1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu hiệu quả kinh tế sản xuất mía của các hộ nông dân trên địa bàn xã nghĩa an huyện nghĩa đàn – nghệ an

69 271 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 69
Dung lượng 556,31 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hiện nay nước ta đang trong thời kỳ mới hội nhập WTO thì nền kinh tế nướcnhà cần được chú trọng phát triển toàn diện, do đó cùng với sự chuyển dịch cơ cấukinh tế theo cơ chế thị trường g

Trang 1

PHẦN I ĐẶT VẤN ĐỀ

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong những năm gần đây nền kinh tế thế giới có nhiều biến động tích cực, đặcbiệt là kinh tế nông nghiệp ngày càng đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế quốcdân cũng như trong sự phát triển của thế giới Theo xu thế đó sản xuất nông nghiệp và

sự phát triển kinh tế nông thôn đã có sự chuyển dịch mạnh mẽ cả về chiều rộng lẫnchiều sâu

Hiện nay nước ta đang trong thời kỳ mới hội nhập WTO thì nền kinh tế nướcnhà cần được chú trọng phát triển toàn diện, do đó cùng với sự chuyển dịch cơ cấukinh tế theo cơ chế thị trường gắn với sự nghiệp CNH- HĐH đất nước thì nền kinh tế

cả nước nói chung và sự phát triển kinh tế nông nghiệp nói riêng càng được đặc biếtchú trọng phát triển mạnh về chiều sâu, sản xuất nông nghiệp cần có những chiến lượcphát triển hợp lý, mang lại hiệu quả cao để tạo ra những mặt hàng sản phẩm có giá trịkinh tế và hàm lượng chất xám cao, có khả năng cạnh tranh cao trên thị trường nội địa

và quốc tế

Mía là loại cây công nghiệp ngắn ngày có vị trí quan trong sản xuất nôngnghiệp của nhiều nước ở các vùng nhiệt đới Với nước ta mía được coi là một loại câycông nghiệp mũi nhọn và mang lại hiệu quả cao trong sản xuất nông nghiệp Mía lànguồn nguyên liệu quan trọng trong ngành công nghiệp chế biến đường, sản phẩm

đường từ cây mía là nguồn nguyên liệu quan trọng cần có trong nhiều ngành công

nghiệp chế biến đặc biệt là công nghiệp chế biến lương thực, thực phẩm Đường từmía cung cấp một phần năng lượng không kém phần quan trọng trong cơ thể conngười và nhiều sản phẩm được chế biến từ mía như rượu, cồn, bánh kẹo…

Ngày nay khi nền kinh tế thế giới càng phát triển, nhu cầu của con người càng

được nâng lên, các ngành công nghiệp chế biến ngày càng nhiều thì nhu cầu về đường

sẽ ngày càng cao và cần thiết Đó sẽ là điều kiện tốt để phát triển sản xuất mía

Nghĩa An là một xã miền núi, đời sống nông dân chủ yếu sản xuất nông nghiệp

Là một vùng có bản chất thuần nông sống trên nền đất đỏ bazan, thời tiết khi hậu mang

đủ bốn mùa xuân, hạ, thu, đông của miền khí hậu nhiệt đới thì nơi đây là một vùng đất

quý cho các loai cây công nghiệp ngắn và dài ngày phát triển Do đó người dân cảvùng Nghĩa Đàn nói chung cũng như xã Nghĩa An nói riêng đời sống cũng như sự pháttriển kinh tế hộ ngày càng được nâng lên một cách rõ rệt Mà chủ yếu là do sự phát

Đại học Kinh tế Huế

Trang 2

với các loai cây trồng khác Vị trí của xã lại gần Công Ty Liên Doanh mía đườngNghệ An Tate & Lyles đồng thời cũng thuộc vùng quy hoạch nguồn nguyên liệu míacủa Công Ty nên Nghĩa An rất có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển sản xuất mía.

Với một điều kiện thiên thời, địa lợi, nhân hòa, sự quan tâm khuyến khích mởrộng đầu tư sản xuất mía của các cấp chính quyền huyện, xã cùng với sự hỗ trợ vàchiến lược quy hoạch phát triển nguyên liệu mía của Công Ty Liên Doanh mía đường

NA Tate & L thì đó là thuận lợi cũng như một động lực tiềm tàng để giúp người dânphát triển sản xuất mía nâng cao đời sống nhanh chóng Tuy nhiên thực tế cho thấyviệc phát triển sản xuất mía trên địa bàn xã hiện nay vẫn còn nhiều hạn chế nhất định,hiệu quả trong sản xuất chưa cao, năng xuất mía ngày càng giảm đi, sản xuất còn thiếu

đi tính ổn định, đời sống nhiều người dân vẫn còn khó khăn không những thế đất đai

ngày càng bị thái hóa, bạc màu, diện tích đất sản xuất mía ngày ngày càng bị thu hẹp

do thay thế các loại cây trông như sắn, cà phê, cao su…Đặc biệt từ năm 2010 Công ty

Cổ phần Thực phẩm sữa TH chính thức khởi công xây dựng Nhà máy sữa TH thuộc

dự án chăn nuôi bò sữa và chế biến sữa tập trung quy mô công nghiệp tại xã NghĩaTrung, huyện Nghĩa Đàn đã thu đi một lượng lớn diện tích trồng mía của người dânsản xuất mía Điều đó đã ảnh hưởng không những đến hiệu quả hoạt động của nhà máy

đường mà còn ảnh hưởng lớn đến việc sản xuất mía và đời sống của nông dân nơi đây

Xuất phát từ tình hình đó, tôi đã chọn đề tài “ Nghiên cứu hiệu quả kinh tế

sản xuất mía của các hộ nông dân trên địa bàn xã Nghĩa An - huyện Nghĩa Đàn – Nghệ An ” Làm chuyên đề tốt nghiệp.

2 Mục đích nghiên cứu

 Hệ thống hóa lý luận và thực tiễn về hiệu quả kinh tế sản xuất mía ;

 Phân tích, đánh giá hiệu quả sản xuất mía của các hộ nông dân trên địa bàn

xã nói riêng và toàn vùng nguyên liệu nói chung ;

 Đề ra những kiến nghị và giải pháp nâng cao hiệu quả kinh tế sản xuất mía

 Nghiên cứu tính hiệu quả sản xuất trong từng đối tượng hộ sản xuất khác

nhau

3 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp thống kê kinh tế

Phương này dựa trên cơ sở các phương pháp thống kê Nội dung của phương

pháp này gồm có 3 nội dung là: thu thập số tài liệu trên cơ sở quan sát số lớn, điều trachọn mẫu, điều tra trọng điểm…; xử lý và hệ thống hóa tài liệu trên cơ sở phân tổthống kê và cuối cùng là phán ánh, phân tích tài liệu ( sau khi tài liệu đã được tổnghợp): phản ánh mức độ( nhiều hay ít, biến động và các hiện tượng chúng có mối liên

hệ với nhau như thế nào) và so sánh với nhau

Đại học Kinh tế Huế

Trang 3

- Phương pháp thu thập số liệu

Số liệu thứ cấp: Các số liệu này được thu thập từ các phòng ban của UBND Xã

mà cụ thể là phòng thống kê của Xã Ngoài ra còn thu thập thông tin qua sáchbáo,mạng internet, tạp chí nông nghiệp và các tài liệu nghiên cứu của các khóa trước

Số liệu sơ cấp: Đây là những số liệu mà qua điều tra phỏng vấn các nông hộtrồng mía trên địa bàn nghiên cứu

- Các phương pháp phân tích kinh tế

Phương pháp này dùng tổng hợp những nét chung trên cơ sở đánh giá hiệu quả

hay không hiệu quả thông qua các chỉ tiêu tương đối, bình quân và đánh giá mức độbiến động của các chỉ tiêu nhằm biểu hiện quy mô số lượng của hiện tượng

- Phương pháp điều tra chọn mẫu

Nghĩa An là một xã có diện tích đất tự nhiên và đất sản xuất nông nghiệp tương

đối lớn, với 12 xóm, trong đó có 8 xóm có diện tích trồng mía nhiều nhất Người dântrên địa bàn lâu nay vẫn xem cây mía là cây trồng chính mang lại hiệu quả sản xuất

cao so với các cây trồng khác

Căn cứ vào thời gian và tình hình thực tế địa bàn nghiên cứu tôi đã chọn 60 hộ

trồng mía để điều tra trong đó có: 5 hộ giàu, 22 hộ khá, 30 hộ trung bình và 3 hộ nghèo

ở địa bàn của 8 xóm là xóm : 1, 2A, 2B, 3, 8, 9, 10A,10B

- Phương pháp điều tra phỏng vấn

Là phương pháp đánh giá hiện trạng sản xuất mía theo nông hộ với sự tham gia

của người dân (RRA: Rapid Rural Appraisal- Điều tra nông thôn nhanh) Cụ thể để

thu thập số liệu nghiên cứu tôi đã điều tra phỏng vấn 60 hộ nông dân trên toàn địa bànnghiên cứu và thu thập số liệu từ UBND Xã

- Phương pháp chuyên gia

Là phương pháp dựa trên việc tham khảo ý kiến của các chuyên gia am hiểu về

lĩnh vực đang nghiên cứu Cụ thể trong chuyên đề này là tham khảo ý kiến của thầy

giáo hướng dẫn, cán bộ phòng nông nghiệp UBND Xã, kỹ sư nông nghiệp cũng như

các hộ sản xuất mía…

- Và một số phương pháp khác như phương pháp duy vật biện chứng.

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Nội dung: Nghiên cứu hiệu quả kinh tế sản xuất mía

- Đối tượng nghiên cứu: Các nông hộ trồng mía trên địa bàn nghiên cứu

- Phạm vi nghiên cứu:

 Thời gian: từ ngày 14 tháng 02 năm 2011 đến ngày 05 tháng 04 năm 2011

 Không gian: toàn địa bàn xã Nghĩa An, Huyện Nghĩa Đàn, tỉnh Nghệ An

Đại học Kinh tế Huế

Trang 4

PHẦN II NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ HIỆU QUẢ KINH TẾ SẢN

XUẤT MÍA

1.1 Các định nghĩa và lý thuyết cơ bản về hiệu quả kinh tế

1.1.1 Hiệu quả kinh tế

HQKT là một hoạt động sản xuất kinh doanh chủ yếu đề cập đến lợi ích kinh tế

sẽ thu được trong hoạt động đó HQKT là một phạm trù phản ánh mặt chất lượng củacác hoạt động kinh tế Nâng cao chất lượng hoạt động kinh tế có nghĩa là tăng cườngtrình độ, lợi dụng các nguồn lực có sẵn trong một hoạt động kinh tế Đây là một đòihỏi khách quan của mọi nền sản xuất xã hội do nhu cầu vật chất của cuộc sống con

người ngày càng tăng Nói một cách biện chứng thì chính do yêu cầu của công tác

quản lý kinh tế thấy cần thiết phải đánh giá nhằm nâng cao chất lượng của các hoạt

động kinh tế đã làm xuất hiện phạm trù HQKT

Bàn về khái niệm HQKT, các nhà kinh tế ở nhiều nước và nhiều lĩnh vực có nhữngquan niệm nhìn nhận khác nhau, có thể tóm tắt vào 3 hệ thống quan điểm như sau:

+ Hệ thống quan điểm thứ nhất cho rằng:

HQKT được xác định bởi tỷ số giữa kết quả đạt được và chi phí bỏ ra (các nguồn

nhân, tài, vật, lực, tiền vồn) để đạt kết quả đó Hiệu quả được xác định như sau:

Trong đó : Q : là kết quả

K: Là chi phí bỏ ra

+ Hệ thống quan điểm thứ hai cho rằng:

Xem xét HQKT trong phân biến động giữa kết quả sản xuất và chi phí bỏ ra

Theo quan điểm này, HQKT biểu hiện ở quan hệ tỷ lệ giữa phần tăng lên của kết quả

sản xuất và phần tăng lên của chi phi phí hay quan hệ giữa mức độ tăng trưởng kết quảsản xuất với mức độ tăng trưởng chi phí của nền sản xuất xã hội Như vậy, theo quan

điểm này thì HQKT được xác định:

∆ Q

∆ KTrong đó: ∆ Q : Là phần tăng thêm của kết quả sản xuất

∆ K : Là phần tăng thêm của chi phí sản xuất

(∆ Q tăng nhanh hơn ∆K nhằm mục tiêu HQKT luôn luôn lớn hơn 1)

+ Hệ thống quan điểm thứ ba cho rằng:

Đại học Kinh tế Huế

Trang 5

HQKT được xác định bởi tỷ lệ giữa % tăng lên của kết quả sản xuất với %tawnh lên của chi phí bỏ ra Như vậy được xác định như sau:

- Có hệ thống quan điểm cho rằng HQKT được đo bằng hiệu số giữa giá trị

sản xuất đạt được và lượng chi phí bỏ ra để đạt kết quả đó

Thể hiện quan điểm này, có tác giả nêu khái niệm chung nhất của HQKT là đại

lượng thu được của hiệu số giữa kết quả thu được và hao phí (chi phí bỏ ra) để thực

hiện mục tiêu đó

HQKT = Kết quả sản xuất - Chi phí

Tác giả Đỗ Thịnh nêu quan điểm: “Thông thường hiệu quả được biểu hiện

như một hiệu số giữa kết quả và chi phí … Tuy nhiên trong thực tế có nhiều trường

hợp không thực hiện được phép trừ hoặc phép trừ không có ý nghĩa Do vậy, mộtcách linh hoạt và rộng rãi hơn nên hiểu hiệu quả là một kết quả tốt phù hợp mongmuốn”

Ngoài ra còn có ý kiến, quan điểm nhìn nhận HQKT trong tổng thể kinh tế

-xã hội Theo L.N.Carirốp “Hiệu quả của sản xuất -xã hội được tính toán và kế hoạch

hoá trên cơ sở những nguyên tắc chung đối với nền kinh tế quốc dân bằng cách so sánh

các kết quả của sản xuất với chi phí hoặc nguồn dữ trữ đã sử dụng” Theo Anghlốp thì:

“HQKT xã hội là sự tương ứng giữa kết quả xã hội được khái quát trong khái niệm rộnghơn - sự tăng lên phần thịnh vượng cho những người lao động với mức tăng hao phí để

nhận kết quả này”

+ Đối với Chủ nghĩa tư bản, kinh tế thị trường tuân theo quy luật kinh tế cơ

bản nhằm thu được lợi nhuận tối đa cho từng doanh nghiệp thì HQKT chủ yếu được

đánh giá bằng những chỉ tiêu phản ánh lợi ích kinh tế của từng doanh nghiệp

+ Trong nền kinh tế quản lý theo cơ chế tập trung quan liêu bao cấp (mô hình

các nước xã hội chủ nghĩa trước đây) lấy mục tiêu số một là đáp ứng nhu cầu vật chất

của xã hội coi HQKT của sản xuất trước hết là năng lực sản xuất và cung ứng vật chấtcho xã hội của từng cơ sở sản xuất

Trong nền kinh tế thị trường ngày nay nhiều nước trên thế giới tạo điều kiệncho tất cả các thành phần kinh tế phát triển nhưng có sự can thiệp của nhà nước nhằm

đáp ứng yêu cầu về chính trị xã hội hiện tại

Như vậy khái niệm HQKT ở các nền kinh tế khác nhau không đồng nhất mà tùytheo điều kiện mục đích của từng nền sản xuất cũng nhưu yêu cầu đạt ra của xã hội, nó

Đại học Kinh tế Huế

Trang 6

nhằm đáp ứng yêu cầu quy luật kinh tế mỗi thời kỳ, mỗi giai đoạn phát triển kinh tếnhất định ở từng nước.

Tóm lại HQKT là mối quan hệ so sánh giữa :

Toàn bộ yếu tố đầu ra với toàn bộ yếu tố đầu vao

Phần tăng thêm tuyệt đối của yếu tố đầu ra với phần tăng thêm của yếu tố đầuvào

Phần tăng thêm tương đối của yếu tố đầu ra với phần tăng thêm tương đối củayếu tố đầu vào

Như vậy, muốn xác định HQKT cần phải xác định được kết quả và chi phí bỏ

ra, ưng với các công thức đã nêu ở trên thì tức là phải xác định được Q và K

Trong thực tế, nguồn lực ngày càng khan hiếm so với việc đáp ứng nhu cầu

ngày càng tăng của con người và sản xuất nông nghiệp diễn ra trong điều kiện rủi ro

bất thường làm cho kết quả và hiệu quả sản xuất thường không ổn định Vì thế muốngiải quyết tình trạng khan hiếm về nguồn lực, phải đảm bảo một nền sản xuất ổn đinh,chúng ta cần phải bàn đến việc nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn lực, đó là quản lýcác rủi ro trong nông nghiệp Nói đến hiệu quả chúng ta cần phân biệt rõ 3 loại hiệuquả sau:

+ Hiệu quả kỹ thuật ( TE: technical efficiency): Là số lượng sản phẩm có thể

đạt được trên 1đơn vị chi phí đầu vào hay nguồn lực sử dụng vào hàm sản xuất trong

những điều kiện cụ thể về kỹ thuật hay công nghệ áp dụng vào nông nghiệp

+ Hiệu quả phân bổ (AE: efficient allocation) : là chỉ tiêu kết quả trong các

yếu tố giữu sản phẩm và giá đầu vào được tính để phản ánh giá trị sản phẩm thu thêm

trên 1 đồng thực chất của hiệu quả phân bổ là hiệu quả kỹ thuật có tính đến các yếu tố

veefgias của đầu cào và giá cả đầu ra đo đo nó còn gọi là hiệu quả giá

+ Hiệu quả kinh tế ( EE: economic efficiency): Là phạm trù kinh tế mà trong

đó sản xuất đạt cả hiệu quả phân bổ và hiệu quả kỹ thuật, nghĩa là cả 2 yếu tố giá trị và

hiện vật đều tính đến khi xem xét việc sử dụng các nguồn lực trong nông nghiệp Do

đó để sản xuất đật hiệu quả kinh tế thì điều kiện cần và đủ là việc sử dụng nguồn lực

phải đạt cả 2 chỉ tiêu hiệu quả ky thuật và hiệu quả phân bổ Hay:

EE = TE  AE

1.1.1.1 Nội dung và bản chất của hiệu quả kinh tế (HQKT).

Qua các khái niệm, khái niệm về HQKT như phân tích ở trên cho thấy HQKT làmột phạm trù kinh tế chung nhất có liên quan trực tiếp với nền sản xuất hàng hóa vàtất cả các phạm trù quy luật kinh tế khác Nền kinh tế quản lý theo kinh tế thị trường ở

nước ta hiện nay đang cho phép các doanh nghiệp, các hộ gia đình ở mọi thành phần

kinh tế cùng tham gia sản xuất Mục đích, yêu cầu đối với quá trình sản xuất của mỗithành phần là khác nhau cho nên chỉ tiêu đánh giá HQKT là rất quan trọng Hộ nông

Đại học Kinh tế Huế

Trang 7

dân tiến hành sản xuất kinh doanh trước hết để có công ăn việc làm, có thu nhập hàng

ngày sau đó mới tính đế phần tích lũy Hiệu quả kinh tế của các doanh nghiệp nông

nghiệp bao gồm cả sản xuất nông nghiệp, cả kinh doanh hay chế biến Hiệu quả kinh

tế là phạm trù kinh tế - xã hội với những đặc thù phức tạp nên việc xác định và so sánh

HQKT là điều khó khăn và mang tính chất tương đối

Vậy, nội dung xác định HQKT bao gồm:

+ Xác định các yếu tố đầu ra (mục tiêu đạt được): Trước hết, các mục tiêu đạtđược của từng doanh nghiệp, từng cơ sở sản xuất kinh doanh phải phù hợp với mục

tiêu chung của nền kinh tế quốc dân (được xã hội chấp nhận) hàng hóa sản xuất phải

trao đổi được trên thị trường, các kết quả nhận được là: Khối lượng sản phẩm, giá trị

sản phẩm, giá trị sản xuất, giá trị gia tăng, lợi nhuận so sánh với chi phí bỏ ra

+ Xác định các yếu tố đầu vào: Bao gồm chi phí trung gian (IC), chi phí sản

xuất, chi phí về lao động, chi phí về vốn đầu tư

Về tính toán: Ổn định giá cả đầu vào cũng phải ổn định trên cơ sở phải có đầu

tư ngay từ đầu

Tuy nhiên, việc xác định các yếu tố đầu vào sẽ gặp khó khăn, đó là có những tưliệu sản xuất tham gia nhiều quá trình SX, những khoản chi phí gián tiếp không tính

được như cơ sở hạ tầng (giao thông, điện, thông tin), đào tạo cán bộ khoa học kỹ thuật

Với một khối lượng dự trữ tài nguyên nhất định nhằm tạo ra được khối lượngsản phẩm lớn nhất, đó là mục tiêu của các nhà sản xuất và các nhà quản lý Như vậy,quá trình sản xuất là sự liên hệ, gắn bó mật thiết giữa các yếu tố đầu vào và khối lượng

đầu ra Sự biểu hiện kết quả của các quan hệ trên có thể tính hiệu quả sản xuất và đượcxem như một trong những nội dung hết sức quan trọng

Nội dung quan trọng của việc xác định và nâng cao hiệu quả sản xuất từ nhữngyêu cầu phát triển sản xuất và tái sản xuất mở rộng – một trong những quy luật cơ bảncủa quá trình sản xuất xã hội Mức độ hiệu quả đạt được phản ánh trình độ phát triểncủa lực lượng sản xuất cũng như trình độ sản xuất xã hội

Từ một nền kinh tế tập trung chuyển sang nền kinh tế thị trường như nước ta thì

có nhiều vấn đề kinh tế được xem xét và đánh giá lại Về vấn đề hiệu quả được coi làvấn đề quan trọng nhất, quyết định sự tồn tại của nền sản xuất Làm rõ bản chất củahiệu quả cần phải phân định sự khác nhau và mối quan hệ giuwac kết quả và hiệu quả

Do tính mâu thuẫn giữa khả năng hữu hạn của tài nguyên với nhu cầu không ngừng

tăng lên của con người Vì vậy, khi đánh giá kết quả hoạt động sản suất kinh doanh

của một doanh nghiệp hay của một cơ sở sản xuất thì người ta không dừng lại ở chỉ

tiêu đánh giá kết quả, vì chỉ tiêu này mới phản ánh về mặt lượng của sự vật hiện

Đại học Kinh tế Huế

Trang 8

các chi phí bỏ ra để thu được kết quả phải là chi phí lao động xã hội Vì vậy, bản chấtcủa hiệu quả phải là hiệu quả của lao động xã hội và được xác định bằng tương quan

so sánh giữa lượng kết quả hữu ích thu được với lượng chi phí lao động xã hội, còntính chất của hiệu quả là sự tối đa kết quả và tối thiểu hóa chi phí trong điều kiệnnguồn lực tài chính nhất định (Lâm Thị Xuân – Đánh giá hiệu quả sản xuất mía của hộ

nông dân phường Hà Phong, tỉnh Quảng Ninh, trường Đại Học Nông Nghiệp I – Hà

Nội)

1.1.1.2 Phân loại HQKT.

Các hoạt động sản xuất của con người và quá trình tìm và ứng dụng các tiến bộKH-KT vào sản xuất đều phục vụ mục đích chủ yếu là kinh tế mà cụ thể là nhằm đemlại HQKT cao nhất Tuy nhiên, ngày nay khi người ta nhận ra các vấn đề về môi

trường và xã hội thì hoạt động đó không chỉ duy nhất đạt được về mặt kinh tế mà nó

còn ảnh hưởng đến kết quả sản xuất xã hội của con người nói chung Do vậy mà xéttrên phạm vi hoạt động kinh tế hay tiến bộ KH-KT có thể mang lại lợi ích cho một cánhân, một đơn vị sản xuất nhưng xét trên phạm vi toàn xã hội thì nó ảnh hưởng đếnhiệu quả và lợi ích chung Chính vì vậy, khi đánh giá hiệu quả cần phân biệt rõ các loạihiệu quả và làm rõ mối liên hệ giữa chúng để có nhận xét chính xác Cụ thể, căn cứvào các tiêu thức khác nhau mà có các loại hiệu quả khác nhau như sau:

Nếu căn cứ vào nội dung người ta phân hiệu quả làm nhiều loại: Hiệu quả kinh

tế, hiệu quả xã hôi, hiệu quả môi trường… Trong đó hiệu quả kinh tế là trung tâm củamọi loại hiệu quả và có vai trò quyết định đối với các loại hiệu quả khác

Căn cứ vào các yêu cầu tổ chức và quản lý kinh tế theo các cấp, các ngành, hiệu

quả kinh tế phân thành:

+ Hiệu quả kinh tế quốc dân, hiệu quả kinh tế vùng, lãnh thổ

+ Hiệu quả kinh tế xã hội

Nếu căn cứ theo các yếu tố cơ bản của sản xuất và chi phí vật chất khác thìHQKT gồm:

+ Hiệu quả sử dụng lao động và tài nguyên như đất đai, lao động vật tư

+ Hiệu quả sử dụng vốn, máy móc thiết bị

+ Hiệu quả các biện pháp KH-KT và quản lý

Ngoài ra, hiệu quả còn được xem xét cả về mặt thời gian và không gian Về mặthiệu quả đạt được phải đảm bảo cả lợi ích trước mắt và lâu dài, tức là hiệu quả đạt

được ở từng thời kỳ, giai đoạn không ảnh hưởng đến hiệu quả các thời kỳ, giai đoạn

tiếp theo Về mặt không gian hiệu quả chỉ có thể coi đạt được một cách toàn diện khihoạt động của các ngành, các đơn vị bộ phận đều mang lại hiệu quả kinh tế mà khônglàm ảnh hưởng đến hiệu quả chung của nền kinh tế quốc dân

Đại học Kinh tế Huế

Trang 9

Như vậy, việc đánh giá hiệu quả kinh tế phải được xem xét cả về mặt không

gian và thời gian trong mối liên hệ giữa hiệu quả và kết quả

1.1.1.3 Một số chỉ tiêu tính hiệu quả kinh tế

Theo hệ thống chỉ tiêu SNA ta có các chỉ tiêu về hiệu quả kinh tế sau:

Các chỉ tiêu về kết quả bao gồm:

- Giá trị sản xuất (GO) : là toàn bộ của cải vật chất và dịch vụ đươc tạo ra

trong thời kỳ thường là một năm

1

*

n

i i i

Chi phí sản xuất trung gian (IC): là toàn bộ các khoản chi phí vật chất và dịch

vụ được sử dụng trong quá trình sản xuất

1

*

n

j i i



Trong đó:

Cj: là khoản chi phí thứ j trong một vụ sản xuất

Pj: là giá của chi phí thứ j trong một vụ sản xuất

- Giá trị gia tăng (VA): : Là giá trị sản xuất còn lại sau khi trừ đi chi phí

trung gian:

VA = GO – IC

- Lợi nhuận thu được trên 1 ha (LN): LN = GO – TC

Hiện nay trên địa bàn không còn thuế đất nông nghiệp, hơn nữa quá trình sảnxuất chủ yếu là những công cụ thô sơ, nhỏ và rẻ tiền nhanh hỏng nên hầu như không

có khấu khấu hao tài sản cố định

- Các chỉ tiêu về hiệu quả hay chỉ số về hiệu xuất tính trên 1 đồng chi phí trun gian:

 GO/IC: thể hiện một đồng chi phí trung gian bỏ ra được bao nhiêu đồnggiá trị sản xuất

 VA/IC: thể hiện một đồng chi phí trung gian bỏ ra được bao nhiêu đồnggiá trị gia tăng

 LN/IC: thể hiện một đồng chi phí trung gian bỏ ra được bao nhiêu đồnglợi nhuận

 VA/LĐGĐ: là tỷ suất tăng thêm theo chi phí lao động gia đình.

1.2 Kỹ thuật trồng mía và giá trị kinh tế của cây mía

1.2.1 Kỹ thuật trồng và chăm sóc mía

Đại học Kinh tế Huế

Trang 10

khi thu hoạch thường kéo dài 1 năm, chu kỳ sinh trưởng có thể chia thành 5 thời kỳ:thời kỳ nảy mầm, thời kỳ đẻ nhánh, thời kỳ vươn cao, thời kỳ chín công nghiệp và thời

kỳ trổ cờ Các bộ phận của cây miasbao gồm:Thân mía, rễ mía, lá mía, hoa và hạt mía

1.2.1.1 Các nhân tố ảnh hưởng tới cây mía

Sư phát triển của cây mía chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố khác nhau, song

chúng ta có thê quy hoạch chúng vào 3 nhóm yếu tố sau:

a Yêu cầu điều kiện sinh thái

- Khí hậu: Mía là cây nhiệt đới, ưa nhiệt độ cao, độ ẩm co, ánh sáng đầy đủ,

mưa nhiều, trong những điều kiện thích hợp, về phương diện tổng sinh khối tạo ra cũn

như sản phẩm cuối cùng mía là một trong những cây trông có hiệu quả nhất

Ánh sáng: Rất cần cho sự quang hợp để tạo đường cho cây mía Khi cường

độ ánh sáng tăng thì hoạt động quang hợp của bộ lá cũng tăng Thiếu ánh sáng cây mía

phát triển yếu, vóng cây, hàm lượng đường thấp và cây mía dễ bị sâu bệnh Trong suốtchu kỳ sinh trưởng, cây mía cần khoảng 2.000 – 3.000 giờ chiếu sáng, tối thiểu cũng1.200 giờ trở lên

Lượng nước và ẩm độ đất: Đây là yếu tố ảnh hưởng rất lớn đến sinh trưởng

và phát triển của cây mía Trong thân cây mía chứa nhiều nước (70% khối lượng)

Lượng mưa thích hợp 1.500 – 2.000 mm/năm, phân bố trong khoảng thời gian từ 8-10

tháng, từ khi cây mía mọc mầm đến thu hoạch Thời kỳ cây mía làm đòng vương caorất cần nhiều nước, ẩm độ thích hợp khoảng 70-80%, ở các thời kỳ khác cần ẩm độ 65-70%

Đất: Cây mía thích hợp ở loại đất tơi xốp, tầng đất mặt sâu, giữ ẩm tốt và dễ

thoát nước Độ pH thích hợp 5,5-7,5 Các loại đất như sét nặng, chua, mặn, bị ngập

úng hoặc thoát nước kém… đều không thích hợp cho cây mía sinh trưởng và pháttriển

b Yếu tố sinh học

Yêu cầu chất dinh dưỡng : Mía là cây trồng có khả năng tạo ra lượng sinh

khối rất lớn, chỉ trong vòng chưa đầy 1 năm, 1 hecta mía có thể cho từ 70-100 tấn

mía cây, chưa kể lá và rễ Vì vậy nhu cầu dinh dưỡng của cây mía rất lớn Ngoài

các chất đa lượng NPK, cây mía rất cần canxi (Ca) và các chất vi lượng Do đó cần

bón đầy đủ đúng tỷ lệ, đúng tiêu chuẩn và đúc lúc để cây mía có thể sinh trưởng và

phát triển tốt

Đại học Kinh tế Huế

Trang 11

c Một số loại giống mía

Giống là yếu tố rất quan trọng trong việc mang lại hiệu quả kinh tế sản xuấtmía Giống mía tốt thì sẽ cho năng suất cao, tốc độ sinh trưởng nhanh, chống chịu sâubệnh, thích hợp điều kiện sinh thái và đất đai của từng vùng, thích hợp với điều kiệnchế biến của mỗi nơi Một số giống đã đước Bộ Nông Nghiệp & Phát Triển NôngThôn cho phép sử dụng trong sản xuất ở nước ta như: Giống Comus (Được nhập nội từÚc); Giống F.156 ( Đài Loan); Giống MY-5514 (Cuba); Giống Ja 60-5(Cuba); GiốngROC 16 (Nhập nội từ Đài Loan) Ngoài ra còn một số giống khá phổ biến như: ROC

10, ROC 20, ROC 22, F.134, F.154, QĐ 15, QĐ 86-368…

1.2.1.2 Quy trình kỹ thuật trồng và chăm sóc mía

 Thời vụ trồng

Thời vụ trồng mía phải thích hợp với điều kiện khí hậu của từng vùng và đặc

điểm của từng giống mía Phải đảm bảo thời kỳ vươn cao của cây mía gặp lúc mưa

nhiều, nhiệt độ cao, ánh sáng dài ngày Thời kỳ chín gặp nhiệt độ thấp mưa ít Thời vụtrồng mía thường bắt đầu vào đầu mùa mưa là tốt nhất Thời vụ trồng mía ở nước takhác nhau theo từng vùng nhưng cơ bản chia ra 2 vụ chủ yếu: Vụ đông xuân trồng từ

tháng 11 đến tháng 4 năm sau, đây là vụ chính th hoạch sau 10 – 12 tháng tuổi Vụ thu,

trồng từ tháng 8 đến tháng 9, thu hoạch vào tháng tháng 10 năm sau, thời gian sinh

trưởng dài khoản 11 – 12 tháng nên ưu điểm của vụ mía thu là năng suất cao, chín

sớm

 Chuẩn bị đất

Đất trồng mía yêu cầu phải bằng phẳng, tơi xốp, sạch cỏ, giữ ẩm tốt vào mùakhô và thoát nước tốt vào mùa mưa Để đạt các yêu cầu trên cần tiến hành các công

việc cày, bừa, san phẳng đất và rạch hàng đặt hom

 Đối với đất trồng mới: Cần phải cày ủi, bứng hết gốc cây, sau đó cày bừa

kỹ kết hợp san lấp bằng phẳng và rạch hàng đặt hom Với vùng đất dốc thì hàng míaphải vuông gốc với hướng dốc để hạn chế xói mòn

 Đối với đất đã trồng trọt: Thu gom hoặc cày vùi xác bã của cây trồng

trước, Sau đó tiến hành cày bừa, san phẳng trước khi rạch hàng

 Đối với đất phá gốc mía trồng lại: Cày hoặc cuốc hết gốc mía cũ, để một

thời gian cho gốc cũ khô chết hoàn toàn (khoảng 3-4 tuần), sau đó cày bừa trồng mới

 Cách trồng

- Rạch hàng: Căn cứ vào khoảng cách hàng đã định để rạch hàng đặt hom Độ

sâu của hàng có thể khác nhau tỳ theo tầng canh tác và điều kiện sản xuất cụ thể

Đại học Kinh tế Huế

Trang 12

đạm (N) và một phần kali (K) Cần bón thêm một số thuốc trừ sâu dạng hạt nhưDiaphos, Furadan… để phòng sâu đục thân và mối.

- Đặt hom: Sau khi hoàn tất công việc rạch hàng, bón lót phân thì tiến hành đặt

hom giống

Lấp đất: Đây là một trong những công đoạn không kém phần quan trọng, ảnh

hưởng đến tỉ lệ nảy mầm và mật độ cây mía sau trồng

- Phân hữu cơ: Đối với các vùng đất nghèo dinh dưỡng như vùng đất cát, đất

đồi trung du, đất xám Đông Nam Bộ… thì việc bón phân hữu cơ là hết sức quan trọng

- Phân vô cơ: Lượng phân N-P-K cần bón cho 1 ha mía như sau:

+ Phân Urê : Tổng lượng bón là 326 – 391 kg/ha

+ Phân super lân : Tổng lượng bón là 560 – 750 kg/ha

+ Kali đỏ (KCl) : Tổng lượng bón là 250 – 300kg/ha.Các loại phân này đượcchia cho các lần bón như sau:

+ Bón lót: Trước khi đặt hom (trồng mới) hoặc sau khi thu hoạch (mía gốc)100– 130 kg Urê + 560 – 750 kg Super lân + 125 – 150 kg Kali

+ Bón thúc lần 1: Giai đoạn mía bắt đầu đẻ nhánh100 – 130 kg Urê + 125 – 150

kg Kali

+ Bón thúc lần 2: Giai đoạn mía làm dóng vươn cao.100 – 130 kg Urê.Nên kếthợp bón phân với làm cỏ xới xáo, vun luống cao để vùi lấp phân

- Bón vôi để khử chua đất và các loại phân vi lượng ( Magiê (Mg), Lưu

huỳnh (S), Sắt (Fe), Kẽm (Zn), Mangan (Mn)…) để giúp mía sinh trưởng tốt

 Tưới nước và luân canh, trồng xen

Thời kỳ mía mới trồng cần rất nhiều nước, nên nêu thời tiết khô hạn cần tưới

nước đầy đủ, cây mía nếu giải quyết được nước tưới trong mùa khô hạn thì năng suất

mía cây và tỉ lệ đường sẽ tăng lên đáng kể Đồng thời cần có chế độ trồng luân canh,xen canh, gối vụ, phối hợp với tỷ lệ thích hợp giữa mía tơ và mía gốc, giữa các thời vụtrồng khác nhau nhằm không ngừng bồi dưỡng cải tạo đất tăng năng suất mía Các loạicây trồng xen phải thích hợp không làm ảnh hưởng đến cây mía, nên xen các loại cây

Trang 13

xuất Do đó sẽ ảnh hưởng đến năng suất và kết quả của 3 – 4 năm sau nên việc đầu tưtrồng mới 1 năm nhưng phải phân bổ chi phí 3 –4 năm.

1.2.2 Giá trị kinh tế của cây mía

Mía là cây công nghiệp lấy đường quan trọng của ngành công nghiệp đường

Đường là một loại thực phẩm cần có trong cơ cấu bữa ăn hàng ngày của nhiều quốc

gia trên thế giới, cũng như là loại nguyên liệu quan trọng của nhiều ngành sản xuấtcông nghiệp nhẹ và hàng tiêu dùng như bánh kẹo

Xét về mặt sinh học:

Cây mía là cây trồng có khả năng sinh khối lớn Nhờ đặc điểm có chỉ số diện

tích là lớn nên cây mía có khả năng lợi dụng cao ánh sáng mặt trời trong quá trìnhquang hợp (tối đa có thể đạt 5-7%) Trong vòng 10-12 tháng một hecta mía cho năngsuất hàng trăm tấn mía cây và một khối lượng lớn lá xanh, gốc, rễ để lại trong đất

Khả năng tái sinh mạnh Mía là cây trồng có thể để gốc được nhiều năm Nghĩa

là một lần trồng nhưng thu hoạch nhiều vụ Năng suất mía ở vụ gốc đầu thường cao

hơn cả vụ mía tơ

Khả năng thích ứng rộng Cây mía có thể trồng trên nhiều loại đất với các điều

kiện sinh thái khác nhau, chống chịu tốt các điều kiện bất thuận của tự nhiên, dễ thíchnghi với các trình độ sản xuất và chế biến

Xét về mặt sản phẩm:

Cây mía là nguyên liệu chính để chế biến đường ăn, ngoài ra mía và đường còn

là nguyên liệu trực tiếp hoặc gián tiếp của nhiều ngành công nghiệp như: rượu cồn, bộtgiấy, gỗ ép, dược phẩm, thức ăn gia súc, phân bón v.v Các sản phẩm phụ của mía,

đường nếu được khai thác triệt để giá trị còn có thể gấp 3-4 lần giá trị của chính phẩm(đường ăn)

Ngoài ra, mía còn là loại cây có tác dụng bảo vệ đất rất tốt Mía thường trồng từ

tháng 10 đến tháng 2 hàng năm là lúc lượng mưa rất thấp Đến mùa mưa, mía được 4-5

tháng tuổi, bộ lá đã giao nhau thành thảm lá xanh dày, diện tích lá gấp 4-5 lần diện tích

đất làm cho mưa không thể rơi trực tiếp xuống mặt đất có tác dụng tránh xói mòn đấtcho các vùng đồi trung du Hơn nữa mía là cây rễ chum và phát triển mạnh trong tầngđất từ 0-60cm Một ha mía tốt có thể có 13-15 tấn rễ, sau khi thu hoạch bộ rễ để lạitrong đất cùng với bộ lá là chất hữu cơ quý làm tăng độ phì của đất

Đại học Kinh tế Huế

Trang 14

1.3 Tình hình sản xuất mía trong nước và một số nước trên thế giới

1.3.1 Tình hình sản xuất mía đường trên thế giới.

Trên thế giới hiện nay ngành sản xuất mía rất phát triển nhất là các nước nhưCuba, Ấn Độ, Australia, Trung Quốc, Thái Lan, Mehico… Trong đó, Ấn Độ và TrungQuốc là hai nước trồng mía có lich sử lâu đời nhất thế giới Ở Trung Quốc, căn cứ vàonhững tài liệu ghi chép cổ xưa cùng sự phân bố của mía dại ở nhiều nơi trong nước vàmức độ phong phú của những giống mía trồng thì mía ở đây được trồng từ rất lâu, từ

trước thế kỷ thứ IV-TCN Cuba là nước có ngành mía đường phát triển và nó cũng là

ngành kinh tế chủ yếu nên việc trồng mía và tất cả các khâu đều được chính phủ quan

tâm Australia là nước phát triển mía đường rất sớm, năm 1930 đã xuất khẩu 213.000

tấn đường Vấn đề phát triển sản xuất mía đường ở Australia là chính phủ quan tâm chỉ

đạo chặt chẽ ở tất cả các khâu, đặc biệt rất quan tâm đến lợi ích của người sản xuất vàxác định đầy đủ các vấn đề tiên quyết để phát triển ngành mía đường Thực tế cho tơi

bây giờ thì Australia vẫn là nước sản xuất mía phát triển và đạt hiệu quả nhất Brazin

là nước có diện tích mía đường lớn nhất thế giới với diện tích là 5793,62 ha (năm2006) năng xuất đạt chỉ đạt 73,72 tấn, thấp hơn Australia, từ năm 2003 đến 2006 năng

xuất bình quân nước này đạt 85 tấn, vụ mía năm 2005- 2006 năng xuất đạt 87,18

tấng/ha.( số liệu từ FAO)

Nhìn chung toàn cảnh thế giới, năm 1990 diện tích mía của thế giới là hơn 17triệu ha, năng xuất đạt 62 tấn/ha, đến năm 2000 diện tích mía tăng lên gần 20 triệu ha,với năng suất là 67 tân/ha từ năm 2000 cho đến năm 2009 diện tích không ngừng tăng

lên đồng thời năng xuất cũng tăng lên mặc dù trong khoản năm 2000 đến 2006 năng

xuất có dao động lên xuỗng nhưng vẫn đạt ở mức 65 tấn/ha trở lên, đặc biệt là 3 năm

từ 2006 – 2009 diện tích và năng xuất đều tăng nhanh và cao năm 2008 diện tích đạtgần 19 triệu ha, năng xuất cao nhất là năm 2009 đạt 72 tấn/ha và là năng xuất đạt lớnnhất từ trước tới nay Nhưng cả diện tịch và năng xuất đến năm 2010 thì đều có xu

hướng giảm đi tuy nhiên không đáng kể

Đại học Kinh tế Huế

Trang 15

Biểu đồ 1: Diễn biến năng xuất mía của Việt Nam và thế giới

1.3.2 Tình hình sản xuất mía đường ở Việt Nam.

Việt Nam là nước nằm trong vùng nhiệt đới hoàn toàn thích hợp cho cây mía

sinh trưởng và phát triển, thời kỳ sinh trưởng và phát triển tốt ở nhiệt độ từ 21-25oC,thời kỳ chín nhiệt độ từ 14-24oC và thích hợp nhất để cây mía tích lũy đường trong

thân Do đó ở Việt Nam, cây mía được trồng rất lâu đời, nhiều giống mía địa phươngđược thuần hóa từ dạng cây mía dại như “mía gie” ở Bắc Bộ, “mía lau” ở Trung Bộ,

“mía giấy” ở Quảng Ngãi… vẫn còn tồn tại

Thời kỳ Bắc thuộc, do yêu cầu sản xuất mía đường, nhiều giống mía được nhậpnôi vào Việt Nam như: POJ của Indonexia, CO của Ấn Độ…

Năm 1955 hòa bình lập lại ở Miền Bắc nghề trồng mía được phát triển mạnh vì

nó cho hiệu quả kinh tế cao Đến những năm 1960 – 1968 nhiều giống mía mới được

Đại học Kinh tế Huế

Trang 16

Từ những năm của thập kỷ 80 đến nay, bộ giống mía ngày càng được bổ xung

đa dạng, nhiều loại như: Nhóm mía ROC (ROC 1, ROC 10, ROC 16, Quế Đường 129…)

128-Biểu đồ 2: Diễn biến diện tích mía của Việt Nam và thế giới

độ mạnh

Nhìn vào biểu đồ 1 và 2 ta thấy năng suất mía ở nước ta từ năm 2000 đến naynhìn chung là có sự tăng lên đáng kể, NSBQ trong cả nước cao nhất là năm 2009 năngsuất đạt 60 tấn/ha, tuy nhiên diện tích lại bị giảm dần đi với các năm trước TheoQuyết định 26/2007/QĐ-TTg về chỉ tiêu kế hoạch đề ra đến 2010 về diện tích phải đạt

Đại học Kinh tế Huế

Trang 17

300.000 ha, năng xuất 65 tấn/ha kết quả thu được năm 2010 là diện tích đạt 266,30 hanăng suất là 59,9 ha như vậy vẫn chưa đạt được kế hoạch đề ra do nhiều nguyên nhân.

Theo Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, vụ mía năm 2008 - 2009, tổng diện tíchmía cả nước khoảng 270.600 ha, giảm 36 nghìn ha so với vụ trước, năng suất mía bìnhquân chỉ đạt 50 tấn/ha, giảm 7,6%, tổng sản lượng mía chỉ đạt 13,5 triệu tấn, giảm

18,6%, trong đó sản lượng mía ở miền bắc giảm nhiều nhất, khoảng 30%.tr va Tây

nguyên 15 %, miền Nam là 10%, nguyên nhân là do giá vật tư tăng quá cao, lai suất

ngân hàng lên đến 22- 25%/năm, trong khi giá đường và giá mía tăng không đáng kể

thêm hiệu quả sản xuất mía thấp,một số nơi người dân chuyển đổi sang cây trồng khác

như sắn, cao su… năm 2008 thời tiết rét đậm rét hại đã gây ảnh hưởng đến hiệu quả

sản xuất mía

Hiện nay chỉ có một số vùng ở Bắc Trung Bộ và DH Miền Trung , ĐB SôngCửu Long là diện tích trồng mía còn nhiều, đạt trên 60.000 ha, tuy nhiên ĐB SôngCửu Long diện tích nay đã bị giảm đi nhiều từ 100.000 xuống còn 60.000ha năm 2009,còn vùng ở Bắc Trung Bộ và DH Miền Trung vẫn xấp xỉ 150.000 ha

Biểu đồ 3:Diễn biến diện tích của các vùng trồng mía từ 1995 - 2009

Đại học Kinh tế Huế

Trang 18

1.3.3 Tình hình sản xuất mía trên địa bàn xã Nghĩa An

Nghĩa Đàn nói chung và xã Nghĩa An nói riêng, từ lâu người dân nơi đây đãcoi cây mía là nguồn sản xuất chính, mang lại thu nhập cho gia đình Với tổng diệntích tự nhiên 1.493,37 ha, diện tích đất sản xuất nông nghiệp là 1.167,92 ha, trong đóchủ yếu là sản xuất mía Với điều kiện thời tiết và tài nguyên đất trồng trọt trù phú,rộng lớn, nguồn nhân lực dồi dào cần cù chịu thương chịu khó, đã găn bó nhiều nămkinh nghiệm trồng mía, càng ngày sự quan tâm hỗ trợ của các cấp chính quyền cấp xã,huyện và Công Ty Tates & L cho việc trồng và sản xuất mía càng lớn…

Bảng 1.1: Tình hình sản xuất mía trên địa bàn xã Nghĩa An trong 3 năm 2008 – 2010

Giá trị doanh thu 1000đ 17.188.464 14.434.000 12.793.621 83,97 88,64 86,31

Nguồn : Phòng kế hoạch- thống kê xã Nghĩa An

Tuy nhiên trong vài năm gần đây tình hình sản xuất mía trên địa bàn xã gặp rấtnhiều khó khăn và thách thức nhất định, qua điều tra thực tế và phân tích cho thấy

trong 3 năm trở lại đây cả về diện tích và sản lượng mía đều giảm xuống một cách rõ

rệt, kéo theo năng suất bình quân cũng bị giảm theo, cụ thể: từ 2008 trở về trước tìnhhình diện tích và sản lượng luôn ở mức ổn đỉnh ở mức 401 ha và 21.485,58 tấn với

năng suất 53,58 tấn/ha; năm 2009 so với năm 2008, sản lượng giảm đi 16,3% còn

83,97%, đồng thời NSBQ cũng giảm đi 3,79% sự giảm đi của sản lượng và NSBQ là

do diện tích giảm đi 51 ha còn 350 ha, so với năm 2008 thì năm 2009 diện tích giảmcòn 87,28 % hay giảm 12,27% so; So với năm 2009 thì năng suất và sản lượng năm

2010 giảm đi 14,49% và 26,9% do diện tích giảm đi 56,9% tương ứng giảm đi 16,26% Bình quân chung thì trong 3 năm diện tích giảm đi 14,49%, NSBQ giảm 8,25% vàsản cũng lượng giảm 21,46% Điều đó làm cho giá trị sản xuất của 3 năm cũng giảm đi

13,69% Năm 2008 đến năm 2009 giá mía tăng từ 800 lên 970 ngàn đồng/tấn tức tăng170.000đ/tấn nhưng do sản lượng và NSBQ vẫn giảm xuống thấp hơn tỉ lệ năm 2009

so với 2008 nên giá trị doanh thu 2010 vẫn giảm đến 11,36% so với 2009 và bình quân

trong 3 năm giảm 13,69% Nhìn chung thì tình hình sản xuất mía trên địa bàn xã đang

có xu hướng giảm xuống nghiêm trọng cả về diện tích, sản lượng cũng như năng suất

Đại học Kinh tế Huế

Trang 19

mía, thực tế diện tích trồng mía giảm đi là do một phần sử dụng cho quy hoạch vùngtrồng cỏ nguyên liệu nuôi bò sữa, việc chuyển mục đích sử dụng và xuất hiện một sốcây trồng thay thế khác như cao su, sắn, cà phê…

Một số khó khăn tồn tại và hạn chế như: Thư nhất, hiện đất sản xuất đang bịxuống cấp rất nhiều, nhiều hộ nông dân sản xuất vẫn đưa vào thực hiện sản xuất mộtcách tùy tiện, bảo thủ và thiếu tính khoa học, dẫn đến sản lượng và năng suất mía bịgiảm đi rất nhiều, hiệu quả sản xuất không cao Sở dĩ rằng nhà máy tăng giá mía cũng

vì sản lượng nguyên liệu giảm, đông thời khuyến khích người dân sản xuất mía và đầu

tư vào trồng mía

Thứ hai, hiện nay bệnh chồi cỏ ở mía đang lây lan rộng trên khắp vùng trồngmìa huyện Nghĩa Đàn Huyện Nghĩa Đàn có tất cả 8.400 ha diện tích đất trồng mía,

nhưng theo số liệu đến đầu năm 2010 diện tích mía bị nhiễm bệnh chồi cỏ là 1.090ha,đến hết quý 1 - 2010 diện tích bị bệnh đã lên tới 3.051ha Đến tháng 3 năm 2011, diện

tích mía của Nghĩa Đàn bị nhiễm bệnh chồi cỏ còn 2500ha UBND huyện Nghĩa Đàn

đã có công văn chỉ đạo các cơ quan chức năng và 24 xã khẩn trương hướng dẫn bà con

kịp thời xử lý và tiêu huỷ nguồn bệnh, khoanh vùng dập dịch nên tình hình dịch bệnh

đã giảm đáng kể, hiện chỉ còn 721ha Tuy nhiên, một số bà con nông dân vẫn còn chủ

quan, không tham gia các lớp tập huấn, không nắm bắt các biện pháp xử lý bệnh chồi

cỏ, chọn những giống mía không an toàn nên dịch bệnh vẫn xuất hiện.

Đại học Kinh tế Huế

Trang 20

CHƯƠNG II PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ SẢN XUẤT MÍA Ở XÃ NGHĨA AN, HUYỆN NGHĨA ĐÀN,

TỈNH NGHỆ AN.

2.1 Đặc điểm của xã Nghĩa An

2.1.1 Yếu tố tự nhiên

a Vị trí địa lý - địa hình

Nghĩa An là một xã nằm ở trung tâm cụm xã cách Công Ty Liên Doanh mía

đường Nghệ An Tate & Lyles 10 km về Nam,trung tâm xã nằm gần đường tỉnh lộ giaothông đi lại khá thuận tiện, phía bắc giáp với các xã Nghĩa Hưng, Tây Hiếu, Nghĩa

Tiến,Thị Xã Thái Hòa, về phía Đông có sông Hiếu chảy qua, phía nam giáp `với xãNghĩa Khánh và Nghĩa Đức, Phía Tây giáp với đất huyện Quỳ Hợp, địa hình mang

đậm nét của vùng trung du miền núi, chủ yếu là đất màu gò đồi thoải và thấp, tuy gần

sông toàn xã có 14 hồ đập với tổng diện tích là 25 ha, nhưng do đia lý phức tạp, thủylợi khó khăn nhưng chỉ phục vụ nuôi trông thủy sản là chủ yếu, diện tích sản xuất lúa

nước rất it mà chủ yếu là phát triển sản xuất các loại cây hằng, cây lâu năm, đặc biệt là

phát triển các loại cây công nghiệp ngắn ngày, dài ngày sắn, mía, dứa, cà phê, cây ănquả… và cây lâu năm như keo, cao su…đông thời cũng thuận lợi để giao lưu phát triểnkinh tế, phát triển các loại hình dịch vụ xã hội khác…

b Thời tiết khí hậu

Xã Nghĩa An chịu ảnh hưởng của khí hậu vùng Bắc Trung bộ và vùng Tây Bắc Nghệ

An, có khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa Nhiệt độ trung bình năm 23,3oC; trung bìnhtháng cao nhất 28- 29oC ở các tháng 6,7; trung bình dưới 20oC chỉ xuất hiện ở 3tháng12,1 và 2 Có 6 tháng (từ tháng 4 - tháng 10) nhiệt độ trung bình vượt qua 25oC Tháng có nhiệt độ trung bình thấp nhất (tháng 1) 18oC Trong các tháng mùa đông donhiệt độ xuống thấp nên thường xuất hiện sương mù, có năm bị sương muối nhưng ít

ảnh hưởng đến sản xuất Lượng mưa trung bình 1.633 mm (bình quân cả tỉnh khoảng1.600 mm), trong đó có đến trên 70% lượng mưa tập trung từ tháng 5 - 10 Lượng mưa

bình quân cao nhất 2.784 mm (1978), bình quân thấp nhất 1.016 mm (1969).Tổng

lượng bốc hơi bình quân năm 825 mm Ẩm độ trung bình nhiều năm phổ biến 80

-86%, chênh lệch giữa các tháng trong năm không đáng kể Trong thời gian dài qua, tầnsuất bão ít xuất hiện và ảnh hưởng không lớn đến sản xuất ở đây Nhìn chung, khí hậuthời tiết ở Nghĩa An phù hợp cho cây trồng, vật nuôi phát triển, với khí hậu đầy đủ đặctính ấm áp, nắng nóng, mát mẻ, lạnh giá nên vùng có điều kiện để cơ cấu phát triểnsản xuất nông nghiệp một cách đa dạng và phong phú với nhiều loại hình sản xuất vànhiều loại cây trồng có giá trị khác nhau Do thời tiết như vậy nên các loại cây trồng

và việc sản xuất nông nghiệp trên địa bàn xã cũng có tính mùa vụ rõ rêt

Đại học Kinh tế Huế

Trang 21

Tuy nhiên những năm gần đây, thời tiết khí hậu cũng diễn ra thất thường Trongsản xuất vào mùa hè có gió Tây Nam khô nóng (nhiệt độ cao nhất vài năm gần đây lêntới 40, 41oC ), lượng bốc hơi lớn, nhiệt độ tăng, dễ gây hạn đất, hạn không khí gâykhông it ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp trên địa bàn đặc biệt là ảnh hưởng đếnsản xuất mía và lúa nước… Mặt khác mùa đông kèm theo gió mùa Đông Bắc gây lạnh,nhiệt độ xuống thấp hơn bình thường đôi khi gây sương muối làm cho việc sản xuất và

chăn nuôi của của người dân gặp rất nhiều khó khăn, do vậy về mùa hè nắng nóng rất

cần có các giải pháp thuỷ lợi tưới tiêu, hoặc giữ ẩm cho cây trồng, che tủ gốc cây đốivới cây lâu năm…Về mùa đông cần có biện pháp khắc phục là tưới hoặc giữ ẩm chocây, xây dựng chuồng trại đảm bảo đủ ấm cho vật nuôi…

2.1.2 Đặc điểm kinh tế xã hội

2.1.2.1 Tình hình sản xuất nông nghiệp trên địa bàn xã Nghĩa An

Trong những năm gần đây việc phát triển kinh tế nông nghiệp được đặc biệtquan tâm và chú trọng đầu tư phát triển, từ năm 2009 chính quyền và nhân dân đãcùng nhau tập trung chuyển dich cơ cấu kinh tế cây trồng, vật nuôi đúng hương phùhợp với tình hình thực tế ở địa phương, các hệ thống hồ đập đươc nâng cấp bê tông

hóa đê điều và thủy lợi hóa kênh mương nhằm cung cấp nước phục vụ cho việc tươi

tiêu, nuôi trồng thủy sản và sản xuất lúa nước, việc chuyển đổi một số diện tích đất đổisang trồng mía vụ xuân năm 2010 theo cơ chế hỗ trợ kế hoạch của nhà máy đườngNghệ An Tate & Lyles đã thu được kết quả tốt Nhìn chung so với những năm trước

năm 2010 do điều kiện thời tiết không thuân lợi nên sản xuất nông nghiệp đã đạt được

những kết quả tương đối cao Cụ thể sản xuất nông nghiệp năm 2010 về sản xuấtnông- lâm nghiệp tổng sản lương đạt 1.124,38 tấn so với năm 2009 giảm 184,92 tấn,

về giá trị đạt 17.488.575 ngàn đồng, đạt 106 % so với cùng kỳ; đạt 95,3 % so với kếhoạch năm Diện tích lúa là 249 ha, sản lượng 918 tấn, năng suất bình quân đạt 3,69tấn/ha ngô 60,7 ha, sản lượng 206,38 tấn, năng suất bình quân là 34 tạ/ha; Mía tổngdiện tích là 293,1 ha, sản lượng 13.189,3 tấn, năng suất bình quân đạt 50 tấn/ha Nhìnchung so với những năm trước sản lượng và năng suất giảm đi do nhiều yếu tố thờitiết, sản xuất không hiệu quả, việc chuyển đổi cơ cấu sản xuất nông nghiệp, đặc biệt là

sự giảm đi của diện tích đất nông- lâm- ngư nghiệp Điều đó cho thấy một thực trạngchung của sản xuất trong toàn xã còn thiếu tính khoa học, thiếu hợp lý, còn phụ thuộcquá nhiều vào điều kiện tự nhiên, trong khi diện tích đất sản xuất giảm, đất đai thìngày càng xuống cấp đi nghiêm trọng Do đó tuy giá nông sản tăng lên nhưng nguồnthu của người dân vẫn chưa cao, chưa đủ để trang trải cho sản xuất và cuộc sống củahọ

Đại học Kinh tế Huế

Trang 22

Nguồn: Số liệu phòng thống kê Xã Nghĩa An

Bảng 2.1: Tình hình sản xuất một số cây trồng chủ yếu trên địa bàn xã Nghĩa An trong 3 năm (2008-2010)

Chỉ tiêu

DT(ha)

CC(%) SL (tấn)

DT(ha)

CC(%) SL (tấn)

DT(ha)

CC(%) SL (tấn)

Trang 23

Qua bảng số liệu thì tổng diện tích các loại cây nông nghiệp năm 2008 là864,24 ha, năm 2009 là 851,45 ha và 796,80 ha, ta thấy có xu hướng giảm dần trong

qua 3 năm và diện tích mía là loại cây trồng có tốc độ giảm khá nhanh Năm 2009 DT

giảm so với cùng kỳ năm 2008 là 50,5 ha tương ứng giảm 12,59% và năm 2010 so với

năm 2009 giảm 57,4 ha tương ứng giảm 16,38% đồng thời sản lượng cũng giảm điđáng kể Sự giảm đi của diện tích mía một phần do diện tích lúa năm 2009 tăng 1,14 %

so với năm 2008;DT ngô năm 2009 tăng 18,57% so với năm 2008 tương ứng tăng 9,1

ha và năm 2010 so với 2009 tăng 4,5% tương ứng 2,6 ha, đặc biết cây sắn gần như làloại cây trồng thay thế cây mía của nhiều hộ nông dân trong trong những năm qua năm

2008 mới đưa vào trồng 104,60 ha mà đến năm 2009 tăng lên 126,50 ha và đến năm

2010 tăng lên165,50 ha tức tăng 39 ha tương ứng 30,83% so với cùng kỳ năm 2009,

một số cây trồng khác thì có sự biến động không đáng kể Tuy nhiên phần lớn do diện

tích đất gieo trồng giảm do chuyển mục đích sự dụng và chủ yếu là sử dụng cho quy

hoạch trồng cỏ chăn nuôi bò sữa…

Đến năm 2010 các loại cây trồng chủ yếu được chú trọng là lúa, ngô, sắn và mía

vì đây là những cây trồng thích hợp và có hiệu quả cao trong sản xuất Trong đó mía

dù diện tích giảm nhưng vẫn là loại cây trồng chính trong sản xuất nông nghiệp ở địa

phương, cụ thể ta thấy: năm 2008, 2009 và năm 2010 diện tích chiếm lần lượt 46,40%,

41,17% và 36,78% trong tổng diện tích gieo trồng các loại cây trồng chủ yếu Thứhai là DT lúa chiếm xấp sỉ 30% trong tổng diện tích gieo trồng chính Sắn cũng có sự

tăng lên khá mạnh về diện tích đên năm 2010 chiếm trên 20% diện tích các loại cây

trồng chính tăng 30,83% so với cùng kỳ, cho thấy cây săn cũng là một trong nhữngcây trồng có giá trị kinh tế cao và mang lại hiệu quả trong sản xuât nông nghiệp của

người dân trên địa bàn Xã

Vì vậy, xác định các loại cây trồng thích họp và quy hoạch giao trồng hợp lý sẽ

có mang lại hiệu quả kinh tế cao trong sản xuất giúp người dân nâng cao thu nhập tạonên tính ổn định trong sản xuất trên toàn Xã

2.1.2.2 Tình hình sử dụng đất sản xuất nông nghiệp của xã Nghĩa An

Nghĩa An là một xã có diện tích đất sản xuất khá rộng, tính đến năm 2010;Toàn xã có tổng diện tích đất tự nhiên là 1.493,37 ha

Trong đó:

- Đất nông nghiệp :1.167,92 ha

- Đất phi nông nghiệp :317,31 ha

Đại học Kinh tế Huế

Trang 24

Bảng 2.2: Tình hình biến động đất đai của xã Nghĩa An qua 3 năm ( 2008 – 2010)

Nguồn: Phòng thống kê Xã Nghĩa An

Diện tích(ha)

Cơ cấu

(%)

Diện tích(ha)

Cơ cấu

(%)

Diện tích(ha)

Trang 25

Qua hiện trạng biến động đất trên của xã cho thấy tổng diện tích tự nhiên của

xã đến năm 2010 giảm so với những năm trước làm cho diện tích đất sản xuất nôngnghiệp cũng có xu hướng giảm, đó là do một phần diện tích bị nhà máy sữa TH lấy đi

để trồng cỏ phục vụ việc chăn nuôi bò sữa nên một lượng lớn diện tích tự nhiên cũngnhư diện tích đất sản xuất nông nghiệp cũng giảm đi Một số loại đất phi nông nghiệp

diện tích dần dần tăng lên tuy vậy nhưng không đáng kể, đặc biệt một số loại đất chưa

sử dụng đến năm 2010 cũng đã tận dụng sử dụng Nhìn chung thì ta thấy diện tích đấtnông nghiệp chiếm một phần khá lơn trong tổng diện tích đất tự nhiên của xã, trong đódiện tích đất trồng mía chiếm phần lơn hơn so với các loại đất trồng trọt khác trong đấtnông nghiệp Tuy nhiên diện tích trồng mía lại có xu hướng giảm dần trong 3 năm dodiện tích đất nông nghiệp của xã bị giảm và một phần do diện tích trông mía được thaythế bởi một số loại cây trồng khác như sắn, sao su, cà phê…

Qua tìm hiểu thực tế tại địa phương cũng như nhận định của chính quyền xã thìtình hình sản xuất trên địa bàn xã cũng có những thuận lợi và hạn chế nhất định trongsản xuất nông nghiệp nói chung cũng như trong việc sản xuất mía nói riêng Cụ thể:

Thuận lợi: Đất đai được bố trí gần khu dân cư, có giao thông thuận tiện, lại gần

nhà máy đường Tate & Lyles nên rất thuận cho việc chăm sóc cũng như việc thu

hoạch, Diện tích sản xuất còn khá lớn Tuy địa hình phức tạp đất đai không mấy bằngphẳng nhưng đất sản xuất tương đối màu mỡ nên rất thuận lợi cho việc phát triển sảnxuất mía

Khó khăn: Khó khăn lớn nhất là đất trông mía không bằng phẳng lại cách xanguồn nước nên rất kho khăn cho việc tưới tiêu khi gặp hạn hán, vì thế nên mỗi năm

đầu thời vụ trông mía thời tiết nắng hạn thì mía thường mất mùa lớn, sự phức tạp củađịa hình cũng gây ngập úng, khó tiêu nước khi gặp lũ lụt và những khó khăn cho việcchăm sóc vận chuyển Do vậy trong sản xuất phần lớn vẫn phải phụ thuộc vào thiên

nhiên

2.1.2.3 Tình hình kinh tế xã hội và dân số của trên địa bàn xã

a Cơ cấu kinh tế

Với tính chất của một xã miền núi trung du xã luôn chú trọng xây dựng và pháttriển kinh tế hộ mà chủ yếu là nông – lâm – ngư nghiệp, đồng thời khuyến khích pháttriển các ngành công ngiệp, dịch vụ và thủ công nghiệp Theo số liệu phòng thống kê

và kế hoạch xã, cơ cấu các nghành kinh tê năm 2010 vừa qua như sau:

- Nghành nông – lâm nghiệp – thủy sản : Chiếm tỷ trọng 61,3 %

- Ngành Công nghiệp – TTCN – XDCB : Chiếm tỷ trọng 10,22 %

- Nghành thương mại – dịch vụ: Chiếm tỷ trọng 28,47 %

Đại học Kinh tế Huế

Trang 26

- Kết quả đạt được về chỉ tiêu phát triển kinh tế xã năm 2010 Tổng giá trị sản

xuất đạt( theo giá cố định năm 1994) là 32.858.098 ngàn đồng – đạt 110,5 so với cùngkỳ; đạt 100,2% kế hoạch(KH) năm Trong đó:

- Sản xuất nông – lâm nghiệp đạt 17.488.575 ngàn đồng – Đạt 106% so với

cùng kỳ; đạt 95,3% KH năm

- Thương mại – dịch vụ đạt 9.782.767 ngàn đồng – Đạt 121% so với cùng Kỳ;đạt 110,2% KH năm

- Tốc độ tăng trưởng kinh tê là 11%

- Giá trị sản xuất bình quân đầu người đạt 7,6 triệu đồng/người/năm

- Thu ngân sách là 3.895.802.503 đồng – Đạt 105,47% KH

Kết quả trên cho thấy kinh tế xã có sự phát triển rất khả quan, chỉ tiêu đều vượt

so với kỳ trước về cả về tương đối lẫn tuyệt đối và đều vượt kế hoạch năm của xã Mặtkhác ngoài sự phát triển của nghành mũi nhọn nông – lâm nghiệp – thủy sản thì

nghành thương mại – dịch vụ cũng có những dấu hiệu phát triển rất tốt Điều đó cho

thấy việc xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế và chuyển dịch cơ cấu phát triển kinh tếcủa chính quyền xã nhà và nhân dân rất hiệu quả Trong năm vừa qua Đảng và chínhquyền đã luôn tích cực chủ động hoạt dộng khuyến nông, khuyến lâm cụ thể như: phốihợp với trạm khuyến nông, trạm bảo vệ thực vật (BVTV) huyện tổ chức 7 lớp tập huấn

kỹ thuật về trồng trọt và chăn nuôi, phòng trừ BVTV cho nông dân và cán bộ khuyếnnông của tưng thông xóm, 1 lớp kỹ thuật về nuôi trồng thủy sản Phối hợp mở các lớp

đào tạo sơ cấp chăn nuôi – thú y cho 30 học viên trên địa bàn xã Nhận và cấp phát

1.125 lọ thuốc bảo vệ thực vật và hỗ trợ phun lúa màu và mía cho các hộ nông dân trên

toàn địa bàn xã Đông thời quan tâm thực hiện kiểm tra hồ đập , hoàn thiện sửa chữa,

và xây dựng các đập như đập Gián, đập Đồng Nheo để đảm bảo tốt cho việc tưới tiêuphục vụ sản xuất nông nghiệp Công tác thủy lợi được thực hiện xây dựng có hiệu quả

Trong năm, nạo vét 690m= 1062m2 mương, 1.160= 2.040m3 bờ vùng, bờ thửa, nângcấp hơn 20km đường giao thông nông thôn để phục vụ cho việc sản xuất và giao thông

trên địa bàn xã Với tổng kinh phí là 15.400.000đ Đó là một tín hiệu đáng mừng cho

việc sản xuât nông nghiệp tốt hơn ở những năm tới

b Văn hóa - xã hội

Là một xã nằm ở trung tâm của của cụm giao lưu văn hóa các xã trong huyện,đểthực hiện mục tiêu tăng trưởng kinh tế, phát triển toàn diện trên toàn địa bàn nhằmthực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh của nhà nước thì các lĩnh vực giáo dục đàotạo, văn hóa văn nghệ, thể dục thể thao, chăm sóc sức khỏe nhân dân, phòng chốngdịch bệnh, giải quyết việc làm và xóa đói giảm nghèo luôn được Đảng và chính quyền

địa phương quan tâm chú trọng hàng đầu trong kế hoạch phát triển kinh tế và văn hóa

của xã Trong những năm qua hoạt động văn hóa xã hội có rất nhiều tiến bộ: Các

Đại học Kinh tế Huế

Trang 27

phong trào văn hóa – TDTT liên tục có bước phát triển khá, xã đã thực hiện tốt cuộc

vận động “ Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư” Năm 2010xét công nhận gia đình văn hóa cho 1.016 gia đình(GĐ) = 72,7 %, công nhân 330 GĐthể thao, tặng quà tuyên dương 35 GĐ văn hóa tiêu biểu với tổng số tiền 1.750.000

đồng Thực hiện kiểm tra đảm bảo ATTP trên toàn xã Năm 2009-2010 có tổng số học

sinh(HS) 1.241 em, HS giỏi 106 em đạt 8,54 % HS tiên tiến 304 em hay 24,5 %,12giao viên giỏi huyện, 14 GV giỏi trường , cơ sơ vật chất trường lớp và chất lượng dạyhọc liên tục được nâng cao Về công tác y tế sức khỏe luôn được chú ý quan tâm, đặcbiêt là chương trình thực hiện chăm sóc sức khỏe cho bà mẹ và trẻ em đã được tổ chứcthực hiện có hiệu quả

Về dân số: năm 2010 tỉ lệ sinh là 1,9% tăng 0,3% so với cùng kỳ 2009, tỷ lệ

tăng dân số tự nhiên là 1,4 % Hiện trên địa bàn xã có tất cả 1.397 hộ và số nhân khâu

là 7.011 người Đồng bào dân tộc la 764 hộ chiếm 52,8% , Đồng bào theo đạo thiên

chúa giáo là 263 hộ, chiếm 22,76% còn lại là đồng bào kinh chiếm 24,44% Tổng số

lao động trong nông nghiệp là 2.540 người, trong đó 1.358 lao động nam, 1.182 laođộng nữ Với tình hình dân số và lao đông như vậy thì xã đang có một nguồn nhân lực

dồi dào, với bản chất thuần nông nhiều kinh nghiệm vốn có từ lâu đời của các đồngbào dân tộc kết hợp với sự giao thoa giữa các nền văn hóa của 3 đồng bào trong toàn

xã nói riêng và các xã trong toàn huyện nói chung sẽ tạo nhiều thuận lợi hơn trong việcphát triển đời sống văn hóa tinh thần cũng như góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế

trên địa bàn xã Đang sở hữu một nguồn lao động tiềm năng, nguồn lực đất đai rộng

lớn và trù phú, đời sống văn hóa, tinh thần được chú trọng quan tâm và khuyến khíchphát triển toàn diện đó là một động lực và điều kiện rất tốt để nhân dân xã phát triểnsản xuất nông nghiệp nói chung cũng như góp phần phát triển sản xuất mía nói riêng.Vấn đề là cần có sự phân bổ, bố trí và chiến lược phát triển nguồn lao động như thếnào cho hợp lý hiệu quả mới là điều quan trọng và cần thiết

2.2 Tình hình sản xuất của các hộ nông dân xã Nghĩa An

2.2.1 Khái quát đặc điểm chung của các hộ điều tra

Trong quá trình nghiên cứu đề tài tôi tiến hành nghiên cứu 60 hộ với cơ cấunhóm hộ là 8,33 hộ giàu, 36,67 hộ khá, 50% hộ trung bình và 5% hộ nghèo

Số liệu trong bảng thống kê tổng hợp được qua quá trình điều tra 60 hộ thì gồmcó: 330 khẩu, mức bình quân nhân khẩu là 5,49 khẩu/hộ Trong đó bình quân khẩu/hộcủa nhóm hộ giàu là thấp nhất (5,2), do một số người giàu thường sinh con ít từ 1-2con và hộ người trung bình lại có số bình quân khẩu/hộ ( 2,9), cao nhất chiếm 5,76, vìnhững hộ này tuy diện tích sản xuất không phải là ít nhưng số người trong gia đình rất

Đại học Kinh tế Huế

Trang 28

động/hộ ( lại thấp hơn so với những hộ giàu và khá Ngược lại những hộ giàu lại có sốlao động trên hộ khá cao (3,4 ), bởi những hộ giàu một số hộ thì có đông người, nhưng

đa số là những người đã trưởng thành ở trong nhà, con cái đã học xong có việc làm

hoặc hết học ở nhà, một số hộ thì mỗi người trưởng thành đều có một nghề phụ như lái

xe, thợ xây dựng…một số ít hộ tri thức giàu ít lao động nhưng họ hiểu biết và nhạybén khoa học trong lao động sản xuất Do vậy nên hiệu suất lao đông cao, số người ăntheo lại ít Còn lao động bình quân/hộ của nghèo lại thấp nhất chỉ có 2,67 vì những nàytuy khẩu/hộ cao nhưng chủ yếu chủ hộ là phụ nữ và những người già yếu, một số hộtrẻ thì chưa có kinh nghiệm làm ăn lại phải nuôi con đi học…

Vụ mía 2010 – 2011 cả năng suất và sản lượng đều giảm so với các vụ trước và

vụ mía 2009-2010, về năng suất và sản lượng ta thấy cao nhất là hộ giàu NSBQ đạt65,38 tấn/ha và sản lượng là 258,9 tấn, và con số này giảm dần cho đến hộ nghèo là hộ

có NSBQ và mức sản lượng thấp nhất chỉ đạt 38,04 tấn/ha về NSBQ và 79,88 tấn vềsản lượng cả năm Điều này cũng dễ hiểu vì những hộ giàu và khá co nhiều điều kiện

để đầu tư chăm sóc cho sản xuất mía hơn Thứ hai đây là những hộ có nhiều kinh

nghiệm và có trình độ ứng kỹ thuật ứng dụng vào sản xuất nên kết quả và hiệu quả đạt

được luôn tốt hơn

Phần lớn các hộ điều tra trình độ học vấn còn khá thấp, chủ yếu là trình độ cấp

II chiếm 63,33%, chủ hộ trình độ cấp III là 11,67%, còn lại là những hộ học câp Ichiếm 25%, những hộ học cấp I phần lớn là những hộ nghèo và chiếm đến 66,67%trong số hộ nghèo và hầu như không có người học đến cấp III, những hộ học hết cấpIII nhiều nhất là những hộ giàu chiếm 20% hộ học cấp 3 trông tổng số hộ giàu, vàcũng là những hộ có tỉ lệ học cấp II nhiều hơn, các hộ khá và hộ trung bình thì tỉ lệphân bổ gân như đông đều số hộ học ở cả 3 câp nhưng chủ yêu mới qua cấp II Các tỉ

lệ đó cũng cho chũng ta thấy được năng suất và sản lượng tạo ra luôn tỉ lệ thuận vớinhau

Trong những hộ điều tra thì có 91,67% hộ làm nghề chính là nông nghiệp,những hộ nghèo là 100% tham gia sản xuất chính bằng nông nghiệp Còn lại chủ yếu

là hộ giàu và khá chiếm 20% và 13,64% làm nghề khác vì những hộ này ngoài việcsản xuất mía thì họ lái xe vận tải hoặc kinh doanh hoặc một số hộ thì làm trang trạinuôi bò, trồng cao su, thu mua sản phẩm nông nghiệp vì vậy đồng tiền ròng của những

hộ này quay vòng quanh năm mà doanh thu đều rất cao

Qua tình hình chung của các nhóm điều tra ta thấy rằng năng suất mía vụ

2010-2011 giảm thấp hơn so với vụ trước, đạt 51,88 tấn/ha , nhưng vẫn cao hơn so với năngsuất mía bình quân toàn huyện (45 tấn/ha) Và năng suất, sản lượng có sự chênh lệchlớn và tỉ lệ thuận với điều kiện của các hộ khác nhau

Đại học Kinh tế Huế

Trang 29

Đại học Kinh tế Huế

Trang 30

Nguồn: Tổng hợp số liệu điều tra

Bảng 2.3: Tình hình cơ bản các hộ điều tra năm 2010

Trang 31

2.2.2 Chi phí sản xuất của các hộ điều tra

Ngoài các yếu tố của điều kiện tự nhiên như thời tiết, khí hậu, đất đại thì năngsuất còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: phân bón, giống, chăm sóc và phòng trừ sâubệnh đó chính là mức đầu tư hay chi phí cho cây trồng nói chung và của cây mía nói

riêng, năng suất sẽ phụ thuộc vào mức đầu tư nhiều hay ít, có hợp lý hiệu quả haykhông? Nên đầu tư ở mức nào? Bao nhiêu ? đầu tư như thế nào và có đủ điều kiện đểđàu tư hay không? Đó mới là điều quan trọng Không phải đầu tư quá nhiều là tốt cũng

không phải đầu tư ít là hiệu quả…

Qua điều tra tôi nhận thấy mức đầu tư tốt luôn phụ thuộc vào điều kiện kinh tế

và trình hộ sản xuất của từng hộ

Chi phí sản xuất bao gồm tất cả các chi phí từ khâu mua nguyên vật liệu, tạo rasản phẩm cho đến khâu tiêu thụ Nó ảnh hưởng trực tiếp , quyết định đến kết quả vàhiệu quả của quá trình sản xuất kinh doanh Chi phí sản xuất mía của các nông hộ

được tính bằng số bình quân trên ha đất sản xuất Chi phí trung gian là toàn bộ chi phí

bằng tiền mà nông hộ bỏ ra để mua phân bón vật tư, giống, thuốc BVTV và chi phí

cho chăm sóc hoặc các dịch vụ thuê ngoài khác…

Khác với các loại cây trồng khác như ngô, khoai sắn thì mía là cây có khả năngtai sinh mạnh nhất, trồng một năm và lưu gốc nhiều năm, nghĩa trồng một lần thuhoạch nhiều lần và theo đó chi phí cho mía mới trồng ( mía tơ) và mía gốc (mía lưugốc) là khác nhau Do vậy ta đánh giá chi phi này qua hai loại mía tơ và mía lưu gốc

Đối với mía trồng (mía tơ) qua bảng số liệu ta thấy tổng chi phí bình quân của

các hộ nông dân trồng mía tương đối cao lên tới 33.468,060 nghìn đồng/hacủa quátrình sản xuất các hộ giàu lớn nhất 41.954,07 nghìn đồng /ha, tiếp đến là hộ khá, đến

hộ trung bình và thấp nhất là hộ ngèo tổng chi phí, chỉ có 23.683,89 nghìn đồng /ha.Trong sản xuất mía thì chi phí trung gian bình quân là 96,22% và chiếm tỉ lệ cao nhấttrong tổng chi phí Tỉ lệ chi phí trung gian trong tổng chi phí sản xuất cũng tương tự

đối với hộ giàu là lớn nhất vì họ có điều kiện đầu tư để sản xuất nên tỉ lệ này chiếmđến 96,88% trong tổng chi phí, tiếp đến là hộ khá 96,64%, hộ trung bình 95,47% và

hộ nghèo là 95,85% Trong cấu thành nên chi phí trung gian thì chi phí giống chiếmkhá lớn giá trị lên tới 11484,25 nghìn đồng và chiếm 35,34%, điều này gây rất nhiều

Đại học Kinh tế Huế

Trang 32

khá và một vài số khác hộ giàu và khá chi phí này nhiều vì diện tích đất hộ giàu khárộng và giống luôn đầy đủ và chất lượng Một số hộ trung bình và hộ nghèo do thiếu

điều kiện đầu tư giống mới nên những hộ này thường không mua mía giống mới mà chon nhữngcây to, đẹp tại đồng mía mình hoặc của người khác làm giống vì giá mía giống này thấp vàthường chỉ lấy theo giá của nhà máy đường NAT & L do vậy mà chi phí giống/ha thường thấphơn và cũng đỗng nghĩa với chất lượng giống sẽ không đảm bảo

Bên cạnh chi phí về giống thì chi phí về phân bón và chăm sóc và thu hoạchcũng chiếm một phần khá lớn Hiện nay giá phân bón vật tư cho sản xuất lên cao, nênviệc đầu tư chi phí của các hộ trồng mía cũng rất tốn kém Đối với các hộ trông mía thìchủ yêu là sử dụng loại phân vi sinh và NPK là nhiều nhất, trong chi phí trung giantrồng mía thì NPK chiếm 10,88%, hộ giàu chi phí phân NPK là 10,62% trong tổng chiphí trung gian, hộ khá là 9,62%, hộ TB 10,78% và hộ nghèo là 12,50%, chi phí này thì

ta thấy hộ nghèo chiếm tỉ lệ nhiều nhất Trong sản xuất mía tơ phân vi sinh và phânchuồng rất quan trọng để nâng cao độ mùn và chất dinh dưỡng trong đât, phân vi sinh

là phân được nhà máy đường sản xuất trên cơ sở tận dụng bùn bã mía thải ra kết hợp

cân đối với các thành phần hóa học và các thành phần vô cơ đạm, lân, kali…để tạo

thành phân vi sinh, loại phân bón này hiện có giá khá cao khoảng 4,5 triệu đồng/tấn

dùng để bón lót lúc trồng mía, chúng có tác dụng trong việc cung cấp dinh dưỡng cho

mía, cố định đạm và phân giải lân và yếu tố hóa học trong đất… thông thường người ta

thường trộn vào đất trồng trong quá trình làm đất Phân vi sinh được các hộ giàu và

khá sử dụng nhiều nhất, bình thương mội hộ bón bình quân 1 tấn/ha đất trồng mía.Chi phí này chiếm trên 10% trong tổng chi phí sản xuất, hộ giàu là 10,73%, khá10,08% và những hộ trung bình có một số hộ sử dụng nhưng rất ít chỉ bằng một nửa

mà hộ giàu sử dụng, trung bình chỉ 5,8% trong tổng chi phí sản xuất, những hộ nghèohầu như là không bón Như vậy cho thấy những hộ giàu và khá họ luôn có ý thức đầu

tư nhiều và khoa học hơn trong sản xuất nên năng suất và sản lượng thu được bao giờ

cũng cao hơn, còn một số hộ trung bình và những hộ nghèo ít sử dụng do điều kiện

đầu tư không có hoặc trình độ thấp nên nhận thức thấp về kỹ thuật sản xuất nông

nghiệp cũng như không hiểu biết được vai trò của các loại phân bón trong quá trìnhgieo trồng nên không biết chú trọng đầu tư mà chỉ biết đổ lỗi cho tự nhiên Công làm

cỏ bón phân cũng khá tốn kém, cứ một vụ thường phải làm từ 2- 3 lần cỏ, bón thúcphân và bóc lá cho mía Giá công lao động bây giờ rất cao so với nhiều năm trước 80

Đại học Kinh tế Huế

Trang 33

nghìn đồng/công nên chi phí cho việc này cũng không ít, công thuê thì những hộ giàu

thường chi phí đến 2.866,67 nghìn đồng /ha chiếm 6,83% trong tổng chi phí và nhiềuhơn những hộ khá, trung bình và hộ nghèo Vì đa số hộ giàu ngoài sản xuất mía họ còn

tham gia vào các hoạt động phi nông nghiệp khác, một số hộ khá cũng vậy Hộ nghèothì công làm cỏ, chăm sóc ít nhất chỉ tốn hết 869,45 nghìn đồng /ha, chiếm 3,67%trong tổng chi phí nhưng công lao động gia đình thì cao hơn những hộ giàu, khá vàtrung bình vì những hộ nghèo thường thiếu điều kiện thuê lao động và lại nông nghiệp

là nghề chính kiếm thu nhập do đó mà họ tự lao động sản xuất là chính, nhưng tínhchung chi phí làm cỏ, chăm sóc thì hộ nghèo vẫn ít công hơn do những hộ này tỉ lệ lao

đông trên hộ thấp 2,67 người/hộ và chủ hộ là những phụ nữ hoặc người già cả sức

khỏe yếu nên công chăm sóc không nhiều và sơ sài

Khâu làm đất cũng rất tốn kém về chi phí, nó là khâu quan trọng trong việc

trồng mía Nếu người trồng có ý thức đầu tư thâm canh phù hợp, làm tốt khâu làm đấtthì không những tăng năng suất mà còn ngày càng nâng cao được chất lượng đất sảnxuất Theo số liệu điều tra thì chi phí bình quân chung của khâu làm đất là 3.680 ngàn

đồng/ha, chiếm 11,11% trông tổng chi phí; trong đó hộ giàu là 4,5 triệu /ha chiếm

10,73% trong tổng chi phí; hộ khá là 4,220 triệu đồng/ha chiếm 11,05% so với tổngchi phí, hộ trung bình và hộ nghèo là 3 triệu đồng/ha Hộ giàu và hộ khá thường đầu

tư việc làm đất kỹ càng và cận thận hơn, đất trồng mía được chảo và sới qua 2 lần chođất vụn ra bón vôi và phân vi sinh vào sau đó mới trồng còn các hộ trung bình và hộ

nghèo thì do hạn chế về kiến thức, không ý thức được kỹ thuật làm đất thế nào để tăng

năng suất nên đất chỉ làm qua một lần rồi tiến hành trồng mía, trong thực tế thì đất đai

những hộ này đã giảm chất lượng đi rât nhiều, nhưng việc bón vôi và phân chuồng,

phân vi sinh chưa bao giờ được sử dụng nên sản lượng năng suất mía rất thấp trong

những năm qua

Chi phí tài chính là những khoản liên quan đến việc đầu tư tài chính Đối với

người nông dân thì chi phí tài chính là những khoản phí mà người dân đi vay phải trả

khi họ vay tiền từ ngân hàng hay một tổ chức tín dụng Chi phí tài chính không chỉ baogồm lãi suất khoản vay, mà còn bao gồm các khoản phí khác như phí giao dịch, phíhoa hồng, phí thanh toán chậm, phí hàng năm như phí thẻ tín dụng hàng năm, và phí

Đại học Kinh tế Huế

Trang 34

các hộ trồng mía Chí phí này hộ giàu là 1.309 nghìn đồng/ha, tuy lãi ròng mỗi vụ sảnxuất mía khá cao, đồng tiền ròng lớn hơn những hộ khác nhưng hộ giàu thường đầu tưnhiều hơn nên vay tín dụng nhiều để đầu tư sản xuất và những hoạt động phi nôngnghiệp khác của họ nên khoản chi phí này nhiều hơn những hộ khác, hộ trung bình là1.360,67 nghìn đồng/ha chiếm 4,53% tổng chi phí, hộ khá là 1284,33 nghìn đồng/ha,

hộ nghèo là 974,17 nghìn đồng và là thấp nhất vì họ có điều kiện khó khăn không chủ

động về đồng tiền nên không vay nhiều để đầu tư san xuất, còn những hộ trung bình

vay nhiều nhất để đảm bảo cho việc đầu tư vào trồng mía vừa để chi tiêu trong gia

đình vì những hộ này nhân khẩu rất đông, đa số con cái còn ăn học, mặt khác nợ quá

hạn nhiều do mất mùa tiền thu hoạch mía không đủ trả nợ nên các phí tài chính luônchồng chất qua các năm nên chi phí này nhiều hơn các hộ khác

Cuối cùng là công thu hoạch, đây là một khoản chi phí chiếm tỷ trọng khá lớntrong tổng chi phí sản xuất mía Chi phí thu hoạch bình quân chung của các hộ điều tratrong xã là 5.111,25 nghìn đồng /ha chiếm 15,41% trong tổng chi phí Chi phí này tỉ lệthuận vơi năng suất hay sản lượng mía thu được trên 1 ha đất sản xuất, chủ yếu là cáccông chặt mía và bốc mía Mía chặt thường tính theo bó công chặt là 1000-

1500đồng/bó, mỗi bó khoảng từ 15- 25kg, công bốc mía lên xe là 20.000 –25.000đồng/tấn Hộ giàu là những hộ có năng xuất mía cao nên chi phí khá cao 6.280ngàn đồng/ha chiếm 14,97% trong tổng chi phí; hộ khá là 5.720 nghìn đồng /tấn chiếm

14.98% tổng chi phí; hộ trung bình là 4.425 nghìn đồng /ha chiếm 14,72 % chi phí; và

hộ nghèo 4.020 nghìn đồng /ha chiếm 16,97 % chi phí Điều đó cho thấy công thuhoạch chiếm một phần chi phí khá lớn và không thể tránh khỏi đối với mỗi hộ trồng

mía, đối với hộ nghèo chi phí này tỉ lệ trong tổng chi phí lại thấp hơn nhiều so với

những hộ khác do công thu hoạch họ tự làm là chính nhưng chủ yếu là do sản lượng

thu được trên 1 ha thấp nên chi phí không nhiều

Đối với mía lưu gốc :Tổng chi phí sản xuất thấp hơn đầu tư cho mía trồng (míatơ) bình quân chung chỉ có 14.207,58 nghìn đồng/ha, tỉ lệ chi phí mía lưu gốc/mía tơ là

42,45%, giảm 57,55% so với chi phí cho mía tơ Đó là điều thuận lợi cho người trồngmía, chỉ đầu tư 1 năm và thu hoạch mía lưu gốc 2 đến 3 năm mà không cần nhiều chi

phí Mía lưu gốc sẽ giảm đi một phần lớn chi phí trồng mía đó là các chi phí về giống,

vôi, phân bón,công trồng mía, chi phí làm đất và giảm một phần các chi phí về haomòn tư liệu sản xuât, vật chất kỹ thuật,các chi phí về tài chính Với tổng chi phí cho

Đại học Kinh tế Huế

Ngày đăng: 19/10/2016, 22:41

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. PGS.PTS. Đỗ Thị Ngà Thanh – PTS. Ngô Thị Thuận : Giáo trình thống kê nông nghiệp – Trường Đại Học Nông Nghiệp 1. Nhà xuất bản nông nghiệp Hà Nội, 1997 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình thống kê nôngnghiệp
Nhà XB: Nhà xuất bản nông nghiệp Hà Nội
2. Phạm Vân Đình, Đỗ Kim Chung, Giáo trình kinh tế nông nghiệp. NXB nông nghiệp Hà Nội, 1997 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình kinh tế nông nghiệp
Nhà XB: NXB nôngnghiệp Hà Nội
3. Trồng – chăm sóc & phòng trừ sâu bệnh CÂY MÍA của KS. Nguyễn Mạnh Trinh, TS. Nguyễn Đăng Nghĩa – Nhà xuất bản nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trồng – chăm sóc & phòng trừ sâu bệnh CÂY MÍA
Nhà XB: Nhà xuất bản nông nghiệp
4. Giáo trình: BỆNH CÂY CHUYÊN KHOA của ThS. Võ Thị Thu Oanh - trường ĐHNL Tp.HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: BỆNH CÂY CHUYÊN KHOA
9. Tạp chí: Hội thảo phát triển cây Mía và cây Điều, Tp. Hồ Chí Minh, 15/02/2011 . 10. Các tác giả nói về HQKT như: Tác giả Đỗ Thịnh, L.N.Carirốp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hội thảo phát triển cây Mía và cây Điều, Tp. Hồ Chí Minh
5. Báo cáo đánh giá tình hình thực hiện nhiệm vụ KT- XH UBND xã Nghĩa An năm 2008, 2009 và 2010 Khác
6. Kế hoạch quy hoạch phát triển KT- XH của UBND xã Nghĩa An thời kỳ 2001 – 2010 Khác
7. Các chuyên đề và khóa luận khóa 38,39, 40 tại thư viện trường Đại Học Kinh Tế Huế Khác
8. TS. Cao Anh Đương, Báo cáo đề dẫn: Thực trạng, định hướng và giải pháp phát triển cây mía ở Việt Nam Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1: Tình hình sản xuất một số cây trồng chủ yếu trên địa bàn xã Nghĩa An trong 3 năm (2008-2010) - Nghiên cứu hiệu quả kinh tế sản xuất mía của các hộ nông dân trên địa bàn xã nghĩa an   huyện nghĩa đàn – nghệ an
Bảng 2.1 Tình hình sản xuất một số cây trồng chủ yếu trên địa bàn xã Nghĩa An trong 3 năm (2008-2010) (Trang 22)
Bảng 2.2: Tình hình biến động đất đai của xã Nghĩa An qua 3 năm ( 2008 – 2010) - Nghiên cứu hiệu quả kinh tế sản xuất mía của các hộ nông dân trên địa bàn xã nghĩa an   huyện nghĩa đàn – nghệ an
Bảng 2.2 Tình hình biến động đất đai của xã Nghĩa An qua 3 năm ( 2008 – 2010) (Trang 24)
Bảng 2.3: Tình hình cơ bản các hộ điều tra năm 2010 - Nghiên cứu hiệu quả kinh tế sản xuất mía của các hộ nông dân trên địa bàn xã nghĩa an   huyện nghĩa đàn – nghệ an
Bảng 2.3 Tình hình cơ bản các hộ điều tra năm 2010 (Trang 30)
Bảng 2.4: Chi phí sản sản xuât bình quân/ha trồng mía tơ của các hộ năm 2010 - Nghiên cứu hiệu quả kinh tế sản xuất mía của các hộ nông dân trên địa bàn xã nghĩa an   huyện nghĩa đàn – nghệ an
Bảng 2.4 Chi phí sản sản xuât bình quân/ha trồng mía tơ của các hộ năm 2010 (Trang 37)
Bảng 2.5: Chi phí sản sản xuât bình quân/ha trồng mía lưu gốc của các hộ năm 2010 - Nghiên cứu hiệu quả kinh tế sản xuất mía của các hộ nông dân trên địa bàn xã nghĩa an   huyện nghĩa đàn – nghệ an
Bảng 2.5 Chi phí sản sản xuât bình quân/ha trồng mía lưu gốc của các hộ năm 2010 (Trang 38)
Bảng 2.6: Diện tích, năng suất và sản lượng mía thu được năm 2010 - Nghiên cứu hiệu quả kinh tế sản xuất mía của các hộ nông dân trên địa bàn xã nghĩa an   huyện nghĩa đàn – nghệ an
Bảng 2.6 Diện tích, năng suất và sản lượng mía thu được năm 2010 (Trang 40)
Bảng 2.7: Hiệu quả kinh tế việc trồng mía của các hộ điều tra năm 2010 - Nghiên cứu hiệu quả kinh tế sản xuất mía của các hộ nông dân trên địa bàn xã nghĩa an   huyện nghĩa đàn – nghệ an
Bảng 2.7 Hiệu quả kinh tế việc trồng mía của các hộ điều tra năm 2010 (Trang 42)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w