1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Sáng kiến kinh nghiệm: giúp học sinh lớp 1 học tốt môn toán

16 644 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 16
Dung lượng 138 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Là một giáo viên có nhiều năm trực tiếp dạy khối 1 2, Tôi nhận thấy các em có một đặc tính tâm lí là nhanh nhớ nhưng cũng rất nhanh quên . Khi giáo viên giúp học sinh nắm kiến thức, học sinh có thể thuộc ngay tại lớp nhưng ngày hôm sau các em có thể quên gần hết (nếu các em không được ôn luyện thường xuyên) Vì vậy ,việc dạy các phép tính, bắt đầu từ phép cộng và phép trừ ở lớp 1 là quan trọng nhưng quan trọng hơn vẫn là làm sao cho các em học thuộc được các phép tính trong bảng cộng và bảng trừ trong phạm vi 10. Song mạch kiến thức “Giải toán có lời văn” là tuyến kiến thức khó khăn đối với học sinh, và càng khó khăn hơn đối với học sinh lớp 1. Bởi vì đối với lớp 1: Vốn từ, vốn hiểu biết, khả năng đọc hiểu, khả năng tư duy lôgic của các em còn rất hạn chế. Một nét nổi bật hiện nay là học sinh chưa biết cách tự học, chưa học tập một cách tích cực. Nhiều khi với một bài toán có lời văn các em có thể đặt và tính đúng phép tính của bài nhưng không thể trả lời hoặc lý giải là tại sao các em lại có được phép tính như vậy, các em thực sự lúng túng khi giải bài toán có lời văn. Một số em chưa biết tóm tắt bài toán, chưa biết phân tích đề toán để tìm ra đường lối giải, chưa biết tổng hợp để trình bày bài giải, diễn đạt vụng về, thiếu lôgic. Ngôn ngữ toán học còn rất hạn chế, kỹ năng tính toán, trình bày thiếu chính xác, thiếu khoa học, chưa có biện pháp, phương pháp học toán, học toán và giải toán một cách máy móc nặng về dập khuôn, bắt chước.

Trang 1

A ĐẶT VẤN ĐỀ:

Môn Toán là một trong 6 môn học của học sinh lớp Một Trong thực tế ,hầu hết trẻ 6 tuổi đã có một số trải nghiệm liên quan đến tính toán, song việc học Toán đối với các em vẫn hoàn toàn mới mẻ, bởi các em phải hiểu được một cách đúng đắn những khái niệm, những kiến thức cơ bản, thành thạo những kĩ năng thực hành tính toán, làm tiền đề để các em học tốt môn toán và vận dụng vào thực tiễn sau này

Là một giáo viên có nhiều năm trực tiếp dạy khối 1- 2, Tôi nhận thấy các em

có một đặc tính tâm lí là nhanh nhớ nhưng cũng rất nhanh quên Khi giáo viên giúp học sinh nắm kiến thức, học sinh có thể thuộc ngay tại lớp nhưng ngày hôm sau các em có thể quên gần hết (nếu các em không được ôn luyện thường xuyên)

Vì vậy ,việc dạy các phép tính, bắt đầu từ phép cộng và phép trừ ở lớp 1 là quan trọng nhưng quan trọng hơn vẫn là làm sao cho các em học thuộc được các phép tính trong bảng cộng và bảng trừ trong phạm vi 10 Song mạch kiến thức “Giải toán

có lời văn” là tuyến kiến thức khó khăn đối với học sinh, và càng khó khăn hơn đối với học sinh lớp 1 Bởi vì đối với lớp 1: Vốn từ, vốn hiểu biết, khả năng đọc hiểu, khả năng tư duy lôgic của các em còn rất hạn chế Một nét nổi bật hiện nay là học sinh chưa biết cách tự học, chưa học tập một cách tích cực Nhiều khi với một bài toán có lời văn các em có thể đặt và tính đúng phép tính của bài nhưng không thể trả lời hoặc lý giải là tại sao các em lại có được phép tính như vậy, các em thực sự lúng túng khi giải bài toán có lời văn Một số em chưa biết tóm tắt bài toán, chưa biết phân tích đề toán để tìm ra đường lối giải, chưa biết tổng hợp để trình bày bài giải, diễn đạt vụng về, thiếu lôgic Ngôn ngữ toán học còn rất hạn chế, kỹ năng tính toán, trình bày thiếu chính xác, thiếu khoa học, chưa có biện pháp, phương pháp học toán, học toán và giải toán một cách máy móc nặng về dập khuôn, bắt chước Xuất phát từ lý do trên và thực hiện đổi mới phương pháp dạy học với phương châm “ lấy học sinh là nhân vật trung tâm” Người thầy giữ vai trò chủ đạo, tổ chức

và hướng dẫn, còn học sinh giữ vai trò chủ đạo tích cực, chủ động học tập có kết

quả Là một giáo viên tiểu học tôi mạnh dạn đi sâu nghiên cứu vấn đề: “ Dạy học

Trang 2

giúp học sinh lớp 1 học tốt môn Toán “ hy vọng góp phần vào việc nâng cao chất

lượng dạy Toán cũng như góp phần làm học sinh thích học Toán, tiếp thu tri thức hiểu bài nhanh, khắc sâu, nhớ lâu kiến thức bài học phát triển được tư duy sáng tạo, độc lập suy nghĩ của học sinh

B GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ.

I Cơ sở lý luận về dạy học môn toán.

Giáo dục là nền tảng của xã hội, là cơ sở tiền đề để quyết định sự phồn vinh của đất nước Giáo dục cung cấp những hiểu biết về kho tàng tri thức của nhân loại cho biết bao thế hệ, giúp cho các em những hiểu biết cơ bản cần thiết về khoa học

và cuộc sống Mặt khác giáo dục còn góp phần hình thành và bồi dưỡng nhân cách tốt đẹp cho học sinh, đặc biệt là Giáo dục Tiểu học, đây là bậc học mang tính chất nền móng để các em học tiếp các bậc học cao hơn

Để đào tạo những con người đáp ứng yêu cầu của xã hội trong thời kỳ mới, đó

là nhiệm vụ của ngành giáo dục, trong đó bậc Tiểu học là bậc học đóng vai trò làm nền móng Nghị quyết TW II khoá VIII đã nêu rõ mục tiêu giáo dục tiểu học đến Cùng với những môn học khác, môn Toán ở tiểu học giữ một vị trí hết sức quan trọng trong việc hình thành nhân cách, phát triển năng lực trí tuệ cho học sinh Nó trang bị cho học sinh những kiến thức cần thiết nhằm phục vụ đời sống và phát triển của xã hội Môn Toán ở tiểu học là cơ sở ban đầu có tính quyết định cho việc dạy học Toán sau này của học sinh

      Trong các môn học ở Tiểu học, môn Toán có một vị trí quan trọng Môn Toán trang bị cho các em kiến thức, kỹ năng để ứng dụng trong đời sống Môn Toán đóng góp một phần rất quan trọng trong việc rèn luyện ý nghĩ, phương pháp suy luận, pháp giải quyết vấn đề… nó đóng góp vào việc phát triển trí thông minh, cách suy nghĩ độc lập, linh hoạt, sáng tạo; nó đóng góp vào việc hình thành các phẩm chất cần thiết và quan trọng của người lao động như: cần cù, cẩn thận, có ýchí vượt khó, làm việc có kế hoạch, có nề nếp và tác phong khoa học

II Thực trạng của việc dạy học môn Toán ở lớp 1 ở trường tiểu học Tân Bình.

Với nhiều năm trực tiếp giảng dạy ở lớp 1, Tôi thấy việc học toán của các em có

Trang 3

những vướng mắc sau:

- Học sinh lớp Một ở độ tuổi dễ nhớ nhưng rất chóng quên, nên việc thuộc và nhớ các bảng cộng trừ ở các em không có tính bền vững, nhất là ở giai đoạn đầu, do

đó đã gây không ít khó khăn cho việc học toán của các em Đó là : HS thường làm sai và lúng túng trong dạng bài tập :

* Về các phép tính:

    - Điền số thích hợp vào chỗ chấm:  2 + = 3   ;    + 4 = 4   ;   

5 - = 1  ; 2 + 3 = 3 +  

- Ngoài ra , do các em chưa quen , chưa hiểu được yêu cầu bài tập nên thực hiện sai yêu cầu ở một số dạng toán : 

     - Điền dấu ( < , > , =  ) vào chỗ chấm :   1 + 2 4    ;    4 + 3 3 + 4   ;  

2 + 2 5 - 2

       Học sinh điền cùng một dấu vào vì :

        * Ở dạng: 1 + 2 4 , học sinh điền dấu < vì tưởng so sánh 2 với 4

         * Ở các dạng còn lại, học sinh cũng có sự nhầm lẫn tương tự hoặc sử dung sai dấu < , >  do các em chưa nhớ phân biệt được hai dấu  này  

     - Tính giá trị biểu thức có hai phép tính:  2 + 1 + 4 =  ;  2 + 4 - 1 =  ; 5 - 1- 2 = Một số học sinh lúng túng chỉ tính 2 + 1 hoặc 2 + 4 , hoặc 5 - 2 ,   do thiếu sự thành thạo

* Về giải toán có lời văn:

Học sinh rất lúng túng khi nêu câu lời giải, thậm chí nêu sai câu lời giải, viết sai phép tính, viết sai đáp số Những tiết đầu tiên của giải toán có lời văn mỗi lớp chỉ

có khoảng 20% số học sinh biết nêu lời giải, viết đúng phép tính và đáp số Số còn lại là rất mơ hồ, các em chỉ nêu theo quán tính hoặc nêu miệng thì được nhưng khi viết các em lại rất lung túng, làm sai, một số em làm đúng nhưng khi cô hỏi lại lại không biết để trả lời Chứng tỏ các em chưa nắm được một cách chắc chắn cách giải bài toán có lời văn Giáo viên phải mất rất nhiều công sức khi dạy đến phần này

Trang 4

Từ thực trạng trên tôi đã đưa ra các biện pháp sau để áp dụng vào dạy học môn toán cho học sinh lớp 1 tai trường Tiểu học Tân Bình như sau:

III Các biện pháp thực hiện dạy học môn toán lớp 1:

Biện pháp: Sử dụng đúng lúc, đúng mức độ các đồ dùng học toán ở lớp Một.

Giáo viên nên tổ chức, hướng dẫn học sinh sử dụng đồ dùng học tập, học sinh phải huy động mọi giác quan ( tay cầm, mắt nhìn, tai nghe, ) đặc biệt là phải hoạt động trên các đồ dùng học tập đó để nhận biết, tìm tòi, củng cố kiến thức mới

         * Ví dụ 1:

         Ở lớp 1, khi dạy bài: "Các số 1, 2, 3" giáo viên và học sinh cần có các nhóm

có 1, 2, 3 đồ vật cùng loại Chẳng hạn: 3 bông hoa, 3 hình vuông, 3 con bướm, 3 hình tròn, 3 tờ bìa Trên mỗi tờ bìa viết sẵn một trong các số 1, 2, 3; 1 chấm tròn, 2 chấm tròn, 3 chấm tròn

         Giáo viên cần giới htiệu từng số 1( 2, 3) theo các bước sau:

         Bước 1:

         Giáo viên hướng dẫn học sinh quan sát các nhóm chỉ có một phần tử (  từ cụ thể đến trừu tượng, khái quát), chẳng hạn: bức ảnh (mô hình) có một con chim, bức tranh có một cô gái, tờ bìa vẽ một chấm tròn, Mỗi lần cho học sinh quan sát một nhóm đồ vật, học sinh nêu, chẳng hạn: học sinh chỉ vào bức tranh và nói: "Có một bạn gái, có một con chim, có một chấm tròn."

         Bước 2:

Học sinh quan sát – Giáo viên hỏi:

Hỏi: Có mấy con chim? - Có một con chim

Hỏi: Có mấy bạn gái? - Có một bạn gái

Hỏi: Tờ bìa vẽ mấy chấm tròn? - Tờ bìa vẽ một chấm tròn

 

        - Học sinh nhận ra đặc điểm chung của các nhóm đồ vật có số lượng đều bằng một Sau đó giáo viên chốt (chỉ vào từng nhóm đồ vật và nói): Một con chim bồ câu, một bạn gái, một chấm tròn, đều có số lượng là một Ta dùng số một để chỉ

số lượng mỗi nhóm đồ vật đó; số một viết bằng chữ số một, viết như sau:

Trang 5

          - Giáo viên viết mẫu: 1

          - Giáo viên hướng dẫn học sinh quan sát chữ số 1 in, chữ số 1 viết, học sinh chỉ vào từng chữ số và đều đọc là: Một

          - Giới thiệu số 2, số 3 tương tự như giới thiệu số 1

          Bước 3:

          Học sinh chỉ vào hình vẽ các cột hình lập phương để đếm xem có bao nhiêu hình, rồi đếm từ 1 > 3, ( một, hai, ba) rồi đọc ngược lại( ba, hai, một)

Biện pháp 2: Chuyển dần, chuyển kịp thời các phương tiện trực quan từ dạng

cụ thể sang dạng trừu tượng hơn.

        * Ví dụ 3:

         Chẳng hạn khi dạy bài số 6, giáo viên cần xác định rõ:

        + Mục tiêu:

        - Giúp học sinh có khái niệm ban đầu về số 6 Biết đọc, viết số 6, đếm và so sánh các số trong phạm vi 6, nhận biết số lượng trong phạm vi 6, vị trí của số 6 trong dãy số từ 1 đến 6

        - Xác định được mục tiêu chính của bài rồi, giáo viên cần:

        + Chuẩn bị đồ dùng dạy học:

        - Các nhóm có 6 mẫu vật cùng loại

        - Sáu miếng bìa nhỏ, viết các chữ số từ 1 đến 6 trên từng miếng bìa

        - Sách giáo khoa, que tính, bộ đồ dùng học toán

        Bước 1:

   - Giáo viên cho học sinh quan sát tranh

Hỏi: Trong tranh có mấy bạn đang chơi? - Có 5 bạn đang chơi

- Thêm mấy bạn đang đi tới? - Thêm một bạn đi tới

- Tất cả có mấy bạn? - 5 bạn thêm 1 bạn là 6 bạn Tất

  cả có 6 bạn

 

        Qua việc sử dụng trực quan là tranh vẽ, học sinh hình thành số 6( là 5 thêm 1)

Trang 6

- Học sinh lấy 5 hình tròn, lấy thêm 1

hình tròn

- Học sinh thực hiện và nói: năm hình tròn thêm một hình tròn là sáu hình tròn

    - Học sinh được trực tiếp sử dụng đồ dùng trực quan để khắc sâu kiến thức

- Học sinh quan sát tranh vẽ sách giáo

khoa

- Năm chấm tròn thêm một chấm tròn

là sáu chấm tròn

sáu que tính

- Giáo viên chỉ vào các tranh vẽ, các

nhóm đồ vật

- Có sáu bạn, sáu chấm tròn, sáu que tính

 

   => Tất cả các tranh vẽ, các nhóm đồ vật đều có số lượng là sáu

         Bước 2:

      - Giáo viên giới thiệu: chữ số 6 in, chữ số 6 viết

      - Giáo viên viết mẫu, hướng dẫn quy trình viết

      - Học sinh đọc: Sáu

      - Học sinh viết bảng con: 6

        Bước 3:

         Nhận biết thứ tự của số 6:

      - Học sinh được thực hành trên trực quan để củng cố, khắc sâu kiến thức Học sinh dùng que tính đếm xuôi, ngược Sau đó học sinh đếm buông( không dùng que tính đếm) Học sinh nhìn vào dãy số nhận biết thứ tự của số 6 trong dãy số 1, 2, 3,

4, 5, 6; số 6 đứng liền sau số 5

     Như vậy, việc sử dụng trực quan trong việc hình thành số 6 được tiến hành theo từng giai đoạn, phù hợp với sự phát triển trí tuệ của trẻ được nâng dần lên ở từng mức độ cụ thể( trực quan từ dạng cụ thể sang dạng trừu tượng), tránh dùng trực quan không cần thiết

Biện pháp 3: Khắc sâu kiến thức bài dạy, rèn luyện kĩ năng tính toán bằng

cách để học sinh tự nêu ví dụ

Trang 7

Sau khi sử dụng đồ dùng học tập của cô, trò để hình thành kiến thức thì việc khắc sâu kiến thức, rèn luyện kĩ năng tính toán là vô cùng cần thiết, bởi đây mới nói lên được hiệu quả tiết dạy Biện pháp mà Tôi thấy rất hữu hiệu đó là để học sinh tự nêu ví dụ tương tự với những gì vừa học

      Ví dụ : Ở bài "Phép cộng trong phạm vi 6" , sau khi đã hình thành kiến thức 5 +

1 = 6 rồi  cho học sinh quan sát các nhóm mẫu vật để thấy : 5 + 1 = 6 thì 1 + 5 = 6  , và sau  bước thành lập công thức 4 + 2 = 6, giáo viên nên hỏi : Em đã biết 5 + 1 =

6 thì  1 + 5 = 6, vậy bây giờ 2 + 4 =   để học sinh tự hình thành 2 + 4 = 6.     Và đến bài "Phép cộng trong phạm vi 7"  , sau khi có được 6 + 1 = 7 , giáo viên yêu cầu học sinh, " Với 3 số  6 ; 1 ; 7 em hãy lập một phép tính cộng mới "  Do đó, khi gặp các bài tập liên quan đến tính chất giao hoán của phép cộng, học sinh sẽ thực hiện tốt và nhanh

Biện pháp 4: Giúp học sinh thực hiện tốt "Giải bài toán có lời văn"

* Quy trình " Giải bài toán có lời văn " thông thường qua 4 bước:

- Đọc và tìm hiểu đề bài

- Tìm đường lối giải bài toán

- Trình bày bài giải

- Kiểm tra lại bài giải

a) Hướng dẫn học sinh đọc và tìm hiểu đề toán.

Muốn học sinh hiểu và có thể giải được bài toán thì điều quan trọng đầu tiên

là phải giúp các em đọc và hiểu được nội dung bài toán Tôi đã tổ chức cho các

em đọc kỹ đề toán, hiểu rõ một số từ khoá quan trọng như: "thêm,và, tất cả, " hoặc "bớt, bay đi, ăn mất, còn lại , " (có thể kết hợp quan sát tranh vẽ để hỗ trợ) Để học sinh dễ hiểu đề bài, giáo viên cần gạch chân các từ ngữ chính trong đề bài Một số giáo viên còn gạch chân quá nhiều các từ ngữ, hoặc gạch chân các từ chưa sát với nội dung cần tóm tắt Khi gạch chân nên dùng phấn màu khác cho dễ nhìn

Trong thời kỳ đầu, giáo viên nên giúp học sinh tóm tắt đề toán bằng cách đàm thoại " Bài toán cho gì? Hỏi gì?" và dựa vào câu trả lời của học sinh để

Trang 8

viết tóm tắt, sau đó cho học sinh dựa vào tóm tắt để nêu lại đề toán Đây là cách rất tốt để giúp trẻ ngầm phân tích đề toán

Nếu học sinh gặp khó khăn trong khi đọc đề toán thì giáo viên nên cho các

em nhìn tranh và trả lời câu hỏi Ví dụ ( bài 3 trang 118) giáo viên có thể hỏi:

- Em thấy dới ao có mấy con vịt? ( có 5 con vịt)

- Trên bờ có mấy con vịt? ( có 4 con vịt)

- Em có bài toán thế nào? ( )

Sau đó giáo viên cho học sinh đọc (hoặc nêu) đề toán ở sách giáo khoa

Trong trường hợp không có tranh ở sách giáo khoa thì giáo viên có thể gắn mẫu vật (gà, vịt, ) lên bảng từ (bảng cài, bảng nỉ, ) để thay cho tranh; hoặc dùng tóm tắt bằng lời hoặc sơ đồ đoạn thẳng để hỗ trợ học sinh đọc đề toán

* Thông thường có 3 cách tóm tắt đề toán:

- Tóm tắt bằng lời:

Ví dụ 1 : An : 5 quả

Đạt: 4 quả

Cả hai bạn có: quả ? (A)

- Tóm tắt bằng sơ đồ đoạn thẳng:

  12 bạn

Ví dụ 2 : Bạn trai

  17 bạn ? bạn ( B)

Bạn gái

- Tóm tắt bằng sơ đồ mẫu vật:

Ví dụ 3 : Cành trên:

? quả cam ( C)

Cành dưới:

Với các cách tóm tắt trên sẽ làm cho học sinh dễ hiểu và dễ sử dụng

Với cách viết thẳng theo cột như: 34 bông và 48 quả

25 bông 31 quả

bông quả

Trang 9

Kiểu tóm tắt như thế này khá gần gũi với cách đặt tính dọc nên có tác dụng gợi ý cho học sinh lựa chọn phép tính giải

Có thể lồng "cốt câu" lời giải vào trong tóm tắt, để dựa vào đó học sinh dễ viết câu lời giải hơn Chẳng hạn, dựa vào dòng cuối của tóm tắt (A) học sinh có thể viết ngay câu lời giải là : "Cả hai bạn có:" hoặc "Số quả cả hai bạn có:" hoặc: "Cả hai bạn có số quả là:" Cần lưu ý trước đây người ta thường đặt dấu? lên trước các từ như cái, quả, bạn Song làm như vậy thì hơi thiếu chuẩn mực

về mặt Tiếng Việt vì tất cả học sinh đều biết là dấu ? phải đặt cuối câu hỏi Nếu tóm tắt bằng sơ đồ đoạn thẳng hoặc sơ đồ mẫu vật thì đặt dấu ? ở đằng trước các từ như quyển, quả , cũng được vì các tóm tắt ấy không phải là những câu Tuy nhiên học sinh thường có thói quen cứ thấy dấu là điền số (dấu) vào đó

nên giáo viên cần lưu ý các em là: "Riêng trong trờng hợp này (trong tóm tắt )

thì dấu thay cho từ "mấy" hoặc "bao nhiêu" ; các em sẽ phải tìm cho ra số đó

để ghi vào Đáp số của Bài giải chứ không phải để ghi vào chỗ trong tóm tắt.

Nếu không thể giải thích cho học sinh hiểu được ý trên thì chúng ta cứ quay lại lối cũ, tức là đặt dấu hỏi (?) ra đằng trước theo kiểu "Còn ? quả" cũng được, không nên quá cứng nhắc

Giai đoạn đầu nói chung bài toán nào cũng nên tóm tắt rồi cho học sinh dựa vào tóm tắt nêu đề toán Cần lưu ý dạy giải toán là một quá trình Không nên vội vàng yêu cầu các em phải đọc thông thạo đề toán, viết được các câu lời giải, phép tính và đáp số để có một bài chuẩn mực ngay từ tuần 23, 24 Chúng

ta cần bình tĩnh rèn cho học sinh từng bước, miễn sao đến cuối năm (tuần 33,

34, 35) học sinh đọc và giải được bài toán là đạt yêu cầu

b) Hướng dẫn học sinh tìm đường lối giải bài toán.

* Sau khi giúp học sinh tìm hiểu đề toán để xác định rõ cái đã cho và cái phải tìm, chẳng hạn:

- Bài toán cho gì? (Nhà An có 5 con gà)

- Còn cho gì nữa? (Mẹ mua thêm 4 con gà)

- Bài toán hỏi gì? (Nhà An có tất cả mấy con gà?)

Trang 10

Giáo viên nêu tiếp: "Muốn biết nhà An có tất cả mấy con gà em làm tính gì? (tính cộng) Mấy cộng mấy? (5 + 4) ; 5 + 4 bằng mấy? (5 + 4 = 9); hoặc: "Muốn biết nhà An có tất cả mấy con gà em tính thế nào? (5 + 4 = 9); hoặc: "Nhà An

có tất cả mấy con gà ?" (9) Em tính thế nào để được 9 ? (5 + 4 = 9)

Tới đây giáo viên gợi ý để học sinh nêu tiếp "9 này là 9 con gà", nên ta viết

"con gà" vào trong dấu ngoặc đơn: 5 + 4 = 9 (con gà)

Tuy nhiên cũng có những học sinh nhìn tranh ở sách giáo khoa để đếm ra kết quả mà không phải là do tính toán Trong trường hợp này giáo viên vẫn xác nhận kết quả là đúng, song cần hỏi thêm: "Em tính thế nào?" (5 + 4 = 9) Sau

đó nhấn mạnh: "Khi giải toán em phải nêu được phép tính để tìm ra đáp số (ở đây là 9) Nếu chỉ nêu đáp số thì chưa phải là giải toán

* Sau khi học sinh đã xác định được phép tính, nhiều khi việc hướng dẫn học sinh đặt câu lời giải còn khó hơn (thậm chí khó hơn nhiều) việc chọn phép tính

và tính ra đáp số Với học sinh lớp 1, lần đầu tiên được làm quen với cách giải loại toán này nên các em rất lúng túng Thế nào là câu lời giải, vì sao phải viết câu lời giải? Không thể giải thích cho học sinh lớp 1 hiểu một cách thấu đáo nên có thể giúp học sinh bước đầu hiểu và nắm được cách làm Có thể dùng một trong các cách sau:

Cách 1: Dựa vào câu hỏi của bài toán rồi bỏ bớt từ đầu (Hỏi) và cuối (mấy

con gà ?) để có câu lời giải : "Nhà An có tất cả:" hoặc thêm từ "là" để có câu lời giải : "Nhà An có tất cả là: "

Cách 2: Đưa từ "con gà" ở cuối câu hỏi lên đầu thay thế cho từ "Hỏi" và

thêm từ Số (ở đầu câu), là ở cuối câu để có: "Số con gà nhà An có tất cả là:"

Cách 3: Dựa vào dòng cuối cùng của tóm tắt, coi đó là "từ khoá" của câu lời

giải rồi thêm thắt chút ít

Ví dụ: Từ dòng cuối của tóm tắt: "Có tất cả: con gà ?" Học sinh viết câu lời giải: "Nhà An có tất cả:"

Cách 4: Giáo viên nêu miệng câu hỏi: "Hỏi nhà An có tất cả mấy con gà?" để

học sinh trả lời miệng: "Nhà An có tất cả 9 con gà" rồi chèn phép tính vào để

có cả bước giải (gồm câu lời giải và phép tính):

Ngày đăng: 20/10/2016, 08:37

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w