TÓM TẮTThu phí bảo vệ môi trường đối với các chất gây ô nhiễm là một công cụ quản lý được các nhà quản lý môi trường Việt Nam quan tâm nhiều trong những năm gần đây.. - Phát triển đất nư
Trang 1ĐẠI HỌC HUẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ KHOA KINH TẾ VÀ PHÁT TRIỂN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
TÌM HIỂU PHƯƠNG PHÁP TÍNH PHÍ NƯỚC THẢI VÀ
ĐỀ XUẤT MỨC PHÍ NƯỚC THẢI SINH HOẠT TẠI
PHƯỜNG THUẬN THÀNH – THÀNH PHỐ HUẾ
TR ẦN XUÂN BIN
Khóa học 2007 - 2011
Đại học Kinh tế Huế
Trang 2Trong quá trình thực hiện khóa luận tốt nghiệp này, ngoài sự phấn
đấu của bản thân, Tôi đã nhận được nhiều sự giúp đỡ quý báu
Trước hết Tôi xin chân thành cảm ơn Chi cục BVMT tỉnh Thừa
Thiên Huế đã tạo điều kiện để Tôi được đến thực tập trong suốt bốn tháng từ
tháng 1 đến tháng 4 năm 2011 Cảm ơn Trưởng phòng và Anh/Chị trong
phòng tổng hợp của Chi cục BVMT đã tận tình giúp đỡ Trong thời gian thựctập Tôi đã gặp không ít khó khăn cũng như thuận lợi từ rất nhiều phía Cảm ơnChi cục BVMT tỉnh Thừa Thiên Huế đã tận tình giúp đỡ, cung cấp số liệu vàthông tin cần thiết để Tôi hoàn thành tốt bài báo cáo này
Tôi cũng rất biết ơn Thầy hướng dẫn Tiến sĩ Trần Văn Giải Phóng.Thầy đã tận tình giúp đỡ, hướng dẫn và những lời động viên giúp Tôi rấtnhiều để bài báo cáo này được hoàn thành tốt
Sau cùng Tôi xin chân thành cảm ơn những người thân trong gia đìnhcùng tất cả bạn bè đã động viên giúp Tôi trong suốt thời gian qua
Tôi chân thành biết ơn những người đã giúp Tôi hoàn thành tốt bài báo cáo
Trang 3MỤC LỤC
Trang
PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ 9
1 Lý do chọn đề tài 9
2 Mục đích nghiên cứu 10
3 Đối tượng nghiên cứu 10
4 Phạm vi nghiên cứu 10
4.1 Phạm vi nội dung 10
4.2 Phạm vi không gian 10
4.3 Phạm vi thời gian 10
5 Phương pháp nghiên cứu 10
5.1 Phương pháp điều tra, thu thập số liệu 11
5.2 Phương pháp phân tích và xử lý số liệu thống kê 11
PHẦN II: NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 12
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG VÀ PHÍ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG 12
1.1 QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG 12
1.1.1 Khái niệm môi trường 12
1.1.1.1 Môi trường 12
1.1.1.2 Chức năng của môi trường 13
1.1.2 Khái niệm quản lý môi trường 14
1.1.3 Mục tiêu quản lý môi trường 14
1.2 PHÍ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG 15
1.2.1 Khái niệm phí BVMT 15
1.2.2 Căn cứ thực hiện phí BVMT 16
1.2.2.1 Căn cứ vào lý thuyết xác định mức thải và phí xả thải 16
1.2.2.2 Căn cứ trên nguyên tắc PPP 17
1.2.2.3 Căn cứ trên nguyên tắc BPP 18
1.3 PHÍ NƯỚC THẢI 19
1.3.1 Khái niệm và phân loại nước thải 19
Đại học Kinh tế Huế
Trang 41.3.1.1 Khái niệm nước thải 19
1.3.1.2 Phân loại nước thải 19
1.3.1.2.1 Nước thải sinh hoạt 19
1.3.1.2.1 Nước thải công nghiệp 19
1.3.2 Kinh nghiệm thực hiện phí BVMT ở một số quốc gia 19
1.3.2.1 Phương pháp tính phí nước của các nước OECD 20
1.3.2.2 Phương pháp tính phí nước thải ở các nước đang phát triển 20
1.3.3 Tính tất yếu của việc tính phí nước thải 22
1.3.4 Phương pháp luận cho việc tính phí bảo vệ môi trường đối với nước thải công nghiệp 24
1.3.5 Các phương pháp tiếp cận tính phí nước thải 26
1.3.5.1 Tính phí dựa vào tổng lượng nước thải 26
1.3.5.2 Tính phí dựa vào đặc tính của các chất gây ô nhiễm 26
1.3.5.3 Tính phí dựa vào hàm lượng các chất gây ô nhiễm 27
1.3.5.4 Tính phí dựa vào hệ số chịu tải môi trường 27
1.3.5.5 Tính phí dựa vào chi phí biên bỏ ra lắp đặt hệ thống giảm thải 27
1.3.5.6 Tính phí dựa vào giá trị ước tính tác hại do một đơn vị chất thải gây ra 28 1.3.5.7 Tính phí dựa vào tiêu chuẩn môi trường 28
1.4 MÔ HÌNH TÍNH PHÍ BVMT ĐỐI VỚI NƯỚC THẢI VIỆT NAM 28
1.4.1 Xác định mức phí bằng công thức tính phí tổng quát 28
1.4.2 Phân tích các hệ số trong công thức tổng quát 29
1.4.3 Phương pháp tính phí nước thải theo Nghị định 67 của Chính Phủ 35
CHƯƠNG 2: KHẢO SÁT VÀ ĐỀ XUẤT MỨC PHÍ NƯỚC THẢI SINH HOẠT TRÊN ĐỊA BÀN PHƯỜNG THUẬN THÀNH – THÀNH PHỐ HUẾ 39
2.1 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, XÃ HỘI PHƯỜNG THUẬN THÀNH 39
2.1.1 Điều kiện tự nhiên 39
2.1.2 Điều kiện xã hội 40
2.2 THỰC TRẠNG Ô NHIỄM VÀ THU PHÍ NƯỚC THẢI Ở THÀNH PHỐ HUẾ 41 2.2.1 Thực trạng ô nhiễm môi trường nước ở Thành Phố Huế 41
2.2.2 Thực trạng quản lý môi trường nước ở Thành Phố Huế 45
Đại học Kinh tế Huế
Trang 52.3 KHẢO SÁT, ĐỀ XUẤT MỨC PHÍ NƯỚC THẢI TẠI PHƯỜNG THUẬN
THÀNH – THÀNH PHỐ HUẾ 48
2.3.1 Khảo sát áp dụng mức phí nước thải tại phường Thuận Thành 48
2.3.2 Giả định áp dụng một mức phí nước thải mới tại phường Thuận Thành 50
CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG PHÍ NƯỚC THẢI TRONG CÔNG TÁC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG 51
3.1 NHỮNG GIẢI PHÁP ĐỐI VIỆC THU PHÍ THEO CÔNG THỨC ĐỀ XUẤT ĐỐI VỚI VIỆC THỰC HIỆN PHÍ BVMT ĐỐI VỚI NƯỚC THẢI 51
3.2 NHỮNG GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG QUẢN LÝ VÀ BVMT TRONG VIỆC THU PHÍ NƯỚC THẢI 52
3.2.1 Đối với Chi Cục BVMT 52
3.2.2 Đối với chính quyền địa phương 53
3.2.3 Đối với người dân phường Thuận Thành 53
PHẦN III: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 55
1 Kết luận 55
2 Kiến nghị 56
TÀI LIỆU THAM KHẢO 57
Đại học Kinh tế Huế
Trang 6DANH MỤC SƠ ĐỒ, ĐỒ THỊ
Đồ thị 2.2: Phí ô nhiễm và khuyến khích xử lý ô nhiễm 16
Sơ đồ 3.3: Hệ thống kinh tế và hệ thống hỗ trợ sự sống 23
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU Bảng 4.2.1: Hệ số đặc trưng của nền kinh tế 31
Bảng 4.2.2: Hệ số chịu tải môi trường 32
Bảng 4.2.3: Xuất phí đã áp dụng ở các nước OECD và các nước ASEAN 33
Bảng 4.3.1: Mức phí đối với từng chất có trong nước thải 36
Bảng 4.3.2: Mức phí đối với từng môi trường tiếp nhận 36
Bảng 4.3.2: Giá trị giới hạn cho phép của các thông số và nồng độ các chất ô nhiễm trong nước mặt 37
Bảng 3.2.3.1: Tổng số doanh nghiệp nộp phí BVMT 48
Bảng 3.2.3.2: Một số doanh nghiệp nộp phí trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế 48
Đại học Kinh tế Huế
Trang 7DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
TNHH : Trách nhiệm hữu hạn
MT&CTĐT : Môi trường và Công trình đô thị
VSMT : Vệ sinh môi trường
Đại học Kinh tế Huế
Trang 8TÓM TẮT
Thu phí bảo vệ môi trường đối với các chất gây ô nhiễm là một công cụ quản lý
được các nhà quản lý môi trường Việt Nam quan tâm nhiều trong những năm gần đây
Việc xây dựng một chiến lược thích hợp để triển khai có hiệu quả các chương trìnhnày vì vậy rất cần thiết
Nước là nhu cầu tất yếu của mọi sinh vật Không có nước cuộc sống trên trái đất
không thể tồn tại được Hàng ngày trung bình mỗi người cần từ 3-10 lít đáp ứng chonhu cầu ăn uống và sinh hoạt hằng ngày Trong sinh hoạt nước cấp dùng đáp ứng nhucầu sinh hoạt ăn uống, vệ sinh, các họat động giải trí, và các họat động công cộng nhưcứu hỏa, phun nước, tưới đường…còn trong công nghiệp, nước cấp được dùng choquá trình làm lạnh, sản xuất thực phẩm như đồ hộp, nước giải khát, rượu… Hầu nhưmọi ngành công nghiệp đều sử dụng nước cấp như là một nguồn nguyên liệu không gìthay thế được trong sản xuất
Đề tài tìm hiểu thực trạng và quản lý chất lượng môi trường trên địa bàn Thành
Phố Huế Từ đó tìm hiểu cách thức tính phí nước thải dựa vào công thức tổng quát vàNghị định 67/2003NĐ-CP Khảo sát và đề xuất mức phí nước thải sinh hoạt tại
Phường Thuận Thành – Thành Phố Huế
Đề tài đã sử dụng các phương pháp phục vụ cho mục đích nghiên cứu nghiên cứu:
- Phương pháp điều tra, thu thập số liệu
- Phương pháp phỏng vấn
- Phương pháp đánh giá ngẫu nhiên CVM
- Phương pháp phân tích và xử lý số liệu thống kê.Đại học Kinh tế Huế
Trang 9PHẦN I ĐẶT VẤN ĐỀ
1 Lý do chọn đề tài
Ở Việt Nam hiện nay có thể nói rằng vấn đề môi trường đã là một vấn đề thời sự
nóng bỏng trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Ngày nay cùng với
sự hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu đòi hỏi chúng ta phải có những nổ lực pháttriển, để nhanh chóng thoát ra khỏi đói nghèo, đưa nền kinh tế bắt kịp mặt bằng chungcủa khu vực và thế giới Tuy nhiên cùng với những nổ lực phát triển đó là vấn đề môi
trường đang bị đe doạ nghiêm trọng, lợi ích kinh tế đã làm lu mờ đi ý thức bảo vệ môitrường đặc biệt là trong bối cảnh nền kinh tế thị trường hiện nay
Nước là nhu cầu tất yếu của mọi sinh vật Không có nước cuộc sống trên trái đất
không thể tồn tại được Hàng ngày trung bình mỗi người cần từ 3-10 lít đáp ứng chonhu cầu ăn uống và sinh hoạt hằng ngày Trong sinh hoạt nước cấp dùng đáp ứng nhucầu sinh hoạt ăn uống, vệ sinh, các họat động giải trí, và các họat động công cộng nhưcứu hỏa, phun nước, tưới đường…còn trong công nghiệp, nước cấp được dùng choquá trình làm lạnh, sản xuất thực phẩm như đồ hộp, nước giải khát, rượu… Hầu nhưmọi ngành công nghiệp đều sử dụng nước cấp như là một nguồn nguyên liệu không gìthay thế được trong sản xuất Tùy thuộc vào mức độ phát triền công nghiệp và mứcsinh hoạt cao thấp của mọi cộng đồng mà nhu cầu về nước cấp với số lượng và chất
lượng khác nhau
Ngày nay với sự phát triển của công nghiệp, đô thị và sự bùng nổ dân số nguồn
nước càng ngày bị ô nhiễm và cạn kiệt…Vì thế con người cần phải biết cách xử lý các
nguồn nước cấp để đáp ứng cả về chất lượng lẫn số lượng cho sinh hoạt hằng ngày vàsản xuất công nghiệp
Hiện nay phí thu nước thải của Việt Nam còn rất thấp (không quá 10% giá bán
nước sạch sinh hoạt-Nghị định 67/2003NĐ-CP), chỉ có tăng phí nước thải mới góp
phần bảo vệ và cải thiện được chất lượng nước Vấn đề được đặt ra là phải tăng phí
bao nhiêu Đề tài này tìm hiểu phương pháp tính phí và chọn phường Thuận Thành –
thành phố Huế là nơi có nhiều điểm ô nhiễm nguồn nước do chất thải sinh hoạt làm địa
Đại học Kinh tế Huế
Trang 10bàn khảo sát mức phí nước thải trong việc quản lý môi trường.
2 Mục đích nghiên cứu
Tìm hiểu hệ thống thu phí và cách tính phí nước thải
Tìm hiểu mức độ hiểu biết của người dân về phí nước thải, và từ đó đề xuất mộtmức phí đối với nước thải sinh hoạt trong công tác bảo vệ môi trường
Nghiên cứu tìm hiểu mức thu phí nước thải trên địa bàn thành phố Huế, và hiệuquả của việc thu phí nước thải góp phần vào việc bảo vệ môi trường
Đưa ra các giải pháp, đề xuất, kiến nghị giúp các cơ quan chuyên môn có phương
pháp ứng dụng khoa học hơn, tiết kiệm hơn và hiệu quả hơn đối với việc quản lý, giámsát chất lượng nước thải sinh hoạt
3 Đối tượng nghiên cứu
Hệ thống phí đối với nước thải công nghiệp, cách thức xây dựng công thức tính phí
Người dân phường Thuận Thành xã nước thải sinh hoạt ra môi trường xung quanh.Các quy định liên quan đến mức thu phí nước thải và quản lý môi trường nướctrên địa bàn thành phố
Cộng đồng cũng như chính quyền địa phương bị ảnh hưởng xung quanh khu vựcnghiên cứu
4 Phạm vi nghiên cứu
4.1 Phạm vi nội dung
Đề tài này tập trung nghiên cứu hệ thống thu phí nước bảo vệ môi trường
Khảo sát mức phí nước thải đối với các hộ gia đình phường Thuận Thành – thànhphố Huế
4.2 Phạm vi không gian
Nghiên cứu tập trung vào mô hình tính phí nước thải và người dân phườn ThuậnThành – Thành phố Huế
4.3 Phạm vi thời gian
Nghiên cứu này được thực hiện từ tháng 12/2010 đến tháng 4/2011
5 Phương pháp nghiên cứu
Đại học Kinh tế Huế
Trang 115.1 Phương pháp điều tra, thu thập số liệu
+ Phương pháp lấy mẫu: 40 hộ gia đình chọn ngẫu nhiên của phường thuận Thành
+ Hình thức điều tra: phỏng vần trực tiếp nhân viên nhà máy cấp thoát nước và
đại diện hộ gia đình
+ Số lượng mẫu điều tra: 40 mẫu
5.2 Phương pháp phân tích và xử lý số liệu thống kê
Kết quả điều tra sẽ được xử lý, tổng hợp và phân tích trên máy tính dựa trên cácphần mềm ứng dụng Word, Excel…
Đại học Kinh tế Huế
Trang 12PHẦN II NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ QUẢN
LÝ MÔI TRƯỜNG VÀ PHÍ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG
1.1 QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG
1.1.1 Khái niệm môi trường
1.1.1.1 Môi trường
"Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và yếu tố vật chất nhân tạo quan hệ mậtthiết với nhau, bao quanh con người, có ảnh hưởng tới đời sống, sản xuất, sự tồn tại,phát triển của con người và thiên nhiên." (Theo Điều 1, Luật Bảo vệ Môi trường củaViệt Nam)
Môi trường sống của con người theo chức năng được chia thành các loại:
Môi trường tự nhiên bao gồm các nhân tố thiên nhiên như vật lý, hoá học, sinh
học, tồn tại ngoài ý muốn của con người, nhưng cũng ít nhiều chịu tác động của conngười Đó là ánh sáng mặt trời, núi sông, biển cả, không khí, động vật, thực vật, đất,
nước Môi trường tự nhiên cho ta không khí để thở, đất để xây dựng nhà cửa, trồngcây, chăn nuôi, cung cấp cho con người các loại tài nguyên khoáng sản cần cho sản
xuất, tiêu thụ và là nơi chứa đựng, đồng hoá các chất thải, cung cấp cho ta cảnh đẹp đểgiải trí, làm cho cuộc sống con người thêm phong phú
Môi trường xã hội là tổng thể các quan hệ giữa người với người Đó là những luật
lệ, thể chế, cam kết, quy định, ước định ở các cấp khác nhau như: Liên Hợp Quốc,Hiệp hội các nước, Quốc gia, tỉnh, huyện, cơ quan, làng xã, họ tộc, gia đình, tổ nhóm,các tổ chức tôn giáo, tổ chức đoàn thể, Môi trường xã hội định hướng hoạt động của
con người theo một khuôn khổ nhất định, tạo nên sức mạnh tập thể thuận lợi cho sự phát
triển, làm cho cuộc sống của con người khác với các sinh vật khác
Ngoài ra, người ta còn phân biệt khái niệm môi trường nhân tạo, bao gồm tất cả
các nhân tố do con người tạo nên, làm thành những tiện nghi trong cuộc sống, như ô
tô, máy bay, nhà ở, công sở, các khu vực đô thị, công viên nhân tạo
Đại học Kinh tế Huế
Trang 13Môi trường theo nghĩa rộng là tất cả các nhân tố tự nhiên và xã hội cần thiết cho
sự sinh sống, sản xuất của con người, như tài nguyên thiên nhiên, không khí, đất,
nước, ánh sáng, cảnh quan, quan hệ xã hội
Môi trường theo nghĩa hẹp không xét tới tài nguyên thiên nhiên, mà chỉ bao gồm các
nhân tố tự nhiên và xã hội trực tiếp liên quan tới chất lượng cuộc sống con người Ví dụ:
Môi trường của học sinh gồm nhà trường với thầy giáo, bạn bè, nội quy của trường, lớp
học, sân chơi, phòng thí nghiệm, vườn trường Môi trường của tổ chức xã hội như Đoàn,
Đội với các điều lệ hay gia đình, họ tộc, làng xóm với những quy định không thành văn,
chỉ truyền miệng nhưng vẫn được công nhận, thi hành và các cơ quan hành chính các cấpvới luật pháp, nghị định, thông tư, quy định
Tóm lại, môi trường là tất cả những gì có xung quanh ta, cho ta cơ sở để sống vàphát triển
1.1.1.2 Chức năng của môi trường
Môi trường có các chức năng cơ bản sau:
- Môi trường là không gian sống của con người và các loài sinh vật
- Môi trường là nơi cung cấp tài nguyên cần thiết cho cuộc sống và hoạt động sảnxuất của con người
- Môi trường là nơi chứa đựng các chất phế thải do con người tạo ra trong cuộcsống và hoạt động sản xuất của mình
- Môi trường là nơi giảm nhẹ các tác động có hại của thiên nhiên tới con người
và sinh vật trên trái đất
- Môi trường là nơi lưu trữ và cung cấp thông tin cho con người
Con người luôn cần một khoảng không gian dành cho nhà ở, sản xuất lương thực
và tái tạo môi trường Con người có thể gia tăng không gian sống cần thiết cho mìnhbằng việc khai thác và chuyển đổi chức năng sử dụng của các loại không gian khác
như khai hoang, phá rừng, cải tạo các vùng đất và nước mới Việc khai thác quá mức
không gian và các dạng tài nguyên thiên nhiên có thể làm cho chất lượng không giansống mất đi khả năng tự phục hồi
Đại học Kinh tế Huế
Trang 141.1.2 Khái niệm quản lý môi trường
Hiện nay chưa có một định nghĩa thống nhất về quản lý môi trường
Theo một số tác giả, thuật ngữ về quản lý môi trường bao gồm hai nội dungchính: quản lý nhà nước về môi trường và quản lý các doanh nghiệp, khu vực dân cư
về môi trường Trong đó, nội dung thứ hai có mục tiêu chủ yếu là tăng cường hiệu quảcủa hệ thống sản xuất (hệ thống quản lý môi trường theo ISO 14000) và bảo vệ sứckhỏe của người lao động, dân cư sống trong khu vực chịu ảnh hưởng của các hoạt
động sản xuất Phân tích một số định nghĩa, có thể thấy quản lý môi trường là tổng hợp
các biện pháp thích hợp, tác động và điều chỉnh các hoạt động của con người, với mục
đích chính là giữ hài hòa quan hệ giữa môi trường và phát triển, giữa nhu cầu conngười và chất lượng môi trường, giữa hiện tại và khả năng chịu đựng của trái đất -
“phát triển bền vững”
Quản lý môi trường được thực hiện bằng tổng hợp các biện pháp: luậ pháp, chínhsách, kinh tế, kỹ thuật, công nghệ, xã hội, văn hóa, giáo dục… Các biện pháp này cóthể đan xen, phối hợp, tích hợp với nhau tùy theo điều kiện cụ thể của vấn đề đặt ra.Việc quản lý môi trường được thực hiện ở mọi quy mô: toàn cầu, khu vực, quốc gia,tỉnh, huyện, cơ sở sản xuất, hộ gia đình,…
1.1.3 Mục tiêu quản lý môi trường
Mục tiêu quản lý môi trường là phát triển bền vững, giữ cho sự cân bằng giữakinh tế xã hội và bảo vệ môi trường Nói cách khác, phát triển kinh tế xã hội tạo ratiềm lực kinh tế để BVMT, còn BVMT tạo ra các tiềm năng tự nhiên và xã hội mớicho công cuộc phát triển kinh tế xã hội trong tương lai Tùy thuộc vào điều kiện tựnhiên, kinh tế xã hội, hệ thống pháp lý, mục tiêu phát triển ưu tiên của từng quốc gia,mục tiêu quản lý môi trường có thể thay đổi theo thời gian và có những ưu tiên riêng
đối với mỗi quốc gia
Theo chỉ thị 36 CT/TW của Bộ Chính Trị, Ban chấp hành trung ương Đảng Cộngsản Việt Nam, một số mục tiêu cụ thể của công tác quản lý môi trường Việt Nam hiệnnay là:
- Khắc phục và phòng chống suy thoái, ô nhiễm môi trường, phát sinh trong cáchoạt động sống của con người
Đại học Kinh tế Huế
Trang 15- Hoàn chỉnh hệ thống văn bản luật pháp bảo vệ môi trường, ban hành các chínhsách về phát triển kinh tế xã hội phải gắn với bảo vệ môi trường, nghiêm chỉnh thihành luật BVMT.
- Tăng cường công tác quản lý nhà nước về môi trường từ Trung ương đến địa
phương, công tác nghiên cứu, đào tạo cán bộ về môi trường
- Phát triển đất nước theo các nguyên tắc phát triển bền vững được hội nghị
Phí BVMT là khoản thu của nhà nước nhằm bù đắp một phần chi phí thường
xuyên và không thường xuyên về xây dựng, bảo dưỡng, tổ chức quản lý hành chính
của nhà nước đối với hoạt động của người nộp thuế, ví dụ như phí xử lý nước thải, khíthải, chôn lấp và phục hồi môi trường trên bãi rác,… Phí môi trường có vai trò quantrọng nhất trong kiểm soát ô nhiễm công nghiệp Phí môi trường được tính dựa vào:
lượng chất ô nhiễm thải ra môi trường, mức tiêu thụ nguyên nhiên liệu gây ô nhiễm,
tổng doanh thu hoặc tổng sản lượng hàng hóa, lợi nhuận của doanh nghiệp
Khác với thuế môi trường, phần thu của phí môi trường chỉ được chi cho các hoạt
động bảo vệ môi trường Dựa vào đối tượng đánh thuế và phí có thể tổng hợp thành sơ
đồ sau:
Các loại phí bảo vệ môi trường:
- Phí ô nhiễm đánh vào nguồn gây ô nhiễm
- Phí ô nhiễm đánh vào sản phẩm gây ô nhiễm
- Phí đánh vào người sử dụng
Đại học Kinh tế Huế
Trang 161.2.2 Căn cứ thực hiện phí BVMT
1.2.2.1 Căn cứ vào lý thuyết xác định mức thải và phí xả thải
Về lý thuyết, phí xả thải có một số ưu điểm:
- Khuyến khích cơ sở sản xuất đầu tư giảm ô nhiễm liên tục với chi phí thấp hơn
- Kích thích cơ sở sản xuất đầu tư vào công nghệ kiểm soát ô nhiễm mới
- Tạo ra thu nhập để tài trợ và nâng cao các hoạt động giám sát và cưỡng chếthực hiện
- Ngoài ra, các phí xả thải có thể bù đắp, ít nhất là một phần cho các phí tổn
không được thanh toán như chi phí môi trường phát sinh từ những chất ô nhiễm trong
mức nước thải cho phép tuy nhiên vẫn gây tổn hại cho môi trường xung quanh
Đồ thị 2.2: Phí ô nhiễm và khuyến khích xử lý ô nhiễm
Phí phát thải cũng có một số hạn chế:
- Doanh nghiệp có khuynh hướng thích kiểm soát ô nhiễm thông qua các tiêuchuẩn hơn là thông qua hệ thống lệ phí vì việc trả phí sẽ làm cho chi phí sản xuất củadoanh nghiệp tăng lên
- Phí được doanh nghiệp tính vào giá thành sản phẩm, điều này có thể dẫn đếnviệc mà các nhà kinh tế học gọi là phân phối thụt lùi
- Việc quy giá trị bằng tiền cho các tổn thất gây ra bởi ô nhiễm thường khó đượcchấp nhận
Đại học Kinh tế Huế
Trang 17- Việc định ra mức phí bằng với chi phí biên thiệt hại do ô nhiễm gây ra sẽ rấtphức tạp vì mức độ gây tổn thất của mỗi nguồn ô nhiễm đối với môi trường xung
quanh không đồng nhất như nhau Điều này lại có thể dẫn đến cạnh tranh giảm phí
giữa các khu vực vì mục tiêu phát triển kinh tế và vì vậy làm tổn hại đến nổ lực cảithiện môi trường tại một số vùng
- Cơ quan quản lý của chính quyền địa phương thường không đủ mạnh để xử lýcác quy hoạnh, phân tích, cũng như giám sát cưỡng chế thi hành hay giải quyết cáctranh chấp thương lượng liên vùng phức tạp có liên quan đến hệ thống phí
Chế độ phí được thiết kế để tăng nguồn thu ngân sách sử dụng vào mục đíchcung cấp tài chính cho hoạt động bảo vệ và nâng cao chất lượng môi trường Do vậy,phần thu nhập từ phí phần lớn được dành cho các mục đích bảo vệ môi trường cụ thể
hơn là đóng góp chung vào tổng nguồn thu ngân sách nhà nước
1.2.2.2 Căn cứ trên nguyên tắc PPP
Theo định nghĩa chính thức khởi xướng đầu tiên bởi khối OECD, nguyên tắc
“người gây ô nhiễm phải trả” là “nguyên tắc được dùng để phân bổ chi phí cho cácbiên pháp ngăn ngừa và kiểm soát ô nhiễm nhằm khuyến khích việc sử dụng hợp lý
nguồn tài nguyên khan hiếm và tránh làm ảnh hưởng tới đầu tư và thương mại quốctề” (OECD, 1975) Nguyên tắc “người gây ô nhiễm phải trả tiền” được hiểu là những
người gây ô nhiễm phải chịu các chi phí thực hiện các biện pháp kiểm soát và ngăn
ngừa ô nhiễm được quyết định bởi cơ quan có chức tránh của chính quyền nhằm đảmbảo môi trường trong trạng thái chấp nhận được
Theo định nghĩa của PPP, người ô nhiễm phải trả cũng hàm ý là không chỉ cóphương tiện thuế và phí được sử dụng để thực hiện PPP Sự chi trả bởi người gây ô
nhiễm có thể diễn đạt như bất cứ trách nhiệm tài chính nào của người gây ô nhiễm vớicác biện pháp xử lý ô nhiễm Ngay khi người gây ô nhiễm buộc phải thực hiện cácbiện pháp kiểm soát ô nhiễm và do đó gây ô nhiễm ít hơn, thì cũng có thể nói rằng PPP
là có hiệu lực Do vậy, trong tập hợp các công cụ chính sách môi trường cũng có một
số công cụ có thể giúp đạt được mục đích này Kết quả là PPP có thể được áp dụngbằng nhiều công cụ từ các quy định luật pháp trực tiếp đến thuế và phí (xem
OECD1975) Trong các trường hợp được áp dụng, những công cụ này không tương
Đại học Kinh tế Huế
Trang 18đương nhau khi xét trên khía cạnh tính hiệu lực và tính hiệu quả do mức độ áp dụng
các yêu cầu của PPP của những công cụ này cũng khác nhau
1.2.2.3 Căn cứ trên nguyên tắc BPP
Nếu như nguyên tắc người gây ra ô nhiễm phải trả tiền đòi hỏi các chủ thể gây ra ônhiễm môi trường phải chịu chi phí cho hậu quả môi trường mình gây ra thì ngược lạinguyên tắc người hưởng thụ phải trả tiền lại cho rằng những người được hưởng lợi từ
môi trường phải trả một khoản tiền cho sự hưởng lợi đó Ta thấy rằng nguyên tắc người
gây ô nhiễm phải trả tiền mang tính chất khắc phục, xử lý cuối đường ống hậu quả củachủ thể hoạt động gây ra ô nhiễm môi trường thì với nguyên tắc BPP lại mang tính chấtphòng ngừa là chính ở đây người được hưởng thụ môi trường cũng phải trả tiền
Thực hiện nguyên tắc BPP trong việc áp dụng các công cụ kinh tế trong quản lý
môi trướng sẽ tạo ra môt khoản thu đáng kể cho quỹ bảo vệ môi trường Với ý thứcmôi trường ngày càng cao và tốc độ ô nhiễm môi trường nhanh chóng hiện nay thì
ngày càng có nhiều người muốn hưởng thụ môi trường trong lành từ đó họ sẽ sẵn sàngchấp nhận bỏ ra một khoản chi phí cho việc hưởng thụ đó Tuy nhiên khi thực hiệnnguyên tắc này lại không khuyến khích được chủ thể hành động có trách nhiệm bảo vệ
môi trường trước hành động của mình, và việc sử dụng nguyên tắc này cũng khôngđược công bằng trong khi có nhiều người không mong muốn trả tiền cho cải thiện môitrường hoặc họ không có khả năng chi trả Nhưng họ lại vẫn được hưởng ngoại ứng tử
việc chi trả của những người sẵn lọng chi trả cho việc hưởng thụ môi trường của họ
Ví dụ khi chúng ta đến khu du lịch Hạ Long thì phải mua vé vào cửa và như vậy tức là
chúng ta đã trả chi phí cho việc hưởng thụ cảnh quan môi trường trong lành ở Hạ
Long Với số tiền thu được này các nhà quản lý khu du lịch Hạ Long sẽ dùng nó để cảithiện và bảo vệ môi trường khu du lịch tránh khỏi những ô nhiễm có thể xảy ra Nhưngmột vấn đề đặt ra là những người sống sở tại họ không hề mất một khoản chi phí nào (không mất tiền vé) nhưng họ vẫn được hưởng một bầu không khí trong lành và thưởngngoạn cảnh đẹp
Trong tương lai nguyên tắc BPP sẽ là một trong những nguyên tắc cơ bản cho
các chính sách bảo vệ môi trường Vì mục đích cuối cùng của nguyên tắc này là hướngtới nhằm bảo vệ môi trường nên nó ngày càng được các nước trên thế giới quan tâmchú ý trong công tác quản lý môi trường
Đại học Kinh tế Huế
Trang 191.3 PHÍ NƯỚC THẢI
1.3.1 Khái niệm và phân loại nước thải
1.3.1.1 Khái niệm nước thải
Theo Tiêu chuẩn Việt Nam 5980-1995 và ISO 6107/1-1980: Nước thải là nước
đã được thải ra sau khi đã sử dụng hoặc được tạo ra trong một quá trình công nghệ và
không còn giá trị trực tiếp đối với quá trình đó
1.3.1.2 Phân loại nước thải
1.3.1.2.1 Nước thải sinh hoạt
Nước thải sinh hoạt bao gồm nước thải đen và nước thải xám Nước thải từ toiletđược gọi là nước thải đen Nước thải đen chứa hàm lượng cao chất rắn và một lượngđáng kể thức ăn cho vi khuẩn (nitơ và phốt pho) Nước thải đen có thể được tách
thành hai phần: phân và nước tiểu Mỗi một người, hàng năm có thể thải ra trung bình
4 kg N và 0,4 kg P trong nước tiểu và 0,55 kg N và 0,18 kg P trong phân
Nước thải xám bao gồm nước giặt rũ quần áo, tắm rửa và nước sử dụng trong nhà
bếp Nước từ trong nhà bếp có thể chứa lượng lớn chất rắn và dầu mỡ
1.3.1.2.1 Nước thải công nghiệp
Rất khó phân loại nước thải từ tất cả các ngành công nghiệp Mỗi một ngànhcông nghiệp có nước thải đặc trưng của ngành đó Ví dụ: nước thải của nành côngnghiệp dệt nhuộm chứa các chất hữu cơ mang màu và một số hóa chất độc hại khóphân hủy Nước thải của các cơ sở xi mạ chứa hàm lượng kim loại nặng cao và có pHthấp Nước thải chế biến thực phẩm chủ yếu chứa các hợp chất hữu cơ dễ phân hủybằng vi sinh
1.3.2 Kinh nghiệm thực hiện phí BVMT ở một số quốc gia
Hiện nay, ở nhiều nước trên thế giới đã sử dụng các công cụ kinh tế nhắmkhuyến khích hành vi tích cực đối với môi trường Những khuyến khích kinh tế mà cáccông cụ kinh tế tạo ra dưới các dạng sau:
- Thay đổi trực tiếp các mức giả cả hoặc chi phí
- Thay đổi gián tiếp các mức giá cả hoặc chi phí thông qua biện pháp tài chínhhoặc thuế khóa, ngân sách
- Tạo lập thị trường và hỗ trợ thị trường
Đại học Kinh tế Huế
Trang 201.3.2.1 Phương pháp tính phí nước của các nước OECD
Nếu chúng ta mở rộng định nghĩa các công cụ khuyến khích kinh tế, nghĩa là nếu
chúng ta đưa vào cả các công cụ tài chính và thuế khóa ngân sách không nhắm làm biếnđổi trực tiếp hành vi người gây ô nhiễm và những người sử dụng tài nguyên thì ta sẽ có
một danh sách đáng kể các loại cung cụ kinh tế quản lý môi trường
Opshoor và Vos đã tiến hành khảo sát tổng quát về tình hình về sử dụng cung cụ
kinh tế khuyến khích tài chính của sáu nước(ý, Thụy Điển, Mỹ, Pháp, Đức, Hà Lan),kết quả khảo sát cho thấy có tổng 85 công cụ loại này đã được sử dụng, trung bình có
14 công cụ cho mỗi quốc gia Khoảng 50% này là phí/thuế, chỉ khoảng 30% là trợ giá
và số còn lại là các loại khác như hệ thống ký thác hoàn trả và các chương trìnhchuyển nhượng
Trong số đó, những công cụ khuyến khích kinh tế thành công nhất là phí ô nhiễm
nước ở Hà Lan, một số kinh nghiệm của Mỹ trong việc chuyển nhượng giấy phép thải
và một số hệ thống ký thác hoàn trả ở Thụy Điển
Ở Pháp việc sử dụng hình thức phí/lệ phí không được khuyến khích bởi suất phí
và lệ phí thấp Việc tăng suất phí và lệ phí đối với các chất gây ô nhiễm nguốn nướcbởi các nghành công nghiệp đã bị phản đối kịnh liệt vì họ không muốn phải chịu thêmgánh nặng về tài chính Đây là điểm yếu của hệ thống phí, lệ phí ở Pháp Người gây ônhiễm sẵn sàng thực hiện các biện pháp chống ô nhiễm nếu họ được giúp đỡ về tài
chính nhưng lại không muốn chịu các khoản đóng góp cao hơn để tạo nguồn cho sự hỗ
trợ tài chình này
Ở Đức, Italia, hình thức phí , lệ phí đánh vào chất gây ô nhiễm và nguồn gây ô
nhiễm lại được sự ủng hộ của quần chúng, bởi vì phí, lệ phí đánh vào các chất gây ônhiễm như các chất lắng đọng, các chất có thể bị oxy hóa, thủy ngân, cadimi…thì saukhi công bố suất lệ phí, nếu doanh nghiệp nào tuân thủ đầy đủ các tiêu chuẩn về lượngphát thải, doanh nghiệp đó sẽ được giảm 50% phí và lệ phí
1.3.2.2 Phương pháp tính phí nước thải ở các nước đang phát triển
Đến nay, hệ thống quản lý môi trường ở các nước đang phát triển chủ yếu vẫn
dựa vào các công cụ mệnh lệnh kiểm soát Tuy nhiên, vài ba năm gần đây do có sự trợgiúp về mặt kỹ thuật và kinh nghiệm của cá nước OECD, một số chính phủ đã bắt đầu
Đại học Kinh tế Huế
Trang 21chú ý thích đáng hơn đến các công cụ kinh tế là các biện pháp mà các nhà kinh tế cho
là có tính hiệu quả cao xét từ góc độ chi phí thực hiện Tuy đã được chú ý ngay từnhững năm 1970, nhưng các công cụ kinh tế chỉ mới áp dụng được trong các nước cónền kinh tế phát triển hơn như: Các nước công nghiệp mới –Nic, Thái Lan, Malaysia,Trung Quốc… với phạm vi còn hạn chế trong một số ngành hoặc lĩnh vực
Hàn Quốc, phí đánh vào nguồn gây ô nhiễm áp dụng từ những năm 1983 đối vớikhí thải và nước thải Ban đầu phí được áp dụng dưới dạng phạt do không thực hiệncam kết Cơ quan môi trường (nay là Bộ môi trường) được quyền phạt tiền các cơ sởgây ô nhiễm nếu như vi pham tiêu chuẩn môi trường và sau khi có yêu cầu phải cóbiện pháp xử lý vẫn tiếp tục thải vượt tiêu chuẩn cho phép Từ năm 1986, biện pháp
này được thay thế bằng thu phí đối với phần thải vượt tiêu chuẩn Mức phí được xácđịnh trên cở sở nồng độ chất gây ô nhiễm, vị trí thải ô nhiếm, thời gian vượt tiêu chuẩn
cho phép và tùy vào số lần vi phạm tiêu chuẩn
Trung Quốc, đã từ lâu có một hệ thống phí phạt do vi phạm tiêu chuẩn môi
trường Hệ thống này bao gồm tới 100 mức phí đáng vào các nguồn gây ô nhiễm Hệ
thống này được áp dụng theo 3 giai đoạn, bắt đầu từ năm 1979 bằng việc thử nghiệm ởthành phố Suzhou, sau đó được mở rộng ra toàn quốc vào năm 1981 và giai đoạn 3tiếp tục cho tới nay Kết quả của hệ thống này đã giảm tới 60,4% tổng lượng chất gây
ô nhiễm thải ra trong giai đoạn từ 1979-1996
Malaysia, vào những năm 1970, chính phủ đã tiến hành hệ thống thu phí cấp giấyphếp đối với các nhà sản xuất gây ô nhiễm tới nguồn nước Việc thu phí này một phần
mang đặc tính của loại phí gây ô nhiễm bởi mức phí được quy định tùy theo hàmlượng thải các chất gây ô nhiễm ra nguồn nước Hệ thống này được thiết lập dựa trên
cơ sở những tiêu chuẩn về nồng độ của các chất gây ô nhiễm (như BOD, thủy ngân,
crom, chì, đồng,…) cho phép trong nước thải
Philipines, mục tiêu chính của việc thu phí môi trường là nhằm tăng nguồn thu.Mọi cở sở công nghiệp đều là đối tượng của việc áp dụng phí ô nhiễm môi trường.Mức phí thay đổi từ 100 đến 500 $ Philipines (hay 3,86 – 19,31 USD/ m3) Mức phí
xác định phụ thuộc vào mức phí thải, tùy theo lượng thải và nồng độ các chất gây ô
nhiễm Việc áp dụng công cụ kinh tế dựa trên cơ sở thị trường đã được thực hiện từ
Đại học Kinh tế Huế
Trang 22những năm 1980 và ngày càng trở lên phổ biến trong những năm trở lài đây Đầu năm
1997 trường hợp “ thực sự “áp dụng lệ phí sử dụng môi trường được tiến hành và đãvượt qua sự phản đối của các ngành một cách suôn sẻ Đó là trường hợp bắt các nguồn
xả thải nước vào hồ Laguna phải trả tiền Căn cứ để tính lệ phí cho các xí nghiệp lànồng độ BOD có trong nước thải Thành công đạt được trong việc thu phí đối với các
xí nghiệp trên là do tính chất đặc thù của một tổ chức có tên là LLDA - một cơ quancủa chính phủ có quyền lực pháp định rất lớn trong việc quản lý hồ Laguana Sự chống
đối ban đầu của các ngành đã phải lùi bước trước áp lực xã hội và trước thực tế rằng
các khoản chi phí phải nộp chỉ là một phần trong toàn bộ giá thành của các hãng này.Chính phủ Philipin cũng đã thiết lập thị trường về phế thải và thực hiện trợ giácho các hoạt động phòng chống ô nhiếm Chính phủ đã miễn thuế cho các hoạt độngmua sắm thiết bị chống ô nhiễm Việc này được áp dụng thành công nhưng rất hạn chế
và dường như không là yếu tố chính để tạo ra động cơ tài chính cho các xí nghiệp
Chính phủ cũng đã thực hiện chính sách giảm lãi suất và miễn thuế thu nhập cho cáchoạt động kinh doanh bảo vệ môi trường
Mặt khác Philipin còn đưa ra chính sách quản lý rủi ro tài chính đối với các rủi ro
môi trường 5 năm trước đây, chính phủ đã đưa ra việc đánh giá rui ro môi trường vào
công tác thẩm định vốn vay dự án ngân hàng Kết quả cho đên hiện nay đã trở lên phổbiến đối với các ngân hàng tư nhân và ngân hàng quỗ doanh Tuy nhiên kinh nghiệmcho thấy rằng các ngân hàng còn thiếu năng lực trong việc thẩm định môi trường vàcòn ngần ngại chi nhiều cho công tác này Do đó họ chỉ chủ yếu dựa vào đánh giá vềrủi ro môi trường của chính phủ, nếu chính phủ cấp giấy phép về môi trường thì ngânhàng cho rằng những rủi ro môi trường này là chấp nhận được
1.3.3 Tính tất yếu của việc tính phí nước thải
Trong lịch sử phát triển kinh tế của toàn cầu đã cho thấy rằng, giữa phát triểnkinh tế và bảo vệ môi trường có mối quan hệ khăng khít gắn bó không thể tách rời.Hay nói cách khác hệ thống môi trường và hệ thống kinh tế là hai bộ phận của mộtthực thể không thể tách rời Nền kinh tế không thể hoạt động nếu tách khỏi hệ thống
môi trường, hệ thống môi trường đóng vai trò là đầu vào quan trọng cho quá trình hoạtđộng sản xuất và nó là nơi tiếp nhận mọi đầu ra của hệ kinh tế Mối quan hệ được thể
hiện qua sơ đồ sau:
Đại học Kinh tế Huế
Trang 23(Nguồn: Giáo trình kinh tế tài nguyên không tái sinh)
Sơ đồ 3.3: Hệ thống kinh tế và hệ thống hỗ trợ sự sống
Trước đây trong quản lý môi trường các nước trên thế giới chỉ sử dụng những quyđịnh pháp lý để điều chỉnh hành vi liên quan tới môi trường hầu như đã không đạt hiệu
quả yêu cầu như mong muốn Mặc khác các tổ chức môi trường thường xuyên thiếu hụt
ngân sách để hoạt động, cũng như các vấn đề môi trường đòi hỏi một nguồn kinh phí
lớn đôi khi năng lực tài chính của một quốc gia cũng không thể đáp ứng được Mặc kháckhi áp dụng các tiêu chuẩn pháp lý đơn thuần đôi khi quá cứng nhắc, thiếu tính linh hoạttrong quản lý môi trường Để giải quyết vấn đề này các công cụ kinh tế đã ra đời và
được sử dụng trong quản lý môi trường, bước đầu đã mang lại những kết quả to trong nổ
lực hạn chế sự ô nhiễm môi trường xuống mức tối đa có thể Khi áp dụng các công cụkinh tế trong quản lý môi trường làm tăng hiệu quả chi phí, việc sử dụng giá cả để làm
thước đo cho mọi hoạt động liên quan tới môi trường đã làm cho các công ty tìm kiếm
mức phí hiệu quả nhất trong khả năng lựa chọn của họ Một điều nữa là khi áp dụng các
Hệ kinh tế
Hệ môi trường ( đất, nước, không khí, sinh vật,…)
Đại học Kinh tế Huế
Trang 24công cụ kinh tế sẽ khuyến khích nhiều hơn cho việc đổi mới các dây chuyền công nghệ
cũ kỹ lạc hậu bằng các công cụ thân thiện với môi trường hơn Các công cụ kinh tế cũngtạo ra sức hút mạnh mẽ đối với các doanh nghiệp vì nó giúp doanh nghiệp tính toán
được mức chi phí tối ưu trong việc xử lý ô nhiễm môi trường
Ngày nay, việc kết hợp giữa các yếu tố pháp lý vào trong các công cụ kinh tếtrong quản lý môi trường đã và đang mang lại nhiều hiệu quả to lớn trên con đườngphát triển bền vững của nền kinh tế của các quốc gia và toàn cầu
1.3.4 Phương pháp luận cho việc tính phí bảo vệ môi trường đối với nước thải công nghiệp
Chúng ta thấy rằng giữa thuế và phí có sự khác biệt nhất định Tuy nhiên giữa haicông cụ này còn một số điểm chung, đặc biệt là cùng đánh vào người gây ô nhiễm.Mục tiêu đánh thuế và thu phí cũng có nhiều điểm chung, trong đó có việc làm thay
đổi hành vi của người sản xuất và người tiêu dùng theo hướng giảm phát thải ra môitrường Nếu xác định mức thuế và phí thích hợp còn có thể khuyến khích các cơ sở sản
xuất lắp đặt các thiết bị xử lý chất thải trước khi thải ra môi trường Vì vậy, trongchừng mực nào đấy có thể coi phương pháp luận của việc tính thuế và tính phí là
tương đồng với nhau
Như chúng ta đã biết, Pigou, nhà kinh tế học người Anh đã đưa ra một giải pháp
là đánh thuế vào từng đơn vị sản phẩm gây ô nhiễm sao cho không còn có sự chênh
lệch giữa chi phí cá nhân của hãng(MC) và chi phí biên của xã hội(MSC) Gọi t là mức
phí đánh vào 1 đơn vị đo chất thải ta có:
MSC = t + MC hay t = MSC – MC.
Hiệu số (MSC – MC) cũng chính là chi phí ngoại ứng trên một đơn vị sản phẩmtạo ra chất thải (MEC), qua đó ta có:
t = MSC – MC =MEC.
Mức thuế thu được đánh theo sản lượng và do vậy để tối đa hoá lợi nhuận xã hội
thì doanh nghiệp phải chịu mức thuế /phí t * = MSC – MC = MEC tại mức sản lượng
tối ưu của doanh nghiệp đã tính đến chi phí ngoại ứng Với mức thuế này buộc ngườisản xuất phải điều chỉnh hoạt động về mức tối ưu Q* vậy Khi đó sẽ đạt tối đa hoá lợinhuận toàn xã hội
Đại học Kinh tế Huế
Trang 25Khi một doanh nghiệp đầu tư thay đổi qui trình công nghệ để làm giảm thải chất
ô nhiễm mà doanh nghiệp vẫn giữ được sản lượng tối ưu và giảm được ngoại ứngnghĩa là doanh nghiệp đã phải bỏ ra một chi phí để làm giảm chất ô nhiễm hay là xử lýchất thải trước khi thải ra môi trường Chi phí để giảm thải trên một đơn vị lượng chấtthải chính là chi phí cận biên giảm thải ô nhiễm Một khi doanh nghiệp giảm thải chất
ô nhiễm ra môi trường càng nhiều thi chi phí để giảm thải càng cao Đây cùng là căn
cứ cho việc xác định suất phí trên một đơn vị chất thải thích hợp sao cho cả xã hội lẫndoanh nghiệp đều có lợi, hay không bên nào chịu thiệt
Mục tiêu của việc thu phí ô nhiễm môi trường có thể khác nhau, có thể nhằm cảithiện chất lượng môi trường thông qua việc thay đổi hành vi của người gây ô nhiễmhoặc nhằm mục đích tăng doanh thu cho ngân sách nhà nước Nhưng phí môi trườngcần mang tính trung lập, có nghĩa nó không nhằm mục đích buộc các nhà sản xuấtngừng sản xuất, cũng không vì mục tiêu lợi nhuận mà huỷ hoại môi trường
Để xác định phí môi trường cần xem xét thêm mối quan hệ chi phí cận biên làm
giảm ô nhiễm ( MAC ) và phí gây ô nhiễm Chi phí cận biên làm giảm ô nhiễm củamột hãng hay một nghành công nghiệp cho biết chi phí để giảm bớt đi một đơn vị chấtthải Thông thường, chi phí cận biên giảm thải ô nhiễm thấp hơn chi phí môi trường
mà doanh nghiệp phải nộp, doanh nghiệp sẽ lựa chọn phương án đầu tư làm giảm thảichất thải gây ô nhiễm thay vì nộp phí Lý do là phương án này có lợi cho doanh nghiệp
hơn vì nó rẻ hơn Ngược lại, khi MAC cao hơn phí gây ô nhiễm phải trả, lúc đó doanh
nghiệp sẽ lựa chọn phương án nộp phí vì như vậy sẽ rẻ hơn so với việc tiếp tục ápdụng các biện pháp giảm thải gây ô nhiễm Như vậy, doanh nghiệp hầu như phải chụihai lần chi phí, thứ nhất để giảm ô nhiễm chừng nào MAC thấp hơn phí ô nhiễm và
sau đó đóng phí khi MAC lớn hơn mức phí phải đóng.Thực tế cho thấy các doanh
nghiệp và các ngành công nghiệp…thường có hàm chi phí cận biên giảm thải ô nhiễmkhác nhau do thiết bị, công nghệ, đầu vào và khả năng thay thế khác nhau nhiều hoặc
ít Đây cũng là những yếu tố quyết định đến chi phí làm giảm ô nhiễm, để cho một
doanh nghiệp cân nhắc trước khi xây dựng hệ thống xử lý chất thải hay đóng phí.Vấn đề đặt ra đối với xác định phí ô nhiễm là phí có tác dụng khuyến khích cácdoanh nghiệp tiếp tục sản xuất để có lợi nhuận nhưng đồng thời phải đảm bảo được
Đại học Kinh tế Huế
Trang 26tiêu chuẩn chất lượng môi trường qui định Theo kinh nghiệm của nhiều nước thì việc
xác định xuất phí là một vấn đề phức tạp gây nhiều tranh cãi, trong đó nguyên nhân
quan trọng chíh là thiếu thông tin hay thông tin không chính xác dẫn đến không đủ cơ
sở để xác định chi phí thiệt hại và qua đó không thể đưa ra một mức phí chính xác
1.3.5 Các phương pháp tiếp cận tính phí nước thải
1.3.5.1 Tính phí dựa vào tổng lượng nước thải
Tổng lượng chất thải là một trong các căn cứ quan trọng để xác định tổng chi phí
mà các doanh nghiệp phải đóng cho cơ quan quản lý môi trường, đó là cơ sở để cho
các cơ quan quản lý này thu phí bảo vệ môi trường Thông qua việc xác định tổnglượng chất thải (ở đây là tổng lượng nước thải) của từng doanh nghiệp mà chúng ta có
thể biết được lưu lượng nước thải của các doanh nghiệp này lớn haynhor từ đó xác
định mức độ nghiêm trọng của hành vi xả thải đối với môi trường của các doanh
nghiệp này
1.3.5.2 Tính phí dựa vào đặc tính của các chất gây ô nhiễm
Đặc tính của các chất gây ô nhiễm là một trong các yếu tố không thể thiếu để xácđịnh xuất phí cho các doanh nghiệp xả thải Sau đây là một số chất gây hại đặc trưngthường có trong môi trường nước thải của các doanh nghiệp
- Nhu cầu oxy sinh hóa BOD: Đây là chỉ tiêu thông dụng nhất để xác định mức
độ ô nhiễm chất hữu cơ có thể phân hủy bởi vi sinh vật có trong nước thải đô thị và
chất thải công nghiệp Nhu cầu BOD được định nghĩa là nhu cầu oxy cần cho sinh vậttrong quá trình phân hủy các chất hữu cơ Trong thực tế người ta không thể biết lượngoxy cần thiết để phân hủy hoàn toàn chất hữu cơ vì như thế tốn quá nhiều thời gian màchỉ xác định lượng oxy cần thiết trong 5 ngày đầu ở nhiệt độ ủ 200C ký hiệu BOD5.Chỉ tiêu này được chuẩn hóa và sử dụng ở hầu khắp các nước trên thế giới Giá trịBOD lớn nghĩa là mức độ ô nhiễm chất hữu cơ càng cao
- Nhu cầu oxy hóa học COD: Thông số này được dùng để đặc trưng cho hàm
lượng các chất hữu cơ của nước thải và nước tự nhiên COD được định nghĩa là lượng
oxy cần thiết cho quá trình oxy hóa học các chất hữu cơ trong mẫu thành CO2 và nước.Lượng oxy này tương đương với hàm lượng chất hữu cơ có thể bị oxy hóa Thông số
COD biểu thị tất cả các chất hữu cơ, kể cả phần không thể bị oxy hóa bằng vi sinh vật
Do đó có giá trị cao hơn BOD
Đại học Kinh tế Huế
Trang 27- Tổng chất thải rắn lơ lững TSS: Chất rắn lơ lững là các nhân tố ảnh hưởng tiêucực đến tài nguyên thủy sinh đồng thời gây tác hại về mặt cảm quan ( tăng độ đục cho
nước) và gây bồi lắng dòng chảy
1.3.5.3 Tính phí dựa vào hàm lượng các chất gây ô nhiễm
Hàm lượng các chất gây ô nhiễm có trong nước thải cũng là một cơ sở để tính phínước thải phải nộp của các doanh nghiệp Cùng một lượng nước thải như nhau nhưng
nguồn nước thải nào có trong đó hàm lượng các chất độc hại nhiều hơn thì mức phíphải đóng sẽ cao hơn Cũng có các thành phần các chất thải như nhau nhưng nguồnthải của một xí nghiệp A lại có hàm lượng các chất độc hại cao hơn xí nghiệp sản xuất
B như vậy chứng tỏ rằng mức độ gây ô nhiễm môi trường của xí nghiệp A là lớn hơn
xí nghiệp B, do đó A sẽ chịu một mức phí lớn hơn B
1.3.5.4 Tính phí dựa vào hệ số chịu tải môi trường
Hệ số này biểu thị mức độ chịu tải của môi trường của một vùng phụ thuộc vàothực trạng môi trường, tình hình kinh tế xã hội của vùng đó và nó cũng phản ánh mức
độ thiệt hại tiềm tàng tương ứng do ô nhiễm gây ra Khả năng chịu tải của vùng nông
thôn, vùng núi, những vùng không có khu công nghiệp khác với các thành phố lớn vàcác khu công nghiệp Hệ số chịu tải của môi trường sẽ làm tăng hay giảm phí ô nhiễmtùy thuộc vào mức độ chịu tải của môi trường đó
Chúng ta có thể xác định hệ số chịu tải môi trường thông qua việc xác định mật
độ các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh và các cơ quan có nguồn thải hây ô nhiễmmôi trường tiềm tàng và mật độ dân số tại khu vực hay đơn vị hành chính đó Thứ hai
ta có thể xác định hệ số chịu tải dựa vào tiêu chuẩn môi trường quốc gia Thứ ba chúng
ta có thể xác định theo các thành phố, khu vực công nghiệp, khu chế xuất
1.3.5.5 Tính phí dựa vào chi phí biên bỏ ra lắp đặt hệ thống giảm thải
Việc xác định phí gây ô nhiễm nước thương dựa trên cơ sở tính toán chi phí chocác biện pháp xử lý nước thải ra môi trường Cách này trên thức tế rất khó thực hiện
do chi phí biên để giảm thải một đơn vị chất thải rất khác nhau, và là một hàm số phụ
thuộc vào nhiều biến số như tuổi đời, chất lượng của thiết bị, hệ số hiệu quả của thiết
bị Hơn nữa đa số các doanh nghiệp Việt Nam có quy trình sản xuất cũ và thiết bị máymóc của các xí nghiệp khác nhau… Do đó, khó xác định xuất phí chính xác Tuy nhiên
Đại học Kinh tế Huế
Trang 28vẫn có thể ước tính được xuất phí dựa trên phương pháp này bằng cách chọn một sốthiết bị giảm thải dự đoán phù hợp cho các doanh nghiệp Việt nam áp dụng là lấy bìnhquân chi phí tối thiểu của các thiết bị này nhằm giảm thêm một đơn vị chất thải cungloại để xác định xuất phí Thông thường, chi phí biên để giảm thiểu ô nhiễm đối vớimỗi loại chất thải khi nồng độ của nó giảm hay doanh nghiệp sẽ chịu phí càng cao nếugiảm thiểu chất gây ô nhiễm càng nhiều Đối với các doanh nghiệp, chi phí biên đểgiảm thiêu gây ô nhiễm bao giờ cũng phụ thuộc vào quy mô sản xuất.
1.3.5.6 Tính phí dựa vào giá trị ước tính tác hại do một đơn vị chất thải gây ra
Điều này khó thực hiện bởi vì không xác định được chính xác hàm thiệt hại của
chất thải và trên thực tế mức độ thiệt hại của các chất thải nhình chung không thể đotrực triếp, mà đòi hỏi phải tính toán thông qua một số yếu tố trung gian, có khi dễ thấy
nhưng đôi khi lại rất khó thấy
1.3.5.7 Tính phí dựa vào tiêu chuẩn môi trường
Tiêu chuẩn môi trường có thể coi là một chuẩn mực dùng để xác định tráchnhiệm của đối tượng gây ô nhiễm môi trường Nói cách khác khi người sản xuất thảichất ô nhiễm có nồng độ vượt tiêu chuẩn cho phép thì họ đã vi phạm quy định Khi đó,việc xác định mức phí sẽ cao hơn nhiều và được coi như là tiền phạt cho việc vi phạmtiêu chuẩn Tiêu chuẩn môi trường có thể phân theo các vùng khác nhau và theo khả
năng chịu tải của môi trường khác nhau thì khác hau, cho các chất thải và các doanh
nghiệp khác nhau thì khác nhau theo việc các doanh nghiệp sử dụng các công nghệ cũhay mới…
1.4 MÔ HÌNH TÍNH PHÍ BVMT ĐỐI VỚI NƯỚC THẢI VIỆT NAM
1.4.1 Xác định mức phí bằng công thức tính phí tổng quát
T=M.(a 1 x 1 + a 2 x 2 + …+ a n x n ).y.v.z + H
Trong đó:
T: Phí gây ô nhiễm
M: Tổng lượng nước thải trên một đơn vị thời gian
Ai: Xuất phí cho một đơn vi gây ô nhiễm i
Xi: Nồng độ các chất gây ô nhiễm i có trong dòng thải
Y: Hệ số thể hiện khả năng chịu tải của môi trường
Đại học Kinh tế Huế
Trang 29Z: Hệ số thể hiện đặc trưng của nền kinh tế
V: Hệ số thể hiện khả năng kiểm soát ô nhiễm
H: Hằng số
Trong trường hợp có tính đến tiêu chuẩn môi trường thì công thức trên trở thành:
T=M.(a 1 (x 1 -x 01 ) + a 2 (x 2 -x 02 ) + …+ a n (x n -x 0n )).y.v.z + H
Trong đó: Xo là tiêu chuẩn môi trường cho phép xả thải.Đối với các xí nghiệp xả
thải nằm trong tiêu chuẩn cho phép thì không phải tính phí nước thải, đối với các cơ sởkhác dòng thải gây ô nhiễm sẽ phải tính phí nhưng trừ đi phần xả thải nằm trong tiêuchuẩn cho phép xả thải chỉ tính phí cho nồng độ các chất độc hại vượt trên mức tiêuchuẩn cho phép mà thôi
1.4.2 Phân tích các hệ số trong công thức tổng quát
M : Tổng lượng nước thải trong một đơn vị thời gian là lượng nước thải mà cơ sởsản xuất thải ra môi trường trong một đơn vị thời gian có thể là lượng nước thải ratrong một ngày, một tháng hay một năm Lưu lượng nước thải trong các doanh nghiệpthường dao động lớn trong một ngày sản xuất Có 2 phương pháp xác định lưu lượng
nước thải sau đây:
Xác định lưu lượng nước thải trên cơ sở số liệu ghi chép theo dõi sử dụng nước
của từng thiết bị, từng công đoạn và của cả nhà máy Qua bài toán tính cân bằng về
nước có thể tính được lưu lượng nước thải đối với từng thiết bị, từng công đoạn và của
- Biết vận tốc trung bình của dòng Wtb= 0,8 Wbm
- Khi đó ta có lưu lượng nước thải Q = A Wtb , trong đó A là tiết diện của
dòng chảy
Phương pháp này thường dùng để xác định sơ bộ lưu lượng nước thải đối với
những mương hở, chưa có khả năng lắp dụng cụ đo và trên đoạn mương thoát đó cho
Đại học Kinh tế Huế
Trang 30phép xác định tiết diện chảy cũng như không có lắng cặn ở đáy.
Để kiểm tra các số đo lưu lượng nước thải có thể áp dụng cách tính gần đúng:
tổng lượng nước thải = 95% tổng lượng nước cấp
Z: Hệ số đặc trưng của nền kinh tế:
Kinh nghiệm của các nước cho thấy phí ô nhiễm có quan hệ với Chính sách pháttriển kinh tế – xã hội của nhà nước và trình độ khoa học công nghệ trong mỗi thời kỳ.Vấn đề đặt ra đối với phí ô nhiễm môi trường là tạo điều kiện cho các ngành phát triểntrong hiện tại và tương lai Điều này thể hiện ua hệ số đặc trưng của nền kinh tế –ztrong công thức phí tổng quát Ta có hai trường hợp sau:
Các ngành kinh tế được Nhà nước ưu tiên, khuyến khích phát triển
Ví dụ: Các ngành công nghiệp sử dụng công nghệ cao, công nghệ sạch, ngànhcông nghiệp hay kinh tế ít gây ô nhiễm… Không kể chúng thuộc sở hữu Nhà nước, tưnhân hay xí nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài Đối với các ngành kinh tế và khu vực
này nên qui định z trong khoảng 0 < z < 1 tuỳ theo mức độ ưu tiên của Nhà nước,ngành nào được ưu tiên nhất sẽ co hệ số z nhỏ nhất
Các ngành kinh tế mang tính chất nhân tạo
Ví dụ: Các cơ sở y tế, bệnh viện, các xí nghiệp sản xuất hàng hoá phục vụ ngườitàn tật…Đối với trường hợp này, dù khu vực đó công nghệ cao hay công nghệ cũ thìcũng nên áp dụng hệ số z bằng nhau đối với tất cả các doanh nghiệp hoặc cơ quanthuộc diện phải nộp phí ô nhiễm và z nằm trong khoảng 0 < Z <1
Các ngành kinh tế không thuộc các loại trên có hệ số Z=1
Trên cơ sở tham khảo kinh nghiệm của các nước OECDvà các nước lân cận hệ sốđặc trưng cho nền kinh tế Việt Nam thể hiện qua bảng sau:Đại học Kinh tế Huế
Trang 3112 Sản xuất nguyên liệu da, vải giả da 1
15 Chế bíên lâm sản và sản xuất đồ gỗ 1
Nguồn: Giáo trình kinh tế môi trường, nhà xuất bản giáo dục năm 2005
Bảng 4.2.1: Hệ số đặc trưng của nền kinh tế
Y: Hệ số chịu tải môi trường:
Hệ số này biểu thị mức độ chịu tải môi trường của mỗi một vùng phụ thuộc vàothực trạng môi trường khu vực đó Giá trị của Y có thể là:
0<Y<1: Vùng có giá trị nằm trong khoảng này là vùng có môi trường tốt, hay ởmức độ ô nhiễm môi trường theo đánh giá là nằm dưới tiêu chuẩn môi trường và khả
năng hấp thụ, khuếch tán chất thải cao hơn
Y>1: Vùng có giá trị trong khoảng này có khả năng chịu tải môi trường kém hơn
so với vùng trên Chẳng hạn, ở đây có độ tập trung lớn các nhà máy công nghiệp, chất
lượng môi trường và sức khoẻ của dân chúng sẽ bị ảnh hưởng nhiều hơn khi có cùng
một khối lượng chất thải như đối với vùng có Y<1
Đại học Kinh tế Huế