Rau xanh là nhu cầu không thể thiếu trong cơ cấu bữa ăn hàng ngày của con người.Đặc biệt, khi lương thực và các thức ăn nhiều đạm đã được đảm bảo thì yêu cầu về chấtlượng và số lượng rau
Trang 1PHẦN I MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Nước ta là một nước đang phát triển với nông nghiệp là ngành sản xuất vật chất cơbản, giữ vai trò chủ đạo trong việc phát triển kinh tế cũng như xã hội Chính vì vậy việcđầu tư phát triển ngành nông nghiệp là rất cần được quan tâm Trong đó, sản xuất raucũng là lĩnh vực rất cần thiết cho cuộc sống ngày càng phát triển hiện nay
Với ưu thế về điều kiện tự nhiên thuận lợi và lao động dồi dào, nước ta có tiềmnăng lớn về sản xuất các loại rau quả có giá trị kinh tế cao như: dưa chuột, khoai tây,
cà chua, su hào, bắp cải v.v
Rau xanh là nhu cầu không thể thiếu trong cơ cấu bữa ăn hàng ngày của con người.Đặc biệt, khi lương thực và các thức ăn nhiều đạm đã được đảm bảo thì yêu cầu về chấtlượng và số lượng rau lại càng gia tăng như một nhân tố tích cực trong cân bằng dinhdưỡng và tăng sức đề kháng, tăng cường khả năng miễn dịch cho cơ thể, kéo dài tuổi thọ
Trong tiến trình phát triển về kinh tế nông nghiệp, ngành sản xuất rau xanh đã thực
sự được chú trọng, và đang dần khẳng định vị trí của nó trong chiến lược phát triển mộtnền nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa Tuy nhiên, việc tiêu thụ rau còn gặpnhiều khó khăn do sản phẩm chưa đáp ứng được nhu cầu của người tiêu dùng Những yếukém trong khâu tiêu thụ cộng thêm tình trạng sản xuất không gắn với thị trường đã ảnhhưởng không nhỏ đến thu nhập và đời sống của người trồng rau
Xã Bảo Ninh là một xã vùng ven biển của thành phố Đồng Hới tỉnh Quảng Bình, làmột trong những địa phương được biết đến với thế mạnh đánh bắt và chế biến thuỷ hải
Đại học Kinh tế Huế
Trang 2sản Đây là vùng đất khắc nghiệt, địa hình không bằng phẳng, chủ yếu là những đồi cátlớn Trước đây, do điều kiện tự nhiên không thuận lợi và người dân chưa có kinh nghiệmsản xuất nên việc sản xuất nông nghiệp mà đặc biệt là sản xuất rau gặp nhiều khó khăn vàthường chỉ tiến hành manh mún nhỏ lẻ Trong thời gian gần đây, rất nhiều hộ dân ở xãBảo Ninh đã phát triển mạnh nghề trồng rau trên cát đã mang lại hiệu quả kinh tế khácao Nhờ vậy, đời sống nhân dân ngày càng được cải thiện, diện tích đất được khaithác một cách triệt để, giải quyết được việc làm cho một bộ phận dân cư.
Trước thực trạng đó, để nghiên cứu kỹ hơn vấn đề này tôi quyết định chọn đề tài:
“Đánh giá hiệu quả kinh tế của mô hình trồng rau trên cát ở xã Bảo Ninh – thành phố Đồng Hới – tỉnh Quảng Bình”.
2 Mục đích nghiên cứu
Việc nghiên cứu đề tài nhằm mục đích:
- Đánh giá chính xác kết quả, hiệu quả kinh tế của mô hình trồng rau trên cát
- Xác định các yếu tố ảnh hưởng đến năng suất rau
- Đề xuất một số giải pháp cụ thể nhằm phát triển mô hình trồng rau trên cáttrong thời gian tới
3 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp điều tra chọn mẫu: Để kết quả nghiên cứu được chính xác và đạidiện được cho tổng thể, tôi tiến hành chọn ngẫu nhiên 120 hộ nông dân xã Bảo Ninh
để điều tra thu thập số liệu
- Phương pháp thu thập số liệu:
+ Thu thập số liệu thứ cấp: Các sách, báo, tạp chí, báo cáo viết về hiệu quả kinh
tế của các mô hình trồng rau trên cát ở trong và ngoài nước
+ Thu thập số liệu sơ cấp: Trong quá trình tiến hành làm đề tài, tôi đã sử dụngphiếu điều tra phỏng vấn trực tiếp hộ gia đình về tình hình sản xuất rau
- Phương pháp thống kê, mô tả: Là phương pháp nghiên cứu áp dụng đối với cáchiện tượng kinh tế xã hội số lớn, với đối tượng nghiên cứu là mặt lượng trong mối
Đại học Kinh tế Huế
Trang 3kiện thời gian và không gian nhất định Đặc điểm của những hiện tượng này là đa dạng
và phức tạp nên người nghiên cứu phải phát hiện được tính quy luật từ sự đa dạng đó.Nội dung gồm có :
+ Tổng hợp, hệ thống hóa tài liệu trên cơ sở phân tích thống kê
+ Phân tích tài liệu bằng các mô hình kinh tế lượng
- Phương pháp phân tích số liệu: Sử dụng phần mềm Excel để nhập, xử lí dữ liệuđiều tra Đồng thời áp dụng mô hình kinh tế lượng hồi quy để xác định các yếu tố ảnhhưởng đến năng suất và hiệu quả kinh tế của mô hình trồng rau trên cát
- Phương pháp so sánh: Là phương pháp đối chiếu các chỉ tiêu, các hiện tượngkinh tế đã được lượng hóa có cùng một nội dung, một tính chất để xác định mức độ, xuhướng tác động của hiện tượng Trên cơ sở so sánh đưa ra những kết luận chính xác
- Phương pháp chuyên gia: Là phương pháp nghiên cứu dựa vào ý kiến của cácchuyên gia (nhà khoa học, nhà trồng rau có kinh nghiệm…) Phương pháp này giúpchúng ta nắm tốt hơn về lý luận, định hướng và giải pháp cơ bản
4 Giới hạn đề tài
- Địa điểm nghiên cứu: Xã Bảo Ninh thành phố Đồng Hới tỉnh Quảng Bình
- Thời gian nghiên cứu: Đề tài nghiên cứu từ tháng 10 năm 2009 đến tháng 10năm 2010
5 Bố cục đề tài
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và kiến nghị nội dung đề tài nghiên cứu nhữngvấn đề sau:
Chương I Cơ sở khoa học của vấn đề cần nghiên cứu
Chương II Đánh giá hiệu quả kinh tế của mô hình trồng rau trên cát
Chương III Các yếu tố ảnh hưởng đến năng suất rau
Chương IV Các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế của mô hình trồng rautrên cát
Đại học Kinh tế Huế
Trang 4PHẦN II NỘI DUNG NGHIÊN CỨU CHƯƠNG I CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VẤN ĐỀ CẦN NGHIÊN CỨU
1.1 Cơ sở lí luận
1.1.1 Vai trò của việc sản xuất rau
Rau xanh là mặt hàng nông sản có ý nghĩa quan trọng đối với đời sống conngười Việc sản xuất rau có vai trò rất to lớn trong nhiều mặt của đời sống của nhiềukhu vực nông thôn cũng như những vùng ven đô
Rau là nguồn thực phẩm có tác dụng tốt đến sức khỏe con người, giúp con ngườihấp thu đầy đủ các vitamin và dưỡng chất trong rau Việc tăng cường rau quả vào khẩuphần ăn sẽ giúp cải thiện tình trạng sức khỏe như giảm huyết áp, tăng cường khả năngmiễn dịch của cơ thể và phòng bệnh tật Chúng còn cung cấp cho cơ thể nhiều chấthoạt tính sinh học, đặc biệt là các muối khoáng có tính kiềm, các vitamin, các chấtpectin và axit hữu cơ Ngoài ra trong rau tươi còn có loại đường tan trong nước và chấtxenluloza, rau còn là nguồn chất sắt quan trọng Sắt trong rau được cơ thể hấp thu tốthơn sắt ở các hợp chất vô cơ Hầu hết các loại rau tươi thường dùng của nhân dân tađều giàu vitamin nhất là vitamin A và C, đây là những vitamin rất cần thiết cho cơ thểcủa chúng ta và hầu như không có hoặc chỉ có rất ít trong thức ăn động vật Tóm lạirau tươi có vai trò quan trọng trong dinh dưỡng, bữa ăn hàng ngày của chúng ta khôngthể thiếu rau Điều quan trọng là phải đảm bảo rau sạch, không có vi khuẩn gây bệnh
và các hoá chất độc nguy hiểm
Về môi trường, bằng việc áp dụng những biện pháp canh tác đảm bảo cho cây rauhấp thu tốt nhất chất dinh dưỡng, nước mà không để lại tồn dư trong sản phẩm, sảnxuất rau đã làm giảm nguy cơ ô nhiễm môi trường và thực sự trở nên thân thiện vớimôi trường, góp phần xây dựng một nền nông nghiệp sinh thái bền vững
Về kinh tế, thực tế tại nhiều vùng trồng rau đã khẳng định trồng rau cho hiệu quảkinh tế cao gấp nhiều lần trồng lúa cũng như các loại cây trồng khác
Đại học Kinh tế Huế
Trang 5Về hiệu quả xã hội, khác với trồng lúa hay một số cây trồng khác, mọi thành viêntrong gia đình đều có thể tham gia trồng rau Điều này rất có ý nghĩa trong việc giảiquyết việc làm cho lao động ở nông thôn Mặt khác do có hiệu quả kinh tế cao, trồngrau làm tăng thu nhập cho người dân, cải thiện cuộc sống của họ qua đó góp phần ổnđịnh trật tự xã hội.
1.1.2 Những quan điểm về hiệu quả kinh tế
Hiệu quả kinh tế là một phạm trù kinh tế, phản ánh trình độ sử dụng, khai tháccác nguồn lực và phương thức quản lý Nó phản ánh mặt chất và mặt lượng của cáchoạt động kinh tế Chính vì vậy trong điều kiện hiện nay các doanh nghiệp muốn tồntại thì phải đặt ra mục tiêu là hiệu quả kinh tế
Hiệu quả kinh tế phản ánh mối quan hệ tỷ số giữa đầu ra có ích với đầu vào được
sử dụng Đầu vào có thể tính theo số lao động, vốn hay thời gian lao động hao phí, chiphí thường xuyên Đầu ra thường dùng giá trị tăng thêm [Lê Dân, 2007]
Hiệu quả kinh tế được xem như là tỷ lệ giữa kết quả thu được với chi phí bỏ ra
Nó được tính toán khi kết thúc một quá trình sản xuất kinh doanh [Hoàng Hùng, 2007].Hiệu quả kinh tế của một hiện tượng (hoặc quá trình) kinh tế là một phạm trùkinh tế phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực (nhân lực, tài lực, vật lực, tiền vốn) đểđạt được mục tiêu xác định
Chung quy lại, hiệu quả kinh tế phản ánh chất lượng hoạt động kinh tế và đượcxác định bởi tỷ số giữa kết quả đạt được với chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó Từkhái niệm khái quát này có thể hình thành công thức biểu diễn khái quát phạm trù hiệuquả kinh tế như sau:
C
KQ
H
Trong đó: H : Hiệu quả kinh tế
KQ : Kết quả thu được
C : Toàn bộ chi phí bỏ raĐại học Kinh tế Huế
Trang 6Phương pháp này đã đánh giá được tốt nhất trình độ sử dụng các nguồn lực, xemxét một đơn vị nguồn lực đã sử dụng đem lại được bao nhiêu kết quả Qua đó giúpchúng ta có thể so sánh hiệu quả ở các quy mô khác nhau.
1.1.3 Hệ thống các chỉ tiêu đánh giá kết quả và hiệu quả kinh tế
1.1.3.1 Các chỉ tiêu đánh giá kết quả
Theo hệ thống tài khoản quốc gia SNA, chúng ta có các chỉ tiêu phản ánh kết quảsản xuất sau:
- Giá trị sản xuất (GO): là chỉ tiêu cho biết một năm hoặc một vụ thì đơn vị sảnxuất tạo ra được khối lượng sản phẩm có giá trị là bao nhiêu, chỉ tiêu này phản ánhquy mô về giá trị sản xuất mà ngành nông nghiệp tạo ra cho xã hội
Được xác định bằng công thức sau:
GO = Q * PTrong đó: Q : Khối lượng sản phẩm
Trang 7của sản xuất theo chiều rộng mà còn là một trong những cơ sở quan trọng để tính cácchỉ tiêu kinh tế khác.
Được xác định bằng công thức sau:
VA = GO – IC
- Thu nhập hỗn hợp (MI): là phần thu nhập (gồm cả công lao động và lãi) nằmtrong giá trị sản xuất sau khi đã trừ đi chi phí trung gian, khấu hao tài sản cố định(TSCĐ), thuế
Được xác định bởi công thức sau:
MI = VA – khấu hao TSCĐ – thuế, phí, lệ phí phải nộp
- Khấu hao TSCĐ (chi phí cố định): là phần giá trị của tài sản cố định bị hao mòntrong quá trình sản xuất
- Lợi nhuận (LN): là phần chênh lệch giữa tổng doanh thu và tổng chi phí củamột quá trình sản xuất
- Năng suất cây trồng (NS): chỉ tiêu này phản ánh sản lượng thu được trên mộtđơn vị diện tích
Được xác định bằng công thức sau:
1.1.3.2 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả
Theo hệ thống tài khoản quốc gia SNA, chúng ta có các nhóm chỉ tiêu phản ánhhiệu quả sản xuất sau:
- Nhóm chỉ tiêu phản ánh hiệu quả của vốn đầu tư:
+ GO/IC: Giá trị sản xuất trên chi phí trung gian, chỉ tiêu này phản ánh mộtđồng chi phí trung gian có thể tạo ra được bao nhiêu đồng giá trị sản xuất trong kỳ sảnxuất
Đại học Kinh tế Huế
Trang 8+ VA/IC: Giá trị gia tăng trên chi phí trung gian, chỉ tiêu này phản ánh mộtđồng chi phí trung gian có thể tạo ra được bao nhiêu đồng giá trị gia tăng trong kỳ sảnxuất.
+ MI/IC: Thu nhập hỗn hợp trên chi phí trung gian, chỉ tiêu này cho biết mộtđồng chi phí trung gian có thể tạo ra được bao nhiêu đồng thu nhập hỗn hợp trong kỳsản xuất
+ LN/IC: Lợi nhuận trên chi phí trung gian, chỉ tiêu này cho biết một đồng chiphí trung gian có thể tạo ra được bao nhiêu đồng lợi nhuận trong kỳ sản xuất
- Nhóm chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sức lao động:
+ GO/lao động (LĐ): Giá trị sản xuất trên lao động, chỉ tiêu này phản ánh mộtlao động có thể tạo ra được bao nhiêu đồng giá trị sản xuất trong kỳ sản xuất
+ VA/LĐ: Giá trị gia tăng trên lao động, chỉ tiêu này phản ánh một lao động cóthể tạo ra được bao nhiêu đồng giá trị gia tăng trong kỳ sản xuất
+ MI/LĐ: Thu nhập hỗn hợp trên lao động, chỉ tiêu này phản ánh một lao động
có thể tạo ra được bao nhiêu đồng thu nhập hỗn hợp trong kỳ sản xuất
+ LN/LĐ: Lợi nhuận trên lao động, chỉ tiêu này phản ánh một lao động có thểtạo ra được bao nhiêu đồng lợi nhuận trong kỳ sản xuất
1.1.4 Mô hình nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến năng suất rau
Năng suất cây trồng là một trong những chỉ tiêu kết quả rất quan trọng và rấtđược bà con nông dân quan tâm Nó cho biết trên một diện tích sản xuất ra được baonhiêu sản phẩm Hiện nay, có rất nhiều các phương pháp phân tích các nhân tố ảnhhưởng đến năng suất cây trồng, đứng trên góc độ nông nghiệp, một phương phápthông dụng nhất được sử dụng đó chính là phương pháp phân tích hồi quy đối với hàmsản xuất Cobb – Douglas
Hàm sản xuất Cobb- Douglas có dạng:
4 4
3 3
2 2
Trang 9X2: là biến phân phân Lân (P)
X3: là biến phân Kali (K)
X4: là biến phân chuồng
4 , 3 ,
2
,
: lần lượt là độ co giãn của biến biến phân N, biến phân P, biến phân
K, biến phân chuồng theo biến Y Đối với hàm sản xuất Cobb – Douglas khi cố địnhcác yếu tố đầu vào khác, nếu ta tăng 1% một yếu tố đầu vào nào đó so với mức trungbình thì sẽ làm cho Y thay đổi đúng bằng %
Đối với hàm sản xuất có dạng như trên, để phân tích được theo phương pháp hồiquy chúng ta cần chuyển dạng hàm sản xuất từ hàm số mũ sang dạng tuyến tính bằngcách logarit 2 vế của phương trình (*) ta được:
LnY = LnA +1Ln X1+ 2LnX2+3LnX3 +4Ln4X4Như vậy lúc này hàm sản xuất Cobb – Douglas đã được chuyển sang dạng tuyếntính, sẽ giúp cho việc phân tích hồi quy được tiến hành đơn giản hơn rất nhiều
1.2 Cơ sở thực tiễn
1.2.1 Tình hình sản xuất và tiêu thụ rau của một số nước trên thế giới
Trong những năm gần đây tình tình sản xuất và tiêu thụ rau quả của các nước trênthế giới có nhiều sự biến động Để hiểu rõ hơn vấn đề này ta xem xét tình hình sảnxuất và thị trường các mặt hàng rau quả của một số nước Theo nguồn số liệu thống kê
từ Rau – Hoa – Quả Việt Nam cho thấy:
Trang 10tấn Phần lớn sản lượng cà chua được sử dụng cho công nghiệp chế biến, làm tương càchua Lợi nhuận từ cà chua đã thúc đẩy một số nông dân trồng bông chuyển sang canhtác loại cây này trong niên vụ tới.
Thị trường xuất khẩu lớn nhất là Nga, chiếm trên 70% tổng lượng xuất khẩu từtháng 1-5/2009, xuất khẩu cà chua của Trung quốc đã tăng 10%, đạt 23.000 tấn, nhờnhu cầu tăng nhanh tại Hồng Kông, Việt nam Tuy nhiên, xuất khẩu sang Nga lại giảm12% so với cùng kỳ năm trước, xuống còn 35.000 tấn
Theo số liệu thống kê từ Bộ nông nghiệp Trung Quốc, tổng kim ngạch xuất nhậpkhẩu nông sản của Trung Quốc trong bốn tháng đầu năm 2010 đã tăng 33,1% so vớicùng kỳ năm trước, đạt 35,01 tỷ USD Trong giai đoạn này, kim ngạch xuất khẩu nôngsản đã tăng 21%, đạt 14,06 tỷ USD, và kim ngạch nhập khẩu nông sản đã tăng 42,8%,đạt 20,95 tỷ USD Thâm hụt thương mại đã nới rộng đến 130%, lên đến 6,89 tỷ USD.Tính riêng tháng 4/2010, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu nông sản đã tăng25,9%, đạt 9,51 tỷ USD Trong đó, kim ngạch xuất khẩu nông sản đã tăng 17,9%, đạt3,74 tỷ USD, và kim ngạch nhập khẩu nông sản đã tăng 31,7%, đạt 5,77 tỷ USD.Thâm hụt thương mại đã nới rộng đến 67,9%, lên đến 2,03 tỷ USD
Trong 10 tháng đầu năm 2010, Trung Quốc tiếp tục dẫn đầu trong số các thịtrường xuất khẩu sang Nhật cả về lượng, đạt 1409 ngàn tấn, với mức tăng trưởng11,6% về lượng và 13,4% về trị giá so với cùng kỳ năm trước
- Ấn Độ:
Năm 1993, Ấn Độ xuất khẩu 68,500 tấn rau đã qua chế biến Và kể từ đó đếnnay, tốc độ tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu rau đạt trung bình 25% và lượng xuấtkhẩu đạt 16% Trong đó, lượng xuất khẩu hành chiếm 93% tổng khối lượng xuất khẩurau tươi của Ấn Độ Ngoài ra Ấn Độ còn xuất khẩu một số các sản phẩm rau tươi khácnhư: khoai tây, cà chua, đậu, cà rốt, ớt…Các thị trường nhập khẩu rau tươi chủ yếucủa Ấn Độ là các quốc gia vùng vịnh, Anh, Sri Lanka, Malaysia và Singapo Mặc dù,đứng thứ 2 thế giới về sản lượng rau tươi nhưng sản lượng trung bình của các loại rau
Ấn Độ còn thấp hơn so với các nước khác trên thế giới Hiện tại ở Ấn Độ, nguyên liệu
Đại học Kinh tế Huế
Trang 11Các loại rau như: khoai tây, cà chua, hành, bắp cải và súp lơ có tổng khối lượngchiếm khoảng 60% sản lượng rau của Ấn Độ Rau tươi của Ấn Độ hiện được trồngphổ biến trên đồng ruộng, trái ngược với các quốc gia phát triển, hiện tại ở các quốcgia phát triển họ đang sử dụng kỹ thuật trồng rau trong nhà, kỹ thuật này sẽ giúp chosản lượng rau đạt kết quả cao hơn nhiều Ngành sản xuất rau tươi của Ấn Độ đang đềnghị chính phủ giúp đỡ nguồn nguyên liệu trồng trọt có chất lượng tốt, giảm sử dụnghạt giống cây lai, nâng cao trình độ quản lý và trình độ kỹ thuật để tăng sản lượng raucủa Ấn Độ.
- Ucraina:
Do diện tích trồng bắp cải trắng tại Ucraina được mở rộng nên sản lượng đã tăngmạnh Lượng bắp cải thu hoạch dồi dào không chỉ đáp ứng nhu cầu trong nước màUcraina đã tăng cường xuất khẩu loại rau thế mạnh này Nguồn cung bắp cải dồi dàonên giá bán trong nước giảm nhẹ Hiện tại, giá bắp cải bán tại Ucraina từ 0,07- 0,10USD/kg, song cũng có thể giảm nếu lượng đặt hàng lớn hoặc hình thức thanh toánthuận tiện
Xuất khẩu rau trong tháng 4/2010 của Mỹ đạt 15,13 triệu USD, giảm 32,04 % sovới kim ngạch xuất khẩu tháng 3/2010 là 22,26 triệu USD Tuy nhiên, xuất khẩu rautrong tháng 4 năm 2010 đã tăng 49,30 % so với tháng 4/2009 với kim ngạch xuất khẩurau chỉ đạt 10,13 triệu USD
Hoa Kỳ là thị trường xuất khẩu rau củ quả sang Nhật Bản lớn thứ hai chỉ sauTrung Quốc, trong 10 tháng đầu năm 2010, đã xuất khẩu được 789 ngàn tấn rau củquả, đạt tăng trưởng 11,2% về lượng và 9,1% về trị giá so với cùng kỳ năm trước
Đại học Kinh tế Huế
Trang 12- Nhật Bản
Theo số liệu thống kê của Nhật Bản, xuất nhập khẩu hàng rau củ quả của NhậtBản sang các thị trường chính trong tháng 10/2010 đạt trên 240,2 nghìn tấn, kim ngạchđạt 37,41 tỷ yên Tính chung 10 tháng đầu năm 2010, tổng lượng xuất khẩu rau quảcủa Nhật Bản đạt 30,68 nghìn tấn, kim ngạch đạt 387,37 tỷ yên
Xuất khẩu rau củ quả của Nhật Bản trong tháng 10/2010 tập trung vào hai thịtrường chính là Đài Loan và Trung Quốc Trong đó, Đài loan vẫn là thị trường cólượng nhập khẩu cao nhất là 1791 tấn, với kim ngạch xuất khẩu đạt 755,2 triệu yên,nhưng lại giảm 21,9% về lượng và 3,8% về trị giá so với cùng kỳ năm trước
Đáng chú ý là tỷ lệ tăng trưởng xuất khẩu rau củ quả của Nhật Bản sang các thịtrường gồm Hàn Quốc và Malaysia đã tăng trưởng khá trong tháng 10/2010 so với cùng
kỳ năm trước Trong đó, xuất khẩu sang Hàn Quốc đạt 305 tấn, trị giá 83,8 triệu yên, tăng116,3% về lượng và 47,4% về trị giá so với cùng kỳ năm trước; tính chung 10 tháng đầunăm 2010, xuất khẩu của Nhật Bản sang thị trường Hàn Quốc đạt 1260 tấn, trị giá 519,2triệu yên, tăng 58,6% về lượng và 33% về trị giá so với cùng kỳ năm trước Xuất khẩu củaNhật Bản sang Malaysia trong tháng 10/2010 chỉ đạt 8,2 tấn, trị giá 5 triệu yên, nhưng đãtăng đến 65,3% về lượng và 91,3% về trị giá so với cùng kỳ năm trước
- Các nước Liên minh châu Âu (EU):
Liên minh châu Âu (EU) bao gồm 27 quốc gia với 485 triệu dân, là khu vực vănminh sớm và phát triển vào bậc nhất toàn cầu, vì thế cũng là khu vực có khối lượnggiao dịch thương mại khổng lồ, chiếm 45% tổng kim ngạch nhập khẩu và 46% tổngkim ngạch xuất khẩu của thế giới Số liệu thống kê từ Eurostat cho thấy Thổ Nhĩ Kỳ,Italia, và Tây Ban Nha là các nước sản xuất nhiều rau quả nhất tại EU Sản lượng rauquả của ba quốc gia này luôn đứng đầu EU trong nhiều năm qua
Theo thống kê của Cơ quan Nông nghiệp Nước ngoài (FAS) thuộc Bộ Nôngnghiệp Mỹ, một số mặt hàng xuất khẩu tiêu biểu của EU như sau:
+ Thổ Nhĩ Kỳ là nước xuất khẩu nhiều cà chua nhất tại EU, chủ yếu sang Nga
và Đông Âu Trong 5 tháng đầu năm 2009, Thổ Nhĩ Kỳ đã xuất khẩu 335.000 tấn cà
Đại học Kinh tế Huế
Trang 13+ Xuất khẩu khoai tây đông lạnh của EU giảm 10 % trong niên vụ 2008-2009,xuống còn 440.000 tấn do nhu cầu giảm tại Ả Rập Xê Út, Nga, và Brazil Đây là ba thịtrường tiêu thụ khoai tây đông lạnh lớn nhất của EU, với mức tiêu thụ chiếm khoảngmột nửa xuất khẩu của EU.
1.2.2 Tình hình sản xuất và tiêu thụ rau ở Việt Nam
Với đặc điểm khí hậu đa dạng, miền Bắc có đầy đủ bốn mùa xuân hạ thu đông,miền Nam chỉ có hai mùa là mùa mưa và mùa khô, các sản phẩm rau của Việt Nam rất
đa dạng, từ các loại rau nhiệt đới như rau muống, rau ngót, rau cải đến các loại rau xứlạnh như xu hào, bắp cải, cà rốt
1.2.2.1 Diện tích gieo trồng và năng suất rau
Tính đến năm 2010, tổng diện tích trồng rau các loại trên cả nước đạt 810,6nghìn ha, sản lượng đạt 13.819,7 nghìn tấn; so với năm 2005 thì diện tích đất trồng rautăng 175,5 nghìn ha tương ứng với 27,63%, sản lượng tăng 8.138,5 nghìn tấn tươngứng với 140,51%
Bảng 1: Diện tích gieo trồng và năng suất rau phân theo vùng
Diện tích(1000 ha) 2010/2005
(%)
Sản lượng(1000 tấn) 2010/2005
(Nguồn: Viện nghiên cứu rau quả và tính toán của tác giả)
Đại học Kinh tế Huế
Trang 14Qua bảng trên ta thấy tính đến năm 2010 thì vùng sản xuất rau lớn nhất là ĐBsông Hồng chiếm 28,29% về diện tích đất trồng rau và 29,54 sản lượng rau của cảnước, tiếp đến vùng ĐB sông Cửu Long chiếm 23,5% về diện tích đất trồng rau và29,45% sản lượng rau của cả nước Đây là những vùng đất đai màu mỡ, điều kiện tựnhiên thuận lợi nên sản xuất rau phát triển khá mạnh Còn vùng sản xuất rau thấp nhất
là DH Nam Trung Bộ chiếm 7.04% diện tích đất trồng rau và 6.43% sản lượng rau của
cả nước Nguyên nhân chính là do khu vực này đất đai cằn cỗi, khí hậu khắc nghiệt(thường xuyên phải hứng chịu những đợt gió Tây – Nam thổi vào khiến cho thời tiết oibức, khô nóng, đây còn là trung tâm của những cơn bão lớn nhất trong năm) vì vậyảnh hưởng đến hoạt động sản xuất rau nên sản lượng rau ở đây chiếm phần nhỏ trongtổng sản lượng rau của cả nước
So sánh diện tích gieo trồng năm 2010 so với năm 2005 và sản lượng rau thuđược giữa năm 2010 so với năm 2005 ta thấy:
- Đối với diện tích gieo trồng thì Tây nguyên là vùng có diện tích trồng rau tănglớn nhất tăng 48,78% Đây là vùng đất đỏ bazan màu mỡ, không chỉ phù hợp với sảnxuất cây công nghiệp như cao su, cà phê mà còn phù hợp với sản xuất rau Vùng códiện tích tăng thấp nhất là Đông Nam Bộ tăng 07,72%
- Đối với sản lượng rau thì Bắc Trung Bộ là vùng có sản lượng rau tăng lớn nhấttăng 52,28%, tiếp đến là ĐB sông Cửu Long tăng 50,11% và thấp nhất là vùng TâyNguyên tăng 36,69 % Nếu tính chung cho cả nước thì sản lượng rau năm 2010 tăng
so với năm 2005 là 140,51% Với diện tích đất trồng rau tăng không nhiều tăng27,63% so với năm 2005 nhưng sản lượng rau tăng lên rất lớn, điều này cho thấyngười dân đã có các biện pháp canh tác hợp lý nhằm tăng năng suất cây trồng như cácbiện pháp luân canh, xen canh cây trồng; ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vàotrong sản xuất; chăm sóc, phòng bệnh kịp thời…
Nhiều vùng rau an toàn (RAT) đã được hình thành đem lại thu nhập cao và antoàn cho người sử dụng đang được nhiều địa phương chú trọng đầu tư xây dựng mới
và mở rộng: Hà Nội, Hải Phòng, TP Hồ Chí Minh, Đà Lạt…
Đại học Kinh tế Huế
Trang 15Theo đánh giá của Viện nghiên cứu rau quả, trong những năm gần đây những loạirau được xác định có khả năng phát triển để cung cấp sản phẩm cho xuất khẩu là càchua, dưa chuột, đậu rau, ngô rau phát triển mạnh cả về quy mô và sản lượng, trong
đó sản phẩm hàng hoá chiếm tỷ trọng cao
Hiện nay rau được sản xuất theo 2 phương thức: tự cung tự cấp và sản xuất hànghoá, trong đó rau hàng hoá tập trung chính ở 2 khu vực:
- Vùng rau chuyên canh tập trung ven thành phố, khu tập trung đông dân cư Sảnphẩm chủ yếu cung cấp cho dân phi nông nghiệp, với nhiều chủng loại rau phong phú(gần 80 loài với 15 loài chủ lực), hệ số sử dụng đất cao (4,3 vụ/năm), trình độ thâmcanh của nông dân khá, song mức độ không an toàn sản phẩm rau xanh và ô nhiễmmôi trường canh tác rất cao
- Vùng rau luân canh: đây là vùng có diện tích, sản lượng lớn, cây rau được trồngluân canh với cây lúa hoặc một số cây màu Tiêu thụ sản phẩm rất đa dạng: phục vụ ăntươi cho cư dân trong vùng, ngoài vùng, cho công nghiệp chế biến và xuất khẩu
Sản xuất rau theo hướng nông nghiệp công nghệ cao đã bước đầu được hìnhthành như: sản xuất trong nhà màn, nhà lưới chống côn trùng, sản xuất trong nhàplastic không cố định để hạn chế tác hại của các yếu tố môi trường bất lợi, trồngrau bằng kỹ thuật thuỷ canh, màng dinh dưỡng, nhân giống và sản xuất các loại câyquý hiếm, năng suất cao bằng công nghệ nhà kính có điều khiển kiểm soát các yếu
Chủng loại rau rất phong phú, đa dạng Các loại rau ăn lá như cải xanh, raumuống, cải thảo, cải làn, bắp cải, cải ngọt, cải bó xôi chiếm ưu thế về diện tích và sảnlượng (chiếm khoảng 70 –80% diện tích), có tỷ suất hàng hoá cao Tuy nhiên sản xuấtrau hiện nay chủ yếu vẫn theo phương pháp truyền thống nên chất lượng rau không
Đại học Kinh tế Huế
Trang 16đảm bảo Do đó chủ chương của thành phố là đẩy nhanh việc xây dựng các vùng sảnxuất RAT, nhằm đảm bảo an toàn cho người sử dụng, người sản xuất và môi trườngsinh thái Hiện nay trên địa bàn thành phố, diện tích sản xuất RAT chiếm khoảng 23 –28% diện tích canh tác rau, tập trung chính ở các huyện ngoại thành như Đông Anh,Gia Lâm, Thanh Trì Lượng rau an toàn chiếm khoảng 20 – 25% sản lượng rau củatoàn thành phố.
+ Vùng sản xuất chuyên canh cà rốt, hành tỏi, dưa hấu hàng trăm ha tại NamSách, Bình Giang, Kim Thành tỉnh Hải Dương hàng năm cho thu nhập 70 - 90 triệuđồng/ha
+ Vùng chuyên sản xuất dưa chuột tại Lý Nhân tỉnh Hà Nam hàng năm sản xuất
500 - 600 ha cà chua và dưa chuột cung cấp cho các nhà máy chế biến của Tổng công
ty rau quả, nông sản Vụ Xuân 2010, Tổng công ty rau quả đã tổ chức sản xuất raunguyên liệu vụ xuân ở các tỉnh Nam Định, Bắc Giang, Thanh Hoá đạt 940 ha (trong đódưa chuột bao tử 294 ha, ớt 320 ha, ngô ngọt 146 ha, cà chua bi 65 ha) và đã thu muatrên 8.000 tấn sản phẩm
+ Thái Bình đã hình thành được nhiều vùng sản xuất nông nghiệp mang tínhchuyên canh với một số mặt hàng xuất khẩu chủ lực như: hành, tỏi, ớt, khoai tây ởhuyện Quỳnh Phụ; dưa chuột, ngô bao tử, sa lát ở huyện Thái Thụy Một số rau màuxuất khẩu được tỉnh mở rộng gieo trồng: khoai tây Đức, Hà Lan; ớt Đài Loan, HànQuốc, Nhật Bản; cải bắp cuộn, bí xanh, đậu cô ve Trung Quốc; khoai lang Nhật và càchua bi để tăng giá trị thu nhập và hiệu quả sản xuất
+ Trồng măng ở Đan Phượng – Hà Tây: Cây măng Điền Trúc, có nguồn gốc từTrung Quốc, được trồng ở xã Song Phượng, Đan Phượng, Hà Tây; trên diện tích đấtchân đồi bạc màu Sau 12 tháng trồng cho thu hoạch, sau khi trừ mọi chi phí, thu lãi từ
60 –70 triệu đồng/ha Trồng măng Điền trúc cho giá trị kinh tế cao là vì sản phẩm của
nó có khả năng tận thu cao
- Miền Trung:
Sản xuất rau hàng hoá xuất khẩu Quỳnh Lưu, Nghệ An:
Đại học Kinh tế Huế
Trang 17Sản xuất rau ở xã Quỳnh Lương, Quỳnh Lưu vào chính vụ (vụ Đông và HèThu), bình quân mỗi ngày nông dân trong xã đưa ra thị trường từ 45 đến 50 tấn rau Xã
đã thành lập trang web giới tiệu, quảng bá và bán sản phẩm, thông qua trang web nàynhiều hợp đồng bán rau xanh cho khách hàng trong, ngoài nước đã được ký Trongnăm 2010, xã Quỳnh Lương, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An đã xuất sang Hà Lan
900 tấn rau xanh các loại (cà chua, rau cải, đậu, bắp cải, rau thơm, hành), tăng hơnnăm ngoái 100 tấn
- Miền Nam:
+ Trồng rau nông nghiệp công nghệ cao ở thành phố Hồ Chí Minh
Hiện thành phố có 1.863 ha sản xuất rau an toàn với sản lượng đạt khoảng 40.000tấn/năm Hiện nay thành phố đang xây dựng khu nông nghiệp công nghệ cao trên 100
ha tại huyện Củ Chi, áp dụng công nghệ trồng rau bằng kỹ thuật thuỷ canh, màng dinhdưỡng và canh tác trên giá thể không đất, nuôi cấy mô cho rau, hoa, cây cảnh, cây ăntrái… ứng dụng chất điều hoà sinh trưởng thực vật, công nghệ gen, sản xuất nấm vàcác chế phẩm vi sinh
+ Trồng nấm tại tỉnh Vĩnh Long
Dự án cung cấp giống chương trình nấm thực phẩm đã hỗ trợ nông dân ở 20 xãtrồng trong vụ Đông Xuân, Hè Thu và Thu Đông với diện tích 834,5 ha nấm rơm
+ Vùng trồng rau tỉnh Tiền Giang
Hiện nay, diện tích rau của Tiền Giang lên đến 45.000 ha, mỗi năm cho sảnlượng xấp xỉ 550.000 tấn với tổng thu nhập khoảng 160 tỷ đồng Vùng trồng rau antoàn của tỉnh được quy hoạch ở các xã Thân Cửu Nghĩa, Long An, Phước Thạnh,Tân Hiệp; Long Bình Điền, Bình Phan, Bình Phục Nhất (Chợ Gạo); Bình Nhì,Long Vĩnh (Gò Công Tây); Mỹ Phong, Tân Mỹ Chánh (thành phố Mỹ Tho) vàLong Hưng (thị xã Gò Công)
+ Vùng trồng nấm Tân Phước - Tiền Giang
Toàn huyện Tân Phước, tỉnh Tiền Giang có khoảng 600 ha nấm rơm, chủ yếutrồng tập trung ở các xã Tân Hoà Tây, Mỹ Phước, Phước Lập, Thạnh Mỹ, Tân Hoà
Đại học Kinh tế Huế
Trang 18Đông… giá nấm rơm khoảng 22.000 – 25.000 đồng/kg, có khi lên đến 30.000đồng/kg, vốn đầu tư thấp, nguồn nguyên liệu sẵn có (rơm rạ), kĩ thuật đơn giản.
+ Vùng sản xuất rau ôn đới tỉnh Lâm Đồng
Diện tích trồng rau tại Lâm Đồng năm 2010 đạt khoảng 37.315 ha, sản lượng87.700 tấn, sản lượng xuất khẩu khoảng 27.324 tấn Chủng loại rau phong phú, cónhiều loại rau chất lượng cao như cải bắp, cải thảo, súp lơ (chiếm 55 – 60%), nhóm rau
ăn củ chiếm 20 - 25% (khoai tây, cà rốt, củ dền), nhóm rau ăn quả chiếm 10 -12% (càchua, đậu Hà lan )
Diện tích rau an toàn trên 700 ha theo công nghệ sản xuất cách ly trong nhà lướikhông sử dụng phân bón, nông dược vô cơ và cách ly trong nhà lưới có sử dụng giớihạn nông dược vô cơ
1.2.2.3 Tình hình tiêu thụ sản phẩm rau
Hiện nước ta có khoảng 90 cơ sở chế biến rau quả với tổng năng suất 350.000tấn sản phẩm/năm Hiện nay tiêu thụ rau chủ yếu cho tiêu dùng trong nước, sản phẩmrau cho chế biến chiếm tỷ lệ không đáng kể, năm 2010 rau quả xuất khẩu chỉ đạt 375triệu USD, trong đó phần lớn là từ quả chế biến Sản phẩm rau cho xuất khẩu chủngloại rất hạn chế, hiện chỉ một số loại như cà chua, dưa chuột, ngô ngọt, ngô rau, ớt,dưa hấu ở dạng sấy khô, đóng lọ, đóng hộp, muối mặn, cô đặc, đông lạnh và một sốxuất ở dạng tươi
Tiêu thụ trong nước không nhiều và giá cả thất thường phụ thuộc vào lượng hàngnông sản cung cấp trong khi mức tiêu thụ hạn chế dẫn đến tình trạng một mặt hàngnông sản có năm rất đắt, có năm lại rất rẻ ảnh hưởng đến tính bền vững trong sản xuất.Sản phẩm rau trở thành hàng hoá ngay sau khi thu hoạch và nó rất dễ bị hư hỏngtrong khi hầu hết các vùng sản xuất hàng hoá lớn chưa có nơi sơ chế và kho bảo quảntạm thời
Đại học Kinh tế Huế
Trang 191.2.2.4 Tình hình xuất khẩu rau quả ở Việt Nam
- Kim ngạch xuất khẩu:
Theo số liệu thống kê của Tổng cục Hải quan, kim ngạch xuất khẩu rau quả tiếptục duy trì tốc độ tăng trưởng khá cao trong tháng 10 năm 2010, đạt 36,2 triệu USD,tăng 13,2% so với cùng kỳ năm 2009 Tính chung 10 tháng năm 2010, kim ngạch xuấtkhẩu rau quả đạt 337,8 triệu USD, tăng 17,6% so với cùng kỳ năm 2009
Rau quả là một trong 9 mặt hàng nông sản được Bộ Công thương đưa vào kếhoạch các nhóm mặt hàng xuất khẩu chủ lực trong năm 2011 Đây là điều kiện thuậnlợi để ngành rau quả đẩy mạnh xuất khẩu trong năm 2011
Diễn biến kim ngạch xuất khẩu rau quả từ năm 2008 đến tháng 10 năm 2010 nhưsau:
(Đơn vị tính: Triệu USD)
T1 T2 T3 T4 T5 T6 T7 T8 T9 T10 T11 T12
(Nguồn: Rau Hoa Quả Việt Nam)
Biểu đồ 1: Kim ngạch xuất khẩu rau từ năm 2008 đến tháng 10 năm 2010
Qua biểu đồ cho thấy, nhìn chung kim ngạch xuất khẩu rau quả tính đến tháng 10năm 2010 tăng so với các năm 2008 và 2009 Những tháng đầu năm và cuối năm nhucầu tiêu thụ rau quả trên thế giới tăng mạnh nên kim ngạch xuất khẩu cũng tăng lên sovới các tháng khác trong năm
Đại học Kinh tế Huế
Trang 20- Cơ cấu thì trường:
Theo nguồn bản tin “Thông tin Thương mại” của Trung tâm Thông tin Công
nghiệp và Thương mại – Bộ Công thương ta có:
Bảng 2: Thị trường xuất khẩu rau quả 10 tháng năm 2010
Thị trường
T10/2009(USD)
T10/2010(USD)
2010/2009(%)
10T/2009(USD)
10T/2010(USD)
2010/2009(%)Trung Quốc 5.664.143 7.187.998 26,9 42.706.629 52.146.423 22,1Nhật Bản 2.622.511 3.175.823 21,1 25.823.857 29.386.149 13,8
Hà Lan 1.378.902 2.391.165 73,4 14.248.219 25.996.543 82,5
LB Nga 1.941.495 3.477.094 79,1 29.050.433 22.445.694 -22,7Hoa Kỳ 2.557.653 1.950.581 -23,7 16.485.636 20.278.945 23,0Đài Loan 2.095.418 1.276.286 -39,1 17.060.184 16.659.538 -2,3Indonesia 280.452 722.678 157,7 7.228.204 12.531.884 73,4Singapore 922.383 1.298.735 40,8 8.119.003 12.344.000 52,0
(Nguồn: Trung tâm Thông tin Công nghiệp và Thương Mại)
Đại học Kinh tế Huế
Trang 21Cơ cấu thì trường rau quả trong tháng 10 hầu như không có sự thay đổi Trong sốnhững thị trường chính nhập khẩu rau quả của Việt Nam thì Trung Quốc vẫn là thìtrường đạt kim ngạch cao nhất với hơn 7 triệu USD, tăng 26,9% so với cùng kỳ năm
2009 Tính chung 10 tháng năm 2010, kim ngạch xuất khẩu rau quả sang thị trườngTrung Quốc đạt 52,1 triệu USD, tăng 22% so với cùng kỳ năm 2009 Một số mặt hàngrau như súp lơ, cà tím là những mặt hàng đang được người tiêu dùng Trung Quốc ưachuộng
Xuất khẩu rau quả sang thị trường Nhật Bản trong tháng 10 đạt 3 triệu USD, tăng21,1% so với cùng kỳ năm 2009 Tiếp đến là Hà Lan đạt 2,4 triệu USD, tăng 73,4%.Đây cũng là một trong những thị trường đạt mức tăng trưởng cao nhất kể từ đầu năm
2010 đến tháng 10 năm 2010
Sau khi giảm nhẹ trong tháng trước, xuất khẩu rau quả sang thị trường Nga trongtháng 10 đã tăng trở lại Số liệu thống kê cho thấy, kim ngạch xuất khẩu rau quả sangthị trường này trong tháng 10 đạt 3,5 triệu USD, tăng 79,1% so với cùng kỳ năm 2009.Tuy nhiên tính chung 10 tháng năm 2010, xuất khẩu rau quả sang thị trường Nga vẫngiảm nhẹ với mức giảm 22,1%
Kim ngạch xuất khẩu rau quả sang thị trường Ucraina đã giảm đáng kể trong 10tháng Mặc dù trong tháng 10 kim ngạch xuất khẩu rau quả sang thị trường này tăngrất mạnh (tăng 211,2%) nhưng trong 10 tháng qua kim ngạch xuất khẩu rau quả sangthị trường này chỉ đạt 0.873 triệu USD, giảm 36,2% so với cùng kỳ năm 2009
Đại học Kinh tế Huế
Trang 221.2.3 Tình hình sản xuất rau ở Quảng Bình
Theo số liệu niên giám thống kê của Cục Thống kê tỉnh Quảng Bình năm 2009 ta có:
Bảng 3: Giá trị sản xuất của ngành trồng trọt
(Nguồn: Cục Thông kê tỉnh Quảng Bình)
Qua bảng số liệu trên ta thấy, giá tri sản xuất của rau đậu các loại năm 2009 đạt172.065 triệu đồng chiếm 0,83% trong tổng giá trị sản xuất của toàn ngành trồng trọt
và chiếm 0.98% trong tổng giá trị sản xuất của cây hàng năm, tăng 1,69 lần so với năm
2008 và 2,08 lần so với năm 2007
Theo thống kê và phân tích từ Website Hội nông dân Việt Nam cho thấy:
Đại học Kinh tế Huế
Trang 23Diện tích trồng rau ở Quảng Bình những năm gần đây có biến động không lớn: từ5.500 đến 6.000 ha, riêng vụ đông xấp xỉ 2.000 ha Năng suất rau khoảng 95 tạ đến
100 tạ/ha Rau được sản xuất trên địa bàn bao gồm các nhóm: rau ăn lá, rau ăn củ vàrau gia vị; trong đó diện tích trồng các loại rau ăn lá chiếm tỷ lệ cao nhất khoảng 60%.Hầu hết các huyện, thành phố đều trồng rau song chủ yếu tập trung ở các huyện vùngcát ven biển như Bố Trạch, Quảng Trạch, Lệ Thủy và Đồng Hới Rau ăn lá chiếm diệntích cơ cấu lớn, tập trung chủ yếu tại huyện Bố Trạch (trên 1.000 ha); và Quảng Trạch(650 ha); Lệ Thủy (300 ha)
Đối tượng rau ăn quả bao gồm cà chua, dưa chuột được phát triển với diện tíchkhá nhưng thời gian sinh trưởng dài nên gặp nhiều bất lợi do hậu quả của thời tiết,thiên tai Chính vì vậy mà nhóm rau gia vị lại phát triển khá nhanh, tập trung chủ yếu ởhuyện Bố Trạch, Quảng Trạch (400 ha) và Lệ Thủy (150 ha)
Ủy ban nhân dân (UBND) tỉnh Quảng Bình đã ban hành kế hoạch hỗ trợ pháttriển sản xuất, chế biến tiêu thụ rau quả an toàn trên địa bàn giai đoạn 2009 - 2015.Mục tiêu đến năm 2015 có 100% diện tích rau quả tại các vùng trong tỉnh được quyhoạch đáp ứng nhu cầu sản xuất an toàn, toàn bộ rau quả sản xuất trong vùng quyhoạch được cấp giấy chứng nhận rau an toàn
Trước mắt quy hoạch sản xuất rau an toàn từ 20 - 25 ha đối với các huyện LệThủy, Quảng Ninh, Bố Trạch, Quảng Trạch và từ 10 - 15 ha đối với huyện Tuyên Hóa,Minh Hóa và Đồng Hới Tiêu chuẩn mỗi vùng an toàn tập trung có diện tích từ 1 ha trởlên và phải sản xuất liên tục từ 9 tháng/năm trở lên UBND tỉnh sẽ hỗ trợ vốn cho cácđịa phương quy hoạch và sản xuất rau an toàn, dự kiến năm 2009 là 2,9 tỷ đồng và giaiđoạn năm 2010 - 2015 là 10 tỷ đồng
Để nâng giá trị của cây rau vừa qua, một số địa phương trong tỉnh đã hình thànhcác mô hình trồng rau an toàn, trong đó nổi lên ở Cam Thủy (Lệ Thủy) với gần 30 ha,Đức Ninh (Đồng Hới) 50 ha và Cừa Phú (Bảo Ninh) 25 ha Chi cục Bảo vệ thực vậtcủa tỉnh cũng đã triển khai thực hiện mô hình sản xuất rau an toàn từ nguồn kinh phí
hỗ trợ phát triển nông nghiệp và kinh tế nông thôn tại thôn Đức Hoa (Đức Ninh) vàthôn Cửa Phú đã đạt được kết quả bước đầu, tạo uy tín trên thị trường thành phố, từngbước giúp người dân thay đổi cách nhìn nhận đối với rau trồng trên quy mô lớn Thunhập bình quân của trồng rau màu đạt gần 50 triệu đồng/ha
Đại học Kinh tế Huế
Trang 24CHƯƠNG II ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ KINH TẾ CỦA MÔ HÌNH TRỒNG RAU TRÊN CÁT Ở XÃ BẢO NINH TP ĐỒNG HỚI TỈNH QUẢNG BÌNH
2.1 Điều kiện tự nhiên và kinh tế xã hội của xã Bảo Ninh
2.1.1 Điều kiện tự nhiên
Địa hình trên đây biến Bảo Ninh thành một bán đảo hình tam giác mũi nhọn.Nhìn từ đỉnh là cửa biển Nhật Lệ, càng đi về phía Nam càng phình rộng ra, có chiềudài hơn 10 km, chiều rộng nhất từ sông ra biển khoảng 4 km
Đất Bảo Ninh thuộc loại đất cát có màu vàng nhạt, dọc theo bờ biển và bờ sông làhai dãy cát chạy song song, nổi lên nhiều động như: Động Cao, Động Nậy, Động BờiLời… Giữa hai dãy cát ấy thỉnh thoảng có một số gò vắt ngang, cắt địa hình ra thànhnhững vùng trũng, mùa mưa trở thành bàu nước, mùa nắng bị cạn khô, nhân dân gọi
Đại học Kinh tế Huế
Trang 252.1.1.2 Thời tiết, khí hậu
Bảo Ninh nằm trong vùng khí hậu nhiệt đó gió mùa, chịu ảnh hưởng trực tiếp củakhí hậu vùng biển Đồng Hới Thời tiết ở đây theo quy luật 4 mùa: xuân ấm, hạ nóng,thu mát, đông rét Mùa nắng nóng từ tháng 3 đến tháng 8 âm lịch và mùa rét từ tháng 9đến tháng 2 âm lịch
Nhiệt độ trung bình hằng năm là 22,4 độ, trung bình các năm cao là 28 đến 29,5
độ, có lúc cao nhất là 41,5 độ Trung bình các năm thấp là 21 đến 22,5 độ, có lúc thấpnhất là 8,5 độ
Về chế độ gió: Mỗi năm có ba mùa gió, tính theo âm lịch từ tháng 3 đến tháng 5
có gió đông – nam (gió nồm), từ tháng 6 đến tháng 8 có gió tây – nam (gió Lào), từtháng 9 đến tháng 2 năm sau có gió đông - bắc ( gió bấc) Tuy nhiên với đặc điểm địahình xã Bảo Ninh, thời tiết khí hậu cũng có nét khác biệt đôi chút so với các vùng kháctrong thành phố
Ngọn gió đông - nam, thịnh nhất vào tháng 3 âm lịch Qua tháng 4 có thêm ngọngió sáng nam chiều nồm Gió nồm thổi từ mặt biển vào, gió Tây – Nam thổi qua mặtsông Nhật Lệ đến xã Bảo Ninh Hai ngọn gió nồm và gió Tây – Nam mang hơi nướclàm cho khí hậu càng thêm mát dịu
Bảo Ninh có nhiều sương mù ven biển Qua tháng 2 âm lịch có sương mù dày đặcnhất, từ 1 giờ đến khi mặt trời lên cao, sương mù mới tan Những mùa sương mùthường có nhiều loại cá có giá trị cao như: cá lẹp, cá cơm…
2.1.1.3 Tài nguyên, môi trường
Nguồn lợi chủ yếu mà thiên nhiên ban tặng cho xã Bảo Ninh là thủy sản và hải sản,
ở trên địa hình có ba bề sông nước nên sản vật sông biển mùa nào cũng phong phú.Đặc biệt cách bờ biển từ 1 đến 3 km, ở đoạn nước 7 – 12 sải, đáy biển có một dãyrạn ngầm, có nhiều san hô, là nơi tích tụ nhiều phù du sinh vật làm thức ăn ưa thíchcho nhiều loại cá đến cư trú, trong đó tôm hùm, mực cơm, mực thước là đặc sản, vừacung cấp nhiều chất dinh dưỡng vừa mang lại giá trị kinh tế cao
Biển Bảo Ninh ở vị trí cửa ngõ của Vịnh Bắc Bộ nên có nhiều loại hải sản có giátrị kinh tế Các loại cá lớn như cá Dỡ, cá Thu, cá Thuộng, cá Hồng… các loại cá nhỏ
Đại học Kinh tế Huế
Trang 26những sản lượng nhiều như cá Nục, cá Trích, cá Cơm… vừa ăn tươi, vừa phơi khô vàchế biến nước mắm làm nghề chủ lực của nền kinh tế xã Ngoài ra, bờ biển Bảo Ninhcòn có nhiều loại ốc, ngao, chép, cua, ghẹ… tạo nguồn thực phẩm bổ sung cho cảvùng thành phố Ngoài khơi có loại ốc vàng rất quý, vỏ ốc xà cừ thường được dùnglàm hàng mỹ nghệ, trang sức có giá trị cao.
Về cá sông, cũng rất phong phú Sau cơn lụt đầu mùa, hai bờ sông Nhật Lệ pháttriển rất nhiều loại cá tôm như cá Chình, cá Đối… tôm Đất, tôm Rít…Về mùa hè, trênsông có những thứ cá mang tên theo nghề nghiệp như cá rớ, cá câu, cá sáo…
Tuy ba bề nước mặn vây quanh nhưng Bảo Ninh có nguồn nước ngọt dồi dào.Bất cứ ở trên động cao hay dọc sông, ven bờ biển hễ đào là có nước ngọt trong mát
Ở Bảo Ninh, người xưa đã biết trồng cây xanh để chắn gió, chống cát bay, bảo vệlàng xóm Nhiều người dân đã trồng cây ăn quả và cây lấy gỗ Mặc dù đất cát khôngmàu mỡ nhưng dân cư rất chịu khó thâm canh, nhất là về mùa hè phải gánh nước tướingày đêm nên rau quanh năm xanh tốt
Thiên nhiên đã ban tặng cho xã Bảo Ninh có biển rộng, sông dài, có cát trắng,
gò cao, không khí trong lành… tạo cho cảnh quan thêm ngoạn mục, lòng dân thêmyêu đời và yêu quê hương Đặc biệt môi trường thiên nhiên Bảo Ninh chứa đựngnhiều tiềm năng phát triển kinh tế, văn hóa, mở mang du lịch nghỉ mát, nhất là dulịch sinh thái
2.1.2 Điều kiện kinh tế xã hội
2.1.2.1 Về kinh tế
Kinh tế tiếp tục phát triển ổn định, đạt mức tăng trưởng khá, chuyển dịch cơ cấukinh tế đúng hướng và hiệu quả, khai thác sử dụng hiệu quả các nguồn lực Tốc độtăng trưởng kinh tế bình quân năm là 12% Tỷ trọng các ngành kinh tế của xã gồm:Nông lâm ngư nghiệp chiếm 28,3%; Dịch vụ thương mại du lịch chiếm 38.43%; Tiểuthủ công nghiệp chiếm 33.27%
- Nông lâm ngư nghiệp phát triển đúng hướng Nhân dân đã tập trung chuyểndịch cơ cấu cây trồng hợp lý, đã có nhiều mô hình trồng rau sạch mang lại hiệu quả
Đại học Kinh tế Huế
Trang 27là 450 tấn, năm 2010 là 550 tấn, có nhiều hộ thu nhập từ 40 triệu đến 60 triệuđồng/năm Chăn nuôi tiếp tục phát triển, chất lượng đan gia súc gia cầm được cảithiện Đã có nhiều mô hình chăn nuôi lợn, gà, đà điểu theo phương thức công nghiệpmang lại hiệu quả kinh tế cao Diện tích đất lâm nghiệp do xã quản lý và bảo vệ đượcduy trì tốt Giá trị sản xuất nông nghiệp (NN) năm 2005 đạt 1,8 tỷ đồng, năm 2010 đạt2,2 tỷ đồng, tốc độ tăng trưởng bình quân hằng năm là 3,9% Ngành thủy sản đã cónhững chuyển biến tích cực, kinh tế biển thực sự chuyển đổi mạnh về quy mô sản xuấtđến tổ chức, củng cố phát triển theo mô hình liên gia liên hộ… Sản lượng khai thácnăm 2005 đạt 3000 tấn, năm 2010 đạt 4100 tấn Trong đó có 65% giá trị xuất khẩu.Thu nhập lao động đạt từ 2 triệu đến 2,5 triệu đồng/tháng Giá trị khai thác đánh bắt,nuôi trồng thủy sản năm 2005 đạt 17 tỷ đồng, năm 2010 đạt 29 tỷ đồng, tốc độ tăngtrưởng bình quân hằng năm là 11,3%.
Qua thu thập và tổng kết số liệu từ phòng thống kê thuộc Ủy ban nhân dân xã ta có:
Bảng 4: Tình hình sản xuất rau của xã Bảo Ninh trong thời gian qua
STT
NămChỉ tiêu
2010/2005(%)
(Nguồn: Phòng thống kê UBND xã Bảo Ninh và tính toán của tác giả)
Qua bảng số liệu trên cho thấy, diện tích đất trồng rau tính đến năm 2010 là 32
ha, tăng 28% so với diện tích đất trồng rau năm 2005 Sản lượng rau thu được năm
2010 đạt 550 tấn, tăng 22,22% so với năm 2005
- Dịch vụ thương mại và du lịch được mở rộng, khai thác tốt tiềm năng lợi thế trênđịa bàn Các ngành nghề dịch vụ phát triển đa dạng, đã góp phần giải quyết việc làm, ổnđịnh đời sống của người lao động Giá trị dịch vụ thương mại năm 2005 đạt 20,5 tỷđồng, năm 2010 đạt 38,5 tỷ đồng, tốc độ tăng trưởng bình quân hằng năm là 12,5%
- Sản xuất tiểu thủ công nghiệp khá phát triển Trong giai đoạn từ năm 2005 đếnĐại học Kinh tế Huế
Trang 282010, sản xuất tiểu thủ công nghiệp trên địa bàn phát triển cả số lượng và chất lượng.Nhân dân đã chú trọng đầu tư vào việc phát triển nghề chế biến các mặt hàng từ hải sản
mà từ lâu đã có thương hiệu và rất được thị trường ưa chuộng như: nước mắm, cá khô,mực khô, mắm ruốc các loại… Giá trị sản xuất tiểu thủ công nghiệp năm 2005 đạt 16,1
tỷ đồng, năm 2010 đạt 34,5 tỷ đồng, tốc độ tăng trưởng bình quân hằng năm là 12,1%
2.1.2.2 Về văn hóa xã hội
- Giáo dục đã có những bước phát triển khá toàn diện Công tác xã hội hóa giáodục được chú trọng, đã tạo ra môi trường giáo dục lành mạnh, huy động mọi lực lượngtham gia công tác giáo dục Đẩy mạnh công tác thi đua dạy tốt, học tốt nhằm nâng caochất lượng giáo dục toàn diện trong các trường học Cơ sở vật chất phục vụ cho dạy vàhọc ngày càng được nâng lên rõ rệt, công tác xây dựng trường đạt tiêu chuẩn quốc giađược địa phương quan tâm
- Công tác y tế, dân số, gia đình và trẻ em được coi trọng Công tác chăm sóc sứckhỏe ban đầu cho nhân dân có nhiều chuyển biến tích cực Mạng lưới y tế từ xã đếnthôn được củng cố, đội ngũ y tế đã nâng cao trình độ và thái độ phục vụ, các chươngtrình y tế dự phòng dập tắt các dịch bệnh, loại trừ các bệnh xã hội hoạt động ngày càng
có hiệu quả Công tác bảo vệ và chăm sóc bà mẹ trẻ em có nhiều cố gắng Công tác vệsinh môi trường thường xuyên được quán triệt và có kế hoạch thực hiện Công tác dân
số gia đình và trẻ em thường xuyên được quan tâm
- Công tác xóa đói giảm nghèo, giải quyết việc làm, giải quyết các chính sách xãhội được chú trọng Thông qua nhiều biện pháp tích cực, công tác xóa đói giảm nghèocủa xã đã thu được những kết quả đáng kể Tỷ lệ hộ nghèo giảm năm 2005 là 4%, năm
2009 là 2,3% Thông qua các chương trình dự án vay vốn giải quyết việc làm để sảnxuất kinh doanh, cải thiện đời sống, đã giải quyết việc làm hằng năm từ 100 đến 150lao động trong toàn xã Tạo điều kiện cho con em trong xã đi lao động ở nước ngoài.Thực hiện các chính sách đối với gia đình có công với cách mạng, gia đình thươngbinh, liệt sỹ, người neo đơn tàn tật
- Hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể dục thể thao và thông tin có những chuyểnĐại học Kinh tế Huế
Trang 29kể, chất lượng hoạt động ngày càng được nâng cao, phục vụ đời sống tinh thần củangười dân và phát triển kinh tế Công tác thông tin tuyên truyền với nhiều hình thứcphong phú, chuyển tải kịp thời các chủ trương đường lối, chính sách của Đảng, phápluật của Nhà nước đến với nhân dân Hoạt động văn hóa văn nghệ - thể dục thể thaonhững năm qua được đẩy mạnh, hình thức tổ chức đa dạng, số lượng người tham giangày càng đông, tạo bước chuyển biến mạnh mẽ trong nhân dân.
- Công tác an ninh quốc phòng được tăng cường Thường xuyên giáo dục nângcao nhận thức cho cán bộ, Đảng viên và nhân dân, đặc biệt là lực lượng dân quân tự vệ
về nhiệm vụ quốc phòng trong tình hình mới Chủ động xây dựng nền quốc phòngtoàn dân vững mạnh, đã xây dựng lực lượng cơ động, lực lượng dân quân tự vệ vữngmạnh để đối phó với các tính huống xảy ra và sẵn sàng chiến đấu
2.1.2.3 Tình hình dân số và lao động
Theo số liệu thống kê từ phòng thống kê của UBND xã Bảo Ninh, năm 2009 toàn
xã có 8.538 người trong đó nam là 4.365 người; nữ là 4.173 người; mật độ dân số là
524 người/km2 Hàng năm tỷ lệ tăng dân số tự nhiên bình quân 2.89%/năm
Qua tổng kết tình hình dân số và lao động ta có bảng số liệu sau:
Bảng 5: Tình hình dân số, lao động xã Bảo Ninh năm 2009
(Nguồn: Phòng thống kê UBND xã Bảo Ninh)
Đại học Kinh tế Huế
Trang 30Dựa vào bảng số liệu về tình hình dân số và lao động xã Bảo Ninh ta có thể thấydân số của xã là khá lớn với 8.538 người, số hộ lao động sản xuất nông nghiệp tương đốilớn 1.297/2024 hộ chiếm 64,08% số hộ toàn xã, số hộ lao động sản xuất phi nôngnghiệp là 727 hộ chiếm 35,92% Toàn xã có 4.605 lao động, trong đó số lao động nôngnghiệp trong độ tuổi là 2.902 người chiếm 60,02%, lao động phi nông nghiệp là 1.703người chiếm 39,98% Đây là nguồn nhân lực dồi dào nếu có kế hoạch đào tạo, bồidưỡng nâng cao trình độ tay nghề, phân công lại lao động hợp lý trên cơ sở chuyển dịch
cơ cấu kinh tế giảm lao động nông nghiệp, tăng lao động ngành nghề công nghiệp, dịch
vụ, tiểu thủ công nghiệp thì đây sẽ là nguồn lực đảm bảo tăng trưởng kinh tế
Diện tích đất khá lớn nhưng mật độ dân cư sống thưa nên cũng rất khó khăn choviệc quản lý Nhà nước trên các lĩnh vực Nhìn chung thu nhập của các hộ dân ở đâychủ yếu dựa vào sản xuất nông nghiệp là chính, nó được thể hiện là số hộ và số laođộng tham gia sản xuất nông nghiệp chiếm tỷ lệ khá cao
2.1.3 Đánh giá chung về các nguồn lực phát triển
- Đất đai ở đây chủ yếu là đất cát nên rất thuận tiện trong canh tác
- Nguồn lao động dồi dào, người dân cần cù, sáng tạo
- Nhận được nhiều sự quan tâm của Nhà nước và chính quyền địa phương thôngqua các chính sách như: chính sách vay vốn, chính sách khuyến nông…
Trang 31- Cơ sở hạ tầng phát triển chưa đồng bộ, đặc biệt là hệ thống giao thông gây ảnhhưởng tới khâu vận chuyển hàng hóa.
2.2 Kết quả nghiên cứu
2.2.1 Tình hình chung của các hộ điều tra
Toàn xã Bảo Ninh có 2024 hộ trong đó hơn 300 hộ thực hiện mô hình trồng rautrên cát và phần lớn những hộ trồng rau thuộc thôn Cừa Phú của xã Bảo Ninh Tìnhhình đất đai và lao động của các hộ điều tra như sau:
Bảng 6: Tình hình đất đai và lao động của các hộ điều tra
7 Số lao động tham gia trồng rau BQ/hộ Lao động/hộ 2
(Nguồn: Số liệu điều tra hộ năm 2011)
Qua bảng số liệu trên ta thấy, số nhân khẩu bình quân/hộ là 4,8 người, đây là một
tỷ lệ khá cao, theo số liệu điều tra cho thấy độ tuổi trung bình ở đây khá cao nên tìnhhình sinh đẻ còn khá tự do Nguyên nhân chủ yếu là do trước đây các biện pháp tuyêntruyền về sinh đẻ có kế hoạch chưa được đẩy mạnh nên người dân không ý thức đượcvấn đề này Bên cạnh đó, mức sống của người dân còn nghèo, trình độ dân trí chưa caocũng là nguyên nhân dẫn đến số nhân khẩu bình quân/hộ cao Điều này làm ảnh hưởngđến điều kiện kinh tế của hộ cũng như mức sống của các hộ nhưng mặt khác đây cũng
Đại học Kinh tế Huế
Trang 32là nguồn lao động dồi dào, được thể hiện đó là số lao động bình quân/hộ khá cao 3,6lao động/hộ Tỷ lệ lao động cao một mặt sẽ giúp hộ gia đình nâng cao được thu nhậpnhưng mặt khác vấn đề giải quyết việc làm cũng là vấn đề nan giải.
Số lao động tham gia trồng rau bình quân/hộ là 2 lao động Con số này chiếm hơnmột nửa số người trong độ tuổi lao động Điều này chứng tỏ những hộ dân vẫn chútrọng trồng rau hơn là làm ngành nghề khác và thu nhập từ rau vẫn đóng vai trò quantrọng trong tổng thu nhập của các hộ
Diện tích đất trồng rau bình quân/hộ là 3,5 sào/hộ tương đương 1750 m2 Mứcdiện tích sản xuất này vẫn tương đối thấp tuy nhiên nếu xét trên khía cạnh diện tích đấttrồng rau bình quân/hộ trên số lao động tham gia trồng rau bình quân/hộ thì chỉ ở mứctrung bình đó là 1.75 sào/lao động Những hộ gia đình thường chỉ sử dụng lao độnggia đình không sử dụng lao động thuê ngoài nên với mức diện tích đó là vừa phải vớinăng lực sản xuất của hộ
- Tình hình sử dụng tư liệu sản xuất (TLXS) của các hộ điều tra
Tư liệu sản xuất là một phần của quá trình sản xuất, việc sử dụng tư liệu sản xuất nhưmột công cụ lao động giúp con người tiết kiệm được sức lao động, nâng cao năng suất.Theo số liệu điều tra về tình hình sử dụng tư liệu sản xuất ta có bảng sau:
Bảng 7: Tình hình sử dụng TLSX của các hộ điều tra
BQ (1000đ)
Trị giá(1000đ)
(Nguồn: Số liệu điều tra hộ năm 2011)
Qua bảng số liệu trên ta thấy TLSX là trâu bò cày kéo có giá trị lớn nhất với828.000 nghìn đồng Có giá trị lớn thứ hai là xe rùa với 74.700 nghìn đồng và có giá
Đại học Kinh tế Huế
Trang 33Theo số liệu điều tra thì cứ mỗi hộ đều có một bình phun thuốc, các công cụ nhưcuốc, cào, xoa tưới nước mỗi hộ đều có từ hai cái trở lên Các hộ trồng rau ở đâythường dùng xe rùa hay còn gọi là xe cút kít để chở sản phẩm từ dưới ruộng lên vì vậymỗi hộ đều có ít nhất là một chiếc, đối với những hộ có diện tích trồng rau lớn thì cóhai đến ba chiếc.
Những TLSX như trâu bò cày kéo thường ít được sử dụng, phần lớn các hộ nôngdân trồng rau đều tự làm đất hoặc đi thuê trâu bò cày kéo để canh tác, còn đối vớinhững hộ trồng rau với diện tích lớn thì họ nuôi trâu bò phục vụ cho hoạt động sảnxuất Nguyên nhân là vì đất đai ở đây chủ yếu là đất cát nên khâu làm đất được tiếnhành dễ dàng hơn các loại đất khác Mặt khác, phần lớn là đất cát nên các loại cỏ làthức ăn chủ yếu cho trâu bò ít phát triển nên số lượng trâu bò được nuôi rất hạn chế.Quan sát bảng số liệu trên ta thấy sản xuất nông nghiệp tại địa phương còn rất lạchậu, hầu hết người dân thường sử dụng những TLSX thô sơ như: cuốc, cào, xoa tướinước, bình phun thuốc…Việc áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, cơ giới hóa vào sảnxuất rất khó khăn nên người dân chỉ sử dụng những TLSX thông thường
- Tình hình về năng lực sản xuất của các hộ điều tra
Năng lực sản xuất của hộ cũng là một chỉ tiêu hết sức quan trọng, nó nói lên trình
độ sản xuất, quy mô sản xuất của mỗi đơn vị, mỗi cá nhân…
Bảng 8: Tình hình năng lực sản xuất của hộ điều tra
4 - Tổng nguồn sản xuất vốn của 120 hộ Triệu đồng 366
(Nguồn: Số liệu điều tra hộ năm 2011)
Đại học Kinh tế Huế
Trang 34Qua bảng số liệu trên ta thấy, độ tuổi trung bình của người dân là khá cao 48 tuổinhưng kinh nghiệm sản xuất của các hộ dân vẫn còn thấp chỉ có 8 năm kinh nghiệmsản xuất Nguyên nhân chủ yếu là do trước khi trồng rau thì phần lớn diện tích đấtnông nghiệp được sử dụng để trồng lúa và nuôi thủy sản nhưng sau một thời gian sảnxuất đều không mang lại hiệu quả nên nhiều người dân đã chuyển sang mô hình trồngrau trên cát nên kinh nghiệm sản xuất của các hộ dân chưa cao Điều này cũng ảnhhưởng ít nhiều tới quá trình sản xuất của hộ.
Công tác tập huấn cho các hộ dân luôn được cán bộ khuyến nông đẩy mạnh Bêncạnh đó ý thức của người dân trong việc thực hiện rất nghiêm túc Nó được thể hiện đó
là 100% các hộ dân tham gia tập huấn về cách thức tổ chức sản xuất, kinh doanh rautrên địa bàn Điều này vừa giúp các hộ dân nâng cao được tay nghề sản xuất cũng nhưtích lũy thêm nhiều kinh nghiệm Ngoài ra, việc tham gia các lớp tập huấn giúp ngườidân thực hiện đúng các quy trình, kỷ thuật sản xuất góp phần nâng cao năng suất câytrồng, tăng nguồn thu nhập cho các hộ dân
Vốn sản xuất là một trong những yếu tố đầu vào rất quan trọng Qua điều tra các
hộ nông dân ta thấy tổng nguồn vốn sản suất của 120 hộ là khá ít 366 triệu đồng, bìnhquân mỗi hộ chỉ có 3,05 triệu đồng, trong đó 276 triều đồng là vốn tự có chiếm75,41% tổng số vốn sản xuất còn lại 90 triệu đồng là vốn vay chiếm 24,59% tổng sốvốn sản xuất
- Cơ cấu thu nhập của các hộ điều tra
Qua điều tra các hộ nông dân nhận thấy nguồn thu nhập chính của các hộ dân chủyếu là từ hoạt động sản xuất nông nghiệp đặc biệt là thu nhập từ hoạt động trồng rau
Trang 35Bảng 9: Cơ cấu thu nhập của các hộ điều tra
Giá trị(1000đ)
Thu nhậpBQ/hộ (1000đ)
Tỷ trọng(%)
(Nguồn: Số liệu điều tra hộ năm 2011)
Qua bảng số liệu trên ta thấy thu nhập từ hoạt động trồng rau là lớn nhất5.952.000 nghìn đồng tương ứng với thu nhập bình quân trên hộ là 49.600 nghìn đồngchiếm 77,86% tổng thu nhập của mỗi hộ Tiếp đến là thu nhập từ ngành nghề dịch vụkhác 732.000 nghìn đồng tương ứng với thu nhập bình quân trên hộ là 6.100 nghìnđồng chiếm 9,58% tổng thu nhập của mỗi hộ và thấp nhất là thu nhập từ các cây trồngkhác 126.000 nghìn đồng tương ứng với 1.050 nghìn đồng chiếm 1,65% tổng thu nhậphàng năm của mỗi hộ Thu nhập bình quân hàng năm của các hộ là 63.700 nghìn đồng
So với mức thu nhập của dân cư sống ở vùng nông thôn thì đây là mức thu nhập khácao Điều này cho thấy tuy ở vùng nông thôn nhưng mức sống của các hộ nông dân ởđây là khá cao Các hộ nông dân ở đây thường chủ yếu tập trung trồng rau theo hướngsản xuất hàng hóa nên phần lớn thu nhập của các hộ đều thu được từ hoạt động trồngrau, phần còn lại là thu từ các nguồn khác
2.2.2 Thời vụ và diện tích gieo trồng
Trang 36khác nhau hay nói cách khác là mỗi loại rau khác nhau thì có một chu kỳ sinh trưởng
và phát triển khác nhau, có chu kỳ sống khác nhau, thích hợp với những điều kiện thờitiết, khí hậu, đất đai khác nhau vì vậy để nâng cao được năng suất cây trồng cần phảihiểu rõ về khả năng sinh trưởng và phát triển của cây, hiểu rõ đặc điểm sinh lý, sinhhóa của cây để từ đó có những biện pháp gieo trồng, canh tác, chăm sóc hợp lý nhằmđem lại hiệu quả cao Qua quá trình điều tra hộ nông dân ta thấy hầu hết những hộnông dân ở đây chủ yếu trồng các loại rau như: hành hương, hành hoa, mướp đắng,đậu côve và cà chua Trong đó hành được trồng chủ yếu nhất Dựa vào số liệu điều tra
ta có thể xây dựng sơ đồ về thời vụ gieo trồng của các loại rau như sau:
(Nguồn: Số liệu điều tra hộ năm 2009-2010)
Sơ đồ 1: Thời vụ gieo trồng của các loại rau
Qua sơ đồ về thời vụ gieo trồng của các loại rau ta có thể thấy hành có thể trồngđược quanh năm, cứ hai tháng các hộ nông dân có thể thu hoạch được một vụ hành.Điều này giúp cho người dân có thể sản xuất được nhiều vụ trong một năm, tận dụnghết thời gian canh tác của đất, nâng cao được thu nhập nhưng trái lại nếu thực hiệncanh tác liên tục làm cho đất không được nghỉ ngơi, điều này cũng ảnh hưởng đếnnăng suất cây trồng
Đại học Kinh tế Huế
Trang 37so với điều kiện tự nhiên của các vùng khác nằm sâu trong đất liền Đất đai ở đây chủyếu là đất cát nên thấm nước rất nhanh, mà Bảo Ninh vào những tháng hè thường phảihứng chịu những đợt nắng nóng và gió Tây Nam thổi vào nên thời tiết khá khắc nghiệt.Mặt khác do địa hình gồ ghề nên việc xây dựng các hệ thống kênh mương thủy lợi gặpnhiều khó khăn và thường không cung cấp đủ nước do đó những cây trồng như: đậucôve, cà chua mướp đắng không đem lại hiệu quả cao nên các loại rau đó thường chỉđược trồng một vụ từ tháng mười cho đến tháng hai, sau đó đều trồng vụ hành mới.Riêng đối với cây cà chua do đặc tính là rễ chùm, thường gây chua đất nên người tathường cho đất nghỉ ngơi một thời gian rồi mới tiến hành gieo trồng vụ hành mới.
Đối với các loại rau như đậu côve, cà chua, mướp đắng nếu gieo trồng vụ ĐôngXuân tức là gieo từ tháng 10 dương lịch và thu hoạch vào tháng 2 dương lịch năm sau
là thích hợp nhất Nếu gieo trồng vụ Xuân Hè tức là gieo từ tháng 12 dương lịch và thuhoạch vào tháng 4 dương lịch năm sau cây hoàn toàn tăng trưởng vào mùa khô, nóngnên khả năng đậu quả kém Nếu gieo trồng vụ Hè Thu tức là gieo từ tháng 6 dươnglịch và thu hoạch vào tháng 9 dương lịch cây hoàn toàn tăng trưởng vào mùa mưa, hoarụng nhiều dẫn đến kém hiệu quả
2.2.2.2 Diện tích gieo trồng
Mỗi loại rau đều được gieo trồng riêng biệt, tách rời trên một diện tích nhất định,
vì vậy việc xác định diện tích từng loại rau sẽ phản ánh quy mô sản xuất của hộ
Theo số liệu điều tra từ 120 hộ ta có bảng sau:
Bảng 10: Diện tích gieo trồng các loại rau
STT Loại rau Tổng diện tích các
hộ điều tra (sào)
Diện tích gieo trồngBQ/hộ điều tra (sào)
Tỷ lệ(%)
(Nguồn: Số liệu điều tra hộ năm 2009-2010)
Đại học Kinh tế Huế
Trang 38Qua bảng số liệu trên ta có thể thấy diện tích đất trồng hành là lớn nhất 138 sàochiếm 32,83%, diện tích đất trồng cà chua, mướp đắng, đậu côve gần tương đươngnhau Nếu xét đến diện tích gieo trồng bình quân/hộ thì cứ mỗi hộ có bình quân 1,15sào đất trồng hành, 0,79 sào đất trồng cà chua, 0,81 sào đất trồng đậu côve và 0,75 sàođất trồng mướp đắng Điều này chứng tỏ phần lớn những hộ nông dân ở đây chú trọngsản xuất hành hơn so với các loại rau khác và họ cũng xem hành như cây trồng chủlực Nguyên nhân là vì hành là loại cây rất phù hợp với đất cát, dễ trồng, dễ chăm sóc,thời vụ ngắn nên trồng được nhiều vụ trong năm, thời gian thu hồi vốn nhanh nên các
hộ nông dân trồng với diện tích nhiều hơn so với các loại rau khác
2.2.3 Chi phí sản xuất của các hộ điều tra/vụ
2.2.3.1 Chi phí giống
Giống là một trong những yếu tố đầu vào quan trọng nhất của quá trình sản xuất,không có giống thì không thể sản xuất Tuy nhiên, để đạt được kết quả cao cần phảilựa chọn những loại giống có phẩm chất tốt, phù hợp với từng loại đất
Bảng 11: Chi phí giống
BQ/sào
Đơn giáBQ/kg (1000đ)
Thành tiền(1000đ)
(Nguồn: Số liệu điều tra hộ năm 2009-2010 )
Thông qua bảng chi phí giống chúng ta có thể thấy chi phí cho hành giống bìnhquân/sào là rất lớn 287 nghìn đồng chiếm gần một nửa tổng chi phí giống với 45,92%,tiếp đến là chi phí giống cà chua 200 nghìn đồng chiếm 15,11% và thấp nhất là chi phígiống mướp đắng 44 nghìn đồng chiếm 6,97% Đối với các loại giống như: đậu côve, càchua, mướp đắng các hộ nông dân thường để lại giống vụ trước để gieo cho vụ sau tức
Đại học Kinh tế Huế
Trang 39giống rồi lấy giống đó gieo cho vụ sau nên chi phí giống thấp, nếu tính theo giá thịtrường thì bình quân một kg giống đậu côvê có giá 55 nghìn đồng, một kg giống mướpđắng có giá 130 nghìn đồng và nếu tính bình quân theo giá thì trường thì một cây càchua giống có giá 0,1 nghìn đồng Đối với đậu côve, mướp đắng người ta gieo trực tiếphạt lên luống còn cà chua thì người ta gieo hạt sau đó khi cây phát triển khoảng 4 lá đến
5 lá người ta mới trồng vào luống Riêng đối với giống hành, việc lấy giống hành là rấtkhó vì vậy phần lớn giống hành đều được mua ở thị trường với giá khá cao bình quânmột kg hành giống có giá 6 nghìn đồng Vì vậy, chi phí cho hành giống rất cao
2.2.3.2 Chi phí phân bón
Ngoài giống thì phân bón cũng là một trong những yếu tố đầu vào rất quan trọng
và rất cần thiết đối với cây trồng Phân bón cung cấp thức ăn, cung cấp một lượng lớnchất dinh dưỡng giúp cho cây trồng có thể sinh trưởng và phát triển tốt, năng suất cao.Ngoài ra, phân bón cũng có vai trò cải tạo chất lượng đất, tăng độ mùn, độ tơi xốp chođất giúp cây trồng dễ dàng hấp thụ các chất dinh dưỡng Tuy nhiên, không nên quálạm dụng phân bón đặc biệt là các loại phân hóa học Nếu sử dụng quá nhiều phân bónhóa học sẽ làm cho đất bị chai lì, không tơi xốp và gây ra hiện tượng thoái hóa đất.Qua số liệu điều tra hộ về tình hình sử dụng phân bón ta có bảng sau:
Bảng 12: Chi phí phân bón (BQ/sào)
(Nguồn: Số liệu điều tra hộ năm 2009-2010)
Đại học Kinh tế Huế
Trang 40Qua bảng số liệu trên chúng ta có thể thấy, tính bình quân trên một sào thì chi phíphân bón cho đậu côve là lớn nhất với 668 nghìn đồng chiếm 28,25% tổng chi phíphân bón các loại rau, tiếp đến là chi phí phân bón của hành với 644 nghìn đồng chiếm28,08% và thấp nhất là chi phí phân bón của mướp đắng với 502 nghìn đồng chiếm21,23% Qua bảng số liệu trên ta thấy phân chuồng được các hộ nông dân sử dụng vớikhối lượng lớn phục vụ cho sản xuất rau Nguyên nhân chủ yếu là vì đất đai ở đây chủyếu là đất cát, chất dinh dưỡng có trong đất khá nghèo nàn nên không đủ cho cây trồngsinh trưởng và phát triển bình thường vì vậy cần phải bón một lượng lớn phân chuồng.Không những thế bón phân chuồng cho cây còn có khả năng tái tạo đất rất lớn, tăng độmùn trong đất Mặt khác, giá phân chuồng lại rất thấp bình quân một kg phân chuồngchỉ có giá 0,2 nghìn đồng, thấp hơn rất nhiều so với các loại phân khác nên cũng phùhợp với túi tiền của người nông dân.
Qua quá trình điều tra, tìm hiểu tác giả nhận thấy phần lớn các hộ nông dân đều
sử dụng phân NPK đầu trâu do công ty cổ phần phân bón Bình Điền sản xuất Loạiphân NPK mà các hộ sử dụng để bón cho rau là NPK đầu trâu 16 – 16 – 8 + TE, loạiphân này phù hợp với rất nhiều loại cây trồng, đặc biệt là các loại rau Loại phân nàyđược sản xuất theo tỷ lệ 16 – 16 – 8, tức là trong 1 kg phân NPK đầu trâu chứa 0,16 kgphân N, 0,16 kg phân P và 0,08 kg phân K
2.2.3.3 Chi phí thuốc phòng bệnh
Trong sản xuất nông nghiệp người nông dân thường phải chịu những rủi ro rấtlớn, một trong những rủi ro đó là sâu bệnh gây hại Tác hại của sâu bệnh là rất lớn, nógây ảnh hưởng đến quá trình sinh trưởng và phát triển của cây, làm giảm năng suất câytrồng Vì vậy công tác phòng bệnh cho cây trồng là rất cần thiết Tuy nhiên, việcphòng bệnh cho cây trồng cần phải được tiến hành một cách khoa học, đúng thuốc,đúng liều lượng
Qua quá trình điều tra hộ về tình hình sử dụng thuốc phòng bệnh cho cây trồng ta
có bảng sau:
Đại học Kinh tế Huế