Mục đích nghiên cứu Trên cơ sở đánh giá hiệu quả kinh tế sản xuất lúa trên địa bàn xã Vinh Thái, từ đó đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao năng suất, hợp lý hóa các yếu tốđầu
Trang 1PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ
1 Tính cấp thiết của đề tài
Cùng với xu thế phát triển chung của thế giới Việt Nam đã và đang tiến hànhquá trình công nghiệp hoá và hiện đại hoá nhằm đưa đất nước đến năm 2020 cơ bảnthành một nước công nghiệp Trong đó phát triển nông nghiệp là một bộ phận quantrọng, giải quyết việc làm, ổn định đời sống và tăng thu nhập cho người dân nông thôn,góp phần vào việc đảm bảo an ninh lương thực, ổn định cho quốc gia Điều này đượcđưa ra trong nhiều Nghị quyết, văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng cộng sảnViệt Nam
Năm 2007 Việt nam chính thức là thành viên của tổ chức thương mại thế giớiWTO (World Trade Organizations) đã và đang tạo ra cho nước ta nhiều cơ hội pháttriển KT – XH, đồng thời nó cũng đem lại nhiều lợi thế cũng như thách thức đối vớingành nông nghiệp của nước ta
Sản xuất nông nghiệp có vai trò rất quan trọng, không những cung cấp lươngthực, thực phẩm cho con người, bảo đảm nguyên liệu cho các ngành công nghiệp sảnxuất hàng tiêu dùng và công nghiệp chế biến lương thực, thực phẩm mà còn sản xuất
ra những mặt hàng có giá trị xuất khẩu tăng thêm nguồn thu ngoại tệ Hiện nay laođộng nông nghiệp Việt Nam vẫn chiếm hơn 70% dân số cả nước, do đó trong tương laingành nông nghiệp vẫn đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển của xã hội loạingười, không ngành nào có thể thay thế được Trên 40% lao động thế giới tham giavào lao động nông nghiệp, đảm bảo an ninh lương thực là mục tiêu phấn đấu của mỗiquốc gia, góp phần ổn định chính trị, phát triển nền kinh tế
Lúa gạo là nguồn lương thực quan trọng cho khoảng 2/3 cư dân trên thế giới.Trong khi dân số thế giới tiếp tục gia tăng thì diện tích đất dùng cho trông lúa lạikhông gia tăng, nếu không muốn nói là giảm theo thời gian Do đó vấn đề lương thựcđược coi như là mối đe dọa đến sự an ninh và ổn định của thế giới trong tương lai
Đại học Kinh tế Huế
Trang 2Theo dự đoán của các chuyên gia dân số học, nếu dân số tiếp tục gia tăng trongvòng 20 năm tới, thì sản lượng lúa gạo phải tăng 80% mới đáp ứng đủ cho nhu cầu của
cư dân mới Do đó người ta phải nghĩ đến chiến lược tăng sản lượng lúa gạo
Vì vậy sản xuất lương thực là vấn đề cấp thiết được đặt ra cho toàn xã hội Đây
là vấn đề đảm bảo cho nền kinh tế tăng trưởng và phát triển bền vững
Lúa là cây trồng có vị trí chiến lược rất quan trọng trong sản xuất nông nghiệpnói chung và trong cơ cấu sản xuất nông sản hàng hóa nói riêng, là loại cây chủ chốttrong kim ngạch xuất khẩu, mang lại ngoại tệ cho đất nước Bên cạnh đó trong quátrình phát triển đi lên không ngừng của xã hội, đời sống con người không ngừng đượcnâng cao thì nhu cầu về lương thực, thực phẩm ngày càng tăng với chất lượng ngàycàng cao Do vậy việc đáp ứng nhu cầu này là hết sức cần thiết, đòi hỏi người trồnglúa phải có biển pháp sản xuất hiệu quả hơn
Xã Vinh Thái là một xã đồng bằng của huyện Phú Vang, là nơi có truyền thốngtrồng lúa lâu đời Nơi đây có điều kiện về thời tiết, khí hậu, đất đai thổ nhưỡng phùhợp cho sản xuất lúa Diện tích gieo trồng khoảng 1.487,8 ha, năng suất bình quânhàng năm là 53.95 tạ/ha
Nhằm đánh giá hiệu quả sản xuất lúa trên địa bàn xã Vinh Thái có mang lạihiệu quả cho người nông dân hay không? Do đó tôi đã chọn đề tài nghiên cứu "Đánh giá hiệu quả kinh tế của việc sản xuất lúa tại xã Vinh Thái, Huyện Phú Vang, Tỉnh Thừa Thiên Huế".
2 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở đánh giá hiệu quả kinh tế sản xuất lúa trên địa bàn xã Vinh Thái, từ
đó đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao năng suất, hợp lý hóa các yếu tốđầu vào, hệ thống hóa cơ sở lý luận về hiệu quả kinh tế trong sản xuất nông nghiệp nóichung và trong sản xuất lúa nói riêng Xác định các điều kiện cơ bản, khó khăn vàthuận lợi có ảnh hưởng đến sản xuất lúa
3 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp thu thập số liệu
Đại học Kinh tế Huế
Trang 3 Phương pháp phân tổ
Phương pháp phân tích thống kê
Phương pháp phân tích kinh tế
4 Phạm vi nghiên cứu:
Xã Vinh Thái, huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên Huế
Phạm vi nội dung: " Nghiên cứu hiệu quả kinh tế của việc sản xuất lúa trên địa
bàn xã Vinh Thái, huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên Huế"
Phạm vi không gian: Xã Vinh Thái, huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên Huế.
Đối tượng nghiên cứu: Các hộ gia đình tại Xã Vinh Thái, huyện Phú Vang,
tỉnh Thừa Thiên Huế
Đại học Kinh tế Huế
Trang 4PHẦN II: NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
CHƯƠNG I
CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 Cơ sở lý luận
1.1.1 Những vấn đề lý luận chung về hiệu quả kinh tế
1.1.1.1 Khái niệm về hiệu quả kinh tế
Trong nền kinh tế thị trường, hiệu quả kinh tế là mối quan tâm hàng đầu của cácnhà sản xuất kinh doanh và cũng là mối quan tâm của toàn xã hội Hiệu quả kinh tế làmột phạm trù kinh tế phản ánh chất lượng của các hoạt động kinh tế, là thước đo trình
độ tổ chức và quản lý của các doanh nghiệp Nâng cao chất lượng hoạt động kinhdoanh, hoạt động kinh tế có nghĩa là tăng cường trình độ lạm dụng các nguồn lực sẵn cótrong một hoạt động kinh tế Đây là đơn vị đòi hỏi khách quan của nền sản xuất xã hội donhu cầu vật chất của cuộc sống con người tăng lên trong khi nguồn lực là có hạn
Theo quan niệm của Tiến sĩ Nguyễn Tiến Mạnh: "Hiệu quả kinh tế là một phạmtrù hiệu quả khách quan phản ánh trình độ lợi dụng các nguồn lực để đạt được mụctiêu đã xác định
Để hiểu rõ hiệu quả kinh tế cần phân biệt rõ ba khái niệm cơ bản về hiệu quả:
Hiệu quả kỹ thuật (technical efficiency): Là số lượng sản phẩm có thể đạtđược trên một đơn vị chi phí đầu vào hay nguồn lực sử dụng vào sản xuất trong nhữngđiều kiện cụ thể về kỹ thuật hay công nghệ áp dụng vào nông nghiệp Hiệu quả kỹthuật được áp dụng phổ biến trong kinh tế vi mô để xem xét tình hình sử dụng nguồnlực cụ thể Hiệu quả này thường được phản ánh trong mối quan hệ về các hàm sảnxuất Hiệu quả kỹ thuật chỉ ra rằng một đơn vị nguồn lực dùng vào sản xuất đem lạibao nhiêu đơn vị sản phẩm Hiệu quả kỹ thuật của việc sử dụng các nguồn lực đượcthể hiện thông qua mối quan hệ giữa đầu ra với đầu ra, giữa các đầu vào với nhau vàgiữa các sản phẩm khi nông dân ra quyết định sản xuất
Hiệu quả phân bổ các nguồn lực (allocative efficiency): Là chỉ tiêu hiệuquả trong các yếu tố giá sản phẩm và giá đầu vào được tính đến để phản ánh giá trị sản
Đại học Kinh tế Huế
Trang 5phẩm thu thêm trên một đồng chi phí thêm về đầu vào hay nguồn lực Thực chất hiệuquả phân bổ là hiệu quả kỹ thuật có tính đến các yếu tố về giá của các yếu tố đầu vào, đầu
ra Vì vậy nó còn được gọi là hiệu quả giá (price efficiency), việc xác định hiệu quả nàygiống như xác đinh các điều kiện về lý thuyết biên để tối đa hóa lợi nhuận, có nghĩa là giátrị biên của sản phẩm phải bằng giá trị biên của nguồn lực đưa vào sản xuất
Hiệu quả kinh tế (economic efficiency): Là phạm trù kinh tế mà trong đósản xuất đạt cả hiệu quả kỹ thuật và hiệu quả phân bổ Điều đó có nghĩa là hai yếu tốhiện vật và giá trị đều tính đến khi xem xét việc sử dụng nguồn lực Nếu đạt được mộttrong hai yêu tố hiệu quả kỹ thuật hay hiêu quả phân bổ mới là điều kiện cần chứ chưaphải là điều kiện đủ để đạt hiệu quả kinh tế
1.1.1.2 Bản chất của hiệu quả kinh tế
Người sản xuất muốn có lợi nhuận phải bỏ ra những khoản chi phí nhất định,những chi phí đó là: vốn, nhân lực, vật lực chúng ta tiến hành so sánh các kết quả đạtđược sau một quá trình sản xuất kinh doanh với chi phí bỏ ra thì có hiệu quả kinh tế
Sự chênh lệch này càng cao thì hiệu quả kinh tế càng lớn và ngược lại Bản chất củahiệu quả kinh tế là nâng cao năng suất lao động xã hội và tiết kiểm lao động xã hội
1.1.1.3 Phương pháp xác định hiệu quả kinh tế
Hiệu quả kinh tế được xác định bằng tỷ số giữa kết quả thu được và chi phí
bỏ ra( dạng thuận) hoặc ngược lại( dạng nghịch)
Dạng thuận:
C Q
Trang 6Công thức này nói lên để đạt được một đơn vị kết quả cần tiêu tốn bao nhiêuđơn vị chi phí
Hiệu quả kinh tế được xác định bằng cách so sánh phần tăng thêm của kếtquả thu đươc và phần tăng thêm của chi phí bỏ ra
Dạng thuận:
C Q
H
H : Hiệu quả
∆Q : Phần tăng ( giảm) của kết quả
∆C : Phần tăng ( giảm) của chi phí
Dạng nghịch:
c q
1.1.2 Điều kiện sinh thái và vai trò của cây lúa
1.1.2.1 Điều kiện sinh thái
Điều kiện đất đai địa hình
Khu vực canh tác phải có độ bằng phẳng cần thiết để duy trì mức nước từ 100
mm đến 150 mm để giúp cho cây lúa tăng trưởng và kết hạt tốt
Chính vì vậy, những khu vực đồng bằng và các lưu vực các con sông chảy quacác miền nhiệt đới nhiều mưa sẽ là môi trường thuận lợi cho cây lúa nước phát triển
Đối với lúa ở nước ta cây lúa được gieo cấy ở hầu hết các loại đất biến độngtheo thứ tự: đất phù sa, đất đầm lầy, đất mặn, đất phèn, đất mới biến đổi, đất cát biển,đất xám, đất đỏ Nhưng để đạt năng suất cao đất trồng lúa phải đáp ứng các yêu cầu:
Địa hình bằng phẳng, thành phần cơ giới từ thịt trung bình đến thịt nặng
Hàm lượng N, P, K cao
Độ PH từ 4.5 đến 7
Độ mặn dưới 0.5% muối tan
Đại học Kinh tế Huế
Trang 7 Lượng mưa
Lúa yêu cầu nhiều nước hơn các loại cây khác, lượng mưa cần thiết trung bìnhcho cây lúa trong mùa mưa từ 6 đến 7 mm/ngày, trong mùa khô từ 8 đến 9 mm/ngày.Một tháng cây lúa cần khoảng 200 mm nước, sự thiếu hụt hay dư thừa nước đều ảnhhưởng đến quá trình sinh trưởng và phát triển của cây lúa
Ánh sáng
Ảnh hưởng đến cây lúa trên hai mặt:
Cường độ ánh sáng ảnh hưởng đến quá trình quang hợp của cây lúa
Số giờ chiếu sáng trong ngày ảnh hưởng đến sự phát triển, ra hoa kết quả củalúa sớm hay muộn Cường độ ánh sáng thuận lợi cho lúa từ 250 - 400 calo/cm2/ngày
Nhiệt độ:
Ảnh hưởng đến quá trình sinh trưởng nhanh hay chậm của cây lúa, phát dục tốthay xấu Lúa sinh trưởng bình thường ở nhiệt độ 25 - 28oc, nếu nhiệt độ thấp hơn 17octhì sinh trưởng của lúa chậm lại, nếu thấp hơn 13oc thì lúa ngừng sinh tưởng, nếu nhiệt
độ thấp kéo dài vài ngày thì lúa có thể chết Nhiệt độ cao trong phạm vi 28 - 35oc thìlúa sinh trưởng nhanh nhưng chất lượng kém, nhiệt độ > 40oc thì cây lúa sinh trưởngnhanh nhưng tỷ trọng sản lượng xấu, nếu kéo theo gió lào, ẩm độ không khí thấp thìcây chết Mức độ ảnh hưởng cao hay thấp, mạnh hay yếu tùy thuộc vào giống lúa vàtùy thuộc vào giai đoạn sinh trưởng và phát triển của cây lúa Nhiệt độ thích hợp cholúa nảy mầm là 28 - 32oc , trổ bông phơi màu yêu cầu nhiệt độ từ 20 - 38oc Nhiệt độảnh hưởng đến quá trình ra hoa kết quả sớm hay muộn của cây lúa Một số giống lúamẫn cảm với nhiệt độ, khi tích lũy đến một lượng nhiệt độ (tổng tích ôn) nào đó thìchúng ra hoa kết quả, tổng tích ôn của giống ngắn ngày là 2000 - 2500oc, giống dàingày là 3000 - 3500oc
Đại học Kinh tế Huế
Trang 8này và 2 loài lúa được đã thuần hoá là lúa Châu Á (Oryza sativa) và lúa Châu Phi(Oryza glaberrima).
Lúa Châu Phi đã được gieo trồng trong khoảng 3.500 năm Trong khoảng thờigian từ 1500 TCN đến 800 TCN thì Oryza glaberrima đã lan rộng từ trung tâm xuấtphát của nó là lưu vực châu thổ sông Niger và mở rộng tới Sénégal và sau đó đượcđem trồng ở các khu vực lân cận
Tổ tiên của lúa Châu Á (Orazy sativa) là một loại lúa hoang phổ biến (Oryzarufipogon) dường như có nguồn gốc tại khu vực xung quanh chân núi Himalaya, với Orazysativa thứ indica ở phía Ấn Độ và Orazy sativa thứ japonica ở phía Trung Quốc Hiện nay đây
là giống lúa chính được gieo trồng làm cây lương thực trên khắp thế giới
Từ thời gian từ thế kỷ XVII cây lúa được nhập vào Mỹ và trồng ở các bang Virginia,Nam Carolina và hiện nay trồng nhiều ở California, Louisiana, Texac Theo hướng đông,đầu thế kỷ XI cây lúa từ Ấn Độ được nhập vào Indobexia, đầu tiên ở đảo Java
Đến thế kỷ XVIII cây lúa từ Iran nhập vào trồng ở Kuban (Nga) Cho đến nay,cây lúa đã có mặt trên tất cả các châu lục, bao gồm các nước nhiệt đới, á nhiệt đới vàmột số nước ôn đới Ở Bắc bán cầu cây lúa được trồng ở Đông Bắc Trung Quốc chotới Nam bán cầu - ở Châu Phi, Australia(New South Wales)
Ở Việt Nam, lúa cũng là một cây trồng chiến lược trong nền kinh tế quốc dân
và trong nông nghiệp nói riêng, sản lượng lúa không ngừng tăng lên hàng năm (năm
1990 là 19,224 triệu tấn, năm 1995 là 24,963 triệu tấn, năm 2000 là 32,529 triệu tấn,năm 2005 là 35,79 triệu tấn, năm 2007 là 37 triệu tấn)
1.2.2.3 Giá trị dinh dưỡng của cây lúa
Tinh bột: Chiếm 62.4% là nguồn chủ yếu cung cấp calo Giá trị nhiệt lượng
của lúa là 3594 calo Tinh bột được cấu tạo bởi amylose và amylopectin, amylose cócấu tạo mạch thẳng là có nhiều ở gạo tẻ, amylopectin có cấu tạo mạch ngang và cónhiều ở gạo nếp Hàm lượng amyloza trong hạt quyết định độ dẻo của hạt gạo Nếu hạt
có hàm lượng amyloza từ 10 - 18% thì gạo mềm dẻo, từ 25- 30% thì gạo cứng
Protein: Các giống lúa Việt Nam có hàm lượng protein chủ yếu trong
khoảng 7- 8%, các giống lúa nếp có hàm lượng protein cao hơn lúa tẻ
Lipit: Chủ yếu ở lớp vỏ gạo, nếu ở gạo xay là 2,02% thì ở gạo xát chỉ còn 0,52%.
Đại học Kinh tế Huế
Trang 9 Vitamin: Trong gạo có chứa một số vitamin, nhất là vitamin nhóm B như B1,
B2, B3, PP lượng vitamin B1 là 0.45mg/100hạt (trong đó ở phôi 47%, vỏ cám 34.5%,hạt gạo 3.8%)
1.2.2.4 Giá trị kinh tế của cây lúa
Trên thế giới, cây lúa được 250 triệu nông dân trồng, là lương thực chính của1.3 tỉ người nghèo nhất trên thế giới, là sinh kế chủ yếu của nông dân Là nguồn cungcấp năng lượng chủ yếu cho con người, bình quân 180-200 kg/người/năm tại các nướcChâu Á, khoảng 10kg/người/năm tại các nước Châu Mỹ Ở Việt Nam dân số trên 86triệu người và 100% người Việt Nam sử dụng lúa gạo làm lương thực chính Từ đócho thấy rằng vai trò của lúa gạo là hết sức quan trọng
Sản phẩm chính của cây lúa là làm lương thực, từ gạo có thể nấu cơm, chế biến thànhcác món ăn khác như: bánh đa nem, bánh phở, bánh đa, bánh chưng, phở, rượu, bánh rán
Sản phẩm phụ của cây lúa:
Tấm: Sản xuất tinh bột, rượu, Axeton, phấn mịn và thuốc chữa bệnh
Cám: Dùng để sản xuất thức ăn tổng hợp, sản xuất vitamin B1 để chữa bệnh têphù, chế tạo sơn cao cấp hoặc dùng làm nguyên liệu xà phòng
Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Thừa Thiên - Huế đã chỉ đạo các đơn
vị chức năng xây dựng các phương án điều tiết nước hợp lý để đảm bảo đủ nước cho
vụ Đông Xuân và Hè Thu; tăng cường giám sát đồng ruộng, dự báo tình tình sâu bệnh,kịp thời phòng trừ khi bệnh mới chớm xuất hiện; tăng cường cán bộ về cơ sở để đẩymạnh công tác tuyên truyền, vận động, hướng dẫn bà con nông dân thực hiện tốt côngtác chăm bón các loại cây trồng đúng với quy trình kỹ thuật Đồng thời, để khắc phục
Đại học Kinh tế Huế
Trang 10những khó khăn về thời tiết, các địa phương trong tỉnh đang tích cực khắc phục thiệthại, quyết tâm giành thắng lợi sản xuất trong năm 2011.
1.1.4 Kỹ thuật thâm canh cây lúa
Kỹ thuật làm đất: Thường áp dụng hai phương pháp làm ải và làm dầm
Làm ải: Đất được cày ở độ ẩm 70- 80%, sau đó không cho nước vào để đấtkhô ải, thời gian phơi ải từ 12 - 14 ngày, khi bừa cấy cho nước vào ồ ạt không chothiếu nước đất sẽ bị chai khó làm đất tiến hành bừa hoặc lòng, phai 3 - 4 lượt tùy theođất nặng hay nhẻ Sau khi bừa đất phải nhuyễn, sạch cỏ, phẳng
Làm dầm: thường áp dụng cho vụ mưa nhiều đất không thể phơi ải Sau khicày không được để đất khô phải cho nước vào ngay “ ải thâm không bằng dầm ngấu”
Kỹ thuật gieo trồng:
Vụ Hè Thu, vụ Mùa ngâm 24 – 36 h đối với lúa thuần và 12 - 18 h đối với lúa lai
Vụ Đông Xuân ngâm 37 – 42h đối với lúa thuần và ngâm từ 24 -36h đối vớilúa lai Ngâm đến khi hạt thóc có phôi mầm màu trắng là được
Mật độ gieo trồng lúa
Gieo mạ: điều kiện nhiệt độ thấp (vụ Đông Xuân) thường gieo dày 80 – 120kg/sào 1600 – 2400 kg/ha Vụ mùa, vụ Hè Thu do nhiệt độ cao, mạ sinh trưởng thuậnlợi thường áp dụng mật độ 60 – 80 kg/sào tức 1200 – 1600 kg/ha
Lượng hạt gieo cho một ha lúa cấy các giống lúa lai 24- 30 kg (1.2 - 1.5 kg/sào)
Mật độ cấy:
Đối với lúa thuần:
Vụ Hè Thu, vụ mùa: cấy 45 - 50 khóm/m2
, 3 -4 nhánh/khóm+ Vụ Đông Xuân: cấy 45 - 50 khóm/m2, 3 -4 nhánh/khóm
Đối với lúa lai
Vụ Hè Thu, vụ mùa: cấy 45 - 46 khóm/m2
Đại học Kinh tế Huế
Trang 11 Kỹ thuật chăm sóc sau khi cấy:
Sau khi cấy được 3 ngày thì tiến hành phun thuốc diệt cỏ Từ 5 - 7 ngày nếu cósâu bệnh thì phun thuốc sâu, sau 10 ngày bón phân đợt một ( bón lót bằng phân Lân),
10 ngày tiếp theo bón phân đợt 2 (Ure), đợt 3 : lượng phân bón đạt cao nhất trong cảthời kỳ, giai đoạn này thường bón phân Ure và phân Kali
Đợt 3 cách đợt hai 20 ngày Đợt 4 (bón thúc): Bón Kali, Ure, đợt này cách đợt
ba 50 ngày
1.2 Cơ sở thực tiễn
1.2.1 Tình hình sản xuất lúa gạo trên thế giới 2010
Trên thế giới lúa chiếm một vị trí quan trọng đặc biệt ở vùng Châu Á Ở Châu
Á lúa là món ăn chính giống như bắp của dân Nam Mỹ, hạt kê của dân Châu Phi hoặclúa mì của dân Châu Âu và Bắc Mỹ
Thống kê của tổ chức lương thực thế giới (FAO, 2008) cho thấy có 114 nướctrồng lúa, trong đó có 18 nước trồng lúa có diện tích trên 1000.000 ha tập trung ở ChâuÁ , 31 nước trồng lúa có diện tích khoảng 100.000 ha - 1000.000 ha Trong đó có 27nước có năng suất trên 5 tấn/ha, đứng đầu là Ai Cập (9.7 tấn/ha), Úc (9.5 tấn/ha), ElSalvador(7.9 tấn/ha)
Thống kê của tổ chức lương thực thế giới (FAO, 2008), cho thấy diện tích trồng lúa
đã gia tăng rõ rệt từ năm 1961 đến 1980 Trong vòng 19 năm đó diện tích trồng lúa trên thếgiới tăng bình quân 1.53 triệu ha/năm Từ năm 1980 diện tích trồng lúa tăng chậm và đạt địnhcao vào năm 1999 (156.8 triệu ha) với tốc độ tăng trưởng bình quân 630.000 ha/năm Từ năm
2000 trở đi diện tích trồng lúa thế giới có nhiều biến động và có xu hướng giảm dần đến năm
2005 còn ở mức 155.1 triệu ha Từ năm 2005 đến 2008 diện tích lúa gia tăng liên tục đạt159.0 triệu ha cao nhất kể từ năm 1995 trở lại đây
Bên cạnh diện tích trồng lúa, năng suất lúa thế giới cũng tăng 1.4 tấn/ha trongvòng 24 năm từ 1961 đến 1985, đặc biệt sau cuộc cách mạng xanh của thế giới vàonhững năm 1965 - 1970, với sự ra đời của các giống lúa thấp cây, ngắn ngày, khôngquang cảm, mà tiêu biểu là giống lúa IR5, IR Đến những năm 1990 dẫn đầu sản xuấtlúa trên thế giới là các nước Triều Tiên, Úc, Nhật Bản, Mỹ, Tây Ban Nha (IRRI,
Đại học Kinh tế Huế
Trang 121990) Từ năm 1990 trở đi đến tại thời điểm hiện nay năng suất lúa luôn được cải thiệnđạt 4,3 tấn/ ha năm 2008.
Tình hình nhìn chung năng suất các nước trong 8 năm (2000 - 2008) cho thấynăng suất lúa cao tập trung ở các quốc gia có nhiệt độ ngày và đêm cao hơn và trình độcanh tác phát triển tốt hơn Các nước nhiệt đới có năng suất bình quân thấp do chế độnhiệt và ẩm độ cao, sâu bệnh phát triển mạnh và trình độ canh tác hạn chế, ở Úc (9,5tấn/ha), El Salvador (7,9 tấn/ha), Uruguay (7,9 tấn/ha) có mức tăng năng suất lúa lênhơn 1 tấn/ha trong những năm gần đây vươn lên vị trí thứ 2, thứ 3, thứ 4 trên thế giớicùng với một số nước khác là Morocco, Iran, Triều Tiên, Thổ Nhĩ kỳ, Ukraine,Tajikistan, Macedonia
Tình hình nhìn chung của các nước có diện tích trồng lúa nhiều nhất thế giớinăm 2008 Đứng đầu vẫn là 8 nước Châu Á là Ấn Độ, Trung Quốc, Indonesia,Bangladesh, Thái Lan, Myanmar, Việt nam, Philippines Tuy nhiên chỉ có hai nước cónăng suất cao hơn 5 tấn/ha là Trung Quốc và Việt Nam Mặc dù năng suất lúa của cácnước Châu Á vẫn còn thấp nhưng do diện tích sản xuất lớn nên Châu Á vẫn là nguồnđóng góp rất quan trọng cho sản lượng lúa thế giới ( trên 90%) Như vậy có thể nóiChâu Á là vựa lúa lớn quan trọng nhất thế giới
Đối với tình hình sản xuất gạo năm 2008, Thái Lan vẫn là nước xuất khẩu gạodẫn đầu thế giới 9 triệu tấn hơn Việt Nam đứng thứ hai (3,8 triệu tấn) về cả số lượng
và giá trị, chiếm 31% sản lượng suất khẩu gạo trên thế giới, 38,8% sản lượng xuấtkhẩu gạo của Châu Á mặc dù năng suất lúa chỉ khoảng 3 tấn/ha, ưu thế này do có thịtrường truyền thống rộng hơn, và chất lượng gạo cao hơn Pakistan, Mỹ, Ấn Độ cũng
là những nước xuất khẩu gạo quan trọng Theo IRRI, lúa gạo sản xuất ra chủ yếu là đểtiêu dùng nội địa, chỉ có khoảng 6-7% tổng sản lượng lúa gạo trên thế giới được lưuthông trên thị trường quốc tế (IRRI, 2005)
Dự đoán tình hình lúa gạo thế giới từ các chuyên gia cho 10 năm tới lúa gạovẫn luôn phải được quan tâm Theo Wailes và Chavez (2006) nhận xét trong vòng 10năm tới, năng suất lúa thế giới tiếp tục tăng bình quân trên 0,7% hằng năm, trong đó70% tăng trưởng về sản lượng lúa thế giới sẽ từ Ấn Độ (37%) Indonesia, Việt Nam,Thái Lan, Myanmar và Nigeria Tuy nhiên do tốc độ tăng dân số nhanh hơn nên hằng
Đại học Kinh tế Huế
Trang 13năm mức tiêu thụ gạo bình quân đầu người sẽ giảm khoảng 0,4 % mỗi năm Ấn Độ vàTrung Quốc vẫn sẽ là các nước tiêu thụ gạo nhiều nhất và ước khoảng 50% lượng gạotiêu thụ toàn thế giới Giá gạo thế giới sẽ tăng bình quân 0,3% mỗi năm và lượng gạolưu thông cũng gia tăng trung bình 1,8% mỗi năm Khoảng năm 2016, lượng gạo traođổi toàn cầu sẽ đạt 33,4 triệu tấn (17% cao hơn mức kỷ lục năm 2002) Dù vậy, lượnggạo lưu thông trên thị trường thế giới cũng chỉ chiếm khoảng 7,5% lượng gạo tiêu thụhàng năm Nhu cầu nhập khẩu gạo trong 10 năm tới của các nước Châu Phi và TrungĐông dự đoán sẽ chiếm gần 42% lượng gạo nhập khẩu trên thế giới Nigeria dự đoán
sẽ nhập khẩu 2,4 triệu tấn vào năm 2016 Sản xuất lúa ở Trung Đông bị trở ngại dothiếu nước, nên các nước Iran, Iraq, Saudi Arabia và Ivory Coast vẫn tiếp tục gia tăngnhập khẩu do tăng dân số và tăng mức tiêu thụ gạo bình quân đầu người Cũng trongkhoảng thời gian này, gần 30 % sản lượng gạo nhập khẩu của thế giới sẽ thuộc về cácnước EU, Mexico Hàn Quốc và Philippines
Dân số thế giới theo liên hiệp quốc ước lượng trên cơ sở dữ liệu quốc tế (IDB)
sẽ là 7 tỷ năm 2011, châu Á chiếm khoảng 60% dân số thế giới khoảng 3,8 tỷ, châuPhi 1 tỷ chiếm 14%, Châu Âu 731 triệu chiếm 11%, Bắc Mỹ 514 triệu chiếm 8%, Nam
Mỹ 371 triệu chiếm 5,3% Châu Úc 21 triệu chiếm 0,3 % Theo thống kê của FAOnăm 2009 đã có 1.02 tỷ người thiếu đói (chiếm 14%) tập trung ở hai khu vực chính làChâu Á và Châu Phi
Theo số liệu của Bộ Nông Nghiệp Mỹ (USDA, 2007), tổng nhu cầu tiêu thụ gạotrung bình hằng năm của cả thế giới ước từ 410 triệu tấn (2004-2005), đã tăng lên đếnkhoảng 424,5 triệu tấn (2007), trong khi tổng lượng gạo sản xuất của cả thế giới luônthấp hơn nhu cầu này Cũng theo cơ quan này, hằng năm thế giới thiếu khoảng 2-4triệu tấn gạo, đặc biệt năm 2003-2004 sự thiếu hụt này lên tới 21 triệu tấn
1.2.2 Tình hình sản xuất lúa gạo ở Việt Nam
Ở Việt Nam, trồng lúa là một nghề truyền thống từ xưa Theo thống kế củaFAO năm 2008, Việt Nam có diện tích lúa khoảng 7,4 triệu ha đứng thứ 7 sau cácnước có diện tích lúa trồng nhiều ở Châu Á theo thứ tự Ấn Độ (~44.0 triệu ha), Trung
Đại học Kinh tế Huế
Trang 14Quốc (~29.5 triệu ha), Indonesia (~12.3 triệu ha), Bangladesh (~11.7 triệu ha), TháiLan (~10.2 triệu ha), Myanmar (~8.2 triệu ha) Việt Nam có năng suất 5,2 tấn/ha đứngthứ 24 trên thế giới sau Ai Cập (9,7 tấn/ha) Úc (9,5 tấn/ha) El Salvador (7,9 tấn/ha),đứng đầu khu vực Đông Nam Á và đứng thứ 4 trong khu vực châu Á sau Hàn Quốc(7,4 tấn/ha), Trung Quốc (6,6 tấn/ha), Nhật (6,5 tấn/ha) Có mức tăng năng suất trong
8 năm qua là 0,98 tấn/ha đứng thứ 12 trên thế giới và đứng đầu của 8 nước có diện tíchlúa nhiều ở Châu Á về khả năng cải thiện năng suất lúa trên thế giới Việt Nam vượttrội trong khu vực Đông Nam Á nhờ thuỷ lợi được cải thiện đáng kể và áp dụng nhanhcác tiến bộ kỹ thuật về giống, phân bón, và bảo vệ thực vật
Theo thống kế của FAO năm 2008, Việt Nam có tổng sản lượng lúa hàng nămđứng thứ 5 trên thế giới, nhưng lại là nước xuất khẩu gạo đứng thứ 2 (5,2 triệu tấn) sauThái Lan (9,0 triệu tấn), chiếm 18% sản lượng xuất khẩu gạo thế giới, 22,4% sảnlượng xuất khẩu gạo của châu Á, mang lại lợi nhuận 1275,9 tỷ USD năm 2006
Theo số liệu thống kê của FAO (2011) so sánh diện tích canh tác và sản lượnggiữa lúa và các cây lương thực khác ở Việt Nam năm 2008 thì lúa gạo vẫn là sản phẩm cầnđược ưu tiên hàng đầu vì diện tích nhiều nhất cả nước hơn bắp và sắn, sản lượng đứng đầuhơn khoai lang và cây sắn Đáng chú ý là năng suất lúa được cải thiện đáng kể
Qua các giai đoạn lịch sử cải thiện đời sống của nhân dân cho thấy quan tâmcủa nhà nước đối với sản xuất lúa gạo Trước năm 1975, năng suất gạo đạt dưới 2,2tấn/ha, diện tích trồng lúa dưới 5,0 triệu ha Năng suất bình quân trong cuối thập nhiên
1970 giảm sút khá nghiêm trọng do đất đai mới khai hoang chưa được cải tạo, thiên tai
và sâu bệnh, với cơ chế quản lý nông nghiệp trì trệ không phù hợp đặc biệt là nhữngnăm 1978 - 1979 Bước sang thập niên 1980, năng suất lúa tăng dần do các công trìnhthuỷ lợi trong cả nước, đặc biệt ở ĐBSCL Cơ chế quản lý nông nghiệp thoáng hơn vớichủ trương khoán sản phẩm trong sản xuất nông nghiệp Năm 1982, nước ta đã chuyển từnước phải nhập khẩu gạo hàng năm sang nước tự túc gạo Từ năm 1975 đến năm 1990,trong vòng 15 năm diện tích lúa tăng gần 1 triệu ha đạt 6,0 triệu ha với năng suất tăng gần
1 tấn/ha đạt 3,2 tấn/ha Kể từ lúc gạo Việt Nam tái nhập thị trường thế giới năm 1989 thì
Đại học Kinh tế Huế
Trang 15năm 1990 đã đứng vị trí xuất khẩu gạo thứ 4 sau Thái Lan, Pakistan và Mỹ, đến năm 1991lên ở vị trí thứ 3 và tiếp tục lên hạng vào năm 1995 ở vị trí xuất khẩu gạo thứ 2 thế giới
Từ năm 1990 đến 2005, cũng trong vòng 15 năm nhưng diện tích lúa tăng gần 1,3 triệu hađạt 7,3 triệu ha với năng suất tăng gần 1,7 tấn/ha đạt 4,9 tấn/ha và mức gia tăng năng suấtvẫn tiếp tục cải thiện
Kết quả phân tích cho thấy, thị trường xuất khẩu gạo chính của Việt Nam trong
15 năm qua, thứ nhất là các quốc gia Đông Nam Á (chiếm khoảng 40-50% lượng gạoxuất khẩu, thứ hai là các quốc gia Châu Phi (chiếm khoảng 20-30%, một thị trườngkhá ổn định Các thị trường khác là Trung Đông và Bắc Mỹ, nhưng lượng gạo xuấtkhẩu sang các nước này không ổn định, đặc biệt là trong giai đoạn 2001-2004 Trongnhững năm qua, gạo xuất khẩu của VN tăng trưởng về số lượng và chất lượng cũngnhư mở rộng thị trường Đến năm 2003, ngoài các thị trường truyền thống của ViệtNam như là Philipines), Việt Nam đã mở rộng và phát triển thêm một số thị trườngtiềm năng như Châu Phi, Mỹ Latinh và EU Yếu tố quan trọng ảnh hưởng các doanhnghiệp xuất khẩu gạo của Việt Nam là ít kinh nghiệm nên thiếu khả năng duy trì vàkhai thác các thị trường nhiều biến động Nếu có mối liên kết tốt hơn và tổ chức thịtrường tốt, họ sẽ nâng cấp hạng ngạch và giá trị xuất khẩu gạo của Việt Nam
Đối với vựa lúa lớn nhất cả nước đồng bằng sông Cửu Long, từ năm 1975 đếnnăm 2008 có những bước tiến rõ rệt Từ vùng lúa nổi mênh mông An Giang, ĐồngTháp, vùng trũng phèn Đồng Tháp Mười, Tứ giác Long Xuyên, với chỉ một vụ lúamùa, năng suất thấp và bấp bênh nay đã chuyển dần thành vùng lúa 2-3 vụ ngắn ngàynăng suất cao, ổn định, cộng với những hệ thống canh tác đa dạng, đã góp phần rấtđáng kể vào sản lượng lương thực và lượng nông sản hàng hoá xuất khẩu hàng nămcủa cả nước Năng suất bình quân cả năm của toàn đồng bằng đã gia tăng từ 2,28tấn/ha ( 1980) đến 3,64 tấn/ha (1989) 5,0 tấn/ha (2005) 5,3 tấn/ha (2008)
Hiện nay, ĐBSCL có tổng diện tích gieo trồng lúa gần 3,9 triệu ha chiếm 53,4%diện tích gieo trồng lúa cả nước, cung cấp 20,7 triệu tấn lúa trong tổng sản lượng 38,7triệu tấn lúa của cả nước chiếm tỷ lệ 53,5 %
Đại học Kinh tế Huế
Trang 161.2.3 Tình hình sản xuất lúa của Tỉnh
Bảng 1: Diện tích, năng suất, sản lượng lúa của Tỉnh
Lúa cả năm
Diện tích Sào 51,826 51,684 51,316 50,457 50,241 50,419 50,846Năng suất Tạ/sào 40,70 45,60 48,00 46,60 50,30 51,50 54,00Sản lượng Tấn 210,829 235,736 246,490 235,029 252,604 259,684 274,813
Vụ Đông Xuân
Diện tích Sào 26,604 26,647 26,323 25,924 25,661 25,731 25,797Năng suất Tạ/sào 45,90 49,00 50,50 45,60 53,90 53,80 54,90Sản lượng Tấn 122,003 130,656 132,922 118,306 138,315 138,534 141,501
Vụ Hè Thu
Diện tích Sào 25,223 25,037 24,993 24,533 24,580 24,688 24,352Năng suất Tạ/sào 35,20 42,00 45,40 47,60 46,50 49,90 54,30Sản lượng Tấn 88,826 105,080 113,568 116,723 114,289 121,150 132,204
Lúa cả năm Sào 51,826 51,684 51,316 50,457 50,241 50,419 50,846
( Nguồn: Cục thống kê tỉnh Thừa Thiên Huế)
Nhìn vào bảng trên ta thấy được rằng từ năm 2002 đến năm 2006 diện tíchtrồng lúa giảm từ 51.826 ha xuống còn 50.241 ha Điều này cho thấy rằng quá trình đôthị hóa cũng như quá trình chuyển đổi cây trồng vật nuôi đã làm cho diện tích sản xuấtlúa giảm xuống Tuy nhiên, năm 2007 diện tích gieo trồng lúa đã có xu hướng tănglên Mặc dù diện tích trồng lúa giảm xuống nhưng năng suất lúa lại không ngừng tănglên từ 40,7 tạ/ha năm 2002 lên đến 51,5 tạ/ha năm 2007 Điều này cho thấy tỉnh đã có
sự quan tâm thích đáng đến bà con nông dân bằng những chính sách nhằm hỗ trợ chosản xuất nông nghiệp như khuyến nông, cung cấp vốn…để cho nông dân có điều kiện
để tăng cường thâm canh tăng năng suất
Nói tóm lại tình hình sản xuất lúa ở tỉnh Thừa Thiên Huế trong những năm qua
đã có sự tăng trưởng và tiến bộ trong cách sản xuất của người dân Mặc dù diện tíchtrồng lúa bị thu hẹp nhưng năng suất trồng lúa ngày một tăng lên
Đại học Kinh tế Huế
Trang 171.2.4 Tình hình sản xuất lúa của Huyện
Phú Vang là một huyện của Tỉnh Thùa Thiên Huế, đất đai bằng phẳng, màu mỡthuận lợi cho phát triển nông nghiệp, đặc biệt là trồng lúa
Bảng 2: Diện tích, năng suất, sản lượng lúa của Huyện qua 3 năm
(Nguồn số liệu báo cáo UBND huyện Phú Vang năm 2010)
Về cơ bản theo xu hướng thời gian thì diện tích năng suất và sản lượng có xuhướng tăng lên theo thời gian, đây là một dấu hiệu đáng mừng cho những người nôngdân bởi lẽ với sự biến động và thay đổi mang tính thất thường của khí hậu trong nhữngnăm qua đã làm ảnh hưởng rất nhiều đến thu nhập và chất lượng cuộc sống của ngườidân cư trú trên địa bàn
1.3 Hệ thống các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh tế
1.3.1 Chỉ tiêu phản ánh mức độ đầu tư của các nông hộ
Chi phí đầu tư phân bón trên sào (tính cho từng loại phân cụ thể)
Chi phí thuốc hóa học trên sào
Chi phí lao đồng trên sào
Chi phí thủy lợi trên sào
Chi phí làm đất trên sào
Chi phí tuốt lúa trên sào
1.3.2 Chỉ tiêu đánh giá kết quả sản xuất
Giá trị sản xuất (GO): là giá trị bằng tiền toàn bộ sản phẩm thu được trênmột đơn vị diện tích canh tác trong một chu kỳ sản xuất nhất định
GO được tính theo công thức:
Trang 18 Chi phí trung gian (IC): Là những khoản chi phí vật chất và dịch vụ được
sử dụng trong quá trình sản xuất ra sản phẩm nông nghiệp
Giá trị gia tăng (VA): Là kết quả cuối cùng thu được sau khi đã trừ đi chi phítrung gian của một hoạt động sản xuất kinh doanh nào đó
VA = GO - IC
1.3.3 Chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh tế sản xuất lúa
Giá trị gia tăng trên một đơn vị sản xuất (VA/GO): Một đồng giá trị sản xuấtlúa tạo ra được bao nhiêu đồng giá trị gia tăng
Giá trị gia tăng trên chi phí trung gian (VA/IC): Một đồng chi phí trung gian
bỏ vào trong quá trình sản xuất lúa tạo ra được bao nhiêu đồng giá tri gia tăng
Giá trị sản xuất trên chi phí trung gian ( GO/IC): Một đồng chi phí trunggian bỏ vào trong quá trình sản xuất lúa tạo ra được bao nhiêu đồng giá trị sản xuất
Đại học Kinh tế Huế
Trang 19CHƯƠNG II HIỆU QUẢ SẢN XUẤT LÚA TRÊN ĐỊA BÀN XÃ VINH THÁI
HUYỆN PHÚ VANG TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
2.1 Đặc điểm của địa bàn nghiên cứu
2.1.1 Điều kiện tự nhiên
2.1.1.1 Vị trí địa lý
Vinh Thái là một trong những xã nằm trong vùng Bãi ngang ven biển thuộchuyện Phú Vang, là xã đồng bằng chiêm trũng ven phá Tam Giang, nằm về phía TâyNam huyện Phú Vang Với tổng diện tích tự nhiên là 1.978,18 ha, ranh giới hành chínhđược giới hạn như sau: Phía Bắc giáp xã Phú Đa, phía Nam giáp xã Vĩnh Hà, phíaĐông giáp xã Vinh Phú, phía Tây giáp thị xã Hương Thủy
2.1.1.2 Địa hình, địa mạo
Là một xã ven biển đầm phá của huyện Phú Vang, Vinh Thái có địa hình tươngđối bằng phẳng, ít bị chia cắt và nghiền dần theo hướng Tây Nam Nhìn chung địahình xã Vinh Thái mang đặc điểm chung của vùng canh tác lúa nước, hàng nămthường xuyên bị ngập úng (với mức độ ngập nông) vào mùa mưa, ảnh hưởng đến việcsản xuất nông nghiệp và xây dựng cơ sở hạ tầng
2.1.1.3 Khí hậu
Là xã nằm trong vùng đồng bằng ven biển miền Trung nên Vinh Thái chịu sựchi phối chung của khí hậu nội chí tuyến nhiệt đới gió mùa có ảnh hưởng khí hậu đạidương vì vậy những đặc trưng chủ yếu về khí hậu thời tiết là:
Nhiệt độ
Nhiệt độ trung bình năm đạt 250C
Nhiệt độ cao nhất vào các tháng 5, 6, 7 và 8
Nhiệt độ cao tuyệt đối năm: 38,90C
Nhiệt độ thấp nhất vào các tháng 12, tháng 1 và tháng 2 năm sau Nhiệt độ thấptuyệt đối: 10,20C
Đại học Kinh tế Huế
Trang 20 Mưa
Lượng mưa trung bình năm khoảng 2449 mm
Mùa mưa bắt đầu từ tháng 9 và kết thúc vào tháng 2 năm sau Đỉnh mưa dịchchuyển trong 4 tháng là từ tháng 9 đến tháng 12, riêng tháng 11 có lượng mưa nhiềunhất chiếm tới 30% lượng mưa cả năm
Khả năng bốc hơi trung bình năm là 977 mm/năm Lựợng bốc hơi nhiều nhất là
tư tháng 5 đến tháng 8 (tháng 7 là 138 mm), tháng có lượng bốc hơi ít nhất là tháng 2cũng đạt 39,6 mm
Gió, bão
Xã Vinh Thái chịu ảnh hưởng của hai hướng gió chính:
- Gió mùa Tây Nam: Bắt đầu từ tháng 4 đến tháng 8, tốc độ gió bình quân 2 - 3m/s có khi lên tới 7 - 8 m/s Mùa này gió thường khô nóng, bốc hơi mạnh nên gây khôhạn kéo dài
- Gió mùa Đông Bắc: Bắt đầu từ tháng 9 đến tháng 3 năm sau, tốc độ gió bìnhquân từ 4 - 6 m/s Gió kèm theo mưa làm cho khí hậu lạnh, ẩm, dễ gây lũ lụt, ngập úng
Trang 212.1.2 Điều kiện kinh tế xã hội
Xã Vinh Thái có dân số là 6360 người trong đó số lao động là: 2522 lao động,toàn xã có 1329 hộ Xã có 09 thôn, mật độ dân số 162 người/km2
Ngành nghề chính của người dân ở đây là sản xuất nông nghiệp, độc canh câylúa là chủ yếu Vinh Thái là một xã hiếu học của huyện Phú Vang, cơ sở hạ tầng cònhạn chế Đặc biệt là hệ thống trường học, lớp học của xã Hiện nay, một số cơ sở vậtchất của trường trung học cơ sở ở xã mới được xây dựng vào năm 2008 được trang bị
đồ dùng dạy học còn thiếu, đặc biệt là nhà công vụ giáo viên Ngoài ra, công cụ phục
vụ cho việc dạy và học của giáo viên và học sinh còn hạn chế điều này ảnh hưởng đếnchất lượng dạy và học của trường trung học cơ sở
2.1.2.1 Dân số và lao động
Công tác dân số kết hợp với lồng ghép các dịch vụ kế hoạch hóa gia đình đượcduy trì thường xuyên Kết quả, tỷ suất tăng hằng năm đều giảm, tỷ suất tăng dân số tựnhiên giảm còn 1.07% Tuy nhiên, việc giảm tỷ suất sinh hằng năm chưa được vữngchắc, tỷ lệ sinh con thứ 3 trở lên giảm chậm
Theo số liệu thống kê dến 30/05/2021, dân số toàn xã là 6335 người với 1415
hộ gia đình (quy mô hộ: 4.5 người/hộ)
Bảng 3: Dân số và lao động của xã năm 2010
(Nguồn báo cáo UBND vã Vinh Thái năm 2010)
Trong những năm gần đây, nguồn lao động của xã tăng lên đáng kể; toàn xãhiện có 3.581 lao động, chiếm 53.6% tổng dân số
Toàn xã có 750 hộ sống chuyên sản xuất nông nghiệp và NTTS; 162 hộ TTCN;
147 hộ dịch vụ và 356 hộ vừa sản xuất nông nghiệp vừa làm các ngành nghề khác
Đại học Kinh tế Huế
Trang 22Để sử dụng tốt về tiềm năng lao động, trong những năm qua xã đã xây dựngnhiều phương án, khuyến khích và tạo điều kiên về vốn để các thành phần kinh tếtham gia phát triển sản xuất, kinh doanh trên nhiều lĩnh vực Song thực tế, tình trạngkhông có hoặc thiếu việc làm của lực lượng lao động nông dân ở khu vực nông thônvẫn đang là vấn đề bức xúc Vì vậy trong điều kiện khi ngành công nghiệp vẫn làngành kinh tế chiếm vai trò chủ đạo thì việc chuyển đổi cơ cấu mùa vụ, cây trồng vậtnuôi, đồng thời mở rộng phát triển các ngàng nghề khác sẽ là vấn đề then chốt, tạocông ăn việc làm và tăng thu nhập cho người dân.
2.1.2.2 Tình hình sử dụng đất đai
Theo kết quả điều tra hiện trạng sử dụng đất thì tính đến 01/01/2010 diện tích đất
tự nhiên của toàn xã là 1987.18 ha, bao gồm đất nông nghiệp và đất phi nông nghiệp
Tổng diện tích đất nông nghiệp trong toàn xã đến năm 2010 có 1134.83 hachiếm 57.37% tổng diện tích đất tự nhiên, cụ thể các loại đất nông nghiệp và đất phinông nghiệp như sau:
Bảng 4:Diện tích, cơ cấu đất nông nghiệp năm 2010 của xã Vinh Thái
- Đất xây dựng trụ sở cơ quan, công
trình sự nghiệp
(Nguồn báo cáo UBND xã Vinh Thái 2010)
Đại học Kinh tế Huế
Trang 23- Đất lúa nước đến năm 2010 có 1008.96 ha, chiếm 88.91% tổng diện tích đất nông nghiệp.
- Đất trồng cây hàng năm còn lại đến năm 2010 có 46.47 ha, chiếm 4.09% tổngdiện tích nông nghiệp
- Đất trồng cây lâu năm đến năm 2010 có 27.45 ha, chiếm 2.42% tổng diện tíchđất nông nghiệp
- Đất rừng trồng sản xuất đến năm 2010 có 36.02 ha, chiếm 3.17% đất nông nghiệp
- Đất nuôi trồng thủy sản đến năm 2010 có 13.43 ha, chiếm 1.19% diện tích đấtnông nghiệp
- Đất nông nghiệp khác đến năm 2010 có 2.4 ha, chiếm 0.21% diện tích đấtnông nghiệp
Theo kết quả kiểm kê, diện tích đất phi nông nghiệp của xã đến 01/01/2010 có598.05 ha chiếm 30.23% tổng diện tích đất tự nhiên của xã, cụ thể như sau:
- Đất xây dựng trụ sở cơ quan, công trình sự nghiệp 0.57 ha, chiếm 0.10% diệntích đất phi nông nghiệp của xã; diện tích này được bố trí để trụ xây sở làm việc của
xã Qua điều tra khảo sát thì tỷ lệ chôn cất trên đất nghĩa trang, nghĩa địa hiện tạikhoảng 60 - 70% Trong thời gian tới địa phương cần có biện pháp quản lý chặt chẽhơn về sử dụng đất nghĩa trang, nghĩa địa; cần khoanh định các khu vực để tránh sựlãng phí trong việc sử dụng đất trên địa bàn
- Đất có mặt nước chiếm dùng là 0.55 ha, chiếm 0.09% tổng diện tích đất phinông nghiệp của xã
- Đất sông suối là 128.28 ha, chiếm 21,45% tổng diện tích đất phi nông nghiệpcủa xã
Đại học Kinh tế Huế
Trang 24- Đất phát triển hạ tầng là 216.04 ha, chiếm 36.12% tổng diện tích đất phi nôngnghiệp của xã.
Đây là loại đất rất quan trọng của xã để bố trí xây dựng các công trình cơ sở hạtầng của xã như: giao thông, trường học, trạm y tế, thể dục thể thao, chợ, Hiện tại,loại đất này đang sử dụng có hiệu quả và mang lại nhiều lợi ích kinh tế xã hội cho xã.Trong đó:
+ Đất giao thông: 108.04 ha
+ Đất thủy lợi: 99.74 ha
+ Đất công trình bưu chính viễn thông: 0.006 ha
+ Đất cơ sở văn hóa: 0.27 ha
+ Đất cơ sở y tế: 0.4 ha
+ Đất cơ sở Giáo dục - đào tạo: 5.4 ha
+ Đất cơ sở thể dục - thể thao: 2.82 ha
+ Đất chợ: 0.31 ha
Đất chưa sử đụng
Hiện tai, đất chưa sử dụng trên địa bàn xã là 55.61 ha, chiếm 2.81% tổng diệntích đất tự nhiên của xã Trong thời gian tới địa phương cần có các biện pháp, chínhsách để khai thác triệt để các diện tích đất chưa sử dụng nói trên để góp phần thúc đẩyphát triển nền kinh tế xã hội của xã
Đất khu dân cư nông thôn
Nhìn chung đất ở khu dân cư của xã được phân bố khá tập trung cho các thôn
và giao cho các hộ gia đình sử dụng ổn định lâu dài Hiên nay, diện tích đất ở nôngthôn của xã là 189.69 ha, chiếm 9.59% tổng diện tích tự nhiên của xã Bình quân diệntích đất ở trên đầu người là 299.4 mình/người
Trong tương lai diện tích đất ở trên địa bàn xã sẽ tiếp tục tăng do đó cũng cầnphải điều chỉnh sắp xếp lại cơ cấu đất ở nông thôn để tăng hiểu quả sử dụng, tránhviệc chuyển quá nhiều diện tích đất nông nghiệp sản xuất nông nghiệp có hiệu quảsang đất ở
Nhận xét chung
Từ những thực trạng trên có thể rút ra một số nhận xét về tình trạng quản lý, sửdụng đất đai ở xã Vinh Thái trong những năm qua như sau:
Đại học Kinh tế Huế
Trang 25+ Công tác giao đất, thu hồi đất được thực hiện kịp thời, đáp ứng được nhu cầu
về sử dụng đất của các chủ sử dụng đất, các ngành sản xuất Việc đền bù thu thuếchuyển quyền sử dụng đất được thực hiện đầy đủ, hợp lý, đảm bảo công bằng
+ Công tác đăng ký đất đai, lập hồ sơ địa chính, cấp giấy CNQSDĐ được huyệnquan tâm chỉ đạo, giúp đỡ về chuyên môn, nghiệp vụ, xã đã thực hiện khá tốt
+ Công tác thanh tra, kiểm tra đất đai và giải quyết các khiếu nại tố cáo củanhân dân luôn được UBND xã kết hợp với các cơ quan chức năng giải quyết theo đúngthủ tục, trình tự thẩm quyền và đúng pháp luật, đảm bảo công bằng và ổn định xã hội
+ Công tác thống kê, kiểm kê đất đai được làm kịp thời, góp phần hạn chế việc
sử dụng đất không đúng mục đích và hạn chế được hiện tượng tranh chấp đất đai, đồngthời hoàn thiên dần hệ thống số liệu làm cơ sở cho công tác quản lý Nhà nước về đấtđai được tốt hơn
- Mở rộng đất chuyên dùng, đất ở nhằm hoàn thiện phân bố các điểm dân cư, hệthống cơ sở hạ tâng tương ứng với yêu cầu phát triển kinh tế cho các giai đoạn kế tiếp
- Hiệu quả sử dụng các loại đất không ngừng tăng lên Mặc dù diện tích đấtcanh tác bị giảm do chuyển sang mục đích phi công nghiệp, nhưng diện tích gieo trồngkhông giảm, có xu thế ngày càng tăng và vẫn đảm bảo an toàn lương thực trên địa bàn xã
Những tồn tại
- Quý đất để mở rộng sản xuất nông nghiệp tương đối hạn chế, trong khi đó nhucầu đất ở, đất sản xuất và xây dựng cơ sở hạ tầng ngày càng tăng Thực tế trên là gánhnặng đối với chính quyền địa phương
- Công tác quản lý đất đai tuy đã có nhiều cố gắng những vẫn còn nhiều khókhăn, hệ thống tài liệu quản lý đất đai như bản đồ, sổ sách, hồ sơ pháp lý chưa đồng
bộ, công tác lưu trữ tài liệu, số liệu chưa đáp ứng với yêu cầu quản lý hiện nay
Đại học Kinh tế Huế
Trang 262.1.2.3 Cơ cấu kinh tế
Trong những năm qua mặc dù còn gặp rất nhiều khó khăn nhưng Đảng bộ và nhân
xã Vinh Thái đã từng bước vượt qua và đưa nền kinh tế có bước tăng trưởng khá, nhiềutiềm năng, lợi thế của địa phương đã được khai thác đúng mức, có hiệu quả hơn, đời sốngvật chất và tinh thần của nhân dân đã được cải thiện trên nhiều mặt Các thành phần kinh
tế có bước phát triển, đặc biệt là kinh tế hộ gia đình đã có nhiều chuyển biến trên nhiềulĩnh vực, chủ động trong sản xuất Từng bước tạo thêm nhiều việc làm mới, nâng cao thunhập cho gia đình, xã hội Cơ cấu lao động đã và đang chuyển dịch theo hướng đa dạng,phong phú nhiều loại hình, phá được thế độc canh cây lúa
Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng Nông nghiệp Tiểu thủ công nghiệp dịch vụ Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân hằng năm ước đạt 12 %, tổng giá trị sản
-xuất tăng 17.0%, đưa thu nhập bình quân đầu người toàn xã lên 15.82 triệuđồng/người/năm
Sản xuất nông nghiệp có những bước tiến vững chắc về cả số lượng, chất lượng
và hiệu quả Các ứng dụng khoa học kỹ thuật vào nông nghiệp và các biện pháp thâmcanh có những tiến bộ khá, công tác chuyển đổi cây trồng, vật nuôi được chú trọng,hiệu quả trên đơn vị diện tích canh tác ngày càng được nâng lên, đời sống vật chất vàtinh thần của nông dân ngày càng được cải thiện
Trong những năm qua, chương trình sản xuất nông nghiệp toàn diện được chú ýquan tâm đầu tư đúng mức và có bước phát triển đáng kể, ý thức về nông nghiệp nôngthôn và nông dân được nâng lên, tạo mọi điều kiện để nông dân phát huy vai trò tự chủtrong sản xuất Việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng, ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹthuật trong sản xuất nông nghiệp được coi trọng, bảo đảm quy trình sản xuất Công tácnâng cao chất lượng giống cây tiếp tục được đẩy mạnh góp phần thúc đẩy sự tăngtrưởng mạnh mẽ về năng suất và sản lượng
Hiện nay, xã đã cung ứng giống lúa cấp 1, đưa giống lúa này vào đồng ruộngđạt tỷ lệ trên 97%, mở rộng diện tích lúa từ 1 vụ lên 2 vụ Năng suất lúa bình quânhằng năm đạt 52.7 tạ/ha, tổng sản lượng lương thực có hạt bình quân hàng năm đạt
7790 tấn, bình quân lương thực đầu người đạt 1310 kg/người/năm
Đại học Kinh tế Huế
Trang 27Kinh tế vườn nhìn chung trong những năm qua phát triển tốt, đã đẩy mạnh thựchiện tốt công tác cải tạo vườn tạp sang trồng các loại cây có giá trị kinh tế như trồngnấm thực phẩm.
Bảng 5: Diện tích, năng suất, sản lượng một số
cây trồng chính qua các năm
(Nguồn báo cáo UBND xã Vinh Thái 2010)
- Năm 2006: Đánh bắt 35 tấn, nuôi cá nước ngọt 70 tấn
- Năm 2007: Đánh bắt 40 tấn, nuôi cá nước ngọt 74.4 tấn
- Năm 2008: Đánh bắt 46.8 tấn, nuôi cá nước ngọt 94.2 tấn
- Năm 2009: Đánh bắt 64.8 tấn, nuôi cá nước ngọt 109.2 tấn
2.1.2.4 Cơ sở hạ tầng
Về giao thông
Đã bê tông hóa giao thông nông thôn 20 km
Đại học Kinh tế Huế
Trang 28 Thủy lợi
Kênh mương nội đồng, ngoại đồng chủ yếu phục vụ cho sản xuất nông nghiệp
và giao thông đi lại
Trường lớp học
Cấp 1: có một trường đã kiên cố
Trường mẫu giáo có 09 cơ sở ở 09 thôn
Trường cấp 2: có một trường đã xây dựng năm 2008 đang còn thiếu nhà công
cụ giáo viên
Hệ thống điện và nước sạch:mới chỉ có hai thôn Mong A và thôn Diêm Tụ
2.1.3 Nhận xét chung về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội
Thuận lợi
Có sự quan tâm chỉ đạo của cấp ủy Đảng, chính quyền, sự đoàn kết trong nội
bộ nhân dân đã thắt chặt tình làng nghĩa xóm trong cộng đồng dân cư
Một số cơ sở vật chất, các công trình phúc lợi đã được xây dựng trước đây làtiền đề để phát triển kinh tế xã hội cho những năm sau
Truyền thống cần cù lao động, chịu kham khổ vượt qua mọi khó khăn
Khó khăn: Đa số người dân sống bằng nghề nông nghiệp độc canh cây lúa,
hộ trung bình và hộ nghèo chiếm khá lớn, hộ giàu chiếm tỷ lệ rất thấp, đời sống nhândân gặp nhiều khó khăn
2.2 Khái quát tình hình sản xuất lúa trên địa bàn nghiên cứu
Bảng 6: Tình hình sản xuất lúa trên địa bàn xa qua 3 năm 2008 - 2010
Năm/Chỉ tiêu ĐVT 2008 2009 2010
So Sánh 2010/2009 2009/2008
Năng suất Tạ/ha 55,16 54,97 56,00 1,03 1,84 0,57 1,04Sản lượng Tấn 57,729 63,366 64,987 1,621 2,56 5,220 8,98
(Nguồn: báo cáo UBND xã Vinh Thái 2010)
Đại học Kinh tế Huế
Trang 29Về cơ bản theo xu hướng thời gian thì diện tích năng suất và sản lượng có xuhướng tăng lên theo thời gian, đây là một dấu hiệu đáng mừng cho những người nôngdân bởi lẽ với sự biến động và thay đỗi mang tính thất thường của khí hậu trong nhữngnăm qua đã làm ảnh hưởng đến rất nhiều đến thu nhập và chất lượng cuộc sống củangười dân cư trú trên địa bàn.
2.3 Năng lực sản xuất của các hộ điều tra
2.3.1 Tình hình cơ bản của hộ điều tra
Bảng 7: Tình hình nhân khẩu và lao động của các hộ điều tra năm 2011
Bàu
Ruộng Sét
(Nguồn số liệu điều tra năm 2011)
Đối với tuổi của các chủ hộ, tuổi bình quân của các hộ điều tra là 50.18 tuổi,đây là mức tuổi tương đối cao gây khó khăn trong vấn đề tiếp thu tiện bộ khoa học kỷthuật, thay đổi cách làm cách nghĩ bởi cái tôi trong chính bản thân người nông dân rấtcao khó có thể thay đổi được tập quán trồng và chăm sóc lúa của họ
Tuy nhiên, tuổi cao phản ánh được lợi thế trong sản xuất nông nghiệp nói chung
và trong sản xuất lúa nói riêng Độ tuổi càng cao thì càng có nhiều kinh nghiệm trongsản xuất nông nghiệp Với những kiến thức thực tế đã được tích lũy từ nhiều năm cácchủ hộ có nhiều các biện pháp kỹ thuật trong việc chăm sóc cây trồng, vật nuôi
So sánh độ tuổi giữa các nhóm hộ ta thấy, nhìn chung giữa các nhóm hộ có sựchênh lệch lớn về độ tuổi, điều đó thể hiện các hộ có kiến thức và kinh nghiệm trongviệc sản xuất nông nghiệp là tương tử nhau
Đối với trình độ văn hóa, trình độ văn hóa bình quân của các hộ điều tra là 6.06lớp, trong đó các hộ ở vùng ruộng Cát có trình độ cao nhất sau đó đến các hộ ở vùng
Đại học Kinh tế Huế
Trang 30ruộng Bàu và thấp nhất là các hộ ở vùng ruộng Sét Trình độ văn hóa là yếu tố quantrọng ảnh hưởng đến nhận thức và lối sống, đến việc áp dụng các tiến bộ khoa học kỹthuật trong sản xuất của các hộ và đặc biệt ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất Do đóchính quyền địa phương cần có những biển pháp tác động thích hợp nhằm nâng caotrình độ văn hóa, trình độ nhận thức cho bà con nồng dân, cần tuyên truyền, hướng dẫn
họ một cách kỷ lưỡng những biện pháp mới áp dụng vào trong sản xuất nông nghiệpnói chung và trong sản xuất lúa nói riêng
Qua bảng số liệu trên ta thấy, bình quân một năm có khoảng 5.13 nhân khẩu,trong khi số lao động bình quân một năm khoảng 2.80 người và lao động nam là chủyếu 2.61 người Do đó, để đảm bảo cho sử phát triển kinh tế mỗi hộ nói riêng và sựphát triển kinh tế nối chung các hộ cần thực hiện tốt công tác kế hoạch hóa gia đình,hạn chế đến mức thấp nhất việc sinh con thứ ba trở lên
2.3.2 Tình hình đất đai
Trong sản xuất nông nghiệp, đất đai là tư liệu sản xuất đặc biệt, quan trọngkhông thể thay thế được Đất đai vừa là đối tượng lao động vừa là tư liệu lao động,mối loại đất khác nhau thì thành phần cơ giới khác nhau và phù hợp với từng loại câytrồng khác nhau Có thể nói rằng trong sản xuất nông nghiệp, tổng thu nhập gia đìnhkhông chỉ phụ thuộc vào khả năng sản xuất và cách thức làm ăn mà còn phụ thuộcvào quy mô đất đai của nông hộ Tình hình sử dụng đất đai của các nông hộ điều trađược phân tích cụ thể qua bảng 8:
Bảng 8: Tình hình sự dụng đất đai tính bình quân trên hộ
(Nguồn số liệu điều tra năm 2011)
Đại học Kinh tế Huế
Trang 31Nhìn vào bảng số liệu trên ta thấy giữa các nhóm hộ điều tra có sự chênh lệch
về tình hình sử dụng đất đai, đất trồng lúa bình quân/hộ, đất trồng lúa bình quân/khẩu
và đất trồng lúa bình quân/lao động Diện tích đất nhà ở, đất vườn bình quân của cácnhóm hộ là 0,74 sào và có sự chênh lệch nhiều giữa các nhóm hộ, trong đó diện tíchđất nhà ở, đất vườn của các hộ thuộc vùng ruộng Bàu là 0,73 sào của nhóm hộ thuộcvùng ruộng Sét là 0.85 sào, của nhóm hộ thuộc vùng ruộng Cát là 0.65 sào Vinh Thái
là một xã nằm ở vùng trũng nên diện tích đất vườn, nhà ở của các nông hộ tương đốithấp ngoài ra, một số hộ còn tận dụng đất vườn của mình để trồng các loại rau tiêu thụ
và chăn nuôi
Qua điều tra cho thấy, hầu như đất canh tác của địa phương đều trồng lúa, diệntích đất trồng lúa bình quân chung là 15.57 sào/ hộ, trong đó diện tích đất trồng lúabình quân của nhóm hộ vùng ruộng Bàu là 14.18 sào/hộ, của các nhóm hộ vùng ruộngSét là 16.44 sào/hộ của các nhóm hộ vùng ruộng Cát là 16.10 sào/hộ
Nguyên nhân có sự chênh lệch này là nhóm hộ vùng ruộng Sét có điều kiện địahình địa mạo thuận lợi còn các hộ vùng ruộng Bàu và vùng ruộng Cát thì địa hình quátrũng, và quá khô khó khăn trong vấn đề tưới tiêu Bên cạnh đó nhân khẩu của cácnhóm hộ là khác nhau, một số hộ đã mạnh giản thuê lại đất đai của xã và một số hộkhác không có nhu cầu sử dụng đất nữa
Cây hoa màu cũng góp một phần quan trọng trong thu nhập của người dân Mặc
dù nó đòi hỏi công lao động cao nhưng lại mang lại giá trị khá cao, mặc dù diện tíchtrồng không đáng kể
Xét về chỉ tiêu đất trồng lúa bình quân trên khẩu, bình quân mỗi khẩu đạt 1520
m2 (3.04 sào) Về chỉ tiêu đất trồng lúa bình quân trên lao động, bình quân mỗi laođộng đạt 2810 m2 ( 5.62 sào) Điều này giúp cho các hộ tạo ra tiềm năng phát huy lợithế của mình và là tiền đề để mở rộng diện tích canh tác
Tóm lại phần lớn đất đai của hộ được sử dụng để trồng lúa, chỉ có một ít diệntích để trồng các loại cây khác Yêu cầu đặt ra trong thời gian tới cần bố trí sử dụngđất đai hợp lý, lựa chọn cơ cấu cây trồng phù hợp Đây là yếu tố ảnh hưởng đến năngsuất, sản lượng và hiệu quả trong sản xuất nông nghiệp Cần có định hướng phát triển
Đại học Kinh tế Huế
Trang 32lâu dài, áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất để sự dụng đất đai mộtcách hiệu quả hơn nữa.
2.3.3 Tình hình trang bị tư liệu sản xuất của các nhóm hộ điều tra
Cùng với lao động và đất đai thì vốn đầu tư và trang bị tư liêu sản xuất là nhữngyếu tố không thể thiếu trong quá trình sản xuất kinh doanh, là yếu tố cần thiết để tiếnhành sản xuất tạo ra của cải vật chất, nó quyết định đến năng suất, quy mô và hiệu quảsản xuất của các nông hộ Nó thể hiện trình độ của lao động sản xuất, khả năng đầu tưnhằm đáp ứng các giai đoạn của quá trình sản xuất
Nếu tư liệu sản suất được tổ chức một cách hợp lý thì sẽ giải phóng bớt sức laođộng của con người góp phần nâng cao giá trị sản xuất Tuy nhiên trong điều kiện củanông hộ, quy mô sản xuất còn nhỏ lẻ vì vậy tư liệu sản xuất còn thô sơ và không đồng
bộ giữa các hộ
Qua quá trình điều tra cho thấy, các hộ gia đình trên địa bàn sử dụng chủ yếucác công cụ như: bình phun thuốc, cuốc, liềm, thúng còn các tư liệu sản xuất khácnhư: máy cày, máy bơm nước, máy tuốt lúa, xe công nông hầu hết là thuê từ tư nhân
và hợp tác xã Để thấy rõ được tình hình trang bị tư liệu sản xuất của các nhóm hộ điềutra ta đi sâu phân tích bảng 9:
Bảng 9: Tình hình trang bị tư liệu sản xuất của các nhóm hộ điều tra
Số
lượng
Giá trị
(1000đ)
2 Máy tuốt Cái 0,07 1066,67 0,10 1966,67 0,03 666,67 0,07 1233,33
4 Bình phun thuốc Cái 0,73 81,67 0,60 68,33 0,77 85,00 0,70 78,33
5 Nông cụ khác Cái 1,50 150,33 1,27 129,33 1,13 128,67 1,3 136,11
6 Tổng giá trị 1000đ 2,23 2298,67 1,87 347,66 1,13 213,67 2 1447,77
(Nguồn: Số liệu điều tra năm 2011)
Đại học Kinh tế Huế
Trang 33Tổng giá trị sản xuất bình quân của mỗi hộ đạt được là 1447.77 nghìn đồng baogồm các tư liệu sản xuất phục vụ cho sản xuất nông nghiệp nói chung và sản xuất lúanói riêng như trâu, bò cày kéo, bình phun thuốc, liềm, cuốc Trong đó nhóm hộ vùngruộng Sét có tổng giá trị cao nhất 347.66 nghìn đồng gấp hơn 1.63 lần nhóm hộ vùngruộng Cát, do vùng ruộng Cát thường bị khô hạn thường phải tưới tiêu, sâu bệnh ởvùng này cũng nhiều hơn các vùng còn lại.
Trong nông nghiệp sức kéo trâu bò có vai trò hết sức quan trọng, giúp giảiphóng sức lao động của con người Bình quân mỗi hộ có được 0.01 con trâu bò càykéo Sở dĩ nông dân ít sử dụng trâu bò cày kéo là do các thiết bị hiện đại đang dần dầnthay thế và hầu hết các nông hộ đều thuê ngoài các tư liệu sản xuất này trong khâu làđất như máy cày, máy đánh
Hầu hết các nông hộ đều có bình phun thuốc, bình quân mỗi hộ có 0.70 cái.Bình phun thuốc là công cụ cơ bản cần có để phục vụ cho sản xuất, mặt khác giá trịbằng tiền của nó cũng không cao nên hầu hết các hộ đều sắm được
Tóm lại, trang bị tư liệu sản xuất của các nông hộ còn thấp, công cụ còn thô sơ,mức độ cơ giới hóa còn thấp Vì vậy trong thời gian tới chính quyền địa phương cầntạo điều kiện cho bà con chủ động áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật, một khi tưliệu sản xuất được trang bị hiện đại, tổ chức hợp lý sẽ góp phần giải phóng sức laođộng, rút ngắn thời gian lao động, giảm tính thời vụ trong sản xuất nông nghiệp gópphần nâng cao năng suất và sản lượng, tiết kiểm chi phí sản xuất
2.4 Tình hình đầu tư thâm canh của các nông hộ điều tra
2.4.1 Giống
Trong sản xuất nông nghiệp giống là yếu tố đầu vào quan trọng quyết định đếnnăng suất, chất lượng sản phẩm, ở mỗi mật độ khác nhau sẽ cho năng suất khác nhau.Nếu gieo hoặc cấy với mật độ quá thưa thì năng suất cá thể của cây lúa có thể caonhưng năng suất tổng thể trên một đơn vị diện tích chưa chắc đạt tối ưu Nhưng nếumật độ quá dày thì cây lúa không đủ dinh dưỡng để phát triển, dẫn đến năng suất cũngkhông tối ưu Vì vậy cần sử dụng giống lúa cho phù hợp để đem lại kết quả tốt nhất.Đồng thời việc lựa chọn những giống lúa tốt, sạch bệnh, năng suất cao, sinh trưởng vàphát triển tốt, phù hợp với khí hậu của địa phương là việc cần thiết
Đại học Kinh tế Huế
Trang 34Những năm qua trên địa bàn xã đã thực hiện chuyện đổi cơ cấu giống lúa nên
đã loại bỏ được những giống lúa năng suất thấp, chất lượng kém bằng những giống lúacho năng suất cao hơn, chất lượng tốt hơn có khả năng chống chịu sâu bệnh tốt hơnnhư: Khang Dân, X21, HT1
Cụ thể cơ cấu giống lúa của từng vụ như sau vụ Đông Xuân đa số sử dụnggiống lúa dài ngày như X21chiếm gần 60% trong tổng lượng giống gieo trồng và nóđược xem là giống chủ lưc của địa phương Còn lại là giống Khang Dân và HT1 chiếmhơn 40% lượng giống gieo trồng Sở dĩ bà con dùng giống X21 là do giống này có ưuđiểm là chất lượng gạo thơm ngon có thể trồng được ở vùng trũng, ổn định được năngsuất (3 - 3.5 tạ/sào) và giá tương đối cao so với các giống lúa khác
Để thấy được tình hình sử dụng và đầu tư giống của các hộ điều tra ta phân tíchbảng 10:
Bảng 10: Khối lượng và chi phí giống bình quân trên sào
(Nguồn: Số liệu điều tra năm 2011)
Qua bảng số liệu ta thấy, tình hình sử dụng và đầu tư giống lúa giữa các vùngruộng của các hộ điều tra qua hai vụ Đông Xuân và Hè Thu Nhìn chung có sự chênhlệch về giống giữa các nhóm vùng Vụ Đông Xuân bình quân lượng giống là 6.01kg/sào với chi phí 60.00 nghìn đồng/sào Trong ba vùng ruộng Bàu, vùng ruộng Sét,vùng ruộng Cát thì vùng ruộng Bàu các hộ điều tra sử dụng giống lúa nhiều nhất 6.21kg/sào với chi phí 62.51 nghìn đồng/sào Đó là do vùng ruộng Bàu thấp, trũng nhấtnên thường phải cấy, tiếp đến là vùng ruộng Sét 5.94 kg/sào với chi phí 59.55 nghìnđồng/sào và thấp nhất là vùng ruộng Cát 5.82 kg/sào với chi phí 58.20 nghìn đồng/sào
Đại học Kinh tế Huế
Trang 35Vụ Hè Thu, bình quân lượng giống là 6.01 kg/sào với chi phí là 59.92 nghìnđồng/sào Trong ba vùng ruộng Bàu, vùng ruộng Sét, vùng ruộng Cát thì vùng ruộngBàu các hộ điều tra sử dụng giống lúa nhiều nhất 6.16 kg/sào với chi phí 61.57 nghìnđồng/sào, tiếp đến là vùng ruộng Sét 6.01 kg/sào với chi phí 60.11 nghìn đồng/sào vàthấp nhất là vùng ruộng Cát 5.86 kg/sào với chi phí 58.09 nghìn đồng/sào.
So sánh mức đầu tư giống lúa giữa vụ Đông Xuân và Hè Thu ta thấy không có
sự chênh lệch là mấy, điều này là do vụ Hè Thu thường sử dụng những giống ngắnngày, thời gian sinh trưởng và phát triển ngắn, cây đẻ nhánh ít, vì vậy các hộ có xuhướng tăng lượng giống lên nhiều hơn Bên cạnh đó do thời tiết nóng ẩm, mật độ gieocấy dày theo yêu cầu của từng loại giống đã làm tăng thêm lượng giống Còn đối với
vụ Đông Xuân, thường sử dụng những giống dài ngày, khả năng chống chịu sâu bệnhtốt, đẻ nhánh khỏe nên sử dụng giống ít hơn
Nhìn chung, mật độ đầu tư giống của các hộ điều tra trên địa bàn là khá hợp lý,đúng yêu cầu kỹ thuật chung của các nhà kỹ thuật tuy nhiên giống được mua từ công
ty giống thông qua hợp tác xã nông nghiệp với mức giá 10.000đ/kg đây là một mứcgiá khá cao làm cho chi phí giống/sào cao Vì vậy yêu cầu đầu ra là cần có các chínhsách nhằm giảm chi phí sản xuất cho các hộ nông dân
2.4.2 Phân bón
Nhu cầu dinh dưỡng của cây lúa hay nói cách khác là các chất dinh dưỡng cầnthiết, không thể thiếu được đối với sự sinh trưởng và phát triển của cây lúa bao gồm:đạm (N), lân (P), kali (K), vôi, sắt, kẽm, đồng, magiê, mangan, mô-líp-đen, bo, silic,lưu huỳnh và các-bon, ô-xy, hyđrô Có nhiều chất dinh dưỡng khoáng mà cây lúa cần,nhưng 3 yếu tố dinh dưỡng mà cây lúa cần với lượng lớn là: đạm, lân và kali Đó lànhững chất cần thiết cho những quá trình sống diễn ra trong cây lúa Các nguyên tốkhoáng còn lại, cây lúa cần với lượng rất ít và hầu như đã có sẵn ở trong đất, nếu thiếuthì tuỳ theo điều kiện cụ thể mà bón bổ sung
Phân bón có vai trò tối quan trọng trong quá trình sinh trưởng, phát triển củacây lúa, nó cần thiết cho suốt quá trình phát triển, từ giai đoạn mạ cho đến lúc thuhoạch Cùng với các yếu tố năng lượng khác, phân bón cung cấp cho cây là nguồnnguyên liệu để tái tạo ra các chất dinh dưỡng như: tinh bột, chất đường, chất béo,
Đại học Kinh tế Huế