Giải quyết việc làm và sử dụng tối đatiềm năng lao động xã hội là một trong những nhiệm vụ quan trọng hàng đầu trongchiến lược phát triển kinh tế xã hội của mọi nước trên thế giới đặc bi
Trang 1PHẦN I ĐẶT VẤN ĐỀ
I Tính cấp thiết của đề tài
Trong quá trình chuyển sang nền kinh tế thị trường, hiện tượng người thất nghiệp
là khá phổ biến và trở thành vấn đề quan trọng của mỗi nền kinh tế, đặc biệt là các nềnkinh tế phát triển, thực tế này phản ánh quá trình sắp xếp, cơ cấu lại nền kinh tế và bốtrí lại nguồn nhân lực giữa các vùng kinh tế Giải quyết việc làm và sử dụng tối đatiềm năng lao động xã hội là một trong những nhiệm vụ quan trọng hàng đầu trongchiến lược phát triển kinh tế xã hội của mọi nước trên thế giới đặc biệt là những nướcđang có tình trạng thất nghiệp như nước ta hiện nay Giải quyết việc làm không chỉđơn thuần là thanh toán nạn thất nghiệp, nạn thiếu việc làm, thu nhập thấp, ổn địnhlành mạnh xã hội mà còn tạo mọi điều kiện cho người lao động được giáo dục, đượclao động sáng tạo, được hưởng thụ thành quả lao động, vừa nâng cao chất lượng cuộcsống vừa góp phần thúc đẩy nền kinh tế - xã hội phát triển
Quảng Trị là một tỉnh còn nghèo, lại bị chiến tranh tàn phá nặng nề, nền kinh tếchậm phát triển, do tốc độ tăng dân số cao mà hàng năm nguồn lao động trẻ bổ sungvào rất lớn, trung bình có gần 4000 lao động có nhu cầu giải quyết việc làm mỗi năm,
từ đó dẫn đến sự mất cân đối giữa cung - cầu lao động Tình trạng thất nghiệp, thiếuviệc làm vì vậy diễn ra khá phổ biến ở địa phương Những năm gần đây cùng với sựđổi mới chung của cả nước, kinh tế thị trường diễn ra sôi động thì nhu cầu sử dụng laođộng ngày càng cao, nhưng do chất lượng đội ngũ lao động còn thấp cho nên gặp khókhăn trong vấn đề sử dụng hợp lý nguồn lao động
Quảng Trị là tỉnh ven biển thuộc vùng Bắc Trung Bộ - Việt Nam, dân số tỉnhQuảng Trị là 601.378 người (năm 2010), tổng nguồn lao động (từ 15 tuổi trở lên) là397.210 người, chiếm 66,05% dân số Trong điều kiện một tỉnh nền sản xuất nôngnghiệp là chủ yếu, nguồn nhân lực tăng nhanh qua các năm, lại chưa sử dụng hết đãtạo áp lực ảnh hưởng đến đời sống kinh tế xã hội trong toàn tỉnh Chính vì thế, côngtác giải quyết việc làm có hiệu quả đang là vấn đề khó khăn bức xúc và là yêu cầu cấp
Đại học Kinh tế Huế
Trang 2thiết không thể thiếu được trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội của tỉnh Đây làmột nhiệm vụ cực kỳ quan trọng có ý nghĩa thực tiễn hiện nay ở địa phương.
Chính vì lý do đó, đề tài: “Thực trạng lao động - việc làm và phương hướng
gi ải quyết việc làm có hiệu quả ở tỉnh Quảng Trị” được chọn làm đề tài nghiên cứu
cho chuyên đề cuối khóa
II Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1 Mục tiêu nghiên cứu
2.1.1 Mục tiêu chung
Mục tiêu chung của chuyên đề là nhằm hướng đến việc cải thiện tình trạng công
ăn việc làm, từng bước nâng cao thu nhập cho người lao động trên địa bàn tỉnh QuảngTrị
2.1.2 Mục tiêu cụ thể
Làm rõ các khái niệm, bản chất: việc làm, thất nghiệp, giải quyết việc làm và vaitrò của vấn đề việc làm, giải quyết việc làm
Phân tích đánh giá thực trạng việc làm từ đó xác định số lượng và tỷ lệ lao động
có việc làm, thất nghiệp ở tỉnh Quảng Trị
Phân tích, đánh giá thực trạng các chính sách giải quyết việc làm, từ đó tìm ranguyên nhân dẫn đến hạn chế của các chính sách giải quyết việc làm cho người laođộng trong thời gian qua ở Quảng Trị
Đề xuất một số giải pháp cho chính sách giải quyết việc làm, trên cơ sở phươnghướng phát triển kinh tế - xã hội của Quảng Trị trong thời gian tới
III Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1 Đối tượng nghiên cứu
Lực lượng lao động của tỉnh Quảng Trị
2 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi không gian: Địa bàn tỉnh Quảng trị
Phạm vi thời gian: Chuyên đề được thực hiện trong thời gian từ 17/01/2010 đến04/04/2011
IV Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp luận: Phương pháp duy vật biện chứng
Đại học Kinh tế Huế
Trang 3Phương pháp thu thập tài liệu:
- Sơ cấp: Thông qua quan sát phỏng vấn
- Thứ cấp: Tìm hiểu báo cáo, tài liệu, sách báo…
Do kiến thức, tư duy còn hạn hẹp, thiếu kinh nghiệm trong nghiên cứu cho nênkhông tránh khỏi những sai sót Tôi kính mong được sự giúp đỡ, góp ý của quý thầy
cô và các độc giả quan tâm để tôi hoàn thành tốt chuyên đề này
VI Cấu trúc chuyên đề
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, danh mục các bảngbiểu, mục lục, kết cấu chuyên đề bao gồm 3 chương:
Chương I Cơ sở lý luận chung về lao động và việc làm
Chương II Thực trạng lao động và công tác giải quyết việc làm của tỉnh Quảng
Trị trong giai đoạn 2006-2010
Chương III Các giải pháp tạo việc làm giai đoạn 2011-2015
Đại học Kinh tế Huế
Trang 4PHẦN II
NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
CHƯƠNG I
CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ LAO ĐỘNG VÀ VIỆC LÀM
1.1 Một số khái niệm chung
1.1.1 Khái niệm nguồn nhân lực, nguồn lao động
Nguồn nhân lực: Là nguồn lực con người, là bộ phận dân số trong độ tuổi lao
động, có khả năng lao động, đóng vai trò tạo ra của cải vất chất và tinh thần cho xãhội Hay nguồn nhân lực là toàn bộ khả năng về thể lực và trí lực của con người đượcvận dụng trong quá trình lao động sản xuất, nó cũng được xem là sức lao động của conngười, một nguồn lực quý giá nhất trong yếu tố sản xuất của mọi tổ chức
Như vậy nguồn nhân lực nằm trong dân số gắn với quy mô cơ cấu ở từng loạihình dân số, hơn nữa không kể trạng thái có việc làm hay không có việc làm Nó phảnánh khả năng, tiềm năng về nguồn lao động của một đất nước
Nguồn nhân lực là tiềm năng về lao động trong một thời kỳ xác định trên một địaphương, một ngành hay một vùng Đây là nguồn lực quan trọng nhất để phát triển kinh
tế - xã hội Nguồn nhân lực được xác định bằng số lượng và chất lượng của bộ phậndân số có thể tham gia vào hoạt động kinh tế - xã hội
Nguồn lao động: Là những người đủ 15 tuổi có việc làm và những người trong
độ tuổi lao động có khả năng lao động, nhưng đang thất nghiệp, đang đi học, đang chờviệc, đang làm nội trợ trong gia đình mình hoặc chưa có nhu cầu làm việc và nhữngngười thuộc tình trạng khác (những người nghỉ việc hoặc nghỉ hưu trước tuổi theo quyđịnh của Bộ Luật Lao động)
Như vậy khái niệm về nguồn lao động hẹp hơn nhiều so với khái niệm nguồnnhân lực và chú ý rằng nếu lao động trẻ em được tính vào nguồn nhân lực thì trongnguồn lao động người ta không kể đến lực lượng lao động trẻ em
Đại học Kinh tế Huế
Trang 51.1.2 Khái niệm về việc làm
Theo quan điểm của tổ chức Lao động Quốc tế (LLO) thì: “Người có việc làm lànhững người làm một việc gì đó có được trả tiền công, lợi nhuận hoặc được thanh toánbằng hiện vật, hoặc những người tham gia vào các hoạt động mang tính chất tự tạoviệc làm vì lợi ích hay vì thu nhập vủa từng gia đình, không được nhận lợi nhuận tiềncông hay hiện vật”
Theo khái niệm này thì người có việc làm bao gồm tất cả những người có laođộng ở trong các khu vực của nền kinh tế, khu vực công, khu vực tư, khu vực có thunhập đem lại cuộc sống cho bản thân, cho gia đình họ và xã hội Đây là một khái niệmphù hợp với nền kinh tế hỗn hợp, nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, hoặc nềnkinh tế thị trường
Tại chương II Điều 13 Bộ luật Lao động của nước Cộng hòa xã hội chũ nghĩaViệt Nam, do Quốc hội khóa IX, kỳ họp thứ 5 thông qua ngày 26/3/1994 quy định:
“Mọi hoạt động lao động tạo ra nguồn thu nhập, không bị pháp luật ngăn cấm đềuđược thừa nhận là việc làm”
Nội dung của khái niệm này được mở rộng và tạo ra khả năng to lớn để giảiphóng tiềm năng lao động
Phân loại việc làm:
* Phân loại việc làm dựa trên mức độ sử dụng thời gian lao động:
- Việc làm đầy đủ: Việc làm đầy đủ căn cứ trên hai khía cạnh chủ yếu đó là: Mức
độ sử dụng thời gian lao động, năng suất lao động và thu nhập Mọi việc làm đầy đủđòi hỏi người lao động phải sử dụng đầy đủ hoặc nhiều hơn thời gian lao động theoluật định (Việt nam hiện nay qui định 8 giờ một ngày) Mặt khác việc làm đó phảimang lại thu nhập không thấp hơn mức tiền lương tối thiểu cho người lao động (Nước
ta hiện nay qui định mức lương tối thiểu cho một người lao động trong một tháng là830.000đ) Vậy với những người làm việc đủ thời gian qui định và có thu nhập lớnhơn tiền lương tối thiểu hiện hành là những người có việc làm đầy đủ
- Thiếu việc làm: Với khái niệm việc làm đầy đủ như trên thì thiếu việc làm lànhững việc làm không tạo điều kiện cho người lao động tiến hành nó sử dụng hết quỹ
Đại học Kinh tế Huế
Trang 6thời gian lao động, mang lại thu nhập cho họ thấp dưới mức lương tối thiểu và ngườitiến hành việc làm không đầy đủ là người thiếu việc làm.
Theo tổ chức lao động thế giới (Viết tắt là ILO) thì khái niệm thiếu việc làmđược biểu hiện dưới hai dạng sau:
+ Thiếu việc làm vô hình: Là những người có đủ việc làm làm đủ thời gian, thậmchí còn quá thời gian qui định nhưng thu nhập thấp do tay nghề, kỹ năng lao độngthấp, điều kiện lao động xấu, tổ chức lao động kém, cho năng suất lao động thấpthường có mong muốn tìm công việc khác có mức thu nhập cao hơn
+ Thiếu việc làm hữu hình: Là hiện tượng người lao động làm việc với thời gian
ít hơn quỹ thời gian qui định, không đủ việc làm và đang có mong muốn kiếm thêmviệc làm và luôn sẵn sàng để làm việc
* Phân loại việc làm theo vị trí lao động của người lao động:
- Việc làm chính: Là công việc mà người lao động thực hiện dành nhiều thời giannhất và đòi hỏi yêu cầu của công việc cần trình độ chuyên môn kỹ thuật
- Việc làm phụ: Là công việc mà người lao động thực hiện dành nhiều thời giannhất sau công việc chính
- Việc làm ổn định: Đối với những người trong 12 tháng làm việc từ 6 tháng trởlên và nếu làm dưới 6 tháng trong 12 tháng nhưng tương lai vẫn tiếp tục làm việc đó
ổn định
- Việc làm tạm thời: Những người làm việc dưới 6 tháng trong 1 năm trước thờiđiểm điều tra đang làm công việc tạm thời hoặc không có việc 1 tháng
1.1.3 Khái niệm thất nghiệp
Thất nghiệp là vấn đề kinh tế vĩ mô ảnh hưởng tới con người trực tiếp và nghiêmtrọng nhất Bởi vậy, nó là chủ đề thường xuyên được nêu ra trong các cuộc tranh luậncủa các đề tài chính trị, xã hội của mọi quốc gia
Thất nghiệp đối lập với việc làm, đó là tình trạng có tính quy luật của nền kinh tếthị trường
Ta có khái niệm chung về thất nghiệp như sau: “Thất nghiệp là trạng thái màngười lao động không có việc làm do không tìm được công việc phù hợp với khả năng
Đại học Kinh tế Huế
Trang 7của mình hoặc do mức lương thấp hơn so với mong muốn mặc dù có đủ sức khỏe đểtham gia lao động và luôn ở trạng thái sẵn sàng làm việc”.
Phân loại thất nghiệp:
- Thất nghiệp lâu dài: Xuất phát từ chính bản thân người lao động do khó khăn vềthể chất và tinh thần, vẫn có khả năng lao động nhưng không được thuê mướn
- Thất nghiệp tạm thời: Phát sinh do di chuyển không ngừng của sức lao động
giữa các vùng, các công việc hoặc các giai đoạn khác nhau của cuộc sống
- Thất nghiệp cơ cấu: Xảy ra khi có sự mất cân đối giữa cung và cầu lao động,việc làm Sự không ăn khớp giữa số lượng và chất lượng đào tạo và cơ cấu về yêu cầucủa việc làm, mất cân đối giữa cung và cầu lao động
- Thất nghiệp chu kỳ: Phát sinh khi mức cầu chung về lao động thấp và không ổn
định Những giai đoạn mà cầu lao động thấp nhưng cung lao động cao sẽ xảy ra thấtnghiệp chu kỳ
1.1.4 Khái niệm giải quyết việc làm
Giải quyết việc làm cho người lao động là quá trình đưa người lao động vào làmviệc, tạo ra những điều kiện cần thiết cho sự kết hợp giữa tư liệu sản xuất và sức laođộng Bao gồm các điều kiện sản xuất, tư liệu sản xuất, công cụ và sức lao động cókhả năng lao động
Giải quyết việc làm cho người lao động là vấn đề kinh tế - xã hội tổng hợp vàphức tạp, nó không chỉ đơn thuần là vấn đề kinh tế hay đơn thuần là vấn đề xã hội Do
đó, giải quyết việc làm cho người lao động phải được hiểu theo 2 nghĩa:
Theo nghĩa rộng: Giải quyết việc làm bao gồm những vấn đề liên quan đến việcphát triển và sử dụng có hiệu quả các nguồn lao động xã hội Theo nghĩa này, tạo thêmviệc làm cho người lao động mang một ý nghĩa kinh tế, nó hướng vào mục tiêu tăngtrưởng kinh tế
Theo nghĩa hẹp: Giải quyết việc làm chủ yếu hướng vào đối tượng thất nghiệp,chưa có việc làm hoặc thiếu việc làm, nhằm tạo thêm chỗ làm việc cho người lao động
để duy trì tỷ lệ thất nghiệp ở mức thấp Theo nghĩa này, mục tiêu của giải quyết việclàm là góp phần làm ổn định, an toàn xã hội Với nội dung này, giải quyết việc làmđược tách khỏi chương trình phát triển kinh tế và hình thành chương trình việc làm
Đại học Kinh tế Huế
Trang 8Quốc Gia như một chương trình xã hội có mục tiêu Công việc lựa chọn trong trườnghợp này chủ yếu là công nghệ thích hợp, công nghệ sử dụng nhiều lao động.
Như vậy, giải quyết việc làm theo cả 2 nghĩa trên đều hướng tới mục tiêu hàngđầu là sử dụng tối đa tiềm năng lao động xã hội và thúc đẩy sự tăng trưởng kinh tế
1.2 Tác động của việc làm và giải quyết việc làm đến sự phát triển kinh tế - xã hội
1.2.1 Tác động của tạo việc làm đến việc sử dụng nguồn nhân lực
Tạo việc làm và giải quyết việc làm nhằm phân bổ lao động một cách hợp lý, gópphần hoàn thiện hệ thống quản lý, đưa đến một hệ thống lao động phù hợp với cơ cấu
hệ thống ngành nghề có sự phối hợp hài hoà giữa các bộ phận tổ chức, bố trí lao độngphù hợp với đặc điểm tính chất của công việc sẽ nâng cao năng suất lao động cá nhân.Tạo ra nhiều chỗ làm việc mới sẽ thu hút được nhiều lao động tham gia vào quátrình sản xuất xã hội và sẽ giải quyết các vấn đề mang tính xã hội như: nâng cao, cảithiện đời sống, hạn chế các hiện tượng tiêu cực trong xã hội
Tạo việc làm là một trong những động lực thúc đẩy nâng cao chất lượng nguồnnhân lực vì khi các công việc được tạo mới bao giờ cũng đòi hỏi một chuyên môn kỹthuật cao ở người lao động mà theo quy luật của quá trình tuyển dụng thì người ứng cửviên cũng phải có một trình độ tương đương, bởi thế cho nên người lao động luôn có
xu hướng tích luỹ kiến thức, trình độ lành nghề cho chính mình để có cơ hội tham giavào hoạt động kinh tế
1.2.2 Sự cần thiết phải tạo việc làm và giải quyết việc làm cho người lao động
Tạo việc làm cho người lao động là vấn đề cấp bách của toàn xã hội, nó thể hiệnvai trò của xã hội đối với người lao động, sự quan tâm của xã hội về đời sống vật chất,tinh thần của người lao động và nó cũng là cầu nối trong mối quan hệ giữa xã hội vàngười lao động Việc làm là những hoạt động của người lao động, những hoạt độngnày được công nhận qua những công việc mà họ đã làm và nó cũng là nơi để họ thểhiện những kết quả học tập của mình đó là trình độ chuyên môn
Tạo việc làm là vấn đề chính để người lao động có việc làm và có thu nhập để táisản xuất sức lao động xã hội, giảm tỷ lệ thất nghiệp và do đó hạn chế được những phátsinh tiêu cực do thiếu việc làm gây ra
Đại học Kinh tế Huế
Trang 9Tạo việc làm đáp ứng nhu cầu tìm việc nhu cầu lao động của con người vì laođộng là phương tiện để tồn tại chính của con người.
Do đó mọi chủ trương chính sách đúng đắn là phải phát huy cao độ khả năngnguồn lực con người, nếu có sai phạm thì nguồn lao động sẽ trở thành gánh nặng, thậmchí gây trở ngại, tổn thất lớn cho nền kinh tế cũng như xã hội Vì vậy một quốc gia giảiquyết tốt vấn đề việc làm cho người lao động là thành công lớn trong sự nghiệp pháttriển kinh tế xã hội, chính trị của mình
1.2.3 Tác động của việc làm và giải quyết việc làm đến sự phát triển kinh
tế - xã hội
Vai trò đối với kinh tế:
Việc làm và giải quyết việc làm đóng một vai trò vô cùng to lớn đối với sự pháttriển kinh tế, bởi vì sự phát triển đó phụ thuộc rất lớn vào vấn đề sử dụng có hiệu quảnguồn nhân lực, nguồn tài nguyên thiên nhiên và nguồn vốn, trong đó việc sử dụngnguồn nhân lực có vai trò quyết định nhất đến việc sử dụng các nguồn lực khác
Việc làm và lao động là hai phạm trù có liên quan với nhau, cùng phản ánh mộtloại lao động sản xuất có ích cho con người, nhưng hai phạm trù đó lại không đồngnhất Vì có việc làm thì chắc chắn có lao động, nhưng ngược lại có lao động chưa chắc
đã có việc làm vì còn phụ thuộc vào mức độ ổn định của công việc mà người lao độngđang làm Nhưng trong cuộc sống, việc làm là điều kiện không thể thiếu được của conngười, đó là yếu tố tất yếu, là khâu trung gian trong sự trao đổi giữa con người và tựnhiên
Giải quyết việc làm cho người lao động chính là giải quyết yếu tố đầu vào củaquá trình sản xuất Muốn sử dụng có hiệu quả sức lao động của con người thì vấn đềđặt ra là phải giải quyết tình trạng thiếu việc làm cho người lao động Thông qua việclàm con người tạo ra được nhiều của cải vật chất hơn nhằm thoả mãn nhu cầu củamình, của xã hội và làm cho nền kinh tế ngày càng phát triển
Tạo việc làm cho người lao động chính là khai thác và sử dụng có hiệu quả nguồnnhân lực Trong sự phát triển của xã hội thì con người luôn luôn là trọng tâm, nó tồntại với hai tư cách vừa là chủ thể vừa là mục tiêu trong hoạt động của mình Là chủthể, con người tham gia vào sản xuất làm cho nền kinh tế - xã hội phát triển, còn mục
Đại học Kinh tế Huế
Trang 10tiêu là sự hưởng thụ những thành quả của quá trình lao động Tạo việc làm cho ngườilao động tức là làm cho người lao động có thu nhập để nuôi sống bản thân, gia đình và
có một phần đóng góp cho xã hội Giải quyết việc làm cho người lao động là khai thác
sử dụng hợp lý nguồn nhân lực vào trong công cuộc phát triển kinh tế, góp phần giảmbớt tỷ lệ thất nghiệp, thúc đẩy nền kinh tế - xã hội phát triển Nó đảm bảo được các lợiích cho người lao động, cho xã hội, với lợi ích vật chất là chất lượng hàng đầu
Như vậy, giải quyết việc làm cho người lao động đóng vai trò rất lớn đối với nềnkinh tế Một đất nước có nền kinh tế phát triển, tỷ lệ thất nghiệp ở mức hợp lý, nhữngngười thất nghiệp được hưởng trợ cấp, kỷ cương xã hội được duy trì và đẩy mạnh, các
tệ nạn không có cơ hội để phát triển, thì xã hội đó ổn định và phát triển Do đó, giảiquyết việc làm có vai trò rất quan trọng về mặt kinh tế
Vai trò đối với xã hội:
Việc làm cho người lao động đóng vai trò to lớn đối với sự phát triển của xã hội.Giải quyết việc làm cho người lao động, tức là tạo cho họ cơ hội để thực hiện quyền vànghĩa vụ của mình, trong đó quyền cơ bản nhất là quyền được làm việc để nuôi sốngbản thân và gia đình Thông qua việc làm, con người thực hiện quyền sống và mưu cầuhạnh phúc, quyền bất khả xâm phạm về thân thể, quyền tự do tư tưởng, tự do cư trú Con người được đảm bảo những quyền tự nhiên chính đáng, được tạo điều kiện sống(ăn, ở, mặc ) và có cơ hội để phát triển năng lực nghề nghiệp, năng lực sáng tạo.Giải quyết việc làm cho người lao động ở nước ta trong điều kiện nền kinh tế thịtrường đóng một vai trò to lớn đối với việc điều chỉnh lại các chính sách xã hội Tạothêm việc làm cho người lao động sẽ góp phần điều chỉnh lại cơ cấu lợi ích của cácgiai cấp, đảm bảo được lợi ích của các thành viên trong xã hội, thoả mãn được nhu cầucủa người lao động Từ đó tạo ra một xã hội mới, từng bước đảm bảo công bằng xãhội, tạo ra động lực phát triển, tạo điều kiện thuận lợi cho con người phát triển toàndiện và có nhân cách Để xây dựng một xã hội công bằng, bình đẳng, văn minh thìmục tiêu của chúng ta vẫn là giảm tỷ lệ thất nghiệp, tạo điều kiện thuận lợi cho ngườilao động tự kiếm việc làm, có thu nhập Với các chính sách của Nhà nước và chươngtrình hành động cụ thể chúng ta đã phát huy được bản chất xã hội chủ nghĩa công bằng
và bình đẳng của Nhà nước ta Giải quyết việc làm cho người lao động sẽ góp phần
Đại học Kinh tế Huế
Trang 11tăng tính công bằng và bình đẳng được củng cố, làm cho nền kinh tế phát triển, xã hội
ổn định và hạn chế sự gia tăng của tỷ lệ thất nghiệp
Tóm lại: Giải quyết việc làm cho người lao động đóng vai trò vô cùng to lớn đối
với sự phát triển kinh tế - xã hội, nó là động lực thúc đẩy quá trình sản xuất, thúc đẩy
xã hội phát triển Điều này có thực hiện được hay không phụ thuộc vào nhiều yếu tố,trong đó yếu tố quan trọng nhất là môi trường lao động sản xuất để phát huy cao độkhả năng của con người Nếu có chính sách giải quyết việc làm đúng đắn và môitrường thuận lợi sẽ là nhân tố quan trọng ảnh hưởng rất lớn đến việc tạo thêm việc làmcho người lao động, qua đó phát huy được tiềm năng sáng tạo của con người và thúcđẩy họ cống hiến hết mình cho sự nghiệp công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước.Trái lại, nếu chính sách không đúng, sẽ không bảo đảm được sự công bằng và khôngphát huy được nhân lực, tài lực, không kích thích được tính sáng tạo của người laođộng làm lãng phí chất xám Do đó, việc đề ra chính sách đúng đắn hết sức quan trọng,
nó sẽ trở thành động lực to lớn để đảm bảo sự công bằng, làm cho xã hội ổn định, pháthuy được mọi tiềm lực vật chất và tinh thần, tiềm năng sáng tạo của các tầng lớp dân
cư trong xã hội, tạo nên sức mạnh tổng hợp để đưa nền kinh tế - xã hội của nước taphát triển Vậy, ý nghĩa lớn nhất của chính sách giải quyết việc làm cho người laođộng là nhằm mục đích phát triển kinh tế - xã hội một cách bền vững, đem lại cuộcsống tốt đẹp cho mọi thành viên trong xã hội đảm bảo thực hiện được mục tiêu của chủnghĩa xã hội ở nước ta là: "Dân giàu, nước mạnh xã hội công bằng dân chủ và vănminh"
1.3 Thực trạng lao động - việc làm ở Việt Nam
Dù ở thời đại nào, nguồn nhân lực cũng luôn là yếu tố quan trọng nhất quyết địnhsức mạnh của một quốc gia Bởi mọi của cải vật chất đều được làm nên từ bàn tay vàtrí óc của con người
Việt Nam hiện nay đang có nguồn nhân lực dồi dào với dân số cả nước gần 86triệu người (Tính đến ngày ngày 1/4/2009, dân số của Việt Nam: 85.789.573 người).Trong đó số người trong độ tuổi lao động tăng nhanh và chiếm một tỉ lệ cao khoảng67% dân số cả nước Rõ ràng Việt Nam đang có thế mạnh lớn về nguồn lực lao độngnhưng hiện tại vẫn đang gặp nhiều khó khăn trong việc thúc đẩy kinh tế đi lên Có
Đại học Kinh tế Huế
Trang 12nhiều nguyên nhân lí giải cho vấn đề này, trong đó chất lượng nguồn nhân lực hiệnnay của nước ta được xem là nguyên nhân mấu chốt.
Theo thống kê, trong gần 86 triệu người ở Việt Nam thì nông dân chiếm gầnkhoảng 73% dân số cả nước Điều này cho thấy nông dân vẫn là lực lượng lao động xãhội chiếm tỉ lệ cao nhất Trong khi đó công nhân có tay nghề cao lại chiếm tỷ lệ thấp,
số công nhân có trình độ văn hóa, tay nghề, kĩ thuật rất ít Theo thống kê công nhân cótrình độ cao đẳng, đại học ở nước ta chiếm khoảng 3,3% đội ngũ công nhân nói chung.Chính vì trình độ văn hoá tay nghề thấp nên đa số công nhân không đáp ứng tốt yêucầu công việc
Hiện cả nước có khoảng 300 trường dạy nghề và hơn 1.000 trung tâm dạy nghềcủa các bộ và tỉnh, đề án đào tạo nghề đến năm 2010 được phép chi tới 24 nghìn tỷđồng kinh phí Tuy vậy tình hình chung là việc đào tạo đã không khớp với nhu cầu vàcác doanh nghiệp, vẫn phải đào tạo lại Trước thực trạng chất lượng lao động khôngtheo kịp nhu cầu tuyển dụng, nguyên nhân chính là do chất lượng đào tạo nghề
Nếu không chú trọng nâng cao chất lượng lao động, Việt Nam sẽ có nguy cơ đốimặt với những rủi ro như giảm sức hấp dẫn đối với nhà đầu tư, ảnh hưởng tới tăngtrưởng kinh tế, khó khăn trong việc phát triển doanh nghiệp và đầu tư, thậm chí ảnhhưởng trực tiếp tới nỗ lực tái cấu trúc kinh tế và thoát “bẫy thu nhập trung bình”
Theo Tổng cục Thống kê, năm 2010, lực lượng lao động trong độ tuổi từ 15 tuổitrở lên hơn 50,50 triệu người, tăng 2,68% so với năm 2009; trong đó lực lượng laođộng trong độ tuổi lao động hơn 46,20 triệu người, tăng 2,12% Tỷ lệ dân số cả nước
15 tuổi trở lên tham gia lực lượng lao động tăng từ 76,5% năm 2009 lên 77,3% năm2010
Theo báo cáo của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, năm 2009, cả nước đãtạo việc làm cho 1,51 triệu lao động, đạt 88,8% kế hoạch năm, trong đó, tạo việc làmtrong nước là 1,437 triệu người và xuất khẩu lao động trên 73.000 người.Năm 2010, tạo việc làm cho 1,6 triệu lao động Trong đó, việc làm trong nước là1,515 triệu người, xuất khẩu lao động là 85.000 người Bên cạnh đó, Bộ cũng phấn đấugiảm tỷ lệ thất nghiệp trong độ tuổi ở khu vực thành thị xuống dưới 4,7%
Đại học Kinh tế Huế
Trang 13Cũng theo báo cáo tổng kết của Bộ Lao động Thương binh và xã hội thì tỷ lệ thấtnghiệp tại khu vực thành thị của Việt Nam năm 2009 là 4,66% Đây là tỷ lệ thấtnghiệp trong độ tuổi từ 15 - 60 đối với nam và 15 - 55 đối với nữ.
Ở Việt Nam, tỷ lệ lao động thiếu việc làm thường cao hơn nhiều so với tỷ lệthất nghiệp Trong đó, khu vực nông thôn thường có tỷ lệ thiếu việc làm cao hơn sovới thành thị Năm 2009, tỷ lệ thiếu việc làm của Việt Nam ở mức 5,1% Đáng chú ý,
tỷ lệ thiếu việc làm ở nông thôn lên tới 6,1%, còn khu vực thành thị là 2,3%
Cụ thể như sau:
Biểu 1: Tỷ lệ thất nghiệp của cả nước phân theo khu vực năm 2009
ĐVT: %Chỉ tiêu
Khu Vực
Tỷ lệ thất nghiệp Tỷ lệ thiếu việc làmThành thị Nông thôn Thành thị Nông thôn
(Nguồn: Số liệu thống kê - Tổng Cục Thống kê).
Theo biểu 1 ta thấy: Số người thất nghiệp ở khu vực thành thị cao hơn rất nhiều
so với khu vực nông thôn Nguyên nhân tỷ lệ thất nghiệp cao ở khu vực thành thị là dothị trường lao động phát triển sâu rộng đòi hỏi chất lượng lao động cao, trong khi đókhông ít ngành nghề đào tạo lại không phù hợp với yêu cầu của thị trường Cùng đó,lao động không nghề có tỷ trọng lớn nên càng ngày càng khó có cơ hội tìm việc làm,
và nguyên nhân dẫn đến tình trạng thất nghiệp chung nữa là do khủng hoảng kinh tếtoàn cầu
Năm 2010 tỷ lệ thất nghiệp chung đã giảm 0,02%, thất nghiệp thành thị giảm0,17% trong khi thất nghiệp nông thôn lại tăng thêm 0,02% Tỷ lệ thiếu việc làm năm
Đại học Kinh tế Huế
Trang 142010 của lao động trong độ tuổi là 4,5%; trong đó khu vực thành thị là 2,04%, khu vựcnông thôn là 5,47%.
Trình độ học vấn của người dân đang còn thấp nên còn hạn chế trong việc nhậnthức về lao động việc làm, đây cũng là một trong những nguyên nhân dẫn đến tìnhtrạng thất nghiệp hiện nay
1.4 Hệ thống các chỉ tiêu nghiên cứu
1.4.1 Năng suất lao động
Theo Mác: "Năng suất lao động là sức sản xuất của lao động cụ thể có ích và nóđược đo bằng số lương sản phẩm sản xuất ra trong một đơn vị thời gian hoặc bằnglượng thời gian hao phí cần thiết để sản xuất ra một đơn vị sản phẩm” Năng suất laođộng nguồn nhân lực là biểu hiện tổng thể các năng suất lao động của cá nhân ngườilao động Nhưng khi năng suất lao động nguồn nhân lực tăng thì năng suất lao động cánhân tăng còn khi năng suất lao động cá nhân tăng thì năng suất lao động nguồn nhânlực chưa chắc đã tăng do sự trì trệ, không hiệu quả của một số lao động trong quá trìnhsản xuất
Năng suất lao động cá nhân (W) biểu hiện bằng một số chỉ tiêu sau:
* Năng suất lao động tính bằng hiện vật: Là khối lượng sản lượng hiện vật đượcsản xuất ra trong một thời gian nhất định
W=Q/P
Trong đó W: Năng suất lao động cá nhân
Q: Tổng số sản lượng được sản xuất ra và được nghiệm thu bằng hiện vật.P: Tổng số công nhân
Chỉ tiêu năng suất lao động này chỉ áp dụng cho các cơ sở sản xuất mà các cá nhânngười lao động chỉ sản xuất một loại sản phẩm mà không có sản phẩm dở dang
* Năng suất lao động tính bằng giá trị: Là lượng giá trị (Quy ra tiền) của tất cảcác sản phẩm được sản xuất ra trong một đơn vị thời gian
W=Q/TTrong đó W: Năng suất lao động cá nhân đo bằng giá trị
Q: Tổng sản lượng (Giá trị )
Đại học Kinh tế Huế
Trang 15T: Tổng số lao động.
1.4.2 Hệ số sử dụng thời gian lao động
Hệ số sử dụng thời gian lao động là chỉ tiêu biểu hiện việc sử dụng hiệu quảnguồn nhân lực Nguồn nhân lực khi tham gia quá trình lao động ngoài hao phí nguồnlực ra thì còn phải hao phí yếu tố thời gian lao động, đó là số lượng thời gian mà ngườilao động tham gia lao động trong một quỹ thời gian quy định cho phép
K=100T/H (%)Trong đó K: Hệ số sử dụng thời gian lao động
T: Thời gian thực tế người lao động tham gia lao động trong quỹ thời gian.H: Quỹ thời gian (Ngày , tháng , quý ,năm)
Hệ số sử dụng thời gian lao động nói lên lượng lao động đã hao phí trong quátrình sản xuất Chỉ tiêu này chủ yếu dùng để đánh giá hiệu quả sử dụng nhân lực trongcác cơ quan hành chính sự nghiệp, thực hiện dịch vụ Mà sản phẩm của họ sản xuất rakhông thể khái quát được nội dung lao động của họ
1.4.3 Chỉ tiêu mức độ phù hợp giữa đào tạo và sử dụng
Chỉ tiêu này đánh giá một cách khái quát tình hình sử dụng hợp lý lao động, điều
đó được phản ánh qua số lượng lao động được đào tạo và số lượng lao động được sửdụng vào công việc theo đúng ngành nghề đã đào tạo
k=v/d (100)Trong đó v: Số lao động được bố trí theo đúng ngành nghề đào tạo
Chỉ tiêu này chủ yếu nhằm đánh giá sự bố trí, sắp xếp lao động có hợp lý hay khôngtrong một tổ chức
1.4.4 Chỉ tiêu mức độ phù hợp của cơ cấu ngành nghề
Mức độ phù hợp của cơ cấu ngành nghề là chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sử dụngnguồn nhân lực, nó được biểu hiện bởi yêu cầu của ngành nghề lao động hiện có trongngành nghề đó
Chỉ tiêu mức độ phù hợp của cơ cấu ngành nghề chủ yếu nhằm đánh giá hiệu quảcủa quá trình sử dụng nguồn nhân lực của ngành nghề đó và được biểu hiện bởi hai chỉtiêu đó là:
Đại học Kinh tế Huế
Trang 16* Chỉ tiêu phù hợp về số lượng lao động:
Đó là chỉ tiêu biểu hiện sự so sánh giữa nhu cầu về số lượng của một ngành nghềnào đó, một bộ phận nào đó với số lao động hiện có đang thực hiện lao động trongngành nghề, bộ phận đó
k= N/D (%)Trong đó:
K: Hệ số phù hợp về số lượng lao động của một ngành nghề hay một bộ phận
D: Số lượng lao động mà ngành nghề hay bộ phận cần có để có thể hoạt động được.N: Số lượng lao động thực tế đang làm việc trong một ngành nghề hay bộ phận đó
* Chỉ tiêu phù hợp về chất lượng lao động:
Trong một ngành nghề, bộ phận lao động hoạt động có hiệu quả hay không chủyếu dựa vào mức độ phù hợp về chất lượng lao động, mức độ này được biểu hiện bởiyêu cầu về trình độ chuyên môn lành nghề, trình độ của công việc so với ngành nghề,trình độ chuyên môn kỷ thuật tay nghề hiện có kinh nghiệm đang tham gia quá trìnhlao động
Hệ số phản ánh trình độ lành nghề :
- Chi tiêu 1:
k=q/h (100)Trong đó q: Bậc thợ của một lao động đang làm việc
h: Bậc thợ theo yêu cầu của công việc mà người thợ đang làm
- Chỉ tiêu 2:
k=l/m (100)Trong đó l: Số năm kinh nghiệm mà người lao động đang làm việc có
m: Số năm kinh nghiệm mà công việc đó yêu cầu
Chỉ tiêu này đánh giá được mức độ phù hợp của việc sử dụng chất lượng nguồnnhân lực trong một ngành nghề
Đại học Kinh tế Huế
Trang 17CHƯƠNG IITHỰC TRẠNG LAO ĐỘNG VÀ CÔNG TÁC GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM CỦA
TỈNH QUẢNG TRỊ TRONG GIAI ĐOẠN 2006-2010
2.1 Thực trạng về dân số, lao động và việc làm của tỉnh Quảng Trị giai đoạn 2006-2010
2.1.1 Số lượng dân số và lao động giai đoạn 2006-2010
Dân số Quảng trị thuộc loại cơ cấu dân số trẻ, từ 20-24 chiếm 14,48%, từ 25-29chiếm 14,63%, trên 60 tuổi chiếm 4,11% Cụ thể: năm 2009 dân số toàn tỉnh là599.221 người, trong đó số người trong độ tuổi lao động là 395.785 người và lựclượng lao động là 277.327 người, chiếm 46,28% so với dân số Năm 2010 dân số là601.378 người, trong độ tuổi là là 397.210 người và lực lượng lao động là 278.325người chiếm 46,28%
Biểu 2 Dân số và lao động của tỉnh giai đoạn 2006-2010
(Nguồn: Niên giám thống kê – Cục thống kê tỉnh Quảng Trị).
Nguồn lao động chiếm tỷ lệ cao so với dân số, năm 2010 là 66,05% trong đó laođộng trong độ tuổi chiếm 46,28%, đây là yếu tố cơ bản để phát triển đồng thời cũngtạo sức ép lớn về việc làm
Như vậy khi đân số gia tăng thì lực lượng lao động cũng gia tăng theo, ở mộtmức độ nào đó sẽ là điều kiện thuận lợi cho sản xuất phát triển góp phần phân công laođộng Nhưng việc tăng nguồn lao động thôi thì chưa đủ mà phải tăng về mặt chấtlượng thì mới đáp ứng được yêu cầu của sản xuất và nhu cầu của xuất khẩu lao động
Đại học Kinh tế Huế
Trang 18Quảng Trị cũng như bao tỉnh thành phố khác, một khi dân số tăng cao nó sẽ trở thànhgánh nặng, áp lực lớn về nhu cầu giải quyết việc làm, phát triển kinh tế - xã hội Do đóyêu cầu đặt ra là phải sử dụng có hiệu quả nguồn lao động xã hội để chuyển đổi cơ cấukinh tế, sắp xếp phân bố lại dân cư.
2.1.2 Chất lượng lao động
Bước sang thế kỷ XXI là nền kinh tế tri thức, do đó để đánh giá đựợc sự giàu cóphát triển của một quốc gia hay một tỉnh thành phố thì người ta không căn cứ vào tàinguyên khoáng sản, vào đất đai mà chủ yếu dựa vào nguồn nhân lưc hay dựa vào độingũ lao động có tri thức Lực lượng lao động ở Quảng Trị tuy số lượng tăng nhanhnhưng chất lượng vẫn còn thấp Cụ thể như sau:
Biểu 3 Chất lượng lao động phân theo trình độ văn hóa năm 2010
(Nguồn: Báo cáo tổng kết chương trình mục tiêu việc làm tỉnh Quảng Trị)
Những năm gần đây do tỉnh đã có sự thay đổi về đường lối, chính sách giáo dụcnên việc dành nguồn kinh phí để xây dựng hệ thống trường lớp nhiều hơn, tỉnh đã cóchính sách phổ cập tiểu học, khuyến khích đội ngũ giáo viên về công tác tại các xã,huyện vùng sâu vùng xa Mặt khác, cũng do chất lượng cuộc sống của người dân ngàycàng đảm bảo hơn nên nhận thức của họ cũng đã tiến bộ hơn Chính vì những lý do đó
mà tỷ lệ tốt nghiệp THCS là 46,47 % ( năm 2010), tốt nghiệp THPT là 31,09% (năm2010), đã cho thấy trình độ văn hóa của người lao động cao, tạo điều kiện cho ngườilao động hình thành những đức tính cần thiết, giúp họ nâng cao trình độ hiểu biết, tiếp
Đại học Kinh tế Huế
Trang 19thu trình độ kỹ thuật công nghệ tiên tiến để vận dụng nó Bởi khi nói đến trình độ vănhóa sẽ là nền tảng đặt nền móng cho sự đào tạo trình độ chuyên môn kỹ thuật cho lựclượng lao động.
Biểu 4 Chất lượng lao động phân theo trình độ chuyên môn kỹ thuật
Số lượng
(người)
Tỷ lệ (%)
- Trung cấp chuyên nghiệp 13.645 4,92 13.666 4,91
- Cao đẳng, đai học trở lên 23.572 8,5 23.741 8,53
(Nguồn: Báo cáo tổng kết chương trình mục tiêu việc làm tỉnh Quảng Trị)
Dựa vào (biểu 4) ta thấy lực lượng lao động qua đào tạo tương đối cao Năm
2010 tỷ lệ đã qua đào tạo là 32,47%, trong đó đào tạo nghề là 19,3%, tỷ lệ ĐH-CĐ trởlên là 8,53% (26.241 người); tỷ lệ TCCN là 4,91% (15.135 người) Số người có trình
độ trung cấp trở lên chiếm 13,44% nhưng chủ yếu tập trung vào các ngành Giáo dục, Y
Tế, Công nghiệp và các cơ quan hành chính sự nghiệp, Đảng, Đoàn thể
Từ đó phản ánh cơ cấu lao động được đào tạo với lao động chưa qua đào tạo,giữa lao động có trình độ trung cấp trở lên với công nhân kỹ thuật còn chưa hợp lý.Đặc biệt là công nhân kỹ thuật có tay nghề cao đang thiếu nghiêm trọng Không nhữngthế lao động làm việc trong các doanh nghiệp đều là lao động phổ thông, lại có ít bằngcấp nhất là trong các ngành cơ khí, xây dựng, sản xuất vật liệu xây dựng Hiện naytrong các ngành công nghiệp của tỉnh còn thiếu cán bộ kỹ thuật, cán bộ quản lý, côngnhân lành nghề và thợ bậc cao, nên lực lượng lao động chưa trở thành động lực thúc
Đại học Kinh tế Huế
Trang 20đẩy, tạo điều kiện phát triển nền kinh tế Quảng Trị theo hướng công nghiệp hóa, hiệnđại hóa Trên cơ sở phân tích thực trạng lực lượng lao động theo trình độ chuyên môn
kỹ thuật thì tỉnh Quảng Trị cần phải có chính sách cụ thể trong kế hoạch đào tạo nghề,đặc biệt là chú trọng đào tạo các lớp công nhân kỹ thuật và trung cấp nghề, cao đẳngnghề
Với lực lượng lao động có trình độ văn hóa và trình độ chuyên môn kỹ thuật đãqua đào tạo nêu trên rõ ràng mất cân đối, chưa thể đáp ứng được yêu cần pháttriển kinh tế - xã hội và cũng rất khó khăn cho việc đáp ứng được yêu cầu của sựnghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa nền kinh tế tỉnh nhà nói chung cũng nhưkhu vực nông nghiệp nông thôn nói riêng Do vậy, để đáp ứng được yêu cầu chấtlượng của lực lượng lao động phục vụ cho phát triển kinh tế - xã hội của tỉnhtrong những năm tới, đòi hỏi phải có những chuyển biến căn bản về nhận thức tổchức và phương pháp với công tác dạy và học nghề
2.1.3 Cơ cấu lao động của tỉnh giai đoạn 2006-2010
2.1.3.1 Cơ cấu lao động phân theo khu vực
Biểu 5: Lực lượng lao động phân theo khu vực
(Nguồn: Báo cáo tổng kết chương trình mục tiêu việc làm tỉnh Quảng Trị)
Qua bảng số liệu 5 cho ta thấy:
Số lượng
(người)
Tỷ lệ (%)
Trang 21Ở khu vực Thành thị: Tỷ lệ lực lượng lao động chiếm 26,3% năm 2006 (71.933người) tăng lên 27,7% năm 2010 (77.235 người), với tốc độ tăng bình quân là 1,8%.Như vậy giai đoạn 2006 - 2010 trong vòng 5 năm, lực lượng lao động tăng lên 5.302người.
Ở khu vực nông thôn: Lực lượng lao động chiếm một tỷ lệ khá cao là 73,7% năm
2006 (201.922 người) giảm xuống còn 72,3% (201.090 người),giảm với tốc độ 0,11%.Trong vòng 5 năm số lao động giảm 832 người
Tuy lực lượng lao động ở khu vực nông thôn chiếm tỷ lệ lớn, nhưng do trình độsản xuất còn manh mún, thô sơ, công nghệ chế biến còn chưa hiện đại, khả năng tíchlũy còn hạn chế, cơ sở hạ tầng còn thấp kém… nên việc đầu tư mở rộng sản xuất còngặp nhiều khó khăn Do đó việc tạo ra sản phẩm cho xã hội ở khu vực này không lớnlắm
Nguyên nhân làm cho lực lượng ở khu vực thành thị tăng nhanh còn khu vựcnông thôn lại giảm:
- Do ở thành thị có điều kiện hơn, nên sản xuất phát triển kèm theo đó là có nhiềungành xuất hiện, đa phần là các doanh nghiệp có quy mô lớn đều tập trung ở đây, đó là
lý do thu hút nhiều lao động đi lên khu vực này kiếm việc làm hơn
- Do khu vực nông thôn tiến hành cơ giới hóa, nên máy móc được đưa vào sảnxuất nhiều hơn Vì thế mà lao động nông thôn có xu hướng ra thành thị kiếm việc làm
Đại học Kinh tế Huế
Trang 222.1.3.2 Cơ cấu lực lượng lao động phân theo nhóm ngành kinh tế
Là một Tỉnh thuần nông, ngành nghề sản xuất chủ yếu là nông nghiệp, côngnghiệp, tiểu thủ công nghiệp thì phát triển chậm, nên việc chuyển dịch cơ cấu lao độngmặc dù đã có bước chuyển biến mạnh so với những năm trước, nhưng nhìn chung tốc
độ chuyển dịch vẫn còn chậm Cụ thể như sau:
Biểu 6: Lực lượng lao động phân theo nhóm ngành kinh tế
Năm
Tổng số
Nông-Lâm-Ngư Công nghiệp
Số lượng
(người)
Tỷ lệ (%)
Số lượng
(người)
Tỷ lệ (%)
(Nguồn: Báo cáo tổng kết chương trình mục tiêu việc làm tỉnh Quảng Trị)
Dựa vào bảng 6 ta thấy ngành nghề sản xuất chủ yếu là nông nghiệp, công nghiệp
và xây dựng phát triển chậm, riêng ngành dịch vụ chiếm tỷ trọng tương đối cao trong
cơ cấu ngành, việc chuyển dịch cơ cấu mặc dù đã có bước chuyển biến mạnh so vớinhững năm trước nhưng nhìn chung tốc độ chuyển dịch vẫn còn chậm
Lực lượng lao động trong nhóm ngành Nông - Lâm - Ngư nghiệp chiếm tỷ lệ62,1% (2006) giảm xuống còn 55,3% (2010), tức là trong vòng 5 năm giảm với tốc độbình quân là 2,4%, về số tuyệt đối thì từ năm 2006 đến 2010 giảm 16.116 người Sốlao động này đã tham gia vào các lĩnh vực khác
Lực lượng lao động trong nhóm ngành Công nghiệp - Xây dựng tăng từ 7,9%(năm 2006) lên 8,3% (năm 2010), về số tuyệt đối 1.528 người Giai đoạn 2006-2010,lực lượng lao động ở nhóm ngành này tăng với tốc độ bình quân là 1,69%, trong vòng
Đại học Kinh tế Huế
Trang 235 năm mà lực lượng lao động trong nhóm ngành này chỉ tăng 1.528 người là một con
số không mấy khả quan
Nhóm ngành Thương mại - Dịch vụ có tốc độ tăng bình quân là 5,43% và ngàycàng thu hút nhiều lao động tham gia vào ngành này, cụ thể năm 2006 chiếm tỷ lệ 30%tăng lên 36,4% trong cơ cấu ngành năm 2010
Như vậy nhìn chung lao động trong nhóm ngành Nông - Lâm - Ngư nghiệp có xuhướng giảm dần qua các năm, còn lao động trong nhóm ngành Công nghiệp - Xâydựng và Thương mại - Dịch vụ ngày càng tăng cao Tuy nhiên vì là tinh thuần nôngnên lực lượng lao động chủ yếu là làm việc trong lĩnh vực Nông - Lâm - Ngư nghiệp.Nguyên nhân của sự chuyển dịch này là:
Do quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa, đô thị hóa nông thôn, nên Nông Lâm - Ngư nghiệp đã được cơ khí hóa, sản xuất được thay thế bằng máy móc, vì thế
-mà lao động trong nhóm ngành này chuyển dần qua các lĩnh vực khác Số lao độngnày một phần tham gia vào làm công nhân cho các nhà máy lớn, một phần trở thànhthương nhân nhỏ hay mở các quầy tạp hóa, các hình thức buôn bán nhỏ để kinhdoanh… Đó là lý do mà tại sao tỷ lệ nhóm ngành dịch vụ tăng nhanh hơn các nhómkhác
- Mặt khác Quảng Trị có nhiều thuận lợi là: Có cửa khẩu Quốc Tế Lao Bảo, biểnCửa Tùng, cửa khẩu La Lay, cảng Cửa Việt, nghĩa trang liệt sĩ Trường Sơn… Đây lànhững thuận lợi để thu hút khách, do đó tạo điều kiện cho ngành dịch vụ phát triển, vìthế ngày càng thu hút được nhiều lao động
- Lý do mà lao động trong nhóm ngành Công nghiệp - Xây dựng còn thấp so vớicác ngành khác là do Quảng Trị còn nghèo nên vốn đầu tư còn hạn chế, đặc biệt là đểđầu tư xây dựng các nhà máy có quy mô lớn cấp quốc gia, cơ sở hạ tầng hiện đại… Đó
là những lý do tuy có sự chuyển dịch cơ cấu lao động nhưng vẫn còn thấp hơn so vớicác tỉnh, thành phố khác
2.1.4 Đánh giá chung về lực lượng lao động của tỉnh trong những năm qua
Trên cơ sở phân tích thực trạng lao động tỉnh thì ta thấy Quảng Trị là một tỉnh có
số lượng lao động dồi dào, năm 2010 lực lượng lao động chiếm dến 46,28% dân sốcủa tỉnh, đây cũng là một lợi thế của tỉnh nhà Tuy nhiên nếu lực lượng lao động mà
Đại học Kinh tế Huế
Trang 24tăng về số lượng lao động thì chưa đủ mà phải tăng cả về chất lượng, đó là yếu tố rấtcần thiết cho sự phát triển của tỉnh Quảng Tri nói riêng và cả nước nói chung
Trong những năm qua chất lượng lực lượng lao động của tỉnh còn thấp, tỷ lệ laođộng đã qua đào tạo chỉ mới đạt 32,4% còn lại 67,5% chưa qua đào tạo và tỷ lệ laođộng qua đào tạo cũng chưa cân đối, đó là sự trở ngại lớn cho việc cung ứng lao động
kỹ thuật, mặt khác lao động có trình độ văn hóa chưa cao, trình độ chuyên môn kỹthuật cũng vậy
Nhìn chung, hiện trạng nguồn lao động và việc sử dụng nguồn lao động ở QuảngTrị chưa được chú ý đúng mức, lao động phân bố không đồng đều, mặt khác cơ sở hạtầng phục vụ công tác đào tạo dạy nghề còn hạn chế Do đó sẽ làm cho chất lượng laođộng giảm, người lao động không đáp ứng được yêu cầu kỹ thuật nghiệp vụ mà nhucầu thị trường đòi hỏi Trong khi khoa học công nghệ ngày càng hiện đại thì việckhông nâng cấp trình độ cho người lao động sẽ làm cho nhận thức của họ ngày càng bịtụt hậu
Sở dỉ chất lượng lao động thấp là do Quảng Trị chưa có nhiều trường đào tạonghề, lại bị hậu quả chiến tranh tàn phá Tuy người dân Quảng Trị có truyền thống cần
cù, chịu khó, hiếu học, nhưng vì cuộc sống khó khăn nên họ có ít thời gian để học tậpcũng như thời gian để tu bổ, bồi dưỡng kiến thức Những năm gần đây tuy lực lượnglao động đã qua đào tạo có tăng lên nhưng cực kỳ chậm Một số lao động được đào tạo
có bằng cấp thì lại đi các tỉnh khác làm việc
Với tình hình lao động của tỉnh như trên, buộc Đảng và chính quyền địa phươngphải có kế hoạch để phát triển nguồn nhân lực và sử dụng có hiệu quả Tuy nhiên đểđáp ứng được yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội tỉnh trong những năm sắp đến đòi hỏiphải không ngừng nâng cao chất lượng lao động
2.2 Thực trạng giải quyết việc làm của tỉnh trong những năm qua
Qua 5 năm thực hiện chương trình mục tiêu về việc làm, giai đoạn 2006-2010,đời sống nhân dân được nâng cao, một số chương trình, dự án phát triển của tỉnh đivào hoạt động thu hút một lượng lao động khá lớn vào làm việc, tạo việc làm ổn địnhcho người lao động, góp phần xoá đói, giảm nghèo và phát triển kinh tế - xã hội tại địaphương
Đại học Kinh tế Huế
Trang 25Tình hình kinh tế xã hội của tỉnh tiếp tục tăng trưởng khá cao, duy trì ổn định quacác thời kỳ Chất lượng tăng trưởng của một số ngành và lĩnh vực kinh tế - xã hội tiếptục được cải thiện Các ngành công nghiệp - xây dựng, dịch vụ tăng trưởng nhanh.Kinh tế tỉnh GDP đạt tốc độ tăng trưởng bình quân giai đoạn tăng 10,7%/năm (năm2006: 11,53%, năm 2007: 11,2%, năm 2008: 11%, năm 2009: 9,1%) Năm 2009 khuvực công nghiệp và xây dựng tăng 17,4%, khu vực Nông - Lâm - Ngư nghiệp tăng1,5%, khu vực Dịch vụ tăng 7,5% GDP bình quân đầu người đạt 13,7 triệu đồng, tổngthu ngân sách trên địa bàn đạt 680 tỷ đồng.
Thời gian qua, kinh tế Quảng Trị có bước tăng trưởng khá, tuy nhiên so với mứcbình quân chung cả nước (GDP/người năm 2008 chỉ đạt 60% mức bình quân cả nước);chuyển dịch cơ cấu chậm, kim ngạch xuất khẩu nhỏ Tăng trưởng kinh tế chủ yếu vẫndựa vào các nhân tố phát triển theo chiều rộng, tập trung phát triển những sản phẩmtruyền thống, công nghệ thấp, sử dụng nhiều lao động, chất lượng lao động thấp, dẫnđến khả năng cạnh tranh kém
Năm 2008 và đầu năm 2009 khủng hoảng kinh tế tài chính toàn cầu dẫn đến làmcho nhiều người lao động trong tỉnh bị mất việc làm và thị trường xuất khẩu lao động
bị thu hẹp làm ảnh hưởng lớn đến công tác giải quyết việc làm
Mặc dù có những khó khăn thách thức trên, nhưng với sự nỗ lực phấn đấu củacác cấp uỷ Đảng, chính quyền địa phương, ngành đoàn thể, qua 5 năm thực hiệnChương trình mục tiêu việc làm, giai đoạn 2006-2010 của tỉnh đã đạt được một số kếtquả sau:
- Mỗi năm tạo việc làm cho hơn 8.000 lao động tổng cộng 5 năm tạo việc làmtrên 41.394 lao động, đạt 103 kế hoạch (40.000)
- Tỷ lệ thất nghiệp ở thành thị hàng năm đều giảm (năm 2006: 5,2% đến năm
Đại học Kinh tế Huế
Trang 262.2.1 Cơ cấu việc làm phân theo nhóm nhành kinh tế
Biểu 7: Cơ cấu việc làm phân theo nhóm ngành kinh tế
Số lượng
(người)
Tỷ lệ (%)
Số lượng
(người)
Tỷ lệ (%)
(Nguồn: Báo cáo tổng kết chương trình mục tiêu việc làm tỉnh Quảng Trị)
Theo bảng 7 ta thấy: Số lượng lao động được giải quyết việc làm ở nhóm ngànhCông nghiệp - Xây dựng và Thương mại - Dịch vụ có xu hướng ngày càng tăng, còn ởnhóm ngành Nông - Lâm - Ngư nghiệp thì giảm Nhưng vì là một tỉnh thuần nông nênlao động được giải quyết việc làm ở khu vực Nông - Lâm - Ngư nghiệp vẫn chiếm tỷ
lệ cao Cụ thể như sau:
Nhóm ngành Công nghiệp - Xây dựng lao động được giải quyết việc làm tăng từ7,9% (649 người) năm 2006 lên 8,32% (714 người) năm 2010, tỷ lệ này còn rất thấp.Nhóm ngành Nông - Lâm - Ngư nghiệp: Tỷ lệ này có giảm từ 62,1% (5100người) năm 2006 xuống còn 55,3% (4.744 người) năm 2010 Sở dỉ giảm là do tỉnh đã
có sự chuyển đổi cơ cấu kinh tế nên Công nghiệp - Xây dựng và Dịch vụ có chiềuhướng được quan tâm nhiều hơn nên số lao động được giải quyết việc làm ngày càngtăng
Nhóm ngành Thương mại - Dịch vụ: tỷ lệ giải quyết việc làm cũng tăng từ 30%năm 2006 lên 36,4% năm 2010 và ngày càng chiếm tỷ lệ cao hơn
Có được những kết quả như trên là do những năm gần đây Quảng Trị đã cónhững sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế Cụ thể là UBND tỉnh đã ban hành các chương
Đại học Kinh tế Huế
Trang 27trinh quy hoạch chi tiết các khu công nghiệp, một số dự án hoàn thành đưa vào sảnxuất Mặt khác do có cửa khẩu Lao Bảo và khu thương mại Lao Bảo nên đã thu hútnhiều lao động.
Đồng thời ngày nay nền kinh tế muốn phát triển thì đều phải có sự chuyển dịch
cơ cấu kinh tế, đó cũng là một hướng đi mới của tỉnh, tuy nhiên Quảng Trị là một tỉnhthuần nông nên xu hướng này chuyển dịch chậm hơn các tỉnh thành phố khác ở miền trung
2.2.2 Cơ cấu việc làm phân theo thị trường
Biểu 8: Việc làm phân theo thị trường
ĐVT: Người
Thị trường 2006 2007 2008 2009 2010
Tạo việc làm tại địa phương 6.194 6.633 6.381 6.900 6.590
(Nguồn: Báo cáo tổng kết chương trình mục tiêu việc làm tỉnh Quảng Trị).
Qua bảng 8 ta thấy giải quyết việc làm chủ yếu là tại địa phương nhưng có xuhướng tăng chậm Nguyên nhân là do:
- Quảng Trị vẫn còn nghèo, nền kinh tế phát triển chậm, sự chuyển dịch cơ cấukinh tế cũng như vậy, do đó việc thu hút lao động làm việc là có giới hạn
- Do chất lượng của lực lượng lao động thấp, trình độ khoa học kỹ thuật ngàycàng hiện đại vì thế mà người lao động sẽ gặp khó khăn trong việc tìm kiếm việc làmtrong khu vực ngoài quốc doanh, mà khu vực quốc doanh thì có giới hạn, cho nên sốviệc làm mới được tạo ra không nhiều lắm
- Cơ cấu dân số Quảng Trị trẻ, nên trong một năm số người lao động về hưu là rất
ít, vì thế mà việc thay thế lao động vào làm việc tại các doanh nghiệp, cơ sở sản xuấtkinh doanh thấp và nhu cầu chuyển nơi làm việc cũng ít, mặt khác vì dân số trẻ nên đa
số học sinh, sinh viên sau khi học xong ra trường thì có nhu cầu ở lại các thành phốkhác làm việc dễ dàng hơn là về quê
- Do mức thu nhập thấp, cuộc sống khó khăn, mà đi xuất khẩu lao động thì không
có vốn, cho nên lượng lao động đi xuất khẩu còn ít
Đại học Kinh tế Huế