Điều này cho thấy, ngoài tình trạng ô nhiễm môi trường do rác thải từ các khu công nghiệp, nhà máy, khu chế xuất thì một vấn đề đáng báo động hiện nay là tìnhtrạng ô nhiễm môi trường do
Trang 1ĐẠI HỌC HUẾ
KHOA KINH T Ế PHÁT TRI Ể N
Trang 2ĐẠI HỌC HUẾ
Trang 3Khóa lu ận tốt nghiệp là một phần quan trọng trong kết quả học tập của tôi Để
hoàn thành khóa lu ận này ngoài sự nổ lực của bản thân, tôi còn nhận được sự quan tâm giúp đỡ của quý thầy cô, gia đình và bạn bè.
Tôi xin c ảm ơn các Thầy – Cô giáo trường Đại học Kinh tế Huế đã tận tình
truy ền đạt những kinh nghiệm, kiến thức quý giá cho tôi trong suốt bốn năm học
v ừa qua Đặc biệt là thầy Trần Hữu Tuấn – người đã trực tiếp hướng dẫn và giúp
đỡ tôi hoàn thành khóa luận này với tất cả lòng nhiệt tình và tinh thần trách nhiệm Đồng thời tôi xin cảm ơn đến ban lãnh đạo cùng toàn thể các anh, các chị trong
Phòng Tài nguyên môi tr ường Thành phố Đông Hà đã tạo mọi điều kiện thuận lợi
cho tôi trong th ời gian thực tập tại phòng.
Sau cùng tôi xin c ảm ơn gia đình, bạn bè, những người đã luôn là nguồn động
viên ý ngh ĩa nhất để tôi vươn lên trong học tập và bước những bước đi vững vàng hơn trong cuộc sống.
Xin chân thành c ảm ơn!
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CÁM ƠN i
MỤC LỤC ii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT vi
DANH MỤC CÁC BIỂU BẢNG vii
DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ viii
TÓM TẮT NGHIÊN CỨU ix
PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ 11
1 Tính cấp thiết của đề tài 11
2 Mục đích, nhiệm vụ và phương pháp nghiên cứu 12
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 14
PHẦN II: NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 15
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 15
1.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN 15
1.1.1 Một số khái niệm về nhận thức và thái độ 15
1.1.2 Một số khái niệm về phân loại, thu gom và xử lý chất thải rắn sinh hoạt 19
1.1.3 Nguồn gốc, thành phần của rác thải sinh hoạt 23
1.1.4 Các phương pháp xử lý rác thải sinh hoạt 24
1.1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến nhận thức và thái độ của người dân trong việc phân loại, thu gom và xử lý rác thải sinh hoạt 29
1.1.6 Lợi ích từ việc phân loại, thu gom và xử lý rác thải sinh hoạt 32
1.1.7 Tác hại của rác thải sinh hoạt 33
1.2 CƠ SỞ THỰC TIỄN 35
1.2.1 Tình hình phân loại, thu gom và xử lý rác thải trên thế giới 35
1.2.2 Tình hình phân loại, thu gom và xử lý rác thải ở Việt Nam 37
1.2.3 Tình hình phân loại, thu gom và xử lý rác thải ở Thành phố Đông Hà - Tỉnh Quảng Trị 39
CHƯƠNG 2: HIỆN TRẠNG CÔNG TÁC PHÂN LOẠI, THU GOM VÀ XỬ LÝ RÁC THẢI SINH HOẠT Ở THÀNH PHỐ ĐÔNG HÀ - TỈNH QUẢNG TRỊ 43
Đại học Kinh tế Huế
Trang 52.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 43
2.1.1 Điều kiện tự nhiên 43
2.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 50
2.2 Tình hình hoạt động của Công ty TNHH MTV Môi trường và Công trình Đô thị Đông Hà 53
2.2.1 Quá trình thành lập và mô hình tổ chức bộ máy 53
2.2.2 Chức năng, nhiệm vụ hoạt động của Công ty 55
2.2.3 Hiện trạng phân loại, thu gom và xử lý rác thải sinh hoạt của Công ty từ năm 2007 - 2010 56
2.3 Tình hình quản lý rác thải sinh hoạt ở Thành phố Đông Hà - Tỉnh Quảng Trị 63
2.4 Dự báo lượng rác thải sinh hoạt phát sinh từ 2010 - 2020 65
CHƯƠNG 3: ĐÁNH GIÁ MỨC ĐỘ HIỂU BIẾT CỦA NGƯỜI DÂN TRONG VIỆC PHÂN LOẠI, THU GOM VÀ XỬ LÝ RÁC THẢI SINH HOẠT Ở THÀNH PHỐ ĐÔNG HÀ 68
3.1 Các thông tin chung về mẫu điều tra 68
3.2 Mức độ hiểu biết của người dân trong việc phân loại, thu gom RTSH 69
3.3 Mức độ hiểu biết của người dân trong việc xử lý RTSH 77
3.4 Mức độ hiểu biết của người dân về ô nhiễm môi trường do RTSH 81
CHƯƠNG 4: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO CÔNG TÁC PHÂN LOẠI THU GOM VÀ XỬ LÝ RÁC THẢI SINH HOẠT Ở THÀNH PHỐ ĐÔNG HÀ 85
4.1 Giải pháp tổng thể 85
4.2 Giải pháp cụ thể 85
4.2.1 Về cơ chế quản lý 86
4.2.2 Giải pháp tài chính 87
4.2.3 Xây dựng phương án vận chuyển rác thải đến bãi chôn lấp 88
4.2.4 Phân loại rác thải tại nguồn 89
4.2.5 Ứng dụng công nghệ ủ sinh học (composting) 91
4.2.6 Giải pháp tuyên truyền, nâng cao nhận thức cộng đồng 92
Đại học Kinh tế Huế
Trang 6PHẦN III: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 95
1 Kết luận 95
2 Kiến nghị 96
TÀI LIỆU THAM KHẢO 98
PHỤ LỤC 1 100
Đại học Kinh tế Huế
Trang 7DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
CTR Chất thải rắn
TNHH MTV Trách nhiệm hữu hạn một thành viên
TNMT Tài nguyên môi trường
BVMT Bảo vệ môi trường
TP Thành phố
CTRSH Chất thải rắn sinh hoạt
RTSH Rác thải sinh hoạt
NK Nhân khẩu
DS Dân số
NXB Nhà xuất bản
UBND Ủy ban nhân dân
CN – TTCN Công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 1: Lượng CTRSH phát sinh ở Thành Phố Đông Hà từ 2008 - 2010 41
Bảng 2: Quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở Thành phố Đông Hà 50
Bảng 3: Đặc điểm dân cư, lao động của Thành phố Đông Hà 52
Bảng 4: Tình hình phát sinh CTR sinh hoạt 2007 - 2010 57
Bảng 5: Nguồn phát sinh chất thải rắn trên địa bàn Thành phố 58
Bảng 6: Thành phần rác thải sinh hoạt ở Thành phố Đông Hà năm 2010 59
Bảng 7: Tỷ lệ chất hữu cơ và vô cơ trong rác thải sinh hoạt tại các Phường 59
Bảng 8: Tỷ lệ thu gom chất thải rắn sinh hoạt tại các Phường 62
Bảng 9: Mức thu phí CTR vệ sinh môi trường Thành phố Đông Hà 64
Bảng 10: Dự báo lượng chất thải rắn sinh hoạt năm 2020 65
Bảng 11: Giới tính của người tham gia phỏng vấn 68
Bảng 12: Độ tuổi của người tham gia phỏng vấn 69
Bảng 13: Nghề nghiệp của người tham gia phỏng vấn 69
Bảng 14: Trình độ học vấn của người tham gia phỏng vấn 69
Bảng 15: Kết quả hồi quy hàm nhận thức 70
Bảng 16: Đánh giá mức độ phân loại, thu gom RTSH dựa vào giới tính 72
Bảng 17: Đánh giá mức độ phân loại, thu gom RTSH dựa vào nhóm tuổi 73
Bảng 18: Đánh giá mức độ phân loại, thu gom RTSH dựa vào trình độ học vấn 74
Bảng 19: Lý do người dân không phân loại và thu gom RTSH 75
Bảng 20: Ý kiến của người dân về việc địa phương xử lý rác sau khi thu gom 78
Bảng 21: Cách thức xử lý rác thải sinh hoạt của các hộ gia đình 80 Bảng 22: Tìm hiểu về ô nhiễm môi trường do RTSH qua các nguồn thông tin 84Đại học Kinh tế Huế
Trang 9DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ
Sơ đồ 1: Sơ đồ nguồn phát sinh chất thải 24
Sơ đồ 2: Sơ đồ công nghệ xử lý rác bằng phương pháp ép kiện 27
Sơ đồ 3: Sơ đồ xử lý rác theo công nghệ Hydromex 28
Sơ đồ 4: Sơ đồ thể hiện hành động xã hội 30
Sơ đồ 5 : Sơ đồ thu gom, vận chuyển chất thải rắn 89
Sơ đồ 6: Sơ đồ phân loại rác trong gia đình 90
Biểu đồ Tên Trang Biểu đồ 1: Tỷ lệ rác thải sinh hoạt phát sinh ở Thành phố Đông Hà 60
Biểu đồ 2: Người thường xuyên phân loại, thu gom RTSH trong gia đình 72
Biểu đồ 3: Đánh giá mức độ quan trọng của việc xử lý RTSH 78
Biểu đồ 4: Đánh giá của người dân về cách xử lý RTSH của địa phương 80
Biểu đồ 5: Ý kiến của người dân về các chương trình tập huấn cách phân loại, thu gom và xử lý rác thải sinh hoạt 83
Biểu đồ 6: Mức độ tham gia của người dân vào các chương trình tuyên truyền không xã rác bừa bãi 83
Đại học Kinh tế Huế
Trang 10TÓM TẮT NGHIÊN CỨU
1 Tên đề tài: “Tìm hiểu về nhận thức và thái độ của người dân trong việc phân loại,
thu gom và xử lý rác thải sinh hoạt ở Thành phố Đông Hà - Tỉnh Quảng Trị”
2 Mục đích nghiên cứu
- Khái quát hóa những vấn đề lý luận liên quan đến vấn đề phân loại, thu gom và
xử lý rác thải sinh hoạt
- Đề tài tập trung chủ yếu vào việc tìm hiểu nhận thức và thái độ của người dântrong vấn đề phân loại, thu gom và xử lý rác thải sinh hoạt, trên cơ sở đó làm rõ vai tròcủa các cơ quan chức năng, cơ quan truyền thông trong việc quản lý môi trường
- Đề ra những giải pháp nhằm góp phần nâng cao nhận thức từ đó góp phần thay
đổi hành vi của người dân
3 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp luận
- Phương pháp thu thập dữ liệu sơ cấp
- Phương pháp thu thập dữ liệu thứ cấp
- Phương pháp quan sát
- Phương pháp toán kinh tế
4 Kết quả nghiên cứu
- Khóa luận đã trình bày được hiện trạng công tác phân loại, thu gom và xử lý rácthải sinh hoạt ở Thành phố Đông Hà - Tỉnh Quảng Trị
- Đánh giá được mức độ tiếp cận với các nguồn thông tin về cách phân loại, thugom và xử lý rác thải sinh hoạt của các hộ dân
- Phân tích được các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ nhận thức của người dântrong việc phân loại, thu gom và xử lý rác thải sinh hoạt
- Từ cơ sở lý luận và thực tiễn, khóa luận đã đề xuất những giải pháp nhằm nâng
cao năng lực quản lý cho các cơ quan quản lý môi trường và nâng cao khả năng nhận
thức cho người dân trong việc phân loại, thu gom và xử lý rác thải sinh hoạt ở Thànhphố Đông Hà - Tỉnh Quảng Trị
Đại học Kinh tế Huế
Trang 11PHẦN I
ĐẶT VẤN ĐỀ
1 Tính cấp thiết của đề tài
Nền kinh tế Việt Nam đang có những bước chuyển mình mạnh mẽ Quá trìnhcông nghiệp hóa, hiện đại hóa đang diễn ra hết sức khẩn trương, bộ mặt xã hội đã cónhiều chuyển biến tích cực Cùng với sự phát triển kinh tế, đời sống của người dân
được cải thiện đáng kể Mức sống của người dân càng cao thì nhu cầu tiêu dùng các
sản phẩm xã hội càng cao, điều này đồng nghĩa với việc gia tăng lượng rác thải sinhhoạt Rác thải sinh hoạt phát sinh trong quá trình ăn, ở, tiêu dùng của con người, đượcthải vào môi trường ngày càng nhiều, vượt quá khả năng tự làm sạch của môi trườngdẫn đến môi trường bị ô nhiễm
Điều này cho thấy, ngoài tình trạng ô nhiễm môi trường do rác thải từ các khu
công nghiệp, nhà máy, khu chế xuất thì một vấn đề đáng báo động hiện nay là tìnhtrạng ô nhiễm môi trường do rác thải sinh hoạt hoạt từ các khu dân cư chiếm tới76,31% vẫn chưa được phân loại, thu gom và xử lý theo đúng quy định Đây là mộttrong những nguyên nhân chủ yếu dẫn đến tình trạng ô nhiễm môi trường ở các khudân cư, khu đô thị
Ngày 28 - 04 - 1972 Đông Hà được giải phóng, bước ra khỏi cuộc chiến tranh từmột thị xã đổ nát, nhà cửa, phố xá, cơ sở hạ tầng bị huỷ hoại nghiêm trọng Kinh tế, xãhội ở trong tình trạng khó khăn, chưa ổn định Thêm vào đó, điều kiện tự nhiên, khíhậu thời tiết khắc nghiệt luôn luôn là mối đe dọa đối với cuộc sống nhân dân Nhưng
dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ và những nổ lực của nhân dân qua 20 năm xây dựng và
phát triển nền kinh tế Đông Hà đã có những bước phát triển vượt bậc và đã đạt đượcnhững kết quả quan trọng trên nhiều lĩnh vực, đóng góp quan trọng vào sự tăng trưởngkinh tế chung toàn tỉnh.[8]
Là một Thành phố mới được thành lập, so với nhiều Thành phố khác trên cả
nước, Đông Hà có nền kinh tế phát triển tương đối nhanh và mạnh, có sức hút tạo ra sự
tập trung dân cư, các hoạt động kinh tế - thương mại - du lịch và dịch vụ Cùng vớiquá trình tăng trưởng kinh tế, xu hướng đô thị hóa đang ngày càng diễn ra mạnh mẽ, tỷ
Đại học Kinh tế Huế
Trang 12lệ dân cư gia tăng, hoạt động sống thường ngày của con người đã thải ra môi trườngmột khối lượng rác thải rất lớn làm tăng lượng rác thải vào môi trường Trong đó, rácthải sinh hoạt chiếm một tỷ trọng lớn nhất được thải ra từ các hộ gia đình, các cơ quan,
trường học các khu du lịch - dịch vụ, chợ, đường phố, bến xe Các chất thải chủ yếu
là rác thực phẩm, giấy loại, các loại phân bùn, cặn bã trong các công trình vệ sinh [9]
Tính đến năm 2009, dân số toàn Thành phố Đông Hà là 82.700 người, với 17.689
hộ, do đó lượng rác thải sinh hoạt thải ra mỗi ngày của Thành phố là rất lớn được tínhvào khoảng 33.08 tấn rác/ngày Do mật độ dân số giữa các phường trong Thành phố
Đông Hà là không đồng đều nên khối lượng và thành phần rác thải ở các phường cũng
khác nhau dẫn đến khó khăn cho công tác lựa chọn và phân vùng, phân tuyến cho côngtác thu gom và xử lý chất thải rắn Chính những điều này đang làm cho môi trường
ngày càng có xu hướng bị ô nhiễm nghiêm trọng.[6]
Mặt khác, do ý thức bảo vệ môi trường của người dân chưa cao, việc phân loại
rác chưa được thực hiện và hành vi vứt rác bừa bãi không đúng nơi quy định của ngườidân đã gây rất nhiều khó khăn trong việc thu gom rác thải của đội ngũ nhân viên môitrường
Với ý nghĩa đó, Tôi chọn nghiên cứu đề tài “Tìm hi ểu về nhận thức và thái độ
c ủa người dân trong việc phân loại, thu gom và xử lý rác thải sinh hoạt ở Thành
ph ố Đông Hà - Tỉnh Quảng Trị” làm khóa luận tốt nghiệp.
2 Mục đích, nhiệm vụ và phương pháp nghiên cứu
2.1 M ục đích nghiên cứu
- Đề tài tập trung chủ yếu vào việc tìm hiểu nhận thức và thái độ của người dântrong vấn đề phân loại, thu gom và xử lý rác thải sinh hoạt, trên cơ sở đó làm rõ vai tròcủa các cơ quan chức năng, cơ quan truyền thông trong việc quản lý môi trường
- Đề ra những giải pháp nhằm góp phần nâng cao nhận thức từ đó góp phần thay
đổi hành vi của người dân
2.2 Nhi ệm vụ nghiên cứu:
- Khái quát hóa những vấn đề lý luận liên quan đến vấn đề phân loại, thu gom và
xử lý rác thải sinh hoạt
Đại học Kinh tế Huế
Trang 13- Tìm hiểu thái độ nhận thức của người dân trong việc phân loại, thu gom và xử
lý rác thải sinh hoạt
- Thực trạng về phân loại, thu gom và xử lý rác thải sinh hoạt của các đơn vị có
liên quan: Công ty TNHH MTV Môi trường và công trình đô thị Đông Hà, phòng Tàinguyên môi trường Thành phố Đông Hà
- Thực trạng về phân loại, thu gom và xử lý rác thải sinh hoạt của người dân
- Tìm hiểu những thuận lợi và khó khăn trong việc phân loại, thu gom và xử lýrác thải của chính quyền và người dân
- Đề xuất những giải pháp nhằm nâng cao nhận thức của cộng đồng trong việcphân loại, thu gom và xử lý rác thải sinh hoạt ở Thành Phố Đông Hà
2.3 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp luận: sử dụng phương pháp duy vật biện chứng của chủ nghĩaMác - Lênin làm cơ sở lý luận cho đề tài
- Phương pháp thu thập dữ liệu sơ cấp: sử dụng 2 phương pháp là phương pháp
điều tra bằng bảng hỏi và phương pháp phỏng vấn sâu để bổ sung và lý giải cho những
con số thu thập được từ phương pháp điều tra bằng bảng hỏi, từ đó thấy được thựctrạng xử lý và phân loại rác thải sinh hoạt để đưa ra những đề xuất phù hợp
Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi: Đây là phương pháp sử dụng bảng câu hỏi
dưới dạng viết và các câu trả lời tương ứng
Nguyên tắc chọn mẫu: Chọn mẫu phi xác suất theo chỉ tiêu
Đề tài khảo sát 3 phường có dân số đông nhất, 2 phường nằm ở trung tâm Thành
phố là Phường 1, Phường 5 và một phường nằm ở bên ngoài Thành phố là Phường
Đông Lương đại diện cho cả Thành phố
Với số mẫu được chọn là 60 mẫu, mỗi phường chọn ra 20 hộ gia đình theo cáctiêu chí sau:
Gia đình công nhân viên chức
Gia đình công nhân
Gia đình làm nghề tự do (buôn bán, làm thuê…)
Gia đình hưu trí
Đại học Kinh tế Huế
Trang 14Phương pháp phỏng vấn sâu: Phương pháp này sử dụng bảng câu hỏi mang tính
chất gợi mở hỏi trực tiếp cán bộ môi trường, nhân viên vệ sinh môi trường (là nhân
viên thu gom rác do công ty TNHH MTV Môi trường và Công trình Đô thị thuê)
Nhằm mô tả thực trạng của việc phân loại, thu gom và xử lý rác thải sinh hoạt, bốicảnh nghiên cứu cho thấy được đặc trưng của cộng đồng mà nghiên cứu quan tâm
- Phương pháp thu thập dữ liệu thứ cấp: nghiên cứu và phân tích các tài liệu có
sẵn liên quan đến đề tài
- Phương pháp quan sát: quan sát địa bàn và các khu phố thuộc Thành phố Đông
Hà nhằm tìm hiểu về việc phân loại, thu gom và xử lý rác thải sinh hoạt của các hộ gia
đình
- Phương pháp toán kinh tế: phân tích những ảnh hưởng của các nhân tố bên
ngoài đến nhận thức của các hộ điều tra Sử dụng phần mềm eviews 4.0 để phân tích
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là nhận thức của người dân trong việc phân loại,
thu gom và xử lý rác thải sinh hoạt ở Thành phố Đông Hà - Tỉnh Quảng Trị
3.2 Ph ạm vi nghiên cứu
- Phạm vi không gian: nghiên cứu được thực hiện ở Thành phố Đông Hà - Tỉnh
Quảng Trị
- Phạm vi điều tra: do thời gian có hạn nên đề tài chỉ dừng lại ở việc khảo sát 3
phường là phường 1, phường 5 và phường Đông Lương đại diện cho cả Thành phốĐông Hà
- Phạm vi thời gian: từ tháng 01/2011 đến 04/2011.
Vì đây là một đề tài rộng và mang tính khái quát cao nên trong quá trình thựchiện đề tài không tránh khỏi những hạn chế, thiếu sót về nội dung và hình thức Kínhmong thầy cô và các bạn xem xét, góp ý để đề tài được hoàn thiện hơn
Đại học Kinh tế Huế
Trang 15PHẦN II NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
Học thuyết này ra đời dựa trên các nguyên tắc cơ bản:
Một là, thừa nhận thế giới vật chất tồn tại khách quan độc lập đối với ý thức con
người
Hai là, thừa nhận được khả năng nhận thức được thế giới của con người, coi
nhận thức là sự phản ánh hiện thực khách quan vào trong bộ óc con người, là hoạt
động tìm hiểu khách thể của chủ thể Không có cái gì là không thể nhận thức được mà
chỉ có cái con người chưa nhận thức được mà thôi
Ba là, khẳng định sự phản ánh đó là một quá trình biện chứng, tích cực, tự giác
và sáng tạo Quá trình phản ánh ấy diễn ra theo trình tự từ chưa biết đến biết, từ biết ít
đến biết nhiều, từ hiện tượng đến bản chất
Bốn là, coi thực tiễn là cơ sở chủ yếu và trực tiếp của nhận thức, là động lực,
mục đích của nhận thức và là tiêu chuẩn để kiểm tra chân lý
Đại học Kinh tế Huế
Trang 16Có thể nói quá trình nhận thức không phải là một hành động tức thời, giản đơn,máy móc và thụ động mà là quá trình biện chứng, tích cực, sáng tạo Quá trình nhậnthức diễn ra theo con đường từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng rồi từ tư duytrìu tượng đến thực tiễn Đó cũng là quá trình nhận thức đi từ hiện tượng đến bản chất,
từ bản chất kém sâu sắc đến bản chất sâu sắc hơn.[1]
Hoạt động nhận thức được chia làm hai giai đoạn lớn :
- Giai đoạn nhận thức cảm tính (cảm giác và tri giác): Là một quá trình tâm lí, nó
là sự phản ánh những thuộc tính bên ngoài của sự vật và hiện tượng thông qua sự trigiác của các giác quan Cảm giác là hình thức khởi đầu trong sự phát triển của hoạt
động nhận thức, nó chỉ phản ánh những thuộc tính riêng lẻ của sự vật hiện tuợng còn
tri giác phản ánh sự vật hiện tượng một cách trọn vẹn và theo một cấu trúc nhất định
- Giai đoạn nhận thức lí tính (tư duy và trừu tượng): Tưởng tượng là một quátrình tâm lí phản ánh những điều chưa từng có trong kinh nghiệm của cá nhân bằngcách xây dựng những hình ảnh mới trên cơ sở những biểu tượng đã có Tư duy là mộtquá trình tâm lí phản ánh những thuộc tính bản chất, những mối liên hệ bên trong cótính quy luật của vật hiện tượng trong hiện thực khách quan mà trước đó ta chưa biết
Như vậy, nhờ hoạt động nhận thức mà con người phản ánh hiện thực xung quanh
ta và các hiện thực của bản thân ta, trên cơ sở đó con người tỏ thái độ tình cảm và hành
động Trong việc nhận thức thế giới, con người có thể đạt tới mức độ nhận thức khác
nhau, từ thấp đến cao từ đơn giản đến phức tạp.[2]
1.1.1.2 Thái độ
Khái niệm thái độ được đưa ra lần đầu tiên vào năm 1918 bởi hai nhà tâm lý học
người Mỹ là W.I.Thomas và F.Znaniecki Hai nhà tâm lý học này cho rằng: “Thái độ
là định hướng chủ quan của cá nhân có hành động hay không hành động khác mà được
xã hội chấp nhận” Hai ông cũng cho rằng: “Thái độ là trạng thái tinh thần của cá nhân
đối với một giá trị” Như vậy, W.I.Thomas và F.Znaniecki đã đồng nhất thái độ vớiđịnh hướng giá trị của cá nhân
Trong từ điển tiếng Việt, Thái độ được định nghĩa là: “Cách nhìn nhận, hành
động của cá nhân về một hướng nào đó trước một vấn đề, một tình huống cần giải
quyết Đó là tổng thể những biểu hiện ra bên ngoài của ý nghĩ, tình cảm của cá nhân
Đại học Kinh tế Huế
Trang 17đối với con người hay một sự việc nào đó” Trong từ điển Anh - Việt “thái độ” được
viết là “Attitude” và được định nghĩa là “cách ứng xử, quan điểm của một cá nhân”
Từ điển xã hội học do Nguyễn Khắc Viện chủ biên cũng nhấn mạnh: “Tâm thế
-thái độ - xã hội đã được củng cố, có cấu trúc phức tạp, bao gồm các thành phần nhận
thức, xúc cảm, hành vi”
Còn trong từ điển các thuật ngữ Tâm lý và Phân tâm học xuất bản tại New York
năm 1996 thì lại cho rằng: "Thái độ là một trạng thái ổn định bền vững, do tiếp thuđược từ bên ngoài, hướng vào sự ứng xử một cách nhất quán đối với một nhóm đốitượng nhất định, không phải như bản thân chúng ra sao mà chúng được nhận thức ra
sao Một thái độ được nhận biết ở sự nhất quán của những phản ứng đối với một nhóm
đối tượng Trạng thái sẵn sàng có ảnh hưởng trực tiếp lên cảm xúc và hành động cóliên quan đến đối tượng”
Như vậy, có thể thấy một điểm chung khi các từ điển định nghĩa về thái độ đều
cho rằng đó là “cách ứng xử của cá nhân đối với các tình huống, các vấn đề của xãhội” Nó được cấu thành rất phức tạp, với nhiều bộ phận hợp thành, cho dù cách sửdụng từ ngữ khi định nghĩa về thái độ là khác nhau
Một nhà tâm lý học người Mỹ khác, G.W.Allport, vào năm 1935, đã đưa ra địnhnghĩa về thái độ như sau: “Thái độ là trạng thái sẵn sàng về mặt tinh thần và thần kinh,
được hình thành thông qua kinh nghiệm, có khả năng điều chỉnh hay ảnh hưởng năngđộng đối với phản ứng của cá nhân đến các tình huống và khách thể mà nó có thiết lập
mối quan hệ” Allport định nghĩa “Thái độ trên khía cạnh điều chỉnh hành vi” Ông coi
thái độ như một trạng thái tâm lý, thần kinh cho hoạt động Ở một cá nhân, khi sắp sửa
có những hành động diễn ra thì sẽ xuất hiện thái độ nhằm chuẩn bị và điều chỉnhnhững hoạt động đó Có thể thấy là, Allport đã trả lời được câu hỏi thái độ là gì và đã
đề cập đến nguồn gốc, vai trò, chức năng của thái độ Từ đó, ông đã rút ra được một số
những đặc điểm của thái độ như: "Thái độ là trạng thái của tinh thần và hệ thần kinh,
là sự sẵn sàng phản ứng, là một trạng thái có tổ chức, được hình thành trên cơ sở kinhnghiệm quá khứ và nó điều khiển cũng như ảnh hưởng tới hành vi của cá nhân” Đây
là định nghĩa về thái độ được rất nhiều các nhà tâm lý học khác thừa nhận Tuy nhiên,Allport chưa lưu ý tới ảnh hưởng của môi trường, nhu cầu, động cơ của cá nhân đối
Đại học Kinh tế Huế
Trang 18với quá trình hình thành thái độ Chính vì vậy, khi định nghĩa về thái độ, Allport đã dự
đoán rằng: “Khái niệm thái độ có lẽ là khái niệm phân biệt nhất định và quan trọng
nhất trong tâm lý học xã hội hiện đại Mỹ”
Sau này, nhà tâm lý học T.M.Newcom cũng đưa ra một định nghĩa tương tự như
định nghĩa của Allport Ông cho rằng: “Thái độ chính là một thiên hướng hành động,
tư duy nhận thức, cảm nhận của cá nhân tới một đối tượng hay sự việc có liên quan”
Nhà tâm lý học W.J.Mc Guire thì định nghĩa rằng: “Thái độ là bất cứ sự thể hiện nào
đó về mặt nhận thức, tổng kết sự đánh giá của chúng ta về đối tượng của thái độ, về
bản thân, về những người khác, về đồ vật, về hành động, sự kiện hay tư tưởng”
Trong khi đó, khi nghiên cứu về thái độ, một nhà tâm lý học Xô Viết không sử
dụng khái niệm “thái độ ” mà dùng thuật ngữ tương đương là “tâm thế” khi giải thíchhành vi của con người, mà điển hình là Uznatze với “thuyết tâm thế” Uznatze chorằng “thái độ không phải là một nội dung cục bộ của ý thức, không phải là nội dungtâm lý bị tách rời, đối lập lại với các trạng thái tâm lý khác của ý thức và ở trong mốiquan hệ qua lại với nó, mà nó là một trạng thái toàn vẹn, xác định của chủ thể…Tính
khuynh hướng năng động mà tâm thế là một yếu tố toàn vẹn theo một khuynh hướng
nhất định nhằm một tính năng động nhất định Đó là sự phản ánh cơ bản, đầu tiên đốivới tác động của tình huống, mà trong đó, chủ thể phải đặt ra và giải quyết nhiệm vụ”.Còn các nhà tâm lý học xã hội Lêningrat (Liên Xô cũ) lại quan niệm “thái độ là những
cơ cấu tâm lý sẵn có, định hướng cho sự ứng phó của cá nhân”
Những quan niệm về thái độ cũng được phản ánh trong quan điểm của các nhàtâm lý học Việt Nam Đó là quan niệm cho rằng: “Thái độ là một bộ phận cấu thành,
đồng thời là một thuộc tính cơ bản của ý thức” hay “thái độ về mặt cấu trúc bao hàm
cả mặt nhận thức, mặt xúc cảm và mặt hành vi”
Thái độ là một bộ phận hợp thành, một thuộc tính trọn vẹn của ý thức, quy định
tính sẵn sàng hành động của con người đối với đối tượng theo một hướng nhất định,
được bộc lộ ra bên ngoài thông qua hành vi, cử chỉ, nét mặt và lời nói của người đó
trong những tình huống, điều kiện cụ thể.[10]
Đại học Kinh tế Huế
Trang 191.1.2 Một số khái niệm về phân loại, thu gom và xử lý chất thải rắn sinh hoạt
1.1.2.1 Rác th ải sinh hoạt (chất thải rắn sinh hoạt)
Rác thải, đặc biệt là nhựa phế liệu, đang trở thành gánh nặng cho xã hội Ai cũngbiết rác là chất thải, là thứ bỏ đi Nhưng không phải ai cũng biết, rác thải ngày càngnhiều và là hiểm họa đối đối với con người và nguy hại gây ô nhiễm môi trườngnghiêm trọng Các bãi rác không hợp vệ sinh, đúng quy cách, đặc biệt là các bãi lộthiên có ảnh hưởng nghiêm trọng đến nguồn nước ngầm và gây nguy hiểm đến sứckhỏe con người
Rác xuất hiện ở khắp mọi nơi, chỗ nào cũng có thể thấy rác, từ quán ăn, chợ, trên
đường, tại các trường học, ký túc xá, bệnh viện đến các sông hồ Hầu hết trên các
tuyến đường, tại các khu phố và các khu chung cư đều có khẩu hiệu với nội dung vận
động, khuyến khích người dân thực hiện nếp sống văn minh đô thị, trong đó có việc đổrác đúng nơi quy định, không vứt rác bừa bãi… Phần lớn người dân đã nghiêm túc
chấp hành, nhưng thực tế vẫn còn những đống rác nằm ngổn ngang, nhiều ngườivẫn vô tư xả rác trên đường,…
Tại các sông, hồ rác chủ yếu do người dân sống hai bên bờ và những người buônbán tiện tay vứt xuống kinh khủng nhất vẫn là rác tại các chợ
Chất thải rắn - CTR (còn gọi là rác) là các chất rắn bị loại ra trong quá trình sống,sinh hoạt, hoạt động sản xuất của con người và động vật CTR phát sinh từ các hộ gia
đình, khu công cộng, khu thương mại, khu xây dựng, bệnh viện, khu xử lý chất thải Trong đó, CTR sinh hoạt chiếm tỷ lệ cao nhất Số lượng, thành phần chất lượng rác
thải tại từng quốc gia, khu vực là rất khác nhau, phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh
tế, khoa học, kỹ thuật
Rác thải sinh hoạt là những vật chất ở dạng rắn do các hoạt động sinh hoạt của
con người và động vật tạo ra Những “sản phẩm” này thường ít được sử dụng hoặc do
nó là “sản phẩm” ngoài ý muốn của con người Rác thải có thể ở dạng thành phẩm,được tạo ra trong hầu hết các giai đoạn sản xuất và trong tiêu dùng.[11]
Bất kỳ một hoạt động sống của con người tại nhà, công sở, trên đường đi, tại nơicông cộng…, đều sinh ra một lượng rác đáng kể Thành phần chủ yếu của chúng làchất hữu cơ và rất dễ gây ô nhiễm trở lại cho môi trường sống nhất Cho nên, chất thải
Đại học Kinh tế Huế
Trang 20rắn sinh hoạt (CTRSH) có thể định nghĩa là những thành phần tàn tích hữu cơ phục vụcho hoạt động sống của con người, chúng không còn được sử dụng và vứt trả lại vào
môi trường sống
Chất thải rắn sinh hoạt: Là những chất thải liên quan đến các hoạt động của con
người, nguồn tạo thành chủ yếu từ các khu dân cư, các cơ quan, trường học, các trung
tâm dịch vụ, thương mại Chất thải rắn sinh hoạt có thành phần bao gồm kim loại, sành
sứ, thủy tinh, gạch ngói vỡ, đất, đá, cao su, chất dẻo, thực phẩm dư thừa hoặc quá hạn
sử dụng, xương động vật, tre, gỗ, lông gà vịt, vải, giấy, rơm, rạ, xác động vật, vỏ rauquả…
Theo phương diện khoa học, có thể phân biệt các loại chất thải rắn sinh hoạt nhưsau:
Một là, chất thải thực phẩm bao gồm các thức ăn thừa, rau, quả… loại chất thải
này mang bản chất dễ bị phân hủy sinh học, quá trình phân hủy tạo ra các chất có mùikhó chịu, đặc biệt trong điều kiện thời tiết nóng ẩm Ngoài các loại thức ăn dư thừa từ
gia đình còn có thức ăn dư thừa từ các bếp ăn tập thể, các nhà hàng, khách sạn,…
Hai là, chất thải trực tiếp của động vật chủ yếu là phân, bao gồm phân người và
phân của các động vật khác
Ba là, chất thải lỏng chủ yếu là bùn ga cống rãnh, là các chất thải ra từ các khu
vực sinh hoạt của dân cư
Bốn là, tro và các chất dư thừa thải bỏ khác bao gồm: các loại vật liệu sau đốt
cháy, các sản phẩm sau khi đun nấu bằng than, củi và các chất thải dễ cháy khác trong
gia đình, trong kho của các công sở, cơ quan, xí nghiệp, các loại xỉ than
Năm là, các chất thải rắn từ đường phố có thành phần chủ yếu là các lá cây, que,
củi, nilon, vỏ bao gói…
Như vậy, rác thải sinh hoạt là một phần tất yếu của cuộc sống, không một hoạtđộng nào của cuộc sống không sinh ra rác thải Xã hội ngày càng phát triển, số lượng
rác ngày càng nhiều và dần trở thành một mối đe dọa thật sự đối với cuộc sống.[7]
1.1.2.2 Phân lo ại rác thải
Phân loại rác có thể hiểu là: Quá trình tách riêng các loại rác có thể thu hồi để tái
sử dụng với các loại rác không thể thu hồi tái sử dụng Hàng ngày con người đã tạo ra
Đại học Kinh tế Huế
Trang 21một lượng rác thải khổng lồ, trong đó phần lớn chưa được phân loại để thu hồi tái sửdụng, mà cứ vứt bỏ tùy tiện gây ô nhiễm môi trường Tiến hành phân loại và thu gomrác có thể giảm thiểu khối lượng rác cũng như thiết bị xử lý, vừa hạ thấp giá thành xử
lý, lại giảm thiểu được tài nguyên đất đại bị chiếm dụng, mang lại hiệu quả từ ba mặt:
xã hội, kinh tế và sinh thái
Tuy vậy, không phải tất cả các loại rác đều có thể áp dụng cách thức chôn lấphoặc thiêu đốt truyền thống Ví dụ như những chai lọ nhựa đựng đồ uống, nếu đemchôn lấp sẽ phá hoại thổ nhưỡng, ảnh hưởng đến sự sinh trưởng của cây cối, làm ônhiễm nguồn nước ngầm, hơn nữa còn chiếm một diện tích đất đại lớn và lãng phí tàinguyên Nhưng nếu áp dụng hình thức thiêu đốt thì nó sẽ tạo ra các loại khí thải độchại
Do đó rác thải được thải ra từ các hoạt động khác nhau phải được phân loại theocác cách khác nhau như:
- Theo vị trí hình thành: người ta phân biệt ra rác thải trong nhà, rác thải ngoài
nhà, rác thải trên đường, chợ…
- Theo thành phần hóa học và đặc tính vật lý: người ta phân biệt theo các thành
phần vô cơ, hữu cơ, cháy được, không cháy được, kim loại, da, giẻ vụn, cao su, chấtdẻo…
- Theo mức độ nguy hại:
Rác thải nguy hại: bao gồm các loại hóa chất dễ gây phản ứng, độc hại, rác thảisịnh hoạt dễ thối rữa, các chất dễ cháy, nổ hoặc các rác thải phóng xạ, các rác thảinhiễm khuẩn, lây lan… Có thể gây nguy hại tới con người, động vật và gây nguy hạitới môi trường Nguồn phát sinh ra rác thải nguy hại chủ yếu từ các hoạt động y tế,công nghiệp và nông nghiệp
Rác thải không nguy hại: là những loại rác thải không có chứa các chất và hợpchất có một trong các đặc tính nguy hại trực tiếp hoặc tương tác thành phần.[11]
1.1.2.3 Thu gom rác thải
Công đoạn thu gom rác thải được thực hiện bắt đầu từ điểm phát sinh, gồm
những phần việc sau:
Đại học Kinh tế Huế
Trang 22- Chứa rác tạm thời tại nguồn (hộ dân cư, cơ quan, trường học, chợ, cửa hàng ).Dụng cụ để chứa thường là bao nhựa, thùng nhựa hoặc sắt, container Kích thước và
đặc điểm từng loại phụ thuộc vào mức độ phát sinh và tần số thu gom
- Việc thu gom được tiến hành thủ công hay cơ giới tuỳ vào khả năng kinh tế vàmức độ phát triển mỹ thuật Thu gom thủ công là chuyển bằng tay các bao rác, thùng
rác đổ lên xe tải hoặc xe tay Thu gom cơ giới áp dụng được khi các loại thùng chứa
phải được tiêu chuẩn hoá
- Tần số thu gom phụ thuộc vào điều kiện khí hậu và thành phần rác Ðối với địa
phương có đặc điểm nhiệt độ cao, rác có thành phần hữu cơ lớn thì mức độ phân huỷ
rác do vi sinh sẽ nhanh hơn, gây mùi khó chịu tại điểm chứa rác và do vậy việc gomrác phải được làm thường xuyên hơn
- Rác có thể được chuyển trực tiếp từ nơi chứa tạm thời đến điểm xử lý nếu điềukiện về giao thông cho phép (khoảng cách đến bãi rác gần) Khi nơi xử lý cách xa khu
đô thị thì có thể thành lập các điểm trung chuyển gom rác trong thời gian ngắn nhất vềđây, sau đó dùng các phương tiện có công suất lớn chuyển rác đến nơi xử lý Nhữngphương pháp xử lý chính là tái chế, đốt, chôn lấp, làm phân rác Tuỳ điều kiện cụ thể
và thành phần rác mà người ta lựa chọn phương pháp phù hợp từ các phương pháp cơbản trên.[12]
1.1.2.4 X ử lý rác thải
Xử lý rác thải là dùng các biện pháp kỹ thuật để xử lý các chất thải nhằm làmgiảm ảnh hưởng tới môi trường, tái tạo lại các sản phẩm có lợi cho xã hội nhằm pháthuy hiệu quả kinh tế, xử lý rác thải là một công tác quyết định đến chất lượng bảo vệ
- Phương pháp xử lý rác bằng công nghệ ép kiện
- Phương pháp xử lý rác bằng công nghệ Hydromex
- Xử lý rác bằng công nghệ Seraphin
Đại học Kinh tế Huế
Trang 231.1.2.5 Qu ản lý rác thải
Quản lý rác thải là việc đưa ra các công cụ kinh tế, pháp luật nhằm điều chỉnhhành vi của con người để có được môi trường trong sạch Việc sử dụng các công cụkinh tế trên ở các nước cho thấy một số tác động tích cực như các hành vi môi trường
được thuế điều chỉnh một cách tự giác, các chi phí của xã hội cho công tác bảo vệ môitrường có hiệu quả hơn, khuyến khích việc nghiên cứu triển khai kỹ thuật công nghệ
có lợi cho bảo vệ môi trường, gia tăng nguồn thu nhập phục vụ cho công tác bảo vệ
môi trường và cho ngân sách nhà nước, duy trì tốt giá trị môi trường của quốc gia
Chất thải rắn ở đây được hiểu là rác thải sinh hoạt, rác thải dịch vụ thương mại,
kể cả chất thải đô thị độc hại Dịch vụ liên quan đến chất thải rắn sẽ có tác dụng tíchcực không chỉ riêng cho môi trường mà cho cả phát triển kinh tế Chính vì thế việc xác
định giá dịch vụ thu gom, vận chuyển và xử lý chất thải rắn phải được nghiên cứu,
xem xét kỹ trên cơ sở vừa đảm bảo bù đắp được chi phí thu gom, vận chuyển, xử lývừa gián tiếp khuyến khích các hộ gia đình giảm thiểu rác thải
Việc xác định mức phí của dịch vụ môi trường có thể thuận lợi khi cân nhắc,phân tích các chi phí cần thiết và dựa trên trọng lượng hoặc thể tích của rác thải
Nếu tiếp cận theo khối lượng rác thải thì các hộ gia đình phải có thùng đựng rác
riêng đặt ở một vị trí cố định và việc trả phí phải hoàn toàn tự nguyện trên cơ sở khốilượng rác thải sản sinh ra hàng ngày hoặc hàng tuần
Còn một cách tiếp cận khác là theo số lượng người trong một gia đình, căn cứvào số người, ví dụ 3 người một suất phí dịch vụ môi trường để xác định mức phídịch vụ môi trường phải nộp Theo cách này có thể không được công bằng nhưngthuận lợi hơn, tuy nhiên lại không khuyến khích được các hộ gia đình giảm thiểu rácthải.[14]
1.1.3 Nguồn gốc, thành phần của rác thải sinh hoạt
1.1.3.1 Ngu ồn gốc của rác thải sinh hoạt
Khối lượng rác thải sinh hoạt ngày càng tăng do tác động của sự gia tăng dân số,
sự phát triển kinh tế - xã hội, sự thay đổi tính chất tiêu dùng trong các đô thị và các
vùng nông thôn Trong đó các nguồn chủ yếu phát sinh chất thải bao gồm:
- Từ các khu dân cư (chất thải sinh hoạt)
Đại học Kinh tế Huế
Trang 24- Từ các trung tâm thương mại, các công sở, trường học, công trình công cộng.
- Từ các hoạt động công nghiệp, nông nghiệp, các hoạt động xây dựng
- Từ các làng nghề…
Sơ đồ 1: Sơ đồ nguồn phát sinh chất thải
(Nguồn: Huỳnh Tuyết Hằng 08/2005)
1.1.3.2 Thành ph ần của rác thải sinh hoạt
Thành phần của rác thải rất khác nhau tùy thuộc từng địa phương, tính chất tiêu
dùng, các điều kiện kinh tế và nhiều yếu tố khác Thông thường thành phần của rác
thải bao gồm các hợp phần sau: Chất thải thực phẩm, giấy, catton, vải vụn, sản phẩm
vườn, gỗ, thủy tinh, nhựa, bụi tro, cát đá, gạch vụn…
1.1.4 Các phương pháp xử lý rác thải sinh hoạt
1.1.4.1 Phương pháp chôn lấp
Phương pháp truyền thống đơn giản nhất là chôn lấp rác Phương pháp này có chi
phí thấp và được áp dụng phổ biến ở các nước đang phát triển
Việc chôn lấp được thực hiện bằng cách dùng xe chuyên dụng chở rác tới các bãi
đã xây dựng trước Sau khi rác được đổ xuống, xe ủi san bằng, đầm nén trên bề mặt và
đổ lên một lớp đất, hàng ngày phun thuốc diệt ruồi muỗi, rắc vôi bột… theo thời gian,
sự phân hủy của vi sinh vật làm cho rác trở nên tơi xốp và thể tích của bãi rác giảm
Đại học Kinh tế Huế
Trang 25xuống Việc đổ rác lại được tiếp tục cho đến khi bãi rác đầy thì chuyển sang bãi rácmới.
Hiện nay việc chôn lấp rác thải sinh hoạt được sử dụng chủ yếu ở các nước đangphát triển nhưng phải tuân thủ các quy định về bảo vệ môi trường một cách nghiêmngặt Việc chôn lấp rác có xu hướng giảm dần, tiến tới chấm dứt ở các nước đang pháttriển
Các bãi chôn lấp rác phải cách xa khu dân cư, không gần nguồn nước ngầm vànguồn nước mặt Đáy của bãi rác nằm trên tầng đất sét hoặc được phủ các lớp chốngthấm bằng màn địa chất Ở các bãi chôn lấp rác cần phải thiết kế khu thu gom và xử lý
nước rác trước khi thải vào môi trường Việc thu khí ga để biến đổi thành năng lượng
là một cách để tận dụng từ rác thải rất hữu ích
- Ưu điểm của phương pháp:
+ Công nghệ đơn giản, rẻ tiền và phù hợp với nhiều loại rác thải
+ Chi phí vận hành bãi rác thấp
- Nhược điểm của phương pháp:
+ Chiếm diện tích đất tương đối lớn
+ Không được sự đồng tình của người dân khu vực xung quanh
+ Nguy cơ gây ô nhiễm môi trường (đất, nước, không khí) cao
+ Tìm kiếm xây dựng bãi rác mới là việc làm khó khăn.[11]
1.1.4.2 Phương pháp đốt rác
Xử lý rác bằng phương pháp đốt là giảm tới mức tối thiểu chất thải cho khâu xử lýcuối cùng Nhờ thiêu đốt dung tích chất thải rắn được giảm nhiều chỉ còn khoảng 10% sovới dung tích ban đầu, trọng lượng giảm chỉ còn 25% hoặc thấp hơn so với ban đầu Nhưvậy sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho việc thu gom và giảm nhu cầu về dung tích chứa tạichỗ, ngay tại nguồn, đồng thời cũng dễ dàng chuyên chở ra bãi chôn lấp tập trung nếu cần
Tuy nhiên phương pháp đốt rác sẽ gây ô nhiễm không khí cho khu vực dân cư xungquanh, đồng thời làm mất mỹ quan đô thị, vì vậy phương pháp này chỉ dùng tại các địaphương nhỏ, có mật độ dân số thấp
Phương pháp này chi phí cao, so với phương pháp chôn lấp rác, chi phí để đốt
một tấn rác cao hơn gấp 10 lần Công nghệ đốt rác thường sử dụng ở các quốc gia phát
Đại học Kinh tế Huế
Trang 26triển vì phải có một nền kinh tế đủ mạnh để bao cấp cho việc thu đốt rác sinh hoạt như
là một dịch vụ phúc lợi xã hội toàn dân Tuy nhiên việc đốt rác sinh hoạt bao gồmnhiều chất thải khác nhau sinh khói độc và dễ sinh khí dioxin nếu không giải quyết tốtviệc xử lý khói Năng lượng phát sinh khi đốt rác có thể tận dụng cho các lò hơi, lò
sưởi hoặc cho ngành công nghệ nhiệt và phát điện Mỗi lò đốt phải được trang bị một
hệ thống xử lý khí thải tốn kém nhằm khống chế ô nhiễm không khí do quá trình đốtgây ra
Hiện nay tại các nước Châu Âu có xu hướng giảm đốt rác thải vì hàng loạt cácvấn đề kinh tế cũng như môi trường cần phải giải quyết Việc thu đốt rác thải thườngchỉ áp dụng cho việc xử lý rác thải độc hại, rác thải bệnh viện hoặc rác thải côngnghiệp và các phương pháp khác không xử lý triệt để được.[11]
1.1.4.3 Phương pháp ủ sinh học
Ủ sinh học (compost) là quá trình ổn định sinh hóa các chất hữu cơ để hình thành
các chất mùn, với thao tác sản xuất và kiểm soát một cách khoa học tạo môi trường tối
ưu đối với quá trình
Quá trình ủ hữu cơ từ rác hữu cơ (sản xuất phân bón hữu cơ) là một phương pháptruyền thống được áp dụng phổ biến ở các quốc gia đang phát triển trong đó có ViệtNam Quá trình ủ được coi như quá trình lên men yếm khí mùn hoặc hoạt chất mùn.Sản phẩm thu hồi là hợp chất mùn không mùi, không chứa vi sinh vật gây bệnh và hạt
cỏ Để đạt mức độ ổn định như lên men, việc ủ đòi hỏi năng lượng để tăng cao nhiệt
độ của đống ủ Trong quá trình ủ oxy sẽ được hấp thụ hàng trăm lần và hơn nữa so với
bể aeroten Quá trình ủ áp dụng với chất hữu cơ không độc hại, lúc đầu là khử nước,sau là xử lý cho đến khi nó thành xốp và ẩm Độ ẩm và nhiệt độ được kiểm tra thườngxuyên và giữ cho vật liệu ủ luôn ở trạng thái hiếu khí trong suốt thời gian ủ Quá trình
tự tạo ra nhiệt riêng nhờ quá trình oxy hóa các chất thối rữa Sản phẩm cuối cùng là
CO2, nước và các hợp chất hữu cơ bền vững như: lignin, xenlulo, sợi…
Công nghệ ủ có thể là ủ đống tĩnh thoáng khí cưỡng bức, ủ luống có đảo định kỳhoặc vừa thổi vừa đảo Xử lý rác làm phân hữu cơ là biện pháp rất có hiệu quả, sảnphẩm phân hủy có thể kết hợp tốt với phân người và phân gia súc cho ta chất hữu cơ
có hàm lượng dinh dưỡng cao, tạo độ tơi xốp, rất tốt cho việc cải tạo đất.[11]
Đại học Kinh tế Huế
Trang 271.1.4.4 Phương pháp xử lý rác bằng công nghệ ép kiện
Phương pháp ép kiện được thực hiện trên cơ sở toàn bộ rác thải tập trung thu
gom vào nhà máy Rác được phân loại bằng phương pháp thủ công trên băng tải, các
chất trơ và các chất có thể tận dụng được như: kim loại, nilon, giấy, thủy tinh, nhựa…
được thu hồi để tái chế Những chất còn lại sẽ được băng tải chuyền qua hệ thống ép
nén rác bằng thủy lực với mục đích làm giảm tối đa thể tích khối rác
Các kiện rác đã nén ép này được sử dụng vào việc đắp các bờ chắn hoặc san lấp
các vùng đất trũng sau khi được phủ lên các lớp đất cát Trên diện tích này có thể sử
dụng làm mặt bằng các công trình như: công viên, vườn hoa, các công trình xây dựngnhỏ và mục đích chính là làm giảm tối đa mặt bằng khu vực xử lý rác
Sơ đồ 2: Sơ đồ công nghệ xử lý rác bằng phương pháp ép kiện
(Nguồn: Trần Hiếu Nhuệ, Quản lý chất thải rắn đô thị, 2001)
1.1.4.5 Phương pháp xử lý rác bằng công nghệ Hydromex
Đây là một công nghệ mới lần đầu tiên được áp dụng ở Mỹ (2/1996) Công nghệ
Hydromex nhằm xử lý rác đô thị (kể cả rác độc hại) thành các sản phẩm phục vụngành xây dựng, vật liệu, năng lượng và sản phẩm dùng trong nông nghiệp hữu ích.Bản chất của công nghệ Hydromex là nghiền nhỏ rác sau đó polime hóa và sửdụng áp lực lớn để nén, định hình các sản phẩm
Rác thải được thu gom (rác hỗn hợp, kể cả rác cồng kềnh) được chuyển về nhàmáy, không cần phân loại và đưa vào máy cắt nghiền nhỏ, sau đó đưa đến các thiết bị
Rác
thải
Phễunạp rác
Băngtải rác
Phânloại
Máy
ép rác
Băng tảithải vật liệu
Trang 28trộn bằng băng tải Chất thải lỏng pha trộn trong bồn phản ứng, các phản ứng trunghòa và khử độc thực hiện trong bồn Sau đó chất thải lỏng từ bồn phản ứng được bơmvào các thiết bị trộn: chất lỏng và rác thải kết dính với nhau sau khi cho thêm thànhphần polime hóa vào Sản phẩm ở dạng bột ướt được chuyển đến máy ép cho ra sảnphẩm mới Các sản phẩm này bền, an toàn với môi trường.[11]
Sơ đồ 3: Sơ đồ xử lý rác theo công nghệ Hydromex
(Nguồn: www.scribd.com/doc/6899000/4PP-xl-rac-thai-ran)
1.1.4.6 X ử lý rác bằng công nghệ Seraphin
Ban đầu rác thải được đưa tới nhà máy và đổ xuống nhà tập kết nơi có hệ thống
phun vi sinh khử mùi cũng như ozone diệt vi sinh vật độc hại Tiếp đến, băng tải sẽchuyển rác tới máy xé bông để phá vỡ mọi loại bao gói Rác tiếp tục đi qua hệ thốngtuyển từ (hút sắt thép và các kim loại khác) rồi lọt xuống sàng lồng
Sàng lồng có nhiệm vụ tách chất thải mềm, dễ phân huỷ, chuyển rác vô cơ (kể cảbao nhựa) tới máy vò và rác hữu cơ tới máy cắt Trong quá trình vận chuyển này, mộtchủng vi sinh ASC đặc biệt, được phun vào rác hữu cơ nhằm khử mùi hôi, làm chúngphân huỷ nhanh và diệt một số tác nhân độc hại Sau đó, rác hữu cơ được đưa vàobuồng ủ trong thời gian 7 - 10 ngày Buồng ủ có chứa một chủng vi sinh khác làm rác
Thành phầnpolyme hóa
Đại học Kinh tế Huế
Trang 29phân huỷ nhanh cũng như tiếp tục khử vi khuẩn Rác biến thành phân khi được đưa rakhỏi nhà ủ, tới hệ thống nghiền và sàng Phân trên sàng được bổ sung một chủng vi
sinh đặc biệt nhằm cải tạo đất và bón cho nhiều loại cây trồng, thay thế trên 50% phân
hoá học Phân dưới sàng tiếp tục được đưa vào nhà ủ trong thời gian 7 - 10 ngày
Do lượng rác vô cơ khá lớn nên các nhà khoa học tiếp tục phát triển hệ thống xử
lý phế thải trơ và dẻo, tạo ra một dây chuyền xử lý rác khép kín Phế thải trơ và dẻo điqua hệ thống sấy khô và tách lọc bụi tro gạch Sản phẩm thu được ở giai đoạn này làphế thải dẻo sạch Chúng tiếp tục đi qua tổ hợp băm cắt, phối trộn, sơ chế, gia nhiệtbảo tồn rồi qua hệ thống thiết bị định hình áp lực cao Thành phẩm cuối cùng là ốngcống panel, cọc gia cố nền móng, ván sàn, cốp pha
Cứ 1 tấn rác đưa vào nhà máy, thành phẩm sẽ là 300 - 350 kg seraphin (chất thải
vô cơ không huỷ được) và 250 - 300 kg phân vi sinh Loại phân này hiện đã được bán
trên thị trường với giá 500 đồng/kg
Như vậy, qua các công đoạn tách lọc - tái chế, công nghệ seraphin làm cho rác
thải sinh hoạt được chế biến gần 100% trở thành phân bón hữu cơ vi sinh, vật liệu xâydựng, vật liệu sản xuất đồ dân dụng, vật liệu cho công nghiệp Các sản phẩm này đã
được cơ quan chức năng, trong đó có Tổng cục Tiêu chuẩn Đo lường chất lượng kiểmđịnh và đánh giá là hoàn toàn đảm bảo về mặt vệ sinh và thân thiện môi trường Với
công nghệ seraphin, Việt Nam có thể xoá bỏ khoảng 52 bãi rác lớn, thu hồi đất bãi rác
để sử dụng cho các mục đích xã hội tốt đẹp hơn.[11]
1.1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến nhận thức và thái độ của người dân trong việc phân loại, thu gom và xử lý rác thải sinh hoạt
1.1.5.1 Hành động xã hội
Hành động xã hội mà chủ thể gắn cho ý nghĩa chủ quan nhất định Trong hànhđộng xã hội bao giờ cũng phải có sự tham gia của ý thức, mà theo M.Werber đó là ý
nghĩa chủ quan và sự định hướng mục đích
Khởi điểm của hành động xã hội là nhu cầu và lợi ích cá nhân, đó là những động
cơ thúc đẩy hành động hay nói cách khác mọi người hành động đều có mục đích
Sự tác động của môi trường, hoàn cảnh tới hành động tùy theo hoàn cảnh hoạt
động mà các chủ thể hành động sẽ lựa chọn phương án tối ưu nhất đối với mình
Đại học Kinh tế Huế
Trang 30Sơ đồ 4: Sơ đồ thể hiện hành động xã hội
(Nguồn: Báo cáo quy hoạch mạng lưới thu gom CTR TP Đông Hà đến năm 2020
Phòng tài nguyên môi trường TP Đông Hà)
Lý thuyết này cho rằng ở xã hội phát triển, hành động của con người sẽ tuân theo
hành động hợp lý về giá trị và hợp lý về mục đích, thay vì hành động theo truyền
thống hay theo cảm xúc
Lý thuyết hành động xã hội thể hiện, một người dân bỏ rác ra khỏi nhà mình màkhông quan tâm bỏ có đúng nơi quy định hay không với những suy nghĩ chỉ cần trongnhà sạch sẽ và không có rác là được nhưng gia đình họ vẫn có thể bị ô nhiễm bởi mùihôi thối từ rác thải họ bỏ không đúng nơi quy định bay vào nhà và làm cho gia đình họcũng phải chịu ô nhiễm Hay đó là một hành động tuân theo khi thấy mọi người xungquanh ai cũng vứt rác bừa bãi, không đúng nơi quy định hay không bao giờ phân loạirác thì họ không bao giờ tự mình thực hiện mà làm theo đám đông
Qua hành động xã hội cho ta biết được để giảm bớt những hậu quả không chủ
định thì cần tăng cường hiểu biết về bản thân đồng thời cần phải biết chú ý hơn về
hoàn cảnh, điều kiện, môi trường hành động, chỉ có như vậy chúng ta mới giảm bớt
được tính duy ý chí trong hành động người dân nhờ đó sẽ tăng cường sự phù hợp giữa
chủ thể, hoàn cảnh và hoàn cảnh trên thực tế
1.1.5.2 L ối sống
Lối sống là một khái niệm có tính đồng bộ và tổng hợp Nó gồm quan hệ kinh tế,
xã hội, tư tưởng, tâm lý, đạo đức, văn hóa và quan hệ khác, đặc trưng sinh học của họ
Hoàn cảnh
Nhu
Phương tiện công cụ
Mục đích
Đại học Kinh tế Huế
Trang 31trong những điều kiện của một hình thái kinh tế xã hội nhất định (theo PGS Lê NhưHoa).
Lối sống được quy định bởi các điều kiện khách quan và chủ quan
Điều kiện khách quan: điều kiện kinh tế xã hội, chính trị xã hội, tư tưởng và vănhóa, điều kiện về nhân khẩu, điều kiện về sinh thái Lối sống là phương thức hoạt động
của con người bao gồm: nếp sống, thói quen, phong tục, tập quán, cách sống, cách
làm, cách ăn, cách mặc, cách ở, cách sinh hoạt
Điều kiện chủ quan: điều kiện tâm lý xã hội, tình trạng chung của ý thức conngười, thái độ của họ đối với môi trường xung quanh trực tiếp
Hoạt động sống của con người là tổng thể các khối cơ bản: lao động, sinh hoạt,
văn hóa xã hội, chính trị xã hội Khi xem xét một mảng trong tổng thể các khối cơ bản
thì không thể bỏ qua các khối khác Bởi vì, giữa các khối có một mối liên hệ chặt chẽvới nhau, chúng chịu sự tác động qua lại lẫn nhau, bổ sung và hoàn thiện cho nhau.Khi tìm hiểu các hoạt động về vệ sinh môi trường trong phạm vi nghiên cứu của
đề tài, thì cần xem xét các hoạt động sống khác có liên quan Đồng thời, phân tích cácđiều kiện khách quan, chủ quan để thấy được vì sao người dân có nhận thức, thái độ vàhành vi như vậy trong việc phân loại, thu gom và xử lý rác thải sinh hoạt đảm bảo vệsinh môi trường
1.1.5.3 Ki ểm soát xã hội
Kiểm soát xã hội có thể là sự bố trí chuẩn mực, các giá trị cùng những chế tài épbuộc việc thực hiện chúng Sự kiểm soát sẽ quy định hành vi của cá nhân, các nhómvào các chuẩn mực đã được xã hội thừa nhận là đúng, cần phải làm theo để đảm bảo
xã hội luôn phát triển và bền vững
Việc áp dụng các hệ thống chính sách của nhà nước cho người dân về vấn đềphân loại, thu gom và xử lý rác thải nhằm đảm bảo vệ sinh môi trường Bằng sự thuyếtphục và áp dụng các chế tài như mức hình phạt về hành chính để nâng cao nhận thứccủa người dân và đẩy những hành động lệch lạc vào khuôn mẫu, đồng thời giúp xemxét việc thực hiện chính sách của nhà nước đã hợp lý và hiệu quả chưa để góp phần bổsung chính sách
Đại học Kinh tế Huế
Trang 321.1.6 Lợi ích từ việc phân loại, thu gom và xử lý rác thải sinh hoạt
1.1.6.1 L ợi ích kinh tế
Phân loại chất thải rắn mang lại nhiều lợi ích kinh tế Trước hết, nó tạo nguồnnguyên liệu sạch cho sản xuất phân compost Chất thải rắn đô thị có 14 - 16 thànhphần, trong đó phần lớn có khả năng tái sinh, tái chế như nilon, thủy tinh, nhựa, giấy,kim loại, cao su Khối lượng chất thải rắn có thể phân hủy (rác thực phẩm) chiếmkhoảng 75%, còn lượng chất thải rắn có khả năng tái sinh tái chế chiếm khoảng 25%.Với tỉ lệ vừa nêu thì hằng ngày, khối lượng chất thải rắn thực phẩm chiếm khoảng4.500 tấn Nếu biết tận thu rác thực phẩm, xã hội sẽ thu được hàng trăm tỉ đồng từ việcgiảm chi phí chôn lấp rác và bán phân compost Chi phí xử lý 1 tấn chất thải rắn sinhhoạt là 250.000 đồng Nếu mang 4.500 tấn rác thực phẩm đi chôn lấp, Thành phố mất
hơn 1,1 tỉ đồng cho việc xử lý số rác này Giảm khối lượng rác thải mang đi chôn lấp,
diện tích đất phục vụ cho việc chôn lấp rác cũng sẽ giảm đáng kể Bên cạnh đó, Thànhphố cũng sẽ giảm được gánh nặng chi phí trong việc xử lý nước rỉ rác cũng như xử lýmùi hôi từ rác thải.[13]
1.1.6.2 L ợi ích môi trường
Ngoài lợi ích kinh tế có thể tính toán được, việc phân loại chất thải rắn tại nguồncòn mang lại nhiều lợi ích đối với môi trường Khi giảm được khối lượng chất thải rắnsinh hoạt phải chôn lấp, khối lượng nước rỉ rác sẽ giảm Nhờ đó, các tác động tiêu cực
đến môi trường cũng sẽ giảm đáng kể như: giảm rủi ro trong quá trình xử lý nước rỉ
rác, giảm ô nhiễm nguồn nước ngầm, nước mặt
Diện tích bãi chôn lấp thu hẹp sẽ góp phần hạn chế hiệu ứng nhà kính do khí củabãi chôn lấp Ở các bãi chôn lấp, các khí chính gây nên hiệu ứng nhà kính gồm CH4,
CO2, NH3 Theo báo cáo đầu tư chương trình khu xử lý chất thải rắn Đa Phước, tươngứng với một tấn chất thải rắn sinh hoạt lưu lượng khí tạo ra là 266 m3, trong đó chủ
yếu là khí CH4 Khí CH4có khả năng tác động ảnh hưởng đến tầng ôzôn cao gấp 21lần so với CO2 Việc giảm chôn lấp chất thải rắn có thể phân hủy kéo theo việc giảm
lượng khí làm ảnh hưởng đến tầng ôzôn
Việc tận dụng các chất thải rắn có thể tái sinh tái chế giúp bảo tồn nguồn tàinguyên thiên nhiên Thay vì khai thác tài nguyên để sử dụng, chúng ta có thể sử dụng
Đại học Kinh tế Huế
Trang 33các sản phẩm tái sinh tái chế này như một nguồn nguyên liệu thứ cấp Chẳng hạn,chúng ta có thể sử dụng lượng nhôm có trong chất thải rắn sinh hoạt thay vì khai thácquặng nhôm Nhờ đó, chúng ta vừa bảo tồn được nguồn tài nguyên, vừa tránh đượctình trạng ô nhiễm do việc khai thác quặng nhôm mang lại.[13]
1.1.6.3 L ợi ích xã hội
Phân loại chất thải rắn tại nguồn góp phần nâng cao nhận thức của cộng đồngtrong việc bảo vệ môi trường Để công tác phân loại này đạt được hiệu quả như mong
đợi, các ngành các cấp phải triệt để thực hiện công tác tuyên truyền hướng dẫn cho
cộng đồng Lâu dần, mỗi người dân sẽ hiểu được tầm quan trọng của việc phân loạichất thải rắn sinh hoạt cũng như tác động của nó đối với môi trường sống
Lợi ích xã hội lớn nhất do hoạt động phân loại chất thải rắn tại nguồn mang lạichính là việc hình thành ở mỗi cá nhân nhận thức bảo vệ môi trường sống
1.1.7 Tác hại của rác thải sinh hoạt
1.1.7.1 Tác h ại của rác thải sinh hoạt đến môi trường
- Môi trường đất: Rác thải sinh hoạt nằm rải rác khắp nơi không được thu gom
đều được lưu giữ lại trong đất, một số loại chất thải khó phân hủy như túi nilon, vỏlon, hydrocacbon… nằm lại trong đất làm ảnh hưởng tới môi trường đất: thay đổi cơ
cấu đât, đất trở nên khô cằn, các vi sinh vật trong đất có thể bị chết Nhiều loại chấtthải như xỉ than, vôi vữa… đổ xuống đất làm cho đất bị đóng cứng, khả năng thấm
nước, hút nước kém, đất bị thoái hóa
- Môi trường nước: Lượng rác thải rơi vãi nhiều, ứ đọng lâu ngày, khi gặp mưa
rác rơi vãi sẽ theo dòng nước chảy, các chất độc hòa tan trong nước, qua cống rãnh, ra
ao hồ, sông ngòi, gây ô nhiễm nguồn nước mặt tiếp nhận
Rác thải không thu gom hết ứ đọng trong các ao, hồ là nguyên nhân gây mất vệsinh và ô nhiễm các thủy vực Khi các thủy vực bị ô nhiễm hoặc chứa nhiều rác thì có
nguy cơ ảnh hưởng đến các loài thủy sinh vật, do hàm lượng oxy hòa tan trong nước
giảm, khả năng nhận ánh sáng của các tầng nước cũng giảm, dẫn đến ảnh hưởng tớikhả năng quang hợp của thực vật thủy sinh và làm giảm sinh khối của các thủy vực
Ở các bãi chôn lấp rác chất ô nhiễm trong nước rác là tác nhân gây ô nhiễm
nguồn nước ngầm trong khu vực và các nguồn nước ao hồ, sông suối lân cận Tại các
Đại học Kinh tế Huế
Trang 34bãi rác, nếu không tạo được lớp phủ bảo đảm hạn chế tối đa nước mưa thấm qua thìcũng có thể gây ô nhiễm nguồn nước mặt.
- Môi trường không khí: Tại các trạm/bãi trung chuyển rác xen kẽ khu vực dân cư
là nguồn gây ô nhiễm môi trường không khí do mùi hôi từ rác, bụi cuốn lên khi xúcrác, bụi khói, tiếng ồn và các khí thải độc hại từ các xe thu gom, vận chuyển rác Tạicác bãi chôn lấp chất thải rắn vấn đề ảnh hưởng đến môi trường khí là mùi hôi thối,
mùi khí metan, các khí độc hại từ các chất thải nguy hại
1.1.7.2 Tác h ại của rác thải sinh hoạt đối với sức khỏe con người
Tác hại của rác thải lên sức khỏe con người thông qua ảnh hưởng của chúng lêncác thành phần môi trường Môi trường bị ô nhiễm tất yếu sẽ tác động đến sức khỏe
con người thông qua chuỗi thức ăn
Tại các bãi rác, nếu không áp dụng các kỹ thuật chôn lấp và xử lý thích hợp, cứ
đổ dồn rồi san ủi, chôn lấp thông thường, không có lớp lót, lớp phủ thì bãi rác trởthành nơi phát sinh ruồi, muỗi, là mầm mống lan truyền dịch bệnh, chưa kể đến chất
thải độc hại tại các bãi rác co nguy cơ gây các bệnh hiểm nghèo đối với cơ thể ngườikhi tiếp xúc, đe dọa đến sức khỏe cộng đồng xung quanh
Rác thải còn tồn đọng ở các khu vực, ở các bãi rác không hợp vệ sinh là nguyênnhân dẫn đến phát sinh các ổ dịch bệnh, là nguy cơ đe dọa đến sức khỏe con người.Theo nghiên cứu của tổ chức y tế thế giới (WHO), tỷ lệ người mắc bệnh ung thư ở cáckhu vực gần bãi chôn lấp rác thải chiếm tới dân số Ngoài ra, tỷ lệ mắc bệnh ngoạikhoa, bệnh viêm nhiễm ở phụ nữ do nguồn nước ô nhiễm.[11]
1.1.7.3 Rác th ải sinh hoạt làm giảm mỹ quan đô thị
Rác thải sinh hoạt nếu không được thu gom, vận chuyển đến nơi xử lý, thu gomkhông hết, vận chuyển rơi vãi dọc đường, tồn tại các bãi rác nhỏ lộ thiên… đều lànhững hình ảnh gây mất vệ sinh môi trường và làm ảnh hưởng đến vẻ mỹ quan đườngphố, thôn xóm
Một nguyên nhân nữa làm giảm mỹ quan đô thị là do ý thức của người dân chưacao Tình trạng người dân đổ rác bừa bãi ra lòng lề đường và mương rãnh vẫn còn rấtphổ biến, đặc biệt là ở khu vực nông thôn nơi mà công tác quản lý và thu gom vẫn
chưa được tiến hành chặt chẽ
Đại học Kinh tế Huế
Trang 351.2 CƠ SỞ THỰC TIỄN
1.2.1 Tình hình phân loại, thu gom và xử lý rác thải trên thế giới
Nhìn chung, lượng rác thải sinh hoạt ở mỗi nước trên thế giới là khác nhau, phụthuộc vào sự phát triển kinh tế, dân số và thói quen tiêu dùng của người dân nước đó
Tỷ lệ phát sinh rác thải tăng theo tỷ lệ thuận với mức tăng GDP tính theo đầu người
Tỷ lệ phát sinh rác thải theo đầu người ở một số Thành phố trên thế giới như sau: BăngCốc (Thái Lan) là 1,6 kg/người/ngày; Singapo là 2 kg/người/ngày; Hồng Kông là 2,2
kg/người/ngày; NewYork (Mỹ) là 2,65 kg/người/ngày Các số liệu thống kê gần đây
về tổng lượng chất thải ở Anh cho thấy hàng năm Liên hiệp Anh tạo ra 307 triệu tấnchất thải Ở Nga, mỗi người bình quân thải ra môi trường 300 kg/người/năm rác thải
Tương đương một năm nước này thải ra môi trường khoảng 50 triệu tấn rác, riêng thủ
đô Matxcova là 5 triệu tấn/năm
Theo Ngân hàng Thế giới, các đô thị của Châu Á mỗi ngày phát sinh khoảng760.000 tấn chất thải rắn đô thị Đến năm 2025, dự tính con số này sẽ tăng tới 1,8 triệutấn/ngày
Tỷ lệ chất thải sinh hoạt trong dòng chất thải rắn đô thị rất khác nhau giữa các
nước Theo ước tính, tỷ lệ này chiếm tới 60 - 70% ở Trung Quốc (Gao et al.2002);
chiếm 78% ở Hồng Kông; 48% ở Philipin và 37% ở Nhật Bản, chiếm 80% ở nước ta
Theo đánh giá của Ngân hàng Thế giới, các nước có thu nhập cao chỉ có khoảng 25
-35% chất thải sinh hoạt trong toàn bộ dòng chất thải rắn đô thị
Thành phần rác ở các nước trên thế giới là khác nhau tùy thuộc vào thu nhập vàmức sống của mỗi nước Đối với các nước có nền công nghiệp phát triển thì thànhphần các chất vô cơ trong rác thải phát sinh chiếm đa số và lượng rác này sẽ là nguyênliệu cho ngành công nghiệp tái chế Hàng năm toàn nước Mỹ phát sinh một khối lượngrác khổng lồ lên tới 10 tỷ tấn Trong đó, rác thải từ quá trình khai thác dầu mỏ và khíchiếm 75%; rác thải từ quá trình sản xuất nông nghiệp chiếm 13%; rác thải từ hoạt
động công nghiệp chiếm 9,5%; rác thải từ cặn cống thoát nước chiếm 1%; rác thải sinh
hoạt chiếm 1,5%
Vấn đề quản lý, xử lý rác thải ở các nước trên thế giới đang ngày càng được quan
tâm hơn Đặc biệt tại các nước phát triển, công việc này được tiến hành một cách rất
Đại học Kinh tế Huế
Trang 36chặt chẽ, từ ý thức thải bỏ rác thải của người dân, quá trình phân loại tại nguồn, thugom, tập kết rác thải cho tới các trang thiết bị thu gom, vận chuyển theo từng loại rác.
Các quy định đối với việc thu gom, vận chuyển, xử lý từng loại rác thải được quy định
rất chặt chẽ và rõ ràng với đầy đủ các trang thiết bị phù hợp và hiện đại Một khác biệttrong công tác quản lý, xử lý rác thải của các nước phát triển là sự tham gia của cộng
đồng Có thể nói, ngành tái chế rác ở Đức đang dẫn đầu trên thế giới hiện nay Giáo
dục ý thức bảo vệ môi trường cho trẻ nhỏ bắt đầu từ việc phân loại rác là một trongnhững phương pháp mà những nhà quản lý tại Đức đã áp dụng Rác được phân loạitriệt để là điều kiện để quá trình xử lý và tái chế rác trở nên thuận lợi và dễ dàng hơnrất nhiều Từ đó, khái niệm về rác thải dần được thay thế bằng nguồn tài sản tiềm
năng, mang lại lợi nhuận đáng kể với những ai biết đầu tư vào việc cải tiến công nghệ
Còn tại Nhật thì chuyển từ hệ thống quản lý chất thải truyền thống với dòng nguyênliệu xử lý theo một hướng sang xã hội có chu trình xử lý nguyên liệu theo mô hình 3R: Reduce (Giảm thiểu): Là giảm thiểu lượng rác thông qua việc thay đổi lối sốnghoặc/và cách tiêu dùng, cải tiến các quy trình sản xuất, mua bán sạch… Ví dụ: Sửdụng làn hay dùng túi vải để đi chợ thay cho túi nilon để nhằm giảm lượng rác thảiphát sinh từ túi nilon…; Reuse (Tái sử dụng): Là sử dụng lại các sản phẩm hay mộtphần của sản phẩm cho chính mục đích cũ hay cho một mục đích khác Ví dụ: sử dụnglại chai đựng nước khoáng để đựng nước… và Recycle (Tái chế): là sử dụng rác thảilàm nguyên liệu sản xuất ra các vật chất có ích khác Môi hình 3R là hoạt động gópphần ngăn ngừa các vấn đề suy thoái môi trường, tiết kiệm nguồn tài nguyên thiênnhiên, tiết kiệm chi phí thu gom và xử lý rác thải, giảm quỹ đất giành cho việc chônlấp rác
Về thu gom chất thải rắn sinh hoạt, các hộ gia đình được yêu cầu phân chia rácthành 3 loại: Rác hữu cơ dễ phân hủy, rác khó tái chế nhưng có thể cháy và rác có thểtái chế Rác hữu cơ được thu gom hàng ngày để đưa đến nhà máy sản xuất phâncompost; loại rác khó tái chế, hoặc hiệu quả tái chế không cao, nhưng cháy được sẽ
đưa đến nhà máy đốt rác thu hồi năng lượng; rác có thể tái chế thì được đưa các nhà
máy tái chế Các loại rác này được yêu cầu đựng riêng trong những túi có màu sắckhác nhau và các hộ gia đình phải tự mang ra điểm tập kết rác của cụm dân cư vào giờ
Đại học Kinh tế Huế
Trang 37quy định, dưới sự giám sát của đại diện cụm dân cư Công ty vệ sinh Thành phố sẽ cho
ô tô đến đem các túi rác đó đi Nếu gia đình nào không phân loại rác, để lẫn lộn vào
một túi thì ban giám sát sẽ báo lại với Công ty và ngay hôm sau gia đình đó sẽ bị công
ty vệ sinh gửi giấy báo đến phạt tiền Với các loại rác cồng kềnh như tivi, tủ lạnh, máygiặt, thì quy định vào ngày 15 hàng tháng đem đặt trước cổng đợi ô tô đến chở đi,
không được tuỳ tiện bỏ những thứ đó ở hè phố Sau khi thu gom rác vào nơi quy định,
công ty vệ sinh đưa loại rác cháy được vào lò đốt để tận dụng nguồn năng lượng cho
máy phát điện Rác không cháy được cho vào máy ép nhỏ rồi đem chôn sâu trong lòngđất Cách xử lý rác thải như vậy vừa tận dụng được rác vừa chống được ô nhiễm môitrường Túi đựng rác là do các gia đình bỏ tiền mua ở cửa hàng Việc thu gom rác ở
Nhật Bản không giống như ở Việt Nam Rác thải từ hộ gia đình thuộc trách nhiệmquản lý của Nhà nước, còn từ các công ty, nhà máy cho tư nhân đấu thầu hoặc cáccông ty do chính quyền địa phương chỉ định Các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất phải tựchịu trách nhiệm về lượng rác thải công nghiệp của họ và điều này được quy định bằng
các điều luật về bảo vệ môi trường của nước Việt Nam
Các nước đang phát triển thì công tác thu gom rác thải còn nhiều vấn đề bất cập
Việc bố trí mạng lưới thu gom, vận chuyển rác thải chưa hợp lý, trang thiết bị cònthiếu và thô sơ dẫn đến chi phí thu gom tăng mà hiệu quả lại thấp Sự tham gia của các
đơn vị tư nhân còn ít và hạn chế So với các nước phát triển thì tỷ lệ thu gom rác ở cácnước đang phát triển như Việt Nam và khu vực Nam Mỹ còn thấp hơn nhiều.[11]
1.2.2 Tình hình phân loại, thu gom và xử lý rác thải ở Việt Nam
Theo số liệu điều tra năm 2007 của Tổng cục Môi trường (Cục Bảo vệ Môi
trường trước đây) chất thải rắn sinh hoạt trong cả nước phát sinh khoảng 17 triệu tấn,trong đó rác thải sinh hoạt tại đô thị khoảng 6,5 triệu tấn (theo báo cáo của Bộ Xây
dựng năm 2008 là 7,8 triệu tấn)
Ngoại trừ một số ít địa phương như Hà Nội, Thừa Thiên - Huế, TP Hồ Chí
Minh, Đà Nẵng đang thí điểm phân loại rác thải sinh hoạt tại nguồn theo dự án 3R, còn
lại hầu hết rác thải sinh hoạt vẫn là một mớ tổng hợp các chất hữu cơ từ các gia đìnhcho tới nơi xử lý
Đại học Kinh tế Huế
Trang 38Điều đáng lo ngại là tới thời điểm này, việc xử lý chất thải rắn vẫn chưa đi theohướng tái chế như mong muốn Khoảng 70% chất thải sinh hoạt đô thị được thu gom
và khoảng 80% số chất thải này vẫn được xử lý theo cách chôn lấp Còn rác thải nôngthôn thì hầu như được đổ bừa bãi ra ven làng, ao hồ, bãi sông, bãi tạm hoặc tự đốt HộiXây dựng Việt Nam cảnh báo, trong số 91 bãi rác lớn trên cả nước chỉ có 17 bãi hợp
vệ sinh, chiếm khoảng 15%
Lượng chất thải rắn sinh hoạt tại các đô thị ở nước ta đang có xu thế phát sinhngày càng tăng, tính trung bình mỗi năm tăng khoảng 10% Tỷ lệ tăng cao tập trung ởcác đô thị đang có xu hướng mở rộng, phát triển mạnh cả về quy mô lẫn dân số và các
khu công nghiệp
Tổng lượng phát sinh CTRSH tại các đô thị loại III trở lên và một số đô thị loại
IV là các trung tâm văn hóa, xã hội, kinh tế của các tỉnh thành trên cả nước lên đến 6,5
triệu tấn/năm, trong đó CTRSH phát sinh từ các hộ gia đình, nhà hàng, các chợ và kinhdoanh là chủ yếu Lượng còn lại từ các công sở, đường phố, các cơ sở y tế Chất thảinguy hại công nghiệp và các nguồn chất thải y tế nguy hại ở các đô thị tuy chiếm tỷ lệ
ít nhưng chưa được xử lý triệt để vẫn còn tình trạng chôn lấp lẫn với CTRSH đô thị
Tỷ lệ phát sinh CTRSH đô thị bình quân trên đầu người tại các đô thị đặc biệt và
đô thị loại I tương đối cao (0,84 - 0,96 kg/người/ngày); đô thị loại II và loại III có tỷ lệ
phát sinh CTRSH đô thị bình quân trên đầu người là tương đương nhau (0,72 - 0,73
kg/người/ngày); Đô thị loại IV có tỷ lệ phát sinh CTRSH đô thị bình quân trên mộtđầu người đạt khoảng 0,65 kg/người/ngày
Như vậy, với lượng chất thải rắn sinh hoạt đô thị gia tăng nhanh chóng và các
công nghệ hiện đang sử dụng không thể đáp ứng yêu cầu do điều kiện Việt Nam mật
độ dân số cao, quỹ đất hạn chế, việc xác định địa điểm bãi chôn lấp khó khăn, khôngđảm bảo môi trường và không tận dụng được nguồn tài nguyên từ rác thải Việc áp
dụng các công nghệ mới hạn chế chôn lấp chất thải rắn nhằm tiết kiệm quỹ đất, đảmbảo môi trường và tận dụng nguồn tài nguyên từ rác thải là cấp bách
Cơ chế quản lý tài chính trong hoạt động thu gom rác thải chủ yếu dựa vào kinh
phí bao cấp từ ngân sách nhà nước, chưa huy động được các thành phần kinh tế thamgia, tính chất xã hội hoá hoạt động thu gom còn thấp, người dân chưa thực sự chủ
Đại học Kinh tế Huế
Trang 39động tham gia vào hoạt động thu gom cũng như chưa thấy rõ được nghĩa vụ đóng góp
kinh phí cho dịch vụ thu gom rác thải
Có thể nói, hiện nay trên địa bàn của các đô thị nhỏ vẫn chưa có hệ thống thugom, vận chuyển chất thải rắn một cách có hệ thống xuyên suốt toàn tỉnh, mà tuỳ theoyêu cầu bức xúc của các huyện, thị và mỗi địa phương, hình thành một xí nghiệp côngtrình công cộng hoặc đội vệ sinh để tiến hành thu gom rác thải sinh hoạt và một phầnrác thải công nghiệp tại các khu trung tâm nhằm giải quyết yêu cầu thu gom rác hàngngày
Hoạt động tái chế, giảm lượng chất thải sinh hoạt được tập trung chủ yếu vào đầu
tư xây dựng các nhà máy chế biến rác thành phân hữu cơ Tuy nhiên do chưa có những
khảo sát chi tiết về khả năng chấp thuận của cộng đồng đối với sản phẩm phân vi sinh,
đồng thời do kỹ năng phân loại trong quá trình sản xuất của các nhà máy này còn thấp,
nên hiệu quả hoạt động của các nhà máy này chưa cao
Vì vậy, việc thực hiện Chương trình xử lý chất thải rắn sinh hoạt áp dụng côngnghệ hạn chế chôn lấp giai đoạn 2009 - 2020 có ý nghĩa to lớn đối với nước ta trong
giai đoạn hiện nay nhằm phát huy mọi nguồn lực tham gia giải quyết những bức xúc
về chất thải rắn, góp phần thực hiện chủ trương xã hội hóa công tác quản lý chất thảirắn trong cả nước Các nhà máy xử lý rác thải của chương trình được xây dựng sẽ gópphần thực hiện mục tiêu hạn chế chôn lấp rác thải, tiết kiệm kinh phí, đất đai, hạn chếgây ô nhiễm môi trường và giải quyết triệt để vấn đề rác thải hiện đang gây bức xúctại các đô thị.[11]
1.2.3 Tình hình phân loại, thu gom và xử lý rác thải ở Thành phố Đông Hà - Tỉnh Quảng Trị
Theo báo cáo Tổng kết kế hoạch sản xuất kinh doanh năm 2008 và phương
hướng nhiệm vụ kế hoạch sản xuất kinh doanh năm 2009 của Công ty trách nhiệm hữu
hạn một thành viên (TNHH MTV) Môi trường và Công trình Đô thị Đông Hà, cuối
năm 2008 Công ty đã thu gom, vận chuyển chất thải rắn sinh hoạt từ các hộ dân, cơquan, nhà hàng đến bãi đổ thải với khối lượng khoảng 42.050 m3/năm Thực hiệnquét rác đường phố 5.400 ha/năm Chất thải được thu gom bằng các xe đẩy tay,
chuyển về các điểm tập kết rác quy định và sau đó chuyển sang các xe ép cuốn rác và
Đại học Kinh tế Huế
Trang 40đưa về tập kết tại bãi rác của Thành phố Tần suất thu gom 1lần/ngày đối với khu vực
nội thị và 1lần/3ngày đối với khu vực ngoại thị (chỉ thu gom rác thải vô cơ) Công ty
Môi trường đô thị hiện có 230 xe đẩy tay, 11 xe ép cuốn rác với dung tích 6 – 9 m3,trên 700 thùng rác các loại (đường phố 166 thùng, bao gồm các đường phố ở khu phố
7, khu phố 8 phường 1 như: Hùng Vương, Nguyễn Trãi, Lê Thế Hiếu, Đào Duy Từ,Trần Hữu Dực, Nguyễn Huệ, Trần Phú, Phan Đình Phùng, Chế Lan Viên và các cơ
quan, nhà hàng, trường học khoảng 550 thùng) và 130 công nhân thu gom, quét rác.Các thùng rác lưu động bằng nhựa với dung tích 140 lít, 240 lít và 660 lít được
sử dụng để lưu giữ rác tại các khu chợ, công sở và các nhà hàng Rác trong các thùnghàng ngày sẽ được thu gom trực tiếp bằng các xe ép cuốn rác nói trên
Công ty hiện đã thu gom 9/9 phường với 14.000 hộ dân, 445 cơ quan, công sở và
2 nhà máy, xí nghiệp sản xuất (Dệt Hoà Thọ và Nhà máy Ximăng Đông Hà)
Tất cả rác thu gom trong các xe ép cuốn rác được chuyên chở trực tiếp đến bãichôn lấp chất thải rắn của Thành phố nằm trên diện tích 6,2 ha cách trung tâm Thànhphố khoảng 5 km, cách vùng dân cư khoảng 3 km Hơn 1ha đất này hiện đã chứa đầyrác.[15]
Đối với chất thải rắn nguy hại công nghiệp theo niên giám thống kê Đông Hànăm 2008 thì các cơ sở kinh doanh đang hoạt động trên địa bàn Thành phố là 554
doanh nghiệp, trong đó rất nhiều các loại hình sản xuất kinh doanh khác nhau, từ khaikhoáng, chế biến đến thương mại dịch vụ, đối với mỗi loại hình sản xuất sẽ tạo ramột nguồn chất thải tương ứng Trong số các chất thải từ sản xuất kinh doanh thì cómột số chất thải rắn có tính chất nguy hại khi được thải trực tiếp vào môi trường Nhìnchung chất thải rắn được thải ra từ các hoạt động công nghiệp ở Thành phố Đông Hà
ước tính khoảng 10 - 20% tổng lượng rác thải sinh hoạt, tức là 10,2 tấn/ngày, song cho
tới nay loại chất thải công nghiệp này vẫn chưa được thu gom và quản lý tốt, chủ yếu
được các chủ doanh nghiệp tái sử dụng hay hợp đồng với công ty môi trường thu gomtrong đó có không ít những chất độc hại vẫn chưa được phân loại và xử lý một cách
khoa học Mặt khác, đối với những cơ sở có lượng chất thải không nhiều thì thường
được chủ cơ sở đổ chung với rác thải thông thường sau đó hợp đồng đơn vị thu gomtrên địa bàn vận chuyển đi xử lý Trong thời gian tới Thành phố cần phải điều tra, đánh
Đại học Kinh tế Huế