CHUYÊN ĐỀ T Ố T NGHI Ệ P THỰC TRẠNG VỀ LAO ĐỘNG VÀ VIỆC LÀM CỦA NGƯỜI DÂN VẠN ĐÒ SAU KHI ĐỊNH CƯ TRÊN BỜ Ở BÃI DÂU – PHƯỜNG PHÚ HẬU – THÀNH PHỐ HUẾ HU Ế,THÁNG 5/2011 Đại học Kinh tế Huế.
Trang 1ĐẠI HỌC HUẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ KHOA KINH TẾ & PHÁT TRIỂN
CHUYÊN ĐỀ T Ố T NGHI Ệ P
THỰC TRẠNG VỀ LAO ĐỘNG VÀ VIỆC LÀM CỦA NGƯỜI DÂN VẠN ĐÒ SAU KHI ĐỊNH CƯ TRÊN BỜ Ở BÃI DÂU –
PHƯỜNG PHÚ HẬU – THÀNH PHỐ HUẾ
HU Ế,THÁNG 5/2011
Đại học Kinh tế Huế
Trang 2ĐẠI HỌC HUẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ KHOA KINH TẾ & PHÁT TRIỂN
Trang 3Lời cám ơn
đã được hoàn thành Đây là kết quả của quá trình học
tập tại trường Đại học Kinh tế - Đại học Huế và quá
Tôi xin chân thành cám ơn quý thầy cô giáo khoa
Đại học Kinh tế Huế đã trang bị cho tôi những kiến thức
cần thiết trong quá trình học tập tại trường Đặc biệt
Đồng thời tôi cũng xin chân thành cám ơn các cô
phương
Mặc dù đã có nhiều cố gắng song do thời gian thực
tập cũng như kiến thức, năng lực còn hạn chế nên đề tài
chắc chắn không tránh khỏi những thiếu sót Vì vậy,tôi
và bạn đọc để đề tài của tôi được hoàn thiện hơn
Tôi xin chân thành cám ơn
Huế, tháng 5 năm 2011 Svth: Phạm Thị Cúc
Đại học Kinh tế Huế
Trang 4DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
CĐ,ĐH: Cao đẳng, đại họcDSGĐ & TE: Dân số gia đình và trẻ emĐKTN: Điều kiện tự nhiên
KTXH: Kinh tế xã hộiKHHGĐ: Kế hoạch hóa gia đìnhKĐC: Khu định cư
TW: Trung ươngUBND: Uỷ ban nhân dânTHCS: Trung học cơ sởTHPT: Phổ thông trung họcXĐGN: Xóa đói giảm nghèo
LĐ & TBXH: Lao động và thương binh xã hội
Đại học Kinh tế Huế
Trang 5DANH MỤC CÁC BIỂU BẢNG, BIỂU ĐỒ
Bảng 6: Cơ cấu lực lượng lao động theo giới tính
Bảng 7: Thực trạng về nhân khẩu và lao động
Bảng 8: Tình hình lao động của mẫu điều tra
Bảng 9: Số hộ chia theo số người trong hộ
Bảng 10 : Cơ cấu việc làm của cư dân tái định cư Bãi Dâu
Bảng 11 : Cơ cấu lực lượng lao động thất nghiệp của các khu tái định cư năm2010
Bảng 12: Cơ cấu ngành nghề và thu nhập bình quân theo ngành nghề
Bảng 13: Tình hình thu nhập và chi tiêu của các hộ dân được điều tra
Bảng 14: Thực trạng về trình độ học vấn
Bảng 15: Thực trạng về trình độ học vấn của các chủ hộ
Bảng 16 : Sự phân hóa các mức thu nhập của cư dân tái định cư
Bảng 17: Tình hình vay mượn của các khu tái định cư
B DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Hình 1: Cơ cấu dân số theo tuổi và giới ở khu tái định cư Bãi Dâu năm 2010
Đại học Kinh tế Huế
Trang 6PHẦN 1
ĐẶT VẤN ĐỀ
1 Tính cấp thiết của đề tài
Nhân loại đã và đang chuẩn bị hành trang để bước vào những thập niên đầucủa thế kỷ XXI với những thành công to lớn và những thành tựu vượt bậc Cùngvới những thành tựu to lớn đó, lại nổi lên những vấn đề đáng quan tâm lo ngại,ngoài chất lượng môi trường sống đang bị suy giảm thì môi trường xã hội cũng đã
và đang xuất hiện nhiều vấn đề gay gắt, đặc biệt là vấn đề lao động và tình trạngthiếu việc làm của người dân nói chung vẫn còn gặp nhiều khó khăn, bởi lẽ tìnhtrạng thất nghiệp, dẫn đến đời sống không ổn định, bấp bênh không rơi vào ai khácngoài những người nghèo nhất và cùng cực nhất của xã hội
Cố đô Huế cũng không tránh khỏi tình trạng nói trên, mặc dù trong vòng 15năm trở lại đây chính quyền các cấp đã không ngừng quan tâm giải quyết nơi ănchốn ở và giải quyết việc làm… cho toàn bộ dân nghèo thành phố nói chung vàdân cư vạn đò nói riêng Đến nay, thành phố Huế đã thực hiện nhiều dự án định cưdành cho người dân vạn đò và đã đạt được những kết quả nhất định.Ngoài các khuđịnh cư phân tán như Vĩ Dạ, Phú Bình, Phú Hậu …, từ 1992 đến nay thành phốHuế đã xây dựng được một số khu tái định cư tập trung như khu tái định cư PhướcVĩnh (Trường An cũ), Kim Long và đã di dời được nhiều cụm cư dân vạn đò trênđịa bàn thành phố đến đây sinh sống
Tuy nhiên, đã từ lâu các khu tái định cư luôn nhức nhối tình trạng thấtnghiệp của cư dân sau khi lên bờ Hỗ trợ xây nhà cho họ ở nhưng lại không triểnkhai đào tạo việc làm Và Bãi Dâu cũng là một trong những khu tái định cư đượcthành phố Huế quan tâm và đầu tư cho người dân vạn đòđịnh cư và cải thiện đờisống Tuy nhiên, chất lượng cuộc sống của cộng đồng cư dân tái định cư sau khiđịnh cư lên bờ này đang gặp nhiều vấn đề gay gắt và phức tạp bởi lẽ tình trạng thấtnghiệp hay công việc chưa ổn định với mức thu nhập thấp do phần lớn đa số ngườidân đến nơi ở mới đều gặp khó khăn trong việc kiếm kế sinh nhai, điều kiện sinhhoạt thiếu thốn, con cái đông đúc… đã khiến họ khó có thể hòa nhập vào cuộc
Đại học Kinh tế Huế
Trang 7Từ những ý tưởng, những tồn tại nói trên và với mong muốn được gópphần vào việc sử dung hợp lý, giảm thiểu tỷ lệ thất nghiệp, đã thôi thúc tôi chọn
đề tài :" Th ực trạng về lao động và việc làm của người dân vạn đò Bãi Dâu sau khi định cư lên bờ ở phường Phú Hậu, thành phố Huế".
2.Mục tiêu của đề tài
Nghiên cứu thực trạng về lao động và việc làm của người dân vạn đò BãiDâu sau khi định cư lên bờ ở phường Phú Hậu, thành phố Huế nhằm đề xuất cácgiải pháp sử dụng lao động và tạo việc làm ổn định cho cư dân tái định cư, phục
vụ cho công tác xóa đói giảm nghèo, ổn định đời sống cho người dân
3 Nhiệm vụ của đề tài
Để đạt được mục tiêu trên, trong quá trình thực hiện đề tài cần giải quyếtnhững nhiệm vụ sau:
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận về vấn đề lao động và việc làm
- Tìm hiểu lịch sử hình thành và đặc điểm kinh tế xã hội khu tái định cư BãiDâu
- Nghiên cứu thực trạng lao động và việc làm tại khu tái định cư Bãi Dâu
- Đề xuất những giải pháp nhằm sử dụng lao động và tạo việc làm ổn địnhcho cộng đồng cư dân tái định cư Bãi Dâu
4 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp thu thập tài liệu
Trong quá trình thực hiện, tôi đã thu thập một số số liệu có liên quan đến đềtài tại các UBND sau: UBND phường Kim Long, UBND phường Phú Hậu, ngoài
ra còn thu thập số liệu từ những bài báo, tạp chí
Phương pháp điều tra chọn mẫu
Để thực hiện phương pháp này tôi đã tiến hành lập phiếu điều tra để phỏngvấn trực tiếp người dân ở khu vực nghiên cứu với mục đích thu nhận thông tin vềmọi mặt của cộng đồng cư dân tái định cư
Phương pháp thống kê
Phương pháp so sánh
Đại học Kinh tế Huế
Trang 8Là phương pháp phân tích các số liệu thu thập được sau đó so với các chỉtiêu đã được Nhà nước quy định, cũng như so sánh giữa các khu vực nghiên cứunhằm làm nổi bật những yếu tố cần nghiên cứu.
5 Phạm vi nghiên cứu
Về mặt thời gian: Đề tài tập trung nghiên cứu thực trạng đến năm 2010
Về mặt không gian: tập trung chủ yếu vào hai tổ 14 và 15 thuộc khuvực 5, phường Phú Hậu, thành phố Huế
6 Kết cấu của đề tài
MỞ ĐẦU
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về lao động, việc làm
Chương 2: Thực trạng về lao động, việc làm khu tái định cư Bãi Dâu
Chương 3: Giải pháp sử dụng lao động và tạo việc làm ổn định cho cư dântái định cư vạn đò Bãi Dâu
KẾT LUẬN
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Đại học Kinh tế Huế
Trang 9PHẦN 2 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ LAO ĐỘNG, VIỆC
Dân số lao động là khái niệm chỉ những người có lao động với một nghềnghiệp cụ thể và hưởng thụ theo công sức của mình (không tính những người nộitrợ, những người chỉ phục vụ cho gia đình mình) Bên cạnh dân số lao động còn códân số phụ thuộc, là những người không tham gia lao động, sống dựa vào lao độngcủa người khác
Theo quan niệm của Liên hiệp quốc, dân số hoạt động bao gồm không chỉ
có những người có việc làm, mà còn cả những người không có việc làm
Trong đó, “độ tuổi lao động” được hiểu là khoảng tuổi đời theo quy địnhcủa luật pháp, mọi công dân có khả năng lao động nằm trong độ tuổi đó là lựclượng lao động của đất nước Độ tuổi lao động phụ thuộc vào sự quy định của mỗiquốc gia Theo Luật Lao động ở Việt Nam, độ tuổi lao động quy định từ 18 tuổiđến hết 60 tuổi đối với nam và từ 18 đến hết 55 tuổi ở nữ
Tuy nhiên, không phải tất cả mọi người trong " độ tuổi lao động " đềutham gia hoạt động kinh tế và ngược lại không phải tất cả những người ngoài độtuổi lao động đều không tham gia hoạt động kinh tế
Tỷ lệ dân số hoạt động kinh tế phụ thuộc vào dân số ở độ tuổi lao độngtrong tổng số dân và vào mức độ có việc làm của người này
Ở Việt Nam , nguồn lao động được chia làm 2 nhóm cụ thể như sau
- Nhóm dân số hoạt động kinh tế bao gồm những người có việc làm ổnđịnh, có việc làm tạm thời và những người có nhu cầu lao động nhưng chưa cóviệc làm
Đại học Kinh tế Huế
Trang 10- Nhóm dân số không hoạt động kinh tế bao gồm học sinh, sinh viên, nhữngngười nội trợ và những người thuộc tình trạng khác không tham gia lao động
1.1.2 Việc làm
Theo điều 13 của Bộ Luật lao động nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa ViệtNam năm 1994 ghi:" Mọi hoạt động tạo ra thu nhập không bị pháp luật ngăn cấmđược gọi là việc làm"
Hiện nay, việc làm là một trong những vấn đề gay gắt của nhiều nước trênthế giới, đặc biệt là các nước đang phát triển Các hoạt động được xác định là việclàm bao gồm:
+ Làm các công việc được trả công dưới dạng bằng tiền hoặc hiện vật
+ Những công việc tự làm để thu lợi cho bản thân hoặc tạo thu nhập cho giađình nhưng không được trả công (bằng tiền hoặc hiện vật) cho công việc đó
Người có việc làm là những người hiện đang làm việc được trả lương và cóthu nhập, kể cả những người có công việc nhưng nghỉ vì ốm đau,đình công, nghỉphép
1.1.3 Thất nghiệp
-Là vấn đề trung tâm của xã hội hiện đại.Mức thất nghiệp cao, có nghĩa là
không tận dụng hết sức các nguồn lực và thu nhập của dân chúng Điều này làmtrầm trọng tình hình xã hội, quan hệ gia đình và đồng thời làm tăng tình trạng căngthẳng vốn dễ bùng nổ của xã hội
- Người thất nghiệp là những người chưa có việc làm và đang đi tìm việclàm
Theo định nghĩa nghiên cứu chính sách xã hội nông thôn Việt Nam: “Ngườithất nghiệp là những người trong độ tuổi lao động, có sức lao động, nhưng chưa cóviệc làm, đang có nhu cầu làm việc nhưng chưa có việc làm”
Theo Tổ chức Lao đông quốc tế (ILO): “ Thất nghiệp là tình trạng tồn tại củanhững người lao động muốn làm việc nhưng không tìm được việc làm vì những lý
do ngoài ý muốn của họ, do đó không có thu nhập”
Theo cách tính thông thường , tỷ lệ thất nghiệp được tính bằng tỷ số giữaĐại học Kinh tế Huế
Trang 11Thất nghiệp(%)= số người thất nghiệp / tổng số lực lượng lao động
Để tính tỷ lệ thất nghiệp người ta chia dân số từ 16( hoặc 16 tuổi) đến 60(hoặc 65 tuổi) - tức là độ tuổi lao động thành 3 nhóm:
- Có công ăn việc làm: là những người hiện đang làm việc được trả lương
và có thu nhập, kể cả những người có việc làm nhưng nghĩ vì ốm đau, đình
công,nghỉ phép
- Thất nghiệp: Những người không có công ăn việc làm nhưng đang tích
cực tìm việc hoặc đang chờ được trở lại làm việc
Những người hoặc có việc làm, hoặc thất nghiệp đều nằm trong lực lươnglao động
- Mọi người khác (không nằm trong lực lương lao động ) Số này bao gồm
những người đang đi học, trông coi nhà cửa, về hưu, qua đau ốm không đi làmđược hoặc đã thôi không tìm việc làm nữa ( thường chiếm 37- 49% tổng số dân)
Ở Việt Nam quy định cụ thể người thất nghiệp như sau:
Người thất nghiệp là người đủ tuổi lao động trở lên thuộc nhóm hoạt động
kinh tế trong tuần lễ trước điều tra không có việc làm nhưng có nhu cầu làm việc
+ Những người này có hoạt động đi tìm việc làm trong 4 tuần lễ qua, hoặckhông có hoạt động đi tìm việc làm trong 4 tuần lễ qua vì không biết tìm việc ởđâu hoặc tìm mãi mà không được
+ Hoặc tuần lễ trước điều tra có tổng số giờ làm việc dưới 8 giờ trong tuần,muốn tìm thêm nhưng không tìm được việc làm
1.2 Các loại hình việc làm
Người có việc làm là những người hiện đang làm việc được trả lương và cóthu nhập Ngoài ra, còn kể cả những người có công việc nhưng nghỉ vì ốm đau,đình công nghỉ phép
Trong đó, người ta thường chia làm hai loại việc làm: việc làm thường
xuyên và việc làm không thường xuyên.
Việc xác định người lao động có việc làm thường xuyên hay không thườngxuyên được xem xét trong khoảng thời gian 1 năm (12 tháng)
Đại học Kinh tế Huế
Trang 12Ở Việt Nam, theo quy định, người có việc làm thường xuyên trong 12thánh qua là người đủ tuổi 15 trở lên có tổng số ngày làm việc thực tế bằng hoặclớn hơn 183 ngày/năm Nếu người có việc làm có tổng số ngày làm việc dưới 183ngày/năm được coi là người có việc làm không thường xuyên.
Lực lượng lao động có việc làm thường xuyên là vấn đề có ý nghĩa quantrọng đối với sụ phát triển của mỗi quốc gia
1.3 Các loại hình thất nghiệp
Có 3 loại hình thất nghiệp khác nhau:
-Thất nghiệp tạm thời phát sinh trong trường hợp dân cư chuyển chỗ từ
vùng này đến vùng khác do chuyển tiếp các giai đoạn của cuộc sống môi trường (giai đoạn học tập, làm việc, sinh đẻ và nghỉ chăm con nhỏ đối với phụ nữ, vềhưu…) Thất nghiệp tạm thời tồn tại ngay cả khi xã hội có việc làm đầy đủ Thấtnghiệp tạm thời do muốn đổi nghề và kiếm việc làm tốt hơn thường được tính vàoloại thất nghiệp tự nguyện Thất nghiệp tuổi thanh niên chủ yếu là thất nghiệp tạmthời Thanh niên thường hay thay đổi nơi làm việc, thời gian công tác của họ ởmột địa điểm ngắn hơn 12 lần so với người lớn Khi đạt độ chín muồi thì họ mới
ổn định việc làm
-Thất nghiệp cơ cấu xảy ra khi cầu và cung về lao động không trùng nhau,
và cả sự không trùng hợp cung cầu đối với từng loại lao động, từng vùng, từngkhu vực kinh tế khác nhau
-Thất nghiệp chu kỳ sinh ra do nhu cầu chung về sức lao động thấp trong tất
cả các ngành, các lĩnh vực, các vùng Thất nghiệp chu kỳ thể hiện tình trạng xấucủa thị trường lao động
1.4 Một số chỉ tiêu đánh giá việc làm và thu nhập của lao động
1.Tỷ lệ thất nghiệp của lao động
Tỷ lệ thất nghiệp của lao động là tỷ số giữa người thất nghiệp so với lựclượng lao động Tỷ lệ thất nghiệp được tính theo công thức:
Tn=Tm/Llđ * 100
Trong đó: Tn: Tỷ lệ thất nghiệp của lao động (%)Đại học Kinh tế Huế
Trang 13Llđ: Lực lượng lao động
Tỷ lệ thất nghiệp là chỉ tiêu được sử dụng ở tất cả các nước thực hiệntheo cơ chế thị trường Chỉ tiêu này phản ánh tình hình lao động, việc làm, vấn đềgiải quyết công ăn việc làm cho người lao động ở mỗi quốc gia hay mỗi địa
phương
2 Tỷ suất sử dụng quỹ thời gian làm việc của lao động trong năm
Tỷ suất sử dụng quỹ thời gian làm việc của lao động trong năm là tỷ sốgiữa ngày-người đã sử dụng vào sản xuất hoặc dịch vụ so với tổng số ngày-người
có thể làm việc được trong năm (quỹ thời gian làm việc trong năm tính bình quâncho một lao động) Tỷ suất sử dụng quỹ thời gian làm việc của lao động được tínhtheo công thức sau:
Tq=Nlv/Tlv
Trong đó:
Tq: Tỷ suất sử dụng thời gian làm việc của lao động trong năm (%)
Nlv: số ngày đầu tư vào sản xuất kinh doanh hoặc dịch vụ tính bình quân chomột lao động trong năm (ngày)
Tlv: quỹ thời gian làm việc trong năm của lao động (ngày)
Tỷ suất sử dụng quỹ thời gian trong năm nói lên trình độ sử dụng lao động theongày và qua đó thấy được tỷ lệ quỹ thời gian chưa sử dụng hết cần phải huy độngtrong năm Tất nhiên ngày lao động được tính theo ngày chuẩn tức thời gian làmviệc phải đạt 8 giờ trong một ngày Trường hợp không phải là ngày chuẩn thì phảitính theo tỷ suất sử dụng sức lao động theo giờ để tính ra số ngày làm việc ( theongày chuẩn) bình quân của một lao động trong năm Qua chỉ tiêu này sẽ thấy đượctình hình và mức độ việc làm, thấy được số ngày còn dôi ra chưa sử dụng vào sảnxuất , trên cơ sở đó lập kế hoạch và biện pháp tạo thêm việc làm để người lao động
có thể sử dụng tối đa quỹ thời gian làm việc trong năm
Qũy thời gian làm việc của người lao động trong năm là số ngày trung bình màmỗi người lao động có thể dùng vào sản xuất kinh doanh hoặc dịch vụ trong năm
Đó là số ngày còn lại trong năm sau khi đã trừ đi số ngày nghỉ do đau ốm, giỗ tết,
ma chay, cưới xin, hội họp hoặc thời tiết xấu (bão lụt…) và những ngày nghĩ khác
Đại học Kinh tế Huế
Trang 14Đối với lao động nữ trong độ tuổi sinh đẻ còn có những ngày nghỉ do thai sản,sinh đẻ hay do con ốm… Ngoài ra người lao động phải giành một số thời gian vàocác công việc khác cần thiết cho cuộc sống cũng như trong sản xuất: đi chợ, sửachữa nhà, chuẩn bị công cụ sản xuất, mua sắm vật tư, phân bón hoặc chuẩn bịgiống cây trồng, cây con…
1 5 Mối quan hệ giữa dân cư, lao động và việc làm
Dân số là nguồn lực quan trọng để phát triển kinh tế xã hội Dân số đôngcũng đồng nghĩa với nguồn lao động dồi dào và thi trường tiêu thụ rộng lớn Trong
đó, nguồn lao động được coi là yếu tố quan trọng nhất của lực lượng sản xuất xãhội Ngay cả khi cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật và cuộc cách mạng khoa học-công nghệ hiện đại đang diển ra với những bước tiến kỳ diệu, đẩy mạnh tự độnghóa quá trình sản xuất, thì người lao động vẫn là yếu tố bậc nhất
Sản xuất ngày càng mở rộng và phát triển thì càng đòi hỏi nhiều về sốlượng lao động Tuy nhiên, người lao động chỉ trở thành nhân tố quan trọng bậcnhất của lực lượng sản xuất khi nó kết hợp chặt chẽ với tư liệu sản xuất Tỷ lệ giatăng dân số phải tương ứng với trình độ phát triển của sản xuất thì mới có đủTLSX để kết hợp với người lao động thành lực lượng sản xuất xã hội
Trong khi các nước kinh tế phát triển đã trải qua thời kỳ biến đổi nhânkhẩu, tỷ lệ gia tăng dân số và tỷ lệ gia tăng số người lao động thấp và ổn định, thìcác nước đang phát triển đang vấp phải những thách thức lớn, chính điều này đãgây ra một trở ngại lớn cho việc phát triển kinh tế, nâng cao đời sống vật chất vàtinh thần cho người dân ở các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam
Các quá trình biến động dân số còn ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển củanguồn lao động cả về số lượng lẫn chất lượng và đi kèm theo nó là vấn đề việclàm
Cụ thể, nước ta có quy mô dân sô lớn (84.156 nghìn người, năm 2006),trong đó dân số hoạt động kinh tế của nước ta chiếm 51,2% tổng số dân Và vớimức tăng nguồn lao động như hiện nay, mỗi năm nước ta có thêm hơn 1 triệu laođộng mới
Đại học Kinh tế Huế
Trang 15Chất lượng lao động nước ta cũng ngày càng được nâng lên nhờ nhữngthành tựu trong phát triển văn hóa, giáo dục, y tế Tuy nhiên, so với yêu cầu hiệnnay, lực lượng lao động có trình độ cao vẫn còn ít, đặc biệt là đội ngũ cán bộ quản
lý, công nhân kỹ thuật lành nghề còn thiếu
Bảng 1: Cơ cấu lao động việc làm phân theo trình độ chuyên môn kỹ
thuật nước ta năm 1996 và năm 2006
- Cao đẳng, đại học và trên đại
học
2,3 5,3 +3 +130,43
Chưa qua đào tạo 87,7 75,0 -12,7 -14,48
Chính vì vậy, vấn đề việc làm vẫn đang là một vấn đề kinh tế- xã hộicủa nước ta hiện nay Sự đa dạng các thành phần kinh tế, các ngành sản xuất, dịch
vụ đã tạo ra mỗi năm gần 1 triệu việc làm mới Tuy nhiên, tình trạng thất nghiệp,thiếu việc làm vẫn còn gay gắt Năm 2005, tính trung bình cả nước, tỷ lệ thấtnghiệp là 2,1%, tỷ lệ thiếu việc làm là 8,1%.Ở khu vực thành thị, tỷ lệ thất nghiệp
là 5,3%, ở nông thôn là 1,1%; tỷ lệ thiếu việc làm ở thành thị là 4,5% và ở nôngthôn là 9,3%
1.6 Tình hình lao động, việc làm trong những năm gần đây
Dù ở thời đại nào, nguồn nhân lực cũng luôn là yếu tố quan trọng nhấtquyết định sức mạnh của một quốc gia Bởi chúng ta biết rằng mọi của cải vật chấtđều được làm nên từ bàn tay và trí óc của con người
Theo báo cáo mới đây của Quĩ tiền tệ quốc tế (IMF) về tình hình lao độngtoàn cầu, thị trường lao động thế giới đã tăng gấp 4 lần so với năm 1980 và theo
Đại học Kinh tế Huế
Trang 16dự kiến, đến năm 2050, thị trường này sẽ tăng gấp đôi so với hiện nay Việc hòanhập nền kinh tế thế giới của Trung Quốc, Ấn Độ và các nước Đông Âu cùng với
sự tăng trưởng dân số toàn cầu đã đóng góp đáng kể cho lực lượng lao động tham
gia vào thương mại quốc tế Theo IMF, sự phát triển của thị trường lao động quốc
tế được thể hiện trên ba kênh: xuất nhập khẩu các sản phẩm tinh chế, sản xuất theo
hướng phi tập trung của các doanh nghiệp và xuất khẩu lao động Xu hướng quốc
tế hoá thị trường lao động đang làm cho nhiều nước được hưởng lợi Các nước
đông dân và các nước đang phát triển giải quyết được vấn đề việc làm, cải thiện
thu nhập của người dân Trong khi đó, nhập khẩu lao động mang lại nguồn lợi lớn
cho các nước phát triển Vấn đề thiếu nhân công ở các nước Tây Âu, Mỹ và Nhật
Bản đang dần được giải quyết Chỉ tính riêng ở Mỹ, dân nhập cư đã đáp ứng được15% nhu cầu lao động trong nước, còn ở Tây Âu, con số này tuy thấp hơn nhưngcũng đáp ứng được một phần nhu cầu lao động ở các nước này Tuy nhiên, toàncầu hóa việc làm cũng tác động tiêu cực đến thu nhập lao động trong tổng thunhập của thế giới Trên thực tế, giá nhân công rẻ, thêm vào đó là sự phát triển của
lao động bất hợp pháp, đã làm doanh thu từ việc làm giảm 7% so với năm 1980
Ngoài ra, sự phát triển của công nghệ thông tin cùng với khả năng thay thế conngười của máy móc cũng là một trong những nguyên nhân làm cho thu nhập củathị trường lao động giảm đi
Việt Nam chúng ta đang có nguồn nhân lực dồi dào với dân số cả nước gần
86 triệu người (Tính đến ngày ngày 1/4/2009, dân số của Việt Nam: 85.789.573người), nước đông dân thứ 13 trên thế giới và thứ 3 trong khu vực Trong đó sốngười trong độ tuổi lao động tăng nhanh và chiếm một tỉ lệ cao khoảng 67% dân
số cả nước Cơ cấu dân số vàng ở nước ta bắt đầu đầu xuất hiện từ năm 2010 vàkết thúc vào năm 2040, kéo dài trong khoảng 30 năm Rõ ràng Việt Nam đang cóthế mạnh lớn về nguồn lực lao động nhưng tại sao chúng ta vẫn đang gặp nhiềukhó khăn trong việc thúc đẩy kinh tế đi lên? Có nhiều nguyên nhân lí giải cho vấn
đề này, trong đó chất lượng nguồn nhân lực hiện nay của nước ta được xem lànguyên nhân mấu chốt
Đại học Kinh tế Huế
Trang 17Như chúng ta đã biết, trong gần 86 triệu người ở Việt Nam thì nông dânchiếm gần khoảng 73% dân số cả nước Điều này cho thấy nông dân vẫn là lựclượng lao động xã hội chiếm tỉ lệ cao nhất Nông dân ta bao đời nay vẫn lấy nghềtrồng lúa là nghề chính Họ vẫn đang sản xuất một cách tự phát, manh mún Họvẫn cứ nghĩ rằng trồng lúa là nghề dễ nhất, không cần học cũng làm được, thế là
cứ từ đời này nối tiếp đời kia họ tự trồng như vậy Nhìn vào thực tế sản xuất củanông dân ta thấy rằng dù đã mấy nghìn năm phát triển xã hội nhưng cách trồng lúacủa người Việt hôm nay cũng chưa tiến bộ hơn cách trồng lúa của người Việt xưa
là mấy, vẫn còn tồn tại cái cảnh “ con trâu đi trước cái cày theo sau” Mặc dù bâygiờ đã có sự liên kết nhà khoa học với nhà nông nhưng cũng chưa tạo đựơc nhữngđột phá đem lại hiệu quả Hiện nay, nông dân đã mở ra nhiều ngành nghề để tạoviệc làm và thu nhập nhưng hiệu quả kinh tế vẫn chưa cao nguyên nhân là cònthiếu áp dụng các khoa học kĩ thuật vào trong sản xuất vì vẫn nặng với cái kiểu tưduy “nghĩ sao làm vậy” Rõ ràng nguồn lực nông dân dồi dào nhưng chất lượngvẫn còn yếu kém
Về nguồn nhân lực công nhân thì hiện nay số lượng giai cấp công nhânViệt Nam có khoảng 5 triệu người, chiếm 6% dân số cả nước Như vậy lực lượngcông nhân Việt Nam còn quá ít Đã vậy công nhân có tay nghề cao lại chiếm tỷ lệthấp so với đội ngũ công nhân nói chung Số công nhân có trình độ văn hóa, taynghề, kĩ thuật rất ít Theo thống kê công nhân có trình độ cao đẳng, đại học ở nước
ta chiếm khoảng 3,3% đội ngũ công nhân nói chung Tỉ lệ này khiến chúng ta phảisuy nghĩ Chính vì trình độ văn hoá tay nghề thấp nên đa số công nhân không đápứng tốt yêu cầu công việc Điều này dẫn đến sự mất cân đối về lao động ở cácdoanh nghiệp Doanh nghiệp không thiếu người nhưng lại thiếu những công nhân
có tay nghề để đảm bảo những khâu kĩ thuật quan trọng trong dây chuyền sảnxuất Hệ quả kéo theo của vấn đề này là đồng lương công nhân bị thấp đi, đời sốngkhông được đảm bảo, địa vị công nhân trong đời sống xã hội cũng không cao Vớitình hình đó nguồn lực công nhân chưa thể đóng vai trò chủ đạo trong sự nghiệpcông nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước
Đại học Kinh tế Huế
Trang 18Việt Nam đã và đang bước vào hội nhập thế giới, từng bước tiến tới chiếmlĩnh khoa học công nghệ cao vì thế đòi hỏi một lực lượng đông đảo nhân lực cótrình độ cao, có khả năng làm việc trong môi trường công nghệ và cạnh tranh Đặcbiệt với một số ngành đặc thù như năng lượng nguyên tử, công nghệ thông tin lạicàng đòi hỏi nhân lực đạt đến trình độ quốc tế hoá Bên cạnh đó một số ngành mũinhọn như ngân hàng tài chính, du lịch cũng yêu cầu một đội ngũ đủ khả năng thíchứng với mọi biến động của thị trường trong nước và thế giới…Có thể nói rằng ởlĩnh vực nào, nông nghiệp, công nghiệp hay dịch vụ… chúng ta đều đang khát laođộng có trình độ cao Nhưng thực tế đáp ứng được bao nhiêu? Như đã phân tích ởtrên, lực lượng nông dân đang thiếu khoa học kĩ thuật, sản xuất manh mún; lựclượng công nhân trình độ thấp, vậy còn lực lượng trí thức thì sao?
Việt Nam những năm gần đây đội ngũ trí thức tăng nhanh, chỉ tính riêng sốsinh viên cũng đã cho thấy sự tăng nhanh vượt bậc Năm 2003-2004 tổng số sinhviên đại học và cao đẳng là 1.131.030 sinh viên đến năm 2007- 2008 tăng lên1.603.484 sinh viên Năm 2008 tổng số sinh viên ra trường là 233.966 trong đósinh viên tốt nghiệp đại học là 152.272; sinh viên tốt nghiệp cao đẳng là 81.694
Số trí thức có trình độ thạc sĩ, tiến sĩ cũng tăng nhanh.Theo thống kê cả nuớc đến
2008 có hơn 14 nghìn tiến sĩ và tiến sĩ khoa học và đang đặt mục tiêu trong 10năm tới sẽ có 20000 tiến sĩ Năm 2008 nước ta có 275 trường Trung cấp chuyênnghiệp, 209 trường cao đẳng, 160 trường Đại học và có tới 27.900 trường phổthông, 226 trường dân tộc nội trú…Nhìn vào những con số này cho thấy lực lượngtrí thức và công chức thực sự là một nguồn lực quan trọng đối với sự phát triểnkinh tế đất nước Nhưng thực tế vẫn còn tồn tại nhiều vấn đề Hàng năm lượngsinh viên ra trường lớn nhưng số sinh viên có việc làm lại ít Theo thống kê có đến63% sinh viên ra trường không có việc làm, số có việc làm thì cũng có người làmviệc không đúng ngành được học Thêm vào đó là một số đơn vị nhận người vàolàm phải mất 1-2 năm đào tạo lại Phải chăng lao động đã qua đào tạo còn nhiềubất cập so với yêu cầu của thị trường lao động?
Bài toán về nguồn nhân lực, việc làm hiện nay là bài toán khó và cũngĐại học Kinh tế Huế
Trang 19này cần phải đồng bộ ở nhiều phương diện: Đơn vị đào tạo, người lao động, đơn vị
sử dụng lao động… và còn cần tới một cơ chế, một sự hỗ trợ lớn từ nhà nuớc
1.7 Vấn đề lao động và việc làm tại thành phố Huế
Thành phố Huế là một đô thị có quy mô dân số trung bình Tổng số dântrung bình năm 2009 là 337,506 ngàn người, mật độ: 4.755 người /km2 Tốc độtăng dân số trung bình liên tục giảm, năm 2009 là 1,04%, trong đó tốc độ tăng dân
số tự nhiên thời kỳ 20052009 là 1,04 1,16%/năm, tăng cơ học chiếm đến 0,51 0,69%/năm cùng thời kỳ Như vậy di cư đóng vai trò khá lớn trong quá trình tăngtrưởng dân số của thành phố, hiện đang chiếm khoảng 30-40% tổng mức gia tăngdân số thành phố với số người di cư bình quân từng thời kỳ 2006-2009 là 1.800-2.300 người mỗi năm
-Tỷ lệ đô thị hóa của thành phố rất cao Dân số thành thị trung bình năm cógần 304,581 ngàn người , chiếm 90,24% tổng dân số Dân số thành thị tâp trungsinh sống ở 24 phường nội thành Dân số nông thôn ( chiếm khoảng 9,76% tổngsố) tập trung ở 3 xã ngoại thành (gồm Thủy Biều, Hương Long, Thủy Xuân)
Dân số trong tuổi lao động của thành phố có 191,287 ngàn người (năm2009), chiếm 56.68% so với tổng số dân Nếu tính thêm số người ngoài độ tuổi laođộng có tham gia lao động ( gồm trên độ tuổi lao động và dưới độ tuổi lao động) là12.673 người thì nguồn lao động toàn thành phố Huế là 196, 255 ngàn người (năm2009), chiếm khoảng 58,15% so với tổng số dân
Bên cạnh đó, nguồn nhân lực của thành phố Huế được đánh giá là có chấtlượng khá cao về trình độ học vấn và trình độ chuyên môn, nghề nghiệp Thànhphố Huế là nơi tập trung nguồn nhân lực được đào tạo của tỉnh Lực lượng laođộng đã qua đào tạo của thành phố có khoảng trên 95.300 người , chiếm 52% tổnglực lượng lao động đã qua đào tạo của tỉnh Thừa Thiên Huế Thành phố Huế cóhơn 31.000 người với trình độ đại học-cao đẳng trở lên( trong đó có hơn 2000người có trình độ Thạc sỹ trở lên) Phần lớn trên 60% tổng số người trong đó tậptrung trong ngành giáo dục, y tế, quản lý Nhà nước cấp tỉnh và thành phố Với tốc
độ gia tăng dân số như hiện nay, ước tính bình quân mỗi năm tăng thêm khoảng
Đại học Kinh tế Huế
Trang 205000 -5.200 người ) cùng với trình độ học vấn cao và được đào tạo tốt là nhân tốquyết định để đạt được tốc độ tăng trưởng kinh tế cao trong thời gian tới.
Cụ thể, nguồn lao động và phân bố việc làm tại thành phố Huế được thểhiện qua bảng sau:
Bảng 2: Nguồn lao động và việc làm tại thành phố Huế giai đoạn 2005-2009
2 Số người ngoài độ tuổi thực tế
có tham gia lao động 10.359 11.631 11.885 12.318 12.673
- Trên độ tuổi lao động 6.623 7.421 7.573 7.848 7.953
- Dưới độ tuổi lao động 3.736 4.210 4.321 4.470 4.720
B Phân phối nguồn lao động 170.400 176.582 182.636 189.650 196.255
1 Lao động đang làm việc trong
các ngành kinh tế 112.413 117.079 120.633 124.732 128.339
2 Số người trong độ tuổi có khả
năng lao động đang đi học 38.355 40.144 42.179 44.849 47.467
- Học chuyên môn nghiệp vụ, học
3 Số người trong độ tuổi có khả
năng lao động làm nội trợ 7.350 7.200 7.320 7.375 7.495
4 Số người trong độ tuổi có khả 3.080 2.800 3.010 3.125 3.260
Đại học Kinh tế Huế
Trang 21năng lao động không làm việc
5 Số người trong độ tuổi có khả
năng lao động không có việc làm 9.202 9359 9.494 9.569 9.694
[Nguồn: Theo Niên giám Thống kê TP Huế năm 2009]Theo bảng số liệu trên, tuy lực lượng lao động của thành phố Huế là khá cao,chiếm đến 58,15% so với tổng số dân nhưng hiện nay chỉ có 128.339 người laođộng đang làm việc trong các ngành kinh tế nói chung, chiếm khoảng 65,39%nguồn lao động thực tế của thành phố Một lực lượng khá lớn cũng nằm trong độtuổi lao động nhưng đang đi học ( học phổ thông, học chuyên môn nghiệp vụ vàhọc nghề) là 47.467 người, chiếm 24,81% tổng số dân trong độ tuổi lao động củathành phố
Tuy nhiên, một vấn đề đáng quan tâm hơn cả, hiện tại số người trong độtuổi lao động không làm việc và số người không có việc làm chiếm tỷ lệ còn khácao: 12.954 người chiếm 6,77% dân số trong độ tuổi lao động, trong đó số ngườikhông có việc làm là 9.694 người chiếm đến 5,07% Đây cũng là một trong nhữngvấn đề tồn tại đòi hỏi chính quyền các cần tiếp tục quan tâm giải quyết trong thờigian tới
CHƯƠNG II: TÌNH HÌNH CƠ BẢN CỦA ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU
(Phường Phú Hậu, thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế)
1.Điều kiện tự nhiên
a Vị trí địa lý và địa hình
Phường Phú Hậu là một đơn vị hành chính thuộc thành phố Huế Có vị trínằm ở phía Đông Bắc hạ lưu sông Hương, với tổng diện tích tự nhiên: 117,1 ha,
dân số: 11.394 người (năm 2010), loại đơn vị hành chính: loại II Ranh giới hành
chính được xác định như sau:
+ Phía Đông giáp xã Phú Thượng (huyện Phú Vang)
+ Phía Tây giáp phường Phú Bình
Đại học Kinh tế Huế
Trang 22+ Phía Nam giáp phường Phú Hiệp
+ Phía Bắc giáp xã Phú Mậu (huyện Phú Vang)
- Ngành nghề truyền thống: nhân dân trên địa bàn phường có các nghề thủcông: thêu ren, đan lát, chằm nón
- Địa hình: thấp trũng, nằm phía Đông Bắc thành phố
b Thời tiết khí hậu
Khí hậu phường Phú Hậu mang các đặc điểm của khí hậu miền Trung:nóng ẩm, nắng lắm, mưa nhiều, độ ẩm cao chia làm hai mùa rõ rệt:
+ Mùa khô: bắt đầu từ tháng 3 đến tháng 8, nhiệt độ trung bình 30-32°C Vàocác tháng này hạn hán thường xuyên xảy ra, tình trạng thiếu nước nghiêm trọng+ Mùa mưa: Từ tháng 10 đến tháng 3 năm sau, chịu ảnh hưởng của gió mùaĐông bắc nên mưa nhiều, trời lạnh thường tập trung vào các tháng 9, 10, 11 chiếmtrên 50% lượng mưa của các năm nên thường gây ra ngập lụt
c Sông ngòi:
Phường Phú Hậu có sông Đông Ba là con sông bán nhân tạo, bắt nguồn từsông Hương, tại chân cầu Gia Hội, chảy dọc phía Đông Kinh thành Huế Dọc haibên bờ sông này là phường Phú Hòa, Thuận Lộc, Phú Bình, ở phía bờ Tây dọc conđường Huỳnh Thúc Kháng và Phú Cát, Phú Hiệp, Phú Hậu, ở phía Đông dọc conđường Bạch Đằng Sông Đông Ba sau đó cũng đổ ra lại sông Hương tại phía ĐôngBắc của kinh thành, nơi giáp ranh giới của hai phường Phú Bình và Phú Hậu Trênsông này có hai tụ điểm vạn đò là vạn đò Phú Hiệp và vạn đò Phú Bình
d Nhận xét chung về điều kiện tự nhiên Thuận lợi
- Đây là điều kiện tốt cho việc phát triển sản xuất nông nghiệp của các hộnông dân trên địa bàn phường, đặc biệt là việc phát triển hoa lưu ly trồngthí điểm tại tổ 10 khu vực 4
- Là điều kiện tốt cho việc giao lưu, buôn bán, trao đổi hàng hóa bằngđường thủy và các hoạt động kinh tế diễn ra trên sông
Đại học Kinh tế Huế
Trang 23Khó khăn
Khí hậu, thời tiết khắc nghiệt, mưa nhiều, nắng nhiều, lụt bão nhiều đã làm trởngại không nhỏ đến sản xuất, đời sống của dân cư trong năm, có các tháng lụt bão
là 9,10,11,12 Thời gian này mọi hoạt động sản xuất của người dân đều bị đình trệ
3 Điều kiện kinh tế xã hội
a Tình hình sử dụng đất đai
Trong những năm qua, phường đã cho xây dựng nhiều dự án phát triểnkinh tế-xã hội như: xây dựng trường học, các khu tái định cư…và để triển khaithực hiện các công trình đó thì phường đã tiến hành chuyển đổi mục đích một sốloại đất, trong đó chủ yếu là đất nông nghiệp sang mục đích phi nông nghiệp Đâycũng chính là xu hướng biến đổi chung của tình hình sử dụng đất đai ở phườngPhú Hậu qua 3 năm, điều này thể hiện thông qua số liệu thống kê bảng 3
Nhìn vào bảng số liệu ta thấy tổng diện tích đất tự nhiên của phường quahai năm 2008 và 2009 là không đổi (112,9ha), năm 2010 là 117,0 ha Trong đó đấtphi nông nghiệp chiếm tỷ lệ khá cao, năm 2008, 2009 là 94,51 ha, chiếm 83,71%tổng diện tích đất tự nhiên Còn đất sử dụng với mục đích nông nghiệp cũng có sựthay đổi, năm 2008, 2009 là 14,53 ha, chiếm 12,87%, tuy nhiên năm 2010 diệntích loại đất này đã giảm so với năm 2008 và 2009 và chỉ còn 7,75 ha, chiếm6,62% Sở dĩ có sự chuyển biến như vậy do trong năm 2010 phường đẩy nhanhtốc độ thu hồi đất nông nghiệp để xây dựng cơ sở hạ tầng, các khu tái định cư, cáccông trình công cộng… phục vụ cho sự phát triển kinh tế của phường, đều này dẫnđến diện tích đất nông nghiệp giảm một cách nhanh chóng cũng như kéo theo đódiện tích đất phi nông nghiệp tăng lên tương ứng
Trong đất phi nông ngiệp, thì đất ở chiếm diện tích cao nhất so với các loạiđất khác và có xu hướng tăng lên qua các năm Năm 2008, 2009 là 40,04 ha,chiếm 35,47% tổng diện tích đất tự nhiên, năm 2010 tăng lên 41,86 ha, chiếm35,75% Đất chuyên dùng cũng chiếm một tỷ lệ không nhỏ 36,14 ha, có sự pháttriển điều này cho thấy trong những năm qua cơ sở hạ tầng của phường đã có sựchuyển biến rõ rệt, bộ mặt của phường đã có nhiều thay đổi đáng kể Trong đó,phải kể đến việc xây dựng các khu tái định cư cho người dân vạn đò, điều này đã
Đại học Kinh tế Huế
Trang 24làm cho diện tích đất ở của phường cũng có xu hướng tăng và tăng nhanh trongnhững năm vừa qua Bên cạnh đó, phường cũng còn một số đất bằng chưa sử dụng
và loại đất này có xu hướng tăng qua các n
Đại học Kinh tế Huế
Trang 25Bảng 3: Tình hình sử dụng đất đai của phường Phú Hậu qua 3 năm
(2008-2010)
Loại đất
Diện tích (ha)
Tỷ lệ (%)
Diện tích (ha)
Tỷ lệ (%)
Diện tích (ha)
[Nguồn: UBND phường Phú Hậu năm 2008-2010]
Nhìn chung, tình hình sử dụng đất đai của phường qua 3 năm có xu hướng
chuyển đổi từ đất nông nghiệp sang đất sử dụng cho mục đích phi nông nghiệp nhằm
phục vụ xây dựng cơ bản, phát triển cơ sở hạ tầng đã từng bước góp phần làm thay đổi
bộ mặt của phường
b Tình hình dân cư, nhân khẩu và lao động
Dân số có vai trò quan trọng đối với sự phát triển của xã hội Bất cứ một quốc
gia nào, địa phương nào khi hoạch định cho sự phát triển đều phải tính đến nhân tố dân
số, bởi lẽ lao động là một bộ phận của dân số Nếu dân số tăng quá cao vượt quá sự
Đại học Kinh tế Huế
Trang 26kiểm soát của các cơ quan chức năng nó sẽ ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế, xã hộinhư: gây nên nạn thất nghiệp, thiếu diện tích đất canh tác, nhà ở, các tệ nạn xã hội.
Trong những năm trở lại đây, phường Phú Hậu là một trong những phườngđang tập trung đẩy mạnh sự tăng trưởng và phát triển kinh tế- xã hội cũng như đangđẩy nhanh tốc độ đô thị hóa nên tình hình phát triển kinh tế của phường cũng có sựchuyển biến đáng kể và dân số của phường cũng không ngừng tăng lên do các dự án
về xây dựng các khu chung cư, các công trình công cộng… đã và đang đi vào hoạtđộng trong thời gian qua Tình hình dân số và lao động của phường qua 3 năm 2008-
2010 được thể hiện rõ thông qua số liệu ở bảng 4
Nhìn vào bảng số liệu ta thấy dân số trung bình hiện nay của phường là
11.394 người tăng trưởng hơn so với năm 2009 là 1.445 người, năm 2008 là 2.678người sở dĩ có sự tăng nhanh như vậy là do cuối năm 2009 phường Phú Hậu đã tiếpnhận 103 hộ, năm 2010 tiếp nhận và quản lý thêm 189 hộ dân vạn đò từ phường PhúHiệp về định cư điều này đã làm dân số tăng cao trong thời gian qua
Trong năm qua nhờ triển khai 2 đợt truyền thông dân số lồng ghép KHHGĐ,nhờ vậy mà tỷ lệ tăng tự nhiên năm 2010 giảm xuống còn 1,03% so với năm 2008 tỷ lệtăng dân số tự nhiên là 1,30% Tuy nhiên, tỷ lệ sinh con thứ 3 trở lên vẫn còn phổ biến,một số biện pháp thực hiện KHHGĐ chưa ổn định, nhận thức về truyền thông dân số
và SKSS của một số cặp vợ chồng còn nhiều hạn chế
Quy mô dân số lớn, lao động nhiều, gánh nặng ăn theo cao, chất lượng lao động thấp,
do vậy đã hạn chế mức tăng thu nhập của các hộ
Dân số tăng nhanh kéo theo sự gia tăng về nhu cầu nhà ở, bệnh viện, trườnghọc… do đó, có thể nói sự gia tăng dân số là một trong những nhân tố thúc đẩy quátrình đô thị hóa diễn ra mạnh mẽ
Đại học Kinh tế Huế
Trang 27Bảng 4: Tình hình dân cư, nhân khẩu và lao động của phường Phú Hậu qua 3
Giao thông, điện, nước:
Hệ thống đường giao thông được đầu tư nâng cấp thuận lợi Có cầu chợ Dinh,cầu Bãi Dâu, Bến Thuyền cá Bãi Dâu, đường Nguyễn Gia Thiều được đầu tư xây dựngmới Hệ thống điện công cộng cũng được phủ kín khắp các tuyến đường
Giáo dục
Hiện trên địa bàn phường Phú Hậu có một trường Mầm non, một trường THCS Lý
Tự Trọng, một trường Tiểu học, Trung tâm dạy nghề Nguyễn Du ( được bàn giao từ cơ
sở 1 trường Tiểu học Phú Hậu)
Mạng lưới y tế:
Toàn phường Phú Hậu hiện tại chỉ có một trạm y tế nằm ở trung tâm khu định
cư mới, với 1 bác sĩ và 2 y tá phục vụ cho nhân dân toàn phường khi ốm đau Trongkhu vực cũng có quầy thuốc Tây dược nhằm phục vụ cho bà con khi cần thiết
Ngoài ra, trạm y tế còn kết hợp với 2 y tế dân số và 2 cộng tác viên thuộc 2 cụmdân cư của khu vực…nhằm theo dõi, vận động chi em thực hiện KHHGD…giảm tỷ lệsinh con thứ 3 đến mức thấp nhất và giúp cho chị em biết cách tự chăm sóc sức khỏe
Đại học Kinh tế Huế
Trang 28và cách nuôi dạy con thông qua các buổi truyền thông tư vấn cộng đồng Cụ thể, từnăm 2003 nhằm thực hiện chiến lược dân số Việt Nam và chương trình hành động vìtrẻ em giai đoạn 2001-2010 Ban DSGD & TE phường Phú Hậu đã triển khai các hoạtđộng truyền thông lồng ghép dịch vụ chăm sóc SKSS-KHHGD đến tận các gia đình và
về quyền Trẻ em và KHHGD, hằng năm thu hút được 300 lượt người tham dự, mạnglưới cộng tác viên đã thực hiện 1085 lượt tuyên truyền/năm, vận động trực tiếp tại các
hộ gia đình và cung cấp các biện pháp tránh thai hiện đại Tuy nhiên, tỷ lệ sinh con thứ
3 trở lên hiện nay của khu định cư vẫn chiếm tỷ lệ cao nhất so với toàn phường,
khoảng 20% và tỷ lệ gia tăng dân số là 1,5%
Hệ thống đường sá
Khu định cư Bãi Dâu nằm trên địa bàn phường Phú Hậu, cánh trung tâm thànhphố 6-7 km, phía Nam giáp với đường Nguyễn Gia Thiều- trục đường chính nối liềnkhu dân cư với quốc lộ 1A, phía Bắc giáp với sông Hương Đặc biệt, trong năm 2003việc hoàn thành cầu chợ Dinh bắc ngang sông Hương chạy dọc đường Nguyễn GiaThiều đã rút ngắn khoảng cách đi lại của người dân khu vực ra quốc lộ 49 và quốc lộ
17 Ngoài ra, một số tổ chức như Liên hiệp quốc Hà Lan, Thụy Sỹ đã đầu tư xây dựngcác tuyến đường giao thông ở phường Phú Hậu phục vụ cho dân cư khu vực này
Ngoài trục đường chính Nguyễn Gia Thiều, còn có những trục ngang tạo thànhmạng lưới ô bàn cờ Những tuyến đường này đều đã được rải nhựa, tạo điều kiện thuậnlợi cho bà con Tuy khu tái định cư Bãi Dâu mới hình thành nhưng hệ thống đường sá
ở khu vực này đã hoàn chỉnh hơn nhiều so với khu định cư Kim Long
Tôn giáo: có chùa Trường Xuân và Niệm Phật Đường.
d Nhận xét chung về điều kiện kinh tế xã hội
- Do dân số trẻ nên nguồn lao động của phường tương đối dồi dào Có thể coiđây là một lợi thế đối với việc phát triển kinh tế - xã hội, nhưng mặt khác cũng là trởngại lớn cho sự sắp xếp việc làm và nâng cao chất lượng cuốc sống của nhân dân nóichung
- Một bộ phận nhỏ dân cư còn nghèo đói, tỷ lệ hộ nghèo đói còn nhiều
- Mọi lĩnh vực văn hóa, tinh thần, thông tin còn hạn chế so với dân thành phốnói chung do thu nhập thấp, trong khi giá cả chi tiêu mọi thứ đều quá đắt
- Bộ máy chính quyền địa phương chưa đủ năng lực để đáp ứng nhu cầu quản lýtrong tình hình mới
Đại học Kinh tế Huế
Trang 29- Ngân sách hạn hẹp
- Người dân chưa thực sự năng động và chủ động trong làm ăn kinh tế
- Còn nhiều phong tục, hũ tục lạc hậu
CHƯƠNG III: THỰC TRẠNG VIỆC LÀM VÀ THU NHẬP CỦA NGƯỜI DÂN
VẠN ĐÒ BÃI DÂU, PHƯỜNG PHÚ HẬU, THÀNH PHỐ HUẾ
3.1 Khái quát về khu tái định cư Bãi Dâu
3.1.1 Lịch sử hình thành
Năm 1998, thành phố Huế tiếp tục đầu tư xây dựng khu tái định cư Bãi Dâuthuộc địa bàn phường Phú Hậu Khu tái định cư này có quy mô đất là 6 ha Dự án đãxây dựng một trạm xá, một trường tiểu học, một trường mầm non do tổ chức
Sribanokai (Nhật Bản) tài trợ, trồng cây xanh công viên, xây dựng 111 căn hộ mộttầng mái ngói bằng và bán dưới hình thức trả góp với giá ưu đãi cho các hộ cư trú dọc
Hộ thành hào thuộc phường Phú Hòa do thực hiện chính sách "Giải tỏa các khu lấnchiếm di tích Kinh thành"
Trong đợt chuẩn bị đón Festival năm 2000 tại cố đô Huế, việc tách dân cư rakhỏi Hộ Thành hào là cấp bách, trong đó cụm dân cư từ cửa Ngăn đến phía sau trungtâm văn hóa đường Trần Hưng Đạo phải được di dời trước ngày 26/3/2000, tổng số hộnằm trong diện giải tỏa là 115 hộ Tuy nhiên, do ảnh hưởng của trận lũ thế kỷ tháng11/1999 nên việc giải tỏa đã không hoàn thành theo đúng kế hoạch Tính đến tháng8/2000 chỉ mới di dời được vài chục hộ dọc bờ hồ, chủ yếu từ Cửa Ngăn đến cửaThượng Tứ Đến năm 2001, phường Phú Hậu tiếp nhận thêm 91 hộ thuộc phường PhúHòa về sống tại khu tái định cư Bãi Dâu
Cũng trong năm 2000 cùng với việc tiếp nhận những hộ thuộc diện giải tỏa cáckhu vực lấn chiếm di tích Kinh thành, thì Tỉnh và Thành phố cũng đã xây dựng xongkhu chung cư 3 tầng gồm 28 căn hộ tại khu tái định cư Bãi Dâu
Đến tháng 4 năm 2000, có thêm 38 hộ định cư tại khu vực này, trong đó có 26
hộ về sống tại chung cư 3 tầng
Từ tháng 9/2007, phường Phú Hậu tiếp nhận thêm 91 hộ thuộc phường Phú Cátđến định cư Cuối năm 2009, nhận thêm 204 hộ dân tái định cư vạn đò Năm 2010nhận và quản lý thêm 189 hộ dân vạn đò từ phường Phú Hiệp về định cư, điều này đãgây khó khăn, phức tạp mới trong việc quản lý và thực hiện nhiệm vụ tại địa phươngtrên tất cả các lĩnh vực
Đại học Kinh tế Huế