Cùng với các môn học khác, môn Tiếng Việt chiếm tầm quan trọng rất lớn. Nó có nhiệm vụ vô cùng quan trọng đó là hình thành 4 kỹ năng :Nghe Nói Đọc Viết cho học sinh. Trong cuộc sống hằng ngày, nếu không biết đọc thì con người không thể tiếp thu được nền văn minh của loài người. Đọc là một phân môn của chương trình Tiếng Việt ở bậc Tiểu học. Đây là một phân môn có vị trí đặc biệt trong chương trình vì nó đảm nhiệm việc hình thành và phát triển cho học sinh kĩ năng đọc Một kĩ năng quan trọng hàng đầu của học sinh ở Tiểu học. Kỹ năng đọc có nhiều mức độ: đọc đúng, đọc nhanh (lưu loát, trôi chảy), đọc có ý thức (thông hiểu được nội dung những điều mình đọc hay còn gọi là đọc hiểu) và đọc diễn cảm
Trang 1A ĐẶT VẤN ĐỀ.
Trong những năm vừa qua, chúng ta đã thực hiện thành công việc áp dụng
“Đổi mới chương trình sách giáo khoa” và “ Đổi mới phương pháp dạy học” ở tất
cả các trường học trong cả nước Việc đổi mới toàn diện này đã làm chất lượng giáo dục của các trường được nâng cao một cách rõ rệt, góp phần nâng cao chất lượng của nền giáo dục nước nhà
Cùng với các môn học khác, môn Tiếng Việt chiếm tầm quan trọng rất lớn Nó
có nhiệm vụ vô cùng quan trọng đó là hình thành 4 kỹ năng :Nghe- Nói- Đọc- Viết cho học sinh Trong cuộc sống hằng ngày, nếu không biết đọc thì con người không thể tiếp thu được nền văn minh của loài người Đọc là một phân môn của chương trình Tiếng Việt ở bậc Tiểu học Đây là một phân môn có vị trí đặc biệt trong chương trình vì nó đảm nhiệm việc hình thành và phát triển cho học sinh kĩ năng đọc- Một kĩ năng quan trọng hàng đầu của học sinh ở Tiểu học Kỹ năng đọc có nhiều mức độ: đọc đúng, đọc nhanh (lưu loát, trôi chảy), đọc có ý thức (thông hiểu được nội dung những điều mình đọc hay còn gọi là đọc hiểu) và đọc diễn cảm Khi học sinh đọc tốt viết tốt thì các em mới có thể tiếp thu các môn học khác một cách chắc chắn Từ đó học sinh mới hoàn thành được năng lực giao tiếp của mình Những kỹ năng này không phải tự nhiên mà có Nhà trường phải từng bước hình thành
và trường tiểu học nhận nhiệm vụ đặt viên gạch đầu tiên Nên việc dạy học phải có định hướng ngay từ lớp 1
Mỗi bài tập đọc là một bức tranh nhỏ về hiện thực cuộc sống của con người
và thời đại… Các em càng đọc càng thêm hiểu biết về con người, về đất nước ta trong quá khứ và trong hiện tại, càng thêm tin yêu ở con người và cuộc sống tương lai Với sự sáng tạo tuyệt vời của các nhà văn, nhà thơ, cuộc sống đi vào văn học mang một vẻ đẹp mới, không còn cái trần trụi, cái thô mộc Nó đã được hình tượng hóa, điển hình hóa cao độ Nó là cuộc sống song thông qua lăng kính chủ quan của các tác giả nên ngời sáng lên và giàu chất thơ, chất mộng Phải giúp học sinh cảm nhận được vẻ đẹp của tác phẩm, từ đó rung cảm với tác phẩm để có thể đọc được hay
Đọc hay, đọc tốt các em sẽ thích đọc, từ đó các em tích lũy cho mình một vốn
từ ngữ Các em không những hiểu được từ mà còn học cách sử dụng các từ ngữ đã biết để viết đoạn văn và trình bày tư tưởng tình cảm của mình Vốn đó sẽ được
Trang 2nâng dần và làm phong phú khi học lên các lớp trên.
Tập đọc là môn học bồi dưỡng cho các em tình yêu tiếng Việt và hình thành thói quen giữ gìn sự trong sáng, giàu đẹp của tiếng Việt, góp phần hình thành nhân cách con người Việt Nam Xã Hội Chủ Nghĩa
Vấn đề dặt ra là làm thế nào để giúp các em đọc đúng tiếng trong từ, trong câu, đọc đúng ngữ điệu, biết cách ngắt nghỉ hơi trong thơ và văn xuôi
Với nhiều năm trực tiếp dạy lớp 1 tôi suy nghĩ rất nhiều về cách dạy phân môn tập đọc Đặc biệt là rèn cho học sinh không những chỉ đọc thông được văn bản mà còn phải đọc đúng văn bản được đọc Vấn đề đặt ra là làm thế nào để giúp các em đọc đúng tiếng, đọc liền tiếng trong từ, trong câu, đọc đúng ngữ điệu, biết cách ngắt nghỉ hơn trong văn bản thơ, cũng như văn bản văn xuôi Từ lý do trên tôi chọn
“Một số biện pháp giúp học sinh lớp 1 học tốt phân môn tập đọc” nghiên cứu và
vận dụng vào công tác giảng dạy ở trường Tiểu học Tân Bình- Như Xuân
B GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ.
I CƠ SỞ LÝ LUẬN
Tập đọc là phân môn thực hành vì vậy nhiệm vụ của nó là hình thành kỹ năng đọc cho học sinh Kỹ năng đọc có nhiều mức độ: đọc đúng, đọc nhanh Dạy đọc giáo dục lòng ham đọc sách cho học sinh giúp cho các em thấy được đây chính là con đường đặc biệt để tạo cho mình một cuộc sống trí tuệ phát triển Tập đọc góp phần làm giàu vốn kiến thức ngôn ngữ, bồi dưỡng cho học sinh lòng yêu cái thiện
và cái đẹp, dạy cho các cách tư duy có hình ảnh
Đối với học sinh lớp 1 - Lớp đầu cấp - việc dạy đọc cho các em thật vô cùng quan trọng bởi các em có đọc tốt được ở lớp 1 thì khi học các lớp tiếp theo các em mới nắm bắt được những yêu cầu cao hơn của môn Tiếng Việt Việc dạy đọc ở lớp
1 cũng quan trọng bởi từ chỗ các em còn phải đọc đánh vần từng tiếng đến việc đọc thông thạo được một văn bản là việc tương đối khó với các em mà mục tiêu của giờ dạy Tiếng Việt là phải hướng đến giáo dục học sinh yêu tiếng Việt bằng cách nêu bật sức mạnh biểu đạt của Tiếng Việt, sự giàu đẹp của âm thanh, sự phong phú của ngữ điệu trong việc biểu đạt nội dung Thế nhưng hiện nay, ở trường tiểu học, mặt
âm thanh của ngôn ngữ, đặc biệt ngữ điệu chưa được chú ý đúng mức Đó là một trong những lý do cho học sinh của chúng ta đọc và nói chưa tốt Đó cũng là lý do khiến cho trong nhiều trường hợp, học sinh không hiểu đúng văn bản được đọc
Trang 3Đặc điểm của dạy tập đọc lớp 1 chính là ở chỗ :đây là bước chuyển tiếp từ dạy
“học vần” sang dạy “tập đọc” (ở lớp 2) Giờ tập đọc ở lớp 1 vận dụng cả phương
pháp học vần, cả phương pháp tập đọc Yêu cầu của giờ tập đọc lớp 1 là củng cố hệ thống âm vần đã đọc (nhất là các vần khó) đọc đúng tiếng, liền tiếng trong từ, trong câu, đoạn, bài Bước đầu biết cách ngắt hơi ở các dấu câu, biết lên giọng và hạ giọng Để làm tốt được những nhiệm vụ nêu trên, sáng kiến của tôi mục đích đưa ra một số biện pháp để giúp học sinh đọc thông được văn bản và đọc đúng ngữ điệu nói chung, ngắt giọng đúng nói riêng nhằm nâng cao chất lượng của 1 giờ dạy tập đọc ở lớp 1
II THỰC TRẠNG CỦA VIỆC DẠY VÀ HỌC PHÂN MÔN TẬP ĐỌC LỚP 1.
1.Thực trạng của giáo viên:
Được dự các tiết tập đọc chuyên đề của trường nói chung và của tổ nói riêng,
tôi nhận thấy phần lớn giáo viên đều đầu tư vào công tác soạn giảng cũng như chuẩn bị đồ dùng cho tiết dạy Phương pháp và hình thức dạy học có đổi mới, phù hợp với đặc trưng môn học Giáo viên có chú ý sửa lỗi phát âm cho học sinh, song
do thời gian bị hạn chế nên việc sửa lỗi do chỉ được thực hiện lướt qua khi luyện đọc từ hoặc câu giáo viên thường chỉ cho học sinh luyện những từ và câu mà sách giáo khoa yêu cầu chứ chưa chọn lọc ra những từ hoặc câu mà học sinh của mình hay nhầm lẫn
Khi dạy một tiết Tập đọc, nhiều giáo viên chưa thực sự chú ý rèn đọc cho học sinh khi học sinh đọc sai Số ít giáo viên chưa chú ý tới việc luyện cách đọc một câu văn dài, học sinh đọc còn gặp nhiều khó khăn
Mặt khác, số ít giáo viên chưa chú ý cho học sinh cách đọc đúng nhịp điệu thơ, đọc ngắc ngứ những câu văn dài Trong khi tìm hiểu nội dung bài, một số giáo viên dành nhiều thời gian để giảng giải, đàm thoại (thầy hỏi – trò suy nghĩ, sau đó gọi 1 – 2 em lên trả lời) Vì vậy, giáo viên chưa kiểm soát được số đông học sinh trong lớp và dành nhiều thời gian hợp lý cho các em hoạt động tự tìm kiếm, lĩnh
hội kiến thức theo khả năng của mình.
Trong giờ tập đọc giáo viên còn làm mẫu nhiều mà chưa để các em tự phát hiện ra cách đọc Nhất là khi có người dự giờ thì giáo viên còn ít chú ý đến học
sinh yếu vì đối tượng này thường đọc chậm, làm mất thời gian, làm giảm tiến độ của tiết dạy
Trang 42.Thực trạng của học sinh:
Qua điều tra thực tế việc đọc của học sinh, tôi thấy thực trạng của học sinh lớp tôi có ưu nhược điểm sau đây:
Phần đa học sinh trong lớp chăm ngoan, đi học chuyên cần, có đủ SGK 2 môn Toán và Tiếng Việt Đọc thông được văn bản và trả lời được câu hỏi trong sách giáo khoa
Bên cạnh đó còn một số học sinh ngồi học không đúng tư thế, cầm sách đọc tuỳ tiện, mắt nhìn quá gần với sách Phần đa là học sinh dân tộc thiểu số nên các
em chưa mạnh dạn trước đông người, đọc và trả lời câu hỏi lí nhí không đủ để học sinh trong lớp nghe
Do tập tục địa phương nên các em rất hay đọc ngọng phụ âm l/n, ch/tr, s/x và ngọng về dấu hỏi – ngã Một số em khi được gọi đọc bài còn mắc nhiều lỗi phát
âm, trả lời không đủ câu, đọc kéo dài
Một số học sinh yếu vừa đọc vừa đánh vần, số đông học sinh khác đọc trôi chảy song chưa biết nhấn mạnh ở các từ ngữ cần chú ý cũng như cách ngắt nghỉ đúng dấu câu
Ví dụ: Chỗ ngừng giọng giữa chủ ngữ và vị ngữ, giữa động từ và bổ ngữ Đó
là chưa kể trong thơ, hầu như người ta đã bỏ các dấu câu, nhiều bài văn xuôi tác giả không dùng các dấu phẩy như yêu cầu của giáo viên Đây là nguyên nhân dẫn đến học sinh không đọc đúng chỗ ngắt giọng ở những câu dài có cấu trúc ngữ pháp phức tạp
Tôi thực hiện khảo sát tiết tập đọc thu được kết quả như sau:
Lớp 1A Học sinh đọc đúng
văn bản ( lưu loát)
Học sinh đọc còn đánh vần
HS đọc ngọng, phát
âm không chuẩn
22 em
L
III CÁC BIỆN PHÁP THỰC HIỆN
Từ thực trạng nêu trên để khắc phục những hạn chế, phát huy những ưu điểm thực tế của học sinh Tôi đã vận dụng một số biện pháp dạy học sau để nâng cao hiệu quả của giờ tập đọc ở lớp 1 như sau:
1 Giúp học sinh chuẩn bị tốt các điều kiện cho việc đọc.
Trang 5Trước hết Tôi hướng dẫn học sinh cách ngồi đọc sao cho đúng tư thế Khi ngồi đọc cần phải ngồi ngay ngắn, khoảng cách từ mắt đến sách nên nằm trong khoảng 30-35 cm, cổ và đầu thẳng, phải thở sâu và thở ra chậm để lấy hơi, học sinh phải bình tĩnh, tự tin, không vội vàng đọc ngay
Học sinh cần đọc to, rõ ràng Khi đọc thành tiếng, học sinh có thể đọc cho mình hoặc cho người khác hoặc cho cả hai Đọc cùng với phát biểu trong lớp là hai hình thức giao tiếp trước đám đông đầu tiên của trẻ em nên giáo viên phải coi trọng khâu chuẩn bị để đảm bảo sự thành công, tạo cho các em sự tự tin cần thiết Khi đọc thành tiếng, giáo viên cần cho các em hiểu rằng các em đọc không phải chỉ cho mình cô giáo mà để cho tất cả các bạn cùng nghe nên cần đọc đủ lớn để cho tất cả những người này nghe rõ Nhưng như thế không có nghĩa là đọc quá to hoặc gào lên
Giáo viên nên cho học sinh đứng trên bảng để đối diện với những người nghe
Tư thế đứng đọc phải vừa đàng hoàng, vừa thoải mái, sách phải được mở rộng và cầm bằng hai tay
2 Giáo viên đọc mẫu.
Bài đọc mẫu của giáo viên chính là cái đích mẫu hình thành kỹ năng đọc của giáo viên phải đảm bảo chất lượng đọc chuẩn, đọc đúng rõ ràng, trôi chảy và diễn cảm Tôi yêu cầu lớp ổn định trật tự tạo cho học sinh tâm lý nghe đọc, hứng thú nghe đọc và yêu cầu học sinh đọc thầm theo Khi đọc giáo viên đứng ở vị trí bao quát lớp, không đi lại, cầm sách mở rộng, thỉnh thoảng mắt phải dừng sách nhìn lên học sinh nhưng không để bài đọc bị gián đoạn
Đối với học sinh lớp 1 giai đoạn đầu (khoảng 2 3 bài đầu) giáo viên chép bài đọc lên bảng rồi học sinh theo dõi giáo viên đọc ở trên bảng, nhưng ở giai đoạn sau giáo viên nêu yêu cầu học sinh theo dõi bài ở sách giáo khoa để tạo cho các em
có thói quen làm việc với sách
3 Hướng dẫn học sinh đọc.
Sách giáo khoa tập đọc lớp 1 chủ yếu có 2 dạng bài:
- Dạng thơ, chủ yếu là thể thơ 4 – 5 tiếng
- Dạng văn xuôi
Cụ thể là trong 42 bài đọc thì có:
- 23 bài dạng văn xuôi
Trang 6- 19 bài dạng thơ
Việc hướng dẫn đọc đúng được thể hiện trong tiết 1
3.1 Luyện đọc đúng: từ ngữ.
Đối với lớp 1 dù ở bất kỳ dạng bài nào văn xuôi hay thơ thì trước khi luyện đọc đúng toàn bài bao giờ học sinh cũng được ôn luyện âm vần Trong phần này các em ôn luyện vần trên cơ sở luyện đọc những từ khó, hay nhầm lẫn khi đọc có ở trong bài Để thực hiện được tốt phần này, ngoài việc cần lựa chọn thêm những từ ngữ khác mà học sinh trong lớp mình hay nhầm lẫn hoặc phát âm sai để cho các em luyện đọc Trong thực tế, hàng ngày lên lớp tôi vẫn thực hiện điều này
Ví dụ: Bài “Bàn tay mẹ” ( Trang 55/ TV lớp 1- Tập 2)
Sách giáo khoa chỉ yêu cầu luyện đọc các từ sau
“ yêu nhất, nấu cơm, rám nắng, xương xương”
Khi dạy, dựa vào tình hình đọc của lớp ngoài những từ trên tôi đã tìm thêm
một số từ ngữ khác cần luyện đọc đúng đó là các từ ngữ: “bàn tay, hằng ngày, giặt
một chậu tã lát đầy, gầy gầy…” Sở dĩ tôi đã lựa chọn thêm những từ ngữ này bởi vì
thực tế ở lớp tôi dạy vần còn một số ít em đọc chưa tốt, các em hay nhầm lẫn vần, phụ
âm đầu và dấu thanh Cụ thể như:
Giặt một chậu tã lót đầy Giặc một chạu tã lót đày
Ví dụ: Bài “Hoa Ngọc Lan” ( Trang 64/ TV lớp 1- Tập 2)
Sách giáo khoa chỉ yêu cầu luyện đọc các từ sau
“ Hoa lan, lá dày, lấp ló”
Khi dạy, dựa vào tình hình đọc của lớp ngoài những từ trên tôi đã tìm thêm
một số từ ngữ khác cần luyện đọc đúng đó là các từ ngữ: “xanh thẫm, nụ hoa, cánh
xoè ra duyên dáng, ngan ngát, toả khắp vườn, khắp nhà…” Sở dĩ tôi đã lựa chọn thêm
những từ ngữ này bởi vì thực tế ở lớp tôi dạy vần còn một số ít em đọc chưa tốt, các em hay nhầm lẫn vần, phụ âm đầu và dấu thanh Cụ thể như:
Trang 7Cánh xoè ra duyên dáng Cánh xèo ra duyên dáng
Giáo viên cũng nên để cho học sinh tự nêu những từ mà các em cảm thấy khó đọc trong khi phát âm
Ví dụ : Bài “Chú công” ( Trang 97/ TV lớp 1- Tập 2)
SGK chỉ yêu cầu luyện đọc từ “nâu gạch, rẻ quạt, rực rỡ, lóng lánh” nhưng các em học sinh lớp tôi đã nêu ra được 2 từ mà các em cho là khó đọc đó là: “màu
sắc, xoè tròn” vì khi đọc dễ bị lẫn “màu sắc” với “mầu sắc”, “xoè tròn” với “xèo tròn”
Khi luyện đọc từ ngữ, tôi gọi nhiều học sinh yếu đọc Đồng thời nếu em đọc còn chậm, nhận diện vần còn lâu thì tôi yêu cầu em phân tích từng tiếng một Tuy nhiên để giúp các em yếu đọc tốt tôi cũng cần gọi một vài em giỏi đọc trước vì các
em này đọc to, chính xác nên các em yếu sẽ bắt trước mà đọc tốt hơn Tuy vậy, cũng cần chỉ các từ không theo thứ tự để tránh các em yếu “đọc vẹt” Sau khi học sinh đọc được từ, tôi kết hợp giảng nghĩa của từ luôn, có thể bằng tranh, ảnh, vật thật để giúp các em đọc hiểu được nghĩa của từ mà đọc được đúng hơn Cần tăng cường cho các em nhận xét nhau đọc, đúng hay say, nếu sai thì ở đâu, các em có thể tự sửa lại cho bạn Nếu học sinh không làm được việc đó, tôi kịp thời uốn nắn sửa sai ngay cho các em Nhất thiết phải có khen chê kịp thời Sau đó cả lớp sẽ đọc đồng thanh thứ tự các từ khó
Không chỉ luyện đọc đúng từ trong giờ tập đọc mà trong các tiết tăng cường Tiếng Việt tôi cũng luôn đưa ra những bài tập phân biệt phụ âm đầu và vần để giúp các em phát âm tốt hơn
Ví dụ: Dạng bài tập điền vần hoặc điền phụ âm đầu.
+ Bài tập 1: Điền l hay n
….o… ắng ; …o…ê ; ….í….ẽ ; ….áo…ức
+ Bài tập 2: Điền r, d, gi.
… ộn….ã , … ập ….ờn , tháng… iêng
+ Bài tập 3: Điền s, x
…ản …uất ; …anh….anh ; …o….ánh …ung phong ; ….ừng…ững
+ Bài tập 4: Điền vần ăc, ăt hay ăp
m… trời ; m… áo ; đôi m …
Trang 8kh… nơi , th…… nến
+ Bài tập 5: Điền vần anh hay ăn
ch … len ; c……nhà ; m… khoẻ ; bức tr…… Sau khi học sinh điền xong giáo viên phải yêu cầu và kiểm tra các em đọc Nếu các em đọc sai tôi phải kịp thời uốn nắn ngay Phần luyện đọc từ nếu giáo viên làm tốt, hướng dẫn học sinh đọc kỹ sẽ giúp cho các em đọc trơn bài đọc tốt hơn
3.2 Luyện đọc đúng: dạng thơ.
Thơ là tiếng nói của tình cảm, là sự phản ánh con người và thời đại một cách cao đẹp, thơ rất giàu chất trữ tình Vì vậy khi đọc thơ cần thể hiện được tình cảm của tác giả gửi gắm trong từ, từng dòng thơ, nhịp thơ để truyền cảm xúc đến người nghe Vì vậy đọc thơ phải đọc đúng dòng thơ, vần thơ, thể thơ để thể hiện sắc thái, tình cảm Khi dạy bài tập đọc là thơ thì một công việc không thể thiếu được đối với giáo viên và học sinh đó là ngắt nhịp câu thơ Thực tế cho thấy học sinh mắc lỗi ngắt nhịp là do không tính đến nghĩa chỉ đọc theo áp lực của nhạc thơ Học sinh tìm được trong bài có những dấu câu thì ngắt nhịp ra sao Do vậy khi dạy những bài đọc thơ ở giai đoạn đầu tôi thường chép lên bảng các câu thơ cần chú ý ngắt giọng rồi hướng dẫn
Ví dụ: Bài “Tặng Cháu” ( Trang 49/ TV lớp 1- Tập 2)
Vở này / ta tặng cháu yêu ta
Tỏ chút lòng yêu cháu / gọi là.
Mong cháu / ra công mà học tập Mai sau / cháu giúp nước non nhà
Học sinh sẽ được luyện đọc từng câu rồi đọc nối tiếp nhau cho đến hết bài Giáo viên có thể cho các em dùng ký hiệu đánh dấu vào sách để khi đọc không bị quên
Đến giai đoạn sau (khoảng từ giữa học kỳ II trở đi) tôi đã để học sinh nhìn vào sách và nêu cách ngắt giọng của mình ở từng câu thơ (vì những bài thơ của lớp 1 thường là ngắn nên công việc này cũng không chiếm quá nhiều thời gian trong tiết dạy) Nếu học sinh nói đúng giáo viên công nhân ngay và cho các em đánh dấu luôn vào sách Nếu học sinh nói sai giáo viên sửa lại cho học sinh
Ví dụ : Bài “Mẹ và cô” ( Trang 73/ TV lớp 1- Tập 2)
Học sinh thường ngắt nhịp như sau:
Trang 9Buổi sáng / bé chào mẹ Chạy tới ôm / cổ cô
Buổi chiều / bé / chào cô Rồi sào / vào lòng mẹ
Mặt trời / mọc / rồi lặn
Trên đôi chân / lon ton
Hai chân trời / của con
Là mẹ / và cô giáo
Tôi đã sửa lại những câu học sinh sai và nêu cho các em thấy tại sao ngắt nhịp như vậy lại là sai
Ví dụ: Câu “chạy tới ôm cổ cô” ngắt nhịp như trên là sai vì “ôm cổ cô”là một cụm từ liền nhau, nếu ngắt giọng ở sau chữ “cổ” thì cụm từ đó sẽ bị tách ra và nghĩa của nó sẽ không rõ ràng Hay câu “Buổi chiều bé chào cô” cũng tương tự tôi
đã sửa cách đọc bài thơ trên như sau:
Buổi sáng / bé chào mẹ Chạy tới / ôm cổ cô
Buồi chiều / bé chào cô
Rồi / sà vào lòng mẹ
Mặt trời mọc / rồi lặn
Trên đôi chân lo ton
Hai chân trời / của con
Là mẹ / và cô giáo
Ví dụ : Bài “Kể cho bé nghe” ( Trang 112/ TV lớp 1- Tập 2)
Khi đọc học sinh thường ngắt mỗi dòng thơ một lần là do thói quen nhưng tôi
đã sửa lại và hướng dẫn cho các em cách đọc vắt dòng: cuối dòng 1 đọc vắt luôn
sang dòng 2, cuối dùng 3 đọc vắt luôn sang dòng 4 Cứ như thế cho đến hết bài.
Bên cạnh việc rèn đọc đúng trong các giờ tập đọc ở trên lớp thì trong các tiết tăng cường tiếng Việt tôi cũng thường đưa ra những câu thơ hoặc bài thơ ngắn để giúp học sinh luyện đọc và ngắt giọng, cũng có thể đó là những câu ứng dụng hay bài ứng dụng đã có ở phần học vần
Ví dụ:
“Lá thu kêu xào xạc
Trang 10Con nai vàng ngơ ngác Đạp trên lá vàng khô”
Hay
“Tiếng dừa làm dịu nắng trưa Gọi đàn gió đến cùng dừa múa reo Trời trong đầy tiếng rì rào Đàn cò đánh nhịp bay vào bay ra”
3.3 Luyện đọc đúng: dạng văn xuôi.
Thơ phản ánh hiện thực bằng phương thức trữ tình, còn văn xuôi phản ánh
hiện thực bằng phương pháp tự sự Ngôn ngữ văn xuôi là ngôn ngữ tự sự, miêu tả: ngôn ngữ của nhân vật, ngôn ngữ của tác giả
Ngôn ngữ tác giả thường là lời dẫn chuyện, kể, tả…khi đọc cần nhấn giọng vào các từ gợi tả Ngắt giọng ở các dấu câu, hạ giọng dưới câu kể
Ngôn ngữ nhân vật thường là ngôn ngữ đối thoại, phải đọc với giọng đối thoại (ngôn ngữ nói)
Cách ngắt giọng: khi đọc ngắt giọng theo cụm từ có nghĩa hoặc khi có dấu câu
- Ngắt sau dấu phẩy: nghỉ ngắn
- Ngắt sau dấu chấm: nghỉ dài, hạ thấp giọng
- Ngắt sau dấu hỏi: cao giọng
- Ngắt sau dấu chấm lửng: kéo dài hoặc hơi ngừng giọng
Ví dụ: Bài “Vì bây giờ mẹ mới về” ( Trang 88/ TV lớp 1- Tập 2)
Tôi đã hướng dẫn học sinh đọc từng câu thoại của mẹ và của con Những câu hỏi của mẹ:
Con làm sao thế ? Đứt khi nào thế ? (đọc lên giọng cuối câu)
Những câu trả lời của cậu bé
Con bị đứt tay Lúc nãy ạ ! Vì bây giờ mẹ mới về (đọc xuống giọng ở cuối câu)
Ví dụ : Bài “Đầm sen” ( Trang 91/TV lớp 1- Tập 2)
Học sinh đã phát hiện ra câu dài trong bài là ngắt giọng như sau:
“Suốt mùa sen / sáng sáng lại có những người ngồi trên thuyền nan / rẽ lá / hái hoa”
Tôi đã bổ sung thêm cách nghỉ hơi cho các em như sau: