1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đánh giá hiệu quả kinh tế sản xuất lúa của các hộ nông dân trên địa bàn xã trung thành huyện yên thành tỉnh nghệ an

61 416 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 61
Dung lượng 420,95 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐẠI HỌC HUẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾKHOA KINH TẾ & PHÁT TRIỂN  CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP Đề Tài: ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ KINH TẾ SẢN XUẤT CỦA CÁC HỘ NÔNG DÂN TRÊN ĐỊA BÀN XÃ TRUNG THÀNH – HUYỆ

Trang 1

ĐẠI HỌC HUẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ KHOA KINH TẾ & PHÁT TRIỂN



CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP

ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ KINH TẾ SẢN XUẤT CỦA

CÁC HỘ NÔNG DÂN TRÊN ĐỊA BÀN XÃ TRUNG

Trang 2

ĐẠI HỌC HUẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

KHOA KINH TẾ & PHÁT TRIỂN



CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP

Đề Tài:

ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ KINH TẾ SẢN XUẤT CỦA

CÁC HỘ NÔNG DÂN TRÊN ĐỊA BÀN XÃ TRUNG

THÀNH – HUYỆN YÊN THÀNH – TỈNH NGHỆ AN

Sinh viên thực hiện: Giáo viên hướng dẫn:

Thái Văn Tuấn ThS Phan Thị Nữ

Trang 3

Lời Cảm Ơn

Qua quá trình thực tập và hoàn thành

chuyên đề này, ngoài sự cố gắng, nỗ

lực của bản thân, tôi đã nhận được sự

quan tâm, giúp đỡ của nhiều cá nhân

và tổ chức.

Trước tiên, tôi xin chân thành gửi lời

cảm ơn sâu sắc tới cô giáo, Th.s Phan

Thị Nữ, người đã tận tình hướng dẫn,

giúp đỡ tôi trong quá trình thực tập và

hoàn thành chuyên đề này.

Tôi xin chân thành cảm ơn đến các

thầy, cô giáo trong và ngoài trường Đại

học Kinh tế Huế đã trang bị cho tôi những

kiến thức trong suốt quá trình học tập và

rèn luyện tại trường Xin chân thành cảm

ơn UBND xã Trung Thành, cán bộ và các

hộ trồng lúa ở ba thôn Đội Cung, Hoàng

Diệu và Hoa Thám đã tạo điều kiện

thuận lợi, giúp đỡ tôi hoàn thành chuyên

đề.

Cuối cùng tôi xin chân thành cảm ơn

gia đình, bạn bè đã giúp đỡ và đóng

góp cho tôi nhiều ý kiến quý giá để

hoàn thành đợt thực tập và chuyên đề

Sinh viên Thái Văn Tuấn

Đại học Kinh tế Huế

Trang 4

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng 1.1: Diện tích cây lương thực thế giới 13

Bảng 1.2: Diện tích, năng suất, sản lượng lúa của tỉnh Nghệ An qua các năm 15

Bảng 1.3: Diện tích, năng suất, sản lượng lúa huyện Yên Thành qua các năm 17

Bảng 2.1: Diện tích, năng suất, sản lượng lúa của xã Trung Thành qua các năm 2007-2010 23

Bảng 2.2: Tình hình nhân khẩu và lao động của các hộ điều tra năm 2010 24

Bảng 2.3: Tình hình đất đai của các hộ điều tra năm 2010 26

Bảng 2.4: Tình hình thu nhập khác của các hộ điều tra năm 2010 28

Bảng 2.5: Khối lượng, đơn giá, chi phí các loại phân bón 31

Bảng 2.6: Chi phí thuốc bảo vệ thực vật của các hộ điều tra năm 2010 33

Bảng 2.7: Chi phí dịch vụ thuê ngoài và chi phí khác của các hộ điều tra năm 2010 34

Bảng 2.8: Chi phí tự có của các hộ điều tra năm 2010 35

Bảng 2.9: Diện tích, năng suất, sản lượng lúa của các hộ điều tra năm 2010 36

Bảng 2.10: Kết quả và hiệu quả sản xuất lúa của các hộ điều tra năm 2010 38

Bảng 2.11: Mối quan hệ giữa năng suất và mức độ đầu tư các yếu tố đầu vào 41

Bảng 3.1: Những khó khăn của nông hộ 42

Bảng 3.2: Những nguyện vọng của nông hộ 43

Đại học Kinh tế Huế

Trang 5

DANH MỤC CÁC THUẬT NGỮ VIẾT TẮT

MPx : Sản phẩm cận biên của yếu tố đầu vào

Q : Tổng sản lượng, giá trị sản lượng thu được

trong một vụ hay một năm

Đại học Kinh tế Huế

Trang 6

ĐƠN VỊ QUY ĐỔI

1 sào = 500 m2

1 ha = 10.000 m2

Đại học Kinh tế Huế

Trang 7

PHẦN I ĐẶT VẤN ĐỀ

1 Lý do chọn đề tài

An ninh lương thực là vấn đề hết sức quan trọng đối với mỗi quốc gia trên thế

giới Bởi vì, lương thực là một trong những yếu tố cần thiết cho sự tồn tại và phát triển

của con người Trong những năm gần đây, sự thay đổi khí hậu trên toàn trái đất đã ảnh

hưởng không nhỏ đến sản lượng lương thực ở hầu hết các quốc gia Tình trạng hạn

hán, lũ lụt, mưa bão thường xuyên diễn ra với cường độ mạnh khiến cho hoạt động sản

xuất nông nghiệp gặp nhiều khó khăn Kể từ đầu năm 2010 đến năm 2011 giá lương

thực liên tục tăng làm ảnh hưởng to lớn đến cuộc sống của người dân trên toàn thế

giới, nhất là các nước phải nhập khẩu lương thực

Đối với nước ta, nguồn lương thực chủ yếu là từ lúa gạo Do đó, cây lúa chiếm

một vị trí đặc biệt quan trọng trong nền kinh tế quốc dân Nông nghiệp nước ta từ sản

xuất tự cung tự cấp chuyển sang kinh tế thị trường hiệu quả quyết định sản xuất Trước

đây Việt Nam đã từng là một nước phải nhập khẩu lương thực Nhưng ngày nay, Việt

Nam đã đứng thứ hai trên thế giới về xuất khẩu lúa gạo, có được thành công đó là nhờ

chính sách đổi mới kinh tế của nhà nước và sự đầu tư thâm canh sản xuất lúa của

người dân Mặc dù đạt được thành tựu đáng kể nhưng vẫn còn rất nhiều vấn đề cần

được quan tâm giải quyết Ở nước ta, tuy đã sản xuất ra lượng lương thực đủ dùng và

một phần xuất khẩu nhưng ở một số vùng ở miền Bắc, miền Trung sản xuất lương thực

không ổn định; việc điều hòa lương thực giữa các vùng, miền từ nơi thừa đến nơi thiếu

chưa tốt, dẫn đến có thời điểm ở những vùng nhất định, giá lương thực tăng cao ảnh

hưởng trực tiếp đến mức tiêu dùng lương thực của dân cư - đặc biệt là tầng lớp có thu

nhập chưa cao Như vậy, vấn đề cần quan tâm hiện nay là sản xuất lúa vừa phải đảm

bảo tính kinh tế vừa đảm bảo an ninh lương thực

Đại học Kinh tế Huế

Trang 8

Trung Thành là một xã nông nghiệp thuộc khu vực miền trung, có nhiều tiềm

năng về sản xuất nông nghiệp, đặc biệt là sản xuất lúa Tuy nhiên, trong những năm

gần đây sản lượng lúa có tăng nhưng vẫn chưa tương xứng với tiềm năng mà xã hiện

có, năng suất lúa đạt được vẫn còn thấp hơn rất nhiều so với năng suất bình quân cả

nước Ngoài các nhân tố tự nhiên như khí hậu thời tiết, điều kiện đất đai thì các

nhân tố xã hội như tập quán sản xuất, trình độ thâm canh, các chính sách phát triển sản

xuất cũng có ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả sản xuất lúa trên địa bàn xã Xuất phát

từ thực tế tình hình sản xuất lúa trên địa bàn xã Trung Thành tôi đã chọn đề tài:"Đánh

giá hi ệu quả kinh tế sản xuất lúa của các hộ nông dân trên địa bàn xã Trung

Thành - huy ện Yên Thành - tỉnh Nghệ An”

2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài

* M ục tiêu chung:

Đề tài tập trung nghiên cứu tình hình sản xuất lúa trên địa bàn xã, trong đó tập

trung chủ yếu về mức độ đầu tư sản xuất của các nông hộ và cách thức lựa chọn và kết

hợp có hiệu quả các yếu tố đầu vào nhằm mang lại hiệu quả kinh tế cao nhất Trên cơ

sở đó đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất lúa trên địa bàn xã

* Mục tiêu cụ thể:

 Hệ thống hoá các vấn đề về lý luận hiệu quả kinh tế trong sản xuất nông nghiệp nói

chung và sản xuất lúa nói riêng

 Đánh giá thực trạng sản xuất lúa trong thời gian qua trên địa bàn xã và xác định các

nhân tố chủ yếu ảnh hưởng đến năng suất lúa

 Xác định những thuận lợi và khó khăn mà nông hộ gặp phải trong quá trình sản

xuất lúa

 Đề xuất một số giải pháp phát huy các điều kiện thuận lợi, hạn chế những khó khăn

nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất lúa trên địa bàn xã

3 Phương pháp nghiên cứu

 Phương pháp thống kê kinh tế;

 Điều tra thu thập số liệu;

+ Số liệu sơ cấp: được thu thập thông qua điều tra chọn mẫu ngẫu nhiên không

lặp, số mẫu điều tra là 40 hộ, các đại lý vật tư nông nghiệp

Đại học Kinh tế Huế

Trang 9

+ Số liệu thứ cấp: Được thu thập từ các nguồn sau: Phòng nông nghiệp và phát

triển nông thôn huyện Yên Thành, phòng thống kê huyện Yên Thành, UBND xã Trung

Thành, các sách báo, internet

 Phương pháp chuyên gia chuyên khảo;

Phương pháp này được sử dụng để thu thập thông tin, hỏi ý kiến các chuyên gia

bao gồm các cán bộ kỹ thuật và các cán bộ quản lý các cơ quan Nhà nước

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

 Đối tượng nghiên cứu:

Đề tài tập trung nghiên cứu hiệu quả kinh tế sản xuất lúa của các hộ nông dân

và các nhân tố ảnh hưởng đến kết quả cũng như hiệu quả sản xuất lúa trên địa bàn xã

Trung Thành – Yên Thành- Nghệ An

+ Phạm vi thời gian: Đề tài tập trung nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến

năng suất lúa của các hộ nông dân ở hai vụ Đông Xuân và Hè Thu năm 2010

+ Phạm vi không gian: Đề tài nghiên cứu trên địa bàn xã Trung Thành, Yên

Thành, Nghệ An, trong đó tập trung chủ yếu ở 3 thôn: Đồng Lèn, Đội Cung và Hoàng

Diệu, đại diện cho hai vùng khác nhau về tình hình đầu tư thâm canh và tập quán sản

xuất của các nông hộ

Đại học Kinh tế Huế

Trang 10

PHẦN II NỘI DUNG NGHIÊN CỨUCHƯƠNG 1: CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN

1.1.1 Lý luận về hiệu quả kinh tế

1.1.1.1 Khái ni ệm về hiệu quả kinh tế

Trong sản xuất kinh doanh nói chung và trong sản xuất nông nghiệp nói riêng,

người sản xuất luôn có xu hướng lựa chọn cách thức sản xuất có thể đem lại nhiều lợi

nhuận nhất Đó có thể là lựa chọn cách thức sản xuất tiết kiệm chi phí nhất mà vẫn đạt

kết quả như ban đầu, hoặc cùng một mức chi phí mà đạt kết quả cao nhất

Có nhiều quan điểm khác nhau về hiệu quả kinh tế Theo quan điểm của các

nhà thống kê: Hiệu quả kinh tế là một phạm trù kinh tế biểu hiện quan hệ so sánh giữa

kết quả đạt được và chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó

Theo quan điểm của các nhà kinh tế học: Hiệu quả kinh tế đạt được tối ưu khi

đạt hiệu quả kỹ thuật và hiệu quả phân phối

 Hiệu quả kỹ thuật (TE) là số lượng sản phẩm có thể đạt được trên một đơn vị chi phí

đầu vào hay nguồn lực sử dụng vào sản xuất trong những điều kiện cụ thể về kỹ thuật

hay công nghệ áp dụng vào nông nghiệp

 Hiệu quả phân phối (AE) là chỉ tiêu hiệu quả trong đó giá sản phẩm và giá đầu vào

được tính đến để phản ánh giá trị sản phẩm thu được trên một đồng chi phí đầu vào

hay nguồn lực

 Hiệu quả kinh tế (EE) là một phạm trù trong đó sản xuất đạt cả hiệu quả kỹ thuật và

hiệu quả phân bổ Điều đó có nghĩa là cả hai yếu tố hiện vật và giá trị đều được tính

đến khi xem xét việc sử dụng các nguồn lực trong sản xuất nông nghiệp Nếu sản xuất

Đại học Kinh tế Huế

Trang 11

chỉ đạt hiệu quả kinh tế hay hiệu quả phân bổ thì mới chỉ là điều kiện cần chứ chưa

phải là điều kiện đủ để đạt hiệu quả kinh tế

EE = TE x AE

Như vậy, muốn nâng cao hiệu quả kinh tế phải đồng thời nâng cao hiệu quả kỹ

thuật và hiệu quả phân bổ

1.1.1.2 B ản chất hiệu quả kinh tế

Trong phương pháp cổ truyền của kinh tế học khu vực sản xuất người ta giả

định rằng mục tiêu của nhà doanh nghiệp là đạt lợi nhuận tối đa Muốn xác định hiệu

quả kinh tế của một hoạt động sản xuất nào đó thì phải có sự so sánh giữa các kết quả

đạt được và những chi phí đã bỏ ra Trong quá trình so sánh đó, để đánh giá được hiệu

quả kinh tế người ta đã xét đến các mối quan hệ:

 Hiệu quả kinh tế tối ưu trong mối quan hệ giữa yếu tố và sản phẩm: theo mối quan

hệ này, người sản xuất đòi hỏi và có các thông tin:

- Sản phẩm cận biên của yếu tố đầu vào (MPx )

- Giá đơn vị của thành phẩm (Pxi)

- Đơn giá của yếu tố đầu vào biến đổi (Pxi)

Giá trị của sản phẩm cận biên VMP=MPxi.Pxi

Khi giá trị sản phẩm cận biên của yếu tố đầu vào biến đổi bằng giá của nó thì ta

đạt hiệu quả kinh tế tối ưu, tạo ra lợi nhuận tối đa:

VMP xi =P xi

 Hiệu quả kinh tế tối ưu trong mối quan hệ giữa yếu tố và yếu tố:

Khi có hai yếu tố thay đổi, để xác định được mức sử dụng yếu tố đầu vào thích

hợp, người ta phải nắm được tỷ giá các yếu tố đầu vào trao đổi trên thị trường cũng

như tỷ giá các yếu tố đầu vào mà ta có thể chuyển đổi trong sản xuất Từ đó có thể tìm

ra cách thức kết hợp các yếu tố đầu vào sao cho chi phí thấp nhất mà vẫn đạt mục tiêu

sản lượng

 Hiệu quả kinh tế tối ưu trong mối quan hệ sản phẩm với sản phẩm

Đại học Kinh tế Huế

Trang 12

Muốn đánh giá tình hình phối hợp sản xuất giữa các mặt hàng nhằm đạt lợi

nhuận tối đa trong một doanh nghiệp làm ra nhiều loại sản phẩm, ta cần có thông tin

về tỷ số chuyển biến cận biên giữa các sản phẩm và giá sản phẩm Điều đó có nghĩa là

với một chi phí ban đầu, doanh nghiệp sẽ tiến hành sản xuất các loại sản phẩm như thế

nào nhằm đạt doanh thu tối đa

1.1.1.3 H ệ thống các chỉ tiêu đánh giá kết quả và hiệu quả kinh tế sản xuất lúa

Chỉ tiêu kết quả

Trong đó:

N: Năng suất lúa.

Q: Tổng sản lượng, giá trị sản lượng thu được trong một vụ hay một năm.

S: Diện tích lúa.

Chỉ tiêu này cho biết trong một vụ hay một năm trung bình trên một đơn vị diện

tích thu được bao nhiêu lúa

- Tổng giá trị sản xuất (GO) trên một đơn vị diện tích: Là toàn bộ giá trị bằng

tiền của các sản phẩm được tạo ra trên một đơn vị diện tích trong một thời kỳ nhất

định trên một đơn vị diện tích thường là một năm Chỉ tiêu này cho biết trong một năm

trung bình trên một đơn vị diện tích thu được bao nhiêu giá trị

- Giá trị gia tăng (VA) trên một đơn vị diện tích: Là phần giá còn lại sau khi trừ

đi chi phí trung gian Chỉ tiêu này chính là hiệu số giữa tổng giá trị sản xuất và chi phí

trung gian trên một đơn vị diện tích

Sản xuất lúa được thực hiện dưới hình thức hộ gia đình, họ vừa là người chủ

vừa là người lao động nên không thể tách riêng lương và lãi ra được, do đó chúng tôi

sử dụng chỉ tiêu này là chỉ tiêu kết quả cuối cùng trong quá trình phân tích hiệu quả

kinh tế sản xuất lúa thay cho lợi nhuận (P)

- Chi phí trung gian (IC) trên một đơn vị diện tích: Bao gồm chi phí vật chất và

dịch vụ mua ngoài dùng cho hoạt động sản xuất trên một đơn vị diện tích

 Chỉ tiêu hiệu quả

- Giá trị sản xuất trên chi phí trung gian (GO/IC): Tỷ số này phản ánh một đồng chi

phí trung gian bỏ vào trong quá trình sản xuất lúa tạo ra được mấy đồng giá trị sản xuất

Đại học Kinh tế Huế

Trang 13

- Giá trị gia tăng trên chi phí trung gian (VA/IC): Tỷ số này phản ánh một đồng

chi phí bỏ vào quá trình sản xuất lúa tạo ra được mấy đồng giá trị gia tăng

1.1.2 Đặc điểm sinh thái và vai trò kinh tế của cây lúa

1.1.2.1 Đặc điểm sinh thái

1.1.2.1.1 Nguồn gốc

Cây lúa là một trong những cây cốc có lịch sử trồng trọt lâu đời nhất Căn cứ

vào các tài liệu khảo cổ ở Trung Quốc, Ấn Độ, Việt Nam cây lúa đã có mặt từ

3000-2000 năm trước công nguyên Ở Trung Quốc vùng Triết Giang đã xuất hiện cây lúa

5000 năm, ở hạ lưu sông Dương Từ- 4000 năm Tuy nhiên vẫn còn thiếu những tài

liệu để xác định một cách chính xác thời gian cây lúa được đưa vào trồng trọt Từ

trung tâm khởi nguyên là Ấn Độ và Trung Quốc, cây lúa được phát triển về cả hai

hướng Đông và Tây Cho đến thế kỷ thứ nhất, cây lúa được đưa vào trồng ở vùng Địa

trung hải như Ai cập, Italia, Tây ban nha Đến đầu thế kỷ thứ XV cây lúa từ Bắc Italia

nhập vào các nước Đông Nam Âu như Nam Tư cũ, Bungari, Rumani, Đầu thế chiến

thứ hai, lúa mới được trồng đáng kể ở Pháp, Hungari

Đến thế kỷ XVII cây lúa được nhập vào Mỹ và trồng ở các bang Virginia, Nam

Carolina và hiện nay trồng nhiều ở California, Louisiana, Texac

Theo hướng đông, đầu thế kỷ XI cây lúa từ Ấn Độ được nhập vào Indobexia, đầu tiên

ở đảo Java

Đến thế kỷ XVIII cây lúa từ Iran nhập vào trồng ở Kuban (Nga) Cho đến nay,

cây lúa đã có mặt trên tất cả các châu lục, bao gồm các nước nhiệt đới, á nhiệt đới và

một số nước ôn đới Ở bắc bán cầu cây lúa được trồng ở Đông Bắc Trung Quốc 530B

cho tới nam bán cầu - ở châu Phi, Australia (New South Wales, 350vĩ nam)

- Về nguồn gốc thực vật, cây lúa thuộc họ hoà thảo (Gramineae), chi Oryza

1.1.2.1.2 Đặc điểm sinh thái

Cũng như mọi cây trồng khác, quá trình sinh trưởng phát triển của cây lúa chịu

ảnh hưởng rất lớn của điều kiện ngoại cảnh, trước hết là điều kiện khí hậu, thời tiết nói

riêng ảnh hưởng trực tiếp đến các quá trình sinh trưởng- phát triển, quá trình hình

Đại học Kinh tế Huế

Trang 14

thành năng suất lúa cũng như hình thành các vùng trồng, vụ trồng và phương thức

trồng lúa khác nhau Các điều kiện ảnh hưởng đó là:

Nhiệt độ:

Để hoàn thành chu kỳ sống, cây lúa cần một lượng nhiệt độ nhất định Theo các

tác giả nước ngoài (Bugai X.M, Maistrenko A.L.) cây lúa ôn đới yêu cầu tổng nhiệt độ

2500-3000C, lúa nhiệt đới yêu cầu 3500-45000C; giống dài ngày cần trên 50000C và

giống ngắn ngày yêu cầu tổng nhiệt độ thấp hơn: 2000-30000C

Trong quá trình sinh trưởng, nếu gặp nhiệt độ cao, cây lúa chóng đạt được

tổng nhiệt độ cần thiết sẽ ra hoa sớm hơn, tức là rút ngắn thời gian sinh trưởng Nếu

gặp nhiệt độ thấp thì ngược lại Cây lúa yêu cầu nhiệt độ khác nhau qua các thời kỳ

sinh trưởng

Nước:

Nước là thành phần chủ yếu trong cơ thể cây lúa, là điều kiện để thực hiện các

quá trình sinh lý trong cây, ngoài ra đó là điều kiện ngoại cảnh không thể thiếu được

đối với cây lúa

Theo Goutchin, để tạo được một đơn vị thân lá cây lúa cần 400-450 đơn vị

nước, để tạo được một đơn vị hạt cần 300-350 đơn vị nước Yêu cầu lượng mưa là

900-1100mm cho một vụ lúa (nếu hoàn toàn dựa vào nước trời) Trước đây ở ta cũng

như một số nước khác trong khu vực, khi chưa có các công trình thuỷ lợi thì hàng năm

chỉ gieo cấy được một vụ lúa vào mùa mưa Mùa mưa ở vùng ĐBBB thường bắt đầu

vào tháng 5-6 kết thúc vào tháng 10-11 Ở các tỉnh miền trung muộn hơn, thường mưa

nhiều vào tháng 10-11 Nhu cầu nước thay đổi theo thời kỳ sinh trưởng và điều kiện

thâm canh

Cây lúa có nguồn gốc nhiệt đới, nên nói chung nó là cây ưa ánh sáng và mẫn

cảm với quang chu kỳ (độ dài ngày) Cường độ ánh sáng ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt

động quang hợp và tạo năng suất Chu kỳ ánh sáng lại có tác động đến quá trình làm

đòng, ra hoa ở một số giống, nhất là những giống địa phương trung ngày hay dài ngày

Đại học Kinh tế Huế

Trang 15

Theo Hoomaw và Vergarai B, các giống lúa nhiệt đới có thời gian sinh trưởng

khoảng 130 ngày cần 1000 giờ ánh sáng, riêng tháng cuối cùng cần 220-240 giờ

1.1.2.2 Vai trò c ủa lúa gạo

Giá trị dinh dưỡng:

Trong lúa gạo có mặt đầy đủ các chất dinh dưỡng như các cây lương thực khác,

ngoài ra còn có các vitamin, đặc biệt là các loại vitamin B Theo hiệp hội cây lương

thực Việt Nam

+ Tinh bột: là nguồn chủ yếu cung cấp calo Giá trị nhiệt lượng của lúa là 3594 calo,

so với lúa mì là 3610 calo, nồng độ hoá đạt đến 95,95 Hàm lượng Amyloza trong hạt

quyết định đến độ dẻo của gạo Nếu hạt có 10-18% amyloza thì gạo mềm, dẻo, từ

25-30% thì gạo cứng Các loại gạo Việt Nam có hàm lượng amyloza thay đổi từ 18-45%,

cá biệt có giống lên đến 54%

+ Prôtêin: tỷ lệ chiếm khoảng 6-8%, thấp hơn so với lúa mỳ và các loại khác Các

giống lúa Việt Nam có lượng protein thấp nhất 5,25%, cao nhất 12,84% phần lớn

trong khoảng 7-8%, lúa nếp có lượng protein cao hơn tẻ, lúa chiêm cũng có lượng

Lúa gạo có ý nghĩa kinh tế rất lớn, đảm bảo an ninh lương thực cho mỗi quốc

gia Vai trò của lúa gạo đã được bàn đến rất nhiều sau khủng hoảng lương thực vào

đầu tháng 5 năm 2008 Những vai trò chủ yếu của lúa gạo đó là:

+ Cung cấp lương thực cho loài người: Lúa là một trong 3 cây lương thực chủ yếu trên

thế giới: lúa mỳ, lúa và ngô Sản lượng toàn thế giới đầu những năm 80 là (triệu tấn):

lúa mỳ: 535, lúa: 471, ngô: 478 đến năm 1993 đã tăng lên: lúa mỳ: 460, lúa: 573, ngô:

529 Khoảng 40% dân số thế giới coi lúa gạo là nguồn lương thực chính, 25% sử dụng

lúa gạo trên 1/2 khẩu phần lương thực hàng ngày Như vậy lúa gạo có ảnh hưởng tới

đời sống ít nhất 65% dân số thế giới Sản xuất lúa gạo chủ yếu tập trung ở các nước

Đại học Kinh tế Huế

Trang 16

châu Á, với mức tiêu dùng hàng năm 180-200 kg/người, còn ở các nước Âu Mỹ

khoảng 10 kg/người

+ Là hàng hoá xuất khẩu, đem lại nguồn thu ngoại tệ tương đối lớn: Đối với các nước

đang phát triển như Việt Nam thì xuất khẩu gạo sẽ mang lại một nguồn thu ngoại tệ

tương đối lớn phục vụ cho những mục tiêu phát triển kinh tế khác

- Từ năm 1989 đến nay sản xuất lúa gạo của Việt Nam không những đáp ứng đủ nhu

cầu tiêu dùng trong nước mà còn tham gia thị trường xuất khẩu với khối lượng ngày

một tăng Năm năm gần đây, thực hiện chủ trương chuyển dịch cơ cấu sản xuất, diện

tích canh tác lúa cả nước có xu hướng giảm nhưng do năng suất liên tục được cải thiện

nên sản lượng lúa hàng năm được duy trì ổn định ở mức 35 triệu tấn (tương đương 22

triệu tấn gạo) Trên cơ sở đó Việt Nam có thể xuất khẩu hàng năm trên dưới 4 triệu tấn

gạo Khoảng 18-20% sản lượng gạo hàng năm của Việt Nam tham gia mậu dịch gạo

thế giới và là một trong số các quốc gia đứng đầu về xuất mặt hàng này Thị trường

xuất khẩu gạo chính của Việt Nam là châu Á, chiếm 46,2% khối lượng gạo xuất khẩu

hàng năm của Việt Nam Đối thủ cạnh tranh chính của Việt Nam trên thị trường gạo

quốc tế là Thái Lan, Ấn Độ, Pakistan

+ Gạo còn dùng làm thức ăn chăn nuôi: loại gạo được dùng làm thức ăn chăn nuôi chủ

yếu là những loại gạo có chất lượng kém và các phụ phẩm của lúa như cám, tấm, rơm

rạ

+ Gạo cũng là nguyên liệu cho công nghiệp chế biến: Gạo còn có thể làm nguyên liệu

sản xuất rượu, bia và các loại cồn cao cấp đáp ứng nhu cầu của con người Trong công

nghệ dược, sản xuất vi ta min B1 chữa bệnh tê phù, dầu cám có chất lượng cao dùng

chữa bệnh, chế tạo sơn cao cấp, làm mỹ phẩm, chế tạo xà phòng

Ngoài ra các phụ phẩm từ lúa gạo có thể dùng làm chất đốt, phân bón, làm đồ gia

dụng

1.1.3 Những nhân tố ảnh hưởng đến năng suất và hiệu quả sản xuất lúa

1.1.3.1 Nh ững nhân tố ảnh hưởng

Trong sản xuất nông nghiệp nói chung và sản xuất lúa nói riêng, để đạt hiệu quả

ngoài những yếu tố vốn, tư liệu sản xuất như các ngành khác, sản xuất nông nghiệp

còn phụ thuộc vào những yếu tố đặc trưng khác mà không một ngành sản xuất nào có

Đại học Kinh tế Huế

Trang 17

Có sự khác biệt như vậy là do sản xuât nông nghiệp có những điểm khác biệt so với

các ngành sản xuất khác: đất đai là tư liêu sản xuất chủ yếu, vừa là đối tượng lao động

vừa là tư liệu lao động Đối tượng sản xuất chủ yếu là những cơ thể sống nên có quy

luật sinh trưởng, hoạt động sản xuất thường diễn ra ngoài trời nên phụ thuộc rất nhiều

vào yếu tố tự nhiên như thời tiết, khí hậu và các nhân tố trong đó có các nhân tố chủ

yếu là nhiệt độ, ánh sáng, nước như chúng tôi đã trình bày ở phần 1.1.2.1.2 Đặc điểm

sinh thái của cây lúa Ngoài ra, các nhân tố sau cũng có ảnh hưởng rất lớn đến hiệu

quả sản xuất lúa:

Giống lúa: trong sản xuất lúa, giống đóng vai trò quan trọng trong việc tăng năng

suất và tổng sản lượng của cây lúa

Mỗi loại giống lúa đều có những đặc tính khác nhau về nông sinh học, sinh lý,

sinh hoá, sinh trưởng, phát triển và chất lượng Hiện nay với kỹ thuật sinh học phát

triển con người ngày càng can thiệp sâu hơn, thúc đẩy nhanh hơn quá trình tạo, chọn

giống mới có lợi hơn cho con người bằng những phương pháp tạo giống như: lai hữu

tính, xử lý đột biến, đặc biệt là kỹ thuật di truyền đang đóng góp có hiệu quả vào việc

cải tiến giống lúa Việc sử dụng các giống lúa ngắn ngày, (xu hướng của sản xuất nông

nghiệp hiện nay), đã cho phép làm nhiều vụ trong năm và cũng cho phép bố trí thời vụ

gieo cấy trong vụ xuân muộn hơn nhằm kéo dài thời gian sản xuất cây vụ đông, đồng

thời cũng là hướng tận dụng tốt nhất nguồn tài nguyên thiên nhiên (bức xạ mặt trời, đất

đai, nguồn nước ), để tăng khả năng quang hợp thuần của ruộng lúa, tạo năng suất

ngày càng cao Nghiên cứu vai trò của giống trong sản xuất nông nghiệp cho thấy:

giống lúa luôn là yếu tố quan trọng làm tăng năng suất, tăng sản lượng và hạ giá thành

sản phẩm (Nguyễn Tiến Mạnh, Nguyễn Văn Thông, 1995)

Phân bón: Cha ông ta có câu: " nhất nước nhì phân tam cần tứ giống", điều đó nói

lên rằng phân bón là một trong những nhân tố không thể thiếu, ảnh hưởng trực tiếp đến

năng suất của lúa Các chất dinh dưỡng trong phân bón có vai trò quan trọng, và chiếm

tỷ lệ cao đối với cây lúa là:

+ Đạm: Đạm đóng vai trò quan trọng trong đời sống cây trồng nói chung, đặc biệt đối

với cây lúa, đạm giữ một vị trí đặc biệt trong việc tăng năng suất

Đại học Kinh tế Huế

Trang 18

Đạm là yếu tố cơ bản trong quá trình phát triển của tế bào và các cơ quan rễ,

thân, lá và là một trong những nguyên tố hoá học cơ bản của cơ thể cây trồng Trong

các vật chất khô của cây trồng có chứa từ 1-5% đạm tổng số Thiếu đạm hay thừa

đạm đều ảnh hưởng đến năng suất cây lúa Thiếu đạm cây thấp, đẻ nhánh kém, số

bông và hạt ít, năng suất bị giảm Thừa đạm làm cho lá to, dài, phiến lá mỏng, đẻ

nhánh vô hiệu nhiều, lúa trổ muộn dễ dẫn đến hiện tượng đổ lốp, đổ non

+ Lân: là thành phần chủ yếu của axit nucleic, là chất chủ yếu của nhân tế bào Trong

vật chất khô của cây có chứa hàm lượng lân từ 0,1-0,5% Lân có mối quan hệ chặt chẽ

với sự hình thành diệp lục, protit và sự di chuyển tinh bột

Cùng với đạm, lân xúc tiến sự phát triển của bộ rễ và tăng số nhánh đẻ, đồng

thời cũng làm cho lúa trổ bông và chín sớm hơn Thiếu lân làm cho lúa đẻ nhánh ít,

thời kỳ trổ bông và chín đều chậm lại và kéo dài Do trổ bông chậm nên hạt lép nhiều,

độ dinh dưỡng hạt gạo thấp Thiếu lân ở thời kỳ làm đòng thì giảm năng suất một cách

rõ rệt

+ Kali: Kali được cây hút nhiều như đạm, nhưng lúa hút thừa kali không hại bằng hút

thừa đạm Vai trò của kali là xúc tiến sự di chuyển các chất đồng hoá và gluxit trong

cây Vì vậy nếu lúa thiếu kali thì hàm lượng tinh bột giảm, hàm lượng đạm sẽ tăng

Trong điều kiện thời tiết xấu thì vai trò của kali có tác dụng như ánh sáng mặt trời, xúc

tiến sự hình thành gluxit, cho nên để chống rét cho mạ xuân ở miền bắc, lúc gieo mạ

người ta cần bón một lượng kali đáng kể Lúa thiếu kali không ảnh hưởng đến đẻ

nhánh mấy nhưng cây lúa lùn, thấp, lá hẹp, màu xanh tối, hàm lượng diệp lục giảm, lá

mềm yếu và rũ xuống Thiếu kali ở thời kỳ làm đòng sẽ làm cho các gié bông thoái

hoá nhiều, số hạt ít, trọng lượng hạt giảm, hạt xanh, hạt lép và hạt bạc bụng nhiều,

phẩm chất gạo bị giảm sút

Lao động

Ngoài các nhân tố trên thì lao động cũng là một nhân tố quan trọng ảnh hưởng

trực tiếp đến năng suất cây lúa Tất nhiên nếu không có lao động thì quá trình lao động

không được tiến hành và vì vậy sẽ không có kết quả sản xuất Tuy nhiên việc bố trí lao

động thế nào cho hợp lý vừa đạt hiệu quả cao trong sản xuất lúa đồng thời đạt hiệu quả

cao trong các hoạt động khác là mục tiêu quan trọng nhất Bởi vì trong sản xuất nông

Đại học Kinh tế Huế

Trang 19

nghiệp không đơn thuần chỉ là sản xuất lúa mà còn bao gồm nhiều hoạt động khác như

chăn nuôi, làm nghề phụ

1.2 CƠ SỞ THỰC TIỄN

1.2.1 Tình hình sản xuất lúa gạo thế giới

Cây lúa có nguồn gốc nhiệt đới, dễ trồng, cho năng suất cao Hiện nay trên thế

giới có khoảng hơn 100 nước trồng lúa Vùng trồng lúa tương đối rộng: có thể trồng ở

các vùng vĩ độ cao như Hắc Long Giang (Trung Quốc) 530B, Tiệp 490B, Nhật, Italia,

Nga 450B đến Nam bán cầu: New South Wales (Úc): 350B Vùng phân bố chủ yếu ở

châu Á từ 300B đến 100N Năng suất trên phạm vi thế giới đã đạt tới 60-80 tạ/ha/vụ

Theo thư viện tỉnh Nghệ An năm 2008

Sản xuất lúa gạo trong vài ba thập kỷ gần đây đã có mức tăng trưởng đáng kể

(so với năm 1970 có diện tích trồng lúa là 134.390 triệu ha, năng suất 2,3 tạ/ha, sản

lượng 308,767 triệu tấn) Tuy tổng sản lượng lúa tăng 70% trong vòng 32 năm nhưng

do dân số tăng nhanh, nhất là ở các nước đang phát triển (châu Á, châu Phi, Mỹ La

Tinh) nên vấn đề lương thực vẫn là yêu cầu cấp bách phải quan tâm trong những năm

trước mắt và lâu dài

Sản xuất lương thực tăng chậm, không ổn định, thậm chí còn giảm tuyệt đối, dĩ

nhiên nếu tính bình quân đầu người lại càng giảm nhiều hơn Năm 2007, trong sản

lượng lương thực (có hạt) có: 438,1 triệu tấn thóc, 596,9 triệu tấn lúa mì

Bình quân lương thực đầu người (có hạt) toàn thế giới xấp xỉ 320 kg, riêng châu

Phi chỉ có 140 kg Bên cạnh có tới 70 quốc gia và vùng lãnh thổ sản lượng lương thực

bình quân đầu người chỉ đạt dưới 100 kg, thì trên thế giới có 50 quốc gia và vùng lãnh

thổ có sản lượng lương thực bình quân đầu người trên 500kg, trong đó có 7 quốc gia

có sản lượng lương thực trên 1100kg (Ô-xtrây-li-a: 1754 kg, Đan Mạch: 1726 kg,

Ca-na-đa: 1572 kg, ) Sản lượng lương thực bình quân đầu người của nhiều nước đang

phát triển ngày một giảm sút so với thời kỳ 1999-2001

Bảng 1.1: Diện tích cây lương thực thế giới

ĐVT: nghìn ha

Đại học Kinh tế Huế

Trang 20

Từ ba thập kỷ cuối thế kỷ XX đến nay, thế giới có nhiều tiến bộ nhảy vọt về

khoa học và công nghệ, nhất là lĩnh vực công nghệ thông tin, Nhiều nước, nhiều

vùng đã không chú ý tới việc tiếp tục đầu tư vào sản xuất nông nghiệp nói chung, sản

xuất lương thực nói riêng Nếu như, những năm 60-70 của thế kỷ trước thế giới bước

vào cuộc cách mạng xanh (trong đó việc lai tạo thành công và đưa các giống mới của

các loại cây lương thực vào sản xuất đại trà), đã tạo nên những bước nhẩy về sản

lượng lương thực, mà chủ yếu do tăng năng suất, thì nhiều năm gần đây không được

chú ý đúng mức không chỉ về giống, mà còn về kỹ thuật canh tác, thu hoạch và sau thu

hoạch, đặc biệt là các nước đang phát triển, trong khi đó, đầu tư vào khoa học công

nghệ trong sản xuất nông nghiệp ở nhiều nước phát triển gấp nhiều lần các nước đang

phát triển (tính trên 1 ha đất nông nghiệp) mặc dù năng suất ở các nước này nói chung

khá cao so với năng suất chung của thế giới Chính vì vậy, năng suất cây trồng nói

chung, cây lương thực nói riêng của thế giới trong nhiều năm lại đây tăng rất chậm,

đặc biệt châu Á - nơi sản lượng lương thực chiếm trên 43% sản lượng lương thực có

hạt trên toàn thế giới, chưa kể châu Phi, năng suất cây lương thực rất thấp lại tăng còn

chậm hơn

1.2.2 Tình hình sản xuất lúa ở Việt Nam

Đã từ lâu cây lúa đã trở thành cây lương thực chủ yếu, có ý nghĩa đáng kể trong

nền kinh tế và xã hội của Việt Nam Với địa bàn trải dài trên 15 vĩ độ Bắc bán cầu, từ

Bắc vào Nam đã hình thành những đồng bằng châu thổ trồng lúa phì nhiêu, cung cấp

nguồn lương thực chủ yếu để nuôi sống cả mấy chục triệu người Theo Bộ Nông

nghiệp và Phát triển nông thôn

Trước năm 1945 diện tích trồng lúa ở hai đồng bằng Bắc bộ và Nam bộ là 1,8

triệu và 2,7 triệu ha với sản lượng thóc tương ứng là 2,4 và 3,0 triệu tấn Năng suất

bình quân là 13 tạ/ha

Đại học Kinh tế Huế

Trang 21

Khoảng hai thập kỷ sau, vào những năm 60, miền Bắc có phong trào phấn đấu

giành 5 tấn/ha/năm Cho đến năm 1974 đã đạt được mục tiêu này, năng suất lúa đạt

51,4 tạ/ha/năm

Sau năm 1975, trong điều kiện đất nước thống nhất, sản xuất lúa ở Việt

Namđã có những thuận lợi mới và đã có những bước phát triển đáng kể Với mức

tăng trưởng trên, từ chỗ hàng năm ta phải nhập khẩu khoảng 0,8 triệu tấn lương

thực quy gạo đến chỗ đã tự túc lương thực cho 70 triệu dân, ngoài ra đã có một

phần dành cho xuất khẩu

Trong 10 năm (1996-2005) sản lượng thóc của nước ta đã tăng lên từ 26,40 lên

35,80 triệu tấn, năng suất tăng từ 3,77 tấn/ha lên 4,76 tấn/ha và xuất khẩu tăng từ 3.10

triệu tấn lên 5,52 triệu tấn gạo

Sản lượng lúa tăng 88% thời kỳ 1990 - 2004, do năng suất tăng 56% và diện

tích tăng 27% Hơn 70% sản lượng lúa của cả nước được sản xuất ở hai vùng đồng

bằng sông Hồng và sông Cửu Long, trong đó, đồng bằng sông Cửu Long có ưu thế

tuyệt đối cả về sản xuất và xuất khẩu gạo Sản lượng lúa toàn vùng đã tăng từ 8,9 triệu

tấn năm 1990 lên 18,5 triệu tấn năm 2004

1.2.3 Tình hình sản xuất lúa của tỉnh Nghệ An.

Nghệ An là một tỉnh có diện tích lớn nhất Việt nam thuộc bắc trung bộ nước

cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, phía bắc giáp tỉnh Thanh Hoá, phía nam giáp

tỉnh Hà Tĩnh, phía tây giáp nuớc bạn Lào Diện tích tự nhiên là 16.487km2, dân số

3.113.055 người (Theo kết quả điều tra 1/4/2009) gần 75% dân số sống bằng nghề

nông, đời sống thu nhập thấp, là một trong những tỉnh nghèo của cả nước Có địa hình

phức tạp, đồi núi nhiều, thời tiết khí hậu khắc nghiệt, lượng mưa trung bình hàng năm

1.670 mm, nhiệt độ trung bình 25,2c, độ ẩm 86 - 87 %, đất đai xấu, chua phèn và phân

bố không đồng đều ở các huyện Năm 2009 tổng diện tích đất tự nhiên là 1.684.729 ha,

trong đó diện tích đất trồng lúa 188.311 ha; Tuy nhiên diện tích trồng lúa có nguy cơ

ngày càng giảm, do việc phát triển các khu công nghiệp, nhà ở, chuyển đổi cơ cấu cây

trồng, vật nuôi

Bảng 1.2: Diện tích, năng suất, sản lượng lúa của tỉnh Nghệ An qua các năm.

Đại học Kinh tế Huế

Trang 22

2007 249297 45.88 1143852

( Nguồn: Niên giám thống kê năm 2008 của tỉnh Nghệ An).

Nhìn chung sản lượng có tăng theo các năm Tuy vậy, sản lượng lúa của năm

2008 giảm so với năm 2007 vì năm 2008 hầu hết trên toàn tỉnh phải hứng chịu dịch

rầy nâu, cuốn lá ở lúa nên dẫn tới sản lượng giảm rõ rệt

Mặc dù diện tích trồng lúa tăng ít nhưng do năng suất tăng nhanh nên sản

lượng lúa của tỉnh tăng khá nhanh Toàn tỉnh tăng 84407 tấn ( tăng 18%) Các huyện

có nhiều diện tích lúa có thể tưới tiêu chủ động là Yên Thành, Nam Đàn, Quỳ châu,

Anh Sơn … đã chủ động đưa giống lúa lai Trung Quốc có năng suất cao và gieo cấy

với diện tích lớn nên sản lượng lúa các huyện tăng nhanh

Từ năm 2006 năng suất lúa tăng nhanh là do Tỉnh đã có nhiều chính sách hỗ trợ

nông nghiệp, đồng thời với chủ trương đúng đắn của Đảng và nhà nước về việc chuyển

đổi ruộng đất, từ ô thửa nhỏ thành ô thửa lớn nhằm đưa cơ giới vào sản xuất và khuyến

khích áp dụng các tiến bộ Khoa học kỹ thuật nhất là giống mới có năng suất cao vào

sản xuất trên diện rộng

Nhìn chung, tình hình sản xuất lúa của tỉnh có chiều hướng giảm dần về diện

tích do chuyển dịch đất trồng lúa sang đất ở hoặc sang cây trồng khác nhưng về năng

suất và tổng sản lượng ngày càng tăng đáp ứng được về lương thực tại chỗ cũng như

cung cấp cho các vùng lân cận

1.2.4 Tình hình sản xuất lúa của huyện Yên Thành.

Yên Thành là vùng đất nửa trung du miền núi, nửa đồng bằng Phía bắc giáp

các huyện Tân Kỳ, Quỳnh Lưu, Diễn Châu; phía đông giáp huyện Diễn Châu; phía

đông nam giáp huyện Nghi Lộc, phía nam giáp huyện Đô Lương, phía tây giáp huyện

Tân Kỳ Theo Niên giám thống kê huyện Yên Thành năm 2010

Về địa hình có thể chia thành 2 vùng rõ rệt Trong đó: Đất sản xuất nông nghiệp

18890,52 ha chiếm 34,43% so với tổng diện tích đất tự nhiên

Trang 23

+ Đất ở : 1864,97 ha chiếm 3,4 %

+ Đất chưa sử dụng : 10938,86 ha chiếm 19,94%

+ Đất mặt hồ nước : 235,49 ha chiếm 0,43 %

Yên Thành là huyện có phần đất tự nhiên tương đối rộng, địa hình khá bằng

phẳng, đất đai màu mỡ, thuận lợi cho việc phát triển cây lúa Trong những năm qua,

Yên Thành đã đầu tư thích đáng cho đồng ruộng nhằm khai thác hết tiềm năng, lợi thế

sẵn có, ứng dụng triệt để các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất để đem lại hiệu

quả kinh tế cao, chủ trương của huyện cho những năm tới là tiếp tục chuyển đổi cơ cấu

sản xuất nông nghiệp và kinh tế nông thôn theo hướng sản xuất hàng hóa, gắn sản xuất

nông nghiệp với chế biến thị trường tiêu thụ Đẩy mạnh ứng dụng tiến bộ kỹ thuật đưa

giống cây, giống con có năng suất, chất lượng và hiệu quả cao vào sản xuất để nâng

cao sức cạnh tranh hàng hóa Đặc biệt là vấn đề công tác giống thường xuyên được

cấp uỷ, chính quyền coi trọng và đặt lên hàng đầu, nhờ sự quan tâm chỉ đạo chặt chẽ

trong việc đổi mới cơ cấu giống, kết hợp với việc hướng dẫn nông dân về quy trình kỹ

thuật và chỉ đạo chặt chẽ lịch thời vụ, thực hiện chủ trương chuyển đổi cơ cấu cây

trồng, mùa vụ và tăng đầu tư thâm canh nên đã đưa năng suất, sản lượng lúa năm sau

cao hơn năm trước

Bảng 1.3: Diện tích, năng suất, sản lượng lúa huyện Yên Thành qua các năm

Chỉ tiêu

Năm

Diện tích (ha)

Năng suất

(tạ/ha)

Sản Lượng (tấn)

(Nguồn: Phòng nông nghiệp huyện Yên Thành 2009).

Nhìn chung diện tích trồng lúa của huyện vẫn tăng lên hàng năm, năm 2007 là

25736,5 ha, năm 2008, diện tích tăng lên đạt 26187,1 ha Về năng suất: Từ năm 2007

2008 năng suất ngày càng tăng (53,48 tạ/ha 59,64 tạ/ha) Sản lượng lúa năm 2007

-2008 tăng từ 137647 tấn lên 156186 tấn Nhưng đến năm 2009, năng suất bình quân

Đại học Kinh tế Huế

Trang 24

chung của cả năm giảm mạnh do vụ hè thu phần lớn diện tích toàn huyện bị nhiễm

bệnh lùn sọc đen, gây ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống của bà con nông dân trong

toàn huyện

CHƯƠNG 2: ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ KINH TẾ SẢN XUẤT LÚA TRÊN ĐỊA

BÀN XÃ TRUNG THÀNH HUYỆN YÊN THÀNH TỈNH NGHỆ AN

2.1 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU

2.1.1 Điều kiện tự nhiên

2.1.1.1 V ị trí địa lý

Trung Thành là một xã nằm ở phía nam của huyện Yên Thành, cách trung tâm

huyện 4km, có đường tỉnh lộ 538 chạy qua, có khá nhiều thuận lợi về giao thông, tiếp

cận dễ dàng với nền kinh tế thị trường bên ngoài Địa giới hành chính được xác định:

Phía Nam giáp Nam Thành, phía Đông giáp Long Thành, Phía Bắc giáp Bắc Thành

Trung Thành có tổng diện tích tự nhiên : 790,10 ha

- Đất phi nông nghiệp : 111,21 ha

- Đất chưa sử dụng : 33,95 haĐịa hình phân thành 3 vùng rõ rệt:

- Vùng cao là vùng bán sơn địa, có đồi núi, ruộng sản xuất có độ chênh lệch

theo điều kiện tự nhiên từ Tây sang Đông

- Vùng mưng là vùng thâm canh của xã có trục đường tỉnh lộ 538 chạy qua, có

chợ Rộc là trung tâm trao đổi hàng hoá của xã với các xã bạn rất thuận lợi cho giao lưu

kinh tế, văn hoá, xã hội

- Vùng sâu là vùng có diện tích sản xuất tương đối nhiều, đất đai màu mỡ

nhưng thường bị lụt đe doạ

Bên cạnh đó mạng lưới đường giao thông nông thôn của xã phát triển mạnh

được bê tông hoá Có kênh tiêu Bàu và kênh tưới N4B chạy qua xã Đây là hai con

kênh có tác dụng rất lớn trong việc phục vụ nước tưới tiêu của xã, và cung cấp phù sa

cho đồng ruộng mùa mưa lũ Nhưng đây cũng là điều bất lợi khi mùa lũ gây ra sạc lở,

Đại học Kinh tế Huế

Trang 25

bồi lấp làm mất đất sản xuất ở dọc con sông này Mạng lưới thủy lợi của xã phát triển

và đã kiên cố hoá kênh mương nội đồng phục vụ tưới tiêu cho 100% diện tích đất nông

nghiệp của xã Đó cũng là điều kiện thuận lợi nhất cho việc phát triển nông nghiệp của

2.1.1.2 Đặc điểm khí hậu

Xã Trung Thành nói riêng và huyện Yên Thành nói chung nằm trong vùng khí

hậu nhiệt đới gió mùa Trong năm chia 2 mùa rõ rệt đó là mùa mưa và mùa nắng

- Mùa mưa từ tháng 9 đến tháng 12, vào mùa này có gió Đông Bắc thổi mang theo

không khí lạnh Tuy tốc độ gió không lớn nhưng rất lạnh, nhiệt độ giảm theo ngày từ

2-30C Trong năm , tháng 1 là tháng thời tiết lạnh nhất, nhiệt độ trung bình có khi

xuống dưới 200C Mùa này mưa rất lớn thường xuyên xảy ra lụt lội, đặc biệt tập trung

vào tháng 9, tháng 10, tháng 11, trong 3 tháng này chiếm 80% lượng mưa cả năng, đầu

tháng 12 lượng mưa giảm dần

- Mùa nắng từ tháng 1 đến tháng 8 Mùa này thường xuất hiện gió Nam gồm gió Đông

Nam và gió Tây Nam Đặc biệt vào độ tháng 5 đến tháng 7 có những đợt gió Tây Nam

( gọi là gió Lào ) nóng và khô nhưng không kéo dài, ảnh hưởng rất lớn đối với cây

trồng Nhiệt độ có khi lên đến 390C, trong mùa này thường có mưa rào, mưa giông xảy

ra trong ngày, thời gian mưa không lâu và lượng mưa không lớn lắm

Những thuận lợi và khó khăn của các yếu tố thời tiết thường xảy ra:

o Khó khăn

- Lũ lụt: Về mùa mưa với lượng mưa kéo dài, đặc biệt là có mưa lớn ở đầu

nguồn sông bàu chảy về làm nước dâng lên nhanh gây ngập úng, do vậy phải bố trí

lịch thời vụ và cơ cấu giống để thu hoạch vụ Hè Thu trước 30 tháng 9 hàng năm

- Bão: Vào mùa mưa do ảnh hưởng của áp thấp nhiệt đới hình thành từ biển

chuyển thành bao đổ bộ vào đất liền với sức gió rất mạnh gây thiệt hại lớn về nhà của

và hoa màu

- Bên cạnh khó khăn về lũ lụt thì hằng năm hệ thống đông áng của Trung Thành

cũng được bù đắp một lượng lớn phù sa màu mỡ từ con sông Đào

Đại học Kinh tế Huế

Trang 26

Nhìn chung, khí hậu thời tiết của huyện Yên Thành nói chung và xã Trung

Thành nói riêng tương đối thích hợp và thuận lợi cho sản xuất các loại cây trồng trong

đó có sản xuất cây lúa và phát triển chăn nuôi của xã

2.1.2 Tình hình kinh tế xã hội của xã

Là một xã có nền kinh tế phát triển trương đối toàn diện Như nông nghiệp,

thương mại, dịch vụ và các ngành nghề khác Trong nông nghiệp, cây lúa vẫn là cây

chủ lực Chăn nuôi lợn, vịt, cá phát triển mạnh đã khai thác được lợi thế của một xã

trọng điểm lúa, có nguồn nước dồi dào

Những nét nổi bật của kinh tế Trung Thành là có chợ Rộc là trung tâm giao lưu

kinh tế của nhân dân trong xã cũng như với các xã bạn Tỷ trọng giá trị sản lượng

ngành tiểu thủ công nghiệp và thương mại dịch vụ tương đối cao so với nhiều xã trong

huyện, đạt 40,8% trong cơ cấu kinh tế chung của xã

+ Thương mại dịch vụ ở xã Trung Thành đang trên đà phát triển và chủ yếu là

chủ yếu các mặt hàng thiết yếu phục vụ nhu cầu cuộc sống và cho sản xuất nông

nghiệp, sinh hoạt của nhân dân như: Điện tử, điện lạnh, tạp hoá, giải khát Toàn xã có

612 hộ kinh doanh thương mại - Dịch vụ Hàng năm giá trị ngành thương mại dịch vụ

đạt 17,078 tỷ đồng

+ Về nông nghiệp: Trung Thành là một xã thuần nông hầu hết người dân trong

xã sống chủ yếu bằng nghề nông Toàn xã 1414 hộ; có 5799 khẩu, chia làm 7 xóm

Trong đó có 1 nhà thờ giáo họ Kim Sơn với 80 hộ và 372 khẩu

Xã có 1 hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp kinh doanh tổng hợp Đi đôi với việc

thực hiện hướng dẫn kỹ thuật trồng trọt chăn nuôi cho hội nông dân, hợp tác xã cũng là

nơi cung ứng các loại giống cây trồng vật tư phân bón cho nhân dân và là nơi ký kết

với các Công ty giống miền Trung - hướng dẫn bà con nông dân sản xuất lúa giống và

thu mua cho nông dân

+ Cơ cấu thu nhập các ngành nghề của xã Trung Thành

Xã Trung Thành phát triển kinh tế theo hướng kết hợp trồng trọt với chăn nuôi

chú trọng và đẩy mạnh phát triển thương mại dịch vụ, đa dạng hoá các ngành nghề và

các loại hình dịch vụ phục vụ phát triển kinh tế xã hội Mặc dù địa phương có kế

hoạch phát triển thương mại dịch vụ chiếm tỷ trọng tương đối trong cơ cấu kinh tế của

xã nhưng thực tế Xã Trung Thành phát triển kinh tế xã hội chủ yếu là nông nghiệp

Đại học Kinh tế Huế

Trang 27

Nguồn thu nhập chính của địa phương là từ sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp và dịch

vụ mà chủ yếu là sản xuất lúa

Từ thống kế của xã qua các năm cho thấy đời sống của nhân dân trong xã ngày

càng được nâng lên, số hộ giàu khá tăng nhanh chiếm 47,93% ; số hộ trung bình chiếm

36% và hộ nghèo chiếm 15% Đa số hộ giàu đều biết vận dụng những tiến bộ khoa học

vào trong sản xuất và chăn nuôi

2.1.3 Tình hình sản xuất lúa trên địa bàn xã

Trung Thành là xã trọng điểm lúa của huyện bởi có con sông Đào chảy qua,

hằng năm mưa lũ bồi đắp phù sa làm cho đất giàu dinh dưỡng nên sản xuất nông

nghiệp đạt sản lượng cao Sản xuất hiện nay của xã có bước chuyển đổi mạnh về cơ

cấu giống, các biện pháp kỹ thuật thâm canh nên năng suất, sản lượng cao so với

những năm trước đây Hơn nữa những năm qua bằng các hình thức đầu tư nguồn vốn

thích đáng cho đồng ruộng, như đầu tư xây dựng bê tông kênh mương phục vụ cho sản

xuất nông nghiệp, công tác thuỷ lợi được chú trọng, nhận thức của người dân được

tăng lên, ứng dụng triệt để những tiến bộ khoa học kỹ thuật mới vào sản xuất nhằm

khai thác hết tiềm năng sẵn có, cộng với sự cần cù sáng tạo của bà con nông dân đã

làm cho năng suất sản lượng không ngừng tăng lên, mặc dù diện tích ngày càng giảm

dần

Với điều kiện thời tiết, khí hậu, đất đai thuận lợi, trình độ thâm canh của nông

dân ngày càng cao, bên cạnh đó được sự hỗ trợ của Nhà nước về nhiều mặt, nhất là từ

những năm 2005 đến nay Do đó, ngành sản xuất nông nghiệp của xã có những bước

đột phá mang lại hiệu quả kinh tế cao

2.1.3.1 Thu ận lợi

Với một xã trọng điểm lúa của huyện Yên Thành nên được huyện quan tâm chỉ

đạo cũng như đầu tư, có những cơ chế chính sách khuyến nông giúp nông dân chuyển

giao khoa học kỹ thuật trong sản xuất lúa Địa phương có những kế hoạch và giải pháp

cụ thể cùng các ban, ngành, đoàn thể vận động nhân dân, phát huy tiềm năng thế mạnh

của địa phương đưa những tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất ở từng hộ gia đình

Tập trung dồn điền đổi thửa, chuyển đổi cơ cấu cây trồng, mùa vụ là giải pháp tốt nhất

để đưa năng suất, sản lượng và hiệu quả cao trong sản xuất nông nghiệp, nhất là sản

xuất lúa

Đại học Kinh tế Huế

Trang 28

- Nguồn lao động dồi dào, nông dân trình độ ngày càng được nâng lên, có khả

năng tiếp cận và ứng dụng những tiến bộ khoa học kỹ thuật vào đồng ruộng, hơn nữa

bà con nông dân cần cù lao động, có truyền thống thâm canh cây lúa, thích ứng nhanh

cái mới nhất trong lĩnh vực sản xuất, chăn nuôi, các loại giống mới cho năng suất cao

- Hệ thống thuỷ lợi được đầu tư, hệ thống kênh mương nội đồng, phục vụ cho

nước tưới tiêu được kiên cố hoá Nguồn nước dồi dào từ kênh chính từ sông Đô

Lương dẫn về đảm bảo nước tưới cho 80% diện tích của xã, thuận lợi cho ngành sản

xuất nông nghiệp, nhất là sản xuất lúa

- Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách kịp thời khuyến

khích nông nghiệp nông thôn phát triển như: miễn thuế nông nghiệp, đầu tư cơ sở hạ

tầng phục vụ nông nghiệp (kiên cố hoá kênh mương nội đồng, bê tông hoá đường giao

thông nông thôn…)

2.1.3.2 Khó khăn

- Dân số đông nhưng ruộng đất còn ít, bình quân chỉ đạt 420m2/người, do đó,

quy mô sản xuất nhỏ, người nông dân chưa mạnh dạn đầu tư cho sản xuất

- Những năm gần đây, thời tiết bất thuận, thường xảy ra lũ lụt, gió lốc, nắng hạn

diễn biến phức tạp làm ảnh hưởng đến năng suất và chất lượng của cây trồng

- Bà con nông dân vẫn còn một bộ phận chậm tiến không tuân thủ theo chủ

trương của xã trong cơ cấu giống, tự ý gieo sạ các loại giống không đảm bảo dùng lúa

thịt để gieo sạ, mật độ gieo còn dày, không đúng theo lịch thời vụ mật độ gieo cấy còn

dày gây khó khăn trong việc quản lý sâu bệnh, dịch hại làm ảnh hưởng đến năng suất

chung của xã

- Về phân bón: chưa chú trọng đến phân hữu cơ Tâm lý nông dân hễ thấy

ruộng xấu là thêm đạm gây nên hiện tượng thiếu cân đối trong phân bón Các giải

pháp kỹ thuật tiến bộ theo chương trình tổng hợp dinh dưỡng cho cây lúa ICM (3

giảm, 3 tăng) mới chỉ sử dụng ở một số khâu như: giảm lượng giống, giảm đạm, tăng

Kali, các khâu khác chưa thực hiện được

- Thị trường tiêu thụ: hằng năm, lượng thóc của huyện bán ra thị trường tương

đối lớn, thóc gạo đã trở thành sản phẩm hàng hóa của bà con nông dân, tuy nhiên,

hàng hóa thóc của huyện chỉ tiêu thụ nội địa do thị trường tự do điều tiết thông qua

Đại học Kinh tế Huế

Trang 29

mạng lưới tư thương buôn bán nhỏ, không có mối tiêu thụ lớn và ổn định nên chưa

kích thích nông dân quan tâm đến chất lượng lúa gạo

- Đời sống nhân dân của xã còn khó khăn, giá vật tư phục vụ cho sản xuất tăng

cao như: phân bón, thuốc trừ sâu, giống lúa trong khi đó giá nông sản thực phẩm sản

xuất từ nông dân thì thấp, do đó việc dùng đồng vốn quay vòng hạn chế nên việc đầu

tư chăm bón cho lúa chưa đáp ứng kịp thời

2.1.4 Tình hình về sản xuất lúa của xã Trung Thành trong năm 2009-2010

Bảng 2.1: Diện tích, năng suất, sản lượng lúa của xã Trung Thành qua các năm

( Nguồn: Số liệu thống kê Huyện Yên Thành )

Nhìn chung diện tích sản xuất lúa của xã trong bốn năm luôn biến động Cao nhất là

năm 2009 và thấp nhất là năm 2008

Năm 2008 là năm được mùa nhất do sản xuất đúng thời vụ, công tác phòng chống dịch

bệnh tốt nên đạt được sản lượng lớn nhất

2.2 NĂNG LỰC SẢN XUẤT CỦA CÁC HỘ ĐIỀU TRA

Trong quá trình tìm hiểu thực tế sản xuất xã Trung Thành chúng tôi nhận thấy

trên địa bàn xã đất đai 3 thôn điều tra tương đối giống nhau Tập quán sản xuất ở đay

cũng giống nhau vì học hỏi kinh nghiệm của nhau Tuy vậy, cũng có những hộ mạnh

dạn tìm kiếm cho mình phương pháp khác trong sản xuất lúa

2.2.1 Tình hình nhân khẩu và lao động

Đại học Kinh tế Huế

Trang 30

Trong sản xuất nói chung và trong sản xuất nông nghiệp nói riêng, lao động

là yếu tố rất quan trọng quyết định đến kết quả sản xuất Đặc biệt đối với sản xuất

nông nghiệp ở Việt Nam còn mang tính thủ công, các máy móc công nghệ rất ít

được áp dụng mà nguyên nhân chủ yếu là người dân còn nghèo, hơn nữa người

nông dân chủ yếu là lấy công làm lãi nên việc thuê máy móc cho sản xuất còn ít

phổ biến Chính vì vậy lao động là một trong những đầu vào trong sản xuất nông

nghiệp, nhất là sản xuất lúa

Bảng 2.2: Tình hình nhân khẩu và lao động của các hộ điều tra năm 2010

(tính bình quân/hộ)

2 Lao động chính trong nông nghiệp Người 2.45

2.1 Trong độ tuổi LĐ Người 1.1

2.2 Ngoài độ tuổi LĐ Người 1.35

(Nguồn: số liệu điều tra năm 2010)

Qua quá trình điều tra trên địa bàn xã, chúng tôi thấy rằng 100% hộ được phỏng

vấn có hơn 65% là có thu nhập chính ngoài sản xuất nông nghiệp, số hộ còn lại có thu

nhập chính từ sản xuất nông nghiệp trong đó sản xuất lúa là chủ đạo

Chúng tôi đã phỏng vấn ngẫu nhiên 40 hộ sản xuất lúa trong xã Bảng số liệu

trên cho chúng ta thấy số nhân khẩu bình quân trên hộ của toàn xã là 4.8 người Mặc dù

số nhân khẩu bình quân trên hộ tương đối cao tuy nhiên lao động chính trong nông

nghiệp tính bình quân trên hộ chỉ là 2.45 Sở dĩ có sự chênh lệch lớn như vậy vì hiện

nay, hầu như nông dân không còn "mặn mà" gì với ruộng đồng nữa nên phần lớn

những lao động trong xã, chủ yếu là thanh niên và đàn ông trung niên đều đi làm thuê

hoặc đi xuất khẩu lao động Những lao động chính trong nông nghiệp trong xã hiện

nay chủ yếu là phụ nữ

Đại học Kinh tế Huế

Ngày đăng: 19/10/2016, 22:39

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Mai Văn Xuân, Nguyễn Văn Toàn, Hoàng Hữu Hòa, Giáo trình Lý thuyết thống kê, Trường Đại học Kinh tế Huế, 1988 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Lýthuyết thống kê
2. PGS.Ts. Nguyễn Hữu Hòa, Bài giảng Nguyên lý kỹ thuật trồng trọt, Trường Đại học Nông lâm Huế, 1995 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài giảng Nguyên lý kỹ thuật trồng trọt
3. Ths. Nguyễn Quang Phục, Bài giảng Kinh tế phát triển nông thôn, Trường Đại học Kinh tế Huế, 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài giảng Kinh tế phát triển nông thôn
4. Ths.Nguyễn Văn Vượng, Bài giảng Thống kê kinh tế, Trường Đại học Kinh tế Huế, 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài giảng Thống kê kinh tế
5. TS.Phùng Thị Hồng Hà, Bài giảng Quản trị kinh doanh nông nghiệp, Trường Đại học Kinh tế Huế, 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài giảng Quản trị kinh doanh nông nghiệp
6. UBND huyện Yên Thành, Niêm giám thống kê huyện Yên Thành, 2010 7. UBND xã Trung Thành, Báo cáo quy hoạch đất năm 2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: giám thống kê huyện Yên Thành", 20107. UBND xã Trung Thành, Báo
8. UBND xã Trung Thành, Báo cáo tình hình thực hiện nhiệm vụ phát triển KT-XH năm 2010 Khác
11. Trần Thị Thu Hiền, Khóa luận tốt nghiệp đại học, Trường đại học kinh tế Huế, 2008 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.3: Diện tích, năng suất, sản lượng lúa huyện Yên Thành qua các năm - Đánh giá hiệu quả kinh tế sản xuất lúa của các hộ nông dân trên địa bàn xã trung thành   huyện yên thành   tỉnh nghệ an
Bảng 1.3 Diện tích, năng suất, sản lượng lúa huyện Yên Thành qua các năm (Trang 23)
Bảng 2.1: Diện tích, năng suất, sản lượng lúa của xã Trung Thành qua các năm - Đánh giá hiệu quả kinh tế sản xuất lúa của các hộ nông dân trên địa bàn xã trung thành   huyện yên thành   tỉnh nghệ an
Bảng 2.1 Diện tích, năng suất, sản lượng lúa của xã Trung Thành qua các năm (Trang 29)
Bảng 2.2: Tình hình nhân khẩu và lao động của các hộ điều tra năm 2010 - Đánh giá hiệu quả kinh tế sản xuất lúa của các hộ nông dân trên địa bàn xã trung thành   huyện yên thành   tỉnh nghệ an
Bảng 2.2 Tình hình nhân khẩu và lao động của các hộ điều tra năm 2010 (Trang 30)
Bảng sau: - Đánh giá hiệu quả kinh tế sản xuất lúa của các hộ nông dân trên địa bàn xã trung thành   huyện yên thành   tỉnh nghệ an
Bảng sau (Trang 32)
Bảng 2.4: Tình hình thu nhập khác của các hộ điều tra năm 2010 - Đánh giá hiệu quả kinh tế sản xuất lúa của các hộ nông dân trên địa bàn xã trung thành   huyện yên thành   tỉnh nghệ an
Bảng 2.4 Tình hình thu nhập khác của các hộ điều tra năm 2010 (Trang 34)
Bảng 2.6: Chi phí thuốc bảo vệ thực vật của các hộ điều tra năm 2010 - Đánh giá hiệu quả kinh tế sản xuất lúa của các hộ nông dân trên địa bàn xã trung thành   huyện yên thành   tỉnh nghệ an
Bảng 2.6 Chi phí thuốc bảo vệ thực vật của các hộ điều tra năm 2010 (Trang 39)
Bảng số liệu dưới đây cho chúng ta thấy có sự chênh lệch về chi phí thuê ngoài - Đánh giá hiệu quả kinh tế sản xuất lúa của các hộ nông dân trên địa bàn xã trung thành   huyện yên thành   tỉnh nghệ an
Bảng s ố liệu dưới đây cho chúng ta thấy có sự chênh lệch về chi phí thuê ngoài (Trang 40)
Bảng 3.2: Những nguyện vọng của nông hộ - Đánh giá hiệu quả kinh tế sản xuất lúa của các hộ nông dân trên địa bàn xã trung thành   huyện yên thành   tỉnh nghệ an
Bảng 3.2 Những nguyện vọng của nông hộ (Trang 49)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm