Kinh nghiệm sản xuất lúa đã được hình thành, tích lũy và phát triển cùng với sự phát triển của dân tộc ta.. Rễ mộng xuất hiện rồi dài ra, có thể hình thành lông rễ, rễ mộng hoạt động tro
Trang 1PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ
Lúa là cây lương thực quan trọng nhất của nước ta Trồng lúa là một nghề truyền
thống của dân tộc Việt Nam có từ xa xưa, có lẽ từ khi bắt đầu việc trồng trọt thì cây
lúa đã được đặt biệt quan tâm Kinh nghiệm sản xuất lúa đã được hình thành, tích lũy
và phát triển cùng với sự phát triển của dân tộc ta Những tiến bộ của khoa học - kỹthuật trong nước và thế giới ở lĩnh vực nghiên cứu và sản xuất lúa đã thúc đẩy mạnh
mẽ ngành trồng lúa nước ta trên thương trường quốc tế Chính vì vậy mà hiện nay,Việt Nam đã vươn lên vị trí thứ 2 thế giới trên thị trường xuất khẩu lúa gạo
Quảng Ngạn là một địa phương nằm trong hệ đầm phá Tam Giang – Cầu Hai,hiện nay dân cư sống dựa vào nông nghiệp là chủ yếu.Vì vậy muốn phát triển kinh tếnâng cao đời sống người dân trên địa bàn thì phát triển nông nghiệp là con đường chủyếu Hoạt động kinh tế mũi nhọn trên địa bàn bao gồm: trồng trọt, chăn nuôi, nuôitrồng và khai thác thủy sản Bất kỳ một trong ba lĩnh vực trên chậm phát triển đều kìmhãm sự phát triển của địa bàn Riêng ngành trồng trọt không chỉ góp phần trong sựphát triển kinh tế mà còn đảm bảo an ninh lương thực và ổn định xã hội Ngành trồngtrọt trên địa bàn chủ yếu là trồng lúa, nhưng trong những năm gần đây hiệu quả củasản xuất mang lại chưa cao, làm cho vai trò của trồng trọt chăn nuôi giảm xuống Với
1423 hộ dân có khoảng trên 7000 nhân khẩu, trong đó trên 30% hộ dân tham gia vàoquá trình sản xuất lúa và cung cấp lương thực cho toàn xã Điều đó có nghĩa là khi sảnxuất không mang lại hiệu quả thì trên 30% hộ dân đối mặt với khó khăn kinh tế mộtcách trực tiếp, còn dân cư trên toàn xã có nguy cơ thiếu lương thực Giải quyết khó
khăn cho người dân địa phương, tìm cách nâng cao năng suất và hiệu quả sản xuất lúa
tại địa bàn đang là mối quan tâm của chính quyền địa phương, cũng như người dân
trên địa bàn Nguyên nhân của những hạn chế gì?
Xuất phát từ lý do đó, trong thời gian thực tập tại địa bàn xã Quảng Ngạn và tôi
đã lựa chọn đề tài:“ Đánh giá hiệu quả kinh tế sản xuất lúa ở xã Quảng Ngạn,
huy ện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế ”.
Đại học Kinh tế Huế
Trang 2Để làm chuyên đề tốt nghiệp cuối khóa cho mình Nghiên cứu đề tài của mìnhtôi hướng mục đích:
- Làm rõ các khái niệm, bản chất: cây lúa, vai trò và vị trí của cây lúa, hiệu quảkinh tế, các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh tế
- Phân tích đánh giá thực trạng sản xuất lúa từ đó xác định kết quả và hiệu quảsản xuất lúa ở xã Quảng Ngạn
- Thông qua sự phân tích, đánh giá thực trạng sản xuất lúa, từ đó đưa ra nhữnggiải pháp trên cơ sở phương hướng phát triển sản xuất lúa trong thời gian tới
Trong giới hạn của đề tài phương pháp, đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp thống kê kinh tế
- Phương pháp điều tra phỏng vấn nông hộ
- Phương pháp phân tích số liệu
- Phương pháp so sánh
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Kết quả và hiệu quả sản xuất lúa của các nông hộ
Trang 3PHẦN II: NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1.1 Một số đặc điểm của cây lúa
1.1.1.1 Nguồn gốc của cây lúa
Cây lúa là loại thảo mộc lương thực quan trọng của Việt Nam và thế giới, với hơn
3 tỉ người tiêu dùng, hay hơn phân nửa dân tộc thế giới, và 115 nước trồng lúa (2008).Cây lúa không những đóng góp vào an ninh lương thực quốc gia của nhiều nước, màcòn cung cấp nguồn lợi tức cho hàng triệu người nông thôn và bảo vệ môi trường Tuynhiên, nguồn gốc của cây lúa vẫn còn nhiều tranh cải, vì nó xuất hiện lâu đời trongthời tiền sử Theo một số nghiên cứu trong và ngoài nước, các cư dân ở Việt Nam cóthể biết đến cây lúa cách nay ít nhất hàng nghìn năm trong nền văn hóa Hòa Bình, vàMiền Bắc Việt Nam có thể là một trong những trung tâm nguồn gốc cây lúa trồng độc
lập của Châu Á, theo thuyết “Đa trung tâm” của Viện Nghiên Cứu Lúa Quốc tế - IRRI
(Chang, 1985)
Cho đến nay, các nhà khảo cổ học Việt Nam chỉ tìm được vết tích hạt lúa cổ xưa
nhất với niên đại phóng xạ khoảng 3.400 năm (Nguyễn Phan Quang & Vũ Xuân Đàn,2000) Theo Bellwood (2005), nền nông nghiệp lúa của Việt Nam có thể xuất hiệncách nay chỉ 4.500- 3.500 năm mà thôi Trong tháng 5-2010, các nhà khảo cổ học đãtìm thấy nhiều hạt lúa cổ tại Thành Dền (Mê Linh, Hà Nội) thuộc văn hóa Đồng Đậucách nay khoảng 3.000 năm, nhưng cần phải xác định lại hàm lượng carbon phóng xạ
C14 Hy vọng rằng với những kỹ thuật mới như phân tích phythollis ngoài bào tử phấnhoa, các cuộc khai quật sâu rộng hơn và sự quan tâm nhiều hơn của ngành khảo cổ học
trong nước đối với lịch sử nông nghiệp sẽ giúp các nhà nghiên cứu tìm thấy các vết
tích hạt lúa gạo xa xưa hơn kết quả hiện có
Cây lúa trồng hiện nay là do quá trình thuần dưỡng từ cây lúa dại qua hàng trăm
năm Theo nhà khảo cổ học Phillip Edwards của trường Đại Học Trobe, Úc, thời gian
tiến hóa từ loài cây dại đến có hệ thống sản xuất cây trồng trải qua khoảng 1.000 năm
Đại học Kinh tế Huế
Trang 41.1.1.2 Đặc điểm sinh học
Sinh trưởng và phát triển của cây lúa phụ thuộc rất nhiều yếu tố, từ điều kiện tựnhiên, tình hình canh tác, phân bón đất đai, mùa vụ gieo trồng, giống và thời gian sinhtrưởng của từng giống lúa.Quá trình sinh trưởng của cây lúa có thể chia ra làm hai thờikỳ: Sinh trưởng dinh dưỡng và sinh trưởng sinh thực
- Thời kỳ sinh trưởng dinh dưỡng: Ở thời kỳ này cây lúa chủ yếu hình thành vàphát triển các cơ quan dinh dưỡng như ra lá, phát triển rễ, đẻ nhánh…
- Thời kỳ sinh trưởng sinh thực: Là thời kỳ phân hoá, hình thành cơ quan sinh sảnbắt đầu từ khi làm đòng đến khi thu hoạch Bao gồm các quá trình làm đòng, trổ bông,hình thành hạt Quá trình làm đốt tuy là sinh trưởng dinh dưỡng nhưng lại tiến hànhsong song với quá trình phân hoá đòng nên nó cũng nằm trong quá trình sinh thực.Thời kỳ này có ảnh hưởng trực tiếp đến việc hình thành số bông, tỷ lệ hạt chắc vàtrọng lượng hạt lúa
+ Quá trình nẩy mầm: Hạt hút nước, độ ẩm trong hạt tăng, hoạt động các men hôhấp và phân giải rõ rệt, một loạt các phản ứng sinh hoá xảy ra, phôi được cung cấpglucoza, axitamin, các tế bào phân chia, lớn lên trục phôi phình to, đẩy mầm khi nẩymầm, đầu tiên xuất hiện lá bao hình vảy, không có diệp lục Đồng thời trong quá trìnhnẩy mầm, từ phôi xuất hiện rễ phôi Rễ này dài, sau này phát triển thành các lông tơgiúp hạt hút nước trong thời kỳ đầu
+ Quá trình phát triển của bộ rễ: Sau khi nẩy mầm rễ lúa phát triển từ phôi là rễmộng, rễ này chủ yếu có một cái Rễ mộng xuất hiện rồi dài ra, có thể hình thành lông
rễ, rễ mộng hoạt động trong một thời gian ngắn rồi chết đi và được thay thế bằng cáclớp rễ phụ được hình thành từ mặt các đốt gốc của cây Những mắc đầu chỉ ra đượctrên dưới năm rễ, nhưng mắc sau có thể đạt tới 3-20 rễ Tập hợp các lớp sẽ tạo thành rễchùm
+ Quá trình phát triển lá: Lá được hình thành từ các mầm lá ở mắc thân, khi hạtnẩy mầm, hình thành các lá đầu tiên là lá bao mầm, lá không hoàn toàn rồi đến lá thật
1,2,3… Các lá phát triển liên tục từ ba lá đầu này, cây lúa đã tự nuôi dưỡng hoàn toàn
sống độc lập, lá quang hợp, rễ hút dinh dưỡng Thông thường trên cây lúa có khoảng5-6 lá cùng hoạt động, lá già tàn rụi dần để các lá non mới lại tiếp tục
Đại học Kinh tế Huế
Trang 5+ Quá trình đẻ nhánh: Lúa sau khi bén rễ hồi xanh thì làm đốt, làm đòng Nhánhlúa hình thành từ các mầm nách ở gốc thân Quá trình hình thành một nhánh qua bốngiai đoạn: phân hoá nhánh, hình thành nhánh, nhánh dài trong bọc lá và nhánh xuấthiện Trong quá trình hình thành nhánh đầu tiên xuất hiện một lá bao hình ống dẹt, rồixuất hiện các lá của nhánh, nhánh phát triễn 3-4 lá có thể tách ra khỏi cây mẹ và sống
tự lập
+ Quá trình làm đòng: Ở thời kỳ này thân lúa chính thức mới được hình thành, sốlóng kéo dài và chiều dài các lóng quyết định chiều cao của cây Quá trình làm đòng làquá trình phân hoá và hình thành các cơ quan sinh sản, có ảnh hưởng trực tiếp đến quátrình hình thành năng suất lúa
+ Quá trình trổ bông, nở hoa, thụ phấn: Sau khi hoàn thành quá trình làm đòng thìcây lúa trổ ra ngoài do sự phát triển nhanh của lóng trên cùng Khi cây lúa thoát rakhỏi bẹ lá là quá trình trổ xong Cùng với quá trình trổ bao phấn trên một bông các hoa
ở đầu bông và đầu gié nở trước, các hoa ở gốc bông, các hoa ở gốc bông nở cuối cùng
Khi hoa nở phơi màu, váy cá hút nước trương to lên, đồng thời với áp lực của vòi nhịlàm cho vỏ trấu nở ra, hạt phấn rơi vào đầu nhuỵ, đó là quá trình thụ phấn Sau quátrình thụ phấn là quá trình thụ tinh và hình thành hạt Trong điều kiện bình thường hạtphấn rơi xuống đầu nhuỵ, sau 15 phút ống phấn bắt đầu dài ra, các chất trong hạt bắt
đầu dồn về ống phấn Sau thụ tinh là quá trình phát triển phôi và phôi nhũ
+ Quá trình chín hạt: Chúng ta có thể chia quá trình chín hạt ra làm ba thời kỳ:chín sữa, chín sáp và chín hoàn toàn
Chín sữa: Sau phơi màu 6-7 ngày các chất dự trữ trong hạt ở dạng lỏng, trắngnhư sữa, hình dạng hạt hoàn thành có màu xanh, trọng lượng hạt tăng nhanh ở thời kỳnày
Chín sáp: Ở thời kỳ này chất dịch trong hạt dần dần đặc lại, hạt cứng và màuxanh dần chuyển sang màu vàng
Chín hoàn toàn: Thời kỳ này hạt chắc cứng, màu vàng nhạt và trọng lượng hạt
đạt tối đa
Quá trình lúa chín kéo dài 30-40 ngày tuỳ theo giống, thời vụ Đây là quá trìnhĐại học Kinh tế Huế
Trang 61.1.1.3 Đặc điểm sinh thái
Ngoài sự tác động của con người thì khí hậu thời tiết là yếu tố quan trọng nhấtcủa điều kiện sinh thái, nó có ảnh hưởng lớn nhất và thường xuyên đến quá trình sinhtrưỡng và phát triển của cây lúa
+ Về nhiệt độ: Quá trình sinh trưởng và phát triển của cây lúa phụ thuộc rất nhiều
về nhiệt độ trong vụ gieo trồng Nếu thời tiết thuận lợi, nhiệt độ trung bình cao cây lúa
đạt được tổng nhiệt cần thiết sẽ ra hoa và chín sớm hơn tức là rút ngắn thời gian sinh
trưởng và ngược lại Để cho cây lúa phát triển tốt thì cần nhiệt độ khác nhau qua cácthời kỳ sinh trưởng
Thời kỳ nẩy mầm: Nhiệt độ thích hợp cho cây lúa nẩy mầm là 30-350C Nhiệt
độ giới hạn thấp nhất là 10-120C và quá cao là trên 400C không có lợi cho quá trìnhnẩy mầm của lúa
Thời kỳ đẻ nhánh, làm đòng: Ở thời kỳ này cây lúa đã bén rễ, hồi xanh Nhiệt
độ thích hợp là 25-320C Nhiệt độ dưới 160C quá trình bén rễ, đẻ nhánh, làm đòngkhông thuận lợi
Thời kỳ trổ bông làm hạt: Thời kỳ này cây lúa rất nhạy cảm trước sự thay đổicủa nhiệt độ Trong quá trình nở hoa, phơi màu, thụ tinh đòi hỏi nhiệt độ phải ổn định.Nếu gặp nhiệt độ quá thấp hoặc quá cao đều không có lợi
+ Nước: Là thành phần chủ yếu trong cơ thể lúa, là điều kiện để thực hiện quátrình sinh lý trong cây và là điều kiện ngoại cảnh không thể thiếu của cây lúa
Theo Goutchin, để tạo ra một đơn vị thân lá, cây lúa cần 400-450 đơn vị nước, để tạo
ra một đơn vị hạt, cây lúa cần 300-350 đơn vị nước Nhu cầu nước của cây lúa qua cácthời kỳ sinh trưởng là khác nhau
Thời kỳ nẩy mầm: Hạt giống được bảo quản dưới độ ẩm 13%, khi ngâm hạt,hạt hút nước đạt 22% thì có thể hoạt động và nẩy mầm tốt khi độ ẩm của hạt đạt 25-28%
Đại học Kinh tế Huế
Trang 7Thời kỳ cây con: Trong điều kiện gieo thẳng cây lúa ở giai đoạn cây con khôngcần nước nhiều, ta chủ động giữ đủ ẩm và cho nước vào ruộng từ từ khi cây được 2-4lá.
Thời kỳ đẻ nhánh: Ở giai đoạn này chủ động tháo nước sát gốc lúa Để tạo điềukiện cho cây lúa đẻ nhánh, sau khi cây đẻ nhánh hữu hiệu làm đòng trổ bông ta cầncho nước vào đầy đủ tránh bị khô nước làm ảnh hưởng đến quá trình sinh trưởng củacây lúa Để lúa sinh trưởng thuận lợi, đạt năng suất cao cần cung cấp nước đầy đủ.
1.1.2 Vị trí và tầm quan trọng của cây lúa
Lúa là một trong ba cây lương thực chủ yếu bao gồm lúa mì, ngô và lúa gạo Cókhoảng 40% dân số sử dụng lúa gạo là lương thực chính, 25% sử dụng lúa gạo trên 1/2khẩu phần lương thực hàng năm Như vậy, lúa gạo có ảnh tới đời sống ít nhất 65% dân
số toàn cầu Sản xuất lúa gạo tập trung chủ yếu ở các nước Châu Á, một số nước ởChâu Mỹ, Châu Phi và Châu Úc chiếm một phần nhỏ Trong đó, mức tiêu thụ về lúagạo của các nước Châu Á là rất cao từ 180-200 Kg/người, còn Châu Mỹ và Châu Âuchỉ 10 Kg/người
Sản xuất lúa gạo đóng một vai trò đặc biệt quan trọng trong phát triển kinh tếnông nghiệp và nông thôn Việt Nam Khoảng 80% trong tổng số 11 triệu hộ nông dân
có tham gia sản xuất lúa gạo và chủ yếu dựa vào phương thức canh tác thủ công truyềnthống
Trong lúa gạo có đầy đủ các chất dinh dưỡng như các cây lương thực khác, ngoài
ra còn có các Vitamin nhóm B và một số thành phần khác
- Về tinh bột: Là nguồn cung cấp chủ yếu Calo Giá trị nhiệt lượng của lúa là 3594Calo/g, trong đó hàm lượng amyloza trong hạt quyết định đến độ dẻo của gạo Hàmlượng amyloza ở lúa gạo Việt nam thay đổi từ 18 - 45% đặc biệt có giống lên tới 54%
- Prôtêin: Chiếm 6 - 8% thấp hơn so với lúa mỳ và các loại cây khác Giống lúa cóhàm lượng prôtêin cao nhất là 12,84% và thấp nhất là 5,25% Phần lớn các giống Việtnam nằm vào khoảng 7 -8%
- Lipít: Ở lúa lipít thuộc loại trung bình, phân bố chủ yếu ở lớp vỏ gạo
- Vitamin: Trong lúa gạo còn có một số vitamin nhóm B như B1, B2, B6…Vitamin B1
Đại học Kinh tế Huế
Trang 8là nguồn thực phẩm, dược phẩm có giá trị và được tổ chức dinh dưỡng quốc tế gọi là
"Hạt gạo là hạt của sự sống"
Với giá trị dinh dưỡng của hạt kết hợp với việc chọn tạo giống có năng suất cao,phẩm chất tốt thì lúa gạo ngoài việc sử dụng hàm lượng lương thực là chủ yếu thì cácsản phẩm phụ của lúa còn sử dụng rất nhiều trong các lĩnh vực khác nhau:
+ Gạo: Có thể dùng làm nguyên vật liệu chế biến các sản phẩm như: kẹo, bánh, sảnxuất bia, rượu…
+ Tấm: Sản xuất tinh bột, rượu, phấn mịn và thuốc chữa bệnh
+ Cám: Ngoài việc làm thức ăn cho gia súc, trong công nghệ dược còn sản xuấtVitamin B1 chữa bệnh tê phù, dầu cám có thể dùng chữa bệnh, chế tạo xăng, làm xà
phòng…
+ Trấu: Sản xuất nấm mem làm thức ăn cho gia súc, làm chất đốt, đóng lót hàng dùng,
để độn chuồng làm phân bón có SiO2cao
+ Rơm rạ: Với thành phần xenluloza có thể sản xuất giấy, đồ gia dụng, làm thức ăncho gia súc như trâu, bò, trộn với họ đậu làm thức ăn ủ chua, sản xuất nấm rơm, độnchuồng, làm chất đốt
1.1.3 Một số vấn đề về hiệu quả và các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh tế
Trong nền kinh tế thị trường, hiệu quả kinh tế là mối quan tâm hàng đầu của cácnhà sản xuất, nhà kinh doanh và cũng là mối quan tâm chung của toàn xã hội Hiệuquả kinh tế là một phạm trù kinh tế phản ánh chất lượng của hoạt động kinh tế, là
thước đo trình độ tổ chức và chức năng quản lý kinh doanh của các doanh nghiệp
Chính vì vậy trong điều kiện hiện nay các doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển thìyêu cầu đặt ra là phải kinh doanh có hiệu quả, thì doanh nghiệp mới đứng vững trên thị
trường Với một lượng đầu vào hay tài nguyên nhất định, để tạo ra một khối lượng sản
phẩm lớn nhất có thể được là mục tiêu chung của các nhà sản xuất và các nhà quản lý.Tuy nhiên trong thực tế nghiên cứu ta thu được kết quả rất đa dạng và phong phú, kếtquả có thể trên phương diện kinh tế - tài chính mà cũng có thể trên phương diện KT-
XH Từ đó mà hình thành nên khái niệm hiệu quả kinh tế, hiệu quả xã hội và hiệu quảkinh tế xã hội
Đại học Kinh tế Huế
Trang 9Như vậy, hiệu quả kinh tế là sự tương quan so sánh giữa lượng kết quả đạt được
và chi phí bỏ ra, nó thể hiện bằng các chỉ tiêu như sau: Giá trị tổng sản phẩm, thunhập, lợi nhuận tính trên lượng chi phí bỏ ra
Hiệu quả xã hội là tương quan so sánh giữa chi phí xã hội bỏ ra và kết quả mà xãhội đạt được như: tăng thêm việc làm, cải tạo môi trường sinh thái, rút ngắn khoảngcách giàu nghèo
Hiệu quả kinh tế - xã hội là sự tương quan so sánh giữa chi phí bỏ ra và kết quả
đạt được cả về kinh tế và xã hội Mục tiêu cuối cùng của phát triển kinh tế là phát triển
xã hội Do đó khi nói đến hiệu quả kinh tế chúng ta nói trên quan điểm kinh tế xã hội.Tùy theo mục đích tính toán hiệu quả kinh tế mà xác định kết quả sao cho phùhợp Đối với nông hộ, kết quả cần được quan tâm là thu nhập Chi phí bỏ ra trong quátrình kinh doanh là những chi phí cho các yếu tố đầu vào như: đất đai, lao động,nguyên nhiên liệu Sau khi đã xác định được kết quả thu được và chi phí bỏ ra chúng
ta có thể tính được hiệu quả kinh tế bằng các phương pháp sau:
- Thứ nhất: Hiệu quả kinh tế được xác định bằng tỷ số giữa kết quả đạt được và chi phí
bỏ ra Công thức được xác định như sau:
H = Q/C
Trong đó: H: hiệu quả kinh tế
Q: kết quả thu được
C: chi phí bỏ ra
Phương pháp này phản ánh rỏ nét trình độ sử dụng các nguồn lực, xem xét được
một đơn vị nguồn lực đã sử dụng đem lại bao nhiêu kết quả Điều này giúp ta so sánhhiệu quả ở các qui mô khác nhau
- Thứ hai: Hiệu quả kinh tế được tính bằng cách so sánh phần tăng thêm của kết quả
thu được và phần tăng thêm của chi phí bỏ ra Công thức được xác định như sau:
H = Q/C
Trong đó: H: hiệu quả kinh tế
Q: phần tăng thêm của kết quả thu được
C: phần chi phí tăng thêm
Đại học Kinh tế Huế
Trang 10Phương pháp này dùng để nghiên cứu mức đầu tư trong thâm canh Nó xác định
kết quả thu thêm trên một đơn vị tăng thêm của chi phí Tuy nhiên, khi sử dụng hai
phương pháp trên đều không cho biết qui mô của hiệu quả kinh tế là bao nhiêu Vì thế
mà hiệu quả kinh tế còn xác định bằng chênh lệch giữa kết quả thu được với phần chiphí bỏ ra Để biết được kết quả, với cách tính này cho ta biết được tổng thu nhập vàtổng lợi nhuận là bao nhiêu Mặc dù vậy cách tính này không cho ta biết cái giá phảitrả cho qui mô hiệu quả kinh tế là bao nhiêu và không thể dùng để so sánh hiệu quả đạt
được giữa các doanh nghiệp, các đơn vị sản xuất không cùng quy mô
Qua trình bày ở trên ta thấy có nhiều cách để tính hiệu quả kinh tế, mỗi cách tính
đều phản ánh một khía cạnh khác nhau Vì vậy trong quá trình nghiên cứu tùy vào
mục đích khác nhau mà chúng ta lựa chọn cách tính sao cho phù hợp và con số cuốicùng phải có ý nghĩa về mặt kinh tế
Trong điều kiện kinh tế thị trường hiện nay thì hiệu quả là tiêu chí đánh giá quá
trình sản xuất của một doanh nghiệp hay một hộ gia đình nào đó Sản phẩm có chổ
đứng vững trên thị trường hay không điều này không chỉ thể hiện ở nội dung chấtlượng sản phẩm mà nó còn thể hiện sản phẩm đang ở mức giá nào Từ thực tế này màkhi đánh giá hiệu quả kinh tế trong sản xuất ta phải dựa trên cơ sở giá cả thị trường tại
thời điểm người bán quyết định bán Tuy nhiên khi nghiên cứu động thái của hiệu quảcần phải sử dụng giá cả cố định hoặc giá gốc để so sánh
Trên cơ sở hệ thống tài khoản quốc gia SNA, chúng ta có các chỉ tiêu đánh giá
kết quả và hiệu quả kinh tế như sau:
+ Giá trị gia tăng (VA): là một trong những chỉ tiêu kinh tế tổng hợp quan trọng phảnánh kết quả cuối cùng của các hoạt động sản xuất của các ngành thành phần kinh tế vàtoàn bộ nền kinh tế quốc dân trong một thời kỳ nhất định Đó là nguồn gốc của mọikhoản thu nhập, sự giàu có và phồn vinh xã hội Nó không chỉ biểu hiện hiệu quả củasản xuất theo chiều rộng mà còn là một trong những cơ sở quan trọng để tính các chỉtiêu kinh tế khác Được xác đinh bởi công thức sau:
Trang 11qui mô về giá trị sản xuất mà ngành nông nghiệp tạo ra cho xã hội Có công thức xác
định như sau:
GO = Q * P
Trong đó : Q: khối lượng sản phẩm
P: giá cả của sản phẩm+ Chi phí sản xuất: Bao gồm chi phí trung gian và chi phí về lao động gia đình
- Chi phí trung gian (IC): là bộ phận cấu thành giá trị sản xuất bao gồm những chi phívật chất và dịch vụ cho sản xuất (không kể khấu hao), như phân bón, thuốc các loại,thuê thu hoạch, các khâu dịch vụ như thuỷ lợi, làm đất, vận chuyển, tuốt lúa
Chi phí vật chất trong sản xuất lúa là các yếu tố đầu vào: giống, phân bón, thuốc các
loại…
Chi phí dịch vụ trong sản xuất lúa:
Công lao động thuê ngoài
Các chi phí dịch vụ khác
+ Năng suất lúa (N): Chỉ tiêu này nói lên sản lượng thu được trên một đơn vị diệntích, được xác định bằng công thức sau:
N=Q/S
Trong đó: Q: sản lượng lúa
S: diện tích gieo lúa
* Các chỉ tiêu phản ánh quy mô lợi nhuận của đơn vị sản xuất có được trong sản xuất.VA/IC: Giá trị tăng thêm trên chi phí trung gian, chỉ tiêu này phản ánh một đồng chiphí trung gian có thể tạo ra bao nhiêu đồng giá trị tăng thêm trong kỳ
GO/IC: Giá trị sản xuất trên chi phi trung gian, chỉ tiêu này phản ánh một đồng chi phítrung gian bỏ ra thu được bao nhiêu đồng giá trị sản xuất trong kỳ
VA/lao động gia đình (LĐGĐ): Chỉ tiêu này phản ánh một công lao động gia đình tạo
ra được bao nhiêu đồng giá trị gia tăng trong kỳ sản xuất
Đại học Kinh tế Huế
Trang 121.1 CƠ SỞ THỰC TIỄN
1.2.1 Tình hình sản xuất lúa trên Thế giới và ở Việt nam
Trên thế giới, lúa chiếm một vị trí quan trọng, đặc biệt ở vùng Châu Á Ở Châu
Á, lúa là món ăn chính giống như bắp của dân Nam Mỹ, hạt kê của dân Châu Phi hoặc
lúa mì của dân Châu Âu và Bắc Mỹ Thống kế của tổ chức lương thực thế giới(FAO,2008) cho thấy, có 114 nước trồng lúa, trong đó 18 nước có diện tích trồng lúatrên trên 1triệu ha tập trung ở Châu Á, , 31 nước có diện tích trồng lúa trong khoảng100.000ha - 1.000.000 ha Trong đó có 27 nước có năng suất trên 5 tấn/ha đứng đầu là
Ai Cập (9.7 tấn/ha), Úc (9.5 tấn/ha) El Salvador (7.9 tấn/ha)
Thống kế của tổ chức lương thực thế giới (FAO,2008) còn cho thấy, diện tíchtrồng lúa trên thế giới đã gia tăng rõ rệt từ năm 1961 đến 1980 Trong vòng 19 năm đó,diện tích trồng lúa trên thế giới tăng bình quân 1,53 triệu ha/năm Từ năm 1980, diện
tích lúa tăng chậm và đạt cao nhất vào năm 1999 (156,8 triệu ha) với tốc độ tăng chậm
với tốc độ tăng trưởng bình quân 630.000 ha/năm Từ năm 2000 trở đi diện tích trồnglúa thế giới có nhiều biến động và có xu hướng giảm dần, đến năm 2005 còn ở mức155,1 triệu ha.Từ năm 2005 đến 2008 diện tích lúa gia tăng liên tục đạt 159,0 triệụ hacao nhất kể từ năm 1995 tới nay
Bên cạnh diện tích trồng lúa, năng suất lúa bình quân trên thế giới cũng tăngkhoảng 1,4 tấn/ha trong vòng 24 năm từ năm 1961 đến 1985, đặc biệt sau cuộc cáchmạng xanh của thế giới vào những năm 1965-1970, với sự ra đời của các giống lúathấp cây, ngắn ngày, không quang cảm, mà tiêu biểu là giống lúa IR5, IR8 Đến những
năm 1990 dẫn đầu năng suất lúa trên thế giới là các nước Triều Tiên, Úc, Mỹ, Nhật
Bản, Tây Ban Nha (IRRI, 1990) Từ năm 1990 trở đi đến tại thời điểm hiện nay năngsuất lúa thế giới liên tục được cải thiện đạt 4,3 tấn/ha năm 2008, tuy nhiên chỉ bằngphân nửa năng suất của Ai Cập (9,7 tấn/ha) nước đứng đầu thế giới
Việt Nam, xuất phát điểm là một nước nông nghiệp, cây lúa là cây trồng chính vàlâu đời, cây lúa được phân bố khắp mọi miền của đất nước từ Bắc vào Nam, là mộttrong những nước có điều kiện khí hậu thuận lợi cho sự phát triển của cây lúa Hơn 70
% dân số Việt nam sống bằng nghề trồng lúa, nhân dân ta rất cần cù, sáng tạo và giàu
Đại học Kinh tế Huế
Trang 13kinh nghiệm trong nghề trồng lúa nước, được kế thừa những kinh nghiệm của cha ông
và đúc rút nhiều thành công trong công tác chăm sóc và gieo trồng
Bảng 1: Diện tích, năng suất, sản lượng lúa nước ta qua 3 năm
tích
Nghìn
ha 7207,40 7400,2 7440,1 + 192,80 +2,68 + 39,90 + 0,54Năng
suất tạ/ha 49,87 52,34 52,28 +2,47 +4,95 - 0,06 - 0,11Sản
Tuy vậy năng suất chỉ tăng từ 49,87 tạ/ha (năm 2007) lên 52,34 tạ/ha (năm
2008) Đến năm 2009, năng suất lúa lại giảm Từ 52,34 tạ/ha (năm 2008) xuống còn
52,28 tạ/ha (năm 2009), tức giảm 0,06 tạ/ha, tương ứng 0,11% Sản lượng lúa vẫn tăng
được ổn định khi diện tích tăng qua 3 năm Sản lượng năm 2008 đạt 38729,80 nghìn
tấn, tăng 2787,10 tấn so với năm 2007, tương ứng tăng 7,75% Năm 2009 đạt38895,50 nghìn tấn, tăng 165,70 nghìn tấn so với năm 2008, tương ứng tăng 0,43 %
Đạt được những thành tựu đó, chính là nhờ sự quan tâm lãnh đạo của nhà nước ta
trong lĩnh vực sản xuất lúa Sản lượng và năng suất lúa không ngừng tăng qua qua các
năm, nguyên nhân là do áp dụng khoa học kỷ thuật, cơ giới hóa vào trong sản xuất
1.2.2 Tình hình sản xuất lúa của huyện Quảng Điền, tỉnh TT Huế
Đại học Kinh tế Huế
Trang 14Quảng Điền nằm trong khu vực Bắc Trung Bộ có điều kiện tự nhiên không thuậnlợi cho trồng lúa nên năng suất không cao Huyện đã rất cố gắng khắc phục khó khăntrong phát triển sản xuất lúa, trong giai đoạn từ năm 2008 – 2010 năng suất liên tục
tăng nhưng vẫn chưa vượt qua mức 60 tạ/ha Trong khi ấy, diện tích lại liên tục giảm.Nhưng đến nay huyện Quảng Điền đã cố gắng khắc phục khó khăn phát triển sản xuất
lúa là một trong những địa phương có sản lượng lúa lớn của tỉnh Diễn biến về diện
tích, năng suất và sản lượng lúa của huyện được thể hiện trong bảng 2
Bảng 2: Kết quả sản xuất lúa ở huyện Quảng Điền qua giai đoạn 2008 - 2010
Năng suất Tạ/ha 58,00 58,50 58,72 +0,50 +0,86 +0,22 +0,37
Sản lượng Tấn 39.318,00 44.980,2
0 46.179,12 +5662,2 +14,4 +1198,92 +2,66
(Nguồn: UBND huyện Quảng Điền)
Xem xét các chỉ tiêu trong bảng số liệu ở bàng 2 cho thấy: Diện tích đất canh tác
lúa tăng qua 3 năm Năm 2008, sản lượng lúa cả năm của huyện là 39318 tấn, năm
2009 là 44980,20 tấn tăng so với năm 2008 là 5662,2 tấn, tương ứng tăng 14,4% Năm
2010 la 46179,12 tấn tăng so với năm 2009 là 1198,92 tấn, tương ứng tăng 2,66% Vàsong song với chỉ tiêu sản lượng tăng là năng suất cũng tăng, từ 58 tạ/ha (năm 2008)lên 58,72 tạ/ha (năm 2010) Năm 2008, năng suất toàn huyện đạt 58 tạ/ha, năm 2009
đạt 58,5 tạ/ha và đến năm 2010 thì năng suất đạt 58,72 tạ/ha
Đây có thể nói là thành tích khả quan của toàn huyện, thể hiện sự cố gắng nỗ lực
của tất cả người dân sản xuất và cán bộ huyện trong trong việc phát triển sản xuất,nâng cao thu nhập, đưa kinh tế huyện nói riêng ngày một đi lên Tuy nhiên, mặc dù
năng suất tăng nhưng sản lượng tăng không cao Cán bộ huyện và nhưng người nông
dân có sản xuất lúa cần chú trọng hơn nữa đến công tác quy hoạch sản xuất, phát triểnnâng cấp hệ thống đê đập, bảo đảm chống úng, chống hạn
Đại học Kinh tế Huế
Trang 151.3 TÌNH HÌNH CƠ BẢN CỦA ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU
1.3.1 Điều kiện tự nhiên
địa bàn hết sức khó khăn Ưu thế trong nuôi trồng và khai thác thủy sản nhưng bất lợi
cho địa bàn trồng trọt chăn nuôi Đất cát trắng, thiếu nước và nhiểm mặn là một trongnhững khó khăn của địa bàn đối với ngành trồng trọt nói chung và đối với trồng lúanói riêng
1.3.1.2 Địa hình
Vị trí địa lý tạo cho địa phương một địa hình có sự phân chia rõ rệt Địa hình địa
phương chia làm 3 vùng: Vùng biển bao gồm những gò cát cao khoảng 10 đến 13m so
với mực nước biển Vùng này hiện nay chỉ trồng phi lao chắn cát bảo vệ khu dân cư vàvùng sản xuất Vùng sản xuất bao gồm: Vùng đồng bằng ven theo bờ phá để trồng trọt,
vùng nước mặt ven đầm dùng để nuôi trồng thủy sản
1.3.1.3 Thời tiết khí hậu
Xã Quảng Ngạn thuộc huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế, nên nói chungnằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa chịu ảnh hưởng của khí hậu chuyển tiếp giữamiền bắc và miền nam nước ta
- Chế độ nhiệt: Nhiệt độ trung bình năm là 22,20C, thường giao động trong khoảng17,40C đến 34,60C Biên độ giữa các tháng trong năm chênh lệch nhau từ 7 đến 90C Số
ngày mưa trung bình trong năm là 180 ngày với lượng mưa bình quân 2.560 mm/năm,giao động trong khoảng 2600,3mm đến 3005,5mm Độ ẩm bình quân là 84%, giaođộng trong khoảng 60,3% đến 96,7% Nhìn chung thởi tiết khí hậu khá phù hợp với sựsinh trưởng và phát triển của các loại cây trồng, đặc biệt là cây công nghiệp ngắn ngày,
cây thực phẩm
Đại học Kinh tế Huế
Trang 16- Chế độ mưa: Do mùa mưa trùng với mùa gió bão từ tháng 9 đến tháng 11 với lượng
mưa trung bình từ 2500mm-2700mm nên gây ra lũ lụt ngập úng ở nhiều nơi Mùa khô
kéo dài từ thang 5 đến tháng 8, lượng bốc hơi nước lớn gây ra khô hạn kéo dài, ở hạ
lưu của các con sông nước mặn xâm nhập vào trong đất liền gây tổn thất lớn cho ngườidân nuôi cá nước ngọt Bởi vậy, việc xây dựng các công trình thủy lợi có ý nghĩa quan
trọng cho sự phát triển kinh tế xã hội của toàn xã
-Chế độ gió: Nằm trong khu vực bắc trung bộ nên địa phương cũng chịu ảnh hưởngcủa hai chế độ gió chính sau:
Gió mùa Đông bắc: thịnh hành từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau Gió này làm nhiệt độ
thấp vào giai đoạn gieo mạ, gây hao hụt thóc giống vì khó nảy mầm
Gió đông nam: Tập trung vào mùa hè, thổi từ biển nên mát và ẩm
Gió Phơn tây nam: Bản chất khô và nóng, thịnh hành từ tháng 4 đến tháng 8
Hoạt động mạng nhất vào tháng 6 Đây là thời điểm cuối của giai đoạn gieo cấy nên có
ảnh hưởng rất lớn tới năng suất lúa vì lúa còn non chưa chống chịu tốt với ngoại cảnh.Đồng thời còn gây hạn hán cho vụ hè thu
1.3.1.4 Điều kiện thủy văn
Nằm ven phá nên diễn biến thủy văn của phá ảnh hưởng rất lớn tới tình hình sảnxuất của vùng Diễn biến thủy văn của phá Tam Giang lại phụ thuộc vào chế độ và lưu
lượng nước của các con sông chảy vào phá Tuy rằng mùa mưa và mùa khô phân biệttương đói rõ ràng như đã nêu ở phần trên Nhưng trong khoảng tháng 2 đến tháng 5
vẫn có mưa, đây là nguồn nước chính để sản xuất lúa của địa bàn trong vụ đông xuân.Ngoài ra, nó còn cung cấp nước ngọt cho phá Tam Giang và tạo ra thủy vực nước lợrất thích hợp cho nuôi trồng thủy sản Mùa mưa kéo dài từ tháng 9 tới tháng 11 làm
lưu lượng nước đổ về phá rất lớn gây ngập lụt Do đó địa phương phải thu hoạch trước
mùa lũ Đây là một trong những nhân tố tạo nên tính mùa vụ tại địa phương
1.3.2 Tình hình kinh tế xã hội
1.32.1 Tình hình cơ cấu kinh tế của xã Quảng Ngạn
Trong những năm vừa qua, xã Quảng Ngạn đã tập trung huy động mọi thànhphần kinh tế, đầu tư mạnh vào trong lĩnh vực sản xuất, tăng cường chỉ đạo ứng dụngcác tiến bộ KHKT vào sản xuất nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ,từng
Đại học Kinh tế Huế
Trang 17bước chuyển dịch cơ cấu cây trồng vật nuôi,đẩy mạnh công tác nuôi trồng và đánh bắt
thủy sản, tạo điều kiện cho nhân dân vay vốn để phát triển sản xuất, khuyến khích cácthành phần kinh tế phát triển, góp phần tạo việc làm, tăng thu nhập, cải thiện và nang
cao đời sống của nhân dân Đưa nền kinh tế của xã phát triển theo hướng bên vững.Điều đó được thể hiện cụ thể như sau:
Trồng trọt
Lúa đạt 79,89 ha đạt 48 tạ/ha, khoai lang đạt 75 tạ/ha sản lượng 75 tấn, dưa hấu
đạt năng suất 13 tấn/ha sản lượng 19,5 tấn, rau các loại 2ha đạt 100 tạ/ha
Giá trị sản lượng bình quân trên 1ha đất canh tác cả năm, ngành trồng trọt đạt46,2 triệu đồng/ha
Chăn nuôi
Tổng đàn lợn 1700 con, trong đó lợn thịt là 123 con và lợn thịt là 1577 con Tổng
đàn gia cầm 8500 con với tổng lượng thịt là 8,5 tấn
Thực hiện công tác phát triển chăn nuôi theo hình thức trang trại và gia trại UBND xã
đã và đang tạo điều kiện cho một số hộ nông dân lập trang trại và gia trại trên vùng
cát Hiện nay vẫn duy trì 02 trang trại và 04 gia trại chăn nuôi lợn thịt kết hợp lợn nái
Nuôi trồng và đánh bắt thủy sản
Tổng diện tích đưa vào nuôi thả vùng đầm phá là 91ha, với số lượng tôm giốngkhoảng 830 vạn con Ngoài việc thả tôm, bà con ngư dân đã thả xen thêm cua, cá trongtoàn xã co 80 ha thả xen, số lượng cua thả khoảng 51 nghìn con, cá kình 50 vạn con,thả chuyên các khoảng 4 nghìn con gồm cá ro phi, cá chẽm, cá dìa…
Công tác đánh bắt thủy sản ở vùng biển và vùng đầm phá tiếp tục duy trì và đượcđại đa số bà con ngư dân quan tâm phát triển đặc biệt ở vùng biển đã trang bị thêm ngư
cụ đánh bắt các loại có giá trị như lưới đánh bắt cá mó và các loại thủy sản khác với số
lượng lớn
Lâm nghiệp
Diện tích trồng rừng tính đến thời điểm hiệ nay là 174,57 ha, chủ yếu là cây
dương liễu, tràm hoa vàng Công tác chăm sóc và bảo vệ rừng cây lâm nghiệp tại đồi
cát, UBND xã đã chỉ đạo các thôn phối hợp với nhau để quản lý, bảo vệ Mặc dù vậy,
Đại học Kinh tế Huế
Trang 18thức của người dân vẫn chua cao nên tình trạng chặt phá cây lâm nghiệp vẫn xảy ra rãirát.
Các ngành nghề khác
Song song với sự phát triển của xã, các loại hình dịch vụ khác cũng được quantâm chú trọng, do đó mà không ngừng phát triển, mạng lưới mua bán hang ngày càng
được mở rộng, các dịch vụ ăn uống, giải khát ngày càng có xu hướng phát triển tích
cực Công tác dịch vụ cung cấp nước sạch và điện sinh hoạt tiếp tục hoạt động ổn định
Cơ sở hạ tầng ngày càng được mở rộng hơn,hệ thống kênh mươn nội đồng được
nâng cấp một cách toàn diện Bên cạnh đó các chế đọ ưu đãi cho gia đình chính sáchcũng được quan tâm, UBND xã cũng kết hợp với ngân hàng chính sách huyện cho cho
bà con vay vốn để làm ăn
1.3.2.2.Tình hình nhân khẩu lao động
Hình thức phân bố dân cư vào hoạt động kinh tế có mối quan hệ mật thiết vớinhau tùy vào thực tế sản xuất cũng như điều kiện mỗi địa phương ấy dân cư địa
phương có sự phân bố phù hợp
Đặc trưng dân cư xã Quảng Ngạn được tổ chức thành 3 vùng rõ rệt
-Vùng 1: bao gồm thôn 1, 2, 3; dân cư ở đây hoạt động trong lĩnh vực trồng trọt chănnuôi là chủ yếu
-Vùng 2: Bao gồm thôn Thủy An và thôn Vĩnh Tân, dân cư hoạt đọng trong lĩnh vựcnuôi trồng thủy sản và khai thác thủy sản là chính Khai thác thủy sản vùng này là khaithác trên hệ đầm phá Tam Giang – Cầu Hai
-Vùng 3: Bao gồm các hộ ven biển Hoạt động của vùng này là chủ yếu khai thác thủysản trên biển, một bộ phận rất nhỏ dân trong vùng có nuôi trồng thủy sản với diện tíchkhoảng 3,5 ha
Ngoài các hoạt động trồng trọt chăn nuôi, khai thác thủy sản và nuôi trồng thủysản; các hộ trong 3 vùng trên còn hoạt động trong lĩnh vực khác như buôn bán nhỏ,làm nghề, làm thuê…hơn nữa dân cư trong xã cũng phân bố không đều, tập trung chủyếu ở vùng trồng trọt Các thôn thuộc vùng ven biển như thôn BC, Tây Hải,Trung Hải
và Đông Hải tuy có số khẩu bình quân trên hộ cao nhưng số dân ít Theo số liệu thu
thập được tính đến năm 2010 toàn xã có khoảng 6500 người, mật độ dân số bình quân
Đại học Kinh tế Huế
Trang 19khoảng 560 người/km2 Với tốc độ gia tăng dân số bình quân năm là 1% Dân số tăng,diện tích không đổi lam cho mật độ dân số tăng lên 659 người/km 2 , nếu dân số tiếptục gia tăng tất nhiên diện tích canh tác sẽ lớn dần Con đường duy nhất để tăng sản
lượng lương thực là tăng năng suất lúa
Đặc điểm vị trí địa lý của xã Quảng Ngạn làm cho đất đai của xã được chia làm 3
loại chủ yếu Thứ nhất, đất mặt nước nuôi trồng thủy sản, nằm trên phá Tam Giang.Thứ hai, đất trồng lúa nằm dọc bờ phá Thứ 3, cát trắng nằm dọc bờ biển Tình hìnhbiến động đất đai của xã Quảng Ngạn qua 3 năm 2008-2010 thể hiện qua bảng 3.Trong hạng mục đất đai, đất chưa sử dụng biến động mạnh nhất, năm 2008 loại
đât này có 122,13 ha chiếm 11% diện tích đất tự nhiên Sang năm 2009 đã giảm
xuống gần 24 ha, tức là chỉ còn 98,15 ha chiếm 8,81% diện tích đất tự nhiên Thực tế
này đã phản ánh sự nổ lực của địa phương trong việc nâng cao hiệu qua sử dụng đấtđai
Đại học Kinh tế Huế
Trang 20Bảng 3: Tình hình sử dụng đất của các hộ điều tra ở xã Quảng Ngạn
Chỉ tiêu
2008 2009 2010 2009/2008 2010/2009DT
(ha)
Cơ cấu
(%)
DT(ha)
Cơ cấu
( %)
DT(ha)
Cơ cấu
( %)
DT(ha)
Tỷ lệ(%)
DT(ha)
Tỷ lệ(%)
Trang 21Đất mặt nước nuôi trồng thủy sản tăng làm cho diện đất tự nhiên tăng nhưng chỉtăng từ 2008 đến 2009, còn từ năm 2009 đến năm 2010 đất nông nghiệp lại giảm 2,72
ha.Nguyên nhân chính của vấn đề là do 3,68 ha đất trồng cây hằng năm chuyển sangnuôi trồng thủy sản nhưng 2,72 ha đất nuôi trồng thủy sản lại bỏ hoang do tình trạngnuôi tôm bị thua lỗ
Đất lâm nghiệp của địa bàn cũng chiếm tỷ lệ tương đối lớn, Năm 2008 là 16,82%tương đương với 186,65 ha Đến năm 2010 đất lâm nghiệp có giảm 174,57 ha dongười dân chặt làm chất đốt Đất lâm nghiệp ở địa phương chủ yếu trồng phi lao chắncát bay để bảo vệ khu dân cư và cả vùng trồng lúa Cần có biện pháp ngăn chặn chặt
phá cây cối và trồng thêm cây để tăng cường khả năng phòng hộ của rừng là rất cầnthiết và phải thực hiện ngay
Đất trồng lúa chỉ hữu dụng và có vai trò nuôi sống toàn bộ dân cư của xã, việc
chuyển mục đích sử dụng sang nuôi trồng thủy sản có khả năng mang lại lợi ích kinh
tế rất lớn, mặc khác cũng chứa đựng rủi ro không thể lường trước được
Do vậy cần can nhắc khi tiến hành chuyển mục đích cũng như cần tìm biện pháp nângcao khả năng sản xuất lúa để đảm bảo an ninh lương thực cho địa phương
1.3.2.4 Tình hình cơ bản về cơ sở hạ tầng
Giao thông kinh tế ngày càng lớn, đòi hỏi giao thông không những cần đáp ứngnhu cầu giao lưu mà còn nhu cầu sản xuất
Cách xa trung tâm huyện , đồng thời bị cách trở bởi phá Tam Giang Quảng Ngạn
giao lưu với địa phương khác bằng hai con đường: Đường bộ và đường thủy Đường
bộ chủ yếu là đường đất và con đường quốc phòng 46B là con đường huyết mạch của
xã Ngoài ra các đường liên thôn, nội đồng đêu rất hẹp và nền đất cát pha gây khó
khăn đi lại cũng như trong sản xuất Bằng đường thủy xã Quảng Ngạn có thể đi tới cửa
biển Thuận An, sang Thị trấn Sịa hay lên thành phố Huế hoặc đi tới các xã lân cận
Đây là một thuận lợi lớn nhưng vào những ngày thời tiết xấu thì mọi phương tiện trênđường này đều ngưng hoạt động Hơn nữa chi phí xăng dầu đều cao, giá cả hàng hóa,
giá cả vật tư cũng bị đẩy lên cao
Về thủy lợi, nguồn nước trồng trọt chủ yếu nằm ở ven đường quốc lộ 46B Về vụĐại học Kinh tế Huế
Trang 22kênh mương được cứng hóa còn lại là ruộng đất nên tỷ lệ thất thoát nước là rất lớn.
Hiện nay xã vẫn chưa có trạm bơm mà chủ yếu là máy bơm nước của tư nhân có côngsuất nhỏ Với tình hình như vậy nên tình hình trồng trọt của địa phương gặp nhiều khó
khăn Chỉ khoảng 80% diện tích chủ động được nước, còn lại phụ thuộc vào nước trời.Đây là một trong những nguyên nhân chính dẫn tới năng suât lúa không cao
Tóm lại, cở sở hạ tầng của địa phương hiện nay vẫn chưa đáp ứng được nhu cầusản xuất Hiện nay dự án xã Bãi ngang đã đi vào hoạt động được một thời gian thì một
số thôn trong xã đã có hồ chứa nước tương đối lớn và đã cung cấp nước đây đủ, trong
khi đó vẫn còn một số thôn chưa có hồ chứa nên chưa chủ động được lượng nước cho
sản xuất, hy vọng trong thời gian tới vấn đề này sẽ được khắc phục để cung câp đủ
nước cho bà con yên tâm sản xuất, đồng thời địa phương cần phải cải thiện hệ thôngkênh mương nội đồng để đảm bảo thủy lợi trong sản xuất từ đó nân cao năng suất cũngnhư hiệu quả sản xuấtlúa.
1.3.2.5 Tình hình trang bị vật chất kỷ thuật
Năng lực sản xuất của một địa phương không những chịu ảnh hưởng của laođộng, đất đai mà còn chịu ảnh hưởng vật chất kỷ thuật phục vụ sản xuất, nếu tỷ lệ cơ
giới hóa các khâu sản xuất chính cao thì vừa kịp thời vụ vừa đỡ vất vả cho người lao
động ngược lại nếu tỷ lệ cơ giới hóa ít thì có thể không kịp thời vụ, ảnh hưởng tới sản
xuất cũng như gây căng thẳng cho người lao động, thực tế tình hình trang bị vật chất
kỷ thuật tại địa phương thể hiện qua bảng :
Bảng 4: Tình hình trang bị vật chất kỷ thuật ở xã Quảng Ngạn
Máy bơm nước Máy 6 9 10 3 50,00 1 11,11Máy tuốt lúa Máy 13 13 14 0 0,00 1 7,69Máy xay xát Máy 7 8 8 1 14,29 0 0,00
Xe cải tiến Xe 42 43 45 1 2,38 2 4,65Trâu bò cày kéo Con 37 40 39 3 8,11 -1 -2,50
(Nguồn: UBND xã Quảng Ngạn)
Đại học Kinh tế Huế
Trang 23Bảng số liệu cho thấy các loại máy phục vụ sản xuất liên tục tăng Máy cày phục vụ
khâu làm đất, một khâu nặng nhọc nhất trong quá trình sản xuất Sau hai năm đã tăng
bình quân một máy cày có thể cày được 8- 9 sào /ngày, có 95 ha trồng cây hằng nămvới 10 máy cày mỗi ngày bình quân cày được 9-10 sào (khoảng 0,5 ha) thì 10 máytrong 20 ngày mới cày xong Như vậy là vừa kế hoạch vừa làm đất đảm bảo kịp thời
vụ, nhất là từ vụ Đông Xuân sang vụ Hè Thu Nhưng nếu một năm chỉ sử dụng máykhoảng 40-50 ngày còn thời gian khác thì “đắp chiếu”thì rất phí công năng của máy.Trong quá trình sản xuất, đảm bảo nước cho lúa nhất là giai đoạn cấy và trổ bông
là rất quan trọng Nếu thiếu nước trong giai đoạn này, một là không cấy được, hai là
năng suất thấp Với 10 máy bơm nước ( năm 2010) trong năm 2010 thì khoảng 80%
diện tích được tưới nước thường xuyên, vấn đề ở đây không phải là thiếu máy bơm
nước ma là vấn đề hệ thông kênh mương nội đồng không đảm bảo
Thiếu phương tiện vận chuyển là một trong những nguyên nhân gây ra tình trạng năngsuất thấp, lượng xe cải tiến tham gia vào quá trình sản xuât lúa trong toàn xã rất ít Dovậy đáp ứng nhu cầu chuyên chở hiện nay vẫn là xe cải tiến do gia súc kéo
Nhìn chung một cách khái quát về tình hình trang bị vật chất kỷ thuật tại địa
phương ta thấy địa phương ta thấy: địa phương đã trang bị cơ bản đầy đủ máy móc
phục vụ sản xuất, chỉ có khâu vận chuyển gặp nhiều khó khăn do hạn chế về giaothông nội đồng Hiện nay vấn đề sử dụng máy hiệu quả đang là vấn đề đặt ra với địa
phương Thiết kế tính năng cho máy củng là một giải pháp tôt để nâng cao hiệu quả sử
dụng máy
1.3.2.6 Tình hình cung ứng vật tư cho sản xuất lúa
Vật tư - dịch vụ cho sản xuất nông nghiệp chủ yếu được cung cấp bởi HTX LãnhThủy, một phần nhỏ được cung ứng bởi tư nhân Sơ đồ bên dưới thể hiện một cáchtổng quát và tương đối đầy đủ về tình hình cung ứng vật tư và dịch vụ trong sản xuấtnông nghiệp cũng như mối quan hệ kinh tế giữa các đối tượng HTX tiến hành ký hợp
đồng với các chủ máy tư nhân bao gồm: chủ máy cày, máy bơm nước, máy tuốt Các
chủ máy cung cấp dịch vụ làm đất, thủy lợi, tuốt lúa cho bà con Ngược lại các hộ
Đại học Kinh tế Huế
Trang 24nông dân phải trả bằng tiền hoặc bằng thóc lúa khi nhận được dịch vụ làm đất, thủylợi, tuốt lúa.
Sơ đồ 1: Tình hình cung ứng vật tư và dịch vụ cho sản xuất lúa tại
xã Quảng Ngạn
Đối với các dịch vụ sản xuất Bao gồm dịch vụ làm đất, thủy lợi, tuốt lúa Các
dịch vụ này được cung cấp cho bà con thông qua sự điều phối của HTX Lãnh Thủy.HTX hợp đồng với các chủ máy tư nhân đồn thời thỏa thuận giá cả dịch vụ trước với
bà con cũng như chủ máy có thể thu thóc hoặc thu tiền trực tiếp từ bà con khi cung cấpdịch vụ này Nếu chủ máy có khả năng thì dịch vụ này có thể liên hệ trực tiếp với bàcon xã viên để cung cấp dịch vụ mà không cần thông qua hợp đồng với HTX
Đối với các vật tư đầu vào như: phân hóa học, thuốc BVTV và các vật tư cần
thiết khác thì phần lớn được cung cấp bởi HTX và một phần nhỏ được cung cấp bởi tưnhân vật tư nông nghiệp do HTX cung ứng có giá rẻ hơn nên được bà con mua nhiều
Đồng thời chất lượng đảm bảo, rủi ro dùng hàng giả (nhất là thuốc BVTV) nhỏ nên
HTX vẫn là nơi cung cấp chính cho cả xã Song song với HTX các cửa hàng vật tưnông nghiệp cũng đáp ứng một phần nhỏ nhu cầu sản xuất Khi HTX cung ứng khôngkịp thời hoặc mua với số lượng không đáng kể thì cửa hàng tư nhân là nơi bà con lựachọn với hình thức cung ứng vật tư và dịch vụ đầu vào sản xuất như hiện nay
Đại học Kinh tế Huế
Trang 25CHƯƠNG II HIỆU QUẢ KINH TẾ SẢN XUẤT LÚA Ở XÃ QUẢNG NGẠN
2.1 TÌNH HÌNH SẢN XUẤT LÚA Ở XÃ QUẢNG NGẠN
2.1.1 Diện tích, năng suất, sản lượng
Những năm qua xã đã thực hiện tốt chủ trương "dồn điền đổi thửa", xây dựngnhiều cơ sở hạ tầng giao thông, thuỷ lợi… nhằm phát triển sản xuất nông nghiệp Đặcbiệt là thực hiện chuyển dịch cơ cấu cây trồng, chuyển diện tích đất cao khó tưới nước
và diện tích trồng lúa kém hiệu quả sang trồng màu, khoai lang, có hiệu quả kinh tếhơn Tuy nhiên, cây lúa vẫn giữ vị trí vai trò chủ lực Với các biện pháp thâm canh
đồng bộ và nâng cao chất lượng giống, tỷ lệ giống cấp I đưa vào đồng ruộng đạt trên
80% và ngày càng tăng lên, nhiều giống lúa mới được đưa và sản xuất sau thời gianthử nghiệm có hiệu quả và phù hợp với thổ nhưỡng như Khang Dân, T92,X21, T.H.Năng suất lúa đã đạt 102 tạ/ha/năm Cụ thể ở bảng sau:
Bảng 5: Diện tích, năng suất và sản lượng lúa cả năm của xã Quảng Ngạn
2 Năng suất Tạ/ha 93,12 98,06 102,00 8,88 9,54
3 Sản lượng Tấn 1857,90 1949,83 1960,03 102,13 5,50
(Nguồn; UBND xã Quảng Ngạn)
Từ bảng số liệu thu thập được, cho ta thấy rằng những năm qua tình hình biến
động diện tích và năng suất lúa tại địa phương có chiều hướng trái ngược nhau
Điều này thể hiện cụ thể là, diện tích sản xuất lúa giảm qua các năm Năm 2008
chỉ tiêu này là 199,52 ha, đến năm 2010 chỉ tiêu này còn 192,16 ha, tức đã giảm so vớinăm 2008 là 7,36 ha, tương ứng giảm 3,69% Sở dĩ diện tích giảm là do các nguyênnhân sau: Trước hết, xã thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế, chuyển một số diện tích
Đại học Kinh tế Huế
Trang 26lúa kém hiệu quả sang diện tích nuôi trồng thủy sản ,nuôi cá nước ngọt theo mô hìnhchuyên cá, xây dựng mới đường giao thông nông thôn, giao thông đồng ruộng, mởkênh mươn và cống tiêu nước trong chương trình bê tông hoá giao thông nông thôn vàkiên cố hoá kênh mươn, và các công trình xây dựng khác Do đó đã làm cho diện tíchsản xuất lúa giảm đi.
Đối với năng suất lúa thì ngược lại Nhìn chung năng suất lúa tại địa phương tăng
qua các năm Năm 2008, chỉ tiêu này đạt 93,12 tạ/ha Đến năm 2010 chỉ tiêu này tănglên 102,00 tạ/ha, tức tăng so với năm 2008 là 8,88 tạ/ha.Có được điều đó là do xã đãkhông ngừng phấn đấu vươn lên Cụ thể là đã thực hiện biện pháp thâm canh đồng bộ
và nâng cao chất lượng giống, tỷ lệ giống cấp I đưa vào đồng ruộng đạt trên 80% vàngày càng tăng lên, nhiều giống lúa mới được đưa vào sản xuất sau thời gian thửnghiệm có hiệu quả và phù hợp với thổ nhưỡng như Khang Dân, T92, T.H5,X21…năng suất lúa đã đạt 102 tạ/ha/năm Ngoài ra trên cơ sở "dồn điền đổi thửa", đã đẩymạnh chương trình kiên cố hoá kênh mươn, tăng tỷ lệ cơ giới hoá trong các khâu sảnxuất và thu hoạch; trình độ thâm canh, ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật của nôngdân ngày càng tăng lên do vậy những năm qua sản lượng nông nghiệp vẫn được ổn
định trong điều kiện diện tích ngày càng thu hẹp
Việc tăng năng suất đã làm cho sản lượng cũng tăng theo mặc dù diện tích quacác năm giảm xuống Sản lượng năm 2010 đạt 1960,03 tấn tăng so với năm 2008 là102,13 tấn tương ứng tăng 5,50% Từ thực tế này cho chúng ta thấy rằng, xã đã khôngngừng áp dụng tiến bộ kỹ thuật, tạo ra giống lúa mới có năng suất cao hơn, đây là con
đường tích cực của ban lãnh đạo Vì vậy, cần phải phát huy mạnh hơn nữa trong việcứng dụng tiến bộ KHKT, thử nghiệm giống mới có năng suất cao hơn, phù hợp vớiđiều kiện ở địa phương đưa vào gieo trồng Ngoài ra, cần phải quan tâm xây dựngkênh mương nội đồng để cấp nước chống hạn vào vụ Hè Thu thường bị hạn hán cho
bà con
2.1.2 Tỷ trọng diện tích trồng lúa của xã giai đoạn 2008 - 2010
Là một xã nghèo thuần nông dựa vào nông nghiêp là chính, trong đó cây lúa
đóng vai trò chủ đạo Điều này được thể hiện qua bảng sau:
Đại học Kinh tế Huế