1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu tình hình việc làm và thu nhập của phụ nữ xã dương thủy, huyện lệ thủy, tỉnh quảng bình

109 281 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 109
Dung lượng 837,83 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

 Các kết quả nghiên cứu đạt được - Nêu lên được thực trạng việc làm và thu nhập của lao động nữ nông thôn xãDương Thủy, tỉnh Quảng Bình - Đề ra những giải pháp thiết thực nhằm tạo việc

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ KHOA KINH TẾ VÀ PHÁT TRIỂN

- -KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

NGHIÊN CỨU TÌNH HÌNH VIỆC LÀM VÀ THU NHẬP CỦA PHỤ NỮ XÃ DƯƠNG THỦY - HUYỆN LỆ THỦY

Trang 2

KHOA KINH TẾ VÀ PHÁT TRIỂN

- -KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

NGHIÊN CỨU TÌNH HÌNH VIỆC LÀM VÀ THU NHẬP CỦA PHỤ NỮ XÃ DƯƠNG THỦY - HUYỆN LỆ THỦY

Trang 3

Thời gian thực tập là quãng thời gian thật có ý nghĩa đối với mỗi sinh viên, nó không những giúp sinh viên có thể vận dụng những kiến thức có được trên giảng đường đại học mà nó còn giúp sinh viên hiểu

được thực tế, làm quen với các nghiệp vụ kinh tế Qua đó phân tích

đánh giá thực trạng của địa phương hay của công ty Trên cơ sở đó đúc kết lại các kinh nghiệm bổ ích chuẩn bị hành trang cho chặng đường mới tiếp theo của bản thân sau này.

Qua đây cho phép tôi bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến thầy giáo Thạc sỹ Lê Sỹ Hùng đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong suốt thời gian làm đề tài.

Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn đến Ban lãnh đạo, quý phòng ban và toàn thể cán bộ công nhân viên phòng Lao động thương binh xã hội, cũng như các cô, chú ở UBND xã Dương Thủy, huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình và toàn thể các hộ gia đình đã tạo điều kiện thuận lợi cho chúng tôi tiếp xúc điều tra, phỏng vấn và xin số liệu.

Xin được cảm ơn những người thân, bạn bè đã luôn cổ vũ động viên tôi trong suốt quá trình hoàn thành đề tài này.

Do thời gian và năng lực còn hạn chế nên đề tài khó tránh khỏi những sai sót, rất mong sự quan tâm góp ý của quý thầy cô và các bạn sinh viên để đề tài được hoàn thiện hơn.

Một lần nữa, tôi xin chân thành cảm ơn !

Sinh viên thực hiện Phạm Thị Hiền

Đại học Kinh tế Huế

Trang 4

LỜI CẢM ƠN i

MỤC LỤC iv

DANH MỤC CÁC THUẬT NGỮ VIẾT TẮT vii

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU viii

TÓM TẮT NGHIÊN CỨU ix

PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục đích nghiên cứu của đề tài 3

3 Phương pháp nghiên cứu 4

4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu đề tài 5

5 Kết cấu của đề tài 5

PHẦN II: NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 6

CHƯƠNG I: CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 6

1.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN 6

1.1.1 Một số khái niệm 6

1.1.1.1 Giới và giới tính 6

1.1.1.2 Việc làm 7

1.1.1.3 Thu nhập 9

1.1.2 Vai trò của phụ nữ đối với xã hội 11

1.1.2.1 Phụ nữ - nguồn nhân lực quan trọng của đất nước 11

1.1.2.2 Vai trò của phụ nữ trong giáo dục 12

1.1.2.3 Vai trò của phụ nữ trong việc chăm sóc gia đình 13

1.2 CƠ SỞ THỰC TIỄN 14

1.2.1 Việc làm và thu nhập của phụ nữ nông thôn Việt Nam 14

1.2.1.1 Thực trạng việc làm và thu nhập của phụ nữ nông thôn Việt Nam 14

1.2.1.2 Vấn đề tạo việc làm, tăng thu nhập của phụ nữ nông thôn 17

1.2.2 Quan điểm của Đảng và nhà nước ta về vấn đề giải quyết việc làm 18

1.2.3 Một số chỉ tiêu đánh giá việc làm và thu nhập cho lao động nữ 20

1.2.3.1 Tỷ suất quỹ thời gian làm việc của lao động nông thôn trong năm 20

1.2.3.2 Thu nhập bình quân một lao động nông thôn trong năm 22

Đại học Kinh tế Huế

Trang 5

2.1 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN 24

2.1.1 Vị trí địa lý và địa hình 24

2.1.2 Khí hậu thủy văn 24

2.1.2.1 Khí hậu 24

2.1.2.2 Thủy văn 25

2.1.3 Các nguồn tài nguyên 25

2.2 ĐIỀU KIỆN KINH TẾ - XÃ HỘI 26

2.2.1 Tình hình đất đai của xã Dương Thủy 26

2.2.2 Tình hình dân số và lao động xã Dương Thủy 29

2.2.3 Tình hình cơ sở hạ tầng của xã Dương Thủy 32

2.2.4 Cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ sản xuất nông nghiệp 33

2.3 ĐÁNH GIÁ CHUNG VỀ TÌNH HÌNH CƠ BẢN 35

CHƯƠNG III: THỰC TRẠNG NGUỒN LAO ĐỘNG, VIỆC LÀM VÀ THU NHẬP CỦA PHỤ NỮ XÃ DƯƠNG THỦY 37

3.1 THỰC TRẠNG ĐỜI SỐNG CỦA CÁC HỘ ĐIỀU TRA XÃ DƯƠNG THỦY 37

3.2 NĂNG LỰC SẢN XUẤT CỦA CÁC HỘ ĐIỀU TRA XÃ DƯƠNG THỦY 39

3.2.1 Đất đai 40

3.2.2 Tình hình nhân khẩu và lao động 43

3.2.3 Trình độ văn hóa và chuyên môn của nguồn lao động 47

3.3 THỰC TRẠNG LAO ĐỘNG NỮ XÃ DƯƠNG THỦY 50

3.3.1 Cơ cấu lao động nữ 50

3.3.2 Mức độ tham gia của lao động nữ vào kinh tế gia đình 53

3.3.3 So sánh thời gian làm việc trong ngày của lao động nam và lao động nữ 58

3.3.4 Thời gian làm việc trong năm của lao động nữ 61

3.4 THỰC TRẠNG THU NHẬP CỦA PHỤ NỮ XÃ DƯƠNG THỦY 64

3.5 NHU CẦU VIỆC LÀM VÀ NGUYỆN VỌNG CỦA LAO ĐỘNG NỮ XÃ DƯƠNG THỦY 68

3.5.1 Nhu cầu việc làm của lao động nữ xã Dương Thủy 68

3.5.2 Nguyện vọng của lao động nữ xã Dương Thủy 72

CHƯƠNG IV: MỘT SỐ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU NHẰM TẠO VIỆC LÀM, TĂNG THU NHẬP CHO PHỤ NỮ XÃ DƯƠNG THỦY 75

Đại học Kinh tế Huế

Trang 6

4.1.1 Thực hiện nhất quán chủ trương 75

4.1.2 Giải quyết việc làm và tạo việc làm cho lao động nữ ở nông thôn phải gắn liền và dựa trên cơ sở khai thác, sử dụng tối đa và có hiệu quả tiềm năng nguồn lực hiện có trên mỗi vùng, mỗi địa phương và mỗi cộng đồng dân cư Theo đó nhằm kết hợp giữa phân công lao động và tạo việc làm tại chỗ là chính, đồng thời với quá trình phân bổ lại dân cư và lực lượng sản xuất trên phạm vi toàn xã hội 76

4.1.3 Giải quyết việc làm và thu nhập cho phụ nữ nông thôn phải xem xét mối quan hệ giữa việc làm, điều kiện lao động và hiệu quả thu nhập 77

4.1.4 Giải quyết việc làm cho phụ nữ nông thôn trên phương diện tổng thể và dài hạn 78

4.2 CÁC GIẢI PHÁP CỤ THỂ NHẰM TẠO VIỆC LÀM, TĂNG THU NHẬP CHO PHỤ NỮ XÃ DƯƠNG THỦY 80

4.2.1 Quy hoạch và chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn 80

4.2.2 Phát triển kinh tế vùng gò đồi 82

4.2.3 Phát triển các ngành nghề dịch vụ để tạo việc làm tăng thu nhập cho lao động nông thôn nói chung và phụ nữ nói riêng 82

4.2.3.1 Ngành nghề truyền thống 82

4.2.3.2 Ngành nghề phi nông nghiệp và các nghề nông nghiệp khác 83

4.2.4 Thực hiện thâm canh tăng năng suất cây trồng và tăng hệ số sử dụng đất 84

4.2.5 Các giải pháp về thị trường 86

4.2.6 Hoàn thiện chính sách vĩ mô của nhà nước đối với phụ nữ nông thôn là giải pháp và động lực quan trọng 87

4.2.6.1 Chính sách tạo việc làm 87

4.2.6.2 Chính sách cung cấp tín dụng cho phụ nữ nông thôn để phát triển sản xuất, tạo thêm việc làm tăng thu nhập 88

4.2.7 Chính sách kế hoạch hóa gia đình 88

4.2.7.1 Tiếp tục đẩy mạnh công tác thông tin – giáo dục – truyền thông (TGT) 88

4.2.7.2 Giải pháp y tế 89

4.2.8 Giải pháp lao động tự tạo việc làm 89

PHẦN III: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 91

I.KẾT LUẬN 91

II.KIẾN NGHỊ 91

DANH MỤC CÁC TÀI LIỆU THAM KHẢO 95

Đại học Kinh tế Huế

Trang 7

CNH – HĐH : Công nghiệp hóa – hiện đại hóa

TGT : Thông tin – Giáo dục – Truyền thông

DS– KHHGĐ : Dân số - Kế hoạch hóa gia đình

TYM : Tổ chức tài chính quy mô nhỏ trách nhiệm hữu hạn một thành

Trang 8

Bảng 1: Tình hình biến động đất đai của xã Dương Thủy qua 3 năm 2008 – 2010 28

Bảng 2: Tình hình dân số và lao động của xã Dương Thủy qua 3 năm 2008 – 2010 31

Bảng 3: Một số tư liệu sản xuất phục vụ sản xuất nông nghiệp năm 2010 của xã Dương Thủy 34

Bảng 4: Phân loại số hộ điều tra theo các loại hình sản xuất kinh doanh 37

Bảng 5: Phân tổ các hộ nghiên cứu theo ngành nghề sản xuất kinh doanh và mức thu nhập 38

Bảng 6: Tình hình đất đai của các hộ điều tra năm 2010 42

Bảng 7: Tình hình nhân khẩu và lao động của các hộ điều tra năm 2010 45

Bảng 8: Trình độ văn hóa và chuyên môn của lao động ở các hộ điều tra 48

Bảng 9: Phân loại lao động của các hộ điều tra 52

Bảng 10: Mức độ tham gia của phụ nữ trong hoạt động sản xuất và công việc gia đình 55

Bảng 11: Thời gian làm việc trong ngày của lao động nam và lao động nữ 59

Bảng 12: Phân tổ lao động nữ theo số ngày làm việc trong năm 62

Bảng 13: Cơ cấu thu nhập của các hộ điều tra 66

Bảng 14: Nhu cầu việc làm của phụ nữ Xã Dương Thủy 70

Bảng 15: Nguyện vọng của lao động nữ xã Dương Thủy 72

Đại học Kinh tế Huế

Trang 9

 Mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu xuyên suốt của quá trình nghiên cứu là phân tích đánh giá một cách toàndiện có hệ thống thực trạng sử dụng lao động xã Dương Thủy, từ đó nghiên cứu đềxuất định hướng và một số giải pháp cơ bản có tính khả thi cụ thể để tạo việc làm, tăngthu nhập nâng cao mức sống cho phụ nữ nông thôn địa bàn nghiên cứu

 Dữ liệu nghiên cứu

- Các báo cáo hằng năm của ban chấp hành hội phụ nữ xã Dương Thủy

- Các báo cáo chung của UBND xã Dương Thủy

- Các kết quả điều tra thực tế về việc làm và thu nhập của lao động nữ xã Dương Thủy

- Các tài liệu liên quan khác

 Phương pháp sử dụng nghiên cứu

- Phương pháp điều tra thống kê

- Phương pháp phân tổ thống kê nhằm phân tích các chỉ tiêu nghiên cứu

- Phương pháp phân tích kinh tế để rút ra nhận xét

- Phương pháp điều tra phỏng vấn ghi chép trực tiếp từ các hộ gia đình xã Dương Thủy

 Các kết quả nghiên cứu đạt được

- Nêu lên được thực trạng việc làm và thu nhập của lao động nữ nông thôn xãDương Thủy, tỉnh Quảng Bình

- Đề ra những giải pháp thiết thực nhằm tạo việc làm để sử dụng nguồn lao động

nữ một cách hợp lý, nâng cao thu nhập cho họ, cải thiện chất lượng đời sống của phụ

nữ và gia đình góp phần vào phát triển kinh tế địa phương

Đại học Kinh tế Huế

Trang 10

PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ

1 Lý do chọn đề tài

Chủ tịch Hồ Chí Minh là một trong những nhà lãnh đạo Việt Nam đầu tiên hiểu và

đặc biệt quan tâm đến vai trò, vị thế của phụ nữ trong phong trào cách mạng thế giới nói

chung và sự nghiệp cách mạng Việt Nam nói riêng Người cho rằng, sự nghiệp giải phóngloài người, giải phóng xã hội, giải phóng giai cấp, giải phóng dân tộc, xây dựng chủ nghĩa

xã hội phải gắn liền với sự nghiệp giải phóng phụ nữ Người viết: “Nói phụ nữ là nói phânnữa xã hội Nếu không giải phóng phụ nữ thì không giải phóng một nữa loài người Nếukhông giải phóng phụ nữ là xây dựng chủ nghĩa xã hội mới chỉ một nửa” (Hồ Chí Minh:Toàn tập NXB chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1996, tập 9, tr.523)

Trong tiến trình cách mạng, được sự quan tâm của Đảng, Chính phủ và Chủtịch Hồ Chí Minh, phụ nữ Việt Nam không chỉ góp sức mình trong sự nghiệp giảiphóng dân tộc, mà còn tự giải phóng bản thân mình Trong hai cuộc trường chinhchống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, phụ nữ đã không chỉ được giải phóng,

đóng góp sức mình cho sự nghiệp cách mạng như Người từng nhấn mạnh: “Non sông

gấm vóc Việt Nam do phụ nữ ta, trẻ cũng như già, ra sức dệt thêu mà thêm tốt đẹp, rựcrỡ”, mà còn từng bước chiến thắng những tập tục, những quan niệm cổ hủ và tự chiếnthắng chính bản thân mình, để thực sự hướng tới quyền bình đẳng thực sự, vì đó luôn

là “một cuộc cách mạng to và khó” Tuy nhiên cũng theo lời Chủ tịch Hồ Chí Minh,

dù quyền bình đẳng của phụ nữ đã được ghi rõ trong các văn bản pháp lý quan trọng,song giải phóng người phụ nữ triệt để, thực hiện sự bình quyền, thì không có nghĩa làchỉ thực hiện một sự phân công mới, bình đẳng giữa vợ và chồng trong những côngviệc gia đình Điều căn bản là phải có sự phân công, sắp xếp lại lao động của toàn xãhội, đưa phụ nữ tham gia vào nhiều ngành nghề như nam giới Cần tổ chức lại đờisống công nông, cũng như sinh hoạt gia đình để phụ nữ giảm nhẹ công việc bếp núc,

chăm lo con cái, có điều kiện học tập nâng cao trình độ mọi mặt và tham gia công tác

xã hội Từ đó, chị em mới có đủ khả năng làm nhiều công việc chuyên môn và đảmnhiệm được những chức vụ công tác ngang hàng với nam giới

Cuộc sống không ngừng vận động, người phụ nữ ngày nay càng gánh thêmnhiều trọng trách xã hội, áp lực công việc và trách nhiệm gia đình trên đôi vai nhỏ bé

Đại học Kinh tế Huế

Trang 11

của mình Có thể nói rằng trong tất cả các lĩnh vực hoạt động của con người từ chínhtrị, kinh tế đến văn hóa, người phụ nữ bao giờ cũng có vị trí và vai trò nhất định.

Trong những năm gần đây nhờ đường lối đổi mới của Đảng và nhà nước ta, nhiều

lao động đã và đang từng bước xâm nhập vào thị trường lao động của các nước trên thế

giới Tuy nhiên do nước ta còn khó khăn, còn tồn tại tình trạng thiếu việc làm hoặc việclàm không ổn định Chính vì vậy làm thế nào đó để ổn định, cải thiện và nâng cao mứcsống của người dân nông thôn là một việc quan trọng, cấp bách đối với các cấp lãnh đạo

nhà nước để đưa nước ta thành một nước phát triển, đặc biệt là trong thời kỳ hội nhập kinh

tế quốc tế hiện nay Trong nguồn lao động dồi dào của cả nước nói chung, khu vực nôngthôn nói riêng, lực lượng lao động nữ đóng một vai trò hết sức quan trọng trong việc tạo

ra của cải vật chất cho xã hội đặc biệt là trong việc tái sản xuất ra nòi giống, giữ gìn hạnh

phúc gia đình Họ vừa là những người con, người vợ, người mẹ và vừa tham gia vào công

tác xã hội Họ đóng góp một phần to lớn vào tiến trình phát triển của nhân loại Nhữngcông việc mà người phụ nữ đóng góp cho gia đình và xã hội không những được tính bằngcác giá trị hiện vật mà bao gồm cả những giá trị tinh thần hết sức to lớn Bởi họ sinh ra là

để viết nên khúc nhạc tình yêu của con người Có lẽ vậy mà Schiller đã từng nói rằng:

“Cao quý thay người phụ nữ ! Họ kết nên những bông hoa tươi đẹp của thượng giới ngaytrong đời sống phàm tục của chúng ta”

Tuy nhiên do tốc độ dân số tăng nhanh cùng với quá trình công nghiệp hóa, hiện

đại hóa đất nước và sự tiến bộ khoa học kỹ thuật ngày càng nhanh chóng, việc ứng dụng

những thành tựu khoa học kỹ thuật vào hoạt động sản xuất làm cho năng suất lao động

được tăng lên, sức lao động của con người cũng được giảm đi một phần đáng kể Mặt

khác, Việt Nam đã gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) là cơ hội tốt để ViệtNam hội nhập sâu hơn vào nền kinh tế thế giới, được đối xử bình đẳng trên “sân chơi

chung” của thế giới Hội nhập đem lại nhiều cơ hội việc làm, đặc biệt là việc làm theohướng công nghiệp với hàm lượng vốn, tri thức cao; các rào cản pháp lý về di chuyển

pháp nhân, thể nhân được nới lỏng, các quan hệ kinh tế, đối ngoại, lao động… được thiếtlập tạo điều kiện cho lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài Tuy nhiên, cạnh tranh

về lao động trình độ cao sẽ ngày càng gay gắt Hội nhập, toàn cầu hoá trở thành xu thế

chung, lao động nước ngoài (đặc biệt là lao động có kỹ thuật, trình độ quản lý…) tham gia

Đại học Kinh tế Huế

Trang 12

vào thị trường lao động Việt Nam nhiều hơn, đồng thời lao động của Việt Nam cũng dichuyển ra nước ngoài nhiều hơn Cạnh tranh trở nên gay gắt hơn, nhiều doanh nghiệp bịphá sản, nhiều người lao động bị mất việc làm; tốc độ đô thị hoá nhanh, người nông dân

bị thiếu việc làm hoặc mất việc làm do thiếu đất canh tác…

Vì vậy, vấn đề đặt ra là lao động nói chung và lao động nữ nói riêng phải cótrình độ chuyên môn, sức khỏe nhất định mới có thể hoàn thành tốt công việc được

giao Đây là một vấn đề khó khăn đối với những người phụ nữ nông thôn trình độ và

chuyên môn còn hạn chế Do đó, dẫn đến tình trạng thất nghiệp thiếu việc làm ngày

càng tăng gây ảnh hưởng đến đời sống kinh tế của người dân Chính vì vậy tạo việc

làm cho phụ nữ là điều kiện tiên quyết giúp họ nâng cao được vai trò của mình trong

gia đình và ngoài xã hội, góp phần vào sự nghiệp giải phóng phụ nữ, từng bước thực

hiện công bằng xã hội

Cũng như phụ nữ cả nước, phụ nữ xã Dương Thủy cũng gặp nhiều khó khăntrong sản xuất và đời sống Là một xã gần như thuần nông, đất đai chủ yếu tập trungvào cây lúa, mà cây lúa thường đem lại hiệu quả không cao cho người dân địa phương,thêm vào đó quỹ đất nông nghiệp có hạn, vì vậy mặc dù làm ruộng vắt kiệt mồ hôi màcũng chỉ đủ ăn Nguyên nhân chủ yếu là do cơ cấu kinh tế nông nghiệp và nông thônchuyển dịch còn chậm; các nguồn lực về vốn, thông tin, khoa học kỹ thuật, hỗ trợ nôngdân thực hiện các chương trình xoá đói giảm nghèo và phát triển kinh tế bền vững chưa

đáp ứng nhu cầu phát triển; việc sử dụng quỹ đất chưa tương xứng với tiềm năng của

vùng dẫn đến tình trạng manh mún, phân tán ruộng đất Những yếu tố đó đã làm cho thunhập thu nhập bình quân đầu người trong xã còn thấp, vì vậy đời sống vật chất của họ còngặp nhiều khó khăn Trong những năm gần đây, ngoài làm nông để nâng cao đời sống

gia đình một số chị em đã đa dạng hóa các ngành nghề góp phần tăng thu nhập cho giađình như chằm nón, nấu rượu, buôn bán Xuất phát từ thực tiễn đó, tôi đã mạnh dạn

chọn đề tài: “Nghiên cứu tình hình việc làm và thu nhập của phụ nữ xã Dương

Th ủy, huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình” làm đề tài tốt nghiệp của mình.

2 Mục đích nghiên cứu của đề tài

Đề tài này được nghiên cứu với mục đích:

- Đề tài góp phần hệ thống hóa một số vấn đề lý luận cơ bản về việc làm, thunhập cho phụ nữ nông thôn nói chung và phụ nữ xã Dương Thủy nói riêng

Đại học Kinh tế Huế

Trang 13

- Phân tích đánh giá một cách toàn diện có hệ thống thực trạng sử dụng lao

động nữ ở nông thôn xã Dương Thủy

- Từ đó đề xuất một số giải pháp cơ bản để tạo việc làm, tăng thu nhập và nângcao mức sống cho phụ nữ nông thôn ở địa bàn nghiên cứu

3 Phương pháp nghiên cứu

Để hoàn thành đề tài này chúng tôi đã sử dụng các biện pháp nghiên cứu sau:

- Phương pháp điều tra chọn mẫu

- Phương pháp thu thập số liệu

+ Số liệu thứ cấp: Thông tin thu thập từ UBND Xã Dương Thủy

+ Số liệu sơ cấp: Số liệu sơ cấp được thu thập từ số liệu điều tra phỏng vấn 60

hộ ở các thôn theo mẫu đã được thiết kế sẵn phục vụ cho quá trình nghiên cứu

Phương pháp điều tra là phỏng vấn trực tiếp hộ dân đã được chọn trước

- Phương pháp phân tổ thống kê

Căn cứ vào các tiêu thức khác nhau của các hộ điều tra để phân thành các tổ có

tính chất khác nhau

- Phương pháp chuyên gia, chuyên khảo

Nghiên cứu dựa trên sự chỉ dẫn, góp ý của giảng viên hướng dẫn, các cô chú ở

cơ quan thực tập, cán bộ địa phương và các hộ dân

- Phương pháp phân tích kinh tế

Từ các số liệu thu thập được, xây dựng hệ thống bảng biểu để phân tích đánhgiá tình hình chung qua các năm và tình hình sử dụng lao động và việc làm của Xãtrong những năm qua Đồng thời nghiên cứu còn sử dụng các chỉ tiêu kinh tế để đánhgiá kết quả của quá trình giải quyết việc làm của lao động Nông thôn xã Dương Thủy,huyện Lệ Thủy, Tỉnh Quảng Bình

- Phương pháp hệ thống nhằm xem xét các tương tác của các yếu tố bên trong

và bên ngoài

- Phương pháp so sánh

Cùng một chỉ tiêu nhưng trong thời gian khác nhau vì vậy cần phải so sánh sốliệu giữa các năm để từ đó rút ra nhận xét cũng như đánh giá được tính hiệu quả củaviệc thực hiện đó

Đại học Kinh tế Huế

Trang 14

4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu đề tài

- Đối tượng nghiên cứu của đề tài

Tình hình việc làm và thu nhập của phụ nữ nông thôn xã Dương Thủy, huyện

Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình

- Phạm vi nghiên cứu của đề tài

 Phạm vi không gian: Địa bàn được chọn để thu thập thông tin phục vụ cho

đề tài là xã Dương Thủy, Huyện Lệ Thủy, Tỉnh Quảng Bình

 Phạm vi thời gian: Tình hình việc làm và thu nhập năm 2010 của phụ nữ xã

Dương Thủy

5 Kết cấu của đề tài

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, đề tài đượckết cấu làm 4 chương

Chương 1: Cơ sở khoa học của vấn đề nghiên cứu

Chương 2: Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của xã Dương Thủy, Huyện Lệ

Thủy, Tỉnh Quảng Bình

Chương 3: Thực trạng nguồn lao động, việc làm và thu nhập của phụ nữ xãDương Thủy, Huyện Lệ Thủy, Tỉnh Quảng Bình

Chương 4: Một số giải pháp chủ yếu nhằm tạo việc làm, tăng thu nhập cho phụ

nữ xã Dương Thủy, Huyện Lệ Thủy, Tỉnh Quảng Bình

Đại học Kinh tế Huế

Trang 15

PHẦN II: NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

CHƯƠNG I: CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

ta tiến hành tìm hiểu các quan điểm về giới và giới tính

a/ Gi ới

Xét về mặt giới, nam giới và nữ giới thì rõ ràng nữ giới chịu nhiều thiệt thòi

hơn Tuy nhiên, nói như vậy không có nghĩa là phủ nhận hoàn toàn vai trò của phụ nữ

Bởi vì ngày nay nhiều phụ nữ trên thế giới và Việt Nam đã có nhiều người nổi tiếngtrong nhiều lĩnh vực như văn học, khoa học, nghệ thuật…hay đảm nhận những chức

vụ quan trọng trong hoạt động chính trị như nữ Thủ tướng đầu tiên của Anh MargaretThatcher - người được mệnh danh là "người đàn bà thép" trên chính trường, Bộ trưởng

bộ ngoại giao Mỹ bà Condoleeza Rice, Phó chủ nhiệm Văn phòng Quốc Hội bà Tôn

Nữ Thị Ninh, Phó Chủ tịch Nước Trương Mỹ Hoa

Như vậy, vấn đề “giới là một phạm trù xã hội, chịu ảnh hưởng của những hoàn

cảnh xã hội khác nhau nên có tính lịch sử cụ thể theo không gian và thời gian” Giớichỉ mối quan hệ xã hội và tương quan giữa nam và nữ giới trong bối cảnh xã hội cụthể Nói đến mối quan hệ giới là nói đến cách thức phân định xã hội giữa nam giới vàphụ nữ liên quan đến hàng loạt vấn đề thuộc về thể chế và xã hội chứ không phải làmối quan hệ cá biệt giữa nam và nữ

Những đặc trưng về giới như cách cư xử của nam giới và nữ giới, cách đối xửgiữa nam và nữ, sự phân công giữa họ trong lao động xã hội và lao động xã hội, sự

hưởng vật chất và văn hóa, lối sống, nếp sống của họ, thậm chí cả cách ăn mặc và

Đại học Kinh tế Huế

Trang 16

trang điểm đều chịu ảnh hưởng của những nét đặc trưng văn hóa riêng biệt và không

phải giống nhau cho mọi người đàn ông hay phụ nữ trên thế giới

Các vai trò giới khác với các vai trò giới tính – mang đặc điểm sinh học Nhữngvai trò khác nhau này chịu ảnh hưởng bởi các nhân tố lịch sử, tôn giáo, kinh tế, vănhóa và chủng tộc Do vậy, vai trò giới của chúng ta không phải có từ khi chúng ta đượcsinh ra – mà là những điều mà chúng ta được dạy dỗ và thu nhận từ khi còn nhỏ vàtrong suốt quá trình trưởng thành

Đặc điểm giới và các mối quan hệ giới là các khía cạnh quan trọng của một nền văn

hóa bởi chúng quyết định lối sống trong gia đình và ngoài cộng đồng và nơi làm việc

b/ Gi ới tính

Giới tính (giống) là chỉ sự khác biệt về mặt sinh học của nam và nữ Sự khácbiệt này chủ yếu liên quan đến chức năng tái sản xuất giống nòi và do các yếu tố tự

nhiên quy định Giới tính là đặc tính thiên bẩm, nó không thể thay đổi theo không gian

và thời gian Chính đặc tính đó ảnh hưởng rất lớn đến mức độ phân công, tham gia củaphụ nữ vào trong công việc kinh doanh, công tác xã hội

Như vậy giữa đàn ông và phụ nữ có những đặc tính khác biệt, khác nhau cơ

bản Để có thể giải quyết được vấn đề việc làm cho phụ nữ, chúng ta tìm hiểu những

đặc điểm và những yếu tố ảnh hưởng đến lao động nữ

1.1.1.2 Việc làm

Con người là một nhân tố quan trọng, vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự

phát triển kinh tế xã hội Bản thân cá nhân mỗi người trong nền sản xuất xã hội đềuchiếm những vị trí nhất định, mỗi vị trí mà người lao động chiếm giữ trong hệ thốngsản xuất xã hội với tư cách là một sự kết hợp của các yếu tố khác trong quá trình sảnxuất được gọi là chỗ làm hay việc làm

Việc làm là phạm trù để chỉ trạng thái phù hợp giữa sức lao động và những điềukiện cần thiết (Vốn, TLSX, công nghệ ) để sử dụng sức lao động đó

Việc làm là một trong các điều kiện nhằm đảm bảo an toàn ổn định và pháttriển xã hội Hội nghị thượng đỉnh Cophenhaghen tháng 3 năm 1995 đã coi việc mởrộng việc làm là một trong những nội dung cơ bản nhất trong chiến lược phát triển của

xã hội các nước trên thế giới đến năm 2000 và 2010

Đại học Kinh tế Huế

Trang 17

Theo Điều 13, chương II Bộ luật lao động của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa

Việt Nam năm 1994 ghi: “Mọi hoạt động lao động tạo ra nguồn thu nhập không bịpháp luật cấm đều được thừa nhận là việc làm”

Với khái niệm trên, các hoạt động được xác định là việc làm bao gồm:

- Là những công việc được trả công dưới dạng tiền hoặc hiện vật

- Những công việc tự làm để mang lại lợi ích cho bản thân hoặc tạo ra thunhập cho gia đình mình nhưng không được trả công cho công việc đó

Quan điểm này sẽ làm cho nội dung của việc làm được mở rộng và tạo khảnăng to lớn để giải phóng tiềm năng lao động, giải quyết việc làm cho người lao động

Theo quan niệm của tổ chức lao động quốc tế (ILO): Người có việc làm là

người làm trong các lĩnh vực, ngành nghề, dạng hoạt động có ích, không bị pháp luậtngăn cấm, đem lại thu nhập để nuôi sống bản thân và gia đình, đồng thời đóng góp

một phần cho xã hội Như vậy, để có việc làm không chỉ vào cơ quan Nhà nước, trongcác doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế, mà còn ngay tại gia đình do chính

người lao động tạo ra để có thu nhập Nói chung, bất cứ nghề nào cần thiết cho xã hội

mang lại thu nhập cho người lao động và không bị pháp luật nghiêm cấm thì đó là việclàm Nó không hạn chế mặt không gian, ở đây người lao động được tự do hoạt độngliên doanh, liên kết, tự do thuê mướn lao động theo pháp luật và sự hướng dẫn của nhà

nước để tạo việc làm cho mình và thu hút thêm lao động xã hội theo quan hệ cung cầu

trên thị trường lao động

Như vậy, việc làm là một phạm trù tồn tại khách quan trong nền sản xuất xã

hội, phụ thuộc vào các điều kiện hiện có của nền sản xuất Một người lao động có việc

làm khi người ấy chiếm được một vị trí nhất định trong hệ thống sản xuất của xã hội

Thông qua việc làm để người ấy thực hiện quá trình lao động tạo ra sản phẩm và thunhập của người ấy

Tạo việc làm theo nghĩa rộng bao gồm những vấn đề liên quan đến việc pháttriển và sử dụng có hiệu quả nguồn lao động Quá trình đó diễn ra từ giáo dục, đào tạo

và phổ cập nghề nghiệp, chuẩn bị cho người lao động, bước vào cuộc đời lao động,

đến tự do lao động và hưởng thụ xứng đáng với những giá trị lao động mà mình tạo ra

Đại học Kinh tế Huế

Trang 18

Tạo việc làm theo nghĩa hẹp chủ yếu hướng vào đối tượng thất nghiệp, chưa cóviệc làm hoặc thiếu việc làm nhằm tạo thêm việc làm cho người lao động duy trì tỷ lệthất nghiệp ở mức thấp.

 Người có việc làm

Người có việc làm là người đủ 15 tuổi trở lên trong nhóm dân số hoạt động

kinh tế, mà trong một tuần lễ trước điều tra:

- Đang làm việc để nhận tiền lương, tiền công hoặc lợi nhuận bằng tiền hay

hiện vật

- Đang làm công việc không được hưởng lương, tiền công hay lợi nhuận trong

các công việc sản xuất kinh doanh của hộ gia đình mình nhưng không được trả côngcho công việc đó

- Đã có công việc trước đó song tại thời điểm điều tra tạm thời không làm

việc và sẽ trở lại làm việc ngay sau thời gian nghĩ việc

 Người thất nghiệp

Là những người trong độ tuổi lao động, có sức lao động, nhưng chưa có việc

làm, đang nhu cầu làm việc nhưng chưa tìm được việc làm (theo định nghĩa nghiên

cứu chính sách xã hội nông thôn Việt Nam)

Đối lập với việc làm, thất nghiệp là một tình trạng có tính tự nhiên của nền kinh

tế thị trường Có nhiều khái niệm khác nhau về thất nghiệp

Theo quan niệm của tổ chức lao động thế giới ILO: Thất nghiệp là tình trạngtồn tại khi một số người trong lực lượng lao động muốn tìm việc làm, nhưng khôngtìm được việc ở mức lương thịnh hành Giải quyết việc làm đang là một vấn đề bứcxúc trong chính sách việc làm của mỗi quốc gia

Ở nước ta, trong quá trình chuyển sang cơ chế thị trường, thất nghiệp là điều khó

tránh Vấn đề đặt ra là phải giải quyết tình trạng thất nghiệp, một mặt phải tạo ra chỗ làmviệc mới, mặt khác phải tránh cho người lao động trước nguy cơ thất nghiệp (đào tạo, đàotạo lại nghề ) Ngoài ra, phải có chính sách cho người lao động khi họ bị thất nghiệp

1.1.1.3 Thu nhập

Xác định thu nhập của một lao động có ý nghĩa rất quan trọng Thông qua thu

nhập của một lao động hoặc một gia đình ta có thể đánh giá được mức sống của họtrong từng giai đoạn cụ thể

Đại học Kinh tế Huế

Trang 19

Tuy nhiên ở các phạm trù khác nhau (toàn bộ nền kinh tế, ngành kinh tế, doanhnghiệp, hộ gia đình và cá nhân), biểu hiện của thu nhập có những đặc thù riêng Ở đây

chúng tôi xin đưa ra một số khái niệm về thu nhập giúp cho việc nhận thức đầy đủ hơn:

- Tổng thu nhập của người lao động là một số tiền người lao động nhận được từcác nguồn thu và họ được toàn quyền sử dụng cho bản thân và cho gia đình

Theo Robert J Gorden: “Thu nhập cá nhân là thu nhập mà các hộ gia đình nhậnđược từ mọi nguồn bao gồm các khoản làm ra các khoản chuyển nhượng Thu nhập cá

nhân khả dụng là thu nhập cá nhân trừ đi các khoản thuế thu nhập cá nhân”

Hiện nay trong lĩnh vực nông nghiệp nước ta, hộ gia đình được coi là một đơn

vị kinh tế tự chủ Thu nhập của hộ là toàn bộ các khoản thu nhập bằng tiền và hiện vật(kể cả các khoản phúc lợi xuất hiện không mất tiền) mà người lao động cũng như gia

đình nhận được trong một thời gian nhất định

Thu nhập bình quân của 1 hộ / năm được tính theo công thức:

Thu từ tiền Thu từ sản Thu từ Các khoảnThu nhập = lương, tiền + xuất nông + SXKD ngành + thu khác

công lâm - ngư nghề,dịch vụ

Trong đó:

- Thu từ tiền lương, tiền công:

+ Tiền lương ( không kể BHXH )

+ Phụ cấp làm thêm giờ, ăn trưa, nghỉ trưa, ăn giữa ca, phụ cấp

Chi phí sản xuấtnông – lâm – ngư

- Thu từ sản xuất kinh doanh ngành nghề, dịch vụ

Đại học Kinh tế Huế

Trang 20

Thu nhập từ Tổng thu từ các hoạt Chi phí sản xuất kinhsản xuất kinh = động sản xuất kinh - doanh ngành nghề,

doanh ngành doanh ngành nghề, dịch vụ nông nghiệp

nghề, dịch vụ dịch vụ

1.1.2 Vai trò của phụ nữ đối với xã hội

1.1.2.1 Phụ nữ - nguồn nhân lực quan trọng của đất nước

Một quốc gia muốn phát triển thì cần phải có các nguồn lực của sự phát triển

như: nguồn nhân lực, tài nguyên thiên nhiên, vốn, khoa học - công nghệ… Trong các

nguồn lực đó thì nguồn lực con người là quan trọng nhất, có tính chất quyết định cho

sự tăng trưởng và phát triển kinh tế của mọi quốc gia từ trước đến nay Một nước cho

dù có tài nguyên thiên nhiên phong phú, máy móc kỹ thuật hiện đại nhưng không cónhững con người có trình độ, có đủ khả năng khai thác các nguồn lực đó thì khó cókhả năng có thể đạt được sự phát triển như mong muốn

Trong thời đại ngày nay, con người được coi là một ''tài nguyên đặc biệt'', mộtnguồn lực của sự phát triển kinh tế Bởi vậy việc phát triển con người, phát triểnnguồn nhân lực trở thành vấn đề chiếm vị trí trung tâm trong hệ thống phát triển cácnguồn lực Chăm lo đầy đủ đến con người là yếu tố bảo đảm chắc chắn nhất cho sựphồn vinh, thịnh vượng của mọi quốc gia Đầu tư cho con người là đầu tư có tínhchiến lược, là cơ sở chắc chắn nhất cho sự phát triển bền vững

Chính vì vậy, trong 2 Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ 5 (Khóa VIII) đãkhẳng định “Nguồn lực quý báu nhất, có vai trò quyết định là nguồn nhân lực con

người Việt Nam; là sức mạnh nội sinh của chính bản thân dân tộc Việt Nam”

Với 50,6 % số dân và 46,6% lực lượng lao động, phụ nữ đóng vai trò rất quantrọng trong việc tạo ra của cải vật chất cho xã hội Trong nền kinh tế, công nghiệp chỉ

đang mức sơ chế, công nghệ kỹ thuật lạc hậu thì phụ nữ có trình độ thấp có thể được

chấp nhận nhưng khi nền kinh tế và cách mạng khoa học công nghệ ngày càng pháttriển thì nguồn nhân lực trí tuệ và tay nghề thành thạo trở nên thế mạnh cạnh tranh của

họ Nhưng hiện nay số phụ nữ chưa qua đào tạo còn rất lớn, đặc biệt là phụ nữ nông

thôn, đó là một vấn đề khó khăn khi đất nước ta đang từng bước phát triển theo hướng

công nghiệp hóa – hiện đại hóa, điều này khiến cơ hội phát triển của phụ nữ nông thôn

Đại học Kinh tế Huế

Trang 21

bị hạn chế và ảnh hưởng đến thu nhập của chính bản thân gia đình họ Vì vậy Đảng và

nhà nước ta ngoài việc áp dụng các chính sách tiền tệ, tài chính đồng thời phải coi

chính sách về con người là mặt trận hàng đầu Trong đó, vấn đề đào tạo nguồn nhânlực phải được quan tâm hàng đầu Có như vậy phụ nữ nông thôn mới có thể khẳng

định vai trò của mình trong sự nghiệp công nghiệp hóa – hiện đại hóa nông nghiệp

nông thôn, cũng như trong tiến trình phát triển của đất nước

1.1.2.2 Vai trò của phụ nữ trong giáo dục

Có thể nói rằng giáo dục là chìa khóa dẫn đến thành công Nói như vậy làkhông hoàn toàn phủ nhận những người không qua đào tạo nhưng con số đó cũng hạnchế Do vậy, trong thời đại nào người ta cũng xem trọng giáo dục, xem trọng ngườithầy: “Nhất tự vi sư, bán tự vi sư” hay “không thầy đố mày làm nên” bởi vì đầu tư chogiáo dục sẽ tích lũy vốn con người, là chìa khóa để duy trì sự tăng trưởng kinh tế vànâng cao thu nhập Giáo dục sẽ giúp con người nhận thức đầy đủ hơn về thế giới xungquanh, với kiến thức có được sẽ giúp cho họ trong việc xóa đói giảm nghèo, thực hiệntốt kế hoạch hóa gia đình và tham gia đầy đủ các hoạt động xã hội và phát triển kinh

tế Đặc biệt trong thời đại thông tin bùng nổ ngày nay thì kiến thức lại cực kỳ quantrọng, do đó đầu tư cho giáo dục là hình thức có lợi hơn cả Do đó, Đảng và nhà nước

ta đã coi giáo dục đào tạo là quốc sách hàng đầu, coi đó là trọng tố quyết định sự phát

triển của đất nước, đầu tư cho giáo dục đào tạo là đầu tư cho phát triển

Trong hệ thống giáo dục ngày nay, phụ nữ đóng vai trò rất lớn Họ không chỉ là

người thầy đầu tiên của trẻ em mà còn chiếm số đông trong đội ngũ giáo viên phổ

thông và trong giảng đường Đại học giảng viên nữ cũng ngày càng nhiều Trong lực

lượng giáo viên, nữ giáo viên nông thôn lại chiếm đa số Trước hết phải kể đến đội

ngũ giáo viên ở hệ thống trường mầm non, mẫu giáo nơi 100 % là cô giáo chăm sóc,nuôi nấng và dạy dỗ trẻ em trước tuổi học và ở các cấp phổ thông tỷ lệ giáo viên nữcũng chiếm đa số Chúng ta có thể nhận thấy vai trò quan trọng của phụ nữ nói chung,phụ nữ nông thôn nói riêng trong sự nghiệp giáo dục và đào tạo Nếu thiếu vắng lực lượng

nữ trong đội ngũ giáo viên các cấp học thì việc đào tạo nguồn nhân lực cho đất nước quacác thời kỳ nói chung, đặc biệt là thời kỳ công nghiệp hóa – hiện đại hóa nói riêng chắcchắn sẽ gặp nhiều khó khăn, nếu không nói sẽ khó đạt được các mục tiêu đề ra

Đại học Kinh tế Huế

Trang 22

1.1.2.3 Vai trò của phụ nữ trong việc chăm sóc gia đình

Gia đình là tế bào của xã hội, nếu các “tế bào” sinh trưởng và phát triển tốt thì

xã hội sẽ phát triển tốt và bền vững hơn Trong mỗi tế bào đấy, vai trò và vị trí của

người mẹ hết sức quan trọng Với thiên chức làm mẹ, làm vợ người phụ nữ đã hoàn

thành tốt công việc của mình trong việc chăm sóc gia đình, nuôi dưỡng con cái, nuôi

dưỡng những mầm ươm cho xã hội Tuy nhiên, sự cống hiến nổ lực đó của người phụ

nữ vẫn chưa được gia đình và xã hội đánh giá đúng mức, những cống hiến thầm lặng

đó thậm chí còn bị bỏ quên hoặc không nhìn thấy

Lao động chăm sóc cũng là một bộ phận trong sản xuất xã hội, bởi vì sự sản

xuất xã hội bao gồm sản xuất vật chất, sản xuất tinh thần và sản xuất ra bản thân

con người Hiện nay, gia đình hạt nhân có xu hướng thay thế dần gia đình mở rộng

(với nhiều thành viên thuộc nhiều thế hệ), nhưng chúng ta thấy vai trò của ngườiphụ nữ vẫn chưa thay đổi nhiều, họ vẫn đảm nhận vai trò sản xuất xã hội: là người

lao động sản xuất và làm vợ, làm mẹ nhưng lại không được sự hỗ trợ từ các thành

viên khác trong việc nuôi dạy trẻ và nội trợ Hơn nữa các phúc lợi xã hội dành chophụ nữ ngày nay cũng chưa được hoàn thiện Do vậy, người phụ nữ muốn hoànthiện tốt 2 nhiệm vụ: công việc xã hội và gia đình thì xã hội cần tạo ra những dịch

vụ gia đình tốt hơn, tạo điều kiện cho phụ nữ được giải phóng và có thời gian nhiều

hơn để chăm lo vai trò xã hội Bởi lẽ mục tiêu của chúng ta theo đuổi là xã hội

nam, nữ bình quyền nhưng thực sự đã bình quyền chưa? Đây là vấn đề còn nhiềutranh cãi và phải xem xét nhiều Nhưng trước hết, mỗi chị em phụ nữ hãy cố gắnghết mình để thể hiện mình là người phụ nữ của thế kỷ mới: thế kỷ XXI, một thế kỷtạo điều kiện cho phụ nữ phát triển toàn diện và dần dần khẳng định vị thế củamình hơn nữa Có thể nói nếu như hôm qua họ chỉ có thể là những bà nội trợ thìhôm nay họ là những phụ nữ với sự nghiệp độc lập Họ có nhiều cơ hội để pháttriển, họ có thể phá vỡ những khuôn mẫu cũ và sống theo cách họ muốn Bằng việctham gia vào các hoạt động xã hội, trang bị những kiến thức cần thiết cho hànhtrang cuộc sống, tin rằng họ sẽ bước vào cuộc sống gia đình bằng những bước chânchủ động, tự tin và chắc chắn

Đại học Kinh tế Huế

Trang 23

1.2 CƠ SỞ THỰC TIỄN

1.2.1 Việc làm và thu nhập của phụ nữ nông thôn Việt Nam

1.2.1.1 Thực trạng việc làm và thu nhập của phụ nữ nông thôn Việt Nam

Phụ nữ nông thôn có vai trò hết sức quan trọng đối với sự phát triển nôngnghiệp, nông thôn trong quá trình đô thị hóa, công nghiệp hóa đất nước Là một lực

lượng chủ yếu trong nông nghiệp và chiếm đông đảo trong nguồn nhân lực của đấtnước, nhưng phụ nữ nông thôn còn gặp nhiều khó khăn so với nam giới nông thôn và

phụ nữ đô thị Trong tổng lực lượng lao động nữ, có 68% là hoạt động trong nôngnghiệp và được đánh giá là làm ra 60 % sản phẩm nông nghiệp Đó là lực lượng to lớn, đã

và đang góp phần quyết định vào việc đảm bảo an toàn lương thực quốc gia – một trong

những yếu tố cơ bản nhất của sự ổn định và phát triển xã hội, phát triển nông thôn

Với việc đổi mới cơ chế quản lý trong nông nghiệp, từng bước xóa bỏ tập thểhóa về ruộng đất và các tư liệu sản xuất khác, hộ gia đình đã trở thành đơn vị kinh tế

tự chủ, hạch toán kinh doanh, được giao quyền sử dụng ruộng đất ổn định và lâu dài.Bên cạnh đó, nhà nước đã ban hành hàng loạt chính sách nhằm giải phóng sức sảnxuất, tạo điều kiện cho lực lượng sản xuất ở nông thôn phát triển như: tự do lưu thông,tiêu thụ sản phẩm, chính sách tín dụng cho vay vốn tạo việc làm, chính sách khuyếnnông Nhờ vậy, bộ mặt nông thôn đã có nhiều đổi mới, đời sống vật chất và tinh thầncủa người dân nông thôn, trong đó có phụ nữ được cải thiện một cách đáng kể Phụ nữ

nông thôn cùng gia đình có điều kiện đầu tư công sức, tiền của mở rộng sản xuất, phát

triển đa dạng các ngành nghề, tạo thêm việc làm áp dụng kỹ thuật mới vào sản xuất.Nhiều gia đình nông dân trở nên khá giả và có một bộ phận vươn lên làm giàu

Tuy nhiên, nền kinh tế nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường đang

đặt người phụ nữ ở nông thôn phải đối đầu với những thử thách mới:

- Lực lượng lao động nữ ở nông thôn tăng lên không ngừng và luôn luôn nhiều hơn

lao động nam, nhưng con đường để có thêm công ăn việc làm của phụ nữ thì lại chật hẹphơn, khả năng cạnh tranh của phụ nữ trên thị trường lao động yếu hơn nam giới

Chúng ta đều biết phụ nữ nông thôn chủ yếu là lao động giản đơn, trình độ văn

hóa thấp, không được qua đào tạo tay nghề, ít có điều kiện tiếp xúc với khoa học kỹthuật và công nghệ mới Do đặc điểm sinh lý, sức khỏe của phụ nữ thường kém hơn

Đại học Kinh tế Huế

Trang 24

nam giới, họ lại phải đảm nhận thêm chức năng sinh đẻ, nuôi con chăm sóc gia đình,

tính cơ động, di chuyển không cao Vì vậy phụ nữ nông thôn khó có thể tham gia vào

cuộc cạnh tranh gay gắt trên thị trường lao động hiện nay nếu như không có các chínhsách hỗ trợ của chính phủ

- Thiếu việc làm và có thu nhập thấp đang là một cản trở đối với phụ nữ nông thôn.Theo số liệu điều tra của một số ngành chức năng, khoảng 1/3 thời gian lao

động ở nông thôn chưa được sử dụng hết do không đủ việc làm và tiền công bình quân

hàng tháng của phụ nữ chỉ bằng 96 % của nam giới

Một điều đáng lưu ý nữa là thu nhập của phụ nữ làm nông nghiệp thấp hơn hẳnthu nhập của phụ nữ làm các ngành nghề phi nông nghiệp khác và ngay trong nôngnghiệp, nếu so với các cây trồng khác (như cà phê) thì thu nhập từ cây lúa thấp hơnnhiều Vì vậy, phần đông phụ nữ vẫn ở trong cảnh thiếu thốn và có thể nói phụ nữ sảnxuất nông nghiệp thuần túy là nhóm người chịu thiệt thòi hơn cả

Chất lượng lao động nữ ở nông thôn đã thấp lại có xu hướng thấp hơn Lao

động nữ ở nông thôn không được đào tạo về kỹ thuật và văn hóa Số phụ nữ nông thôn

tốt nghiệp trung học phổ thông (8,02%), công nhân kỹ thuật (1,12%), trung họcchuyên nghiệp (1,78%), cao đẳng, đại học (1,39%) và trên đại học (0,02%) Trong nềnkinh tế thị trường, những phụ nữ mù chữ đang bị gạt ra khỏi sự phát triển kinh tế nóichung, khả năng tiếp cận của phụ nữ mù chữ trong tất cả các chương trình phát triểnrất hạn chế Có điểm đáng chú ý là, mặc dù phụ nữ đảm nhận đa phần các công việcliên quan đến sản xuất nông nghiệp, nhưng họ lại ít có cơ hội tham gia các lớp tậphuấn chuyển giao kiến thức khoa học kỹ thuật Theo khảo sát, chỉ có khoảng 10% phụ

nữ là các thành viên tham gia các khóa học trồng trọt và 25% trong các khóa học về

chăn nuôi Hiện tượng “Nữ làm, nam học” này khá phổ biến ở các vùng nông thôn

Việt Nam Đó là chưa kể trong quá trình chuyển đổi nển kinh tế, phần lớn các chế độbao cấp của chính phủ cho các dịch vụ xã hội bị cắt giảm trong khi chi phí cho cácdịch vụ đó ngày càng đắt đỏ, vượt quá khả năng của người dân nông thôn Điều này

đặt gánh nặng lên vai người phụ nữ, ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe, dinh dưỡng và

giáo dục của phụ nữ nông thôn

- Tình trạng thiếu việc làm và thu nhập thấp đang tạo nên dòng chảy lao động từnông thôn ra thành phố, trong số đó có nhiều phụ nữ Việc di chuyển tự do từ các vùng

Đại học Kinh tế Huế

Trang 25

nông thôn ra thành thị, đặc biệt là các đô thị lớn đang nổi lên như một hiện tượng cótính quy luật khi phát triển nền kinh tế thị trường vào công nghiệp hóa Lao động di cư

có khuôn mẫu giới rất rõ, phụ nữ trẻ từ nông thôn ra đô thị làm việc ở khu vực kinh tếkhông chính thức hoặc giúp việc nhà Còn nam giới có xu hướng làm việc tại các trangtrại, khu công nghiệp, nhà máy Nhóm dân số trẻ di cư đến các đô thị, khu côngnghiệp, để lại làng quê những người cao tuổi, phụ nữ và trẻ em Nhiều gia đình nôngthôn, gánh nặng công việc sản xuất và chăm sóc, giáo dục con cái đè nặng lên đôi vaicủa người vợ, ông bà Di cư nội địa cũng làm biến đổi cấu trúc gia đình nông thôn, tạonên nhiều “gia đình không đầy đủ” vì thiếu vắng vợ hoặc chồng do họ đi làm ăn xa,

điều này đã ảnh hưởng không nhỏ đến việc thực hiện các chức năng của gia đình,trong đó có chức năng giáo dục con cái Hiện tượng nam giới tuổi trung niên và nam,

nữ thanh niên “ly hương” đi tìm công ăn việc làm ở các đô thị, các khu công nghiệptrên phạm vi cả nước dẫn đến thực trạng ở nông thôn có xu hướng nữ hóa nông nghiệp(chủ yếu phụ nữ gánh vác công việc sản xuất nông nghiệp), lão hóa nông thôn (đa sốnhững người trên trung niên và cao tuổi mới ở lại quê) và phụ nữ hóa chủ hộ gia đìnhtrên thực tế (vì nam giới là chủ hộ trên danh nghĩa lại đi làm ăn xa) Xu hướng này sẽtiềm ẩn nhiều nguy cơ không chỉ đối với đời sống gia đình mà còn cả với sự phát triểncủa thế hệ con em nông dân sống ở nông thôn hiện nay

Việc di chuyển này cũng tạo điều kiện cho phụ nữ nông thôn có việc làm và thunhập, phần lớn có thu nhập cao hơn so với nơi họ ra đi, có khi cao hơn gấp 2 – 3 lần,góp phần nâng cao mức sống của gia đình và giảm sự nghèo đói ở các vùng nông thôn

có thu nhập thấp Điều này đang là sức hút đối với phụ nữ nông thôn Tuy nhiên, việc

di chuyển này đã làm gia tăng dân số đô thị một cách đột biến, làm nảy sinh nhiều vấn

đề xã hội phức tạp, nhất là tệ nạn xã hội, làm cho đội quân thất nghiệp ở thành phốcàng thêm đông đúc

- Một dạng di cư khác là xuất khẩu lao động cũng tăng lên do thị trường lao

động ngoài nước là một thị trường rất tiềm năng và đang được khai thác có hiệu quả

Vấn đề là trình độ chuyên môn kỹ thuật, khả năng ngoại ngữ, tính kỷ luật lao động vàtuân thủ pháp luật của lao động nói chung hay lao động nông thôn nói riêng ở Việt

Nam đang là trở ngại cho việc tuyển dụng lao động Những người di cư thành công là

Đại học Kinh tế Huế

Trang 26

những người có trình độ cao hơn, trẻ tuổi và ít đất đai Vì vậy, sẽ có hiện tượng thiếuhụt cục bộ lao động tiềm năng trẻ, khoẻ, có năng lực trong khi nhiều lao động không

đáp ứng yêu cầu của các doanh nghiệp ngay trên địa bàn Về lâu dài, có khả năng thiếu

trầm trọng lao động của một số nghề đặc thù đòi hỏi người lao động phải có trình độcao hoặc bậc trung, đặc biệt khi kinh tế nông thôn đã phát triển rõ nét

1.2.1.2 Vấn đề tạo việc làm, tăng thu nhập của phụ nữ nông thôn

Phải nói rằng trong những năm gần đây nước ta đang từng bước thay da đổithịt, đang mở rộng ra các thị trường quốc tế và đặc biệt hơn khi đất nước ta gia nhập tổchức thương mại lớn nhất thế giới (WTO), đó là một thành công rất lớn với sự nổ lực,góp sức của nhiều tổ chức, cá nhân để đến được vinh quang ấy

Đất nước ta đang trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá; nông nghiệp,

nông thôn cũng đang trong tiến trình này Các nguồn lực đều được ưu tiên cho côngcuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, trong đó có nguồn nhân lực giữ vị tríthen chốt, quyết định cho sự thành bại của công cuộc đổi mới này

Để nông nghiệp, nông thôn phát triển tốt, tương xứng với kỳ vọng phát triển đấtnước, phấn đấu đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp, nghĩa là khi

đó nông nghiệp, nông thôn đạt mức độ công nghiệp hoá, hiện đại hoá cơ bản, lựclượng lao động trong nông nghiệp và ở nông thôn lúc này phải đảm bảo là động lực

nữ chiếm 46,6% lực lượng lao động, trong đó tham gia trong ngành nông, lâm nghiệp

và thủy sản là 53,7%, ngành công nghiệp và xây dựng 17,6%, ngành dịch vụ 28,6%,

đây là một con số lớn, cần thiết đối với một nước đang phát triển nhưng chính vì trình

độ thấp, ngại môi trường mới nên đa số chị em bị bó hẹp trong làng xã, trong gia đình

Đại học Kinh tế Huế

Trang 27

do vậy chỉ tập trung vào sản xuất những cây, con truyền thống như cây lúa, hoa màu,nuôi lợn, gà, vịt làm các ngành nghề phụ như chằm nón, nấu rượu, làm hương vớitrình độ kỹ thuật thấp, mang tính chất lao động giản đơn do vậy mà thu nhập của chị

em thường không cao Chính vì vậy họ khó có thể tham gia vào cuộc cạnh tranh gay

gắt trên thị trường lao động hiện nay và tình trạng thiếu việc làm chắc chắn là hiểnnhiên xảy ra Do vậy mà PGS Lê Ngọc Văn cho rằng: “Tác động của kinh tế thị trườngcủa cải cách kinh tế và của công nghiệp hóa đến phụ nữ và nam giới ở các gia đìnhnông thôn là rất khác nhau Trong khi nam giới được chuẩn bị để đi vào nền kinh tếmới thì phụ nữ có nguy cơ đứng bên lề của nền kinh tế đó” (Chuyển dịch lao động

trong gia đình nông thôn, những vai trò mới của nam – nữ trang 189) Cũng vì lẽ đótrước khi đi xa, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết lại trong bản Di chúc lịch sử: “Đảng và

Chính phủ cần phải có kế hoạch thiết thực bồi dưỡng, cất nhắc và giúp đỡ để ngàythêm nhiều phụ nữ phụ trách mọi công việc kể cả công việc lãnh đạo Bản thân phụ nữthì phải cố gắng vươn lên Đó là một cuộc cách mạng đưa đến quyền bình đẳng thật sựcho phụ nữ” (Hồ Chí Minh toàn tập – Tập 33, tr.502) Đó không chỉ là tấm lòng, đócòn là trăn trở của Người về vấn đề thực hiện quyền bình đẳng thật sự của phụ nữ vớinam giới Chính vì tầm quan trọng của phụ nữ “ một nửa” của thế giới nên Các-mac đãtừng nói: “Ai đã biết lịch sử thì biết rằng muốn sửa sang xã hội mà không có phụ nữgiúp vào thì chắc chắn không làm nổi Xem tư tưởng và việc làm của đàn bà, con gáithì biết được xã hội tiến bộ ra thế nào”

Hướng chính để giải quyết việc làm cho phụ nữ là tạo nhiều công việc, mở rộng

ngành nghề, dịch vụ ở địa bàn, tận dụng lợi thế của vùng là để tăng nhanh ngành nghềdịch vụ, buôn bán trong cơ cấu kinh tế của xã Tổ chức hoạt động kinh tế nhiều ngànhnghề sẽ đóng một vai trò to lớn trong việc làm, phân bổ lại lực lượng lao động nữ, làmột hình thức để phát triển nhiều mặt của nền kinh tế, góp phần thực hiện mục tiêu “vì

sự tiến bộ của phụ nữ”

1.2.2 Quan điểm của Đảng và nhà nước ta về vấn đề giải quyết việc làm

Trong mấy năm vừa qua do đổi mới cơ chế quản lý, phát triển kinh tế hàng hoánhiều thành phần đã tạo ra nhiều điều kiện thuận lợi và nhân tố mới đa dạng để cácngành, các cấp, các đơn vị cơ sở, các tổ chức xã hội và toàn dân chủ động tạo chỗ làm

Đại học Kinh tế Huế

Trang 28

việc mới, đã giải quyết được một bước yêu cầu về việc làm và đời sống của người lao

động, góp phần ổn định tình hình kinh tế - xã hội

Tuy nhiên, do dân số nước ta tăng nhanh, hàng năm có trên một triệu người đếntuổi lao động cần việc làm, đồng thời một số không nhỏ lao động dôi thừa do sắp xếplại tổ chức sản xuất và bộ máy trong khu vực Nhà nước, bộ đội xuất ngũ, học sinh tốtnghiệp các trường chuyên nghiệp và dạy nghề, lao động đi làm việc ở nước ngoài trởvề đang có nhu cầu bố trí việc làm, dẫn đến sức ép về việc làm ngày càng tăng vàbức bách hơn

Giải quyết việc làm cho người lao động vừa là nhiệm vụ chiến lược lâu dài, vừamang tính cấp bách, là trách nhiệm của toàn Đảng, toàn dân, của các cấp, các ngành,các tổ chức chính trị, xã hội và của chính người lao động Nhà nước, các cấp có tráchnhiệm xây dựng chương trình giải quyết việc làm hàng năm và từng thời kỳ, đề ra cácchỉ tiêu tạo việc làm, các giải pháp thực hiện, có hệ thống các chính sách ưu đãikhuyến khích có liên quan đến tạo nhiều chỗ việc làm mới thu hút lực lượng lao động

và có trách nhiệm đối với người lao động

Trong thời kỳ kế hoạch 10 năm 2001 - 2010, quan điểm của Đảng và Nhà nướcViệt Nam về việc phát triển nguồn nhân lực và xây dựng thế hệ trẻ Việt Nam là đặt

con người vào vị trí trung tâm, khơi dậy mọi tiềm năng của mỗi cá nhân và cả cộngđồng dân tộc; kết hợp hài hoà giữa phát triển kinh tế với phát triển văn hoá xã hội;

giữa đời sống vật chất và đời sống tinh thần của nhân dân, xem phát triển kinh tế là cơ

sở, là phương tiện và tiền đề để thực hiện các chính sách xã hội, vừa là động lực, vừatạo sự ổn định về chính trị, xã hội làm cơ sở cho việc tăng trưởng kinh tế bền vững

Từ quan điểm giải quyết việc làm là trách nhiệm của Nhà nước và chỉ làm việctrong hai thành phần kinh tế cơ bản: Quốc doanh và Hợp tác xã trong thời kỳ kế hoạchhoá tập trung, thì nay quan điểm của Đảng và Nhà nước ta có nhận thức hoàn toànmới: “Khuyến khích mọi thành phần kinh tế, mọi công dân, mọi nhà đầu tư mở mangngành nghề, tạo nhiều việc làm cho người lao động Mọi công dân đều được tự dohành nghề, thuê mướn nhân công theo pháp luật, phát triển dịch vụ việc làm” (Vănkiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VII)

Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X cũng đã đề ra mục tiêu nhằm giải quyết

việc làm: “Chú trọng dạy nghề, giải quyết việc làm cho nông dân, trước hết ở các vùng

Đại học Kinh tế Huế

Trang 29

sử dụng đất nông nghiệp để xây dựng các cơ sở công nghiệp, dịch vụ, giao thông, các

khu đô thị mới Chuyển dịch cơ cấu lao động ở nông thôn theo hướng giảm nhanh tỉ

trọng lao động làm nông nghiệp, tăng tỉ trọng lao động làm công nghiệp và dịch vụ.Tạo điều kiện để lao động nông thôn có việc làm trong và ngoài khu vực nông thôn, kể

cả ở nước ngoài Đầu tư mạnh hơn cho các chương trình xoá đói giảm nghèo, nhất là ởcác vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo, vùng đồng bào dân tộc thiểu số”

Lao động và việc làm vừa là vấn đề kinh tế vừa là vấn đề xã hội nhân văn và

chính trị Văn kiện Đại hội X của Đảng đã nêu rõ: “Giải quyết việc làm là yếu tố quyết

định để phát huy nhân tố con người, ổn định và phát triển kinh tế, làm lành mạnh xã

hội, đáp ứng nguyện vọng chính đáng và yêu cầu bức xúc của nhân dân ”

Những năm qua, Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều giải pháp và chính sách đồng

bộ nhằm phát triển thị trường lao động và giải quyết việc làm Nhà nước có định hướng rõràng chính sách phát triển nguồn nhân lực Sự phát triển nhanh và bền vững phải bao trùmmọi mặt đời sống xã hội trong đó kinh tế là trung tâm, tăng trưởng kinh tế phải gắn vớithực hiện công bằng và tiến bộ xã hội CNH – HĐH nông nghiệp và nông thôn là mộttrọng điểm trong thập kỷ tới, phát triển nền nông nghiệp hàng hoá khai thác phát triển lợithế về điều kiện sinh thái phù hợp với nhu cầu thị trường tạo sự chuyển biến mạnh mẽ về

cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động, tăng quỹ sử dụng thời gian lao động và nâng cao chấtlượng cuộc sống ở nông thôn Phát huy trí tuệ con người thông qua phát triển giáo dục đào

tạo và phát triển nguồn nhân lực, đuổi kịp trình độ tiên tiến của cả nước và khu vực, đáp

ứng yêu cầu sự nghiệp CNH, HĐH và sự nghiệp đổi mới, hội nhập quốc tế

1.2.3 Một số chỉ tiêu đánh giá việc làm và thu nhập cho lao động nữ

Để đánh giá thực trạng việc làm và thu nhập của lao động nông thôn, khóa luận

đã sử dụng các chỉ tiêu sau:

1.2.3.1 Tỷ suất quỹ thời gian làm việc của lao động nông thôn trong năm

Tỷ suất sử dụng quỹ thời gian làm việc của lao động nông thôn trong năm là tỷ

số giữa số ngày – người đã sử dụng vào sản xuất hoặc dịch vụ so với tổng số ngày –

người có thể làm việc được trong năm Quỹ thời gian làm việc trong năm tính theo

công thức sau:

Đại học Kinh tế Huế

Trang 30

Tq= x 100 (%)

Tng

Trong đó:

Tq :Tỷ suất sử dụng quỹ thời gian làm việc của lao động nông thôn trong năm

Nlv: Số ngày đã đầu tư vào sản xuất kinh doanh kinh doanh hoặc dịch vụ tínhbình quân cho một lao động trong năm (ngày)

Tng: Quỹ thời gian làm việc trong năm bình quân của lao động nông thôn (ngày)

Tỷ suất sử dụng quỹ thời gian làm việc của lao động nông thôn trong năm nóilên trình độ sử dụng lao động theo ngày và qua đó ta thấy được tỷ lệ quỹ thời gian

chưa sử dụng hết cần phải huy động trong năm Tất nhiên, ngày lao động được tính

theo ngày chuẩn tức là thời gian làm việc phải đạt 8 giờ trong 1 ngày Qua chỉ tiêu này

sẽ thấy được tình hình và mức độ việc làm, thấy được số ngày còn dôi ra chưa được sửdụng vào sản xuất, trên cơ sở đó lập ra kế hoạch và biện pháp nhằm tạo thêm việc làm

để người lao động có thể sử dụng tối đa quỹ thời gian làm việc trong năm

Quỹ thời gian làm việc của người lao động trong năm là số ngày trung bình

mà một người lao động có thể dùng vào sản xuất kinh doanh hoặc dịch vụ trong

năm Đó chính là số ngày trong năm còn lại sau khi đã trừ đi những ngày nghĩ do

ốm đau, giỗ tết, ma chay, cưới xin, hội họp hoặc thời tiết xấu và những ngày nghỉkhác Đối với lao động nữ trong độ tuổi sinh đẻ còn có những ngày nghỉ do thai

sản, sinh đẻ hay vào các công việc khác cần thiết cho cuộc sống cũng như sản xuất,

đi chợ, sửa chữa nhà cửa, chuẩn bị công cụ sản xuất, mua sắm vật tư, phân bón

hoặc chuẩn bị giống cây trồng, vật nuôi

Hiện nay, việc lấy quỹ thời gian làm việc bình quân một lao động là bao nhiêungày cũng chưa có sự thống nhất Theo kết quả điều tra về việc làm và thu nhập củacác hộ nông dân trong các năm 1990, 1993, 1998 của trung tâm dân số và lao động(Bộ lao động thương binh xã hội) cho thấy bình quân một người lao động có số ngàynghỉ có tính chất bắt buộc nói trên thường chiếm từ 80 đến 90 ngày trong một năm Dovậy có thể quỹ thời gian làm việc trong năm của lao động nông thôn trong khoảng 285

– 290 ngày là phù hợp

Đại học Kinh tế Huế

Trang 31

1.2.3.2 Thu nhập bình quân một lao động nông thôn trong năm

Hiện nay trong lĩnh vực nông nghiệp nước ta, hộ gia đình được coi là một đơn

vị kinh tế tự chủ Thu nhập của một lao động là một bộ phận thu nhập của nông hộ Do

đó, trước tiên chúng ta phải xác định thu nhập của một hộ

Thu nhập của hộ là các khoản thu nhập bằng tiền hoặc giá trị hiện vật (kể cả cáckhoản phúc lợi xã hội không mất tiền) mà người lao động hay gia đình nhận đượctrong một khoảng thời gian nhất định

Thu nhập của một hộ được tính theo công thức sau:

Thu từ tiền Thu từ sản Thu từ Các khoản thuThu nhập = lương, tiền + xuất nông + SXKD ngành + khác được tính

công nghiệp nghề, dịch vụ vào thu nhập

Trong đó:

- Thu từ tiền lương bao gồm:

+ Tiền lương tiền công ( không kể BHXH )

+ Phụ cấp làm thêm giờ, ăn trưa, nghỉ trưa, ăn giữa ca, phụ cấp

+ Phụ cấp độc hại

+ Thưởng và các khoản phải thu khác

+ Các khoản trợ cấp

- Thu từ sản xuất nông nghiệp: Đây là chỉ tiêu giá trị gia tăng của nông nghiệp

1 Tổng giá trị sản xuất (GO): là toàn bộ của cải vật chất và dịch vụ sáng tạo ratrong nông nghiệp trong thời gian nhất định, thường là một năm

n

GO=∑QiPi

i=1

Qi: Khối lượng sản phẩm loại i

Pi: Đơn giá sản phẩm loại i

2 Chi phí trung gian (IC): là bao gồm những giá trị vật chất và dịch vụ được

sử dụng trong quá trình sản xuất sản phẩm nông nghiệp

n

IC = ∑ Cj

i=1

Cj: Các khoản chi phí thứ j trong năm sản xuất

Đại học Kinh tế Huế

Trang 32

3 Giá trị gia tăng hay giá trị tăng thêm (VA): là kết quả cuối cùng thu đượcsau khi trừ đi chi phí trung gian của một hoạt động sản xuất kinh doanh nào đó.

VA = GO – IC

- Thu từ sản xuất kinh doanh ngành nghề, dịch vụ

Thu nhập từ Tổng thu từ các hoạt

sản xuất kinh = động sản xuất kinh - Chi phí sản xuất kinh

doanh ngành doanh ngành nghề, doanh ngành nghề,

nghề, dịch vụ dịch vụ dịch vụ

- Các khoản thu khác được tính vào thu nhập:

+ Giá trị hiện vật và tiền của người ngoài gửi về cho, biếu mừng

+ Lương hưu, trợ cấp mất sức, trợ cấp mất việc một lần

Do lao động nữ là một bộ phận của lao động trong hộ gia đình nên việc tách thu

nhập của họ ra khỏi thu nhập của hộ gia đình là một việc làm rất phức tạp, để tính thunhập của lao động nữ tôi đã tính như sau:

+ Đối với các công việc có nhiều người cùng làm (nhất là công việc trồng trọt,

hoa màu ) Thu nhập của mỗi người phụ thuộc vào số ngày mà mỗi người đóng góp

+ Đối với các công việc chỉ có một mình người phụ nữ làm:

Ta tính thu nhập riêng cho họ

Đại học Kinh tế Huế

Trang 33

CHƯƠNG II: ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI CỦA XÃ

DƯƠNG THỦY, HUYỆN LỆ THỦY,TỈNH QUẢNG BÌNH

2.1 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN

2.1.1 Vị trí địa lý và địa hình

 Vị trí: Xã Dương Thủy nằm ở phía Nam trung tâm huyện Lệ Thủy, tổngdiện tích tự nhiên 930.00 ha Địa giới hành chính của xã như sau:

- Phía Bắc giáp xã Cam Thủy

- Phía Nam giáp xã Thái Thủy

- Phía Đông giáp xã Tân Thủy

- Phía Tây giáp xã Mỹ Thủy

 Địa hình: Địa hình của xã bị chia cắt mạnh bởi dãy núi phía Tây và thấp dần

về hướng Đông Nam Địa hình khó khăn cho việc phát triển nông nghiệp theo hướng

đa dạng hóa cây trồng và xây dựng các công trình phục vụ phát triển kinh tế, xã hội

2.1.2 Khí hậu thủy văn

2.1.2.1 Khí hậu

Xã Dương Thủy nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, mang đặc điểmchung của vùng khí hậu Bắc Trung Bộ, có mùa đông lạnh, mưa nhiều; mùa hè nóng,

mưa ít có gió Tây Nam thổi mạnh từ tháng 4 đến tháng 7 hàng năm với tốc độ trung

bình 20 m/s, làm nhiệt độ tăng lên, độ ẩm không khí thấp trong những tháng có giómùa phía Tây – Nam (gió Lào)

Dương Thủy có nền nhiệt độ cao, số giờ nắng trung bình hằng năm là 2602 giờ;

nhiệt độ trung bình hằng năm là 250C; lượng mưa trung bình cả năm là 1931.1 mm; số ngàymưa trung bình trong năm trên địa bàn là 138 ngày Tần suất những trận mưa lớn trên 300

mm trong 24 giờ có nhiều vào tháng 8, 9, 10, 11 Tháng có lượng mưa lớn nhất là tháng 9,

10 là 464 – 751 mm, tháng có lượng mưa ít nhất là tháng 2, tháng 7 từ 22– 47 mm

Độ ẩm không khí hằng năm khá cao ( 83 – 85 %), ngay những tháng có mùa khô

hạn nhất của mùa hè có gió Tây – Nam độ ẩm hàng tháng vẫn thường xuyên trên 70 %

Đại học Kinh tế Huế

Trang 34

2.1.2.2 Thủy văn

Điều kiện thủy văn của xã khá thuận lợi, phía Đông được bao bọc bởi sông Quy

Hậu Ngoài ra trên địa bàn xã có hệ thống kênh mương, để cung cấp nước cho sản xuấtnông nghiệp

Chế độ thủy văn khá thuận lợi nhìn chung là chủ động được, ít phụ thuộc vàochế độ mưa

2.1.3 Các nguồn tài nguyên

 Tài nguyên đất

Dương Thủy thuộc xã bán sơn địa của huyện Lệ Thủy, có tổng diện tích tựnhiên là 930,00 ha Căn cứ nguồn gốc phát sinh tài nguyên đất của xã, đánh giá đặc

tính thỗ nhưỡng như sau:

Đất phù sa ven sông suối (Pc), đất xám kết vón ít glây

Đất xám Feralit (Xf), đất xám trên núi (Xu) diện tích phân bố phía Đông Nam

của xã

 Tài nguyên nước

Xã Dương Thủy có hệ thống sông Quy Hậu, hiện đang tưới cho một số diện

tích đất 2 vụ của xã

Nước ngầm phân bố không đều mức độ nông sâu thay đổi phụ thuộc vào địa

hình và lượng mưa Vùng đồng bằng ven biển có mực nước ngầm nông và dồi dào,

vùng đồi núi mực nước ngầm sâu và dễ bị cạn kiệt vào mùa khô

Chất lượng nước nhìn chung khá tốt thích hợp cho sinh trưởng và phát triển củamột số cây trồng cũng như sinh hoạt của nhân dân

 Tài nguyên rừng

Theo Thống kê, diện tích đất lâm nghiệp của rừng hiện tại của Dương Thủy là

137,89 ha, độ che phủ là 14,83 % chủ yếu là rừng trồng phòng hộ Công tác quản lý,

khoanh nuôi bảo vệ rừng được triển khai thực hiện tốt

 Tài nguyên khoáng sản

Tuy chưa có số liệu khảo sát cụ thể nhưng theo kết quả điều tra sơ bộ, trên địa

bàn xã không có loại khoáng sản quý hiếm nào đáng kể, các loại khoáng sản khác nhìnchung không có

Đại học Kinh tế Huế

Trang 35

 Tài nguyên thảm thực vật

Xã Dương Thủy có thảm thực vật khá phong phú, hệ thống cây trồng đa dạng,bao gồm các cây hằng năm như: lúa, ngô, khoai, lạc ; cây công nghiệp ngắn ngày, cây

lâu năm, cây ăn quả,

2.2 ĐIỀU KIỆN KINH TẾ - XÃ HỘI

2.2.1 Tình hình đất đai của xã Dương Thủy

Đất đai là sản phẩm của tự nhiên, là điều kiện vật chất cần thiết để thực hiện

mọi quá trình sản xuất, vừa là chỗ đứng, vừa là địa bàn hoạt động cho tất cả ngànhnông lâm, công nghiệp khai thác khoáng sản, giao thông, vận tải

Đất đai là tư liệu sản xuất đặc biệt không thể thay thế được, nó trực tiếp tham

gia vào quá trình sản xuất với tư cách vừa là đối tượng, vừa là tư liệu lao động

Đất đai bị giới hạn về mặt diện tích, con người không thể tăng theo ý muốn chủ quan,nhưng sức sản xuất ruộng đất là chưa có giới hạn, nghĩa là con người có thể khai thác chiều sâu

của ruộng đất nhằm thoả mãn nhu cầu tăng lên của loài người về nông sản phẩm

Để biết được tình hình biến động đất đai của xã Dương Thủy, chúng ta đi

nghiên cứu tình hình sử dụng đất đai của xã từ năm 2008 - 2010

Qua bảng 1 ta thấy tổng diện tích đất tự nhiên của xã là 930 ha, trong đó đất nôngnghiệp chiếm tỷ trọng cao nhất với năm 2008 chiếm 78,99%, năm 2009 chiếm 78,95% và

năm 2010 chiếm 78,82% Năm 2009 diện tích đất nông nghiệp của xã chiếm 734,27 ha

giảm 0,35 ha tương ứng giảm 0,05% so với năm 2008 và năm 2010 diện tích đất nôngnghiệp chiếm 733,05 ha giảm 1,22 ha so với năm 2009 tương ứng giảm 0,17% Nguyênnhân của việc giảm diện tích đất nông nghiệp là để phát triển sản xuất nông nghiệp theo

hướng công nghiệp hóa hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn đồng thời để tạo thuận lợi

trong việc vận chuyển hàng hóa nên xã đã sử dụng một phần diện tích đất nông nghiệp để

mở đường nội đồng Bên cạnh đó do tình hình phát triển dân số dẫn đến nhu cầu về nhà ở

ngày càng tăng, cho nên trong 3 năm qua cũng có một phần diện tích đất nông nghiệpđược quy hoạch, chuyển mục đích sử dụng đất ở cho người dân Do đó, đây chính là

những nguyên nhân dẫn đến sự giảm diện tích đất nông nghiệp

Trong diện tích đất nông nghiệp, đất trồng cây hằng năm khác và đất lâmnghiệp có xu hướng giảm còn đất trồng cây lâu năm và đất nuôi trồng thủy sản có xu

hướng không thay đổi Cụ thể:

Đại học Kinh tế Huế

Trang 36

Đối với đất trồng cây hằng năm: Năm 2008 diện tích đất trồng cây hàng năm là

404,26 ha chiếm 68,17% diện tích đất sản xuất nông nghiệp đến năm 2009 diện tíchnày còn 403,91 ha chiếm 68,15 % và đến năm 2010 diện tích này chỉ còn 402,71 hachiếm 68,08%

Đối với đất lâm nghiệp: Diện tích đất lâm nghiệp trong hai năm 2008 và 2009không thay đổi là 137,00 ha và đến năm 2010 diện tích này giảm xuống còn 136,98 ha

Đối với đất trồng cây lâu năm và đất nuôi trồng thủy sản: Trong 3 năm diện tích

này vẫn giữ nguyên không thay đổi Diện tích đất trồng cây lâu năm vẫn duy trì ở mức188,78 ha và diện tích đất nuôi trồng thủy sản là 4,58 ha

Song song với việc giảm diện tích đất nông nghiệp thì diện tích đất phi nôngnghiệp có xu hướng ngày càng tăng Năm 2009 diện tích đất phi nông nghiệp là

139,59 ha tăng 0,35 ha tương ứng tăng 0,25% so với năm 2008 và năm 2010 diện tíchđất phi nông nghiệp là 140,81 ha tăng 1,22 ha tương ứng tăng 0,87% so với năm 2009

Nguyên nhân của việc tăng diện tích đất phi nông nghiệp là do tăng diện tích

đất ở do nhu cầu nhà ở ngày càng tăng, đây là hệ quả của việc tăng dân số trên địa bàn

xã Bên cạnh đó là do diện tích đất có mục đích công cộng tăng liên tục trong 3 năm

Cụ thể: Năm 2009 diện tích đất có mục đích công cộng là 70,33 ha tăng 0,35 ha tương

ứng tăng 0,5% so với năm 2008 và năm 2010 diện tích đất có mục đích công cộng là71,19 ha tăng 0,86 ha tăng 1,22% so với năm 2009 Sở dĩ đất có mục đích công cộngtăng vì trong những năm qua xã không chỉ quan tâm đến đời sống vật chất của ngườidân mà đời sống văn hóa tinh thần cũng được quan tâm thích đáng Do đó diện tích đất

để phục vụ cho các hoạt động như: giáo dục - đào tạo, thể dục thể thao không ngừngtăng Đây là điều đáng mừng bởi vì việc chăm lo xây dựng môi trường và lối sống văn

hóa nhằm giữ gìn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống của địa phương và dântộc cũng như các phong trào toàn dân rèn luyện thể dục thể thao thường xuyên sẽ làm

cho người dân có một cuộc sống lành mạnh đồng thời tăng cường sức khỏe để thamgia lao động có hiệu quả cao

Đại học Kinh tế Huế

Trang 37

Bảng 1: Tình hình biến động đất đai của xã Dương Thủy qua 3 năm 2008 – 2010

Chỉ tiêu

Diện tích (ha)

Cơ cấu

%

Diện tích (ha)

Cơ cấu

%

Diện tích (ha)

3 Đất tôn giáo tín ngưỡng 0,30 0,22 0,30 0,21 0,30 0,21 100 100

4 Đất sông suối mặt nước chuyên dùng 32,32 23,21 32,32 23,15 32,32 22,96 100 100

5 Đất nghĩa trang, nghĩa địa 16,16 11,61 16,16 11,58 16,16 11,48 100 100III Đất chưa sử dụng 56,14 6,04 56,14 6,04 56,14 6,04 100 100

( Nguồn: Phòng địa chính UBND Huyện Lệ Thủy)

Đại học Kinh tế Huế

Trang 38

Bên cạnh đó việc tăng quỹ đất để xây dựng trường học, trạm y tế cho người dân

đặc biệt là các đối tượng người nghèo, phụ nữ và trẻ em có ý nghĩa vô cùng lớn lao.Đồng thời việc chăm sóc sức khỏe bà mẹ, trẻ em sẽ góp phần chăm lo tạo điều kiện

cho thế hệ phát triển toàn diện cả về thể lực và trí tuệ, nó hứa hẹn một nguồn lao động

có chất lượng được đảm bảo

Đối với đất trụ sở cơ quan, công trình sự nghiệp, đất tôn giáo tín ngưỡng, đất

nghĩa trang nghĩa địa và đất sông suối mặt nước chuyên dùng không biến động vì về

cơ bản chúng đã được quy hoạch và bố trí cụ thể

Đối với đất chưa sử dụng, do xã Dương Thủy là một xã bán sơn địa Do đó

trong 56,14 ha diện tích đất chưa sử dụng, chiếm 6,04% diện tích đất tự nhiên thì có:

15,28 ha đất bằng chưa sử dụng và 40,86 đất đồi núi chưa sử dụng Nhìn chung, diệntích đất chưa sử dụng còn lại lớn một phần diện tích có khả năng đưa vào sử dụng cho

sản xuất nông nghiệp và phi nông nghiệp Điều đáng quan tâm là trong 3 năm qua diệntích này không hề biến động, vì vậy cần có những biện pháp tích cực để khai thác, sửdụng tối đa và hiệu quả Bởi việc bảo đảm quyền lợi về ruộng đất là vấn đề hết sứcquan trọng đối với phụ nữ ở nông thôn, đặc biệt là phụ nữ làm nông nghiệp Điều nàylại càng đặc biệt quan trọng đối với phụ nữ ở các vùng sâu, vùng xa, hoặc phụ nữ là

người dân tộc thiểu số, họ ít có cơ hội tiếp cận với các nguồn lực khác nên đất đai có

thể xem như là phương tiện sinh kế duy nhất giúp họ duy trì cuộc sống và thoát nghèo

2.2.2 Tình hình dân số và lao động xã Dương Thủy

Lao động là vốn quý, là yếu tố cơ bản nhất quyết định sự tồn tại và phát triển

của mọi hình thức kinh tế xã hội, không có một quá trình sản xuất nào diễn ra màkhông có sự tham gia của lao động Vì vậy việc tổ chức, sử dụng hợp lý cũng như việcnâng cao chất lượng lao động là điều rất quan trọng

Đối với gia đình sử dụng tốt nguồn lao động là cơ sở để tạo ra thu nhập nâng

cao mức sống Để thấy rõ tình hình biến động dân số và lao động của xã Dương Thủy

ta đi nghiên cứu bảng 2:

Năm 2008 số hộ nông nghiệp của xã là 899 hộ tương ứng với 96,98% tổng số

hộ, số hộ phi nông nghiệp chỉ chiếm 3,02% số hộ toàn xã và có xu hướng tăng lên ở

các năm tiếp theo Năm 2009 so với năm 2008 số hộ nông nghiệp tăng 12 hộ tương

Đại học Kinh tế Huế

Trang 39

ứng với 1,33% Năm 2009 so với năm 2010 số hộ nông nghiệp tăng 41 hộ tương ứng

với 4,5%, điều này cho thấy phát triển các ngành nghề khác ở địa phương chưa được

bà con chú trọng Bởi vì trên thực tế xã đã tổ chức nhiều lớp tập huấn ngành nghề nhưchằm nón, làm hương, làm nấm rơm nhưng rất ít người vận dụng kiến thức đượctrang bị để làm thêm góp phần tăng thu nhập cho gia đình Do đó nhìn chung đa phần

người dân ở xã Dương Thủy vẫn phụ thuộc nhiều vào sản xuất nông nghiệp Tuy

nhiên, vẫn có một số bà con bước đầu đã chuyển công việc do đó tỷ lệ hộ phi nôngnghiệp vào năm 2009 tăng lên so với năm 2008 là 15 hộ tương ứng với 53,57% và

năm 2010 so với năm 2009 tăng 11 hộ tương ứng với 25,58%, có thể nói đây là bước

phát triển ban đầu trong việc chuyển đổi nghề nghiệp, phát triển kinh tế nâng cao đờisống nhân dân Như vậy mặc dù sự chuyển đổi này không đáng kể nhưng điều nàyphần nào phù hợp với xu thế chung của lao động Nông thôn việt Nam trong giai đoạnsắp tới Bởi theo bài viết “Lao động Nông thôn: Thách thức và xu thế phát triển sau

năm 2010” của Bộ LĐTBXH đã nhận định rằng: "Sau năm 2010, khu vực nông thôn

sẽ xuất hiện nhiều ngành nghề phi nông nghiệp hơn và sản phẩm sẽ phong phú hơn donhu cầu thị trường ngày càng cao Theo đó các thị trường vốn tín dụng, thị trường đất

đai và thị trường lao động nông thôn cũng sẽ sôi động hơn lên Số hộ thuần nông sẽ

giảm đi, thay vào đó là các dạng kiêm nghề, hoặc chuyển hẳn sang các ngành phi nôngnghiệp làm Bên cạnh đó, số lao động làm công ăn lương tăng mạnh"

Là một xã gần như thuần nông nên lao động nông nghiệp của xã cũng tăng dần,

được thể hiện lao động nông nghiệp năm 2008 là 2282 tương ứng với 96,90% tăng lên

2455 tương ứng với 94,61% vào năm 2010 Bên cạnh đó lao động phi nông nghiệp

cũng có xu hướng tăng dần từ 73 lao động tương ứng với 3,10% năm 2008 tăng lên

140 tương ứng với 5,39% vào năm 2010 Tuy số lượng lao động tăng nhưng tốc độtăng lao động nông nghiệp giảm dần, đây là dấu hiệu tốt

Đại học Kinh tế Huế

Trang 40

Bảng 2: Tình hình dân số và lao động của xã Dương Thủy qua 3 năm 2008 – 2010

- Lao động nông nghiệp Người 2282 96,90 2370 95,36 2455 94,61 + 3,86 + 3,59

- Lao động phi nông nghiệp Người 73 3,10 115 4,63 140 5,39 + 57,53 + 21,74

4 Một số chỉ tiêu bình quân

- BQ khẩu / Hộ Khẩu / Hộ 4,52 - 4,60 - 4,58 - + 1,77 - 0,43

- BQ LĐ / Hộ LĐ / Hộ 2,54 - 2,60 - 2,58 - + 2,36 - 0,77

- BQ LĐ NN / Hộ NN LĐ / Hộ 2,53 - 2,60 - 2,58 - + 2,77 - 0,39

( Nguồn: Phòng thống kê UBND Xã Dương Thủy)

Đại học Kinh tế Huế

Ngày đăng: 19/10/2016, 22:41

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Giáo trình quản trị doanh nghiệp nông nghiệp của TS. Phùng Thị Hồng Hà, Trường Đại học kinh tế Huế Khác
2. Giáo trình thống kê kinh tế của Th.S Nguyễn Văn Vượng, Trường Đại học kinh tế Huế 3. Báo cáo của HLHPN xã Dương Thủy về tình hình hoạt động năm 2010 và phươnghướng nhiệm vụ 2011 Khác
4. Báo cáo về tình hình hoạt động của UBND xã Dương Thủy năm 2010 và phương hướng nhiệm vụ 2011 Khác
5. Báo cáo về hoạt động sản xuất kinh doanh của UBND xã Dương Thủy năm 2010 và phương hướng nhiệm vụ 2011 Khác
6. Báo Thông tin phụ nữ - Tài liệu lưu hành trong nội bộ HLHPN Khác
7. Văn kiện Đại hội đại biểu phụ nữ toàn quốc lần thứ X của Nhà xuất bản Phụ nữ Hà Nội – 2007 Khác
8. Sổ tay cán bộ Hội phụ nữ cấp cơ sở của Nhà xuất bản phụ nữ Hà Nội - 2003 Khác
9. Chuyển dịch lao động trong gia đình nông thôn, những vai trò mới của nam – nữ của PTS. Lê Ngọc Văn – NXB Khoa học xã hội, HN 1997 Khác
10. Giáo trình phân tích kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của TS. Trịnh Văn Sơn, trường Đại học Kinh tế Huế Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2: Tình hình dân số và lao động của xã Dương Thủy qua 3 năm 2008 – 2010 - Nghiên cứu tình hình việc làm và thu nhập của phụ nữ xã dương thủy, huyện lệ thủy, tỉnh quảng bình
Bảng 2 Tình hình dân số và lao động của xã Dương Thủy qua 3 năm 2008 – 2010 (Trang 40)
Bảng 3: Một số tư liệu sản xuất phục vụ sản xuất nông nghiệp năm 2010 - Nghiên cứu tình hình việc làm và thu nhập của phụ nữ xã dương thủy, huyện lệ thủy, tỉnh quảng bình
Bảng 3 Một số tư liệu sản xuất phục vụ sản xuất nông nghiệp năm 2010 (Trang 43)
Bảng 4: Phân loại số hộ điều tra theo các loại hình sản xuất kinh doanh - Nghiên cứu tình hình việc làm và thu nhập của phụ nữ xã dương thủy, huyện lệ thủy, tỉnh quảng bình
Bảng 4 Phân loại số hộ điều tra theo các loại hình sản xuất kinh doanh (Trang 46)
Bảng 5: Phân tổ các hộ nghiên cứu theo ngành nghề sản xuất kinh doanh - Nghiên cứu tình hình việc làm và thu nhập của phụ nữ xã dương thủy, huyện lệ thủy, tỉnh quảng bình
Bảng 5 Phân tổ các hộ nghiên cứu theo ngành nghề sản xuất kinh doanh (Trang 47)
Bảng 6: Tình hình đất đai của các hộ điều tra năm 2010 - Nghiên cứu tình hình việc làm và thu nhập của phụ nữ xã dương thủy, huyện lệ thủy, tỉnh quảng bình
Bảng 6 Tình hình đất đai của các hộ điều tra năm 2010 (Trang 51)
Bảng 9: Phân loại lao động của các hộ điều tra - Nghiên cứu tình hình việc làm và thu nhập của phụ nữ xã dương thủy, huyện lệ thủy, tỉnh quảng bình
Bảng 9 Phân loại lao động của các hộ điều tra (Trang 61)
Bảng 10: Mức độ tham gia của phụ nữ trong hoạt động sản xuất và công việc - Nghiên cứu tình hình việc làm và thu nhập của phụ nữ xã dương thủy, huyện lệ thủy, tỉnh quảng bình
Bảng 10 Mức độ tham gia của phụ nữ trong hoạt động sản xuất và công việc (Trang 64)
Bảng 11: Thời gian làm việc trong ngày của lao động nam và lao động nữ - Nghiên cứu tình hình việc làm và thu nhập của phụ nữ xã dương thủy, huyện lệ thủy, tỉnh quảng bình
Bảng 11 Thời gian làm việc trong ngày của lao động nam và lao động nữ (Trang 68)
Bảng 12: Phân tổ lao động nữ theo số ngày làm việc trong năm - Nghiên cứu tình hình việc làm và thu nhập của phụ nữ xã dương thủy, huyện lệ thủy, tỉnh quảng bình
Bảng 12 Phân tổ lao động nữ theo số ngày làm việc trong năm (Trang 71)
Bảng 13: Cơ cấu thu nhập của các hộ điều tra - Nghiên cứu tình hình việc làm và thu nhập của phụ nữ xã dương thủy, huyện lệ thủy, tỉnh quảng bình
Bảng 13 Cơ cấu thu nhập của các hộ điều tra (Trang 75)
Bảng 14: Nhu cầu việc làm của phụ nữ Xã Dương Thủy - Nghiên cứu tình hình việc làm và thu nhập của phụ nữ xã dương thủy, huyện lệ thủy, tỉnh quảng bình
Bảng 14 Nhu cầu việc làm của phụ nữ Xã Dương Thủy (Trang 79)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm