1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đánh giá hiệu quả kinh tế của các hộ chăn nuôi vịt lấy trứng trên địa bàn xã xuân hồng, huyện nghi xuân, tỉnh hà tĩnh

50 750 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 50
Dung lượng 417,28 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Xuất phát từ thực tiễn sản xuất trên, tôi đã chọn đề tài: “ Đánh giá hiệu quả kinh t ế của các hộ chăn nuôi vịt lấy trứng trên địa bàn xã Xuân H ồng, huyện Nghi Xuân, t ỉnh Hà Tĩnh” làm

Trang 1

TÓM TẮT NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

Xuân Hồng là một xã của huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh, là nơi có điều kiện tựnhiên, kinh tế - xã hội tương đối thuận lợi để phát triển nghề chăn nuôi vịt Tại đây đãhình thành nên một vùng nuôi vịt lấy trứng lớn nhất nhì không chỉ của huyện NghiXuân, mà còn cả tỉnh Hà Tĩnh Tuy nhiên, nghề chăn nuôi vịt lấy trứng ở xã XuânHồng còn mang tính tự phát, quy mô còn nhỏ lẻ, chưa có quy hoạch, nguồn cung ứngđầu ra không ổn định do ảnh hưởng của thời tiết, thiên tai, dịch bệnh, giá cả bấp bênh,nhu cầu thị trường không ổn định

Xuất phát từ thực tiễn sản xuất trên, tôi đã chọn đề tài: “ Đánh giá hiệu quả kinh

t ế của các hộ chăn nuôi vịt lấy trứng trên địa bàn xã Xuân H ồng, huyện Nghi Xuân,

t ỉnh Hà Tĩnh” làm đề tài chuyên đề tốt nghiệp của mình.

* Mục tiêu của đề tài nghiên cứu:

- Hệ thống hóa một số cơ sở lý luận và thực tiễn về tình hình sản xuất và tiêu thụtrứng vịt

- Phân tích, đánh giá thực trạng sản xuất và tiêu thụ trứng vịt của các nông hộtrên địa bàn xã Xuân Hồng năm 2010

- Đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất và tiêu thụ trứng vịtcho các hộ nông dân ở xã Xuân Hồng

* Phương pháp sử dụng trong nghiên cứu:

- Phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử

- Phương pháp thu thập số liệu

- Phương pháp thống kê kinh tế

- Phương pháp tổng hợp so sánh

- Phương pháp điều tra, phỏng vấn trực tiếp

- Phương pháp phân tích chuỗi cung

- Phương pháp chuyên gia chuyên khảo

- Phương pháp phân tích kinh tế

Đại học Kinh tế Huế

Trang 2

PHẦN I ĐẶT VẤN ĐỀ

1.1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI

Chăn nuôi là một trong những bộ phận chính cấu thành của nền nông nghiệp Nó

có vai trò quan trọng trong việc cung cấp thực phẩm đáp ứng nhu cầu của con người,góp phần tạo việc làm tăng thu nhập cho người nông dân, khai thác các nguồn lực ởkhu vực nông thôn Trong những năm qua, ngành chăn nuôi đã có những bước pháttriển mạnh, với tốc độ bình quân 5,4%/năm trong 10 năm từ 1998 – 2008 Nhưng tổngthể thì ngành chăn nuôi nước ta nói chung, ngành chăn nuôi gia cầm nói riêng vẫn còngặp nhiều khó khăn, chủ yếu là quy mô nhỏ, phân tán, chăn nuôi hộ gia đình, tận dụngphế phẩm nông nghiệp, chủ yếu lấy công làm lãi Các trang trại chăn nuôi gia cầm vớiquy mô vừa và lớn tuy đã hình thành một số nơi nhưng tỷ lệ chưa cao, thị trường tiêuthụ sản phẩm chăn nuôi gia cầm còn khó khăn, cơ sở hạ tầng và dịch vụ chăn nuôi nhìnchung còn thiếu và yếu, hầu hết chưa đảm bảo quy trình kỹ thuật, khó có thể đạt tới mộtnền chăn nuôi chuyên nghiệp có quy mô lớn Từ đó dẫn tới khó khăn trong việc giảmgiá thành, tăng sức cạnh tranh trên thị trường trong và ngoài nước

Với dân số nước ta trên 86 triệu người, trong đó hơn 70% dân số sống ở khu vựcnông thôn Như tốc độ tăng trưởng dân số bình quân giai đoạn hiện nay là 1,2%/năm,

dự báo nhu cầu tiêu thụ trứng vịt sẽ tăng ít nhất thêm 5 – 6%/năm Mặt khác, nền kinh

tế của nước ta ngày một phát triển, đời sống người dân ngày một nâng lên, từ đó nhucầu về các loại thực phẩm có chất lượng cao ngày càng tăng

Trứng vịt là loại thực phẩm giàu dinh dưỡng, đặc biệt là trứng vịt lộn Tuy vậy,sản phẩm trứng vịt, nhất là trứng vịt lộn để đến được tay người tiêu dùng khó khănhơn các sản phẩm khác vì sản phẩm dễ vỡ, khó bảo quản và khó khăn khi vận chuyển

đi xa Vì thế, để sản phẩm đến được tay người tiêu dùng với số lượng lớn và chấtlượng đảm bảo thì nên cần các chuỗi cung ứng và thực hiện các kênh phân phối trongchuỗi cung đó

Xuân Hồng là một xã đồng bằng của huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh, có vị tríđịa lý hết sức thuận lợi, hệ thống sông ngòi, ao hồ dày đặc có điều kiện thuận lợi choviệc chăn nuôi thủy cầm, có đường quốc lộ 1A đi qua và cách thành phố Vinh 4 km

về phía nam giúp dễ dàng trong việc vận chuyển và tiêu thụ sản phẩm Thêm vào đó,

Đại học Kinh tế Huế

Trang 3

có nhiều giống vịt sinh trưởng nhanh, sức đề kháng với bệnh tốt, năng suất cho trứngcao, có thể tới 300 quả/năm/con, người chăn nuôi vịt ở địa phương cũng có kinhnghiệm khá lâu Tuy nhiên, quy mô chăn nuôi vịt ở đây chưa thực sự lớn, đầu ra chosản phẩm không ổn định, việc áp dụng các tiến bộ khoa học - kỹ thuật vào chăn nuôicủa người dân còn yếu, do đó hiệu quả kinh tế chưa cao Xuất phát từ thực tế đó, quaquá trình điều tra tại xã, tôi quyết định chọn đề tài:“ Đánh giá hiệu quả kinh tế của các

h ộ chăn nuôi vịt lấy trứng trên địa bàn xã Xuân H ồng, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà

T ĩnh” làm chuyên đề tốt nghiệp của mình.

1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

1.2.1 Mục tiêu tổng quát

Đánh giá hiệu quả chăn nuôi vịt lấy trứng của các nông hộ và tình hình tiêu thụtrứng vịt trên địa bàn xã từ đó đưa ra các giải pháp thích hợp nhằm phát triển ngànhchăn nuôi vịt và khả năng tiêu thụ trứng vịt trên địa bàn

1.3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Để thực hiện đề tài này, chúng tôi đã sử dụng các phương pháp sau:

- Phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử là phương pháp được làm

cơ sở lý luận của đề tài

- Phương pháp điều tra, thu thập số liệu:

+ Chọn điểm: chúng tôi đã tiến hành điều tra 4/9 thôn của xã Xuân Hồng là các thôn 1,

4, 8, 9

+ Chọn mẫu: Để thực hiện đề tài, chúng tôi đã điều tra 30 hộ ở 4 thôn, theophương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên không lặp theo khoảng cách cho trước Cụ thể ởthôn 1: 10 hộ, thôn 4: 4 hộ, thôn 8: 7 hộ, thôn 9: 9 hộ

+ Thu thập số liệu:

Đại học Kinh tế Huế

Trang 4

Số liệu sơ cấp: để có đủ thông tin cho việc nghiên cứu đề tài, tôi đã tiến hànhphỏng vấn trực tiếp các hộ nuôi vịt ở địa phương năm 2010 theo bảng hỏi được soạnsẵn.

Số liệu thứ cấp thu thập được từ: Niên giám thống kê của Tổng cục thống kê,trên Internet và qua báo cáo hằng năm của xã

+ Xử lý số liệu: sử dụng các phương pháp tính toán trên phần mềm Excel

- Phương pháp thống kê kinh tế: Kết hợp với các phương pháp khác, phươngpháp thống kê được sử dụng cho việc thu thập, tổng hợp và phân tích các thông tin, sốliệu liên quan đến vấn đề nghiên cứu một cách có hệ thống

- Các phương pháp so sánh: Dùng phương pháp này để so sánh kết quả các trị sốcủa các chỉ tiêu như diện tích, số lượng, giá trị sản lượng, của các đối tượng nghiêncứu

- Phương pháp sơ đồ: sử dụng sơ đồ trong đề tài nhằm mô tả các kênh tiêu thụtrứng vịt từ người sản xuất đến người tiêu dùng cuối cùng

- Phương pháp phân tích chuỗi cung:

Trên cơ sở các thông tin, số liệu thu thập được, thông qua việc xây dựng chuỗicung sản phẩm trứng vịt cung cấp cho các lò ấp, người tiêu dùng nghiên cứu phântích, đánh giá từng tác nhân trong chuỗi, những thuận lợi, khó khăn của các tác nhân

Từ đó đưa ra các nhận định, biện pháp nhằm phát triển hoạt động của từng tác nhân,giúp chuỗi hoạt động bền vững

- Phương pháp chuyên gia, chuyên khảo

- Phương pháp phân tổ thống kê

1.4 PHẠM VI VÀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

1.4.1 Phạm vi nghiên cứu

- Phạm vi không gian: Do bị giới hạn về thời gian nghiên cứu và kinh nghiệmthực tế của bản thân nên tôi chỉ tập trung nghiên cứu tình hình chăn nuôi vịt lấy trứngquy mô lớn và vừa ở các hộ thuộc 4 thôn là 1, 4, 8, 9

- Phạm vi thời gian:

+ Số liệu thứ cấp được thu thập qua các năm 2008, 2009 và 2010

+ Số liệu sơ cấp được điều tra hộ chăn nuôi vịt trong năm 2010

1.4.2 Đối tượng nghiên cứu

Đại học Kinh tế Huế

Trang 5

Đối tượng nghiên cứu chính là các hộ nông dân chăn nuôi vịt lấy trứng trên địabàn xã Xuân Hồng, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh.

PHẦN II NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

CHƯƠNG I: CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN

1.1.1 Một số khái niệm về hiệu quả kinh tế

Hiệu quả kinh tế là một chỉ tiêu quan trọng để đánh giá kết quả làm ăn của mộtdoanh nghiệp Nó là một phạm trù kinh tế phản ánh chất lượng của hoạt động kinh tế,

là thước đo trình độ tổ chức và quản lý doanh nghiệp; được xét trên nhiều khía cạnh:

có thể xét trên phương diện tài chính hoặc trên phương diện kinh tế xã hội như thuhẹp khoảng cách giàu nghèo, giảm thất nghiệp, cải thiện môi trường Trong nôngnghiệp, khi đề cập đến hiệu quả kinh tế thì phải đề cập đến hiệu quả sử dụng cácnguồn lực trong nông nghiệp như lao động, đất đai, vốn, giống, phân bón Vấn đề này

đã được nhiều tác giả bàn đến như: David Colman, Trevor Young (Nguyên lý kinh tếnông nghiệp, năm 1994), Schultz (1964) Tất cả đều phân biệt rõ ba khái niệm: hiệuquả kinh tế (economic efficiency), hiệu quả kỹ thuật (technical efficiency), hiệu quảphân bổ (allocative efficiency)

Hiệu quả kỹ thuật là số lượng sản phẩm có thể đạt được trên một đơn vị chi phíđầu vào hay nguồn lực sử dụng vào sản xuất trong những điều kiện cụ thể về kỹ thuậthay công nghệ áp dụng vào nông nghiệp, hiệu quả kỹ thuật được áp dụng phổ biếntrong kinh tế vi mô để xem xét tình hình sử dụng nguồn lực cụ thể Hiệu quả nàythường được phản ánh trong mối quan hệ về các hàm sản xuất Hiệu quả kỹ thuật liênquan đến phương diện vật chất của sản xuất Nó chỉ ra rằng một đơn vị nguồn lựcdùng vào sản xuất đem lại thêm bao nhiêu đơn vị sản phẩm Hiệu quả kỹ thuật phụthuộc nhiều vào bản chất kỹ thuật và công nghệ áp dụng vào sản xuất nông nghiệp,khả năng của người sản xuất cũng như môi trường kinh tế - xã hội khác mà trong đó

Trang 6

các yếu tố về giá của các yếu tố đầu vào hay giá các yếu tố đầu ra Vì thế, nó cònđược gọi là hiệu quả giá Việc xác định hiệu quả này giống như xác định các điềukiện về lý thuyết biên để tối đa hóa lợi nhuận Điều đó có nghĩa là, giá trị biên của sảnphẩm phải bằng giá trị chi phí biên của nguồn lực sử dụng vào sản xuất.

Hiệu quả kinh tế là phạm trù kinh tế mà trong đó sản xuất đạt cả hiệu quả kinh tế

và hiệu quả phân bổ Điều đó có nghĩa là, cả hai yếu tố hiện vật và giá trị đều tính đếnkhi xem xét việc sử dụng các nguồn lực trong nông nghiệp Nếu đạt được một tronghai yếu tố hiệu quả kỹ thuật hay hiệu quả phân bổ mới là điều kiện cần chứ chưa phải

là điều kiện đủ cho đạt hiệu quả kinh tế Chỉ khi nào việc sử dụng nguồn lực đạt cảchỉ tiêu hiệu quả kỹ thuật và phân bổ thì khi đó sản xuất mới đạt hiệu quả kinh tế

Vai trò và ý nghĩa của việc đánh giá hiệu quả

Trong thực tế sản xuất nông nghiệp, các nguồn lực của sản xuất như đất đai, laođộng, vốn, công nghệ… ngày càng khan hiếm hơn, có xu hướng tỉ lệ nghịch so vớiviệc đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của con người và sản xuất nông nghiệp trongđiều kiện rủi ro bất thường là cho kết quả và hiệu quả sản xuất thường không ổn định

Vì thế, muốn giải quyết tình trạng khan hiếm về nguồn lực, đảm bảo một nền sản xuất

ổn định, chúng ta cần phải bàn đến việc nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn lực đó

và quản lý các rủi ro trong sản xuất nông nghiệp Tuy nhiên, khi đề cập đến hiệu quảcác nguồn lực trong nông nghiệp thì chúng ta phải tính đến hiệu quả kinh tế Một kếtquả kinh tế có thể do một hoặc nhiều nguyên nhân tạo thành, vì vậy chỉ có tác độngđúng đối tượng, sử dụng đúng biện pháp thì sản xuất mới đi đúng hướng và đạt hiệuquả cao

Việc nghiên cứu và phân tích phạm trù về hiệu quả kinh tế đã chứng tỏ rằngnâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn lực là một tất yếu trong nông nghiệp

1.1.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến chăn nuôi vịt:

1.1.2.1 Giống:

Giống đưa vào nuôi phải đảm bảo sạch bệnh, rõ nguồn gốc, đạt các yêu cầu về

kỹ thuật như: đồng đều về ngày tuổi, thể trạng sức khỏe tốt, có chứng nhận về kiểmdịch của cơ quan thú y

1.1.2.2 Chuồng trại:

Đại học Kinh tế Huế

Trang 7

Chuồng trại nuôi vịt phải xa khu dân cư, tránh gây ô nhiễm môi trường, đảm bảo

an toàn vệ sinh, khô ráo, sạch sẽ, thoáng mát về mùa hè, ấm về mùa đông

1.1.2.3 Thức ăn:

Đối với chăn nuôi nói chung và chăn nuôi gia cầm nói riêng, thức ăn và nướcuống rất quan trọng và ảnh hưởng rất lớn tới sự sinh trưởng và phát triển của vật nuôi.Đặc biệt là giai đoạn vịt mới nở, vấn đề thức ăn và nước uống càng cần được xemtrọng nhằm tạo điều kiện tốt nhất cho vịt con vừa có thể sinh trưởng và phát triển tốt,vừa tăng sức đề kháng với dịch bệnh

1.1.2.4 Kỹ thuật chăn nuôi:

Ngoài các yếu tố kể trên thì kỹ thuật chăn nuôi cũng rất quan trọng, quyết địnhhiệu quả chăn nuôi Muốn đạt được kết quả như vậy, trong khâu chăm sóc cần lưu ýđến hướng chuồng, nhiệt độ, độ ẩm, thức ăn, nước uống phải đầy đủ, hợp vệ sinh vàphù hợp với từng giai đoạn Tránh sử dụng thức ăn thiu mốc, quá hạn sử dụng, không

rõ nguồn gốc…

1.1.2.5 Thú y:

Tiêm phòng đầy đủ các loại vacxin phòng bệnh cho vịt theo khuyến cáo của cơquan thú y Thường xuyên kiểm tra, theo dõi tình hình sức khỏe đàn vịt, nếu phát hiệndịch bệnh thì cần có sự trợ giúp của cán bộ thú y địa phương

Như vậy, để chăn nuôi thành công, người chăn nuôi cần tuân thủ đúng theo quytrình kỹ thuật, đồng thời nhắc nhở, khuyên nhủ những hộ chăn nuôi xung quanh ápdụng quy trình kỹ thuật trong chăn nuôi để cùng nhau mang lại hiệu quả kinh tế cao

1.1.3 Giá tr ị của trứng vịt

1.1.3.1 Giá trị dinh dưỡng

Trứng gồm lòng đỏ và lòng trắng Lòng đỏ tập trung chủ yếu các chất dinhdưỡng; Lòng đỏ trứng gà có 13,6% đạm, 29,8% béo và 1,6% chất khoáng Chất đạmtrong lòng đỏ trứng có thành phần các acid amin tốt nhất và toàn diện nhất Thànhphần của lòng trắng trứng đa số là nước, có 10,3% chất đạm, chất béo và rất ít chấtkhoáng

Chất đạm của lòng đỏ trứng chủ yếu thuộc loại đơn giản và ở trạng thái hòa tan;Còn chất đạm của lòng trắng chủ yếu là Albumin và cũng có thành phần các acid

Đại học Kinh tế Huế

Trang 8

amin tương đối toàn diện Chất đạm của trứng là nguồn cung cấp rất tốt các acid amincần thiết có vai trò quan trọng cho cơ thể, đặc biệt cần cho sự phát triển cả về cânnặng và chiều cao của trẻ.

Trứng có nguồn chất béo rất quí, đó là Lecithin vì Lecithin thường có ít ở cácthực phẩm khác Lecithin tham gia vào thành phần các tế bào và dịch thể của tổ chức,đặc biệt là tổ chức não Nhiều nghiên cứu cho thấy Lecithin có tác dụng điều hòalượng cholesterol, ngăn ngừa tích lũy cholesterol, thúc đẩy quá trình phân táchcholesterol và bài xuất các thành phần thu được ra khỏi cơ thể Trứng cũng chứalượng cholesterol đáng kể (600mg cholesterol/100g trứng gà), nhưng lại có tươngquan thuận lợi giữa Lecithin và cholesterol do vậy Lecithin sẽ phát huy vai trò điềuhòa cholesterol, ngăn ngừa quá trình xơ vữa động mạch và đào thải cholesterol rakhỏi cơ thể

Trứng cũng là nguồn cung cấp vitamin và chất khoáng rất tốt Các chất khoángnhư sắt, kẽm, đồng, mangan, iod tập trung hầu hết trong lòng đỏ Lòng đỏ trứng có

cả các vitamin tan trong nước (B1, B6) và vitamin tan trong dầu (Vitamin A, D, K).Trong lòng trắng trứng chỉ có một ít vitamin tan trong nước (B2, B6) Cả trong lòng

đỏ và lòng trắng trứng đều có chất Biotin Biotin là vitamin B8, tham gia vào chutrình sản xuất năng lượng để đáp ứng nhu cầu của cơ thể Trong lòng trắng trứng tươi,chất Biotin kết hợp với một protein là Avidin làm mất hoạt tính của Biotin, tạo phứchợp Biotin - Avidin rất bền vững và không chịu tác dụng của men tiêu hóa Khi nấuchín, Avidin sẽ được giải phóng khỏi phức hợp Biotin - Avidin

1.1.3.2 Trong công nghiệp chế biến

Trứng vịt là một trong những nguyên liệu đầu vào cho công nghiệp chế biếnthực phẩm, cụ thể là làm bánh hay một số loại thực phẩm khác

1.1.3.3 Giá trị kinh tế đối với hộ nông dân

Ngành chăn nuôi thủy cầm nói chung và chăn nuôi vịt lấy trứng nói riêng đãđem lại nguồn thu nhập lớn cho người dân Nuôi vịt có thể giúp người nông dân sửdụng hiệu quả diện tích đất hoang hóa, đất kém hiệu quả trong trồng trọt Ngoài racòn giải quyết thêm công ăn việc làm cho người nông dân Tóm lại, nghề chăn nuôi

Đại học Kinh tế Huế

Trang 9

vịt lấy trứng đã và đang mang lại giá trị kinh tế cao, thúc đẩy xóa đói giảm nghèo,nâng cao mức sống cho các hộ nông dân.

1.1.4 Chuỗi cung sản phẩm

1.1.4.1 Khái niệm chuỗi cung sản phẩm

Chuỗi cung bao gồm tất cả các doanh nghiệp tham gia một cách trực tiếp haygián tiếp trong việc đáp ứng nhu cầu khách hàng Bên trong mỗi tổ chức, chẳng hạnnhà sản xuất, chuỗi cung bao gồm tất cả các chức năng liên quan đến việc nhận vàđáp ứng nhu cầu khách hàng Những chức năng này không hạn chế, phát triển sảnphẩm mới, marketing, sản xuất, phân phối, tài chính và dịch vụ khách hàng (Bài giảngMarketing Nông nghiệp – Th.s Nguyễn Văn Cường – 2006 - Trường Đại học Kinh tếHuế)

Trong định nghĩa trên nói rõ ba vấn đề sau:

Thứ nhất, thành phần của chuỗi cung bao gồm các doanh nghiệp tham gia trựctiếp và gián tiếp trong việc đáp ứng nhu cầu tiêu dùng, đóng vai trò làm cầu nối chongười sản xuất và người tiêu dùng

Thứ hai, nói về mối quan hệ đồng thời cùng các dòng chảy bên trong chuỗicung như: dòng thông tin, dòng thanh toán, dòng chuyển sở hữu

Thứ ba, nói về các vai trò và chức năng phân phối trong toàn bộ chu kỳ sốngcủa sản phẩm - dịch vụ

Đây là một định nghĩa tổng quát nói lên đầy đủ bản chất của chuỗi cung sảnphẩm hàng hóa - dịch vụ trong nền kinh tế thị trường hiện nay

Như vậy, thực chất của việc phân tích chuỗi cung là việc phân tích chuỗi quátrình tiêu thụ sản phẩm từ người sản xuất đến người tiêu dùng

1.1.4.2 Các tác nhân trong chuỗi cung sản phẩm

Chuỗi cung sản phẩm gồm các tác nhân: Cơ sở cung cấp các dịch vụ đầu vào, hộsản xuất, người thu gom, người bán lẻ và người tiêu dùng Ta có sơ đồ sau:

Đại học Kinh tế Huế

Trang 10

Sơ đồ 1: Chuỗi cung sản phẩm nông nghiệp

Khái niệm các tác nhân:

 Cơ sở cung cấp các dịch vụ đầu vào: là những cơ sở cung cấp cho hộ sản xuấtnhững yếu tố đầu vào như giống, thức ăn công nghiệp, thú y

 Hộ sản xuất: là những gia đình hoặc cơ sở sản xuất cung cấp sản phẩm cho thịtrường Các chủ thể này nhận các đầu vào từ các cơ sở cung cấp dịch vụ đầu vào nhưgiống, thức ăn công nghiệp, thú y phối hợp với các nguồn lực có sẵn của hộ như laođông gia đình, chuồng trại để tổ chức sản xuất cung cấp sản phẩm cho thị trường

 Người thu gom: là những người trung gian đầu mối, tổ chức thu mua sản phẩmcủa các hộ hoặc các cơ sở sản xuất, sau đó thu gom về một địa điểm để bán lại chocác nhà bán lẻ khác

 Người bán lẻ: là những người mua sản phẩm qua các hộ thu gom trung gianhoặc là trực tiếp hộ sản xuất thu gom rồi đem trực tiếp bán ra thị trường

 Người tiêu dùng (các cá nhân, các hộ gia đình, quán ăn, nhà hàng ): là nhữngngười hoặc cơ sở tiêu thụ sản phẩm các loại của người bán lẻ hoặc hộ thu gom

(6)(2)

(4)

(5)

(7)(3)

Đại học Kinh tế Huế

Trang 11

Trong sơ đồ trên, tất cả các sản phẩm để đến được tay người tiêu dùng thườngqua một vài hình thức của chuỗi cung ứng, có một số lớn hơn và một số thì phức tạphơn nhiều Chúng ta thấy chỉ có một người tạo ra lợi nhuận cho toàn chuỗi đó làngười tiêu dùng cuối cùng Khi các khâu riêng lẻ trong chuỗi cung ứng ra quyết địnhkinh doanh mà không quan tâm đến các thành viên khác trong chuỗi, điều này dẫnđến giá bán cuối cùng cho người tiêu dùng thường rất cao.

1.1.4.3 Mối quan hệ giữa các tác nhân trong chuỗi cung sản phẩm.

Theo sơ đồ chuỗi cung sản phẩm ở trên ta có:

(1) quan hệ giữa cơ sở cung cấp dịch vụ đầu vào với hộ sản xuất

(2) quan hệ giữa hộ sản xuất với cơ sở thu gom

(3) quan hệ giữa hộ thu gom với người tiêu dùng

(4) quan hệ giữa hộ thu gom với người bán lẻ

(5) quan hệ giữa hộ sản xuất với người tiêu dùng

(6) quan hệ giữa hộ sản xuất với người bán lẻ

(7) quan hệ giữa hộ với người tiêu dùng

1.1.5 Một số chỉ tiêu nghiên cứu

1.1.5.1 Chỉ tiêu đánh giá quy mô chăn nuôi:

Là chỉ tiêu biểu hiện mức độ, số lượng vật nuôi, mức đầu tư tư liệu sản xuất trong một thời gian nhất định của một vùng, một địa phương hay một hộ gia đình nàođó

1.1.5.2 Hệ thống chỉ tiêu đánh giá kết quả

- Tổng giá trị sản xuất GO: Là toàn bộ giá trị của cải vật chất và dịch vụ do các

cơ sở sản xuất thuộc tất cả các ngành nghề trong nền kinh tế quốc dân tạo ra đượctrong một chu kỳ nhất định

GO = ∑Pi*Qi

Trong đó: Pi: Đơn giá sản phẩm thứ i

Qi: Khối lượng sản phẩm thứ iĐại học Kinh tế Huế

Trang 12

- Chi phí trung gian IC: Là một bộ phận cấu thành của tổng giá trị sản xuất baogồm chi phí thường xuyên về vật chất và chi phí dịch vụ thuê (mua) ngoài được sửdụng để sản xuất ra sản phẩm vật chất và dịch vụ khác của doanh nghiệp trong mộtthời kỳ nhất định Chi phí trung gian bao gồm:

+ Chi phí vật chất: Là chi phí do hộ gia đình tự mình bỏ ra bao gồm: giống, thức

ăn, điện nước, các công cụ lao động rẻ tiền mau hỏng được phân bổ trong năm + Chi phí dịch vụ: Là chi phí cần qua các hoạt động dịch vụ, bao gồm: Thuê laođộng, chi phí thú y, trả lãi vay tiền, các chi phí dịch vụ khác

- Giá trị gia tăng VA: Là chỉ tiêu phản ánh những phần giá trị do lao động sángtạo ra trong một thời kỳ nhất định Đó chính là một bộ phận còn lại của giá trị sảnxuất sau khi trừ đi chi phí trung gian

∑ VA = ∑GO − ∑IC

- Thu nhập hỗn hợp MI: Là phần còn lại của giá trị gia tăng sau khi đã trừ đikhấu hao tài sản cố định và thuế (nếu có)

∑MI = ∑VA − Khấu hao – Thuế

- Lợi nhuận kinh tế Pr:

∑Pr = ∑MI – Chi phí lao động

1.1.5.3 Hệ thống chỉ tiêu đánh giá hiệu quả

- GO/ngày/người: Cho biết một ngày một người lao động tạo ra bao nhiêu đồnggiá trị sản xuất

- Tỷ suất giá trị sản xuất trên chi phí trung gian GO/IC: Cho biết một đồng chiphí trung gian tạo ra được bao nhiêu đồng giá trị sản xuất

- Tỷ suất chi phí gia tăng theo giá trị gia tăng VA/IC: cho biết một đồng chi phítrung gian thu được bao nhiêu đồng giá trị gia tăng

- Tỷ suất thu nhập hỗn hợp trên chi phí trung gian MI/IC: Cho biết việc bỏ ramột đồng chi phí trung gian thì thu được bao nhiêu đồng thu nhập hỗn hợp

- Tỷ suât lợi nhuận kinh tế trên tổng chi phí Pr/TC: Cho biết việc bỏ ra một đồngtổng chi phí thì thu được bao nhiêu đồng lợi nhuận

1.2 CƠ SỞ THỰC TIỄN

Đại học Kinh tế Huế

Trang 13

1.2.1 Tình hình chăn nuôi vịt ở Việt Nam

Chăn nuôi vịt là một nghề truyền thống khá phát triển ở nước ta Tổng đàn vịthiện nay ở Việt Nam khoảng 84 triệu con, chỉ đứng thứ 2 sau Trung Quốc với 771triệu con Trong tổng đàn vịt thì vịt hướng trứng chiếm tới 68,5%, gắn với phươngthức chăn nuôi thả đồng thời vụ là chính Nuôi nhốt kiểu công nghiệp chỉ ở vịt giống

và các giống cao sản mới nhập vào trong những năm gần đây

Ở Việt Nam trước đây, chăn nuôi vịt nói riêng, ngành chăn nuôi gia cầm nóichung còn mang tính tự cấp tự túc, chưa chú trọng đến hình thức sản xuất hàng hóa.Nhưng từ năm 1996, cùng với sự đổi mới kinh tế đất nước, ngành chăn nuôi gia cầmnói chung và ngành chăn nuôi vịt nói riêng đã có những bước tiến nhảy vọt Nhiềugiống vịt siêu trứng, siêu thịt được nhập vào nước ta Tuy vậy, dịch cúm gia cầm H5N1trong mấy năm nay đã và đang gây tổn thất lớn cho ngành chăn nuôi vịt nói riêng vànền kinh tế nói chung

Phân bố đàn vịt: Đàn vịt chủ yếu tập trung ở đồng bằng Sông Cửu Long, còn lạiphân bố ở các tỉnh miền Bắc và miền Trung

Nghề chăn nuôi vịt trong những năm gần đây đạt được những thành tựu hết sức

to lớn, tuy vậy còn gặp không ít khó khăn Nghề chăn nuôi gia cầm nói chung và chănnuôi vịt nói riêng của nước ta chủ yếu là quy mô nhỏ, phân tán, chăn nuôi hộ gia đình,tận dụng phế phẩm nông nghiệp Các trang trại chăn nuôi vịt lấy trứng quy mô vừa vànhỏ mặc dù đã hình thành tại một số vùng sinh thái song tỷ lệ chưa cao, thị trườngtiêu thụ sản phẩm trứng vịt còn khó khăn, cơ sở hạ tầng và dịch vụ chăn nuôi nhìnchung còn thiếu và yếu, hầu hết chưa đảm bảo quy trình kỹ thuật Nguy cơ dịch bệnhđối với đàn vịt và an toàn thực phẩm cho con người ngày càng nghiêm trọng,

Tình hình phát triển đàn gia cầm ở nước ta trong những năm 2008 – 2010 đượcbiểu hiện cụ thể ở bảng sau:

B ảng 1: Tình hình phát triển đàn gia cầm ở nước ta 2008 – 2010

Trung Du và Miền núi phía Bắc Nghìn con 55.447 61.224 69.065

Đại học Kinh tế Huế

Trang 14

Bắc Trung bộ và Duyên hải Nam Trung bộ Nghìn con 52.509 61.094 65.200

(Nguồn: Tổng cục Thống kê)

Qua bảng trên ta thấy, nhìn chung tổng đàn gia cầm của cả nước qua 3 năm 2008– 2010 đều tăng Cụ thể như sau: tổng đàn gia cầm của cả nước năm 2008 là247.320.000 con, năm 2009, tổng đàn gia cầm là 280.181.000 con, tăng 13,28% sovới năm 2008, đến năm 2010, tổng đàn gia cầm của cả nước là 300.500.000 con, tăng7,25% so với năm 2009

Trong cả nước thì các tỉnh ở miền Bắc nuôi nhiều nhất, chiếm 47,84% trongtổng đàn gia cầm của cả nước Nuôi ít nhất là các tỉnh miền Trung chiếm 21,7% trongtổng đàn gia cầm của cả nước

Việt Nam là một đất nước có mật độ dân số khá cao, có nhiều chợ đầu mối lớn ởcác cửa khẩu, các vùng trong cả nước, có vị trí địa lý thuận lợi nên đây là thị trườngtiêu thụ trứng vịt tiềm năng cả trong nước và ngoài nước Tuy nhiên, thời gian gầnđây phong trào chăn nuôi vịt ít nhiều bị chững lại vì giá thức ăn có chiều hướng tăng,thêm vào đó là dịch bệnh xảy ra liên miên, giá cả thị trường không ổn định

1.2.2 Tình hình chăn nuôi vịt ở Hà Tĩnh

Hà Tĩnh có tổng diện tích đất tự nhiên là 6055,6 km2, với dân số 1.227.554người (thống kê năm 2009) Là tỉnh có đường Quốc lộ 1A và tuyến đường sắt BắcNam đi qua nên đây cũng là điều kiện thuận lợi cho việc tiêu thụ sản phẩm và vậnchuyển thức ăn chăn nuôi Hệ thống sông ngòi của tỉnh cũng khá nhiều như sông Cày,sông Rác, sông La, sông Lam giúp phát triển các mô hình chăn nuôi vịt lấy trứngtrên địa bàn

Hiện nay vẫn chưa thống kê được số hộ nuôi vịt lấy trứng trong toàn tỉnh vì các

hộ chủ yếu nuôi theo kiểu tự phát, hoặc bỏ nuôi tạm thời hay vĩnh viễn do các yếu tốkhách quan như dịch bệnh hay giá cả bấp bênh Tình hình phát triển đàn gia cầm củatỉnh từ năm 2008 – 2010 được thể hiện cụ thể qua bảng sau:

Đại học Kinh tế Huế

Trang 15

B ảng 2: Tình hình phát triển đàn gia cầm của tỉnh Hà Tĩnh từ năm 2008 –

2010

Tổng đàn gia cầm Nghìn con 4.670 5.013 5.510 343 7,30 497 9,90Sản lượng trứng Triệu quả 91,25 97,95 107,67 6,70 7,35 8,72 8,90

(Nguồn: Sở NN & PTNT Hà Tĩnh )

Qua bảng số liệu trên ta thấy, tổng đàn gia cầm của tỉnh tăng dần qua 3 năm.Năm 2008 đàn gia cầm của tỉnh là 4670 nghìn con đạt sản lượng trứng là 91,251 triệuquả, năm 2009 là 5013 nghìn con tăng 7,3% so với năm 2008 Đến năm 2010, tổngđàn gia cầm của tỉnh là 5510 nghìn con tăng 9,9% so với năm 2009 và đạt sản lượngtrứng 107,67 triệu quả

CHƯƠNG II: TÌNH HÌNH CHĂN NUÔI VỊT LẤY TRỨNG

TRÊN ĐỊA BÀN XÃ XUÂN HỒNG

2.1 TÌNH HÌNH CƠ BẢN CỦA XÃ XUÂN HỒNG

2.1.1 Điều kiện tự nhiên

2.1.1.1 Vị trí địa lý

Xuân Hồng là một xã đồng bằng của huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh, có đườngQuốc lộ 1A đi qua, cách trung tâm thành phố Vinh 8 km về phía Nam Vì thế, XuânHồng có điều kiện giao thông rất thuận lợi cho việc giao lưu, phát triển kinh tế với cáckhu vực trong và ngoài tỉnh Hà Tĩnh, có tiềm năng tạo ra thế và lực mới để có thểphát triển kinh tế với tốc độ tăng trưởng cao

Phía Bắc giáp thành phố Vinh và một phần của huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An.Phía Tây giáp xã Xuân Lam, huyện Nghi Xuân

Phía Nam giáp xã Xuân Lĩnh, huyện Nghi Xuân

Phía Đông giáp thị trấn Xuân An, huyện Nghi Xuân

Về tổ chức hành chính, Xuân Hồng có 9 thôn, được chia thành 3 hợp tác xã:Hợp tác xã Lam Sơn gồm ba thôn: 1, 2, 3

Hợp tác xã Song Hồng gồm ba thôn: 4, 5, 6

Đại học Kinh tế Huế

Trang 16

Hợp tác xã Hồng Phú gồm ba thôn: 7, 8, 9.

Xuân Hồng là xã ven sông Lam, nên rất thuận lợi trong việc chủ động tưới tiêunước, và phát triển một số nghề như nuôi cá nước ngọt, thủy cầm

2.1.1.2 Thời tiết và khí hậu

Điều kiện khí hậu thời tiết của xã Xuân Hồng cũng như các vùng khác trên địabàn huyện Nghi Xuân nói riêng, và tỉnh Hà Tĩnh nói chung Khu vực có khí hậu nhiệtđới gió mùa ẩm, thường xuyên chịu ảnh hưởng nặng nề của gió Tây Nam khô nóng vàgió mùa Đông Bắc lạnh giá

Lượng mưa hằng năm khá lớn, khoảng 1800 đến 2000 mm Xuân Hồng là địabàn thấp so với các xã ở huyện Nghi Xuân nên thường bị lũ lụt mỗi khi có mưa lớn

2.1.2 Điều kiện kinh tế xã hội

- Đất đai:

Đất đai là điều kiện cần thiết cho sự tồn tại của bất kỳ ngành sản xuất nào Trongnông nghiệp, đất đai là tư liệu sản xuất đặc biệt và không thể thay thế được, nó vừa làđối tượng lao động, vừa là tư liệu lao động Việc tổ chức, quản lý và sử dụng đất đaiđúng mục đích, có hiệu quả là vấn đề hết sức cần thiết Tình hình biến động đất đaicủa xã qua 3 năm cụ thể bảng sau:

Qua bảng ta thấy tổng diện tích đất tự nhiên của xã là 1.821,83 ha, trong đó đấtnông nghiệp chiếm tỷ trọng cao nhất, tuy nhiên diện tích đất nông nghiệp có xuhướng giảm dần Năm 2008 diện tích đất nông nghiệp của xã là 1480,46 ha chiếm77,31% tổng diện tích đất tự nhiên, đến năm 2009 diện tích đất nông nghiệp là1389,36 ha chiếm 76,26%, năm 2010 diện tích đấ nông nghiệp là 1360,94 ha chiếm74,7% tổng diện tích đất tự nhiên Nguyên nhân suy giảm diện tích đất nông nghiệpnày là do xã phối hợp với huyện đã chuyển đổi sang các mục đích khác như xây dựngmột số công trình công cộng và nhà ở

Diện tích đất trồng cây hàng năm và đất lâm nghiệp không thay đổi, riêng đấtmặt nước nuôi trồng thủy sản có xu hướng tăng nhưng tăng với tốc độ rất chậm.Diện tích đất phi nông nghiệp trong 3 năm 2008 – 2010 có xu hướng tăng vàtăng khá nhanh Năm 2008 là 299,51 ha chiếm 16,44% tổng diện tích đất tự nhiên,sang đến 2009 là 342,56 ha chiếm 18,8%, năm 2010 là 383,46 ha chiếm 21,04% tổng

Đại học Kinh tế Huế

Trang 17

diện tích đất tự nhiên Điều này là do chuyển đổi từ diện tích đất nông nghiệp và đấtchưa sử dụng sang Đây cũng là xu hướng chung của các địa phương khác, khi cácngành công nghiệp, dịch vụ ngày càng phát triển thì nhu cầu đất cho việc xây dựngcác công trình sự nghiệp, cơ sở hạ tầng càng tăng.

Riêng diện tích đất chưa sử dụng của xã có xu hướng giảm xuống Năm 2008diện tích đất chưa sử dụng là 113,86 ha chiếm 6,25% tổng diện tích đất tự nhiên, năm

2009 là 89,91 ha chiếm 4,94%, đến năm 2010 là 77,43 ha chiếm 4,25% Đây là diệntích đất tiềm năng cần được khai thác hiệu quả để góp phần tăng hiệu quả kinh tế xãhội của địa phương

Đại học Kinh tế Huế

Trang 18

B ảng 3: Tình hình biến động đất đai của xã Xuân Hồng qua 3 năm (2008 – 2010)

Trang 19

- Dân số và lao động:

Dân số và lao động là một bộ phận hết sức quan trọng trong các hoạt động sảnxuất kinh doanh và tiêu dùng Đây là yếu tố góp phần to lớn vào sự phát triển hay kìmhãm sự phát triển kinh tế của một địa phương, một quốc gia Chất lượng và số dân, sốlao động cũng thể hiện được thực trạng cũng như xác định được tiềm năng thế mạnhcủa vùng trong việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế Cụ thể việc tăng dân số trong khi cácđiều kiện về công ăn việc làm, chổ ở, chăm sóc sức khỏe, giáo dục không đảm bảo

sẽ tạo ra một sức ép đối với sự phát triển và chuyển dịch cơ cấu của địa phương

Qua số liệu về tình hình dân số và lao động của xã ta thấy dân số của xã năm

2008 là 6.625 người, bình quân mỗi hộ có 4,54 người, năm 2009 dân số của xã là6.758 người tăng 2,01% so với năm 2008, đến năm 2010 dân số của xã là 6.808 ngườităng 0,74% so với năm 2009 Như vậy dân số của xã có tăng nhưng tốc độ tăng cógiảm hơn, vấn đề dân số tăng cũng là sức ép đối với nền kinh tế xã hội của xã

Về lao động của xã năm 2008 là 2.870 người chiếm 43,32% trong tổng nhânkhẩu của xã, trong đó có 2.335 người là lao động nông nghiệp chiếm 35,25% Năm

2009 tổng số lao động là 2.960 chiếm 43,8%, trong đó lao động nông nghiệp là 2.399người chiếm 35,5%, sang đến năm 2010 tổng số lao động là 3.097 người chiếm45,49%, trong đó lao động nông nghiệp là 2.464 người, chiếm 36,19% Qua đó chothấy lao động của xã tăng cả về số lượng và tỷ lệ trong tổng dân số của xã, tuy nhiên tỷ

lệ lao động nông nghiệp có xu hướng giảm, thay vào đó là tỷ lệ lao động phi nôngnghiệp có xu hướng tăng: năm 2008 là 8,08%, năm 2009 là 8,3% và năm 2010 là9,3% Đây cũng là đặc điểm chung của nền kinh tế hiện nay, khi mà tỷ trọng đóng gópcủa ngành Công nghiệp - Dịch vụ ngày càng tăng

Chỉ tiêu nhân khẩu/lao động cho biết một lao động phải nuôi bao nhiêu ngườitrong gia đình Năm 2008 bình quân nhân khẩu/lao động của xã là 2,31, năm 2009 là2,28 và năm 2010 là 2,20 Đây là những con số khá cao, cho thấy mỗi lao động phảinuôi chính bản thân mình và phải nuôi thêm hơn một người nữa, đó cũng là gánh nặngcho nguồn lao động của xã Tuy nhiên, qua các năm thì nhân khẩu/lao động có xuhướng giảm, giúp cải thiện phần nào sức ép của dân số tới nền kinh tế của xã

Đại học Kinh tế Huế

Trang 20

B ảng 4: Tình hình dân số và lao động của xã Xuân Hồng qua 3 năm (2008 – 2010)

III Tổng số lao động Lao động 2870 43,32 2960 43,80 3097 45,49 90 3,14 137 4,63

1 Lao động nông nghiệp Lao động 2335 35,25 2399 35,50 2464 36,19 64 2,74 65 2,71

2 Lao động phi nông

Trang 21

- Quy mô, cơ cấu các ngành sản xuất

Trải qua quá trình phát triển, xã Xuân Hồng đã đạt được một số thành tựu kinh tế

- xã hội đáng khích lệ, tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm khá cao, quy mô kinh tếngày càng được mở rộng, cơ sở hạ tầng kỹ thuật được đầu tư đúng mức, đời sống vậtchất và tinh thần của người dân đã được chú trọng và quan tâm nhiều hơn trước XuânHồng là một trong hai xã của huyện Nghi Xuân được chọn làm mô hình thí điểm chochương trình xây dựng nông thôn mới của Chính phủ trong giai đoạn 2010 – 2020.Trong tổng cơ cấu kinh tế của xã, ngành nông nghiệp chiếm tỷ trọng lớn nhất,trong nông nghiệp thì ngành chăn nuôi chiếm tỷ trọng cao hơn so với trồng trọt Cụ thểlà: năm 2008 ngành nông nghiệp đóng góp cho nền kinh tế của xã là 29.615.327.000đồng chiếm 48,5%, trong đó ngành chăn nuôi là 21.250.069.000 đồng chiếm 34,8%,của ngành trồng trọt là 8.365.258.000 đồng chiếm 13,7% Năm 2009 đóng góp củangành nông nghiệp là 35.155.491.000 đồng chiếm 46,9%, trong đó ngành chăn nuôi là25.320.775.000 đồng chiếm 33,78%, ngành trồng trọt là 9.834.716.000 đồng chiếm13,12% Năm 2010 đóng góp của ngành nông nghiệp là 40.900.587.000 đồng chiếm45,6%, trong đó ngành chăn nuôi là 32,3%, ngành trồng trọt là 11.929.338.000 đồngchiếm 17,75%

Tỷ trọng đóng góp của ngành dịch vụ cho nền kinh tế của xã có xu hướng tăng

Cụ thể là năm 2008 đạt 15.693.070.000 đồng chiếm 25,7%, năm 2009 là21.438.103.000 đồng chiếm 28,6% tăng 5.745.033.000 đồng so với năm 2008 Sangđến 2010 là 27.6215.835.000 đồng chiếm 30,8% tăng 6.187.732.000 đồng so với năm

2009 Nguyên nhân của việc tăng tỷ trọng của ngành dịch vụ trong nền kinh tế của xã

là vì có số lượng khá lớn lao động chuyển sang các ngành dịch vụ khác như buôn bán,vận tải, Đặc biệt trên địa bàn xã có di tích lịch sử cấp quốc gia Đền Chợ Củi, nơi dulịch về tâm linh, hàng năm thu hút hàng chục nghìn khách thập phương đến viếngthăm Đây cũng là nguồn thu đáng kể cho xã và nhân dân xung quanh khu vực đền

Hệ thống giao thông liên thôn, liên xã của địa phương được đầu tư khá tốt, đã tạođiều kiện thuận lợi trong việc đi lại, giao lưu buôn bán của người dân Bên cạnh đó xãXuân Hồng còn có Quốc lộ 1A đi qua, nằm cạnh sông Lam nên rất thuận tiện cho việcvận chuyển hàng hóa ra thị trường và cung cấp các yếu tố đầu vào cho sản xuất

Đại học Kinh tế Huế

Trang 22

Về chợ của xã thì chưa được đầu tư thích đáng, việc buôn bán ở chợ còn nhỏ lẻ,bởi Xuân Hồng là xã nằm gần Thành phố Vinh nên người dân chủ yếu mang sản phẩmđến các chợ lớn ở Vinh để tiêu thụ.

oNguồn lao động của xã khá dồi dào, có truyền thống cần cù, chịu khó, dámnghĩ dám làm, sáng tạo, có khả năng ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật mới vàosản xuất

oTốc độ phát triển của các ngành kinh tế của xã trong mấy năm trở lại đây đạtkhá cao Trong đó ngành dịch vụ có tốc độ tăng nhanh nhất, đặc biệt tỷ trọng củangành chăn nuôi tăng nhanh và hơn nhiều so với trồng trọt Từ đó thúc đẩy nhanh quátrình chuyển dịch cơ cấu kinh tế của xã Đó cũng là xu hướng chung của nền kinh tếnước ta trong giai đọan hiện nay

Những thuận lợi trên đây là tiền đề quan trọng cho những bước phát triển sắp tới,nhằm đẩy mạnh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn

oCơ sở hạ tầng của xã còn nhiều bất cập

oDân số có xu hướng tăng nhanh, một bộ phận nhân dân còn mang nặng tưtưởng phong kiến, làm ăn chưa mạnh dạn

oThêm vào đó là trình độ của đội ngũ cán bộ xã và người dân còn nhiều hạnchế, bảo thủ trong công việc

Nhìn chung, Xuân Hồng là xã có nhiều tiềm năng và lợi thế, nhưng đồng thờicũng gặp nhiều khó khăn và hạn chế Vì thế chính quyền địa phương cần phải phốihợp với chính quyền cấp trên để có những giải pháp, chiến lược nhằm khai thác hiệuquả các tiềm năng của xã và khắc phục dần khó khăn hạn chế trong giai đoạn tiếptheo

Đại học Kinh tế Huế

Trang 23

B ảng5: Quy mô và cơ cấu kinh tế của xã Xuân Hồng qua 3 năm (2008 – 2010)

Trang 24

2.2 TÌNH HÌNH NUÔI VỊT LẤY TRỨNG Ở XÃ XUÂN HỒNG

Chăn nuôi là nghề rất phát triển ở xã Xuân Hồng, ngành chăn nuôi đã đóng góp rấtlớn vào GDP của xã Trong ngành chăn nuôi của xã thì chăn nuôi thủy cầm lại chiếmphần lớn Khoảng 10 năm trở lại đây, tổng số đàn vịt của xã luôn đứng thứ nhất nhìkhông chỉ của huyện Nghi Xuân mà còn cả tỉnh Hà Tĩnh Nhờ chăn nuôi vịt mà không ít

hộ nông dân không những đã thoát nghèo, mà vươn lên trở thành hộ giàu, hộ khá của xã.Nhưng do ảnh hưởng của dịch bệnh, chi phí đầu vào, giá cả đầu ra bấp bênh nên các hộchăn nuôi vịt đang phải đối mặt với nhiều khó khăn

Xuân Hồng là xã đồng bằng của huyện Nghi Xuân, có tuyến quốc lộ 1A đi qua,cách thành phố Vinh 4 km về phía nam, nằm ven bờ sông Lam có nhiều ao hồ, kênh rạchnên có điều kiện hết sức thuận lợi cho việc chăn nuôi vịt lấy trứng và tiêu thụ trứng ra thịtrường Chính vì vậy mà quy mô đàn vịt của xã ngày càng tăng

Xuân Hồng là địa phương rất gần thành phố Vinh, nơi có thị trường tiêu thụ trứngvịt khá lớn Thành phố Vinh có lượng sinh viên rất đông ở các trường Đại học, Cao đẳngnhư Đại học Vinh, đại học Sư phạm Kỹ thuật Vinh, Cao đẳng Kinh tế, cao đẳng Sưphạm, cao đẳng Y và các trường Trung cấp, các trường dạy nghề khác Với các chợ lớnnhư chợ Vinh, chợ Bến Thủy, chợ Hưng Dũng là nơi tiêu thụ rất mạnh trứng vịt Mộttrong những sản phẩm được sinh viên nói riêng và người tiêu dùng nói chung lựa chọn đó

là trứng vịt Qua bảng dưới đây ta thấy được tình hình phát triển đàn vịt và sản lượngtrứng vịt của xã Xuân Hồng qua các năm như sau:

Tổng đàn vịt của xã năm 2008 là 47.630 con, trong đó vịt nuôi lấy trứng là 45.530con chiếm 95,59% tổng đàn vịt Năm 2009 đàn vịt tăng lên 52.400 con tương đương10,01%, trong đó vịt lấy trứng là 49.200 con chiếm 93,89% tổng đàn vịt Sang năm 2010tổng đàn vịt của xã tiếp tục tăng, và đạt 56.900 con, trong đó vịt lấy trứng là 54.300 conchiếm 95,43% Được biết năm 2007 tổng đàn vịt của xã là 76.200 con, nguyên nhân dẫnđến sự sụt giảm nhanh của đàn vịt của xã là dịch cúm gia cầm H5N1 bùng phát khiến chođàn gia cầm của nhiều hộ phải tiêu hủy, gây hoang mang đối với các hộ chăn nuôi vịt,dẫn đến một số hộ bỏ nuôi trong một thời gian hoặc vĩnh viễn

Đại học Kinh tế Huế

Trang 25

B ảng 6: Quy mô đàn vịt và sản lượng trứng vịt ở xã Xuân Hồng qua 3 năm 2008 - 2010

(Nguồn: UBND xã Xuân Hồng)

Sản lượng trứng của xã năm 2008 là 8.468 nghìn quả, năm 2009 là 9.151 nghìn quảtăng 8,05% so với năm 2008, năm 2010 là 10.100 nghìn quả tăng 10,35% so với năm

2009 Như vậy sản lượng trứng của xã có xu hướng tăng, cho thấy hoạt động chăn nuôivịt lấy trứng của địa phương đang ngày càng phát triển hơn

Hoạt động tiêu thụ trứng vịt của xã diễn ra dưới nhiều hình thức, việc mua bán chủyếu mang tính tự phát không có hợp đồng mua bán, trong khi giá trị mua bán lên đếnhàng chục triệu đồng

Nhìn chung thì sản lượng trứng của toàn xã đều được tiêu thụ hết, nhưng giá bán làvấn đề các hộ lo ngại nhất, nỗi lo về giá lúc nào cũng canh cánh trong lòng các hộ chănnuôi, điều này làm cho họ không thực sự yên tâm để sản xuất Để giải quyết nhữngvướng mắc trong khâu tiêu thụ trứng thì ngoài nỗ lực của người dân còn cần có sự vàocuộc của chính quyền địa phương và các cơ quan liên quan cấp trên, có như thế ngườinông dân mới yên tâm để đầu tư vào sản xuất

2.3 TÌNH HÌNH CHĂN NUÔI VỊT LẤY TRỨNG CỦA CÁC HỘ ĐIỀU TRA 2.3.1 Nguồn lực sản xuất của hộ điều tra

Để đánh giá được thực trạng sản xuất của nông hộ trước tiên ta phải đánh giá đượcnăng lực sản xuất của hộ đó Nhân khẩu và lao động là nguồn lực của các hộ, sẽ là nhân

Đại học Kinh tế Huế

Ngày đăng: 19/10/2016, 22:55

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ 1: Chu ỗi cung sản phẩm nông nghiệp - Đánh giá hiệu quả kinh tế của các hộ chăn nuôi vịt lấy trứng trên địa bàn xã xuân hồng, huyện nghi xuân, tỉnh hà tĩnh
Sơ đồ 1 Chu ỗi cung sản phẩm nông nghiệp (Trang 10)
Sơ đồ 2: Sơ đồ chuỗi cung sản phẩm trứng vịt và tỷ lệ tiêu thụ trứng vịt - Đánh giá hiệu quả kinh tế của các hộ chăn nuôi vịt lấy trứng trên địa bàn xã xuân hồng, huyện nghi xuân, tỉnh hà tĩnh
Sơ đồ 2 Sơ đồ chuỗi cung sản phẩm trứng vịt và tỷ lệ tiêu thụ trứng vịt (Trang 37)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w