PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ1.Tính cấp thiết của đề tài Mục đích hoạt động sản xuất kinh doanh của mỗi doanh nghiệp là lợi nhuận,nhưng để có được lợi nhuận thì sản phẩm sản xuất ra phải tiêu thụ đ
Trang 1PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ
1.Tính cấp thiết của đề tài
Mục đích hoạt động sản xuất kinh doanh của mỗi doanh nghiệp là lợi nhuận,nhưng để có được lợi nhuận thì sản phẩm sản xuất ra phải tiêu thụ được, phải được kháchhàng và thị trường chấp nhận, do đó công tác tiêu thụ sản phẩm ngày càng đóng vai tròquan trọng đối với một doanh nghiệp
Trước đây, nền kinh tế tập trung việc tiêu thụ sản phẩm được nhiều hay ít khôngquan trọng bằng việc các đơn vị sản xuất thực hiện đúng, hoàn thành chỉ tiêu, kế hoạchsản xuất do cấp trên giao Nhưng ngày nay khi chuyển sang nền kinh tế thị trường các đơn
vị tự hạch toán kinh doanh thì việc tiêu thụ sản phẩm ngày càng được coi trọng hơn vàngười ta cho rằng: Tiêu thụ sản phẩm là khâu quan trọng nhất trong quá trình tái sản xuất
Nó là yếu tố quyết định đảm bảo cho quá trình tái sản xuất được tiếp tục Do đó mỗidoanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển được trong nền kinh tế thị trường thì luôn phảinghiên cứu tìm ra những giải pháp để nâng cao khả năng tiêu thụ sản phẩm Vì chúng tabiết rằng các chiến lược nhằm đẩy mạnh việc tiêu thụ sản phẩm luôn luôn bị các đối thủcạnh tranh làm theo dẫn đến sự giảm sút rất nhanh về lợi nhuận của doanh nghiệp, vì vậycác chiến lược này chỉ có hiệu quả trong ngắn hạn mà thôi
Công ty Cổ Phần Secpentin và Phân Bón Thanh Hoá là một đơn vị kinh doanhđược thành lập để sản xuất phân bón cung ứng cho các đại lý trên địa bàn Tỉnh Để thíchứng với nền kinh tế thị trường có sự cạnh tranh gay gắt mang lại hiệu quả kinh tế thì buộccác doanh nghiệp phải đặt vấn đề tiêu thụ sản phẩm lên hàng đầu Từ đó mới có nhữngchiến lược sâu sát với thực tế để có thể tận dụng được những cơ hội cũng như đối mặt vớinhững thách thức do thị trường đem lại Xuất phát từ vai trò quan trọng của việc cung ứngphân bón trong sản xuất nông nghiệp, tránh việc gây ảnh hưởng xấu đến quá trình sảnxuất nông nghiệp tôi đã chọn nghiên cứu đề tài “Phân tích tình hình tiêu thụ mặt hàng phân bón NPK t ại Công Ty Cổ Phần Secpentin và Phân Bón Thanh Hoá”
Đại học Kinh tế Huế
Trang 22 Mục tiêu nghiên cứu
Mục đích của việc nghiên cứu là nhằm:
- Hệ thống hóa một số vấn đề lý luận về tiêu thụ sản phẩm
- Phân tích tình hình tiêu thụ phân bón NPK tại công ty trong 3 năm 2007 – 2009
- Đề xuất một số giải pháp chủ yếu đẩy mạnh tiêu thụ sản phẩm phân bón của công
ty nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh
3 Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình thực hiện đề tài này, tôi đã sử dụng các phương pháp nghiên cứusau:
- Phương pháp thống kê kinh tế sử dụng để thống kê số liệu, lập bảng biểu,
so sánh giữa kỳ gốc và kỳ báo cáo về tình hình tiêu thụ sản phẩm
- Phương pháp chỉ số được sử dụng để thấy được sự biến động của doanhthu, giá cả bình quân chịu ảnh hưởng bởi các nhân tố nào ở kỳ gốc và kỳ báo cáo
- Phương pháp biểu đồ, đồ thị thể hiện các bảng số liệu dưới dạng biểu đồ,
đồ thị một cách tổng quát
4 Phạm vi nghiên cứu
- Nội dung: Phân tích tình hình tiêu thụ mặt hàng phân bón ở tỉnh Thanh Hoá
- Không gian: Tại phòng kinh tế – Công Ty Cổ Phần Secpentin và Phân BónThanh Hoá
- Thời gian: Đề tài chỉ thực hiện nghiên cứu qua 3 năm 2007-2008-2009
Đại học Kinh tế Huế
Trang 3PHẦN II: NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ TIÊU THỤ SẢN PHẨM
1.1.Cơ sở lý luận của vấn đề tiêu thụ sản phẩm
1.1.1.Khái niệm,vai trò và vị trí của tiêu thụ sản phẩm
1.1.1.1.Khái niệm
“Tiêu thụ sản phẩm là quá trình thực hiện giá trị của hàng hoá, quá trình chuyểnhoá hình thái giá trị của hàng hoá từ hàng sang tiền, sản phẩm được coi là tiêu thụ khiđược khách hàng chấp nhận thanh toán tiền hàng”
Tiêu thụ sản phẩm là giai đoạn cuối cùng của quá trình sản xuất kinh doanh, là yếu
tố quyết định sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp Công tác tiêu thụ ứng với mỗi cơchế quản lý kinh tế khác nhau được thực hiện bằng các hình thức khác nhau Trong nềnkinh tế kế hoạch hoá tập trung hoạt động tiêu thụ sản phẩmcủa doanh nghiệp được thựchiện theo kế hoạch giao nộp sản phẩm với giá cả và địa chỉ do nhà nước quy định Còntrong nền kinh tế thị trường, các doanh nghiệp phải tự mình quyết định cả 3 vấn đề cơ bảncủa sản xuất kinh doanh : sản xuất cái gì? sản xuất như thế nào? Và sản xuất cho ai? Dovậy, tiêu thụ sản phẩm trở thành vấn đề sống còn của mỗi doanh nghiệp.Tiêu thụ sảnphẩm nhằm thực hiện mục đích của sản xuất hàng hoá là sản phẩm sản xuất ra để bán vàthu lợi nhuận, là khâu quyết định sự mở rộng hay thu hẹp sản xuất của doanh nghiệp và là
cơ sở để xác định vị thế của doanh nghiệp trên thị trường Là cầu nối giữa sản xuất và tiêudùng Tiêu thụ giúp cho người tiêu dùng có được giá trị sử dụng mà mình mong muốn vàngười sản xuất đạt được mục đích của mình trong kinh doanh Nhà sản xuất thông quatiêu thụ có thể nắm bắt được thị hiếu, xu hướng tiêu dùng, yêu cầu về sản phẩm, để từ đóđiều chỉnh hướng kinh doanh sao cho hợp lý nhằm thu hút khách hàng… Từ đó doanhnghiệp có thể sử dụng tốt hơn nguồn lực của mình, xây dựng bộ máy kinh doanh hoạtđộng hợp lý và có hiệu quả hơn
1.1.1.2 Vai trò và vị trí tiêu thụ sản phẩm
Đại học Kinh tế Huế
Trang 4Tiêu thụ sản phẩm là giai đoạn cuối cùng của quá trình sản xuất kinh doanh, là yếu
tố quyết định sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp
Tiêu thụ sản phẩm thực hiện mục đích của người sản xuất và nhu cầu của ngườitiêu dùng, đưa sản phẩm từ nơi sản xuất đến nơi tiêu dùng Nó là khâu lưu thông hànghoá, là cầu nối trung gian một bên là sản xuất và phân phối với một bên là tiêu dùng
Ở các doanh nghiệp tiêu thụ sản phẩm đóng vai trò quan trọng quyết định sự tồn tại
và phát triển của doanh nghiệp đó Khi sản phẩm của doanh nghiệp đó được tiêu thụ tức
là sản phẩm đó được người tiêu dùng chấp nhận Sức tiêu thụ sản phẩm thể hiện uy tíncủa doanh nghiệp, chất lượng sản phẩm, phù hợp với thị hiếu của người tiêu dung và sựhoàn thiện của các dịch vụ bán hàng Tiêu thụ sản phẩm giúp cho nhà sản xuất hiểu thêm
về kết quả sản xuất của mình và nhu cầu của khách hàng
Về phương diện sản xuất, tiêu thụ sản phẩm có vai trò trong việc cân đối giữa cung
và cầu, đồng thời tiêu thụ giúp các đơn vị xác định phương hướng và bước tiếp theo trong
kế hoạch sản xuất
Mặt khác, khi sản phẩm hàng hoá sản xuất ra bán được, tiêu thụ được thì doanhnghiệp thu được một khoản tiền để có thể trang trải các khoản chi phí đã bỏ ra trong quátrình sản xuất kinh doanh, thực hiện quá trình tái sản xuất mở rộng Hơn nữa, việc tổchức tốt công tác tiêu thụ làm cho chi phí tiêu thụ sản phẩm giảm đáng kể, tăng lợi nhuậncho doanh nghiệp
Tóm lại, để hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp được diễn ra mộtcách thường xuyên, liên tục và hiệu quả thì công tác tiêu thụ sản phẩm phải được tổ chứctốt Trong nền kinh tế thị trường, với sự cạnh tranh ngày càng gay gắt thì việc tiêu thụ sảnphẩm ngày càng có ý nghĩa quan trọng, quyết định sự sống còn của các đơn vị sản xuấtkinh doanh Vì vậy, doanh nghiệp cần phải không ngừng nâng cao hiệu quả tiêu thụ sảnphẩm của đơn vị mình
Đại học Kinh tế Huế
Trang 51.1.2 Khái niệm, vai trò của kênh phân phối và trung gian phân phối
1.1.2.1 Khái niệm kênh phân phối
Kênh phân phối: là một tập hợp các công ty hay cá nhân tự gánh vác hay giúp đỡ
chuyển giao cho một ai đó quyền sở hữu đối với một hàng hóa cụ thể hay dịch vụ trên conđường từ nhà sản xuất đến người tiêu dùng
LL BH của DN
LL BH của DN
LL BH của DN
Sơ đồ 1: Sơ đồ kênh phân phối của doanh nghiệp có thể sử dụng
1.1.2.2 Vai trò của kênh phân phối
- Hệ thống kênh phân phối đóng vai trò quan trọng nhất trong quá trình tiêu thụhàng hoá, đưa hàng hoá đúng kênh, đúng lúc, đúng nhu cầu của người tiêu dùng bằngnhững loại hình phân phối hợp lý với mục đích mang lại lợi nhuận cho doanh nghiệp
- Hệ thống phân phối đóng vai trò quyết định trong giai đoạn phát triển và chínmuồi của sản phẩm, vì lúc đó doanh nghiệp phải tận dụng hết khả năng mở rộng kinhdoanh, tiêu thụ, tăng doanh thu, tiết kiệm chi phí lưu thông để thu được lợi nhuận cao
1.1.2.3 Khái niệm trung gian phân phối
Các trung gian phân phối là những người làm cầu nối giữa người sản xuất và ngườitiêu dùng trong việc lưu chuyển hàng hoá
Người
bán lẻ
Ngườibán buôn
Ngườibán lẻ
Người
bán buôn C1
Người
bán buôn C2
Người
bán lẻ
Đại học Kinh tế Huế
Trang 61.1.2.4 Vai trò của trung gian phân phối
- Trung gian phân phối đóng vai trò làm giảm bớt sự khác biệt giữa chủng loại sảnphẩm và dịch vụ của nhà sản xuất đưa ra với chủng loại sản phẩm và dịch vụ mà ngườitiêu dùng yêu cầu Có sự khác biệt đó là do những người sản xuất thường làm ra số lượnghàng hoá lớn với chủng loại hữu hạn, trong khi đó người tiêu dùng chỉ mong muốn cómột số lượng hàng hoá hữu hạn với chủng loại phong phú
- Trung gian phân phối còn có vai trò trong việc làm thông suốt quá trình lưu thônghàng hoá giữa người sản xuất và người tiêu dùng Thuận tiện cho người tiêu dùng trongviệc tiêu dùng sản phẩm của doanh nghiệp
1.1.3 Các dạng kênh phân phối và trung gian phân phối
1.1.3.1 Các dạng kênh phân phối
- Theo tiêu thức trực tiếp / gián tiếp
+ Kênh phân phối trực tiếp: Trong dạng kênh này DN không sử dụng người muatrung gian để phân phối hàng hoá LLBH của DN (kể cả đại lý có hợp đồng) chịu tráchnhiệm trực tiếp bán hàng đến tận người sử dụng hàng hoá (người mua công nghiệp đốivới tư liệu sản xuất và người tiêu thụ cuối cùng đối với tư liệu tiêu dùng)
+ Kênh phân phối gián tiếp: Là dạng kênh phân phối mà trong đó DN bán hàngcủa mình cho người tiêu dùng thông qua người mua trung gian (nhà bán buôn các cấp/nhàbán lẻ)
+ Kênh phân phối hỗn hợp: Đây là một phương án lựa chọn kênh phân phối trên cơ
sở sử dụng đồng thời cả 2 dạng kênh phân phối trực tiếp và kênh phân phối gián tiếp DNvừa tổ chức bán trực tiếp hàng hoá đến tận tay người tiêu dùng, vừa khai thác lợi thế trong
hệ thống phân phối của người mua trung gian
- Theo tiêu thức dài / ngắn.
+ Kênh phân phối ngắn: Là dạng kênh phân phối trực tiếp từ DN đến người tiêudùng sản phẩm hoặc có người mua trung gian nhưng không có quá nhiều người trung gianxen giữa khách hàng và DN
Đại học Kinh tế Huế
Trang 7+ Kênh phân phối dài: Là dạng kênh phân phối có sự tham gia của nhiều ngườimua trung gian Hàng hoá của DN có thể được chuyển dần quyền sở hữu cho một loạt cácnhà buôn lớn đến nhà buôn nhỏ hơn rồi qua nhà bán lẻ đến tay người tiêu thụ cuối cùng.
1.1.3.2 Các dạng trung gian phân phối
- Trung gian bán buôn
Là những doanh nghiệp thương mại mua, sở hữu, dự trữ hàng hoá và quản lý vậnchuyển sản phẩm với số lượng tương đối lớn và bán lại với số lượng nhỏ cho người bán lẻ
và khách hàng sản xuất, khách hàng thương mại, các nhà bán buôn khác
- Trung gian bán lẻ
Là những người trực tiếp bán sản phẩm cho người tiêu dùng cuối cùng, có vốn íthơn người bán buôn, thường mua hàng từ người bán buôn hoặc qua các đại lý với khốilượng vừa phải để bán cho người tiêu dùng
Họ có điều kiện tiếp xúc thường xuyên với khách hàng cho nên họ hiểu rõ đượcnhu cầu thị trường, do đó họ linh hoạt, năng động hơn người bán buôn, độ an toàn trongkinh doanh cao
1.1.4 Tại sao phải dùng phân bón
“Phân bón là các chất hữu cơ hoặc vô cơ chứa các nguyên tố dinh dưỡng cần thiếtcho cây trồng được bón vào đất hay hoà nước phun, xử lý hạt giống, rễ và cây con”
“Phân bón là những chất cung cấp chất dinh dưỡng cho cây hoặc bổ sung độ màucho đất, là phương tiện tốt nhất để tăng sản lượng và cải thiện chất lượng của lương thực,thực phẩm Dùng phân bón sẽ cho hiệu quả sản xuất cao nhất trên các loại đất nếu có cách
Đại học Kinh tế Huế
Trang 8bón phân hợp lý, đúng kỹ thuật Không những với loại đất phì nhiêu hoặc đã được cải tạo
mà ngay cả với đất kém màu mỡ thì cây trồng cũng được tăng trưởng tốt hơn
Việc dùng phân bón được áp dụng từ hơn trăm năm nay dựa trên sự hiểu biết hoáhọc về dinh dưỡng cây trồng, đã góp phần to lớn vào việc tăng sản lượng và chất lượngnông sản phẩm Một tác dụng có lợi bền vững và lâu dài là độ phì nhiêu của đất được cảithiện làm cho mức thu hoạch ổn định hơn và cây trồng có khả năng chống chịu một sốbệnh và tác động của ngoại cảnh Hơn nữa nông dân thu được lợi nhuận cao hơn do sảnxuất có hiệu quả hơn Tóm lại, mục đích dùng phân bón để đạt được năng suất cao đềuthể hiện như nhau đối với các vùng sinh thái khác nhau đó là:
+ Bổ sung các chất dinh dưỡng cho đất nhằm thoả mãn đòi hỏi của các loại câytrồng có tiềm năng về năng suất
+ Bù đắp chất dinh dưỡng mà cây đã dùng để sinh lời hoặc bị rửa trôi
+ Khắc phục các điều kiện bất lợi hoặc duy trì các điều kiện thuận lợi cho việctrồng trọt.”
1.1.5 Vai trò của phân bón đối với sản xuất nông nghiệp
- Ruộng không được bón phân thì năng suất thấp Phân bón làm tăng năng suất,mức tăng cao hay thấp tuỳ theo độ phì của đất, đất đã tốt thì không cần bón nhiều phân.Đất xấu thì mức tăng năng suất do phân bón cao
- “Phân bón ảnh hưởng rất lớn đến phẩm chất nông sản, đặc biệt là các loại nôngsản dùng làm thức ăn cho người và gia súc
Người ta nhận xét thấy năng suất và phẩm chất có nhiều trường hợp là nghịch biến:Năng suất tăng, phẩm chất giảm, hiện tượng này thường thấy khi dùng phân N Nói chungquá thừa hay quá thiếu một yếu tố nào đấy đều ảnh hưởng xấu đến phẩm chất nông sản
Phân bón sẽ làm tăng chất lượng sản phẩm nông nghiệp nếu việc bón phân cân đối,vừa phải Giữa các bộ phận trong cây thì phân bón làm thay đổi thành phần hoá học của lá
dễ hơn là làm thay đổi thành phần của hạt Ví dụ: việc bón thừa đạm làm giảm tỷ lệ đồngtrong chất khô của cỏ nghiêm trọng thì có thể gây bệnh vô sinh cho bò sinh sản hay bónquá thiếu hay thừa đạm làm cho tỷ lệ vitamin B2 trong rau giảm… Chính vì vậy, cùng với
Đại học Kinh tế Huế
Trang 9năng suất, sự cung cấp cân đối các chất dinh dưỡng rất quan trọng đối với chất lượng sảnphẩm”.
1.1.6 Hệ thống các chỉ tiêu sử dụng phân tích
- Chỉ tiêu về doanh thu tiêu thụ sản phẩm
Doanh thu là số tiền thu được nhờ việc tiêu thụ hàng hoá hoặc cung cấp các dịchvụ
Q P
Q P
1 1
Q P
Q P
0 0
1 0
Q P
Q P
I(P) I(Q)Trong đó: Q0,Q1là khối lượng hàng hoá tiêu thụ kì gốc và kì báo cáo
P0, P1 là giá bán hàng hoá kì gốc và kỳ báo cáo
- Mức biến động tuyệt đối:
0 0
0 R
)()
(
Q P
Q Q
P
P Q
Trang 10- Giá bán sản phẩm tăng (giảm) (I(P) 1 ) 100 % đã làm cho doanh thu tăng (giảm)
một lượng là (P) đơn vị hay ( ) 100%
0 0
- Số lượng sản phẩm tiêu thụ tăng (giảm) (I(Q) 1 ) 100 % đã làm cho doanh thu
tăng (giảm) một lượng là (Q) đơn vị hay ( ) 100%
0 0
P Q Q
- Chỉ tiêu về giá cả bình quân:
Q
Q P
Trong đó: Q i là sản lượng của sản phẩm i tiêu thụ được
01
P P
Q
Q P
Q
Q P
Q
d P
Q
Q P
Q
d P
Với: Q1, Q0là khối lượng của từng loại hàng hoá tiêu thụ được kỳ báo cáo và kỳgốc
1
P, P0 là giá bán của từng loại hàng hoá kỳ báo cáo và kỳ gốc
Đại học Kinh tế Huế
Trang 11d , d 0là kết cấu khối lượng của từng sản phẩm kỳ báo cáo và kỳ gốc
Mức biến động tuyệt đối:
0 0
0
) ( ) (
P
d P
P P
I
Q P
- Giá bán của từng loại sản phẩm tăng (giảm) (I(P) 1 ) 100 % làm cho giá bán
bình quân tăng (giảm) một lượng là (P) đơn vị tính hay ( ) 100%
0
P P
- Kết cấu khối lượng từng sản phẩm tăng (giảm) (( ( Q)1)100%
Tính chỉ số mùa vụ đối với dãy số biến động theo thời gian tương đối ổn định tức
là dãy số trong đó mức độ biến động của hiện tượng từ năm này sang năm khác không cóbiểu hiện tăng giảm rõ rệt
Trang 12Ý nghĩa: Trong một năm số lần bón phân bình quân của từng tháng là bao nhiêu.
- Chỉ tiêu lợi nhuận
“Lợi nhuận tiêu thụ chỉ tiêu được xác định cho những sản phẩm mà doanh nghiệp
đã tiêu thụ và đã thu tiền hoặc người mua chấp nhận trả Đây là phần còn lại của doanhthu sau khi trừ đi tất cả các chi phí cho việc sản xuất và tiêu thụ sản phẩm đó Phần chiphí để sản xuất và tiêu thụ gồm chi phí trong sản xuất (chi phí sản phẩm), chi phí sảnphẩm tính cho khối lượng đã tiêu thụ chính là giá vốn hàng bán và chi phí ngoài sản xuất(chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp)”
L = Q i P i Q i Gv i Q i Cn i = Q i(P i Gv i Cn i)Q l i
i
Q sản lượng sản phẩm i tiêu thụ; P i giá bán đơn vị sản phẩm i; Gv i giá vốn hàngbán đơn vị sản phẩm i; Cn i chi phí ngoài sản xuất đơn vị sản phẩm i và l i là lãi lỗ đơn vịsản phẩm i
Ta có: LL1 L0
Lợi nhuận kỳ báo cáo: L1 Q1i(P1i Gv1i Cn1i)Q1i l1i
Lợi nhuận kỳ gốc: L0 Q0i(P0i Gv0i Cn0i)Q0i l0i
- Mức ảnh hưởng của các nhân tố đến lợi nhuận tiêu thụ năm 2008/2007
+ Ảnh hưởng của nhân tố khối lượng tiêu thụ (Q): L Q L0T t L0
t
T là tỷ lệ phần trăm hoàn thành khối lượng tiêu thụ:
1000 0
0 1
i i
i i t
P Q
P Q T
+ Ảnh hưởng nhân tố kết cấu sản phẩm tiêu thụ (K): L(K)Q1i l0i L0T t
+ Ảnh hưởng nhân tố lãi lỗ đơn vị sản phẩm (l): L(l)L1Q1i l0i
Trong đó:
Ảnh hưởng nhân tố giá bán đơn vị (P): L(p)Q1i(p1i p0i)
Ảnh hưởng nhân tố giá vốn hàng bán đơn vị (Gv):
Đại học Kinh tế Huế
Trang 13)(Gv Q1i Gv1i Gv0i
Ảnh hưởng nhân tố chi phí ngoài sản xuất đơn vị (Cn):
)(
1.2 Cơ sở thực tiễn về sản xuất kinh doanh trong giai đoạn hiện nay
“Theo Tổ chức Nông lương Quốc tế (FAO) và Hiệp hội phân bón Quốc tế (IFA),nhu cầu sử dụng phân bón trên thế giới đang tăng dần: thời kỳ 1991-1993 so với thời kỳ2000-2006 phân đạm urê tăng 18 lần, phân lân tăng 8,5 lần và phân kali tăng 7,5 lần Tínhđến 30/12/ 2007, cả nước Việt Nam có gần 300 cơ sở, công ty, xí nghiệp và nhà máy sảnxuất phân bón; 35 nhà nhập khẩu; 20 văn phòng đại diện kinh doanh phân bón nước ngoàitại Việt Nam Các thị trường Việt Nam nhập khẩu phân bón chủ yếu vẫn là Trung Quốc,Hàn Quốc, Ấn Độ… Các loại phân chủ yếu nhập là phân Ure nhập về nhiều nhất, tiếp đến
là NPK, Kali….Vì vậy thị trường phân bón trong nước cũng chịu tác động của thị trườngthế giới và chịu ảnh hưởng của việc Trung Quốc tăng thuế xuất khẩu phân bón Để kiềmchế tốc độ tăng giá phân bón trong nước, Hiệp hội Phân bón Việt Nam đã kiến nghị Chínhphủ có định hướng cho kế hoạch sản xuất và nhập khẩu phân bón từ nay tới 2010; trong
đó đẩy mạnh phát triển sản xuất phân hữu cơ, cải tiến công nghệ sản xuất NPK chất lượngcao thay thế DAP nhập khẩu, đặc biệt là ngừng xuất khẩu cũng như tạm nhập tái xuất đốivới tất cả các loại phân bón Bên cạnh đó, Tổng công ty Hóa Chất Việt Nam cũng chỉ đạocác nhà máy sản phân bón tăng sản lượng và tiến độ sản xuất để đáp ứng đủ nhu cầu sửdụng phân bón cho nông dân Đặc biệt, đẩy nhanh tiến độ các dự án phân bón lớn như nhàmáy DAP Đình Vũ - Hải Phòng, đạm than Ninh Bình, mở rộng đạm Hà Bắc, supe lân tại
Đại học Kinh tế Huế
Trang 14Lào Cai Theo tính toán, mỗi tấn Urê sản xuất trong nước sẽ giảm được cước vận chuyển,phí bảo hiểm và thủ tục hải quan nên giá thành sẽ thấp hơn so với hàng nhập khẩu từ110-120 USD/tấn Việc tăng giá đồng loạt các loại phân bón vừa qua là một sự đột biếnchưa từng có trong lịch sử 35 năm qua của thị trường phân bón Điều này liên quan đến
sự cạn kiệt các nguồn nguyên liệu như khí, gas, than đá, quặng apatit, quặng potat để đápứng nhu cầu tiêu thụ và kinh doanh của con người.”
Nằm trong thực trạng chung của ngành phân bón , Công Ty Cổ Phần Secpentin vàPhân Bón Thanh Hoá cũng ngày không ngừng nghiên cứu, đổi mới, sáng tạo trong côngnghệ sản xuất và kinh doanh phân bón để đáp ứng nhu cầu phân bón của bà con nông dânvới chất lượng tốt giá cả vừa phải
Đại học Kinh tế Huế
Trang 15CHƯƠNG 2: PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH TIÊU THỤ PHÂN NPK TẠI CÔNG TY
CP SECPENTIN VÀ PHÂN BÓN THANH HOÁ.
2.1 Tình hình cơ bản của Công Ty Cổ Phần Secpentin và Phân Bón Thanh Hoá 2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển
Công Ty CP Secpentin và phân bón Thanh Hoá tiền thân là mỏ Secpentin ThanhHoá thuộc tổng cục hoá chất Việt Nam (nay là Tổng Công ty hoá chất Việt Nam), đượcthành lập ngày 12 tháng 7 năm 1975, sau này được đổi tên thành Công ty Secpentin vàhoá chất Thanh Hoá.Đến ngày 16 tháng 11 Năm 2004 thực hiện chủ trương của đảng vànhà nước về cổ phần hoá doanh nghiệp công ty đã chuyển sang công ty cổ phần, với têngọi là công ty Secpentin và phân bón Thanh Hoá Hoạt động trên cơ sở 100% vốn góp của
cổ đông, tổ chức hoạt động theo luật doanh nghiệp
Những năm đầu mới thành lập là một đơn vị hạch toán phụ thuộc, sau này mớichuyển sang là đơn vị hạch toán độc lập, tự chịu trách nhiệm về hoạt động sản xuất kinhdoanh của mình Là một doanh nghiệp chuyển từ cơ chế quan liêu bao cấp sang cơ chế thịtrường Lúc đầu cũng gặp nhiều những khó khăn, thử thách nhưng sau này khi thích ứngđược với cơ chế mới, công ty đã có những thay đổi trong cách thức quản lý và điều hành,đổi mới công nghệ sản xuất nâng cao chất lượng sản phẩm, giá cả phải chăng đáp ứngđược nhu cầu tiêu dung của bà con nông dân, tăng thu nhập cho người lao động
2.1.2 Chức năng và nhiệm vụ của công ty
2.1.2.1 Chức năng
- Khai thác quặng Secpentin cung cấp cho các công ty sản xuất phân lân như:Công ty phân lân nung chảy Văn Điển, Công ty CP phân lân Ninh Bình, Nhà máysupe phốt phát Long Thành
- Sản xuất bột Secpentin làm nguyên liệu sản xuất phân bón tổng hợp NPK, phân
vi sinh… tiêu thụ trên địa bàn toàn quốc
- Sản xuất phân bón NPK, phân vi sinh các loại phục vụ cho sản xuất nông nghiệpnhư: lúa, ngô, khoai, cây công nghiệp như mía, cao su tiêu thụ chủ yếu ở địa bàn tỉnhThanh Hoá và một số tỉnh lân cận
Đại học Kinh tế Huế
Trang 16- Kinh doanh xăng dầu
- Xây dựng dân dụng và san lấp mặt bằng
2.1.3 Cơ cấu tổ chức quản lý của Công ty
2.1.3.1 Cơ cấu tổ chức
Cơ cấu tổ chức của Công ty CP Secpentin và phân bón Thanh Hoá là cơ cấu quản
lý theo kiểu trực tuyến chức năng Công ty hoạt động theo nguyên tắc dân chủ, bình đẳng,
tự nguyện và tôn trọng pháp luật Các cổ đông trong Công ty chia lợi nhuận, chịu thua lỗtương ứng với vốn góp vào Công ty Cơ quan quyết định cao nhất của Công ty là đại hộiđồng cổ đông Đại hội đồng cổ đông bầu ra hội đồng quản trị để quản lý và điều hànhCông ty Giám đốc công ty là do hội đồng quản trị bổ nhiệm và là người phải chịu tráchnhiệm trước pháp luật của công ty
Giúp việc cho giám đốc là các cán bộ thuộc các phòng ban chức năng Các bộ phậnnày chịu sự lãnh đạo, điều hành của giám đốc trên nguyên tắc tập trung dân chủ, cấp dướiphục tùng cấp trên để hoàn thành tốt công việc
2.1.3.2 Chức năng nhiệm vụ của các phòng ban
Đại học Kinh tế Huế
Trang 17- Đại hội đồng cổ đông (ĐHĐCĐ): Là cơ quan có thẩm quyền cao nhất quyết
định mọi vấn đề quan trọng của công ty theo Luật doanh nghiệp và điều lệ của công ty.ĐHĐCĐ là cơ quan thông qua các chủ trương,chính sách đầu tư ngắn hạn và dài hạntrong việc phát triển công ty, quyết định cơ cấu vốn, bầu ra ban quản lý và điều hành côngty
- Hội đồng quản trị (HĐQT): Là cơ quan quản lý có toàn quyền nhân danh công
ty quyết định mọi vấn đề có liên quan đến mục đích, quyền lợi của công ty, trừ các vấn đềphải do ĐHĐCĐ quyết định
- Giám đốc (GĐ): Là người đứng ra chịu trách nhiệm trước pháp luật của công ty.
GĐ thực hiện các chỉ đạo của HĐQT, là người trực tiếp điều hành nhân sự và là người cótrách nhiệm lãnh đạo các phòng, ban cấp dưới thực hiện
- Phó giám đốc (PGĐ): Là người có trách nhiệm trong khâu mua bán hàng hoá ở
công ty, là người có trách nhiệm tìm kiếm nguồn hàng và kí kết hợp đồng với các tổ chứckinh doanh để mua hàng cho công ty Ngoài ra PGĐ còn tổ chức việc bán ra, chỉ đạo cácphòng ban của công ty để tiêu thụ tốt hàng hóa
- Phòng tổ chức hành chính (PTCHC): Có chức năng tham mưu cho Đảng uỷ,
giám đốc công ty về công tác và tổ chức bộ máy quản lý sản xuất, tổ chức cán bộ trongcông ty.Bồi dưỡng, đào tạo, sắp xếp, bố trí lao động phù hợp với trình độ, năng lực và đặcđiểm sản xuất của đơn vị Quản lý lao động, tiền lương và các chế độ, chính sách xã hộitrong công ty Quản lý hành chính, lễ tân, tiếp khách và công tác vệ sinh môi trường
- Phòng kinh tế: Tham mưu cho GĐ về công tác quản lý tài chính của công ty.
Xây dựng các kế hoạch về sản xuất, xây dựng cơ bản hàng năm, quản lý và huy đông vốnvào hoạt động sản xuất kinh doanh một cách có hiệu quả Xây dựng và đôn đốc các hợpđồng kinh tế Quản lý việc xuất nhập hàng hoá của công ty Cung cấp kịp thời, báo cáođịnh kỳ tình hình tài chính của công ty cho ban lãnh đạo Thực hiện việc thu chi của công
ty đối với người lao động và đối tác làm ăn của công ty Quản lý, đào tạo nâng cao nănglực chuyên môn của cán bộ và công nhân trong công ty
Đại học Kinh tế Huế
Trang 18Sơ đồ 2: Bộ máy tổ chức và quản lý của công ty
Quan hệ trực tuyếnQuan hệ chức năng (hỗ trợ)
- Phòng thị trường: Tham mưu cho lãnh đạo về công tác tiêu thụ sản phẩm của
công ty Tổ chức công tác mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm Chịu trách nhiệm trướcgiám đốc về kết quả tiêu thụ sản phẩm và thu hồi công nợ Thu mua, cung ứng, quản lývật tư, phụ tùng, máy móc, thiết bị sản xuất Xây dựng kế hoạch thị trường hàng tháng,
Phòng thị trường
Phòng kỹ thuật sản xuất
Phân xưởng
khai thác
Phân xưởng hoá chất
Đại học Kinh tế Huế
Trang 19hàng quý, hàng năm Hướng dẫn việc sử dụng phân NPK đúng kỹ thuật cho các hợp tác
xã, nông trường và hộ nông dân Thực hiện đối chiếu công nợ hàng tháng, quý, năm vớikhách hàng và phòng kinh tế Cung ứng và thu mua vật tư hàng hoá đảm bảo đúng sốlượng và chất lượng theo yêu cầu của lãnh đạo công ty
- Phòng kỹ thuật sản xuất: Tham mưu cho lao động công ty về công tác quản lý
kỹ thuật sản xuất, xây dựng cơ bản, thiết bị an toàn và chất lượng sản phẩm của công ty.Quản lý hệ thống máy móc thiết bị hai khu vực, điều hành sản xuất hàng ngày của công
ty Kiểm tra chất lượng sản phẩm hàng hoá trước khi nhập, xuất kho Lập kế hoạch bảo hộlao động, biện pháp an toàn lao động
- Phân xưởng khai thác: Tham mưu cho lao động công ty về công tác khai thác,
bốc xếp các loại quặng secpentin và các loại quặng khác lên phương tiện vận chuyển theođúng kế hoạch Đồng thời quản lý và điều hành mọi hoạt động xã hội, đời sống, sinh hoạttrong phân xưởng, đảm bảo an toàn trong khu vực mỏ và trên địa bàn
Trưởng phòng và các phân xưởng chủ động giải quyết các công việc thuộc chứcnăng, nhiệm vụ của mình Chịu trách nhiệm trước Giám đốc về toàn bộ hoạt động củaphòng, phân xưởng do mình quản lý
Đối với các phòng chuyên môn nghiệp vụ và các phân xưởng thì trưởng phòng,quản đốc phân xưởng chịu trách nhiệm điều hành, quản lý người lao động chấp hành kĩluật lao động và nội quy, quy chế của công ty
- Quan hệ giữa các phòng với phân xưởng:
Các phòng, các phân xưởng phối hợp, hỗ trợ nhau hoàn thành tốt nhiệm vụ.Trường hợp không thống nhất được ý kiến thì phải thông qua Giám đốc để được giảiquyết Công việc nào mà thuộc nhiệm vụ chính của phòng hay phân xưởng nào đó thìphòng, phân xưởng đó phải đứng ra chủ trì, chủ động trong việc lập kế hoạch để phối hợpthực hiện với các phòng, phân xưởng liên quan
Người lao động trong đơn vị chịu sự quản lý điều hành trực tiếp của trưởng phòng,quản đốc phân xưởng Khi có nhu cầu nghỉ từ một ngày trở xuống thì chỉ cần được sự cho
Đại học Kinh tế Huế
Trang 20phép của lãnh đạo phòng, phân xưởng, còn nếu mà nghỉ từ 2 ngày trở lên thì phải được sựđồng ý của lãnh đạo công ty.
Phó phòng, phó quản đốc là người giúp việc cho trưởng phòng, quản đốc thực hiệnnhiệm vụ, thay mặt trưởng phòng, quản đốc giải quyết những công việc được uỷ quyềnkhi cấp trưởng đi vắng
2.1.4 Tình hình hoạt động sản xuất - kinh doanh của công ty qua 3 năm 2009).
(2007-2.1.4.1 Tình hình sử dụng lao động của công ty.
Lao động là một yếu tố cơ bản của quá trình sản xuất kinh doanh, công nghệ sảnxuất dù có hiện đại đi nữa thì cũng cần phải có bàn tay, khối óc của con người thì mớimang lại hiệu quả cao cho sản xuất của doanh nghiệp Vì vậy để đánh giá hiệu quả kinhdoanh của một doanh nghiệp thì cần phải biết được năng lực của doanh nghiệp đó là vềvốn, công nghệ và lao động
Qua bảng số liệu trong 3 năm (2007-2008-2009) ta thấy tổng số lao động của công
ty có xu hướng giảm nhưng với số lượng nhỏ Nguyên nhân là do ngày 16 tháng 11 Năm
2004 thực hiện chủ trương của đảng và nhà nước về cổ phần hoá doanh nghiệp công ty đãchuyển sang công ty cổ phần, với tên gọi là công ty CP Secpentin và phân bón ThanhHoá Yêu cầu đặt ra với các doanh nghiệp đó là giảm ngân sách nhà nước, tạo cho doanhnghiệp có điều kiện kiện toàn lại bộ máy quản lý của công ty một cách tinh gọn nhất màvẫn đảm bảo sản xuất trong công ty và vừa thúc đẩy việc nghiên cứu ứng dụng khoa họccông nghệ vào trong sản xuất, cụ thể đó là: Năm 2007 giảm 7 người so với năm 2008tương ứng với 3,29% Năm 2009 so với năm 2008 cũng giảm 6 người tương ứng với2,91% Số lao động giảm này chủ yếu là giảm trình độ học trung cấp, sơ cấp chuyển lênhọc đại học, cao đẳng: lao động gián tiếp do áp dụng máy móc, thiết bị kỹ thuật vào sảnxuất nên hạn chế được lao động chân tay và tăng lao động trực tiếp do mở rộng thị trườngtiêu thụ
Xét về tính chất lao động: thì ta thấy tổng số lao động giảm cả lao động trực tiếp và
lao động gián tiếp Trong đó số lao động gián tiếp vẫn chiếm phần nhiều do việc mở rộng
Đại học Kinh tế Huế
Trang 21thị trường tiêu thụ đòi hỏi phải sản xuất ngày càng nhiều sản phẩm nên công nhân trựctiếp sản xuất cần nhiều hơn, việc mở rộng thêm các điểm giao dịch sản phẩm của công ty
và tuyển dụng thêm cán bộ thị trường để tiếp thị sản phẩm, giao hàng đến tận nơi chokhách hàng là các đại lý, nhà bán buôn lớn nhưng không đáng kể.Tuy nhiên lao động trựctiếp và lao dộng gián tiếp nói chung trong năm vẫn có xu hướng giảm do việc áp dụngkhoa hoc kĩ thuật công nghệ sản xuất hiên đại đã kéo theo sự tinh giảm bộ máy quản lý,giảm lao động gián tiếp và giảm lao động trực tiếp vì máy móc làm việc là chủ yếu, ngườilao động chỉ tác động, làm những khâu mà máy móc không thể thay thế được bàn tay củacon nguời
Cụ thể đó là: Năm 2008 lao động trực tiếp giảm 5 người so với năm 2007 tươngứng với 2,86% Lao động gián tiếp năm 2008 giảm 2 người so với năm 2007 tương ứngvới 5,26% Lao động trực tiếp năm 2009 giảm 3 người so với năm 2008 tương ứng với1,76% Lao động gián tiếp năm 2009 so với năm 2008 giảm 3 người tương ứng với8,33%
Xét theo trình độ chuyên môn:
Ta thấy trình độ đại học, cao đẳng đang có xu hướng tăng lên nhưng không đáng
kể, trung cấp, sơ cấp có xu hướng giảm Trong đó thì công nhân kỹ thuật, lao động phổthông vẫn chiếm số đông do tính chất, yêu cầu của công việc
Cụ thể đó là: Năm 2008 lao động có trình độ đại học, cao đẳng tăng 2 người tươngứng là 20% so với năm 2007 Năm 2009 lao động có trình độ đại học, cao đẳng tăng 5người tương ứng là 41,67% so với năm 2008 Về trình độ trung cấp, sơ cấp thì ta thấynăm 2008 giảm 4 người so với năm 2007 tương ứng với 14,29% Năm 2009 giảm 8 người
so với năm 2008 tương ứng là 33,33% Về công nhân kỹ thuật, lao động phổ thông thì tathấy năm 2008 giảm 5 người so với năm 2007 tương ứng với 2,86% Năm 2009 giảm 3người so với năm 2008 tương ứng với 1,76%.Nguyên nhân chủ yếu là do việc tinh giảm
bộ máy quản lý, sản xuất của công ty Áp dụng tiến bộ khoa học công nghệ vào sản xuấtgiảm lao động thủ công trực tiếp, nâng cao năng lực chuyên môn của các cán bộ quản lýcủa công ty
Đại học Kinh tế Huế
Trang 22BẢNG 1: TÌNH HÌNH LAO ĐỘNG CỦA CÔNG TY CP SECPENTIN VÀ PHÂN BÓN THANH HOÁ QUA 3
NĂM (2007-2009)
Chỉ tiêu
2007 2008 2009 2008/2007 2009/2008 Số
lượng (người)
%
Số
lượng (người)
%
Số
lượng (người)
Trang 23Tuy nhiên trong những năm qua số lao động cả nam và nữ đều có xu hướng giảmxuống do việc áp dụng tiến bộ kỹ thuật công nghệ vào sản xuất cho ra nhiều sản phẩmhơn, giảm số lao động trong các khâu của quá trình sản xuất đáp ứng nhu cầu của thịtrường Cụ thể đó là: Năm 2008 giảm 5 lao động nam so với năm 2007 tương ứng với2,75% Năm 2009 giảm 2 lao động nam so với năm 2009 tương ứng với 1,13% Còn vềlao động nữ thì năm 2008 giảm 2 người so với năm 2007 tức là giảm 6,45% Năm 2009giảm 4 người so với 2008 tương ứng với 13,79%.
Như vậy, ta có thể thấy rằng trong 3 năm qua từ năm 2007 đến năm 2009 số laođộng trong công ty đã giảm đi một lượng Nguyên nhân chủ yếu là do công ty đáp ứngyêu cầu CP hoá doanh nghiệp nhà nước sang doanh nghiệp tư nhân,buộc phải tinh giảm
bộ máy quản lý, cũng như áp dụng tiến bộ khoa học công nghệ trong sản xuất nhằm nângcao chất lượng, số lượng sản phẩm, sản phẩm đồng đều, mẫu mã đẹp đáp ứng nhu cầu củatrị trường Mặt khác, việc giảm lượng lao động còn giúp cho người lao động có việc làmthường xuyên hơn, thu nhập cao, ổn định hơn, công ty có thể đảm bảo lợi ích của ngườilao động tốt hơn Hiện nay công ty đang phấn đấu 100% cán bộ quản lý có trình độ đạihọc
1.4.2 Tình hình sử dụng vốn của công ty.
Vốn được xem là một trong những nguồn lực quan trọng của công ty Mọi doanhnghiệp muốn hình thành và hoạt động trước hết là phải có vốn Vốn trong sản xuất kinhdoanh không chỉ mình tiền mà còn bao gồm cả giá trị tài sản hữu hình và vô hình Do đótrong hoạt động kinh doanh doanh nghiệp nào mà có nguồn vốn dồi dào thì doanh nghiệp
đó sẽ có nhiều cơ hội thuận lợi trong việc cạnh tranh với các đối thủ khác, cơ hội đầu tưmang lại lợi nhuận cao, khả năng chống chịu với những rủi ro trong kinh doanh lớn Công
ty CP Secpentin và phân bón Thanh Hoá là công ty sản xuất phân bón phục vụ cho sảnxuất nông nghiệp, cây công nghiệp… Do trong sản xuất nông nghiệp là phải theo thời vụ,thường thì người nông dân mua chịu phân bón trong vụ trồng sau một thời gian thu hoạchmới có tiền trả cho người cung cấp các dịch vụ vật tư trong nông nghiệp nên tiền thu bán
Đại học Kinh tế Huế
Trang 24sản phẩm thường rất chậm Đối với cây lúa công ty phải chịu thu tiền chậm từ 3 đến 6tháng Cây mía, dứa, sắn… công ty phải thu chậm trong vòng một năm.
Qua bảng số liệu ta thấy: Nợ phải trả chiếm phần lớn trong tổng số vốn kinhdoanh, chiếm trên 50% tổng số vốn và qua các năm nó có xu hướng tăng lên Cụ thể lànăm 2007 là 53,95% Năm 2008 là 58,05% và năm 2009 là 63,69% Còn nguồn vốn chủ
sở hữu có tăng lên nhưng so với tổng số vốn của từng năm lại có xu hướng giảm Nguyênnhân là do công ty tuy vẫn làm ăn có lãi nhưng hiện nay công ty đang mở rộng thêm thịtrường tiêu thụ, cần phải có vốn lớn để phục vụ cho hoạt động này Mặt khác, sản phẩmphân bón phục vụ cho sản xuất nông nghiệp nên lượng tiền thu chậm nhiều, để cho hoạtđộng sản xuất của công ty được diễn ra liên tục thì công ty phải vay của ngân hàng làmcho khoản nợ phải trả có tỷ lệ tăng so với tổng số vốn
Về tổng tài sản của công ty giảm do tổng nguồn vốn giảm.Tài sản dài hạn chiếm đa
số trong tổng tài sản Trong những năm qua công ty đã không ngừng đầu tư trang bị máymóc hiện đại phục vụ cho sản xuất phân bón NPK, làm cho tài sản dài hạn có xu hướngtăng qua các năm Cụ thể là năm 2007 tài sản dài hạn là 76,8%, năm 2008 là 80,67% vànăm 2009 là 82,46%
2.1.4.3 Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty qua 3 năm (2007-2009)
Qua bảng số liệu ở bảng 4 ta thấy doanh thu bán hàng của công ty luôn tăng quacác năm Năm 2007 doanh thu là 36.978 tr.đ Năm 2008 là 42.083 tr.đ tăng 5.105 tr.đtương đương với 13,81% Năm 2009 doanh thu của công ty là 50.246,7 tr.đ tăng lên sovới năm 2008 là 8.163,7 tr.đ tương ứng với 19,4% Qua đây ta có thể thấy rằng sản phẩmcủa công ty ngày càng được khách hàng tin dùng nhiều hơn Trong đó phân NPK cũngtăng mạnh qua các năm Năm 2008/2007 tăng 1.225 tr.đ tương ứng với 7,71% Năm2009/2008 tăng 2.954,54 tr.đ tương ứng với 17,27%
Về các khoản giảm trừ như: hàng bán bị trả lại, giảm giá hàng bán, chiết khấuthương mại tăng theo xu hướng giảm dần Năm 2008/2007 khoản giảm trừ tăng 237 tr.đtương ứng với 45,23% Năm 2009/2008 tăng 334 tr.đ tương ứng với 43,89% Về chi phílưu thông, năm 2008/2007 tăng 106 tr.đ tương ứng với 7,48%
Đại học Kinh tế Huế
Trang 25BẢNG 2: TÌNH HÌNH VỀ TÀI SẢN VÀ NGUỒN VỐN SẢN XUẤT CỦA CÔNG TY QUA 3 NĂM (2007-2009)
Báo cáo phòng kinh tế - công ty CP Secpentin và phân bón Thanh Hoá
Đại học Kinh tế Huế
Trang 26BẢNG 3: KẾT QUẢ HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT KINH DOANH CỦA CÔNG TY QUA 3 NĂM 2007-2009
Báo cáo của phòng kinh tế - công ty CP Secpentin và phân bón Thanh HoáĐại học Kinh tế Huế
Trang 27Năm 2009/2008 tăng 582,63 tr.đ tương ứng với 38,26% Chi phí lưu thông hànghoá có xu hướng tăng qua các năm là do sản phẩm của công ty tiêu thụ được với số lượngngày càng nhiều, thị trường ngày càng mở rộng nên chi phí lưu thông tăng.
Giá vốn hàng bán tăng nhẹ qua các năm Năm 2008/2007 tăng 4.499 tr.đ tươngứng với 13,61% Năm 2009/2008 tăng 6.343,07 tr.đ tương ứng với 16,89%
Lợi nhuận trước thuế có xu hướng tăng mạnh qua các năm Cụ thể đó là năm2008/2007 tăng 263 tr.đ tương ứng với 13,22%, Năm 2009/2008 tăng 904 tr.đ tương ứngvới 40,14% Trong đó NPK năm 2008/2007 tăng 241 tr.đ tương ứng với 31,75% Năm2009/2008 tăng 637,03 tr.đ tương ứng với 63,81%
2.2 Môi trường kinh doanh của công ty
2.2.1 Môi trường vĩ mô
- Môi trường kinh tế:
Trong những năm gần đây nền kinh tế thế giới chịu ảnh hưởng bởi cuộc khủnghoảng kinh tế toàn cầu và Việt Nam cũng không tránh khỏi việc bị ảnh hưởng Cuộckhủng hoảng này làm giá cả xăng, dầu tăng sau đó là hàng loạt các sản phẩm khác cũngtăng theo gây ảnh hưởng rất nhiều đến đời sống của người dân Tuy vậy Việt Nam cũngkhông ngừng cố gắng nỗ lực đưa đất nước thoát khỏi cuộc khủng hoảng này Việc ViệtNam gia nhập WTO đã tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp tự mình cố gắngvươn lên, đổi mới công nghệ, nâng cao chất lượng sản phẩm, tìm kiếm được nhiều đối táclàm ăn nhưng bên cạnh đó cũng không ít khó khăn mà doanh nghiệp gặp phải như nguồnvốn đầu tư trang thiết bị, trình độ quản lý…
- Môi trường công nghệ:
Sự phát triển nhanh chóng của khoa học công nghệ đã kéo theo sự ra đời liên tụccủa các sản phẩm mới nhằm đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng Thị trường phân bónhiện nay cũng đang là vấn đề được quan tâm Để đáp ứng nhu cầu người tiêu dùng cácdoanh nghiệp sản xuất phân bón cũng không ngừng cải tiến công nghệ sản xuất để đưa rađược sản phẩm có chất lượng tốt đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng Đứng trước tháchthức đấy nên hiện nay công ty cổ phần Secpentin và phân bón Thanh Hoá cũng đang từng
Đại học Kinh tế Huế
Trang 28bước đổi mới công nghệ sản xuất để có những sản phẩm tốt đáp ứng nhu cầu thị trường.Hiện nay công ty đang nghiên cứu sản phẩm NPK có hàm lượng cao, các sản phẩm phân
vi sinh dùng cho sản xuất rau sạch…
- Môi trường tự nhiên:
Với vị trí địa lý thuận lợi: Công ty nằm cạnh quốc lộ 45 và ga Yên Thái thuận lợicho việc giao dịch và vận chuyển hàng hoá Công ty có diện tích trên 165 ha Khu vựcmỏ: Khai thác quặng Secpentin rộng hơn 150 ha xung quanh là đồi núi, ít dân cư phù hợpcho việc khai thác quặng và xử lý môi trường, rác thải
Khu vực Yên Thái nơi đặt trụ sở công ty gần ga Yên Thái và quốc lộ 45 với diệntích trên 15 ha cũng là một vị trí lý tưởng cho việc giao dịch và sản xuất phân bón NPK,việc xây dựng nhà xưởng, hệ thống cấp thoát nước cũng được đảm bảo
- Môi trường văn hoá – xã hội:
Là một doanh nghiệp 100% vốn tư nhân, bên cạnh việc sản xuất kinh doanh làmsao để đạt được lợi nhuận cao thì doanh nghiệp cũng rất quan tâm đến lợi ích của ngườilao động cũng như công đồng Ví dụ như: tham gia công tác từ thiện: phụng dưỡng mẹViệt Nam anh hùng, xây dựng nhà tình nghĩa, ủng hộ người nghèo… , đưa ra các tiêu chívăn hoá doanh nghiệp cho người lao động học tập và thực hiện Bên cạnh đó Giám đốccông ty còn phối hợp với Công Đoàn xây dựng quy chế dân chủ trong doanh nghiệp.Công ty cũng đã xây dựng mối quan hệ tốt với lãnh đậo địa phương và người dân đóngtrên địa bàn
- Môi trường chính trị - pháp luật:
Doanh nghiệp luôn giữ mối quan hệ tốt với các tổ chức chính trị xã hội từ địaphương đến trung ương, thực hiện tốt nghĩa vụ đối với nhà nước Là đơn vị sản xuất phânbón và nguyên liệu để sản xuất phân bón nhưng công ty vẫn chấp hành nghiêm chỉnh về
vệ sinh môi trường, chất lượng sản phẩm và không gây ô nhiễm tiếng ồn cho người dânsông xung quanh, chấp hành các quy định mà nhà nước ban hành
Trong thực tế hiện nay vẫn xuất hiện việc một số người dân tự tổ chức khai thácquặng thủ công để bán làm vật liệu xây dựng, bán cho các doanh nghiệp sản xuất phân
Đại học Kinh tế Huế
Trang 29bón với giá rẻ gây ra sự thất thoát về nguồn tài nguyên và các khoản thu của nhà nước.Bên cạnh đó việc khai thác bừa bãi không có quy hoạch đó còn gây ra ô nhiễm môitrường nghiêm trọng và quan trọng hơn nữa là làm lãng phí nguồn tài nguyên quý gía củaquốc gia Việc giá phân bón tăng cao cũng kéo theo sự xuất hiện của việc sản xuất phânbón giả không đảm bảo chất lượng gây thiệt hại cho người tiêu dùng Vì vậy, nhà nướccũng càn phải có những biện pháp mạnh, xử lý nghiêm khắc với những trường hợp viphạm này, nhằm răn đe những kẻ khác vì lợi ích cá nhân mà quên đi lợi ích của xã hội.
- Môi trường quốc tế:
Là doanh nghiệp với quy mô vừa và nhỏ nên sản phẩm của công ty hầu như chỉphục vụ trong địa bàn toàn tỉnh và cung cấp nguyên liệu cho các doanh nghiệp sản xuấtphân bón ở các tỉnh lân cận Việc giá xăng dầu thế giới tăng kéo theo là sự tăng giá củacác mặt hàng của công ty trong khi người tiêu dùng trong nước lại chưa chuẩn bị để đónnhận việc này vì vậy nó cũng ảnh hưởng đến việc tiêu thụ sản phẩm của công ty
2.2.2 Môi trường vi mô
- Đối thủ cạnh tranh:
Hiện nay thị trường phân bón của cả nước nói chung và thị trường phân bón củatỉnh Thanh Hoá nói riêng, đang diễn biến rất phức tạp Có rất nhiều doanh nghiệp sản xuấtphân bón của cả nhà nước và tư nhân Nhiều doanh nghiệp làm ăn chân chính đang gặpkhó khăn vì một số doanh nghiệp sản xuất phân bón kém chất lượng với giá cả bán ra rấtthấp đang thu hút người dân bởi vì hiện nay nhận thức của người dân về các sản phẩmđảm bảo chất lượng đang còn rất hạn chế, biện pháp quản lý của nhà nước chưa có hiệuquả cao
Đối với sản phẩm quặng Secpentin, trước đây gần như không có đối thủ cạnh tranhnhưng hiện nay đã xuất hiện nhiều tổ chức, cá nhân đang tham gia trong lĩnh vực này.Bên cạnh đó là sự quản lý tài nguyên của nhà nước chưa chặt chẽ nên một số tư nhân đã
tổ chức khai thác tự do không thực hiện nghĩa vụ đối với ngân sách nhà nước nên giá cảrất thấp tạo nên sự cạnh tranh không lành mạnh gây áp lực với công ty
- Nhà cung cấp:
Đại học Kinh tế Huế
Trang 30Với giá cả biến động liên tục như hiện nay thì tất cả các nhà cung cấp đều bánhàng với hình thức thanh toán ngay, thậm chí có nhà cung cấp còn yêu cầu khách hàngđặt tiền trước khi nhận hàng Vì vậy, đòi hỏi công ty phải chủ động về tiền để cho việccung ứng vật tư cho sản xuất không bị gián đoạn.
- Mặt hàng kinh doanh của công ty và quy trình công nghệ sản xuất phân NPK:
Sơ đồ 3: Quy trình công nghệ sản xuất phân bón NPK
Hiện nay công ty sản xuất các loại phân bón sau:
TT Tên sản phẩm Chủ yếu bón cho cây trồng
Urê
Lân nungchảy
Kaliclorua
LânSupe
Máy vê viên
Gia công
phế phẩm
Sàng,kiểm tramẫu
Đóng baosản phẩm
Nhập kho
Đại học Kinh tế Huế
Trang 31Công ty CP Secpentin và phân bón Thanh Hoá là công ty với 100% vốn của tưnhân nên ngoài việc sản xuất kinh doanh phân bón, quặng Secpentin, bột Secpentin racông ty còn kinh doanh xăng dầu.
Về quy trình sản xuất phân NPK: Nguyên liệu sản xuất phân bón NPK gồm: lânnung chảy, đạm Urê, lân supe, kali clorua, các chất phụ gia sau đó đưa vào máy vê viêntheo một tỷ lệ nhất định Sau khi được vê viên sẽ được đưa xuống sàng và kiểm tra mẫu.Những mẫu đạt tiêu chuẩn sẽ được chuyển sang bộ phận đóng bao, sau đó nhập kho, cònlượng NPK chưa đạt tiêu chuẩn sẽ được chuyển sang để gia công phế phẩm và quay lạiquy trình sản xuất ban đầu
- Khách hàng:
Đối với các doanh nghiệp sản xuất phân bón yêu cầu về chất lượng sản phẩmquặng là rất nghiêm ngặt nên công ty hết sức coi trọng việc kiểm tra chất lượng sản phẩmtrước khi giao cho khách hàng Về phương thức thanh toán thì đối với một số doanhnghiệp, đại lý công ty vẫn còn đang bị chiếm dụng vốn Hiện nay giá phân bón tăng caotrong khi đó giá nông sản lại thấp nên người nông dân ít đầu tư hoặc không đầu tư phânbón cho cây trồng, điều này đã gây ảnh hưởng lớn đến việc tiêu thụ sản phẩm phân bóncủa công ty
2.3 Phân tích tình hình tiêu thụ phân bón NPK tại công ty CP Secpentin và phân bón Thanh Hoá.
2.3.1 Chính sách sản phẩm.
2.3.1.1 Khối lượng tiêu thụ của phân NPK qua các năm.
Mặc dù hiện nay có nhiều doanh nghiệp, công ty tham gia vào lĩnh vực sản xuấtphân bón phục vụ cho sản xuất nông nghiệp Nhưng ta thấy trong những năm gần đâynước ta vẫn phải nhập khẩu phân bón với một lượng lớn để đáp ứng đủ nhu cầu của ngườidân “ tháng 9/09 nhập khẩu phân bón của Việt Nam tăng 36,82% so với tháng 8 và tăngtới 3,8 lần so với tháng 9/2008, đạt 513,6 ngàn tấn với trị giá trên 134 triệu USD, nguyênnhân khiến lượng phân bón nhập về tăng là do tác động từ thông tin bãi bỏ quota xuất
Đại học Kinh tế Huế
Trang 32khẩu phân bón, nên các doanh nghiệp tranh thủ lúc giá đứng ở mức thấp, nhập khẩu vềvới khối lượng lớn để chờ cơ hội tái xuất Tính chung 9 tháng đầu năm 2009, nhập khẩuphân bón của cả nước đã lên đến 3,36 triệu tấn với trị giá 1 tỷ USD, so với cùng kỳ nămngoái mặc dù tăng mạnh 27,46% về lượng song do giá nhập khẩu luôn duy trì ở mức thấpnên về trị giá giảm 18,05%”.[8]
“Theo nguồn thông tin Thương mại Việt Nam cho thấy, năm 2009, nhu cầu phânbón nhìn chung không biến động nhiều so với năm 2008, dự kiến nhu cầu phân bón chonông nghiệp sẽ vào khoảng 8 đến 8,5 triệu tấn phân bón các loại Trong đó, Urê cầnkhoảng 1,7 triệu tấn; NPK cần 2,5 – 3 triệu tấn; phân lân 1,7 triệu tấn; Kali 800 ngàn tấn;DAP cần 750 ngàn tấn và phân bón SA cần 750 ngàn tấn Theo dự kiến sản xuất trongnước năm 2009, Urê khoảng 950 ngàn tấn, còn lại nhập khẩu 750 ngàn tấn Phân bónDAP dự kiến sản xuất được 150 - 160 ngàn tấn từ dự án DAP Hải Phòng còn lại phảinhập khẩu khoảng 600 - 650 ngàn tấn Về phân chứa lân (supe lân, lân nung chảy) vàphân hỗn hợp NPK, trong nước có khả năng sản xuất đáp ứng cơ bản nhu cầu (dự kiến 1,6triệu tấn NPK) Phân bón SA và Kali phải nhập khẩu hoàn toàn”[8].Chính những diễnbiến phức tạp trên thị trường như vậy nên nó cũng ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh
và khối lượng tiêu thụ của các công ty trong nước nói chung và đối với công ty CPSecpentin nói riêng
Trong những năm qua sản phẩm phân NPK của công ty tiêu thụ ngày càng đượcnhiều hơn Năm 2008/2007 tăng 225 tấn tương ứng với 3,52% Năm 2009/2008 tăng 580tấn tương ứng với 8,76% Như vậy ta có thể thấy rằng sản lượng phân bón của công tyqua các năm tiêu thụ cứ năm nay nhiều hơn so với năm trước Sở dĩ có sự tăng lên nhưvậy là do công ty đã không ngừng nghiên cứu, tìm ra những công thức phân tổng hợp phùhợp với từng đối tượng cây trồng, tạo ra sự đa dạng sản phẩm như: NPK 5.10.3 dùng bóncho lúa; NPK 5.8.5 dùng bón cho cây mía; NPK 3.9.6 bón cho lạc, đậu, ngô… NPK là sảnphẩm do công ty tự sản xuất ra, về nguyên vật liệu thì công ty cũng phải nhập một số loạinhư: phân đạm, phân lân, phân kali… nên giá cả cũng có ảnh hưởng bởi giá cả của các
Đại học Kinh tế Huế
Trang 33BẢNG 4: KHỐI LƯỢNG TIÊU THỤ PHÂN BÓN NPK QUA CÁC NĂM Sản phẩm
2007 2008 2009 2008/2007 2009/2008
SL (tấn) % SL (tấn) % SL (tấn) % % % NPK 5.10.3 1.308 20,45 1.349 20,37 1.370 19,03 41 3,13 21,10 1,56
Trang 34Biểu đồ 1: Tình hình tiêu thụ phân NPK qua các
năm
0 500 1.000
2007 SL (tấn) 2008 SL (tấn) 2009 SL (tấn)
nguyên liệu trên Thị trường phân bón trong tỉnh hiện nay đang trong tình trạng cạnhtranh rất khốc liệt bởi: số lượng doanh nghiệp sản xuất phân bón trong tỉnh không ngừngtăng lên cả về số lượng và quy mô sản xuất; phân bón ngoài tỉnh cũng đã bắt đầu có xuhướng xâm nhập vào thị trường trong tỉnh Sản phẩm NPK tuy tăng trưởng không đáng kểsong cũng không thể phủ nhận sự nổ lực cố gắng tìm kiếm thị trường, phát triển thịtrường tiêu thụ của đội ngũ cán bộ thị trường cũng như người lao động trong công ty và
sự quan tâm đúng mực của ban lãnh đạo
2.3.1.2 Tình hình tiêu thụ phân NPK qua các tháng
NPK là loại phân được sản xuất bao gồm nhiều nguyên tố dinh dưỡng Phân NPK
là loại phân tổng hợp có các tỷ lệ N, P, K ở các tổ hợp khác nhau được lựa chọn cho phùhợp với từng loại đất và từng nhóm cây trồng Vì vậy, muốn sử dụng đạt hiệu quả tốt nhấtloại phân này thì cần phải nắm được đầy đủ và cụ thể đặc điểm của cây và tính chất củađất Trên cơ sở các kết quả nghiên cứu khoa học, hiện nay các xí nghiệp sản xuất phân
Đại học Kinh tế Huế
Trang 35bón đã sản xuất ra nhiều loại phân tổng hợp chuyên dùng cho từng loại cây cụ thể nhưlúa, ngô, lạc, đậu, mía, khoai, sắn…
Tùy theo yêu cầu của cây và đặc tính của đất mà bà con nông dân có thể mua loạiphân thích hợp để bón cho cây trồng Cụ thể đó là phân NPK 5.10.3 dùng để bón cho câylúa với tỷ lệ 5% đạm hữu hiệu (có ích cho cây trồng), 10% lân hữu hiệu và 3% kali hữuhiệu Phân NPK 5.8.5 dùng để bón cho cây mía với 5% đạm hữu hiệu, 8% lân hữu hiệu,5% kali hữu hiệu NPK 3.9.6 dùng bón cho cây lạc, đậu, ngô với 3% đạm hữu hiệu, 9%lân hữu hiệu, 6% kali hữu hiệu NPK 6.4.8 dùng bón cho cây sắn, khoai với 6% đạm hữuhiệu, 4% lân hữu hiệu, 8% kali hữu hiệu NPK 10.10.5 dùng bón thúc cho các loại câytrồng với tỷ lệ 10% đạm hữu hiệu, 10% lân hữư hiệu, 5% kali hữư hiệu NPK 15.5.15dùng để bón thúc cho các loại cây với 15% đạm hữu hiệu, 5% lân hữu hiệu, 15% kali hữu
Biểu đồ 2: Tình hình tiêu thụ NPK qua các tháng
hiệu Những loại như rau ăn lá thì cần loại phân có tỷ lệ đạm cao Đối với những loại cây
ăn quả thì cần bón nhiều đạm để kích thích sự phát triển của cây cho cây tốt và bón nhiềukali cho quả ngọt Còn đối với loại cây ăn củ thì cần bón những loại phân có tỷ lệ đạm vàkali để củ to, đẩy đà Đối với các loại cây công nghiệp dài ngày thì tuỳ theo từng giaiđoạn mà bón loại phân khác nhau Trong thời kỳ kiến thiết cơ bản thì cây cần sinh trưởng
và phát triển như vậy thì cần bón những loại phân có tỷ lệ đạm và lân cao để phát triển lá,thân cây Thời kỳ kinh doanh thì cần bón những loại có nhiều đạm và kali để phát triển lá
Đại học Kinh tế Huế
Trang 36và bộ rể khoẻ mạnh để nuôi dưỡng cây.
Qua bảng số liệu trên ta thấy tháng 1 có chỉ số mùa vụ cao nhất bởi tháng nàyngười nông dân mua phân để bón cho cây lúa và cây mía Tiếp đó là tháng 5 cũng bóncho cây lúa, cây sắn và tháng 2, tháng 3 là được sử dụng để bón cho cây lúa, mía và sắn.Còn tháng 8, tháng 9 và tháng 10 chỉ có một số nơi trồng vụ đông mà chủ yếu là trồngngô đông nên lượng tiêu thụ phân NPK rất ít
Lượng tiêu thụ phân qua các năm có tăng lên nhưng số lượng tăng không đáng kể.Nguyên nhân một phần cũng là do diện tích đất canh tác ngày càng bị lấn chiếm để xâydựng nhà ở và các khu dịch vụ, giải trí, mặt khác cũng có rất nhiều các nhà máy, công tytham gia vào sản xuất phân bón nên lượng tiêu thụ không tăng mạnh
2.3.2 Chính sách giá cả
2.3.2.1 Phương pháp xác định giá
Đối với một doanh nghiệp hoạt động trong nền kinh tế thị trường thì giá cả là mộtyếu tố cơ bản, là công cụ cạnh tranh đắc lực mà nhiều công ty sử dụng nhằm lôi kéokhách hàng và đạt được mục tiêu lợi nhuận của mình Do đó, trước khi tung sản phẩm rathị trường thì thì một trong những yêu cầu của doanh nghiệp là phải xây dựng cho mìnhmột chính sách giá cả phù hợp với mục tiêu, chiến lược chung của toàn doanh nghiệp
Công ty CP Secpentin và phân bón Thanh Hoá cũng góp phần trong việc điều tiếtgiá cả phân bón trên thị trường toàn tỉnh, công ty thực hiện chính sách giá linh hoạt, mềmdẻo, một mặt đảm bảo được việc tiêu thụ hàng, mặt khác vẫn giữ được mặt bằng giáchung theo quy định của nhà nước, linh hoạt theo sự biến động giá trên thị trường
Hiện nay công ty đang áp dụng 3 khung giá khác nhau, giá bán buôn đối với cácđại lý, giá bán lẻ và giá hợp đồng Thông thường giá bán lẻ cao hơn 5% để đảm bảoquyền lợi cho người bán buôn, còn giá mua hợp đồng là đơn giá cố định lâu dài do 2 bênthoả thuận kèm theo việc thực hiện trách nhiệm giữa 2 bên
Chính sách giá của công ty có sự khác nhau giữa nguồn hàng làm đại lý và nguồnhàng tự khai thác:
Đại học Kinh tế Huế
Trang 37BẢNG 5: TÌNH HÌNH TIÊU THỤ PHÂN NPK QUA CÁC THÁNG
Báo cáo phòng kinh tế - Công ty CP Secpentin và phân bón Thanh Hóa
- Đối với nguồn hàng công ty nhận làm đại lý như các loại phân đơn: đạm,lân, kali của công ty Tiến Nông Thanh Hoá, lân Lâm Thao, lân Ninh Bình Giá bán đượcxác định như sau:
Giá bán = Giá quy định của nhà cung cấp + chi phí lưu thông
Giá bán của các loại phân bón này chủ yếu phụ thuộc vào các nhà cung cấp.Hiệuquả kinh doanh phụ thuộc vào các nhà cung cấp do họ quy định chiết khấu cho công ty.Vìthế, để nâng cao được lợi nhuận thì công ty phải bán được nhiều hàng để nâng cao mứcchiết khấu được hưởng và giảm bớt những khoản chi phí lưu thông hàng hoá
- Đối với những mặt hàng do công ty mua thẳng từ nhiều nguồn đượcđưa vào sản xuất, kinh doanh thì giá bán sẽ được tính:
Giá bán giá vốn + chi phí lưu thông + thuế
Ngoài ra, giá bán còn phụ thuộc vào nhiều nhân tố khác như nhu cầu thị trường củamặt hàng đó, giá của đối thủ cạnh tranh đưa ra hay những chi phí khác cũng ảnh hưởng
Đại học Kinh tế Huế
Trang 38đến giá bán của công ty Để có thể đặt ra một mức giá có khả năng cạnh tranh cao, trongthời gian qua công ty cũng đã thực hiện một số giải pháp: Tính toán và tiết kiệm nhữngchi phí cấu thành nên giá bán như tiết kiệm chi phí lưu thông, giảm bớt các khâu vậnchuyển trung gian không cần thiết, tránh vận chuyển đường dài với lượng hàng nhỏ, tìmhiểu và lựa chọn nhà cung cấp với giá thành có chính sách ưu đãi cao, tạo lập mối quan hệbạn hàng có uy tín lâu dài… để có thể giảm được chi phí lưu thông, giá của nhà cung cấpquy định Còn đối với các mặt hàng công ty tự sản xuất thì công ty chủ trương giảm chiphí nguyên liệu, sử dụng nguyên liệu quặng Secpentin mà công ty khai thác ở mỏ nằmtrên địa bàn xã Tế Lợi - huyện Nông Cống phần nào giảm bớt được chi phí lưu thông nhưcác chi phí hao hụt trong khâu dự trữ Công ty có thể tận dụng nguồn năng lượng mặt trời
để phơi khô trước khi đóng bao thành phẩm Việc giảm được các chi phí sản xuất như thếcủa công ty đã làm cho giá bán của sản phẩm không cao mà vẫn đảm bảo mang lại lợinhuận cho công ty và thu hút được khách hàng nhờ giá bán vừa phải mà chất lượng phânbón tốt, đảm bảo chất lượng
2.3.2.2 Tình hình giá cả tiêu thụ của công ty
Giá là một trong những nhân tố quyết định đến lợi nhuận của công ty, phải xácđịnh giá bán như thế nào để vừa đảm bảo được lợi nhuận cho công ty, vừa phải đượckhách hàng chấp nhận và tiêu thụ Trong những năm vừa qua do ảnh hưởng của giá cảphân bón thế giới nên giá cả phân NPK của công ty cũng có sự biến động
Qua bảng giá ta thấy các loại phân NPK đều tăng giá nhưng tăng ở mức độ rất nhẹ
Có sự tăng giá một phần cũng là do nguyên liệu sản xuất NPK như đạm, lân, kali tăng giá,hơn nữa xăng dầu hiện nay cũng tăng giá so với trước nên chi phí vận chuyển, dầu máy sửdụng trong sản xuất cũng tăng… Tuy nhiên thị trường vẫn chấp nhận được nên không ảnhhưởng gì đến hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty Phân NPK là do công ty tự sảnxuất nên công ty có thể điều chỉnh được giá và đủ khả năng cạnh tranh trên thị trường,hơn nữa quặng Secpentin sử dụng để sản xuất phân bón thì công ty không những có đủ đểdùng cho sản xuất mà còn bán cho các công ty sản xuất phân bón khác như công ty phânlân nung chảy Văn điển, công ty CP phân lân Ninh Bình, Nhà máy Supe phốt phát Long
Đại học Kinh tế Huế
Trang 39Thành Đây đúng là điều kiện thuận lợi cho công ty trong việc giảm chi phí sản xuất mộtcách thấp nhất so với các công ty
BẢNG 6: GIÁ PHÂN NPK BÁN RA CỦA CÔNG TY QUA 3 NĂM
Báo cáo phòng kinh tế - công ty CP Secpentin và phân bón Thanh Hoá
khác, đảm bảo được giá bán phù hợp, tránh được trường hợp các công ty khác đưa ra giábán cạnh tranh hơn
2.3.2.3 Doanh thu tiêu thụ của phân NPK qua các năm
Doanh thu là chỉ tiêu cần thiết để đánh giá hoạt động kinh doanh của công ty Mọihoạt động sản xuất kinh doanh của công ty đều nhằm mục đích cuối cùng là tối ưu hoá lợinhuận và tối thiểu hoá chi phí Doanh thu của công ty được thể hiện bằng số tiền thu được
từ việc bán sản phẩm Để hiểu rõ thêm về tình hình tiêu thụ phân NPK ta tiến hành phântích sự biến động của nhân tố giá cả, khối lượng ảnh hưởng như thế nào đến doanh thutiêu thụ:
Năm 2007 doanh thu đạt được là : 15.887,58 triệu đồng
Năm 2008 doanh thu đạt được là: 17.112,59 triệu đồng
Đại học Kinh tế Huế
Trang 40Năm 2009 doanh thu đạt được là: 20.067,13 triệu đồng
Qua đây ta có thể thấy rằng năm 2008/2007 doanh thu tăng là 1.225,01 tr.đ tươngứng với 7,71% Năm 2009/2008 doanh thu tăng 2954,54 tr.đ tương ứng với 17,27% Đểthấy rõ được sự biến động của doanh thu qua các năm ta sử dụng phương pháp chỉ số đểphân tích sự ảnh hưởng của giá bán và khối lượng sản phẩm đến doanh thu như thế nào
2.3.2.3.1.Phân tích sự biến động của doanh thu năm 2008/2007
- Chỉ số doanh thu:
1 1
Q P
Q P
1 1
Q P
Q P
1 0
Q P
Q P
58,15887
59,17112
=
20,16451
59,17112
*
58,15887
20,16451
0 0
0 R
)()
(
Q P
Q Q
P
P Q
P
I T TR
58,15887
62,56358
,15887
39,66158
,15887
01,1225
I T
I TR 0,077 = 0,0416 + 0,0355
Kết luận: Biến động tuyệt đối của tổng doanh thu tiêu thụ phân NPK năm
2008/2007 là 1.225,01 tr.đ tương ứng với 7,7% là do ảnh hưởng của 2 nhân tố:
Đại học Kinh tế Huế