất khẩu hàng tiêu dùng cho đến hàng hoá tư liệu sản xuất, từ máy mócthiết bị cho đến công nghệ kỹ thuật cao Tất cả hoạt động đó đều nhằm mục tiêuđem lại lợi nhuận cho các quốc gia tham gia
Hoạt động xuất khẩu diễn ra trên phạm vi rất rộng về không gian và thời gian
Nó có thể diễn ra trong thời gian rất ngắn song cũng có thể kéo dài hàng năm, có thể
Trang 16Hình 1.1 Mô hình của Aaby & Slater (1989)[4]
Hình 1.1 thể hiện mô hình của Aaby & Slater (1989), dựa trên các nghiên cứutrong các lĩnh vực xuất khẩu mặt hàng công nghiệp, nông lâm, thủy sản, Aaby &Slater (1989) đã tổng kết lí thuyết nghiên cứu thực nghiệm từ năm 1978 đến 1988phát hiện hoạt động xuất khẩu chịu tác động bởi các nhân tố môi trường bên ngoài
và các nhân tố bên trong của doanh nghiệp (năng lực, đặc điểm, chiến lược)
Các yếu tố môi trường bên ngoài được Aaby và Slater giới thiệu chung, chưađược thể hiện rõ Tuy nhiên, Aaby và Slater thực sự ý thức được môi trường ngoàidoanh nghiệp có ảnh hướng lớn đến hoạt động kinh doanh xuất khẩu của doanhnghiệp
Các yếu tố bên trong doanh nghiệp:
- Năng lực: Đề cấp đến công nghệ, kiến thức xuất khẩu, chính sách xuất khẩu,
kế hoạch, chất lượng Trong đó, kiến thức xuất khẩu, chính sách xuất khẩu,hoạch định, chất lượng có tác động tích cực đến hoạt động xuất khẩu; côngnghệ có tác động tích cực đến hoạt động xuất khẩu khi dựa trên việc quản lýsản phẩm và thị trường mà doanh nghiệp quyết định xuất khẩu
- Đặc điểm doanh nghiệp: Bao gồm quy mô; nhận thức về quản lý đối với tàichính, sự cạnh tranh, tiềm năng thị trường, phân phối, giao nhận và dịch vụ,khuyến khích của Chính phủ, rủi ro Trong đó, các biến về quản lý có tácđộng tích cực đến hoạt động xuất khẩu, quy mô chỉ có tác động quan trọngkhi gắn liền với năng lực tài chính (nguồn vốn) hoặc quy mô kinh tế
- Chiến lược: Đề cập đến việc lựa chọn thị trường, sản phẩm, hoạt động xúctiến xuất khẩu, giá cả, nhân sự Yếu tố chiến lược này lại chịu sự tác độngquan trọng của hai yếu tố trước đó là năng lực và đặc điểm Do đó đây là yếu
tố có tác động quan trọng đối với hoạt động xuất khẩu
Đây là mô hình đơn giản nhưng có mức độ bao quát rộng về các nhân tố tácđộng đến hoạt động xuất khẩu và có thể dễ dàng áp dụng đối với các doanh nghiệp
Trang 17xuất khẩu.
1.2.2 Mô hình của Zou & Stan (1998)
Hình 1.2 Mô hình của Zou & Stan (1998) [7]
Hình 1.1 thể hiện mô hình của Zou & Stan (1998), Zou & Stan (1998) dựa trênnền tảng lí thuyết của Aaby & Slater (1989) đã nghiên cứu thực nghiệm trên một sốlĩnh vực xuất khẩu hàng công nghiệp và nông nghiệp; kết quả cho thấy có nhiềunhân tố ảnh hưởng đến hoạt động xuất khẩu và có nhiều cách thức khác nhau trongviệc xác định nhân tố, nhưng vẫn thiếu một khung lí thuyết thống nhất để hướngdẫn lựa chọn các nhân tố tác động đến hoạt động xuất khẩu Phân tích các lí thuyếtnghiên cứu tiền đề, Zou & Stan (1998) cho rằng tác động đến hoạt động xuất khẩu
Hoạt động xuất khẩu
Hoạt động xuất khẩu
Năng lực công ty
Năng lực công ty
Đặc điểm quản lý
Đặc điểm quản lý
Thái độ và nhận thức quản lý
Thái độ và nhận thức quản lý
Chiến lược Marketing xuất khẩu
Chiến lược Marketing xuất khẩu
Đặc điểm ngành công nghiệp
Đặc điểm ngành công nghiệp
Trang 18bao gồm 7 yếu tố thuộc nhóm các nhân tố nội bộ và các nhân tố bên ngoài
Các nhân tố nội bộ bao gồm: Năng lực công ty, đặc điểm quản lí, thái độ vànhận thức quản lí, và chiến lược Marketing xuất khẩu Các nhân tố bên ngoài baogồm: Đặc điểm ngành công nghiệp, đặc điểm thị trường nước ngoài, và đặc điểm thịtrường trong nước
Các nhân tố cũng có thể chia theo nhóm các nhân tố kiểm soát được và cácnhân tố không kiểm soát được Các nhân tố có thể kiểm soát được bao gồm thái độ
và nhận thức quản lí và chiến lược Marketing xuất khẩu, các nhân tố không thểkiểm soát được bao gồm năng lực công ty, đặc điểm quản lí, đặc điểm ngành côngnghiệp, đặc điểm thị trường nước ngoài, và đặc điểm thị trường trong nước
Cụ thể 7 yếu tố tác động đến hoạt động xuất khẩu, theo Zou & Stan (1998):
- Năng lực công ty: Đề cập đến năng lực quốc tế, quy mô, công nghệ, thời gianhoạt động của công ty
- Đặc điểm quản lí: Bàn đến kinh nghiệm quản lí kinh doanh quốc tế, kiếnthức và kinh nghiệm về xuất khẩu
- Thái độ và nhận thức quản lí: Bao gồm định hướng quốc tế, cam kết và hỗtrợ xuất khẩu, nhận thức lợi thế xuất khẩu và nhận thức các rào cản xuấtkhẩu
- Chiến lược Marketing xuất khẩu: Hay còn gọi là sự thích ứng của chiến lượcMarketing-mix bao hàm nội dung như chiến lược sản phẩm, thế mạnh củasản phẩm, hoạt động xúc tiến xuất khẩu, khuyến mãi, cạnh tranh về giá, kênhphân phối, kế hoạch xuất khẩu, và cách thức tổ chức xuất khẩu
- Đặc điểm ngành công nghiệp: Đề cập đến sự ổn định của ngành, dự đoán sựthay đổi hay biến động của ngành, tốc độ thay đổi, sự biến động theo chu kìhay theo mùa, mức độ rủi ro, mức độ cạnh tranh ngành
- Đặc điểm thị trường nước ngoài: Các quy định pháp lí về nhập khẩu, cạnhtranh thị trường, sự hấp dẫn thị trường, các rào cản thương mại, sự biến động
Trang 19Thị trường nội địa
Đặc điểm thị trường xuất khẩu (tiềm năng, cạnh tranh, khoảng cách, thuế, hàng rào khác)
của thị trường thế giới
- Đặc điểm thị trường trong nước: Những quy định về xuất khẩu của chính
phủ, sự hỗ trợ xuất khẩu, cạnh tranh của thị trường trong nước
1.2.3 Mô hình của Gemünden (1991)
Hình 1.3 Mô hình của Gemünden (1991)[6]
Hình 1.2 thể hiện mô hình của Gemünden (1991), được tổng hợp từ 15 nghiên
cứu về vấn đề các yếu tố tác động đến hoạt động xuất khẩu từ năm 1964 đến năm
Trang 20Yếu tố môi trường
Hoạt động xuất khẩu
1987 Những nghiên cứu này sử dụng hơn 700 chỉ số giả định ảnh hưởng đến hoạtđộng xuất khẩu của hơn 9,000 doanh nghiệp xuất khẩu trong mười tám 18 quốc giakhác nhau Theo kết quả nghiên cứu này, các yếu tố tác động đến hoạt động xuấtkhẩu được chia thành 5 nhóm chính: đặc điểm thị trường xuất khẩu (thị trường màdoanh nghiệp xuất khẩu hàng hóa sang, các đặc điểm gồm tiềm năng thị trường,mức độ cạnh tranh, khoảng cách địa lý, thuế quan và các rào cản thương mại khác),thị trường nội địa (quy mô thị trường, tốc độ phát triển thị trường, mức độ cạnhtranh, hạn chế nhập khẩu), quản lý, các hoạt động (R&D, chính sách sản phẩm, giá
cả, phân phối, mối quan hệ kinh doanh), đặc điểm doanh nghiệp (quy mô, côngnghiệp, quyền sở hữu, các hạn chế xuất khẩu)
1.2.4 Mô hình của Madsen (1987)
Hình 1.4 Mô hình của Madsen (1987) [6]
Trên cơ sở tổng hợp 17 công trình nghiên cứu xuất khẩu ở cấp doanh nghiệp,Madsen đã chia các biến quan sát gồm 23 khái niệm thành 3 nhóm nhân tố có tácđộng đến hoạt động xuất khẩu của doanh nghiệp: cơ cấu tổ thức, môi trường vàchiến lược kinh doanh xuất khẩu của các doanh nghiệp, trên cơ sở đó tác giả đã đềxuất mô hình các nhân tố tác động đến hoạt động kinh doanh xuất khẩu của cácdoanh nghiệp như hình 1.4
Trang 21Trong mô hình này, hoạt động xuất khẩu được đánh giá bằng các chỉ tiêu: lợinhuận xuất khẩu, doanh thu xuất khẩu, tăng trưởng của xuất khẩu.
Yếu tố môi trường: bao gồm mức độ hấp dẫn của thị trường xuất khẩu; hàngrào thương mại; khoảng cách địa lý; khác biệt về tâm lý, văn hóa; sự hấp dẫn của thịtrường trong nước; loại thị trường
Yếu tố tổ chức: đề cập đến Nguồn lực chung của doanh nghiệp, kiến thức vềmarketing xuất khẩu, hỗ trợ của đội ngũ quản trị, tình hình của tổ chức xuất khẩu,mức độ thâm dụng về công nghệ
Yếu tố chiến lược: Bao gồm mức độ nghiên cứu thị trường, năng lực cạnhtranh về giá, mức độ kiểm soát và hoạch định, sức mạnh của sản phẩm, bộ phậnmarketing quốc tế, mức độ hỗ trợ kênh phân phối truyền thông, điều chỉnh chínhsách marketing, mức độ tập trung của marketing
Trang 22• Mục tiêu doanh nghiệp
Yếu tố môi trường
• Môi trường cụ thể
• Môi trường vĩ mô
Hoạt động xuất khẩu
Yếu tố chiến lược Marketing xuất khẩu
• Sản phẩm
• Giá
• Phân phối
• Khuyến mãi
1.2.5 Mô hình của Leonidou, Katsikeas và Samiee (2002)
Hình 1.5 Mô hình của Mô hình Leonidou, Katsikeas và Samiee (2002)[6]
Theo Leonidou, Katsikeas và Samiee, hoạt động xuất khẩu của doanh nghiệpđược đánh giá thông qua các chỉ tiêu kinh tế và các chỉ tiêu khác không mang tínhkinh tế và chịu ảnh hưởng bởi các yếu tố của chiến lược marketing xuất khẩu và cácmục tiêu của doanh nghiệp liên quan đến hoạt động xuất khẩu; mục tiêu xuất khẩu
và các chiến lược marketing xuất khẩu lại phụ thuộc vào đặc điểm quản lý cả vềkhía cạnh chủ quan và khách quan, ảnh hưởng bởi các nhân tố thuộc doanh nghiệp,đồng thời bị chi phối bởi môi trường của doanh nghiệp như hình 1.5
Trang 231.3 Một số các nghiên cứu liên quan
1.3.1 Đề tài nghiên cứu của Trần Thanh Long: Đánh giá tác động của gia nhập WTO đến kết quả kinh doanh xuất khẩu của doanh nghiệp Việt Nam
Đây là luận án tiến sĩ Kinh tế, được thực hiện bởi tác giả Trần Thanh Long,trường Đại học Kinh tế, TP Hồ Chí Minh, năm 2010, dựa trên một số mô hình lýthuyết về các nhân tố tác động đến hoạt động xuất khẩu của Madsen (1987), Aaby
& Slater (1989), Gemunden (1991), Zou & Stan (1998), Leonidou, Katsikeas vàSamiee.[1]
Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp định tính: trao đổi trực tiếp và thăm dò các chuyên gia nghiêncứu và doanh nghiệp về thang đo và các mục hỏi
Phương pháp định lượng: Trên cơ sở thang đo và bảng câu hỏi thiết kế từ kếtquả nghiên cứu định tính, tác giả tiến hành nghiên cứu định lượng thông qua 02 đợtkhảo sát các yếu tố tác động đến kết quả kinh doanh xuất khẩu của doanh nghiệptrong tiến trình Việt Nam gia nhập WTO Trong khảo sát đợt 1 nhằm làm rõ ảnhhưởng của WTO đến hoạt động xuất khẩu của doanh nghiệp, ông tiến hành với mẫu
là 200 doanh nghiệp Trong đợt khảo sát thứ 2 phục vụ cho kiểm định thang đo và
mô hình nghiên cứu, với số biến của đề tài luận án là 44 biến Vì vậy, để đảm bảo
độ tin cậy mẫu khoảng trên 220 doanh nghiệp, ông lấy mẫu thuận tiện, ngẫu nhiên,thu hồi 247 phiếu, sau khi loại 8 phiếu không hợp lệ, số mẫu khảo sát phân tích là
239 doanh nghiệp, đạt chuẩn về độ đại diện của mẫu so với tổng thể nghiên cứu vàyêu cầu của đề tài Đối tượng khảo sát là cấp lãnh đạo trung và cao cấp của doanhnghiệp, cụ thể: trưởng/phó phòng kinh doanh xuất nhập khẩu, giám đốc/ phó giámđốc phụ trách kinh doanh của doanh nghiệp xuất nhập khẩu Sau khi bảng câu hỏi
đã thiết kế hoàn chỉnh, tiến hành khảo sát bằng 2 phương pháp là trực tiếp và quainternet Thang đo được đánh giá sơ bộ thông qua phương pháp độ tin cậy CronbachAlpha và phân tích nhân tố khám phá EFA Mô hình lý thuyết được kiểm địnhthông qua phương pháp phân tích hồi quy tuyến tính
Trang 24Kết quả nghiên cứu
Có sáu nhân tố ảnh hưởng đến kết quả kinh doanh xuất khẩu của doanh nghiệptại Việt Nam: các nhân tố có tính ảnh hưởng quyết định đến kết quả kinh doanhxuất khẩu của các doanh nghiệp trong hội nhập kinh tế quốc tế nói chung và gianhập WTO tại Việt Nam là (1) Đặc điểm của doanh nghiệp xuất khẩu, (2) đặc điểmcủa ngành hàng xuất khẩu, (3) hoạt động xuất khẩu của doanh nghiệp, (4) thị trườngtrong nước, (5) thị trường nước ngoài, (6) vai trò của chính phủ liên quan đến cácchính sách, chương trình hỗ trợ cho xuất khẩu Tuy nhiên, kết quả nghiên cứu bằng
mô hình hồi qui tuyến tính cho thấy mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố đến kếtquả xuất khẩu có những điểm khác nhau Qua kết quả nghiên cứu kết luận kết quảkinh doanh xuất khẩu của doanh nghiệp tùy thuộc vào các yếu tố: (1) đặc điểmdoanh nghiệp, (2) đặc điểm ngành hàng, (3) hoạt động xuất khẩu, (4) thị trườngtrong nước, (5) thị trường nước ngoài, (6) vai trò của chính phủ
1.3.2 Đề tài nghiên cứu của Bùi Thanh Tráng và Lê Tấn Bửu: Các nhân tố tác động đến kết quả xuất khẩu của các doanh nghiệp xuất khẩu cà phê nhânViệt Nam
Đây là bài nghiên cứu được thực hiện bởi tác giả Bùi Thanh Tráng và Lê TấnBửu, được đăng trên tạp chí phát triển kinh tế, 26(6), năm 2015.[2]
Phương pháp nghiên cứu
Tác giả của bài nghiên cứu này đã sử dụng phương pháp định tính thông qua phỏng vấn trực tiếp các chuyên gia, dựa trên kết quả này để xây dựng bảng câu hỏi thực hiện nghiên cứu định lượng Thang đo được xây dựng để đo lường các nhân tố
trong nghiên cứu này dựa trên thang đo của Madsen (1987), Matthyssens &Pauwels (1996), Zou & Stan (1998), Lages (2008), Carneiro (2011), Anna (2011).Thực hiện nghiên cứu định lượng được nhóm tác giả này liên kết với Công tyGIBC - Global Intergation Bussines Consultants để thực hiện phỏng vấn trong thờigian tháng 4-6/2014 Tham gia xuất khẩu cà phê nhân của Việt Nam tính đến cuối
Trang 25năm 2013 có khoảng 400 doanh nghiệp, kích thước mẫu khảo sát được chọn là 30%
số doanh nghiệp, khoảng 130 doanh nghiệp xuất khẩu cà phê nhân (xuất khẩu thô).Quá trình phỏng vấn đạt tỉ lệ hồi đáp là 82%, có 107 bảng câu hỏi đạt yêu cầu đưavào sử dụng phân tích Thang đo được đánh giá sơ bộ thông qua phương pháp độ tincậy Cronbach Alpha và phân tích nhân tố khám phá EFA Mô hình lý thuyết đượckiểm định thông qua phương pháp phân tích hồi quy tuyến tính bội
Kết quả nghiên cứu
Kết quả nghiên cứu phát hiện có 6 nhân tố tác động đến kết quả xuất khẩu củacác doanh nghiệp kinh doanh xuất khẩu cà phê nhân của Việt Nam, đó là: (1) Nănglực quản lí công ty; (2) Thái độ và nhận thức quản lí xuất khẩu; (3) Chiến lượcMarketing xuất khẩu; (4) Đặc điểm thị trường cà phê thế giới; (5) Đặc điểm thịtrường cà phê trong nước; và (6) Mối quan hệ kinh doanh Trong đó, ba nhân tố cótác động cao nhất là mối quan hệ kinh doanh, đặc điểm thị trường cà phê thế giới,
và năng lực quản lí công ty.
1.3.3 Đề tài nghiên cứu của Carole Maurel: Các nhân tố tác động đến hoạt động xuất khẩu của các doanh nghiệp xuất khẩu rượu vang Pháp.
Bài nghiên cứu này được thực hiện bởi Carole Maurel, Trường Đại họcMontpellier 1, Montpellier, Pháp, được đăng trên tạp chí International Journal ofWine Business Research, năm 2009.[5]
Phương pháp nghiên cứu
Tác giả của bài nghiên cứu này đã sử dụng phương pháp định tính thông quaphỏng vấn gián tiếp 10 doanh nghiệp có doanh thu trên 3 triệu euro bằng cách gửimẫu các câu hỏi đến các doanh nghiệp này, dựa trên kết quả này để xây dựng bảngcâu hỏi thực hiện nghiên cứu định lượng
Sau đó tiến hành thực hiện nghiên cứu định lượng với mẫu là 214 công ty Cáccông ty được khảo sát đại diện cho tổng doanh thu của 50 triệu hectolit đối với rượuvang không sủi bọt (Still wine), 1.7 triệu hectolit đối với rượu vang có ga (Sparkling
Trang 26wine) và 1.8 triệu hectolit đối với rượu vang sủi bọt (Effervescent wine) Quá trìnhkhảo sát đạt tỷ lệ hồi đáp là 73.8% tương ứng với mẫu 158 được đưa vào sử dụngphân tích bao gồm các công ty khai báo kim ngạch xuất khẩu trong năm 2005 đượctrích từ 214 mẫu ban đầu.
Kết quả nghiên cứu
Kết quả của bài nghiên cứu này cho thấy có sáu yếu tố tác động đến hoạt độngxuất khẩu của các doanh nghiệp rượu vang vừa và nhỏ Pháp: Môi trường văn hóa,Thương hiệu, Quy mô doanh nghiệp, Định hướng của doanh nghiệp, Cam kết vềquản lý đối với hoạt động xuất khẩu, Các đặc điểm của người ra quyết định
TÓM TẮT CHƯƠNG 1
Trong chương này, tác giả đã làm rõ một số cơ sở lý thuyết về xuất khẩu, vaitrò của xuất khẩu Bên cạnh đó, tác giả đưa ra một số các mô hình lý thuyết về cácnhân tố tác động đến hoạt động xuất khẩu như mô hình của Aaby & Slater (1989),Zou & Stan (1998), Mogunden (1991), Madsen (1987) và của Mô hình Leonidou,Katsikeas và Samiee (2002) Tác giả cũng đã phân tích các nghiên cứu đi trước liênquan về đề tài để có thể kế thừa phương pháp và các kết quả nghiên cứu này Tất cảnhững lý thuyết, những phân tích này sẽ là tiền đề khoa học cho các phân tích ở cácchương sau
Trang 27CHƯƠNG 2 PHÂN TÍCH CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU CÀ PHÊ CỦA CÁC DOANH NGHIỆP VIỆT NAM
mà Đảng và nhà nước ta luôn coi cà phê là một trong những mặt hàng xuất khẩuchủ lực của nước ta nói chung và của nông nghiệp nói riêng và luôn dành sự quantâm đặc biệt đến hoạt động sản xuất xuất khẩu của mặt hàng này
Bảng 2.1 Diện tích gieo trồng cà phê giai đoạn 2010 – 2015
( Đơn vị: nghìn ha)
2010
Năm 2011
Năm 2012
Năm 2013
Năm 2014
Năm 2015
Trang 28Tốc độ tăng 5.6% 6.3% 2.2% 0.7% 0.5%
(Nguồn: Tổng cục thống kê, Bộ Nông nghiệp & PTNT)
Diện tích gieo trồng cà phê nhiều năm nay liên tục tăng, từ bảng trên chúng ta
có thể thấy diện tích gieo trồng cà phê nhiều năm nay liên tục tăng, tăng mạnh nhấtvào năm 2012 với mức tăng 37 nghìn ha ứng với 6.3% Sau đó tốc độ tăng bắt đầugiảm mạnh từ năm 2013, cho đến năm 2105 tốc độ tăng chỉ còn 0.5%, xảy ra điều
đó là do chính phủ ta có chính sách khuyến nghị duy trì diện tích trồng cà phê ổnđịnh ở mức 600 nghìn ha vì tình trạng gieo trồng tự phát của người dân quá nhiềukhiến cho nguồn cung tăng vượt mức cầu nhưng chất lượng không được chú trọng.Tuy nhiên, số liệu thống kê cho thấy diện tích cà phê tăng vượt mức Diện tích càphê năm 2015 đạt 645.2 nghìn ha, tăng 0.5% so với năm 2014 (641.7 ha) và tăng1.3% so với năm 2013 (637 ha) Trong đó, Tây Nguyên là khu vực trồng nhiều càphê nhất với diện tích chiếm 89.8% (579.2 ha, năm 2015) tổng diện tích trồng càphê cả nước
Đồng nhất với diện tích gieo trồng, Tây Nguyên cũng là khu vực có mức sảnlượng cà phê cao nhất, chiếm hơn 90% tổng sản lượng cà phê của cả nước mỗi năm.Trong đó Đắk Lắk và Lâm Đồng là hai tỉnh có sản lượng hàng năm lớn nhất khiluôn chiếm trên mức 65% tổng sản lượng khu vực Tây Nguyên mỗi năm, cụ thểnăm 2015, sản lượng này đạt 888.1 nghìn tấn, chiếm 66% tổng sản lượng cà phêkhu vực Tây Nguyên, 61.5 tổng sản lượng cà phê cả nước
Tuy nhiên, so với mức tăng trưởng diện tích cao nhất vào năm 2012 với 37nghìn ha (6.3%) thì sản lượng cà phê năm này lại giảm 16 nghìn tấn, tương đương1.3% và cũng là năm có sản lượng cà phê giảm duy nhất trong giai đoạn 2010 –
2015 Nguyên do là mùa mưa thường kết thúc vào tháng 10, nhưng năm 2011 tạiTây Nguyên, nơi trồng nhiều cà phê nhất Việt Nam, mưa đã kéo dài cho đến hếttháng 11 khiến cho việc thu hoạch cà phê bị trì hoãn và gặp nhiều khó khăn Sangnăm 2013, sản lượng cà phê mới tăng mạnh trở lại với mức tăng 120.7 nghìn tấntương đương với tốc độ tăng với tốc độ tăng mạnh nhất trong giai đoạn này 9.6% và
Trang 29tăng chủ yếu ở vùng Tây Nguyên, cho tới năm 2015 mức sản lượng đạt 1,445 nghìntấn, tăng 3.6% so với năm 2014, 4.6% so với năm 2013( Số liệu như bảng 2.2).
Bảng 2.2 Sản lượng cà phê phân theo khu vực giai đoạn 2010 – 2015
( Đơn vị: Nghìn tấn)
Năm2010
Năm2011
Năm2012
Năm2013
Năm2014
Năm2015
CẢ NƯỚC 1,105. 7 1,276. 4 1,260. 4 1,381. 1 1,395. 6 1,445. 0 Trung du miền núi phía
Bình Phước 16.0 17.5 24.1 24.9 27.4 27.6
Trang 302.1.2.1 Kim ngạch và sản lượng xuất khẩu cà phê của Việt Nam
Bảng 2.3 Kim ngạch xuất khẩu các mặt hàng nông sản Việt Nam 2010 - 2015
(Đơn vị: Triệu USD)
(Nguồn: Tổng cục thống kê, Bộ Nông nghiệp & PTNT)
Theo số liệu thống kê từ Bộ Nông nghiệp & PTNT, nhiều năm qua, cà phêthuộc nhóm hàng nông sản mang lại giá trị xuất khẩu cao cho ngành nông nghiệpViệt Nam nói riêng và nền kinh tế Việt Nam nói chung cùng vơi mặt hàng cao su vàgạo Trong đó, giá trị xuất khẩu cà phê có sự bức phá khi vươn lên dẫn đầu nhómhàng nông sản xuất khẩu vào năm 2012 và 2014, hai năm được coi là thành côngnhất đối với ngành cà phê Việt Nam trong giai đoạn 2010 – 2015 khi kim ngạchxuất khẩu năm 2012 đạt mức cao nhất với 3,674.4 triệu USD và năm 2014 đạt3,557.4 triệu USD, giá trị này đã tạo được khoảng cách khá xa so với kim ngạch
Trang 31xuất khẩu gạo cùng năm với 622.2 triệu USD Trong khi giá trị xuất khẩu mặt hàngcao su lại đang giảm mạnh qua từng năm từ 3,234.4 triệu USD (năm 2011) còn1,563.7 triệu USD.
Kim ngạch và sản lượng cà phê xuất khẩu
Kim ngạch xuất khẩu (nghìn USD)
Sản lượng xuất khẩu (tấn)
Biểu đồ 2.1 Kim ngạch và sản lượng xuất khẩu cà phê của Việt Nam giai
đoạn năm 2010 – 2015
(Nguồn: Tổng cục thống kê, Bộ Nông nghiệp & PTNT)
Cà phê Việt Nam sản xuất ra chủ yếu là để xuất khẩu với mức sản lượng vàkim ngạch xuất khẩu đạt được hàng năm khá cao khi sản lượng luôn đứng thứ haithế giới về sản lượng (sau Braxin) và kim ngạch xuất khẩu đứng thứ ba (sauColombia, năm 2015) Trung bình trong giai đoạn từ năm 2010 đến năm 2015 kimngạch xuất khẩu cà phê của Việt Nam đạt 2,918,294 nghìn USD với mức sản lượngbình quân 1,404,228 tấn Qua biểu đồ trên, có thể thấy rõ kim ngạch cũng như sảnlượng xuất khẩu cà phê của Việt Nam có sự biến động khá lớn giữa các năm khi
Trang 32giai đoạn 2010 – 2012 tăng dần từ 1,899,242 nghìn USD (1,223,040 tấn) lên đến3,647,403 nghìn USD (1,735,545 tấn) và là mức kim ngạch cao nhất trong giai đoạnnày, giảm mạnh vào năm 2013 và tăng trở lại vào năm 2014, sau đó lại tiếp tụcgiảm mạnh vào năm 2015 khi chỉ còn 2,649,566 nghìn USD (ứng với 1,190,863 tấn,giảm 25.5% về giá trị, 29.6% về lượng) Trong hai năm xuất khẩu cà phê giảm, sovới năm 2013 giảm 24.1% về lượng, 21.5% về giá trị thì năm 2015 là năm có tốc độgiảm mạnh nhất về cả sản lượng và kim ngạch xuất khẩu.
Do đó, năm 2012 được coi là một năm thành công mỹ mãn của ngành cà phêViệt Nam Tuy sản lượng cà phê sản xuất có giảm nhẹ so với những năm trước đónhưng sản lượng và kim ngạch cà phê xuất khẩu đều tăng mạnh và đạt mức cao nhấttrong giai đoạn từ năm 2010 đến năm 2015 với mức giá xuất khẩu khá tốt Theo sốliệu thống kê từ Tổng cục thống kê, xuất khẩu cà phê cả nước trong năm này đạttrên 1.7 triệu tấn, thu về gần 1.7 tỷ USD với giá bình quân xuất khẩu chừng 2,117USD/ tấn
2.1.2.2 Cơ cấu thị trường xuất khẩu
Bảng 2.4 Thị trường xuất khẩu cà phê chính của Việt Nam trong giai đoạn
năm 2011 – 2015
Trang 33Giá trị (Nghìn USD)
Thị phần (%)
Giá trị (Nghìn USD)
Thị phần (%)
Giá trị (Nghìn USD)
Thị phần (%)
Giá trị (Nghìn USD)
Thị phần (%)
Giá trị (Nghìn USD)
Thị phần (%) TỔNG 2,846,006 100% 3,674,403 100% 2,883,133 100% 3,557,411 100% 2,674,239 100% ĐỨC 296,249 10.4% 459,616 12.5% 364,693 12.6% 502,741 14.13% 358,821 13.4%
MỸ 349,413 12.3% 459,699 12.5% 312,424 10.8% 361,861 10.17% 313,338 11.7%
TÂY BAN NHA 135,757 4.8% 218,160 5.9% 191,083 6.6% 232,329 6.53% 230,597 8.6% NHẬT BẢN 128,252 4.5% 171,233 4.7% 167,607 5.8% 168,504 4.74% 198,562 7.4%
ITALIA 177,548 6.2% 216,282 5.9% 166,236 5.8% 239,146 6.72% 169,560 6.3% TRUNG QUỐC 53,177 1.9% 130,326 3.5% 96,173 3.3% 90,943 2.56% 124,280 4.6%
BỈ 210,789 7.4% 127,190 3.5% 94,162 3.3% 217,539 6.12% 103,960 3.9%
NGA 54,092 1.9% 28,329 0.8% 93,313 3.2% 122,268 3.44% 76,588 2.9%
KHÁC 1,440,729 50.6% 1,863,568 50.7% 1,397,442 48.5% 1,622,080 45.6% 1,098,533 41.1%
Năm 2015 Năm 2014
Năm 2013 Năm 2011 Năm 2012
(Nguồn: số liệu tổng hợp từ Bộ Nông nghiệp & PTNT)
Trang 34Biểu đồ 2.2 Thị phần xuất khẩu cà phê năm 2015
Đức, Mỹ, Tây Ban Nha, Nhật Bản, Italia, Trung Quốc, Bỉ, Nga, Anh, Pháp lànhững thị trường xuất khẩu cà phê lớn nhất của Việt Nam với thị phần chiếm 54.4%
về kim ngạch (năm 2015) Trong đó, dẫn đầu là Đức và Mỹ với mức thị phần lầnlượt 13.54 %, 11.83% ứng với mức kim ngạch 358,821 và 313,338 nghìn USD.Trước đó vào năm 2011, năm 2012, Mỹ đã từng là thị trường dẫn đầu, Đức chỉ mớivươn lên từ năm 2013 Việc Mỹ và Đức luôn dẫn đầu những thị trường xuất khẩu càphê của Việt Nam là do nhu cầu đối với cà phê của hai thị trường này rất lớn khitổng giá trị nhập khẩu cà phê lên tới vài tỷ USD mỗi năm Cụ thể vào năm 2015, giátrị nhập khẩu của Đức và Mỹ lần lượt là 3.8 tỷ USD và 6 tỷ USD (số liệu từ Trungtâm Thương mại Quốc tế ITC (www.trademap.org) Chính vì thế, hai quốc gia này
đã trở thành thị trường xuất khẩu cà phê trọng tâm mà Việt Nam hướng đến và sẽtiếp tục có kế hoạch đẩy mạnh xuất khẩu sang hai thị trường nhập khẩu cà phê lớnnày trong tương lai
Trang 352.1.2.3 Cơ cấu mặt hàng cà phê xuất khẩu
Biểu đồ 2.3 Sản lượng và kim ngạch xuất khẩu cà phê các loại của Việt
Nam
(Nguồn: Số liệu từ Tổng cục thống kê)
Trong nhiều năm qua, Việt Nam đã xuất khẩu nhiều loại cà phê Trong đó, càphê chưa rang, chưa tách cafein (HS 090111) hay còn gọi là cà phê nhân sốngchiếm tỷ trọng cao nhất và cách biệt hẳn so với loại cà phê khác khi chiếm trungbình hơn 90% trong suốt giai đoạn 2010 đến 2015 trong cả tổng sản lượng và kimngạch xuất khẩu cà phê của Việt Nam Ngoài ra, sản lượng và kim ngạch xuất khẩucủa mặt hàng cà phê chưa rang, đã tách cafein (HS 090112) trong hai năm gần đâytăng rất mạnh, năm 2014 tăng 39% về sản lượng, 73.5% về kim ngạch; năm 2015tăng 141.1% về sản lượng, 143.8% về kim ngạch
Trang 36Đáng chú ý hơn là, các sản phẩm cà phê hòa tan, cà phê chiết xuất (HS
210111, 210112) có sản lượng cũng như kim ngạch xuất khẩu rất thấp khi tỷ trọngsản lượng và kim ngạch xuất khẩu bình quân trong tổng sản lượng và kim ngạchxuất khẩu cà phê năm 2010 – 2015 lần lượt là 2.06%, 6.06% Cụ thể là năm 2010,sản lượng chiếm 0.4%, kim ngạch 2.5% cho tới năm 2015, tỷ trọng sản lượng vàkim ngạch xuất khẩu của hai mặt hàng này đạt lần lượt là 3.7% và 8.9% Như vậy,xuất khẩu các mặt hàng cà phê chế biến như cà phê hòa tan, cà phê chiết xuất,…đã
có sự tăng lên trong thời gian qua nhưng vẫn còn rất thấp trong khi giá xuất khẩucủa các mặt hàng cà phê này lại cao hơn hẳn những mặt hàng cà phê còn lại, cụ thểgiá xuất khẩu bình quân của các mặt hàng (HS 210111, 210112) năm 2015 là 5,446USD/tấn trong khi của các mặt hàng còn lại là 2,103 USD/tấn
2.1.2.4 Hình thức xuất khẩu cà phê chủ yếu
Hình thức xuất cà phê của các doanh nghiệp Việt Nam chủ yếu là xuất khẩugián tiếp thông qua trung gian Trung gian ở đây có thể là trung gian của nước thứ
ba hoặc các nhà phân phối, đại lý của nước nhập khẩu cà phê Việt Nam do cà phêViệt Nam vẫn chưa có thương hiệu mạnh, các doanh nghiệp xuất khẩu vẫn chưanắm rõ thông tin về thị trường, xuất khẩu chưa có chiến lược xây dựng thương hiệulâu bền, sự phối hợp giữa các khâu trong qua trình sản xuất và xuất khẩu chưa cao.Việc xuất khẩu gián tiếp sẽ làm giảm lợi ích ròng do lợi nhuận bị phân chia Vì vậy,hình thức xuất khẩu trực tiếp cũng đang dần được các doanh nghiệp áp dụng phổbiến trong những năm gần đây
2.2 Phân tích các yếu tố tác động đến hoạt động xuất khẩu cà phê của các doanh nghiệp Việt Nam
Thông qua các mô hình lý thuyết được nêu ở chương cơ sở lý thuyết, tác giảquyết định lựa chọn sử dụng mô hình của Aaby & Slater (1989) để tiến hành phântích các yếu tố tác động đến hoạt động xuất khẩu cà phê của các doanh nghiệp ViệtNam ở chương này Lý do tác giả sử dụng mô hình này là do đây là mô hình đượctrích dẫn nhiều nhất bởi các nhà nghiên cứu trên thế giới và cũng là nguồn gốc của
Trang 37nhiều mô hình khác về các nhân tố tác động đến hoạt động xuất khẩu Ngoài ra, đây
là mô hình được Aaby và Slater nghiên cứu thông qua việc tổng kết nhiều lý thuyếtnghiên cứu thực nghiệm trong khoảng thời gian rất dài từ năm 1978 đến năm 1988
để có thể phát hiện ra hoạt động xuất khẩu chịu tác động bởi các nhân tố môi trườngbên ngoài và các nhân tố bên trong của doanh nghiệp (năng lực, đặc điểm, chiếnlược)
Cụ thể đối với khóa luận này, các nhân tố tác động đến hoạt động xuất khẩudựa trên mô hình của Aaby & Slater (1989) bao gồm:
Đối với nhân tố mô hình bên ngoài, do Aaby và Slater chỉ giới thiệu chung vềnhân tố này nên tác giả sẽ dựa thêm vào một số các mô hình lý thuyết khác đã đượcnêu ở trên để đưa ra một số các yếu tố:
Rào cản thương mại của nước nhập khẩu: theo Madsen (1987), Gemunden(1991), Zou & Stan (1998), đây là yếu tố có tác động đến hoạt động xuất khẩu củacác doanh nghiệp
Văn hóa của nước nhập khẩu: theo Madsen (1987), đây là yếu tố thuộc nhómmôi trường bên ngoài có tác động đến hoạt động xuất khẩu của doanh nghiệp
Cạnh tranh tại thị trường nước ngoài: theo Gemunden (1991), Zou & Stan(1998), đây là yếu tố có tác động đáng kể đến hoạt động xuất khẩu của các doanhnghiệp
Chính sách xuất khẩu: theo Zou & Stan (1998), đây là yếu tố thuộc đặc điểmthị trường nội địa có tác động đến hoạt động xuất khẩu của doanh nghiệp
Các nhân tố bên trong:
- Năng lực: ở đây đề cập đến vấn đề chất lượng và công nghệ
- Đặc điểm doanh nghiệp: bao gồm quy mô và nhận thức về quản lý
- Chiến lược: đề cập đến các chiến lược sản phẩm, chiêu thị, giá cả
Trang 382.2.1 Các yếu tố bên ngoài
Các yếu tố bên ngoài tác động đến hoạt động xuất khẩu cà phê của các doanhnghiệp Việt Nam được phân tích sau bao gồm 4 yếu tố: rào cản thương mại, văn hóacủa nước nhập khẩu, cạnh tranh tại thị trường quốc tế và chính sách xuất khẩu càphê của Việt Nam
2.2.1.1 Rào cản thương mại của các nước nhập khẩu cà phê
Hoạt động xuất khẩu cà phê của các doanh nghiệp có thể phải đối mặt vớithách thức hay có được điều kiện thuận lợi một phần phụ thuộc vào rào cản thươngmại của các nước nhập khẩu cà phê đặt ra đối với mặt hàng cà phê của Việt Nambao gồm rào cản thuế quan và phi thuế quan
Theo Hiệp hội Cà phê ca cao Việt Nam (VICOFA), Việt Nam đã xuất khẩuhơn 82% (năm 2015) tổng sản lượng cà phê đi hơn 80 quốc gia và vùng lãnh thổtrên toàn thế giới, trong đó EU và Mỹ là 2 thị trường nhập khẩu cà phê lớn nhất củaViệt Nam.[9]
Cà phê xuất khẩu chủ yếu của Việt Nam hiện nay là cà phê nhân (dùng để phatrộn), nên giá trị xuất khẩu chưa cao nhưng lại được hưởng thuế nhập khẩu bằng0% Các loại cà phê chế biến, đang phải chịu mức thuế nhập khẩu lớn khi xuất sangcác thị trường Chẳng hạn như thị trường EU, thuế nhập khẩu đối với mặt hàng càphê rang, cà phê bột, cà phê hòa tan bị áp thuế từ 7 - 10% Tại Đức thuế đối với càphê chế biến lên đến 2 Euro/1kg Ngoài ra, các nước EU áp mức thuế là 7.5% đốivới mặt hàng cà phê đã rang, chưa tách cafein (HS 090121)
Hơn nữa, Nhật Bản cũng áp mức thuế nhập khẩu khá cao đối với các loại càphê rang, cà phê chế biến, cà phê hòa tan Chẳng hạn như cà phê rang 12%, cà phêhòa tan 8.8% (mức thuế được áp dụng đối với các nước thuộc WTO nói chung vàViệt Nam nói riêng)
Đây là mức thuế khá cao, nếu cứ tiếp tục được giữ nguyên thì chiến lược đẩymạnh xuất khẩu các mặt hàng cà phê chế biến của các doanh nghiệp Việt Nam sẽ rất
Trang 39khó thực hiện, do đó sẽ có tác động tiêu cực hoạt động xuất khẩu cà phê của cácdoanh nghiệp sang những thị trường này.
Về thị trường Mỹ, sau khi Hiệp định Thương mại Việt Nam - Mỹ (BTA) được
ký kết vào năm 2001 có hiệu lực nên các mặt hàng Việt Nam đã và sẽ thâm nhập thịtrường Mỹ có thể tạm được phân chia thành hai nhóm: nhóm có thuế nhập khẩuthấp hoặc bằng 0, và nhóm có thuế nhập khẩu cao hơn Cà phê hạt các loại là mặthàng được hưởng mức thuế suất bằng 0%, và Việt Nam không nằm trong số nhữngnước được ưu tiên về thuế quan đối với các sản phẩm cà phê hoà tan nhập khẩu vàoMỹ
Điều này gây bất lợi đối với giá trị xuất khẩu cà phê của Việt Nam cũng nhưcác doanh nghiệp cà phê Việt Nam vì mức giá xuất khẩu cà phê nhân sống (HS090111) thấp hơn nhiều so với các loại cà phê bị áp thuế nhập khẩu như nêu ở trên,
ví dụ như cà phê chế biến (HS 210112) có giá bình quân xuất khẩu đạt 6,898 USD/tấn, cà phê triết xuất, cà phê hòa tan (HS 210111) 4,699 USD/tấn trong khi giá bìnhquân xuất khẩu của cà phê nhân sống chỉ ở mức 2,049 USD/tấn (số liệu được tínhtoán từ dữ liệu xuất nhập khẩu của Trung tâm Thương mại Quốc tế ITC, năm 2015).Tuy quy định về mức thuế của các nước nhập khẩu có gây bất lợi đối với giátrị xuất khẩu của các doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp chuyên xuất khẩu
cà phê chế biến Nhưng xét về mặt số lượng lớn cà phê nhân xuất khẩu hàng nămthì đây lại là điều có lợi đối với các doanh nghiệp xuất khẩu cà phê nhân
Một số rào cản phi thuế quan đến từ các nước nhập khẩu cà phê như quy định
về chất lượng, bao bì sản phẩm,…như sau:
Từ năm 1990, Cơ quan quản lý Dược phẩm và Thực phẩm Mỹ (FDA) đã phốihợp với Hiệp hội Cà phê Quốc gia Mỹ thiết lập các tiêu chuẩn về an toàn thựcphẩm Để đạt tiêu chuẩn này, cà phê phải đáp ứng được 3 tiêu chí sau đây [8]:
- Không có tồn dư các loại thuốc trừ sâu không được phép sử dụng
- Không có hoặc có hạn chế dấu hiệu bị côn trùng hại trên đồng ruộng