TÓM TẮT NGHIÊN CỨUTên đề tài:“ Thực trạng đói nghèo của các hộ gia đình dân tộc CơTu tại xã Sông Kôn, huyện Đông Giang, tỉnh Quảng Nam” - Đề xuất một số giải pháp phù hợp với địa bàn ngh
Trang 1ĐẠI HỌC HUẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ KHOA KINH TẾ VÀ PHÁT TRIỂN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
THỰC TRẠNG ĐÓI NGHÈO CỦA CÁC HỘ GIA ĐÌNH DÂN TỘC CƠ TU TẠI XÃ
SÔNG KÔN, HUYỆN ĐÔNG GIANG, TỈNH QUẢNG NAM
ZƠ RÂM THỊ NHIẾP
Khóa học: 2007 - 2011
Đại học Kinh tế Huế
Trang 2ĐẠI HỌC HUẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ KHOA KINH TẾ VÀ PHÁT TRIỂN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
THỰC TRẠNG ĐÓI NGHÈO CỦA CÁC HỘ GIA ĐÌNH DÂN TỘC CƠ TU TẠI XÃ
SÔNG KÔN, HUYỆN ĐÔNG GIANG, TỈNH QUẢNG NAM
Sinh viên thực hiện: Giáo viên hướng dẫn:
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành khóa luận này, tôi đã nhận được rất nhiều sự giúp đỡ tận tình của các
tổ chức và cá nhân Với tình cảm chân thành cho phép tôi được bày tỏ lòng biết ơn chânthành tới các thầy giáo, cô giáo và các cán bộ công chức chức trường Đại học kinh tế Huế
đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập cũng như quá trình thực tập Đặcbiệt tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất đến thầy giáo PGS.TS Bùi Dũng Thể,người đã trực tiếp hướng dẫn và dày công giúp đỡ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu vàhoàn thành khóa luận tốt nghiệp này
Tôi xin gửi lời chân thành cảm ơn đến tất cả quý chú bác, anh chị trong UBND xãSông Kôn và bà con nông dân đã nhiệt tình hướng dẫn, tạo điều kiện tốt cho tôi trong suốtquá trình thực tập, thu thập số liệụ và điều tra thực tế
Xin chân thành cảm ơn tất cả các những người thân trong gia đình và bạn bè đã độngviên và giúp đỡ tôi trong suốt thời gian qua
Mặc dù đã có nhiều cố gắng và nhận được nhiều sự giúp đỡ nhưng vói thời gian vànăng lực của bản thân có hạn, khóa luận tốt nghiệp không thể tránh khỏi những sai sót.Tôi kính mong nhận được sự chỉ bảo và đóng góp ý kiến của quý thầy cô và bạn bè đểkhóa luận được hoàn thiện hơn
Một lần nữa tôi xin chân thành cảm ơn!
Huế, ngày 15 tháng 05 năm 2011Sinh viên thực hiện
Zơ Râm Thị NhiếpĐại học Kinh tế Huế
Trang 4MỤC LỤC
PHẦN I ĐẶT VẤN ĐỀ 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu, nhiệm vụ nghiên cứu 2
3 Phương pháp nghiên cứu 2
4 Phạm vi nghiên cứu 3
PHẦN II NỘI DUNG VÀ KẾT QUA NGHIÊN CỨU 4
CHƯƠNG I CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 4
1.1 Cở sở lí luận 4
1.1.1 Khái niệm và đặc điểm của nghèo đói 4
1.1.1.1 Khái niệm về đói nghèo 4
1.1.1.2 Đặc điểm của hộ nghèo 5
1.1.2 Tiêu chí phân định đói nghèo 7
1.1.2.1 Quan niệm của thế giới về đói nghèo 7
1.1.2.2 Quan niệm của Việt Nam về nghèo đói 8
1.1.3 Nguyên nhân dẫn đến đói nghèo 11
1.1.3.1 Nguyên nhân khách quan 11
1.1.3.2 Nguyên nhân chủ quan 12
1.2 Cơ sở thực tiễn 16
1.2.1 Tình hình đói nghèo ở Việt Nam 16
1.2.2 Tình hình đói nghèo của huyện Đông Giang, Tỉnh Quảng Nam 18
1.2.3 Quan điểm của Đảng ta về xóa đói giảm nghèo 20
1.3 Tình hình cơ bản của xã Sông Kôn, huyện Đông Giang, Tỉnh Quảng Nam 23
1.3.1 Vị trí địa lí 23
1.3.2 Điều kiện tự nhiên 23
1.3.2.1khí hậu, thời tiết 23
1.3.2.2 Địa hình, đất đai 24
1.3.2.3 Nguồn nước, thủy văn 24
1.3.3 Điều kiện kinh tế-xã hội 25
1.3.3.1 Dân số và lao động của xã Sông Kôn 25
1.3.3.2 Tình hình sử dụng đất của xã Sông Kôn năm 2008 và 2010 28
1.3.3.3 Tình hình cơ sở hạ tầng của xã Sông Kôn 29
1.4 Đánh giá chung về tình hình cơ bản của xã sông kôn 32
CHƯƠNG II THỰC TRẠNG ĐÓI NGHÈO CỦA CÁC HỘ GIA ĐÌNH DÂN TỘC CƠTU TẠI XÃ SÔNG KÔN, HUYỆN ĐÔNG GIANG, TỈNH QUẢNG NAM 33
2.1 Tình hình đói nghèo của xã Sông Kôn qua 3 năm (2008-2010) 33
Đại học Kinh tế Huế
Trang 52.2 Thực trạng đói nghèo của các hộ dân tộc CơTu ở xã Sông Kôn, huyện Đông Giang,
tỉnh Quảng Nam điều tra năm 2010 37
2.2.1 Giới thiệu phương pháp điều tra3 37
2.2.2 Nguồn lực sản xuất các hộ điều tra 37
2.2.2.1 Nhân khẩu và lao động của các hộ điều tra năm 2010 38
2.2.2.2 Tình hình đất đai của các hộ điều tra năm 2010 41
2.2.2.3 Tình hình trang bị tư liệu sản xuất của các hộ điều tra năm 2010 44
2.2.2.4 Vốn đầu tư cho sản xuất 46
2.2.2.5 Tình hình nhà ở và và phương tiện sinh hoạt của các hộ điều tra năm 2010 47
2.2.3 Tình hình đời sống của các hộ điều tra năm 2010 50
2.2.3.1 Tình hình thu nhập và cơ cấu thu nhập của các hộ điều tra năm 2010 50
2.2.3.2 Tình hình chi tiêu của các hộ điều tra năm 2010 53
2.2.4 Cân đối thu chi của các hộ điều tra năm 2010 55
2.3 Nguyên nhân nghèo đói của các hộ gia đình dân tộc CơTu theo điều tra năm 2010 ở xã Sông Kôn, huyện Đông Giang, Tỉnh Quảng Nam 56
2.3.1 Nguyên nhân khách quan 56
2.3.2 Nguyên nhân chủ quan 56
CHƯƠNG III ĐỊNH HƯỚNG VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP 59
3.1 Phương hướng và mục tiêu 59
3.1.1 Phương hướng 59
3.1.2 Mục tiêu 60
3.2 Các giải pháp cụ thể 61
3.2.1 Giải pháp về đất đai và TLSX cho hộ nghèo 61
3.2.2 Giải pháp về vốn vay 62
3.2.3 Giải pháp về hướng dẫn kỹ thuật làm ăn và chuyển giao công nghệ 62
3.2.4 Giải pháp đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng ở nông thôn 64
3.2.5 Giải pháp về giáo dục và đào tạo 64
3.2.6 Giải pháp về văn hóa, dân số kế hoạch hóa gia đình 64
PHẦN III: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 66
1.Kết luận 66
2 Kiến nghị 67
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Đại học Kinh tế Huế
Trang 6DANH MỤC CÁC THUẬT NGỮ VIẾT TẮT
LĐTB& XH Lao động thương binh và xã hội
PQLI Chỉ số chất lượng vật chất của cuộc sống
DSKHHGĐ Dân số kế hoạch hóa gia đình
Đại học Kinh tế Huế
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1: Chỉ tiêu áp dụng chuẩn nghèo mới phân theo thu nhập của các vùng ở Việt Nam
(2011-2015) 10
Bảng 2: Nguyên nhân nghèo đói phân theo cả nước và chia theo vùng 15
Bảng 3: Tỷ lệ hộ đói nghèo của Việc Nam phân theo thành thị, nông thôn và phân theo vùng qua các năm (2004, 2006, 2007) 17
Bảng 4:Thực trạng đói nghèo của huyện Đông Giang qua 3 năm (2008-2010) 19
Bảng 5: Tình hình dân số và lao động của xã Sông Kôn qua 3 năm (2008-2010) 26
Bảng 6: Tình hình sử dụng đất đai của xã Sông Kôn năm 2008 và năm 2010 28
Bảng 7: Tình hình đói nghèo của xã Sông Kôn qua 3 năm (2008-2010) 34
Bảng 8: Tình hình nhân khẩu và lao động của các hộ điều tra năm 2010 39
Bảng 9: Tình hình đất đai của các hộ điều tra năm 2010 42
Bảng 10: Tình hình trang bị tư liệu sản xuất của các hộ điều tra năm 2010 45
Bảng 11: Tình hình nhà ở và phương tiện sinh hoạt của các hộ điều tra năm 2010 49
Bảng 12: Tình hình thu nhập và cơ cấu của các hộ điều tra năm 2010 52
Bảng 13: Tình hình chi tiêu và cơ cấu chi tiêu của các hộ điều tra năm 2010 54
Bảng 14: Cân đối thu chi của các hộ điều tra năm 2010 55
Bảng 15: Những nguyên nhân chính dẫn đến đói nghèo của các hộ điều tra năm 2010 57
Đại học Kinh tế Huế
Trang 8TÓM TẮT NGHIÊN CỨU
Tên đề tài:“ Thực trạng đói nghèo của các hộ gia đình dân tộc CơTu tại xã Sông
Kôn, huyện Đông Giang, tỉnh Quảng Nam”
- Đề xuất một số giải pháp phù hợp với địa bàn nghiên cứu nhằm góp phần xóa đóigiảm nghèo cho các hộ nông dân trong xã
Phương pháp nghiên cứu
Để nghiên cứu đề tài này, tôi đã sử dụng các phương pháp cơ bản sau
- Phương pháp điều tra chọn mẫu
- Phương pháp thu thập thông tin
- Phương pháp chuyên gia chuyên khảo
Tham khảo ý kiến của cán bộ trong UBND xã, huyện, các ban ngành chuyền môn
có kinh nghiệm trong chỉ đạo, tổ sản xuất, các hộ nông dân sản xuất giỏi để đưa ra cácgiải pháp phù hợp
Dữ liệu phục vụ nghiên cứu
- số liệu thứ cấp: Để hoàn thành đề tài này tôi đã thu thập số liệu thứ cấp từ UBND
xã Sông Kôn, phòng LĐTB&XH huyện Đông Giang và nguồn thông tin từ các đề tài đãđược công bố và các tài liệu sách báo, tạp chí, các trang websit liên quan Ngoài raThamkhảo ý kiến của cán bộ trong UBND xã, huyện, các ban ngành chuyền môn có kinhnghiệm trong chỉ đạo, tổ sản xuất, các hộ nông dân sản xuất giỏi để đưa ra các giải phápphù hợp
Đại học Kinh tế Huế
Trang 9- Số liệu sơ cấp: Mẫu điều tra phục vụ đề tài gồm 60 mẫu, các mẫu này được chọnngẫu nhiên, không trùng lặp Phỏng vấn trực tiếp 60 hộ gia đình tại 3 thôn của xã SôngKôn.
- Qua quá trình nghiên cứu phân tích đề tài thấy được những nguyên nhân gây ra nghèokhó cho các hộ gia đình tại xã Sông Kôn, thấy được thực trạng đời sống, tình hình sản xuấtkinh doanh, tình hình thu chi của các hộ gia đình điều tra tại 3 thôn
- Qua phân tích tìm hiểu thực tế đời sống của các hộ gia đình thì biết được những khókhăn, thuận lợi trong công tác xóa đói giảm nghèo ở xã Sông Kôn, từ đó có cơ sở để đưa ranhững giải pháp và kiến nghị đối với cấp Uỷ Đảng, UBND xã và các ban nghành có liên quannhằm góp phần xóa đói giảm nghèo ngay tại địa bàn xã
Đại học Kinh tế Huế
Trang 10PHẦN I ĐẶT VẤN ĐỀ
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong công cuộc đổi mới, đất nước ta đã được đạt những thành tựu to lớn trong quátrình phát triển kinh tế- xã hội, là một nước được đánh giá có tốc độ phát triển nhanh vàbền vững Đó là nhờ Đảng và nhà nước đã đổi mới cơ chế quản lý, phát triển kinh tếnhiều thành phần, tạo nhiều thuận lợi và nhân tố đa dạng, góp phần ổn định tình hình kinhtế-xã hội của đất nước
Tuy nhiên, đói nghèo đối với nước ta vẫn là một vấn đề hết sức nan giải, đòi hỏi cáccấp các ngành quan tâm giải quyết xóa đói giảm nghèo hướng tới một xã hội phồn thịnh
về kinh tế, lành mạnh về xã hội, kết hợp tăng trưởng kinh tế với công bằng xã hội là mộtvấn đề hàng đầu, cấp thiết hiện nay Xóa đói giảm nghèo là mối quan tâm lớn nhất khôngchỉ riêng ở nước ta mà còn là mối quan tâm lớn của các tổ chức quốc tế, tổ chức phichính phủ và của mỗi quốc gia
Đói nghèo là nổi đau của một tầng lớn người trong mọi xã hội Chênh lệch giàunghèo ngày càng cao, số người đói nghèo ngày càng tăng trong khi GDP tăng gấp 15 lần
so với thế kỷ trước là một biểu hiện bất công nặng nề hơn
Đứng trước tình hình đó, Đảng và nhà nước ta đã có những chương trình mục tiêuđúng đắn nhằm phấn đấu để đất nước ta giữ vững độc lập, nhân dân được ấm no hạnhphúc, ra sức khuyến khích mọi người làm giàu và rất quan tâm đến mục tiêu xóa đói giảmnghèo Đảng và nhà nước ta coi xóa đói giảm nghèo là một chủ trương chiến lược lớn, lànhiệm vụ quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế-xã hội
Sông Kôn là một xã miền núi phía tây nam của huyện Đông Giang, đời sống củangười dân CơTu nơi đây dựa vào nguồn thu nhập chính là từ nông nghiệp, lâm nghiệp,ngư nghiệp thì rất ít, còn từ dịch vụ hầu như là không có, mức sống của người dân nơi đâygặp rất nhiều khó khăn, nhất là những năm bị thiên tai đe dọa, dịch bệnh hoành hành.Thực trạng đời sống của nhân dân còn rất khó khăn Vẫn còn rất nhiều hộ dân thiếu ănvào cuối mùa, và vẫn còn nhiều tình trạng học sinh ở nhà vì không có điều kiện học tiếp,
ốm đau không có điều kiện chữa trị, bôi dưỡng Bên cạnh đó cơ sở hạ tầng như giao thông
Đại học Kinh tế Huế
Trang 11đi lại khó khăn, trang thiết bị phục vụ cho việc khám chữa bệnh cũng như phục vụ choviệc giảng dạy còn thô sơ và thiếu thốn rất nhiều,…Đó là những vấn đề còn tồn tại trongcông tác XĐGN và cũng chính là nguyên nhân gây ra cảnh nghèo đói cho các hộ nôngdân trên địa bàn xã Sông Kôn.
Xuất phát từ những tình hình nói trên và cũng từ những yêu cầu thực tiễn của đời
sống người dân tại địa bàn tôi chọn đề tài: “ Thực trạng đói nghèo của các hộ gia đình
dân tộc CơTu tại xã Sông Kôn, huyện Đông Giang, tỉnh Quảng Nam” để làm đề tài tốt
nghiệp của mình
2 Mục đích nghiên cứu, nhiệm vụ nghiên cứu
- Hệ thống hóa các vấn đề lý luận và thực tiễn có liên quan đến vấn đề nghèo đói củacác hộ nông dân
- Đánh giá thực trạng đói nghèo của các hộ nông dân ở xã Sông Kôn huyện Đông Giangtỉnh Quảng Nam, từ đó tìm ra các nguyên nhân và nhân tố gây ra nghèo đói của các hộ nôngdân tại xã Sông Kôn huyện Đông Giang tỉnh Quảng Nam
- Đề xuất một số giải pháp phù hợp với địa bàn nghiên cứu nhằm góp phần xóa đóigiảm nghèo cho các hộ nông dân trong xã
3 Phương pháp nghiên cứu
Để nghiên cứu đề tài này, tôi đã sử dụng các phương pháp cơ bản sau
- Phương pháp điều tra chọn mẫu
Mẫu điều tra phục vụ đề tài gồm 60 mẫu, các mẫu này được chọn ngẫu nhiên, khôngtrùng lặp
- Phương pháp thu thập thông tin
Thu thập số liệu thứ cấp: Để hoàn thành đề tài này tôi đã thu thập số liệu thứ cấp từUBND xã Sông Kôn, phòng LĐTB&XH huyện Đông Giang và các tài liệu sách báo, tạpchí, các trang websit
- Phương pháp chuyên gia chuyên khảo
Tham khảo ý kiến của cán bộ trong UBND xã, huyện, các ban ngành chuyền môn
có kinh nghiệm trong chỉ đạo, tổ sản xuất, các hộ nông dân sản xuất giỏi để đưa ra cácgiải pháp phù hợp
Đại học Kinh tế Huế
Trang 124 Phạm vi nghiên cứu
- Về mặt không gian: Tôi tiến hành nghiên cứu các hộ nghèo đói của xã Sông Kôntại 3 thôn, Bút Nhót, Cơ Lò và thôn Bền, 8 thôn còn lại K9, K8, Bhồng 1, Bhồng 2, Đào,Bút Nga, Sơn, Bút Tưa vì do điều kiện địa lý và thời gian hạn chế không cho phép mởrộng địa bàn nghiên cứu
- Về mặt thời gian: số liệu phân tích từ năm 2008-2010 và điều tra thực tế năm 2010
- Về nội dung: Nguồn lực sản xuất của các hộ nghèo, thực trạng thu nhập, chi tiêu,nguyên nhân đói nghèo của các hộ điều tra
Đại học Kinh tế Huế
Trang 13PHẦN II NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
CHƯƠNG I
CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Cở sở lí luận
1.1.1 Khái niệm và đặc điểm của nghèo đói
1.1.1.1 Khái niệm về đói nghèo.
Nghèo nhất về phân phối và thu nhập ở một quốc gia nhất định Nói cách khácnghèo đói tương đối là vị trí của một số người hoặc một số hộ gia đình so với thu nhậpbình quân của một nước nơi người đó hay hộ đó sinh sống Nghèo đói được xác định theonhiều cách khác nhau, có thể là những hộ gia đình có mức thu nhập thấp hơn một nửamức thu nhập trung vị
Đây là những người thấy mình bị tước đoạt những cái mà đại bộ phận những ngườikhác trong xã hội được hưởng Do đó chuẩn mực để xem xét nghèo đói tương đối cũng làmột hình thức biểu hiện sự bất bình đẳng trong phân phối và thu nhập
Theo cách xác định này có thể xóa nghèo tương đối nhưng không thể xóa nghèo tuyệt đối
Để đánh giá nghèo đói người ta thường sử dụng khái niệm nghèo đói tương đối vì nó cho phépthực hiện các phân tích có tính so sánh, trong khi nghèo đói tương đối được coi là tiêu chuẩnđánh giá sự công bằng của xã hội đối với một bộ phận dân cư có thu nhập thấp
M ột số khái niệm có liên quan đến đói nghèo
- Đói gay gắt là tình trạng một bộ phận dân cư có mức sống tối thiểu, đói ăn, chịuđứt bữa từ 3 tháng trở lên
- Hộ nghèo là các hộ có thu nhập bình quân tính theo đầu người nằm dưới giới hạnnghèo đói được gọi là hộ nghèo, theo đánh giá chung của nhiều nước hộ có thu nhập dưới1/3 mức trung bình của xã hội là hộ nghèo
- Hộ vượt nghèo hay hộ thoát nghèo là những hộ nghèo mà sau một quá trình thựchiện chương trình xóa đói giảm nghèo cuộc sống đã khá lên và mức thu nhập đã ở trênchuẩn mực nghèo đói
- Hộ tái nghèo đói là số hộ vốn dĩ trước đây thuộc diện nghèo và đã vượt nghèo,nhưng do nguyên nhân nào đó lại rơi vào hoàn cảnh nghèo đói
Đại học Kinh tế Huế
Trang 14- Hộ nghèo hay là hộ mới vào danh sách đói nghèo: là những hộ ở đầu kỳ khôngthuộc diện nghèo đói nhưng đến cuối kỳ lại rơi vào hộ đói nghèo.
Ở những nước phát triển, sự phân hóa giàu nghèo được đánh giá theo khoảng cách
về thu nhập, giữa phần thu nhập của 20% lớp người có thu nhập cao nhất gọi là lớp ngườigiàu chiếm giữ và phần thu nhập của 20% lớp người có thu nhập thấp nhất gọi là lớpngười nghèo có được trong xã hội
Vấn đề nghèo đói thường đi đôi với phân phối và thu nhập, sự phân phối thu nhậpkhông đồng đều thường dẫn đến sự nghèo đói Do vậy, vấn đề xóa đói giảm nghèo có liênquan mật thiết với tăng trưởng, công bằng xã hội Quan niệm của chính người nghèo ởnước ta cũng như một số quốc gia khác trên thế giới về nghèo đói đơn giản hơn, trực diệnhơn Một số người ở huyện Đkarông tỉnh Quảng Trị thì trả lời: nghèo đói đồng nghĩa vớinhà ở bằng tranh, tre, nứa, lá tạm bợ, không đủ đất sản xuất, không có trâu, bò, con cáikhông được đến trường, ốm đau không có tiền khám chữa bệnh…
Các quan niệm nghèo đói trên đây phản ánh ba khía cạnh chủ yếu của người nghèo
- Không được hưởng thụ những nhu cầu cơ bản ở mức tối thiểu dành cho con người
- Có mức sống thấp hơn mức sống trung bình của cộng đồng dân cư
- Thiếu cơ hội lựa chọn tham gia vào quá trình phát triển của cộng đồng
Nghèo đói ở Việt Nam chỉ tình trạng mà thu nhập thực tế của người dân chỉ dànhhầu như toàn bộ cho ăn, thậm chí không đủ cho ăn uống Phần tích lũy hầu như không có,các nhu cầu tối thiểu ngoài ăn ra thì các mặt khác như ở, mặc, đi lại, văn hóa, giao tiếp,chỉ đáp ứng một phần rất nhỏ không đáng kể
1.1.1.2 Đặc điểm của hộ nghèo
Những người nghèo phân bố hầu hết ở các vùng trong cả nước nhưng sự phân bố nàykhông đồng đều mà chủ yếu ở các vùng ven thành thị và nông thôn, đặc biệt là ở các vùngdân tộc thiểu số Tuy nhiên đặc trưng của những người nghèo đói ở nông thôn và thành thị lạikhông giống nhau Ở thành thị thì người nghèo lại phải bán sức lao động của mình với giá rẻmạc để duy trì sự sống của bản thân cũng như những người thân khác trong gia đình Còn ởnông thôn, những người nghèo lại phụ thuộc vào sản phẩm của ngành nông nghiệp, trong đóchủ yếu là trồng trọt và chăn nuôi Nhưng do thiên tai và rủi ro mà họ phải gánh chịu là rấtcao nên đời sống của họ gặp nhiều khó khăn Do không có điều kiện để chăm sóc cây trồng,vật nuôi tốt nên năng suất sản lượng của họ thu được rất thấp
Đại học Kinh tế Huế
Trang 15Những khái niệm, quan niệm nêu trên đã phần nào cho thấy được đặc điểm của đóinghèo Nhìn chung đặc điển của đói nghèo gồm có 7 đặc điểm cơ bản sau
Thứ nhất: Người nghèo thường có trình độ học vấn thấp hơn đại bộ phận dân cưkhác, khả năng tiếp cận đến thông tin và kỹ năng chuyên môn bị hạn chế; thêm nữa tiếngnói của họ ít được coi trọng, họ không có địa vị trong xã hội- những điều này là bước cản
để họ có thể tìm kiếm được công việc tốt hơn trong các nghành trả lương cao Vì vậy họthường có thu nhập thấp và không ổn định
Thứ hai: Người nghèo thường ít hoặc không có đủ đất đai, thiếu cơ sở hạ tầng(CSHT) cho sinh hoạt và tài sản khác; đa số trong số họ không có nhiều cơ hội tiếp cậnvới dịch vụ sản xuất như khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngư, bảo vệ thực vật; họ cũngthiếu các khả năng tiếp cận các nguồn tín dụng, pháp luật và chưa đựơc bảo vệ quyền lợi
về môi trường; nên trong quá trình làm ăn gặp nhiều khó khăn, không tận dụng được các
cơ hội từ bên ngoài
Thứ ba: Người nghèo sống trong điều kiện khí hậu và sinh thái rất đa dạng; từ nhưngvùng đất đai màu mỡ, khí hậu tương đối thuận lợi đến những vùng dân cư thưa thớt, đấtđai kém màu mỡ Ở những vùng có mật độ dân số cao (hơn 300 người/km2) khoảng 40%dân số sống trong cảnh đói nghèo, tỷ lệ này cũng khoảng 40% ở những vùng có mật độdân số thấp (dưới 150 người/km2)
Thứ tư: Người nghèo thiếu những “giảm sốc” đối với những đột biến, họ rất dễ bịtổn thương bởi những khó khăn mang tính thời vụ và những biến động bất thường xảy rađối với gia đình, cộng đồng
Thứ năm: Phần đông họ là những gia đình đông con, tỷ lệ người ăn theo cao
Thứ sáu: Các hộ nghèo thường nợ nần nhiều, chi tiêu của họ chủ yếu phục vụ cho ănuống; và đa phần chưa biết cách quản lý kinh tế và chưa có cách thức làm ăn hợp lý; họthường phải vay vốn lãi suất cao chỉ để thoả mãn nhu cầu tối thiểu, họ dễ bị bọn chủ nợ,thương nhân quan chức bóc lột một cách dễ dàng
Thứ bảy: Đói nghèo thường rơi vào các nhóm người sống ở khu vực nông thôn, phụ
nữ và các nhóm người thiểu số
Đại học Kinh tế Huế
Trang 161.1.2 Tiêu chí phân định đói nghèo
1.1.2.1 Quan niệm của thế giới về đói nghèo
Để xác định tình trạng và mức độ đói nghèo, người ta thường căn cứ vào các tiêu chí
về lĩnh vực kinh tế mà trước hết dựa vào thu nhập bình quân tính theo đầu người trêntháng hoặc trên năm theo hai khu vực điển hình là thành thị và nông thôn Cụ thể là:
- Thu nhập tính từ nguồn thu nhập do nông hộ sản xuất ra, đó là nguồn thu rất quantrọng của hầu hết người nghèo trên thế giới, nguồn thu khác do phân phối lại của xã hội từcác phần phúc lợi như: y tế, giáo duc, văn hóa…
- Chỉ tiêu tính trên đầu người trên năm (tháng), gồm tất cả các chi phí về ăn, ở, mặc,
đi lại và các khoản chi cho sinh hoạt khác
Tiêu chí này liên quan mật thiết với tiêu chí về chế độ dinh dưỡng, năng lượng (calo)trên đầu người trong ngày, y tế, văn hóa, giáo dục…Thu nhập quốc dân bình quân tínhtrên đầu người là một trong những căn cứ để đo mức độ trình độ phát triển chung của mộtnước này so với nước khác Tuy nhiên chỉ tiêu này nó chỉ mang tính chất tương đối và cónhững hạn chế nhất định, bởi lẽ không hẳn chỉ số trung bình cao về thu nhập quốc dân(GDP) là hết đói nghèo Chỉ tiêu này được ngân hàng thế giới (WB) đưa ra để tính mức
độ giàu nghèo của các quốc gia theo hai phương pháp sau:
- Xã nghèo là xã có tỷ lệ hộ nghèo từ 25% trở lên theo chuẩn mới và chưa đủ cơ sở
hạ tầng thiết yếu
Theo phương pháp Atlas, người ta phân tích thành 6 loại về sự giàu nghèo của cácnước (lấy mức thu nhập năm 1990)
- Từ trên 2500 USD/ năm là tiêu chuẩn của những nước không nghèo
- Từ 500 USD/năm đến dưới 2500 USD/năm là tiêu chuẩn của những nước nghèo
- Dưới 500 USD/năm là tiêu chuẩn của những nước cực nghèo
Theo cách tính này thì Việt Nam xếp thứ 153, chỉ hơn 5 nước trong tổng số 158nước năm 1990
Theo phương pháp sức mua tương đương (viết tắt là ppp) cũng tính bằng USD.Theo phương pháp này thì Việt Nam đứng thức 116 trong tổng số 176 nước (năm 1993)
Đại học Kinh tế Huế
Trang 17 Nghoài ra, chỉ số HDI (chỉ số phát triển của con người), chỉ số PQLI (chỉ số chấtlượng vật chất của cuộc sống) cũng được người ta sử dụng Các chỉ số này nó đề cập đếncác vấn đề như: Tuổi thọ bình quân dự báo, tỷ lệ xóa mù chữ ở người lớn, mức tiêu dùngprotein và một số chỉ tiêu về khả năng đảm bảo tự do và phát triển của cá nhân.
Nếu chúng ta kết hợp 3 chỉ tiêu số GDP, HDI, PQLI nó sẽ cho phép chúng ta nhìnnhận về nước giàu, nước nghèo một cách khách quan và chính xác hơn
1.1.2.2 Quan niệm của Việt Nam về nghèo đói
Chuẩn nghèo là một khái niệm động, nó biến đổi theo không gian và thời gian Vềkhông gian, nó biến đổi theo trình độ phát triển kinh tế- xã hội của từng vùng hay từngquốc gia Ở Việt Nam chuẩn nghèo biến đối theo 3 vùng sinh thái khác nhau, vùng nôngthôn đồng bằng, vùng nông thôn miền núi và hải đảo.Về thời gian, chuẩn nghèo cũng có
sự biến đổi lớn, nó biến đổi theo trình độ phát triển kinh tế- xã hội và nhu cầu của conngười theo từng giai đoạn lịch sử Kinh tế-xã hội phát triển thì đời sống của con ngườicũng được cải thiện tốt hơn, tuy nhiên không phải tất cả các nhóm dân cư đều có tốc độcải thiện giống nhau, thông thường thì nhóm không nghèo có tốc độ tăng mức thu nhập,
có thể mức sống cao hơn nhóm nghèo
Không có định nghĩa duy nhất về nghèo đói, do đó cũng không có một phương pháphoàn hảo để đo được nó Nghèo là tình trạng thiếu thốn ở nhiều phương diện, nhưng cóthể đo lường được phương diện đó một cách nhất quán thì không phải là đơn giản, cònnếu ta đem gộp tất cả những khía cạnh đó vào một chỉ số nghèo đói nhằm thông tin chocác chính sách công và để đánh giá được mức độ thành công của các chính sách đó
Căn cứ vào tình hình phát triển kinh tế-xã hội của nước ta và thực trạng đời sốngtrung bình dân cư hiện nay, có thể xác lập và đánh giá đói nghèo theo mấy chỉ tiêudưới đây:
- Thu nhập bình quân đầu người/ tháng ( hoặc năm)
- Điều kiện về nhà ở và tiện nghi sinh hoạt
- Điều kiện về tư liệu sản xuất
- Điều kiện về vốn tích lũy để dành
Trong 4 chỉ tiêu trên chỉ có chỉ tiêu về thu nhập là chi tiêu có định lượng cụ thể; cònĐại học Kinh tế Huế
Trang 183 chỉ tiêu còn lại về đồ dùng sinh hoạt, giá trị tài sản, chỉ tiêu về vốn đều không có địnhlượng cụ thể Nếu chỉ dựa trên 3 chỉ tiêu này để phân định đói nghèo thì sự xác định này
là lệch lạc Ví dụ xét về chỉ tiêu đồ dùng sinh hoạt, vẫn có hiện tượng những người khôngnghèo đến nay chưa có nhà kiên cố về một số nguyên nhân như: họ không có kế hoạchxây nhà cửa kiên cố hoặc muốn tập trung tiền của để đầu tư cho con cái ăn học Trong khi
đó một số người tuy đói nghèo vẫn được ở nhà xây kiên cố bởi đó có thể là tài sản chaông để lại Cũng trong 4 chỉ tiêu này, cần đặc biệt chú ý tới chỉ tiêu về thu nhập và nhà ở;cùng các tiện nghi sinh hoạt trong nhà Hai chỉ tiêu này phản ánh trực tiếp mức sống Haichỉ tiêu này còn lại cho thấy rõ thêm tình cảnh thật sự của người nghèo và các hộ đóinghèo, nhất là ở nông thôn Trong thực tế đã lâm vào cảnh đói nghèo thì thường TLSXhết sức ít ỏi, nghèo nàn, kém giá trị sử dụng và khai thác làm ra của cải Người nghèo vàcác hộ nghèo, đặc biệt là các hộ nông dân nghèo hầu như không có vốn tích luỹ cho sảnxuất và tái sản xuất Hai chỉ tiêu này còn giúp chúng ta phân biệt rõ ràng hơn giữa ngườigiàu và người nghèo, giữa hộ giàu và hộ nghèo ở các vùng nông thôn và thành thị Chúng
ta càng thấy rõ hơn đặc trưng cơ bản kinh tế xã hội của hiện tượng đói nghèo, nổi bật nhất
là về mặt kinh tế
Theo Quyết định số 170/2005/QĐ-TTg ngày 08 tháng 07 năm 2005 của Thủtướng chính phủ về việc ban hành chuẩn nghèo áp dụng cho giai đoạn 2006-2010như sau:
Khu vực nông thôn: Những hộ có mức thu nhập bình quân từ 200.000đ/người/tháng (dưới2400.000đ/người/năm) trở xuống là hộ nghèo
Khu vực thành thị: Những hộ có mức thu nhập bình quân từ 260.000đ/người/tháng(dưới 3.120.000đ/người/năm) trở xuống là hộ nghèo
Căn cứ vào tình hình phát triển kinh tế-xã hội và kết quả thực hiện chương trình xóađói giảm nghèo, các tỉnh, thành phố có thể nâng chuẩn nghèo cao hơn so với quy địnhtrên với 3 điều kiện sau:
+ Thu nhập bình quân đầu người của tỉnh, thành phố cao hơn thu nhập bình quânđầu người của cả nước
Đại học Kinh tế Huế
Trang 19+ Tỷ lệ hộ nghèo của tỉnh, thành phố thấp hơn lệ hộ nghèo chung của cả nước.
+ Tự cân đối được nguồn lực và đủ nguồn lực để hỗ trợ hộ nghèo, người nghèo.+ Thu nhập của hộ được tính bằng cách cộng tất cả các nguồn thu nhập của gia đìnhlại sau đó chia cho số người trong hộ và so sánh với chuẩn nghèo, tùy xã nằm trong vùngnào
Theo tổng cục thống kê thì xác định ngưỡng nghèo dựa vào tiêu chí như: Lương thực
và phi lương thực, trong đó chi tiêu cho lương thực phải đủ đảm bảo 2100 calo mỗi ngàycho một người
- Chuẩn nghèo mới áp dụng cho giai đoạn 2011-2015 theo Chỉ thị số 1752/CT-TTgngày 21-9-2010 của Thủ tướng Chính phủ có hiệu lực thi hành từ ngày 01 thang 01 năm
2011, mức chuẩn nghèo và cận nghèo được xác định
+ Hộ nghèo ở nông thôn là hộ có mức thu nhập bình quân từ 400.000 đồng/người/tháng (hay từ 4800.000 đồng/người/năm) trở xuống là hộ nghèo
+ Hộ nghèo ở thành thị là hộ có thu nhập bình quân 500.000 đồng/người/tháng (hay
từ 6000.000 đồng/người/năm) trở xuống là nghèo
+ Hộ cận nghèo ở nông thôn là hộ có mức thu nhập bình quân từ 401.000 đồng đến520.000 đồng/người/tháng (hay từ 4812.000 đến 6240.000 đồng/người/năm) trở xuống làcận nghèo
+ Hộ cận nghèo ở thành thị là hộ có mức thu nhập bình quân từ 501.000 đến 650.000đồng/người/tháng (hay từ 6012.000 đến 7800.000 đồng/người/năm) trở xuống là cận nghèo
Bảng 1: Chỉ tiêu áp dụng chuẩn nghèo mới phân theo thu nhập của các vùng
ở Việt Nam (2011-2015)
(đồng/người/tháng)(2011-2015): Quyết định số 1752/CT-TTg
ngày 21 tháng 9 năm 2010
Nghèo Nông thôn <= 400.000
Thành thị <= 500.000Cận
nghèo
Nông thôn Từ 401.000- 520.000Thành thị Từ 501.000- 650.00
(Nguồn: Bộ LĐ-TB&XH)
Đại học Kinh tế Huế
Trang 201.1.3 Nguyên nhân dẫn đến đói nghèo
Nghèo đói là hậu quả của nhiều nguyên nhân gây ra, trong đó được chia thành hainhóm nguyên nhân chính sau
1.1.3.1 Nguyên nhân khách quan
Những biến động về kinh tế-xã hội, chiến tranh, thiên tài, điều kiện sản xuất khókhăn là một trong những nguyên nhân làm cho người dân trở nên nghèo đói Do nguồnthu nhập của họ rất thấp, bấp bênh, không ổn định, khả năng tích lũy kém nên họ không
có khả năng chống chọi với những biến cố xảy ra trong cuộc sống thường ngày của họnhư mất mùa, mất việc làm, thiên tai, mất nguồn lao động, ốm đau,….Với khả năng kinh
tế mong manh của các hộ nghèo trong khu vực nông thôn miền núi, khu vực nông thônđồng bằng, những đột biến này sẽ gây ra cho hộ gia đình nghèo những bất ổn cả về tìnhthần lẫn vật chất rất lớn trong cuộc sống của họ Những vùng hay xảy ra thiên tai như lũlụt, bão, hạn hán hay dịch bệnh thường có tỷ lệ hộ nghèo cao Đối với những địa phươngkinh tế chậm phát triển cũng có tỷ lệ hộ nghèo cao hơn so với những địa phương có kinh
tế phát triển Rủi ro cũng là một nguyên nhân làm cho người dân trở nên nghèo đói, đặtbiệt là ốm đau và tai nạn Nhiều rủi ro khác trong cuộc sống, trong sản xuất mà chưa cóbiện pháp, thiết bị phòng ngừa hữu hiệu, triệt để dẫn đến tái nghèo trở lại ở những hộ khágiả, còn những hộ nghèo thì càng nghèo hơn như thiên tai, dịch bệnh, sâu hại, tai nạn laođộng, tai nạn giao thông, thất nghiệp, rủi ro về giá cả sản phẩm đầu vào đầu ra do biếnđộng của thị trường thế giới và thị trường khu vực lân cận như: khủng hoảng về dầu mỏlàm tăng giá đầu vào
Nguyên nhân về cơ chế chính sách như thiếu hoặc không đồng bộ về chính sách đầu tưxây dựng cơ sở hạ tầng cho các vùng niềm núi, vùng sâu vùng xa, vùng hải đảo khó khăn;ngân sách hàng năm đầu tư cho chương trình xóa đói giảm nghèo còn nhiều hạn chế; bộ máy
tổ chức cán bộ làm công tác xóa đói giảm nghèo chưa đáp ứng nhu cầu thực tế đặt ra; chínhsách khuyên khích sản xuất, vốn tín dụng, hướng dẫn cách làm ăn, chính sách cấp đất đai,chính sách giáo dục, chính sách y tế, giải quyết công ăn việc làm, chính sách định canh định
cư Đây cũng là nguyên nhân dẫn đến ngày càng tăng hộ đói nghèo lên nếu nhà nước khôngsửa chữa lại các chính sách nêu trên kịp thời và hợp lý, đúng mục đích đúng đối tượng
Đại học Kinh tế Huế
Trang 21Do trình độ tay nghề thấp và không có kinh nghiệm làm ăn, khả năng đối phó vàkhắc phục rủi ro của các hộ nghèo cũng kém Mặt khác nguồn thu nhập hạn hẹp làm cho
hộ gia đình không có khả năng khắc phục rủi ro và có thể gặp nhiều rủi ro hơn Theo báocáo của ngân hàng thế giới thì ốm đau, bệnh tật kéo dài là nguyên nhân làm cho hộ giađình sa sút về mặt kinh tế trong những năm gần đây ở Việt Nam
1.1.3.2 Nguyên nhân chủ quan
Những hộ nghèo có diện tích đất đai ít và kém chất lượng; tư liệu sản xuất thô sơ, lạchậu nên gây khó khăn trong sản xuất dẫn đến năng suất sản phẩm thấp, không đủ cho sinhhoạt ăn uống của gia đình
Những người nghèo là những người có trình độ học vấn thấp, thiếu hiểu biết, không cóđiều kiện tiếp cận khoa học kỹ thuật để áp dụng vào sản xuất Do trình độ học vấn thấp nênkhả năng kiếm việc làm ở nơi khác, trong các ngành phi nông nghiệp, những công việc manglại thu nhập cao và ổn định bị hạn chế đối với họ Mặt khác họ là những người không dámmạo hiểm trong kinh doanh do kiến thức hạn chế nên họ không đủ khả năng phân tích thịtrường để có định hướng sản xuất kinh doanh những mặt hàng đem lại thu nhập cao
Mức thu nhập của họ chỉ đảm bảo nhu cầu dinh dưỡng tối thiểu và do vậy không cóđiều kiện để nâng cao trình độ của mình trong tương lai để thoát khỏi cảnh nghèo khó.Bên cạnh đó, trình độ học vấn thấp ảnh hưởng rất lớn đến các quyết định có liên quan tớigiáo dục, sinh đẻ, nuôi dưỡng con cái ,…không những ảnh hưởng cho thế hệ hiện tại màcòn làm ảnh hưởng đến thế hệ trong tương lai Suy dinh dưỡng ở trẻ em và trẻ sơ sinh lànhân tố ảnh hưởng đến khả năng đến trường của con em các gia đình nghèo nhất và chínhđiều nay đã làm cho việc thoát nghèo thông qua giáo dục trở nên khó khăn hơn
Quy mô gia đình là “mẫu số” quan trọng có ảnh hưởng đến mức thu nhập bình quâncủa các thành viên trong hộ Đông con vừa là nguyên nhân vừa là hệ quả của nghèo đói
Tỷ lệ sinh con trong các hộ gia đình nghèo còn rất cao.Theo tiến sĩ Đỗ Thiên Kính, trongnăm 1998, mỗi bà mẹ trong nhóm nghèo nhất trung bình có 3,5 con so với 2,1 con trongnhóm giàu nhất Một trong những nguyên nhân dẫn đến tỷ lệ sinh cao trong các hộ nghèo
là do họ không có kiến thức cũng như không có điều kiện tiếp cận với các biện pháp sức
Đại học Kinh tế Huế
Trang 22khỏe sinh sản Tỷ lệ phụ nữ đặt vòng tránh thai rất thấp, tỷ lệ nam giới nhận thức đầy đủtrách nhiệm kế hoạch hóa gia đình và sử dụng các biện pháp tránh thai chưa cao Mức độhiểu biết của các cặp vợ chồng nghèo về vệ sinh, an toàn tình dục cũng như mối liên hệgiữa tình trạng nghèo đói, sức khỏe sinh sản và gia tăng nhân khẩu còn hạn chế Những
hộ gia đình sinh nhiều con, đẻ dày một mặt làm hạn chế lao đọng của người mẹ cũng nhưngười phục vụ cho sinh đẻ, mặt khác phải chi thêm một khoảng chi phí lớn cho việc nuôicon nhỏ Như vậy việc sinh đẻ không có kế hoạch sẽ làm cho quy mô gia đình tăng lên vàlàm cho tỷ lệ người ăn theo cao Tỷ lệ người ăn theo cao trong các gia đình nghèo còn cónghĩa là nguồn lực về lao động thiếu Đây cũng chính là một trong các nguyên nhân dẫnđến tình trạng đói nghèo của họ
Chi tiêu không có kế hoạch, không tính toán cũng là một nguyên nhân chủ quan gâynên nghèo đói Chi tiêu không có kế hoạch dẫn đến thiếu ăn trong những tháng giáp hạt
Để đảm bảo nhu cầu sống và sản xuất tiếp theo thì họ phải vay mượn có khi phải chấpnhận vay nặng lãi Điều đó làm cho khó khăn của họ càng khó khăn hơn
Một nguyên nhân thuộc về chủ quan của hộ nghèo đó là do trong gia đình có ngườimắc phải các tệ nạn xã hội như rượu chè, cờ bạc, con cái hư hỏng quậy phá, gia đình bất
ổn Vấn đề bệnh tật không kém ảnh hưởng trực tiếp đến thu nhập và chi tiêu của ngườinghèo, làm cho họ rơi vào vòng tròn luẩn quẩn của đói nghèo Họ phải gánh chịu hai gánhnặng: một là mất đi thu nhập từ lao động, hai là gánh chịu chi phí cao cho việc khám,chữa bệnh, kể cả chi phí trực tiếp và gián tiếp Do vậy chi phí chữa bệnh là gánh nặng đốivới người nghèo và đẩy họ đến chỗ vay mượn, cầm cố tài sản để có tiền trang trải cho chiphí, dẫn đến tình trạng càng có ít cơ hội cho người nghèo thoát khỏi vòng đói nghèo.Trong khi đó khả năng tiếp cận đến các dịch vụ phòng bệnh (nước sạch, các chương trình
y tế, …) của người nghèo còn hạn chế càng làm tăng khả năng bị mắc bệnh của các hộnghèo
Tình trạng sức khỏe của Việt Nam trong thập kỷ qua đã được cải thiện, xong tỷ lệngười nghèo mắc bệnh thông thường vẫn còn cao Xã hội luôn quan tâm đến ngườinghèo, hộ nghèo Hộ nghèo thường được hỗ trợ về vật chất cũng như các dịch vụ khác để
có thể thoát nghèo Thế nhưng có một số người nghèo lại ỷ vào sự hỗ trợ giúp đỡ đó, đãlười lao động không chịu làm ăn để thoát nghèo khổ
Đại học Kinh tế Huế
Trang 23Những hộ nghèo thường không có tích lũy, họ có ít tài sản, chính điều này đã làmcho họ gặp nhiều khó khăn trong quá trình làm ăn Nhiều hộ nghèo rơi vào tình trạng nợnần do họ phải đi vay, thậm chí phải chịu vay với lãi suất cao để trang trải các khoản chiphí khẩn cấp như: chi phí cho y tế hoặc để đầu tư cho một vụ kinh doanh vừa bị mất trắngtay Vì vậy vốn đã trở thành vấn đề hết sức cấp bách đối với người nghèo hộ nghèo.
Nền kinh tế phát triển không bền vững, tăng trưởng tuy khá nhưng chủ yếu là donguồn vốn đầu tư trực tiếp, vốn ODA, kiều hối, thu nhập tư dầu mỏ trong khi nguồn vốnđầu tư trong nước còn thấp Tín dụng chưa thay đổi kịp thời, vẫn còn ưu tiên cho vay cácdoanh nghiệp nhà nước có hiệu quả thấp, không thế chấp, môi trường sớm hủy hoại, đầu
tư vào con người ở mức cao nhưng hiệu quả còn hạn chế, số lượng lao động được đào tạođáp ứng nhu cầu thị trường còn thấp, nông dân khó tiếp cận tín dụng ngân hàng nhà nước.Môi trường sớm bị hủy hoại trong khi đa số người nghèo lại sống nhờ vào nông nghiệp.(trích tạp chí cộng sản số 25 tháng 9 năm 2002)
Theo số liệu báo cáo từ điều tra xác định hộ nghèo của Bộ LĐTB&XH, hiện này tồntại nhiều nguyên nhân nghèo, trong đó có 8 nguyên nhân chủ yếu đó là: Thiếu vốn, thiếuđất sản xuất, thiếu lao động, thiếu kinh nghiệm, bệnh tật, tệ nạn , rủi ro, đông người
Đại học Kinh tế Huế
Trang 24Bảng 2: Nguyên nhân nghèo đói phân theo cả nước và chia theo vùng.
Thiếu đất SX
Thiếu lao động
Thiếu kinh nghiệm
Đại học Kinh tế Huế
Trang 25Thông qua bảng số liệu trên thấy rằng, các loại nguyên nhân dẫn đến nghèo đói thìnguyên nhân về thiếu vốn vẫn là nguyên nhân gây khó khăn lớn nhất đối với hộ nghèochiếm tỷ lệ 63,7% Những nguyên nhân gây nghèo này đã ảnh hưởng lớn nhất đối vớivùng Bắc Trung Bộ so với 8 vùng còn lại trong cả nước Điều này chứng tỏ rằng đời sốngcủa bà con nông dân nơi đây còn gặp nhiều khó khăn và sẽ gây trở ngại lớn tới công tácxóa đói, giảm nghèo Ngoài nguyên nhân chủ yếu là thiếu vốn còn có nhiều nguyên nhânkhác như thiếu đất sản xuất, thiếu kinh nghiệm làm ăn, …Đặc biệt đông con cũng lànguyên nhân gây nghèo đói của các hộ gia đình, nó giống như vòng luẩn quẩn khiến chongười nghèo phải có một quyết tâm, một ý chí, một động lực lớn để phấn đấu thoát nghèo.
1.2 Cơ sở thực tiễn
1.2.1 Tình hình đói nghèo ở Việt Nam
Tổng cục thống kê, dựa trên các tiêu chuẩn mà các nước đang phát triển và các tổchức Quốc tế hiện nay đang sử dụng để xác định mức nghèo đói Và cho rằng, ngườinghèo đói là người có mức chi tiêu dưới mức cần thiết để đạt được 2.100 calo bìnhquân/người/ ngày Theo chuẩn mực này, tỷ lệ người nghèo đói ở nước ta còn cao hơn vớinhững đánh giá của Bộ lao động thường bình và xã hội
Nghèo đói có nhiều nguyên nhân, ở nước ta có thể đưa ra ba nhóm nguyên nhânchính sau:
- Nhóm nguyên nhân do điều kiện thời tiết: Khí hậu khắc nghiệc, thiên tai, đất đaicằn cỗi, địa hình phức tạp, giao thông khó khăn, cản trở, kìm hãm sự phát triển kinh tế xãhội dẫn đến nghèo đói
- Nhóm nguyên nhân chủ quan của người nghèo: trình độ hiểu biết thấp, thiếu vốn,thiếu kinh nghiệm làm ăn, thiếu đất sản xuất, đông con,…
- Nhóm nguyên nhân thuộc về cơ chế chính sách: Các chính sách thuộc về đầu tưxây dựng cơ sở hạ tầng cho các khu vực khó khăn, chính sách khuyến khích sản xuất, vaycác nguồn vốn, y tế, giáo dục… Thiếu hoặc không đồng bộ: Nguồn lực đầu tư cho vùngnghèo, xã nghèo còn hạn chế, hiệu quả thấp
Để thấy tình hình nghèo đói ở nước ta trong thời gian qua ta đi vào phân tích số liệudưới đây:
Đại học Kinh tế Huế
Trang 26Bảng 3: Tỷ lệ hộ đói nghèo của Việc Nam phân theo thành thị, nông thôn và phân
theo vùng qua các năm (2004, 2006, 2007)
(Nguồn: Tổng cục tống kê năm 2007)
Qua số liệu trên ta thấy, tỷ lệ hộ nghèo của cả nước giảm dần qua các năm Cụ thể lànăm 2004 là 18,1; năm 2006 là 15,5; năm 2007 là 14,8
Phân theo khu vực thành thị và nông thôn thì tỷ lệ hộ nghèo cũng giảm mạnh quacác năm Đặc biệt là ở khu vực nông thôn tỷ lệ hộ nghèo giảm mạnh hơn ở khu vực thànhthị từ 21,2 năm 2004 xuống còn 17,7 năm 2007
Phân theo vùng, tỷ lệ hộ nghèo cao nhất ở vùng Tây Bắc 38,1; tiếp theo là BắcTrung Bộ 25,8; thấp nhất ở Đông Nam Bộ 4,3; đồng bằng Sông Hồng 9,6 và đồng bằngSông Cửu Long 12,4
Đại học Kinh tế Huế
Trang 271.2.2 Tình hình đói nghèo của huyện Đông Giang- Tỉnh Quảng Nam
Qua bảng số liệu tình hình đói nghèo và vượt nghèo của huyện Đông Giang qua 3năm (2008-2010) ta thấy tổng số hộ nghèo của huyện tăng lên qua các năm, tổng số hộnghèo năm 2008 là 1708 hộ, đến năm 2009 là 1832 hộ, tăng 89 hộ, năm 2010 số hộ nghèovẫn tiếp tục tăng lên là 3178 hộ tăng so với năm 2008 là 1470, so với năm 2009 là số hộnghèo tăng lên 1381 hộ Trong đó có 5 xã số hộ nghèo không hề giảm xuống mà còn tănglên qua các năm đó là: xã Ta Lu, xã Sông Kôn, xã Jơ Ngây, xã ATing và xã Kà Dăng.Trong 5 xã đó thì xã Ta Lu và xã Sông Kôn tăng nhiều nhất Chính vì số hộ của các xãnày tăng lên nên đã làm cho tổng số hộ nghèo của huyện Đông Giang tăng lên rất caotrong 3 năm Đây là vấn đề đặt ra hết sức cấp bách mà toàn huyện và tập thể cán bộ cũngnhư toàn thể người dân nêu trên quan tâm và tìm ra những nguyên nhân mà số hộ nghèotăng lên, từ đó có những giải pháp và biện pháp giải quyết góp phần xóa đói giảm nghèo,đem lại cuộc sống đầy đủ hơn cho người dân
Đại học Kinh tế Huế
Trang 28Bảng 4 :Thực trạng đói nghèo của huyện Đông Giang qua 3 năm (2008-2010)
-(Nguồn: phòng LĐTB&XH huyện Đông Giang năm 2010)
Đại học Kinh tế Huế
Trang 291.2.3 Quan điểm của Đảng ta về xóa đói giảm nghèo
Xóa đói giảm nghèo là một trong những chính sách ưu tiên hàng đầu trong quá trìnhphát triển kinh tế xã hội, vì vậy các chính sách phát triển kinh tế xã hội đều hướng vàongười nghèo, xã nghèo nhằm tạo động lực tiền đề cho công cuộc xóa đói giảm nghèo.Xóa đói giảm nghèo là mục tiêu hàng đầu trong quá trình phát triển kinh tế xã hội, vìvậy khi thực hiện các mục tiêu này luôn hướng vào mục tiêu giảm nghèo, thực hiện côngbằng xã hội, đảm bảo cho sự phát triển bền vững
* Các chương trình xóa đói giảm nghèo ở Việt Nam
Các chương trình mục tiêu về xóa đói giảm nghèo của quốc gia lần đầu tiên đượcchính phủ phê chuẩn vào năm 1998
Việc hình thành là kết quả của quá trình tác động qua lại nhiều năm giữa các sáng kiếncủa các địa phương Mặc dù còn nhiều hạn chế, song đều được nhiều người thừa nhận làchương trình mục tiêu quốc gia về xóa đói giảm nghèo đã nhanh chóng trở thành nhân tố hạtnhân của các hoạt động xóa đói giảm nghèo ở Việt Nam Những thành tựa to lớn của côngcuộc xóa đói giảm nghèo là không thể tách rời ra khỏi vai trò quan trọng của chương trìnhmục tiêu này Bền cạnh những thành tựu đạt được trong thời gian qua, song tình hình thực tếđói nghèo vẫn là vấn đề xã hội bức xúc cần được quan tâm nhiều hơn
Tháng 7 năm 2006, Thủ tướng chính phủ đã phê duyện danh sách xã đặc biệt khókhăn hoàn thành cở bản mục tiêu chương trình phát triển kinh tế xã hội ở các vùng dântộc miền núi, biên giới, hải đảo (chương trình 135, 134 giai đoạn 1999- 2005) và quyếtđịnh số: 164/2006/QĐ-TTg ngày 11 tháng 7 năm 2006 về việc phê duyệt danh sách xãđặc biệt khó khăn đưa vào diện đầu tư chương trình phát triển kinh tế xã hội các xã đặcbiệt khó khăn vùng đồng bào các dân tộc và miền núi giai đoạn 2006-2010 (chương trình
135 giai đoạn II) Đây là chủ trường chính sách của Đảng và nhà nước quan tâm đầu tưđến các xã đặc khó khăn Chương trình 135 giai đoạn II được đầu tư bằng nguồn vốnNgân hàng chính sách Trung ương, ngân sách địa phương, huy động đóng góp, trong đó
có Trung ương hỗ trợ Hiện này chính phủ tiếp tục đề ra mục tiêu phát triển của chươngtrình 135 giai đoạn III (2011-2015)
Một số bài học kinh nghiệm về xóa đói giảm nghèo tại một số nước và ở Việt Nam.Đại học Kinh tế Huế
Trang 30- Trung Quốc
Trung Quốc là một quốc gia đông dân nhất thế giới, kể cả từ khi bắt đầu thực hiện cảicách kinh tế năm 1978, Trung Quốc đã đạt được nhiều thành tựu trong công tác giảm nghèo.Kinh nghiệm của Trung Quốc đã để lại nhiều bài học kinh nghiệm quý báu cho cácnước trên thế giới Theo số liệu chính thức của Ngân hàng thế giới, thì số người nghèogiảm từ 260 triệu năm 1978 xuống còn 42 triệu năm 1998 Tốc độ tăng trưởng nhanh lànhân tố chính đưa đến sự thành công to lớn này Điều đáng chú ý là sự tăng trưởng nhanh
đã xảy ra tại những vùng sản xuất nông nghiệp và là những vùng dân cư nghèo hơn.Chính sách Trung Quốc rất quan tâm đến vùng này, vì người nghèo ở nông thôn sông chủyếu dựa vào nông nghiệp
- Thái Lan
Trong 3 thập kỷ qua, Thái Lan không những đạt được những thành tựu đáng kể vềmặt kinh tế, mà còn gặt hái được nhiều thành công trên lĩnh vực xã hội, y tế, giáo dục.Kết quả giảm nghèo của Thái Lan cũng rất khả quan, từ 33% năm 1998 xuống còn 11%năm 1996 Do đó, trong suốt thời gian này số người nghèo sống dưới ngưỡng nghèo,giảm từ 17,9 triệu người xuống còn 7 triệu người Tuy nhiên, mặc dù tỷ lệ người nghèo đãgiảm đáng kể nhưng sự phân hóa về thu nhập vẫn còn cao (12,3 lần)
Có những thành tựu này là do nhiều yếu tố nhưng trong đó là sự tăng đầu tư củachính phủ vào phát triển nông thôn từ năm 1990 Tuy nhiên cuộc khủng hoảng tài chínhtại Thái Lan vào năm 1997 đã gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến quá trình phát triển conngười ở nước này có nhiều mặt như: việc làm, thu nhập, tiền lương, y tế, giáo dục, phụ
nữ, trẻ em và các vấn đề môi trường Trước tình hình đó, chính phủ Thái Lan đã đề ranhững chiến lược ưu tiên phát triển trong thập niên tới dựa trên nền tảng của sự phát triểnbền vững dưới đây:
+ Củng cố theo hướng có lợi cho người nghèo như: chính sách kinh tế phát triển cầnphải được toàn diện, sao cho cải thiện được thu nhập, phúc lợi xã hội nhằm đem lại sựthịnh vượng cho tất cả các tầng lớp dân cư trong xã hội
+ Cải thiện chất lượng về nguồn nhân lực
+ Điều chỉnh những chênh lệch về giới tính
Đại học Kinh tế Huế
Trang 31+ Chú trọng về việc cải thiện môi trường.
- Malaixia
Kinh nghiệm của Malaixia về giảm nghèo đó là kết hợp tăng trưởng kinh tế nhanhvới phân phối thu nhập công bằng, nâng cao mức sống của nhân dân Malaixia rất coitrọng phát triển nông nghiệp coi nông nghiệp là thế mạnh để bắt tay vào phát triển côngnghiệp, thực hiện CNH-HĐH và giải quyết những vấn đề xã hội Kết quả là Malaixia đãgiảm từ 20,7% nghèo đói (1986) xuống còn 17,1% (1990) Đặc biệt Malaixia xem giáodục là nền tảng để tiến hành phân phối thu nhập bình đẳng
- Việt Nam
Từ những thành tựu đạt được và cả những mặt hạn chế trong việc thực hiện cácchương trình xóa đói, giảm nghèo trong những năm qua, chúng ta có thể đưa ra một sốkinh nghiệm bước đầu như sau
Thứ nhất: quá trình chỉ đạo và thực hiện các chương trình xóa đói giảm nghèo vừaphải tiến hành theo diện rộng, vừa làm mô hình điểm, hằng năm có sơ kết, tổng kết rútkinh nghiệm, tìm nguyên nhân thiếu sót để bổ sung cho nội dung hoạt động sát hợp vớitừng địa phương, cơ sở Kết hợp với các giải pháp xóa đói giảm nghèo trước mắt với cácgiải pháp xóa đói giảm nghèo bền vững
Thứ hai: Phải tạo chuyển biến về nhận thức từ trong Đảng tới quần chúng, từ Trungương tới địa phương và cơ sở về chủ trường xóa đói giảm nghèo, trong đó đặc biệt là cáccấp ủy Đảng, chính quyền địa phương, đoàn thể và cán bộ chủ chốt Đây là yếu tố trướchết và có tâm quyết định
Thứ ba: Phải có sự kết hợp đồng bộ giữa các Bộ, Ngành, các cơ quan đoàn thể từTrung ương đến địa phương cơ sở
Thứ tư: Phải có các giải pháp thích hợp, huy động nguồn lực, tạo được cơ chế chínhsách cho công tác xóa đói giảm nghèo
Thứ năm: Phát huy nội lực là chính và không ngừng mở rộng hợp tác đầu tư quốc tếnhằm mục tiêu xóa đói giảm nghèo Đói nghèo đã trở thành vấn đề mà các Quốc gia khuvực trên thế giới đặc biệt quan tâm Vì vậy, cần tranh thủ và sử dụng có hiệu quả sự giúp
đỡ của các tổ chức quốc tế về kỹ thuật và tài chính, nhất là cho đầu tư cơ sở hạ tầng vàgiáo dục đào tạo để thực hiện mục tiêu đề ra
Đại học Kinh tế Huế
Trang 32Thứ sáu: Các nguồn vốn vay phải được đầu tư vào sản xuất, đồng thời phải tổ chứcdạy nghề, chuyển giao khoa học kỹ thuật, hướng dẫn cách làm ăn, lựa chọn những nôngdân sản xuất giỏi, bồi dưỡng họ trở thành vấn đề những khuyến nông viên, tuyền truyềnviên và cán bộ tổ chức, chỉ đạo sản xuất kinh doanh giỏi ở cơ sở.
1.3 Tình hình cơ bản của xã Sông Kôn, huyện Đông Giang, Tỉnh Quảng Nam
1.3.1 Vị trí địa lí
Xã Sông Kôn là một đơn vị hành chính cấp cơ sở thuộc huyện Đông Giang, cáchtrung tâm huyện 20 km về phía Tây Nam của huyện Toàn xã có 11 thôn, phần lớn cácthôn đều nằm dọc trên đường ĐT 604 Xã Sông Kôn có vị trí địa lí như sau
- Phía Bắc giáp: Tỉnh Thừa Thiên Huế
- Phía Nam giáp: Xã Jơ Ngây huyện Đông Giang
- phía Đông giáp: Xã ATing huyện Đông Giang
- phía Tây giáp: Xã Tà Lu huyện Đông Giang
Địa hình của xã trải dài, phân tán không tập trung, các thôn bản trong xã bị chiacách bởi các dãy núi, các con sông suối Vì thế gây cho việc liên thông giao lưu giữa cácthôn bản với nhau trong xã cũng như với các xã lân cận khác trong huyện gặp nhiều khókhăn Chính vì vị trí địa lí như vậy đã ảnh hưởng nhiều đến sự phát triển kinh tế-xã hộicủa xã và của các hộ nông dân sinh sống tại địa bàn xã
1.3.2 Điều kiện tự nhiên
1.3.2.1khí hậu, thời tiết
Xã Sông Kôn cũng như các xã khác trong huyện Đông Giang nằm trong vùng khíhậu nhiệt đới ẩm gió mùa, chịu ảnh hưởng sâu sắc của vùng núi cao Trung Trung bộ.Được chia làm hai mùa rõ rệt: mùa mưa từ tháng 9 đến tháng 2 dương lịch và mùa khô từtháng 3 đến tháng 8 dương lịch Lượng mưa trung bình 2.650 mm và trung bình cókhoảng 185-190 ngày mưa trong năm Lượng mưa tập trung 80% vào tháng 10, 11 và 12trong năm Nhiệt độ trung bình 23,50C cao nhất 38,00C và thấp nhất là 8,00C, tổng lượngnhiệt khoảng 8.000-8.5000C, tổng số giờ chiếu sáng khoảng 2.000 giờ /năm Ẩm độ tươngđối trung bình 86,5% cao nhất 97,0% và thấp nhất là 50,0%
Lượng bốc thoát hơi nước trung bình các tháng khoảng 95 mm, tháng cao nhất từ
125 mm-130 mm (chủ yếu các tháng 6, 7 và 8) Mặc dù lượng bốc hơi nước bình quân
Đại học Kinh tế Huế
Trang 33trong năm thấp hơn so với lượng mưa nhưng do mưa không phân bố đều nên hạn cục bộluôn xảy ra ở các tháng mùa khô.
Mùa mưa thường xuất hiện gió Đông Bắc tạo ra những tiểu vùng khác nhau Hiện tượng rétthường kéo dài và lạnh hơn do ảnh hưởng của không khí lạnh từ dãy núi Bà Nà và Bạch Mã Gâyảnh hưởng đến thời vụ sản xuất và điều kiện sinh trưởng phát triển của cây trồng
Trong mùa khô xuất hiện gió mùa Tây Nam, vào giữa tháng 6 đến cuối tháng 7dương lịch (Từ giai đoạn tiết Hạ Chí đến Đại Thử) thường hay có những đợt gió khô nóng
* Đất đai
Xã Sông Kôn là xã miền núi của huyện Đông Giang có tổng diện tích tự nhiên là7936,62 ha Nhưng chủ yếu là đồi núi, đất đai nghèo dinh dưỡng và bị xói mòn rửa trôivào mùa mưa lũ hàng năm, đặc biệt người dân nơi đây không hề dùng các loại phân bón
kể cả phân chuồng, phân xanh Điều đó đã làm ảnh hưởng rất lớn hiệu quả sản xuất nôngnghiệp của hộ nông dân trong xã
1.3.2.3 Nguồn nước, thủy văn
Xã Sông Kôn có địa hình chủ yếu là đồi núi cao, độ dốc lớn và bị chia cắt thành nhiềuvùng, hình thành nên hệ thống sông lớn: sông Kôn, Suối Pho, Suối Apăng, Suối Zuôi
Sông Kôn: Bắt nguồn từ huyện Nam Đông tỉnh Thừa Thiên Huế đi qua thôn BútTưa, thôn Sơn và qua xã Jơ Ngây, xã ATing rồi đổ ra sông Vu Gia Lưu lượng nước trongmùa kiệt là 4m3/s, mùa lũ 21m3/s mực nước trung bình vào mùa khô là 1,5m
Đại học Kinh tế Huế
Trang 34Suối zuôi: Bắt nguồn từ huyện Nam Đông tỉnh Thừa Thiên Huế đi qua thôn Bhồng 1rồi nhập vào suối pho Lưu lượng nước trong mùa kiệt là 1m/s, mùa lũ 5m/s mực nướctrung bình là vào mùa khô là 0,3 m.
Suối Pho: Bắt nguồn từ nhiều khe suối chảy qua các thôn như Bút Nhót, Bền, Sơn
và nhập vào Sông Kôn Lưa lượng nước trong mùa kiệt là 2m/s, mùa lũ 10m/s mực nướctrung bình vào mùa khô là o,5m
Suối Apăng bắt nguồn từ xã Ta Lu chảy xuống xã Sông Kôn qua đi qua các thôn K9,K8, Bhồng 1, Bhồng 2 rồi nhập vào Suối Zuôi
Khe suối: hầu hết các thôn đều có các khe suối phục vụ nước sinh hoạt cho nhân dân.Nguồn nước phục vụ cho sản xuất và sinh hoạt tương đối dồi dào, đảm bảo cung cấpcho người dân Tận dụng nguồn nước đầu nguồn UBND xã đã xin UBND huyện và các tổchức dự án hổ trợ vốn, vật liệu dẫn nước về thôn bản phục vụ nhân dân có nước sinh hoạt.Tuy nhiên, vào mùa mưa chất lượng nước không được đảm bảo vì nguyên nhân chính làkhai thác rừng đầu nguồn, gây lũ lụt trong mùa mưa ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống
và hoạt động sản xuất của người dân Vì vậy cần có những biện pháp bảo vệ rừng, phòngchống phá rừng đầu nguồn đảm bảo chất lượng nguồn nước trong sinh hoạt, phòng chốnggiảm thiệt hại do lũ gây ra trong thời gian đến
1.3.3 Điều kiện kinh tế-xã hội
1.3.3.1 Dân số và lao động của xã Sông Kôn
Xã Sông Kôn gồm có 3 dân tộc chính đó là dân tộc CơTu, dân tộc kinh và dân tộc khác,trong đó dân tộc CơTu chiếm 89,49%, còn dân tộc kinh và dân tộc khác chiếm 10,51%
Đại học Kinh tế Huế
Trang 35Bảng 5 : Tình hình dân số và lao động của xã Sông Kôn qua 3 năm (2008-2010)
-LĐ phi nông nghiệp LĐ 186 20,76 137 14,79 242 22,00 56 30,11
4 Bình quân khẩu/hộ Khẩu/hộ 4,83 - 4,54 - 4,62 - -0,21 4,35
5.Bình quân LĐ/hộ LĐ/hộ 1,93 - 1,91 - 2,12 - 0,19 9,85
( Nguồn số liệu UBND xã Sông Kôn)
Đại học Kinh tế Huế
Trang 36Qua bảng số liệu thu thập được từ văn phòng UBND xã Sông Kôn ta thấy rằng dân số của
xã trong 3 năm tăng giảm không đều nhau, dân số năm 2009 so với năm 2008 giảm 43 khẩu(chiếm 1,25%), còn hộ thì tăng 22 hộ, dân số năm 2010 so với năm 2008 thì tăng 151 khẩu(chiếm 6,74%), hộ cũng tăng 54 hộ (chiếm 11,64%) Nguyên nhân dân số của toàn xã tăng vì
do nhiều nguyên nhân, thứ nhất là do cuộc sống của người dân chưa được nâng cao, trình độhọc vấn thấp, kém hiểu biết, thứ hai do các tổ chức như ban dân số xã, hội phụ nữ, hội nôngdân,… chưa thực sự đi vào hoạt động có hiệu quả trong công tác tuyên truyền, vận động cáccặp vợ chồng thực hiện kế hoạch hóa gia đình Bên cạnh đó tầm nhận thức của người dân cònhạn chế đặc biết là những người CơTu, họ nghĩ rất đơn giản là: Trời sinh voi thì sinh cỏ”, “lắmcon hơn lắm của”, phong tục con trai để nối dõi tông đường, sinh con nhiều thì có nhiều laođộng, có những người dưới miền xuôi lên làm ăn buôn bán nên định cư luôn tại địa bàn…Tất
cả những nguyên nhân đó làm dân số tăng nhanh Còn nguyên nhân hộ tăng lên là do nhiềungười đủ tuổi kết hồn đã lập gia và bố mẹ cho ra ở riêng vì ông bà không thích ôn ào, cãi vảnên sớm cho con cháu tách hộ, chính vì vậy hộ gia đình tăng lên qua các năm Ngoài ra nhữngphụ nữ không có trình độ học vấn hầu như là họ không có quyền quyết định mọi công việc dùlớn hay nhỏ trong gia đình, người có quyền là những người cha, người chồng, chồng nói gì dùđúng hay sai thì người vợ chỉ biết làm theo chứ không giám cải, nếu không nghe thì bị đánhđập, không cho vợ kế hoạch bắt vợ phải đẻ từ 3-5 còn, có cặp vợ chồng đã có một trai một gáivẫn cứ đẻ, còn những người đã có 2 cháu gái thì thích có cháu trai, có cặp vợ chồng có trai thì
đẻ tiếp để có cháu gái, chính vì vậy mà dân số của xã năm 2010 là 2391 người với 518 hộ,trong đó hộ nông nghiệp 465 hộ chiếm 89,36%, trong khi hộ sản xuất phi nông nghiệp là 53 hộchiếm 10,64% Hộ sản xuất nông nghiệp và phi nông nghiệp đều tăng qua các năm, vì nhữngngười dân ở đây không có điều kiện cho con cái học hành đến nơi đến chốn nên kế tiếp nghềcủa cha ông đó là phát rừng làm nương rẫy, trồng trọt và chăn nuôi để nuôi sống bản thân vàngười thân trong gia đình, còn hộ phi nông nghiệp tăng là do những người dưới miền xuôi lênđịnh cư và mở những tạp hóa và nhà hàng
Về lao động: Nhìn chung lực lượng lao động của xã Sông Kôn khá dồi dào Tổng sốlao động năm 2010 là 1099 người so với năm 2008 tăng 203 người chiếm 22.66% Trong
đó tổng số lao động trong lĩnh vực nông nghiệp là 857 lao động chiếm 87%, còn lao độngtrong lĩnh vực phi nông nghiệp là 242 lao động chiếm 22%
Đại học Kinh tế Huế
Trang 37Nhìn chung, quy mô dân số của toàn xã chiếm số lượng nhiều nhưng lao động hoạtđộng trong lĩnh vực phi nông nghiệp còn rất thấp Điều này chứng tỏ kinh tế ở đây kémphát triển, mức thu nhập của nhân dân còn rất thấp, đời sống của nhân dân gặp nhiều khókhăn Vì vậy vấn đề này đặt ra cho chính quyền địa phương nên tìm kiếm những ngànhnghề khác hoặc lĩnh vực ngành nghề khác để tạo việc làm phụ nhằm tăng thêm thu nhậpcho các hộ dân Ví dụ như ngoài thời gian làm mùa vụ, trong những lúc nông nhàn có thểtạo tạo thêm việc làm khác như: Dệt vải, đan tre lát, mây,… để bán tăng thêm thu nhập.
Xã phải có những giải pháp thiết thức hợp lý giải quyết giữa vấn đề dân số và việc làm ổnđịnh nhằm cải thiện cuộc sống của các hộ dân tốt hơn
1.3.3.2 Tình hình sử dụng đất của xã Sông Kôn năm 2008 và 2010
Trong sản xuất nông nghiệp nói chung và lâm nghiệp nói riêng thì đất đai TLSX đặcbiệt, chủ yếu và không thể thay thế được Tổng diện tích đất tự nhiên của xã là 7936,62
ha, diện tích chủ yếu là đồi núi gây không ít khó khăn trở ngại trong việc phát triển kinh
(Nguồn số liệu UBND xã Sông Kôn)
Đại học Kinh tế Huế
Trang 38Nhìn vào bảng số liệu trên ta thấy đất đai được chia làm 3 nhóm, cơ cấu sử dụng đất
có sự biến động qua các năm nhưng mức độ không lớn, tổng diện tích đất tự nhiên của xã
là 7936,62ha, trong đó đất nông nghiệp chiếm diện tích lớn nhất so với các nhóm đấtkhác, đặc biệt là đất sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp thì giảm xuống qua các năm.Nguyên nhân mà đất sản xuất nông nghiệp giảm là do thứ nhất là hằng năm bị thiên tai lũlụt gây sạt lở, rửa trôi, xói mòn; thứ hai do còn áp dụng hình thức canh tác du canh du cư,dẫn đến đất cằn cỗi, bạc màu nên bỏ hoang 4-5 năm mới quay lại khu vực đó sản xuất lại.Đất lâm nghiệp giảm là do việc phá rừng làm nương rẫy của người CơTu, khai thác gỗ đểkiếm sống bữa ăn hàng ngày chứ không có gì để lại gọi là tích lũy, đó chỉ là một nguyênnhân nhỏ, nguyên nhân quan trọng nhất là các người dân từ dưới miền xuôi lên làm ăn đãdùng những máy móc hiện đại khai thác gỗ, tàn phá rừng quá mức đã để lại hậu quả nặng
nề như lấy đi cái thu nhập của người dân bản địa, hằng năm gây ra lũ lụt, sạt lở Điều nàytrở thành vấn đề mà các cấp cần can thiệp vào
Đất phi nông nghiệp có xu hướng tăng lên qua các năm vì xây dựng trụ sở cơ quan
xã, xây dựng các công trình công cộng như trường học, trạm y tế,…Tổng diện tích đấtnông nghiệp của xã năm 2010 so với năm 2008 tăng 70,48 ha chiếm 32,56 %
Với diện tích đất chưa sử dụng năm 2008 là 449,09 ha chiếm 5,66 % trong tổngdiện tích đất tự nhiên của xã, nhưng nhìn chung diện tích đất chưa sử dụng này đã đượcđưa vào sử dụng trong những năm vừa qua Vì vậy diện tích đất có xu hướng giảm quacác năm nên đến năm 2010 còn 413,29 ha Và người dân tận dụng diện tích đất chưa sửdụng vào những mục đích cụ thể như: cải tạo đất hoang hoá, khai hoang đất nhằm pháttriển sản xuất trong lĩnh vực nông lâm nghiệp tạo công ăn việc làm, tăng thu nhập chongười dân
1.3.3.3 Tình hình cơ sở hạ tầng của xã Sông Kôn
Xã Sông Kôn là một xã miền núi, thuộc chương trình 135, 134 của chính phủ, nhữngnăm trước đây cơ sở hạ tầng của xã rất khó khăn khi mùa mưa thì đường bị xạt lở phươngtiện đi lại không đi được, trong lúc đó đời sống của nhân dân gặp nhiều khó khăn, nhưngnhững năm gần đây nhờ có sự đầu tư của chính phủ, các dự án phi chính phủ cùng với sựphấn đấu của UBND xã và toàn thể người dân trên địa bàn nên hệ thống cơ sở hạ tầng của
xã đã thay đổi nhiều
Đại học Kinh tế Huế
Trang 39* Về giao thông- thủy lợi
Toàn xã có 10 km đường giao thông liên xã, xây dựng 1176m đường bê tông nôngthôn ở thôn Cơ Lò, thôn Bút Nhót và thôn Sơn do Tầm nhìn thế giới tài trợ
Xây dựng xong công trình nước tự chảy tại thôn K8, sửa chữa tu dường lại các kênhmương dẫn nước vào ruộng ở thôn Đào và thôn Bút Nhót
Nhìn chung cơ sở hạ tầng của xã còn thiếu thốn rất nhiều, nước tưới tiêu cho lúanước thiếu trầm trọng vấn đề này đặt ra cho các cấp chính quyền kêu gọi các tổ chức dự
án, các nhà tài trợ hổ trợ vốn để xây dựng bể chứa nước tưới phục vụ cho sản xuất lúc trờihạn hán
* Công tác y tế
Công tác chăm sóc sức khỏe cho nhân dân trên địa bàn xã là một trong những côngtác trọng tâm hết sức quan trọng, các chương trình quốc gia đã triển khai cho các thônlàng, làm tốt công tác dự phòng, làm tốt công tác bảo hiểm y tế người nghèo, trẻ em dưới
6 tuổi, hằng năm tổ chức công tác phòng chống dịch bệnh; phòng chống suy dinh dưỡng,triển khai Vitamin A; tiêm chủng mở rộng; phòng chống bệnh lao;… Công tác bảo vệSKBMTE- KHHGĐ hằng năm cũng đạt chỉ tiêu của cấp trên giao Công tác y tế đạt đượcnhững kết quả tốt góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế-xã hội một cách toàn diện trên địabàn xã Xã Sông Kôn có 1 trạm y tế, trạm gồm có 4 cán bộ trong đó1 điều dưỡng, 1 nữ hộsinh sản, 2 y sĩ, ngoài ra còn có 10 cán bộ đội ngũ y tế thôn Cơ sở vật vật chất nghèo nànchỉ có 9 phòng trong đó 5 phòng đã xuống cấp, có 6 giường bệnh Cơ sơ vật chất của trạmcòn hạn chế, trang thiết bị phục vụ khám chữa bệnh nghèo nàn, chưa có bác sĩ phục vụkhám chữa bệnh cho nhân dân tại trạm, trình độ chuyền môn của cán bộ y tế chưa cao nênphục vụ khám chữa bệnh cho nhân dân tại địa bàn xã còn hạn chế và gặp nhiều khó khăn
* Về văn hóa- giáo dục
Vì địa hình của xã trải dài dọc đường quốc lộ và hai bên sông Apăng và sông Pho
nên các ngồi trường được xây dựng 1 điểm chính và nhiều điểm lẻ.
Xã có 1 trường Tiểu học gồm 1 điểm trường chính và 3 điểm lẻ trong đó:
Gồm có 12 phòng học, 6 phòng ở của cán bộ giáo viên
Về cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ cho việc học tập và giảng dạy của nhàtrường gồm có thư viện, phòng truyền thống đội phòng hội đồng
Đại học Kinh tế Huế
Trang 40Năm 2010-2011 tổng số học sinh Tiểu học là 246 em, trong đó học sinh con em dân tộc
212 chiếm tỉ lệ 86,2% Trong năm học 2010-2011 không có học sinh bỏ học giữa chừng.Trường mẫu giáo gồm 1 điểm chính và 3 điểm phụ, gồm 6 phòng học với 145 cháu
Kết quả của năm học qua tỉ lệ học sinh đạt loại giỏi là 37 em chiếm 15,04%, khá 105
em chiếm 42,68%, trung bình 114 em chiếm 46,34%, yếu 5 em chiếm 2,03% Học sinhtốt nghiệp Tiêu học có 62 em đạt 100% Xét vào học lớp 6 có 60 em
Nhìn chung công tác giáo dục của xã là rất tốt, trong các năm học qua được sự quantâm của Đảng ủy, UBND xã Sông Kôn, hàng năm đươc sự chỉ đạo kịp thời của phònggiáo & đào tạo huyện Đông Giang, được sự quan tâm và giúp đỡ của các dự án, chươngchình phát triển vùng huyện Đông Giang đã đầu tư cho việc học tập và coi đây là việclàm thường xuyên, thực hiện nghị quyết của Đảng về công tác xã hội hóa giáo dục,chuyền tải được nhận thức công tác giáo dục cho toàn dân, đầu tư kinh tế cho việc họctập, xây dựng cơ sở hạ tầng trang thiết bị cho nhà trường và học sinh nhằm phục vụ choviệc giảng dậy và học tập được tốt hơn Đội ngũ cán bộ giáo viên đầy đủ., nhiệt tình, cótrách nhiệm cao trong công việc giảng dậy, có giáo viên chuyên sâu Mĩ thuật, âm nhạc,thể dục,… Tuy nhiên cũng không ít khó khăn trong công việc giảng dạy của giáo viên vìngười địa phương chưa thông thạo tiếng phổ thông nên tiếp thu bài còn hạn chế, đời sốngcủa nhân dân còn khó khăn nên nhiều bậc phụ huynh chưa quan tâm đến việc học tập củacon em, học sinh đi học còn xa nhiều em nhà cách trường từ 4- 5 km, dụng cụ phục vụcho việc giảng dạy còn thiếu thốn, cơ sở vật chất chưa đảm bảo, chưa có phòng chứcnăng, phòng công vụ cho giáo viên còn thiếu
*Về hệ thống điện và mạng lưới thông tin liên lạc
Có thể nói hệ thống điện đã đem lại một nền văn hóa cho vùng đồi núi của xã SôngKôn nói chung và các thôn bản nói riêng Trước đây chưa có điện người dân phải thắpđèn dầu để thắp sáng, người dân không hề biết thông tin gì về giá cả thị trường, cácchương trình người bạn của nhà nông và nhiều chương trình có ích khác Từ khi có điệnđời sống của bà con nơi đây đã có nhiều thay đổi hơn trước nhiều, hiện nay có 465/ 516
hộ sử dùng điện thắp sáng, đoạn đường giao thông tai khu vực xã đã có đèn chiếu sáng.Chất lượng văn hóa truyền thanh được nâng cao, có nhiều hoạt động tích cực trongcông tác tuyên truyền các chính sách của Đảng, pháp luật của nhà nước, xây dựng đời
Đại học Kinh tế Huế