+ Số liệu sơ cấp: đã được tôi thu thập, điều tra phỏng vấn tại các 35 doanh nghiệp trên địa bàn thành phố Vinh gồm 25 doanh nghiệp đã thực hiện nộp phí và 10 doanh nghiệp không nộp phí b
Trang 1ĐẠI HỌC HUẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ KHOA KINH TẾ VÀ PHÁT TRIỂN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
ĐÂNH GIÂ TÌNH HÌNH THU PHÍ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG ĐỐI VỚI NƯỚC THẢI CÔNG NGHIỆP THEO NGHỊ ĐỊNH 67/2003/NĐ-CP TRÍN ĐỊA BĂN
Trang 2ĐẠI HỌC HUẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ KHOA KINH TẾ VÀ PHÁT TRIỂN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
ĐÂNH GIÂ TÌNH HÌNH THU PHÍ BẢO VỆ
MÔI TRƯỜNG ĐỐI VỚI NƯỚC THẢI CÔNG NGHIỆP THEO NGHỊ ĐỊNH 67/2003/NĐ-CP TRÍN ĐỊA BĂN
Trang 3Khóa luận tốt nghiệp là một phần quan trọng thể hiện kết quả học tập nghiên cứu của bản thân trong những năm ở giảng đường đại học Để hoàn thành khóa luận này ngoài sự cố gắng của bản thân, tôi còn nhận được sự giúp đỡ của thầy cô giáo, lãnh đạo cơ quan, gia đình và bạn bè.
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy, cô giáo trong trường Đại học kinh tế Huế đã tận tình truyền đạt kinh nghiệm quý báu cho bản thân tôi trong suốt bốn năm học vừa qua Đặc biệt là
thầy giáo: PGS-TS Bùi Dũng Thể, là người trực
tiếp hướng dẫn và giúp đỡ tôi hoàn thành khóa luận này với tất cả lòng nhiệt tình và tinh thần trách nhiệm.
Tôi xin gửi lời cảm ơn tới Ban lãnh đạo cùng toàn thể các anh, chị ở phòng Kiểm soát ô nhiễm của Chi cục bảo vệ môi trường Nghệ An đã nhiệt tình hướng dẫn tạo mọi điều kiện thuận lợi trong suốt thời gian thực tập tại Chi cục.
Tôi xin gửi lời cảm ơn tới những người thân
và bạn bè đã giúp tôi hoàn thành khóa luận này.
Do điều kiện thời gian thực tập có hạn, kiến thức bản thân còn hạn chế nên đề tài không tránh khỏi những thiếu sót, rất mong nhận được sự quan
Đại học Kinh tế Huế
Trang 4tâm đóng góp ý kiến của các thầy, cô giáo cùng tất
cả các bạn đọc để đề tài được hoàn thiện.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Trang 5MỤC LỤC
PHẦN I ĐẶT VẤN ĐỀ 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục tiêu và đối tượng nghiên cứu 2
3 Phương pháp nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu của đề tài 3
PHẦN II NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 5
CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 5
1.1 Cơ sở lý luận 5
1.1.1 Khái niệm về nước thải công nghiệp 5
1.1.2 Công cụ kinh tế trong quản lý môi trường .6
1.1.3 Phí và Phí thải 9
1.1.4 Cơ sở kinh tế của mô hình thu phí bảo vệ môi trường đối với nước thải công nghiệp 10
1.1.5 Các nguyên tắc cơ bản của quản lý môi trường bằng công cụ thu phí bảo vệ môi trường đối với nước thải công nghiệp .12
1.1.6 Nghị định 67/2003/NĐ-CP của Chính Phủ về phí bảo vệ môi trường đối với nước thải ngày 13/06/2003, thông tư 125 /2003/TTLT-BTC-BTNMT ngày 18/12 /2003 và các văn bản liên quan .14
1.1.6.1 Các nguyên tắc và đối tượng nộp phí bảo vệ môi trường đối với nước thải công nghiệp 14
1.1.6.2 Mức phí và cách thức thu phí 15
1.1.6.3 Phân bổ nguồn thu 19
1.1.6.4 Mục đích thu phí bảo vệ môi trường đối với nước thải công nghiệp 20
1.2 Cơ sở thực tiễn 21
1.2.1 Tình hình thu phí của các quốc gia trên thế giới 21
1.2.2 Tình hình thu phí ở Việt Nam 24
Đại học Kinh tế Huế
Trang 6CHƯƠNG II TÌNH HÌNH THU PHÍ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG ĐỐI VỚI NƯỚC THẢI CÔNG NGHIỆP THEO NGHỊ ĐỊNH 67/2003/NĐ-CP TRÊN ĐỊA BÀN
THÀNH PHỐ VINH, TỈNH NGHỆ AN 28
2.1 Khái quát về địa bàn nghiên cứu 28
2.1.1 Điều kiện tự nhiên 28
2.1.1.1 Vị trí địa lý, địa hình, diện tích 28
2.1.1.2 Điều kiện khí hậu 29
2.1.2 Điều kiện kinh tế-xã hội 30
2.1.2.1 Tình hình dân số và lao động 30
2.1.2.2 Tình hình phát triển kinh tế 31
2.1.2.3 Tình hình sử dụng đất đai 31
2.1.2.4 Tình hình cơ sở hạ tầng và dịch vụ 32
2.1.3 Đánh giá tổng quát về tình hình điều kiện tự nhiên, kinh tế-xã hội 34
2.2 Đặc điểm của các doanh nghiệp ở thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An 35
2.2.1 Hoạt động sản xuất kinh doanh 35
2.2.2 Hiện trạng môi trường doanh nghiệp 36
2.3 Thực trạng của việc thu phí bảo vệ môi trường đối với nước thải công nghiệp trên địa bàn thành phố Vinh 39
2.3.1 Cách thức, tổ chức thu phí 39
2.3.2 So sánh cơ chế thực thi được đưa ra trong Nghị định 67/2003/NĐ-CP ngày 13/6/2003 và việc áp dụng trên địa bàn thành phố Vinh 40
2.3.3 Mức phí 42
2.3.4 Kết quả thu được 42
2.3.5 Ý kiến của doanh nghiệp về Nghị định 67/2003/NĐ-CP 48
2.4 Những khó khăn và thuận lợi trong việc thu phí bảo vệ môi trường đối với nước thải công nghiệp 51
2.4.1 Thuận lợi 51
2.4.2 Khó khăn 51
CHƯƠNG III ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP 54
3.1 Định hướng 54
Đại học Kinh tế Huế
Trang 73.2 Giải pháp 54
3.2.1 Giải pháp về quản lý 54
3.2.2 Giải pháp về kinh tế 57
3.2.3 Giải pháp về kĩ thuật 58
3.2.4 Giải pháp về nâng cao nhận thức 59
PHẦN III KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 62
I KẾT LUẬN 62
II KIẾN NGHỊ 63
TÀI LIỆU THAM KHẢO 66 PHỤ LỤC
Đại học Kinh tế Huế
Trang 8DANH MỤC CÁC CHỮ CÁI VIẾT TẮT
Đại học Kinh tế Huế
Trang 9DANH MỤC CÁC ĐỒ THỊ, HÌNH VẼ
Hình 1: Mô hình xác định phí thải 11
Hình 2: Bản đồ thành phố Vinh 29
Hình 3: Sự gia tăng nước thải công nghiệp của thành phố với tổng lượng nước 37
thải toàn tỉnh 37
Hình 4: Cơ chế thực thi đưa ra của Nghị định 67 40
Hình 5: Cơ chế thực thi áp dụng trên địa bàn thành phố Vinh 41
Đại học Kinh tế Huế
Trang 10DANH MỤC CÁC BIỂU BẢNG
Bảng 1: Kết quả tính phí, và chi phí 11
Bảng 2: Mức thu phí bảo vệ môi trường đối với nước thải công nghiệp tính theo từng chất gây ô nhiễm có trong nước thải 16
Bảng 3: Bảng thống kê kết quả thu phí nước thải công nghiệp của thành phố Hồ Chí Minh từ tháng 12/2004 đến tháng 6/2005 25
Bảng 4: Tình hình dân số và lao động của thành phố Vinh năm 2010 .30
Bảng 5: Tình hình phát triển kinh tế của thành phố Vinh trong năm 2010 31
Bảng 6: Tình hình sử dụng đất của thành phố Vinh trong năm 2010 32
Bảng 7: Giới thiệu các doanh nghiệp thuộc đối tượng nộp phí trên địa bàn thành phố Vinh .35
Bảng 8: Đặc trưng thành phần nước thải của một số ngành công nghiệp ở thành phố Vinh (chưa qua xử lý) .38
Bảng 9: Tải lượng chất ô nhiễm đối với nước thải công nghiệp 38
Bảng 10: Kết quả thu được sau 3 năm 2008, 2009, 2010 43
Bảng 11: Số phí và doanh nghiệp thu được và truy thu trong 47
giai đoạn 2008-2010 47
Bảng 12: Tổng hợp việc triển khai thực hiện Nghị định 67 trên địa bàn thành phố Vinh trong giai đoạn 2008-2010 48
Bảng 13: Ý kiến của 25 doanh nghiệp về ưu và nhược điểm về Nghị định 67 49
Bảng 14: Áp lực chính để bảo vệ môi trường theo đánh giá của doanh nghiệp 50
Đại học Kinh tế Huế
Trang 11TÓM TẮT NGHIÊN CỨU
Ô nhiễm môi trường - vấn đề nóng nhất hiện nay Quá trình phát triển kinh tế đãlàm suy giảm môi trường nghiêm trọng Đặc biệt là ngành công nghiệp hằng năm đã thải
ra môi trường một lượng chất thải khổng lồ ảnh hưởng rất lớn đến môi trường, một
trong những tác động đó là nước thải công nghiệp
Phí bảo vệ môi trường đối với nước thải công nghiệp là một trong những công cụkinh tế chủ yếu được áp dụng ở nhiều nước trên thế giới nhằm hạn chế tình trạng ônhiễm môi trường
Cùng với quá trình phát triển kinh tế, chất lượng môi trường của nước ta đang bịsuy giảm một cách trầm trọng Tình hình ô nhiễm, đặc biệt là ô nhiễm do nước thải côngnghiệp ngày càng nghiêm trọng hơn tại các thành phố lớn Việt Nam, phí nước thải đượcbắt đầu triển khai từ năm 2004 sau khi ban hành Nghị định 67/NĐ-CP năm 2003
Vinh - thành phố của Nghệ An là trung tâm kinh tế chính trị của khu vực BắcTrung Bộ Năm 2004 thành phố đã triển khai thực hiện thu phí bảo vệ môi trường đốivới nước thải theo Nghị định 67/2003/NĐ-CP
Để hiểu rõ hơn về vấn đề này, tôi đã chọn đề tài “ Đánh giá tình hình thu phí
b ảo vệ môi trường đối với nước thải công nghiệp theo nghị định 67/2003/NĐ-CP trên địa bàn thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An” trong giai đoạn 2008-2010.
Mục tiêu nghiên cứu
- Đánh giá tình hình thu phí bảo vệ môi trường đối với nước thải công nghiệp
theo nghị định 67/2003/NĐ-CP trên địa bàn thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An
- Nhận định những thuận lợi và khó khăn của việc thu phí theo Nghị định 67 ở
địa bàn thành phố Vinh
- Đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện mức phí và công tác thu phí tại thành
phố Vinh nói riêng và cả nước nói chung
Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp điều tra thu thập số liệu: gồm số liệu sơ cấp và thứ cấp.
- Phương pháp tổng hợp và xử lý số liệu.
- Phương pháp chuyên gia.
Đại học Kinh tế Huế
Trang 12- Phương pháp hệ thống.
- Phương pháp phân tích so sánh.
Kết quả nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lý thuyết xây dựng công cụ thu phí nước thải công nghiệp tại
Việt Nam
- Đánh giá thực trạng và kết quả của việc thu phí bảo vệ môi trường đối với nước
thải công nghiệp theo Nghị định 67/2003/NĐ-CP trên địa bàn thành phố Vinh, tỉnhNghệ An
- Tìm hiểu nguyên nhân của thực trạng và kết quả của việc thu phí.
- Phân tích những thuận lợi và khó khăn của việc thu phí bảo vệ môi trường đối
với nước thải công nghiệp
- Đưa ra giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả của việc thu phí bảo vệ môi
trường đối với nước thải công nghiệp trong thời gian tới
Đại học Kinh tế Huế
Trang 13trường, một trong những tác động đó là nước thải công nghiệp Hậu quả là ngày càng
xảy ra tình trạng suy thoái đất, nguồn nước ô nhiễm, và hơn hết là ảnh hưởng nghiêmtrọng đến sức khỏe con người Tại Hội nghị thượng đỉnh về Môi trường và Phát triển
năm 1992 ở Rio De Raneiro (Braxin), 178 nước đã thông qua các nguyên tắc Rio
Nguyên tắc Rio 16 chỉ rõ: "Các Chính phủ cần đẩy mạnh áp dụng các chính sách nhằmnội hóa các yếu tố ngoại ứng môi trường và thực hiện nguyên tắc người gây ô nhiễmphải chi trả" Nguyên tắc này nhằm giải quyết một trong những nguyên nhân sâu xa của
ô nhiễm môi trường là các yếu tố ngoại ứng môi trường (Externalities) Ngoại ứng xuấthiện khi một quyết định sản xuất hoặc tiêu dùng của một cá nhân hay một tổ chức làm
ảnh hưởng trực tiếp đến việc sản xuất hay tiêu dùng của những người khác mà không
thông qua giá cả thị trường Vì có ngoại ứng nên tổng chi phí của việc sản xuất một sảnphẩm cần bao gồm 2 chi phí: chi phí sản xuất trực tiếp ra sản phẩm và chi phí thiệt hại
môi trường do ô nhiễm gây ra Do vậy, để điều chỉnh hành vi gây ô nhiễm, cần có công cụ
kinh tế gồm thuế và phí để hạn chế các yếu tố ngoại ứng này
Phí bảo vệ môi trường đối với nước thải nói chung, nước thải công nghiệp nóiriêng là một trong những công cụ kinh tế chủ yếu được áp dụng ở nhiều nước trên thếgiới nhằm hạn chế tình trạng ô nhiễm môi trường
Cùng với quá trình phát triển kinh tế, Việt Nam hiện nay đang phải đối mặt vớinhững thách thức to lớn về mục tiêu tăng trưởng kinh tế nhanh đi đôi với bảo vệ môi
Đại học Kinh tế Huế
Trang 14trường Chất lượng môi trường của nước ta đang bị suy giảm một cách trầm trọng Tình
hình ô nhiễm, đặc biệt là ô nhiễm do nước thải công nghiệp ngày càng nghiêm trọng hơntại các thành phố lớn, các khu công nghiệp và khu đông dân đã làm ảnh hưởng đến đờisống của nhân dân, đến sự phát triển bền vững của đất nước Chỉ trong một thời gianngắn các lực lượng chức năng đã phát hiện ra hàng trăm công ty xả nước thải không qua
hệ thống xử lý xả trực tiếp xuống sông, hồ xung quanh, biến dòng sông này trở thànhdòng sông chết, tiêu biểu là công ty Vedan, công ty nước giải khát Hà Nội -Habeco Trước tình hình đó, Chính phủ đã đề ra nhiều biện pháp khác nhau: công cụ vềquản lý, công cụ giáo dục và truyền thông, công cụ kinh tế…nhằm mục đích xử lý, giảmthải ô nhiễm, bảo vệ môi trường Việt Nam, phí nước thải được bắt đầu triển khai từ
năm 2004 sau khi ban hành Nghị định 67/NĐ-CP năm 2003 Tuy nhiên, sau gần 6 năm
thực hiện, việc thu phí BVMT đối với nước thải ở nước ta đã bộc lộ nhiều bất cập Tỷ lệthu phí chưa cao, đặc biệt là chưa đạt được mục tiêu giảm xả thải chất ô nhiễm vào nguồn
nước do các chủ nguồn thải vẫn tiếp tục gia tăng việc xả thải gây ô nhiễm môi trường nước
Vinh - thành phố của Nghệ An là trung tâm kinh tế chính trị của khu vực BắcTrung Bộ, nơi có khu công nghiệp nhiều nhà máy sản xuất kinh doanh lớn đóng góp vào
sự phát triển kinh tế cho thành phố cũng như tỉnh nhà, song bên cạnh đó là vấn đề chưa
có hệ thống xử nước thải gây ô nhiễm môi trường Trước vấn đề đó, năm 2004 thànhphố đã triển khai thực hiện thu phí bảo vệ môi trường đối với nước thải theo Nghị định
67/2003/NĐ-CP Trong quá trình thực hiện việc thu phí đã góp phần hạn chế được ô
nhiễm môi trường đóng góp vào ngân sách nhà nước, song bên cạnh đó còn gặp nhiềukhó khăn trong việc thực hiện thu phí
Để hiểu rõ hơn về vấn đề này, tôi đã chọn đề tài “ Đánh giá tình hình thu phí
b ảo vệ môi trường đối với nước thải công nghiệp theo nghị định 67/2003/NĐ-CP trên địa bàn thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An” trong giai đoạn 2008-2010.
2 Mục tiêu và đối tượng nghiên cứu
M ục tiêu
- Nghiên cứu cơ sở lý thuyết xây dựng công cụ phí nước thải công nghiệp tạiViệt Nam
- Đánh giá thực trạng của việc thu phí nước thải công nghiệp trên địa bàn thành
Đại học Kinh tế Huế
Trang 15Đối tượng nghiên cứu
Các doanh nghiệp trên địa bàn thành phố Vinh
3 Phương pháp nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu của đề tài
Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài này, tôi đã sử dụng các phương pháp sau:
- Phương pháp điều tra thu thập số liệu
+ Số liệu thứ cấp: đã được tôi thu thập ở Chi cục bảo vệ môi trường Nghệ An.Ngoài ra, những thông tin từ các đề tài đã được công bố, các báo, tạp chí, tài liệu và một
số website có liên quan cũng được thu thập
+ Số liệu sơ cấp: đã được tôi thu thập, điều tra phỏng vấn tại các 35 doanh nghiệp
trên địa bàn thành phố Vinh (gồm 25 doanh nghiệp đã thực hiện nộp phí và 10 doanh
nghiệp không nộp phí bảo vệ môi trường đối với nước thải công nghiệp), nhằm tìm hiểu
ý kiến của các doanh nghiệp về Nghị định 67 Và khảo sát tình tình hiện trạng môi
trường, tình hình sản xuất của các doanh nghiệp có và không thực hiện nghĩa vụ nộp
thuế bảo vệ môi trường đối với nước thải công nghiệp
- Phương pháp chuyên gia
+ Hình thức thực hiện phương pháp này thông qua các buổi gặp gỡ, trao đổi vàthảo luận với các cán bộ tại Chi cục bảo vệ môi trường, các phường của thành phố và
giáo viên hướng dẫn nhằm tháo gỡ những thắc mắc, và tìm ra những giải pháp tốt nhất
Đại học Kinh tế Huế
Trang 16- Phương pháp hệ thống
+ Phương pháp hệ thống nhằm khái quát định hướng mục tiêu và những giải
pháp chủ yếu nhằm mục đích nâng cao hiệu quả của việc thu phí bảo vệ môi trường đốivới nước thải công nghiệp trên địa bàn thành phố Vinh
- Phương pháp phân tích so sánh
+ Được sử dụng để phân tích sự giống và khác nhau về mục đích thu phí, mức
thu phí, cách tính phí, quy định sử dụng đồng tiền nộp phí, các biện pháp quản lý và
giám sát tình hình nộp phí nước thải công nghiệp của các doanh nghiệp của các tỉnh,thành phố trong nước và nước ngoài Nhằm tìm ra giải pháp tốt nhất cho việc thu phí
trên địa bàn thành phố Vinh
Ph ạm vi nghiên cứu của đề tài
- Về không gian: đề tài được thực hiện trên địa bàn thành phố Vinh.
- Về thời gian: nghiên cứu tình hình thu phí nước thải theo Nghị định
67/2003/NĐ-CP trong giai đoạn từ 2008-2010
Đại học Kinh tế Huế
Trang 17PHẦN II NỘI DUNG NGHIÊN CỨU CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 Cơ sở lý luận
1.1.1 Khái niệm về nước thải công nghiệp
Theo điều 2 chương I của nghị đinh 67/2003/NĐ-CP của Chính phủ về phí bảo
vệ môi trường đối với nước thải ngày 13/6/2003 định nghĩa: “nước thải công nghiệp là
nước thải ra môi trường từ các cơ sở sản xuất công nghiệp, cơ sở chế biến nông sản, lâm
sản, thủy sản”
Theo lĩnh vực công nghệ: nước thải công nghiệp là nước thải được sinh ra trongquá trình sản xuất công nghiệp từ các công đoạn sản xuất và các hoạt động phục vụ chosản xuất như nước thải khi tiến hành vệ sinh công nghệ hoặc hoạt động sinh hoạt củacông nhân viên
Theo từ điển bách khoa Việt Nam: nước thải công nghiệp là nước bị thải loại ra
bề mặt sau khi đã qua sử dụng trong công nghiệp (với mục đích khác nhau như làmlạnh, vệ sinh và sản xuất)
Hay một định nghĩa khác: nước thải công nghiệp (hay còn gọi là nước thải sảnxuất) là nước thải từ các nhà máy đang hoạt động hoặc trong đó nước thải công nghiệp
là chủ yếu
Các khái niệm trên đều định nghĩa nước thải công nghiệp là nước bị thải ra từ các
cơ sở sản xuất kinh doanh
Từ đó ta rút ra được nhận xét nước thải công nghiệp được thải ra từ các công
đoạn sản xuất công nghiệp nên nó chứa rất nhiều chất ô nhiễm như COD, chất rắn lơ
lửng, thủy ngân, chì, arsenic, cadmium, các chất hữu cơ, dầu mỡ… với nồng độ ô nhiễmkhác nhau Nếu nước thải công nghiệp không được xử lý mà thải ngay ra môi trường thì
sẽ gây ô nhiễm môi trường, ảnh hưởng đến sức khỏe của con người (nguyên nhân gâynên các loại bệnh về hô hấp, về đường ruột, các căn bệnh ung thư…), hủy hoại hệ sinhthái Chính vì vậy chúng ta phải có hệ thống xử lý nước thải công nghiệp trước khi thải
ra môi trường và có công cụ quản lý, công cụ kinh tế, chế tài hợp lý, đủ mạnh để xử lý
Đại học Kinh tế Huế
Trang 18các cơ sở gây ô nhiễm do thải nước thải chưa qua xử lý ra môi trường Đồng thời có các
biện pháp hỗ trợ khuyến khích doanh nghiệp sản xuất kinh doanh đầu tư công nghệ đểlàm giảm lượng nước thải thải ra môi trường
1.1.2 Công cụ kinh tế trong quản lý môi trường.
Công cụ kinh tế hay còn gọi là công cụ dựa vào thị trường là những công cụ
chính sách được được sử dụng nhằm thay đổi chi phí và lợi ích của các hoạt động kinh
tế thường xuyên tác động tới môi trường, ngăn ngừa tác động xấu đến môi trường (các
cá nhân và tổ chức kinh tế) để tạo ra các tác động ảnh hưởng tới hành vi của các tácnhân kinh tế theo hướng có lợi cho môi trường
Các công cụ kinh tế thường dùng:
* Thu ế tài nguyên
Thuế tài nguyên là một khoản thu của Ngân sách Nhà nước đối với các doanhnghiệp về việc sử dụng các dạng tài nguyên thiên nhiên trong quá trình sản xuất
Mục đích của thuế tài nguyên là:
- Hạn chế các nhu cầu không cấp thiết trong sử dụng tài nguyên
- Hạn chế các tổn thất tài nguyên trong quá trình khai thác và sử dụng
- Tạo nguồn thu cho Ngân sách và điều hòa quyền lợi của các tầng lớp dân cư vềviệc sử dụng tài nguyên
Thuế tài nguyên bao gồm một số thuế chủ yếu như thuế sử dụng đất, thuế sửdụng nước, thuế rừng, thuế tiêu thụ năng lượng, thuế khai thác tài nguyên khoáng sản
* Thu ế/phí môi trường
Thuế/ phí môi trường là công cụ kinh tế nhằm đưa chi phí môi trường vào giá sảnphẩm theo nguyên tắc “người gây ô nhiễm phải trả tiền” Thuế/phí môi trường nhằm haimục đích chủ yếu là: Khuyến khích người gây ô nhiễm giảm lượng chất ô nhiễm thải ra
môi trường và tăng nguồn thu cho Ngân sách Thuế/phí môi trường gồm có:
- Phí thải/thuế ô nhiễm (thuế Pigou):
+ Nhà kinh tế học người Anh Pigou (1877-1959) là người đề xuất loại thuế/phínày và vì vậy các loại thuế/phí môi trường còn được gọi là thuế/phí Pigou Ông đã đưa
ra ý tưởng về việc đánh thuế đối với những người gây ô nhiễm Nguyên tắc đánh thuế
do Pigou nêu ra là: “mức thuế ô nhiễm tính cho mỗi đơn vị sản phẩm gây ô nhiễm có giá
Đại học Kinh tế Huế
Trang 19trị bằng chi phí ngoại ứng do đơn vị sản phẩm gây ô nhiễm gây ra tại mức sản lượng tối
ưu xã hội ” Để đạt được mức độ tối ưu trong việc hạn chế ô nhiễm bằng việc áp dụng
thuế/phí, cần tuân thủ 2 nguyên tắc sau: tất cả các đơn vị của chất gây ô nhiễm (các đơn
vị trên và dưới tiêu chuẩn) chịu chung một mức phí, tất cả đối tượng xả thải trả chungmột mức phí đối với một đơn vị xả thải
- Các loại phí khác:
+ Phí sử dụng
+ Thuế đối với sản phẩm gây ô nhiễm
+ Phí quản lý môi trường
* Gi ấy phép xả thải có thể chuyển nhượng
Giấy phép xả thải có thể chuyển nhượng loại thị trường trong đó hàng hóa là cácgiấy phép xả thải Đơn vị cung cấp giấy phép do cơ quan quản lý môi trường cấp (căn
cứ vào mục đích môi trường), đường cung là một đường thẳng đứng Hình thức phânphối giấy phép có thể cấp miễn phí hoặc bán đấu giá Thị trường này vận hành theo quyluật cung cầu và nguyên lý cơ bản của thị trường giấy phép thải là việc đặt ra giới hạntối đa về lượng chất thải ở mức thống nhất với chỉ tiêu môi trường tại một vùng hay khuvực cụ thể Khi tổng lượng thải cho phép thấp hơn lượng thải mà các đơn vị hoạt độngtrong vùng muốn thải thì sẽ tạo nên sự khan hiếm về quyền được thải và làm cho nó cógiá ở thị trường này Doanh nghiệp sẽ mua giấy phép xả thải khi mà chi phí mua giấyphép nhỏ hơn chi phí giảm thải và ngược lại
* Qu ỹ môi trường
Quỹ môi trường là một thể chế hoặc một cơ chế được thiết kế để nhận được tài
Đại học Kinh tế Huế
Trang 20trợ vốn từ nhiều nguồn khác nhau, và từ đó phân phối các nguồn này để hỗ trợ quá trìnhthực hiện các dự án hoặc các hoạt động cải thiện chất lượng môi trường Nguồn thu choquỹ môi trường có thể được hình thành từ nhiều nguồn khác nhau.
* Nhãn sinh thái
Nhãn sinh thái là nhãn hiệu của Nhà nước sản phẩm không gây ra ô nhiễm môi
trường trong quá trình sản xuất ra sản phẩm hoặc quá trình sử dụng sản phẩm đó, từ đó
cứu và triển khai các công nghệ sản xuất có lợi cho môi trường hoặc các công nghệ xử
lý ô nhiễm Tuy nhiên, trợ cấp có thể gây ra sự không hiệu quả Các nhà sản xuất có thể
đầu tư quá mức vào kiểm soát và xử lý ô nhiễm (làm giảm ô nhiễm nhiều hơn so với
mức tối ưu cũng là không hiệu quả)
Vì vậy trợ cấp môi trường chỉ có thể thực hiện trong một khoảng thời gian cố
định với một chương trình có hoạch định và kiểm soát rõ ràng
* Ký qu ỹ môi trường
Ký quỹ môi trường là công cụ kinh tế áp dụng cho các hoạt động kinh tế có tiềm
năng gây ô nhiễm và tổn thất môi trường: yêu cầu các doanh nghiệp, các cơ sở sản xuấtkinh doanh trước khi tiến hành một hoạt động đầu tư phải ký gửi một khoản tiền tại
ngân hàng hay tổ chức tín dụng, nhằm bảo đảm sự cam kết về thực hiện các biện pháp
để hạn chế ô nhiễm, suy thoái môi trường
Đại học Kinh tế Huế
Trang 211.1.3 Phí và Phí thải
* Phí
- Phí là một dạng của thuế pigou, là loại phí đánh vào lượng chất thải thực tế
người sản xuất Để xác định mức phí người ta căn cứ vào chi phí cần thiết để làm giảm
một đơn vị ô nhiễm
- Pháp lệnh về phí và lệ phí của Uỷ Ban thường Vụ Quốc hội khóa 10 (số38/2001 PL-UBTVQH 10 ngày 28/8/2001) qui định: “phí là khoản tiền mà tổ chức, cánhân phải trả khi được một tổ chức, cá nhân khác cung cấp dịch vụ được quy định trongdanh mục thu phí”
Danh mục phí thuộc lĩnh vực môi trường được quy định tại mục A Khoản 10pháp lệnh gồm 11 khoản trong đó các loại phí liên quan tới môi trường như sau:
+ Phí bảo vệ môi trường
+ Phí thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường
6 loại như sau
+ Phí bảo vệ môi trường đối với nước thải
+ Phí bảo vệ môi trường đối với xăng dầu, khí thải từ việc sử dụng than đá và cácnguyên liệu khác
+ Phí bảo vệ môi trường với chất thải rắn
+ Phí bảo vệ môi trường đối với tiếng ồn
+ Phí bảo vệ môi trường đối với sân bay, nhà ga bến cảng, phí bảo vệ môi trườngvới việc khai thác dầu mỏ, khí đốt và khoáng sản khác
Như vậy phí bảo vệ môi trường nói chung và phí nước thải nói riêng có thể hiểu
là một khoản nghĩa vụ tài chính mà các tổ chức, cá nhân phải trả khi được hưởng mộtdịch vụ về môi trường Có thể nói đây là một công cụ quản lý cần thiết cho các nhà
Đại học Kinh tế Huế
Trang 22hoạch định chính sách cũng như các nhà quản lý nhằm đạt được các mục tiêu môi
trường Và đây cũng là nghĩa vụ của các doanh nghiệp, các tổ chức và là một nhu cầu tất
yếu của xã hội nhằm bảo vệ môi trường
* Phí th ải
- Lĩnh vực kinh tế: phí thải là những khoản tiền mà người gây ô nhiễm phải trả
theo quy định của cơ quan chức năng và tùy theo lượng thải thực tế thải vào môi trường
- Lĩnh vực quản lý: phí thải là khoản thu của ngân sách nhằm bù đắp một phần
chi phí thường xuyên và không thường xuyên về xây dựng, bảo dưỡng, tổ chức quản lý
hành chính của nhà nước đối với hoạt động của người nộp phí
Từ các định nghĩa trên ta rút ra được nhận xét: việc xác định phí thải đều dựatrên nguyên tắc “người gây ô nhiễm phải trả tiền” và nó là một khoản tiền bổ sung vàongân sách nhằm mục đích thực hiện các hoạt động trong lĩnh vực môi trường như phòngchống, khắc phục ô nhiễm, xây dựng hệ thống xử lý ô nhiễm…Và việc thu phí là mộthoạt động rất cần thiết để bảo vệ môi trường
1.1.4 Cơ sở kinh tế của mô hình thu phí bảo vệ môi trường đối với nước thải công nghiệp
Đại học Kinh tế Huế
Trang 23Hình 1: Mô hình xác định phí thải
Trục hoành cho biết lượng thải mà doanh nghiệp thải ra môi trường
Trục tung là mức phí trên mỗi đơn vị thải
Tại WP, chi phí doanh nghiệp bỏ ra để giảm bằng không, nhưng chi phí mà doanhnghiệp áp đặt cho xã hội là lớn nhất
Tại W0, tương ứng với chi phí giảm thải của doanh nghiệp là lớn nhất
Tại W*, được xác định bởi MDC = MAC thì chi phí giảm thải của doanh nghiệp
và của xã hội là nhỏ nhất
Thật vậy ta có:
- TAC : Tổng chi phí giảm thải
- F : Tổng số phí phải nộp
- TEC : Tổng chi phí doanh nghiệp phải nộp (TEC = TAC + F)
Dựa vào đồ thị ta xác định được:
0
MACPhí thải
(Lượng thải)
Đại học Kinh tế Huế
Trang 24Như vậy MAC và MDC cắt nhau tại W* thì đạt được tối ưu xã hội và tối ưu
doanh nghiệp
W* gọi là mức thải tối ưu
Với MAC = MDC = f là mức phí tối ưu
Và cơ quan quản lý nhà nước về môi trường sẽ căn cứ vào mức thải tối ưu này
để định ra phí thải cho các doanh nghiệp
Các doanh nghiệp sẽ căn cứ vào mức phí và khả năng giảm thải của mình đểquyết định mức thải sao cho tiết kiệm chi phí giảm thải nhất
1.1.5 Các nguyên tắc cơ bản của quản lý môi trường bằng công cụ thu phí bảo vệ môi trường đối với nước thải công nghiệp.
* Nguyên t ắc người gây ô nhiễm phải trả (PPP - Polluter Pays Principle)
Nguyên tắc này bắt nguồn từ các sáng kiến do Tổ chức hợp tác kinh tế và pháttriển (OECD) đề ra vào các năm 1972 và 1974 PPP “tiêu chuẩn” năm 1972 cho rằng,các tác nhân gây ra ô nhiễm phải trả mọi chi phí cho hoạt động kiểm soát và phòngchống ô nhiễm PPP “mở rộng” năm 1974 chủ trương rằng, các tác nhân gây ra ô nhiễmngoài việc phải tuân thủ các chi phí tiêu chuẩn đối với việc gây ra ô nhiễm, còn phải bồi
thường cho những người bị thiệt hại do ô nhiễm này gây ra Tóm lại, theo nguyên tắc
PPP thì người gây ra ô nhiễm phải chịu mọi khoản chi phí để thực hiện các biện pháplàm giảm ô nhiễm do chính quyền tổ chức thực hiện, nhằm đảm bảo cho môi trường ởtrong trạng thái có thể chấp nhận được
Nguyên tắc PPP xuất phát từ những luận điểm của Pigou về nền kinh tế phúc lợivới nội dung quan trọng nhất đối với một nền kinh tế lý tưởng là giá cả các loại hànghóa và dịch vụ có thể phản ánh đầy đủ các chi phí xã hội, kể cả chi phí môi trường (baogồm chi phí chống ô nhiễm, khai thác tài nguyên và những dạng ảnh hưởng khác tới môi
trường) Giá cả phải phản ánh đúng những chi phí sản xuất và tiêu dùng hàng hóa, dịch
vụ Nếu không, sẽ dẫn đến việc sử dụng bừa bãi các nguồn tài nguyên thiên nhiên, làmcho ô nhiễm càng nghiêm trọng hơn so với mức tối ưu đối với xã hội Việc buộc nguờigây ô nhiễm phải trả tiền là một trong những cách tốt nhất để làm giảm bớt các tác độngcủa ngoại ứng gây ra làm thất bại thị trường
Đại học Kinh tế Huế
Trang 25Hiện nay nguyên tắc PPP đã trở thành nguyên tắc chung của việc quốc tế hoá chi
phí môi trường: đối tượng gây ra ô nhiễm phải chịu toàn bộ các chi phí để bù đắp thiệt
hại môi trường gây ra từ hoạt động sản xuất kinh doanh của họ
Về phía người tiêu dùng cũng phải gánh chịu một phần chi phí - chi phí này sẽ
được tính vào giá thành sản phẩm Điều này góp phần hạn chế việc tiêu thụ những sản
phẩm hàng hóa có khả năng gây ô nhiễm cao
* Nguyên t ắc cưỡng chế
Nguyên tắc cưỡng chế là một loạt những hành động mà Chính phủ hoặc các phápnhân khác thực hiện để đảm bảo các quy định được tuân thủ và để điều chỉnh hoặc chấmdứt những hành động có hại đối với môi trường và sức khỏe con người Hoạt động
cưỡng chế của Chính phủ bao gồm:
- Thanh tra để xác định mức độ tuân thủ của đối tượng được điều chỉnh và đểphát hiện những hành vi vi phạm
- Thảo luận với các cá nhân hoặc giám đốc các cơ sở không tuân thủ quy định nhằmxây dựng những kế hoạch và biện pháp được nhất trí chung để tuân thủ các quy định đó
- Các biện pháp pháp lý trong trường hợp cần thiết để đôn đốc mọi người tuân thủ
quy định và áp đặt những hậu quả đối với những hành vi, vi phạm pháp luật hoặc nhữnghành vi đe dọa sức khỏe cộng đồng hoặc chất lượng môi trường
Nguyên tác cưỡng chế môi trường có một ý nghĩa quan trọng:
- Đảm bảo sức khỏe cộng đồng và môi trường: sự tuân thủ quy định là yếu tốquyết định việc đạt được những mục tiêu bảo vệ môi trường và sức khỏe cộng đồng màcác luật môi trường đã đề ra Chúng ta chỉ có thể bảo vệ được sức khỏe cộng đồng nếunhững quy định môi trường có hiệu quả và để đạt được hiệu quả đó cần có những chính
sách cưỡng chế thi hành
- Để xây dựng và củng cố lòng tin vào các quy định môi trường: để đạt được hiệuquả, các quyết định môi trường và các cơ quan Chính phủ chịu trách nhiệm thực hiệnchúng phải được nhìn nhận một cách nghiêm túc Hoạt động cưỡng chế có ý nghĩa rấtquan trọng trong việc xây dựng lòng tin vào các quy định và thể chế môi trường Khilòng tin vào luật pháp càng lớn thì mức độ tuân thủ luật pháp càng cao và nỗ lực bảo vệ
môi trường của Chính phủ càng được nhìn nhận nghiêm túc hơn
Đại học Kinh tế Huế
Trang 26- Để đảm bảo công bằng: nếu không có biện pháp cưỡng chế, những cơ sở viphạm các quy định môi trường sẽ có lợi hơn so với những cơ sở tự giác tuân theo các
quy định đó Một chương trình cưỡng chế thống nhất và có hiệu quả sẽ giúp đảm bảo
rằng các đối tượng thuộc phạm vi điều chỉnh các quy định môi trường sẽ được đối xửbình đẳng Các cơ sở sẽ sẵn sàng tự giác tuân thủ các quyết định môi trường và họ hiểurằng việc đó không làm cho họ phải chịu những thiệt thòi về mặt kinh tế
- Giảm thiểu chi phí và trách nhiệm pháp lý: việc tuân thủ các quy định sẽ làm
cho môi trường trong sạch hơn và sẽ làm giảm các chi phí cho dịch vụ chăm sóc sức
khỏe, đồng thời cũng làm giảm những chi phí lâu dài mà xã hội phải bỏ ra để làm sạch
môi trường Một chương trình cưỡng chế có hiệu quả có thể khuyến khích các cơ sởngăn ngừa ô nhiễm và giảm thiểu chất thải thay vì phải lắp đặt những thiết bị quan trắc
và kiểm soát ô nhiễm đắt tiền
1.1.6 Nghị định 67/2003/NĐ-CP của Chính Phủ về phí bảo vệ môi trường đối với nước thải ngày 13/06/2003, thông tư 125/2003/TTLT-BTC-BTNMT ngày 18/12 /2003 và các văn bản liên quan.
1.1.6.1 Các nguyên tắc và đối tượng nộp phí bảo vệ môi trường đối với nước thải công nghiệp
* Các nguyên t ắc
Phí nước thải công nghiệp theo Nghị định 67/2003/NĐ-CP của Chính phủ về phí
bảo vệ môi trường đối với nước thải được xây dựng theo nguyên tắc “người gây ônhiễm phải trả tiền”
* Đối tượng nộp phí nước thải công nghiệp bao gồm
- Cơ sở sản xuất công nghiệp
- Cơ sở chế biến thực phẩm, nông sản, lâm sản, thủy sản, cơ sở hoạt độnggiết mổ gia súc
- Cơ sở sản xuất rượu, bia, nước giải khát, cơ sở thuộc da, tái chế da
- Cơ sở sản xuất thủ công nghiệp trong các làng nghề
- Cơ sở chăn nuôi công nghiệp tập trung
- Cơ sở cơ khí, sửa chữa ô tô, xe máy tập trung
- Cơ sở khai thác, chế biến khoáng sản
Đại học Kinh tế Huế
Trang 27- Cơ sở nuôi tôm công nghiệp, cơ sở sản xuất và ươm tôm giống.
- Nhà máy cấp nước sạch, hệ thống xử lý nước thải tập trung
1.1.6.2 Mức phí và cách thức thu phí
* Công th ức tính phí bảo vệ môi trường đối với nước thải công nghiệp
Số phí bảo vệ MT Tổng Hàm lượng Mức thu phí bảo vệ
đối với nước thải lượng chất gây ô MT đối với nước thải
công nghiệp = nước * nhiễm có * 10-3* CN của chất gây ô
phải nộp thải thải trong nước nhiễm thải ra MT
(đồng) ra (m3) thải (mg/l) tiếp nhận tương ứng
(đồng/kg)Trong trường hợp nước thải công nghiệp của một đối tượng nộp phí có nhiều
chất gây ô nhiễm thì số phí bảo vệ môi trường đối với nước thải công nghiệp phải nộp làtổng số phí bảo vệ môi trường đối với nước thải công nghiệp phải nộp của từng chất gây
ô nhiễm có trong nước thải
Đại học Kinh tế Huế
Trang 28MỨC THU (đồng/kg chất gây ô nhiễm có trong nước thải)
hiệu
Môi trường tiếp nhận A
Môi trường tiếp nhận B
Môi trường tiếp nhận C
Môi trường tiếp nhận D
1 Nhu cầu ôxy
2 Nhu cầu ôxy
Trong đó môi trường tiếp nhận nước thải bao gồm 4 loại A, B, C, D được xácđịnh như sau:
- Môi trường tiếp nhận chất thải loại A: nội thành, nội thị của các đô thị loại đặc
Đại học Kinh tế Huế
Trang 29biệt, loại I, loại II và loại III.
- Môi trường tiếp nhận chất thải loại B: nội thành, nội thị của các đô thị lại IV,loại V và ngoại thành, ngoại thị của các đô thị loại đặc biệt, loại I, loại II và loại III
- Môi trường tiếp nhận chất thải loại C: ngoại thành, ngoại thị của các đô thị loại
IV và các xã không thuộc đô thị, trừ các xã thuộc môi trường tiếp nhận nước thải thuộcnhóm D
- Môi trường tiếp nhận chất thải loại D: các xã biên giới, miền núi, vùng cao,vùng sâu, vùng xa, biển, hải đảo
Đô thị loại đặc biệt, loại I, II, III, IV, V được thực hiện theo quy định tại Nghịđịnh số 72/2001/NĐ-CP ngày 5/10/2001 của Chính phủ về phân loại đô thị và cấp quản
lý đô thị và các văn bản hướng dẫn thi hành
Theo thông tư liên tịch số 106/2007/TTLT/BTC-BTNMT ngày 6/9/2007 của Bộ
Tài Chính - Bộ Tài Nguyên và Môi Trường sửa đổi bổ sung Thông tư liên tịch số125/2003/TTLT-BTC-BTNMT ngày 18/12/2003 của liên Bộ Tài Chính - Bộ TàiNguyên và Môi Trường hướng dẫn thực hiện Nghị định số 67/2003/NĐ-CP ngày13/6/2003 của Chính phủ về phí bảo vệ môi trường đối với nước thải đã bỏ thông sốBOD (nhu cầu ôxy sinh hóa) Sự sửa đổi này là hợp lý bởi vì:
- BOD (nhu cầu ôxy sinh hóa) là lượng ôxy cần thiết để ôxy hóa một phần cáchợp chất hữu cơ dễ phân hủy bởi sinh vật
- COD (nhu cầu ôxy hóa học) là lượng ôxy cần thiết để ôxy hóa các hợp chất hóahọc trong nước bao gồm cả vô cơ và hữu cơ
Như vậy thông số COD đã bao hàm cả BOD, cho nên nếu tính phí cho cả BOD
và COD thì ta đã tính phí hai lần cho chất gây ô nhiễm BOD Vì vậy không đưa BOD
vào để tính phí là hợp lý
* Cách th ức thu phí
Thông tư liên tịch số 125/2003/TTL-BTC-BTNMT của liên Bộ Tài Chính và Bộ
Tài nguyên và Môi trường ngày 18/12/2003 về hướng dẫn thực hiện Nghị định67/2003/NĐ-CP ngày 13/6/2003 của Chính phủ về phí bảo vệ môi trường đối với nước
thải đã hướng dẫn thực hiện cách thức thu phí đối với nước thải công nghiệp
- Các bước thực hiện việc thu phí:
Đại học Kinh tế Huế
Trang 30+ Các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất kinh doanh tiến hành kê khai số phí phải nộphàng quý với Sở Tài nguyên và Môi trường nơi thải nước theo đúng quy định (mẫu số
02 - phần phụ lục) trong vòng 10 ngày đầu, tháng đầu tiên của quý tiếp theo và bảo đảmtính chính xác của việc kê khai
+ Sau khi doanh nghiệp, các cơ sở sản xuất kinh doanh kê khai xong, Sở Tàinguyên và Môi trường tiến hành thẩm định tờ khai phí bảo vệ môi trường đối với nướcthải công nghiệp (chậm nhất không quá ngày 10 tháng đầu tiên của quý tiếp theo)
+ Khi thẩm định xong Sở Tài nguyên và Môi trường ra thông báo số phí bảo vệ
môi trường đối với nước thải công nghiệp phải nộp và thời hạn nộp tiền vào ngân sáchnhà nước cho các doanh nghiệp (mẫu số 03 - phần phụ lục)
+ Khi nhận được thông báo số phí phải nộp các doanh nghiệp, cơ sở sản xuấtkinh doanh phải nộp đủ, đúng hạn số tiền phí phải nộp vào tài khoản “Tạm thu phí bảo
vệ môi trường đối với nước thải” tại Kho bạc Nhà nước không quá ngày 20 đầu tiên củaquý tiếp theo
Sau khi tiến hành thu phí trong thời gian qua việc thu phí vẫn diễn ra chậm chạp
và không đạt hiệu quả cao, do thủ tục thu phí quá rườm rà và mất rất nhiều thời gian Vì
thế năm 2007 Chính phủ đã ra Nghị định số 04/2007/NĐ-CP ngày 8/1/2007 sửa đổi bổsung một số điều của Nghị định số 67/2003/NĐ-CP ngày 13/6/2003 của Chính phủ vềphí bảo vệ môi trường đối với nước thải
Thông tư liên tịch số 106/2007/TTLT/BTC-BTNMT ngày 6/9/2007 sửa đổi, bổ sungThông tư liên tịch số 125/2003/TTLT-BTC-BTNMT ngày 18/12/2003 của liên Bộ Tài Chính
- Bộ Tài Nguyên và Môi Trường hướng dẫn thực hiện Nghị định số 67/2003/NĐ-CP ngày13/6/2003 của Chính phủ về phí bảo vệ môi trường đối với nước thải
Thông tư liên tịch số 107/2007/TTLT/BTC-BTNMT ngày 26/9/2010 sửa đổi, bổsung thông tư liên tịch số 125/2003/TTLT-BTC-BTNMT ngày 18/12/2003 và thông tư
liên tịch số 106/2007/TTLT-BTC-BTNMT ngày 06/9/2007 hướng dẫn về phí bảo vệ
môi trường đối với nước thải
Với nội dung đã sửa số ngày mà đối tượng nộp phí bảo vệ môi trường đối với
nước thải công nghiệp phải kê khai số phí phải nộp hàng quý từ trong vòng 10 ngày
thành 5 ngày, thời gian để các doanh nghiệp nộp phí là chậm nhất không quá ngày 15
Đại học Kinh tế Huế
Trang 31tháng đầu tiên của quý tiếp theo Sở Tài nguyên và Môi trường thẩm định tờ khai phí
bảo vệ môi trường đối với nước thải công nghiệp, chậm nhất không quá ngày 10 tháng
đầu tiên của quý tiếp theo, ra thông báo số phí bảo vệ môi trường đối với nước thải công
nghiệp phải nộp vào ngân sách nhà nước cho đối tượng nộp phí
Từ cách thu phí trên ta rút ra được những ưu, nhược điểm
- Ưu điểm của cách thu phí:
+ Đánh giá và nâng cao được tính tự giác của doanh nghiệp, các cơ sở sản xuất
kinh doanh trong việc kê khai lượng nước thải
+ Hạn chế ô nhiễm môi trường do nước thải
+ Sử dụng tiết kiệm nguồn nước sạch
- Nhược điểm:
+ Doanh nghiệp tự kê khai lượng thải thải ra môi trường thì sẽ dẫn đến việc cácdoanh nghiệp, các cơ sở sản xuất kinh doanh không kê khai đúng lượng chất thải thải ra môi
trường Thông thường họ sẽ kê khai ít hơn so với thực tế thải để giảm bớt số phí phải nộp
+ Thủ tục diễn ra quá rườm rà và để đưa ra thông báo nộp phí cũng phải mất rấtnhiều thời gian dẫn đến việc tiến hành thu phí sẽ diễn ra chậm chạp
+ Việc thẩm định tờ kê khai sẽ rất khó khăn và tốn kém bởi vì hiện tại cán bộ phụtrách việc thu phí nước thải rất ít Với thời gian trong vòng 10 ngày khó có thể thẩm
định được hết nhất là tại các huyện, các thành phố lớn có nhiều doanh nghiệp vừa và nhỏ
1.1.6.3 Phân bổ nguồn thu
Theo thông tư liên tịch số 107/2007/TTLT/BTC-BTNMT ngày 26/9/2007 sửa
đổi, bổ sung thông tư liên tịch số 125/2003/TTLT-BTC-BTNMT ngày 18/12/2003 vàthông tư liên tịch số 106/2007/TTLT-BTC-BTNMT ngày 06/9/2007 hướng dẫn về phí
bảo vệ môi trường đối với nước thải
Kho bạc Nhà nước mở tài khoản “tạm thu phí bảo vệ môi trường đối với nướcthải” để thu tiền phí từ đối tượng nộp phí bảo vệ môi trường đối với nước thải côngnghiệp Chậm nhất không quá ngày 20 tháng đầu tiên của quý tiếp theo, Kho bạc Nhà
nước tổng hợp số phí bảo vệ môi trường, lập giấy nộp tiền vào ngân sách địa phương
(80% trên tổng số tiền phí) và sử dụng theo hướng dẫn tại khoản 3 mục V Thông tư này,
đồng thời hạch toán điều chuyển số phí để lại (20% trên tổng số tiền phí) vào tài khoản
Đại học Kinh tế Huế
Trang 32tiền gửi của Sở Tài nguyên và Môi trường theo đề nghị của Sở.
- Để lại 20% trên tổng số tiền phí bảo vệ môi trường đối với nước thải côngnghiệp thu được cho Sở Tài nguyên và Môi trường để trang trải chi phí cho việc thu phíhoặc điều chỉnh định mức phát thải của chất gây ô nhiễm Trong đó:
+ 5% trên tổng số tiền phí bảo vệ môi trường đối với nước thải công nghiệp được
sử dụng để trang trải chi phí cho việc thu phí theo quy định tại khoản 8 Thông tư số45/2006/TT-BTC ngày 25/5/2006 của Bộ Tài chính sửa đổi, bổ sung Thông tư số63/2002/TT-BTC ngày 24/7/2002 của Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện các quy địnhpháp luật về phí và lệ phí
+ 15% còn lại được sử dụng để trang trải chi phí cho việc đánh giá, lấy mẫu phân
tích nước thải phục vụ công tác thẩm định tờ khai nộp phí hoặc để phục vụ cho việc thu phí
Toàn bộ số tiền phí bảo vệ môi trường đối với nước thải công nghiệp được trích
theo qui định trên đây, Sở Tài nguyên và Môi trường phải sử dụng đúng mục đích, có
chứng từ hợp pháp theo chế độ qui định, cuối năm nếu chưa chi hết thì được chuyển
sang năm sau để chi theo chế độ quy định
- Phần phí còn lại (80% trên tổng số tiền phí bảo vệ môi trường đối với nước thảicông nghiệp thu được) được nộp vào ngân sách địa phương và được sử dụng theo hướngdẫn tại khoản 3 mục V Thông tư này
1.1.6.4 Mục đích thu phí bảo vệ môi trường đối với nước thải công nghiệp
- Phí nước thải là công cụ được áp dụng rộng rãi nhất trong số các công cụ kinh tế
- Việc áp dụng phí nước thải không gây ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế
- Phí nước thải mang tính răn đe cao hơn đối với các doanh nghiệp trong vấn đềbảo vệ môi trường Bắt buộc các doanh nghiệp phải thay đổi hoạt động kinh doanh theohướng thân thiện với môi trường
- Điều tiết lượng nước thải thải ra môi trường: việc thu phí giúp các cơ quan quản
lý môi trường biết được tổng lượng nước thải thải ra môi trường, từ đó có biện phápthích hợp điều tiết lượng nước thải thải ra phù hợp với sức chịu tải của môi trường
- Khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư giảm thải: việc áp dụng thu phí nướcthải công nghiệp sẽ khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư công nghệ, áp dụng sản xuấtsạch hơn để giảm lượng nước thải thải ra môi trường Từ đó các doanh nghiệp vừa giảm
Đại học Kinh tế Huế
Trang 33được số phí phải nộp, vừa đạt được các tiêu chuẩn môi trường.
- Hạn chế ô nhiễm môi trường do các loại nước thải công nghiệp
- Bổ sung ngân sách cho quỹ bảo vệ môi trường để:
+ Phòng chống, ngăn ngừa sự suy thoái môi trường, khắc phục các sự cố môi
trường do thiên tai và các hoạt động công nghiệp gây ra
+ Quy hoạch và cải thiện chất lượng môi trường trong quá trình công nghiệphóa, hiện đại hóa và đô thị hóa
+ Đầu tư các công trình cải tạo, duy tu, bảo dưỡng hệ thống thoát nước và xử lýcác hệ thống chất thải gây ô nhiễm môi trường trên địa bàn tỉnh, huyện, thành phố
1.2 Cơ sở thực tiễn
1.2.1 Tình hình thu phí của các quốc gia trên thế giới
Từ những năm 70, công cụ phí mới chỉ được áp dụng trong một số ít nước có nền kinh
tế phát triển hơn như các nước thuộc nhóm OECD, các nước công nghiệp mới NIC, TháiLan, Malaysia, Trung Quốc với phạm vi còn hạn chế trong một số ngành hoặc lĩnh vực
Phí nước thải công nghiệp đã được sử dụng thành công ở một số nước:
- Đức và Italia
Hình thức phí đánh vào chất gây ô nhiễm và nguồn gây ô nhiễm lại được sự ủng
hộ của quần chúng vì nếu phí đánh vào chất gây ô nhiễm như các chất lắng đọng, cácchất có thể ôxy hóa, thủy ngân, cađimi, COD… thì sau khi công bố suất lệ phí, nếudoanh nghiệp nào tuân thủ đầy đủ các tiêu chuẩn về lượng phát thải, doanh nghiệp đó sẽ
có biện pháp xử lý nếu vẫn tiếp tục thải vượt tiêu chuẩn cho phép
Từ năm 1986 biện pháp này đã được thay đổi bằng thu phí với phần thải vượttiêu chuẩn Mức phí được xác định trên cơ sở nồng độ chất gây ô nhiễm, vị trí thải ônhiễm, thời gian vượt tiêu chuẩn cho phép và tùy vào số lần vi phạm tiêu chuẩn
Đại học Kinh tế Huế
Trang 34Nhưng sau một thời gian thực hiện biện pháp này đã bộc lộ một số nhược điểm:
+ Xuất phí đặt ra quá thấp, trong một số trường hợp thấp hơn cả chi phí vận hành
và mua các thiết bị xử lý ô nhiễm nên không có tác dụng khuyến khích giảm ô nhiễm
+ Việc chỉ dựa vào nồng độ chất gây ô nhiễm để tính phí có thể không buộc các
cơ sở sản xuất kinh doanh giảm lượng ô nhiễm thải ra môi trường bởi vì họ cố tình lẩn
tránh bằng cách pha loãng nồng độ chất thải trong khi đó lượng chất ô nhiễm thải ra
không thay đổi
Để khắc phục những nhược điểm trên từ năm 1990 Hàn Quốc đã đánh phí căn
cứ vào lượng thải vượt tiêu chuẩn cho phép và kết hợp nồng độ chất thải trong côngthức tính phí Ngoài ra, Hàn Quốc đã điều chỉnh xuất phí cao hơn chi phí vận hành hệthống xử lý ô nhiễm để khuyến khích giảm ô nhiễm
- Trung Quốc
Phí nước thải được quy định trong Điều 18 Luật Bảo vệ môi trường 1979 Trong
những năm 1979 - 1981, phí ô nhiễm được áp dụng trên cơ sở thử nghiệm ở 27 tỉnh/TP,
dưới sự giám sát trực tiếp của Chính phủ Từ năm 1982 việc thực hiện được áp dụng
trên toàn quốc Có thể chia cách tính phí thành hai giai đoạn
Giai đoạn trước 2003
Trước hết, tất cả các thông số ô nhiễm trong nước thải đều được đo kiểm Sau đó,
các thông số ô nhiễm được xếp theo thứ tự từ mức ô nhiễm cao nhất đến thấp nhất Việctính phí dựa trên thông số có mức ô nhiễm cao nhất Với thông số có mức ô nhiễm caonhất này, phí được tính dựa trên phần nồng độ vượt quá tiêu chuẩn Ví dụ như nếu nhưtiêu chuẩn cho phép (TCCP) là 50 mg/l và nồng độ của chất ô nhiễm là 70mg/l thì chỉ
tính phí đối với phần 20 mg/l vượt tiêu chuẩn
Giai đoạn sau 2003
Việc tính phí nói trên đã bộc lộ một số bất cập Thứ nhất, việc chỉ dựa vào nồng
độ đã khiến các doanh nghiệp đối phó bằng cách pha loãng nước thải Thứ hai, việc chỉ
tính phí dựa trên phần nồng độ vượt quá tiêu chuẩn cũng khiến doanh nghiệp chỉ đốiphó sao cho nồng độ chất ô nhiễm đạt tiêu chuẩn chứ không khuyến khích doanh nghiệp
đầu tư xử lý để hạn chế ô nhiễm trong điều kiện tối đa có thể được Hơn nữa, việc chỉtính phí đối với thông số ô nhiễm có mức vượt tiêu chuẩn cao nhất không tạo động lực
Đại học Kinh tế Huế
Trang 35để doanh nghiệp hạn chế ô nhiễm với các thông số khác.
Để khắc phục những bất cập này, năm 2003 hệ thống tính phí nước thải của
Trung Quốc đã có một số thay đổi: việc tính phí được dựa trên tải lượng chứ không chỉdựa trên nồng độ Phí được tính với tất cả các đơn vị ô nhiễm (cả đơn vị trên và dướiTCCP) Phí được tính với hơn 100 thông số ô nhiễm trong nước thải Các tiêu chuẩn do
Bộ Môi trường quy định thay đổi tùy thuộc vào từng ngành công nghiệp và mức phí
thay đổi tùy theo loại chất gây ô nhiễm Ngoài ra, các địa phương có thể đưa ra các tiêu
chuẩn chặt chẽ hơn tiêu chuẩn quốc gia và có thể đưa ra mức phí cao hơn mức phí do
Bộ Tài Nguyên Môi trường quy định
- Philipin
Giai đoạn thí điểm
Philipin bắt đầu thí điểm áp dụng phí nước thải cho hồ Laguna từ năm 1997 Đây
là hồ chứa nước ngọt lớn nhất tại Philipin Lưu vực hồ bao gồm 5 tỉnh và một phần củaThủ đô Manila Hồ cung cấp nước ngọt cho khoảng 13 triệu dân sinh sống trong khuvực và cũng là nơi tiếp nhận nước thải của khoảng 10.000 doanh nghiệp Để giải quyếttình trạng ô nhiễm nước hồ ngày càng gia tăng, tháng 1/1997, Ban quản lý Hồ Laguna
đã ban hành quyết định áp dụng phí nước thải
Đầu tiên, phí nước thải được áp dụng cho các doanh nghiệp thuộc các ngành
công nghiệp trọng điểm có mức thải trung bình hàng năm từ 4 tấn BOD trở lên Từ năm
1998, hệ thống phí được mở rộng, bao gồm tất cả các doanh nghiệp thuộc địa phận hànhchính của vùng hồ Laguna và có thải nước thải vào hồ Các doanh nghiệp này bao gồmcác doanh nghiệp sản xuất, thương mại, các doanh nghiệp công nông nghiệp, các cụm
dân cư và các hộ gia đình
Phí gồm 2 phần: Phí cố định và phí biến đổi Phí cố định phụ thuộc vào lượng
nước thải và số lượng mẫu cần lấy để quan trắc hiện trạng môi trường của doanh nghiệp
Các doanh nghiệp càng thải nhiều nước thải thì số lượng mẫu cần lấy để quan trắc càngnhiều và mức phí cố định phải nộp càng cao
Phí biến đổi dựa trên lượng phát thải của BOD hoặc TSS, tùy từng loại hình sảnxuất Đối với các cơ sở chế biến thực phẩm, thuộc da, giết mổ, chăn nuôi, thủy sản, mía
đường, sản xuất giấy thì tính theo BOD Đối với các cơ sở sản xuất xi măng, phân hóa
Đại học Kinh tế Huế
Trang 36học, sản xuất kim loại, khai khoáng thì tính theo TSS Mức phí biến đổi tùy thuộc vàonồng độ chất thải trong nước thải Nếu nồng độ chất ô nhiễm (TSS hoặc BOD) nhỏ hơn50mg/l thì mức phí là 5 Peso/kg và nồng độ chất ô nhiễm lớn hơn 50mg/l thì mức phí là
30 Peso/kg chất ô nhiễm thải ra
Giai đoạn áp dụng toàn quốc từ 2003
Trên cơ sở thành công của giai đoạn thử nghiệm tại hồ Laguna, Chính phủPhilipin đã cho nhân rộng việc áp dụng thu phí nước thải trong phạm vi cả nước từ năm
2003 Tuy nhiên, việc thu phí trong giai đoạn này có một số điều chỉnh nhằm tăng hiệuquả của phí Thứ nhất, phần phí cố định phụ thuộc lượng nước thải và việc có chứa kimloại nặng hay không Thứ hai, phần phí biến đổi áp dụng đồng loạt 5.000 Peso/tấn vớitất cả các đơn vị ô nhiễm chứ không phân biệt đơn vị ô nhiễm vượt tiêu chuẩn và dướitiêu chuẩn
1.2.2 Tình hình thu phí ở Việt Nam
Nghị định 67/2003/NĐ-CP của Chính phủ về thu phí nước thải có hiệu từ tháng
1/2004 nhưng sau mấy năm thực hiện công cụ này chưa đem lại hiệu quả cao Theo
thống kê tổng số phí nước thải công nghiệp thu được chỉ mới đạt 10% trên tổng số phí.Việc thu phí vẫn diễn ra chậm chạp tại các địa phương trên cả nước
- Thành phố Hồ Chí Minh
Nghị định 67/2003/NĐ-CP có hiệu lực từ tháng 01/2004 nhưng đến tháng7/2004 UBND thành phố Hồ Chí Minh mới ban hành quyết định thực hiện và phải đếntháng 12/2004 việc thu phí mới thực sự bắt đầu
Theo ước tính số doanh nghiệp dự kiến phải nộp phí bảo vệ môi trường đối với
Trang 37Bảng 3: Bảng thống kê kết quả thu phí nước thải công nghiệp của thành phố
Hồ Chí Minh từ tháng 12/2004 đến tháng 6/2005
Số lượng doanh nghiệp
Tổng số phí bảo vệ môi trường thu được Tỷ lệ (%)
Doanh nghiệp đã được
Như vậy sau hơn một năm thực hiện nghị định tỷ lệ thu phí nước thải công
nghiệp tại thành phố Hồ Chí Minh mới chỉ thu được hơn 2 tỷ chỉ đạt 13,78%, nhiềudoanh nghiệp không chịu kê khai và các doanh nghiệp đã được thông báo nộp phí nhưngkhông nộp chiếm khoảng 53,8% trong tổng số doanh nghiệp đã được thẩm định vàthông báo nộp phí Hiệu quả đạt được là rất thấp
Đến hết năm 2006 thành phố mới chỉ thu được hơn 6,5 tỷ đồng, nhưng năm 2008
thành phố Hồ Chí Minh đứng đầu cả nước thực hiện tốt công tác thu phí đạt 23 tỷ đồng
- Thành phố Hà Nội :
Là trung tâm kinh tế - xã hội của cả nước song sau hơn một năm thực hiện thuphí Hà Nội mới thu được gần 700 triệu đồng phí nước thải công nghiệp từ các doanhnghiệp không dùng nước sạch thành phố trong khi đó, các tỉnh thành như: TP Hồ ChíMinh, Bình Phước, Gia Lai, Hà Tĩnh… đã thu được hàng trăm tỷ đồng Nguyên nhâncủa việc thu phí chưa cao là do Hà Nội còn phải chờ bóc tách số phí giữa nước thải chosinh hoạt và cho sản xuất tại các cơ sở sử dụng nước sạch của thành phố Công đoạn nàymất nhiều thời gian, trong khi lực lượng cán bộ chuyên trách thẩm định không đủ Mặtkhác nhiều doanh nghiệp không cộng tác với cơ quan chức năng kê khai số phí Khi SởTài nguyên và Môi trường phát ra 500 tờ kê khai nộp phí thì chỉ thu về được 150 tờ
Trong khi đó, cơ quan môi trường không có chế tài xử phạt
Hiện nay hàng năm thành phố mới thu được 29 tỷ đồng mức phí thải côngnghiệp nhưng Hà Nội lại cần 720 tỷ đồng để xử lý nước thải công nghiệp bởi vì trong số
Đại học Kinh tế Huế
Trang 3840 doanh nghiệp trên 500 nhà máy, xí nghiệp sản xuất công nghiệp có xử lý nước thảichỉ giải quyết được 10% trong 600.000 m3 nước thải/ngày đêm đổ ra sông hồ Như vậy
công tác thu phí vừa chậm chễ, vừa thiếu triệt để
- Tỉnh Hà Nam.
Thực hiện nghị định của Chính phủ về phí bảo vệ môi trường đối với nước thải,
Sở Tài nguyên và Môi trường Hà Nam căn cứ vào tờ khai và kết quả thẩm định nộp phíbảo vệ môi trường đối với nước thải công nghiệp của các cơ sở sản xuất kinh doanh,dịch vụ trên địa bàn tỉnh, để tiến hành xác định mức thu phí nước thải công nghiệp Quý
I năm 2007 với 46 cơ sở tổng số tiền là 40.315.400 đồng Và đã thu được 32.780.500đồng, đạt 81,31% Việc nộp phí đã làm chuyển biến nhận thức của lãnh đạo các cơ sở
sản xuất kinh doanh, dịch vụ trên địa bàn tỉnh trong công tác bảo vệ môi trường Đến
nay, đã có nhiều nhà máy trên địa bàn tỉnh đầu tư công nghệ xử lý nước thải như: Công
ty bia Sài Gòn, Công ty TNHH chế biến thực phẩm Trung Thành, Công ty TNHH NgọcHải…góp phần làm giảm thiểu ô nhiễm môi trường
Như vậy có thể nói Hà Nam đã thực hiện tương đối tốt công tác thu phí nước thải
công nghiệp theo nghị định 67/2003/NĐ-CP của Chính phủ
- Tỉnh Bắc Ninh.
Sau 1 năm triển khai thực hiện Nghị Định 67/NĐ- CP của Chính phủ về thu phí
bảo vệ môi trường đối với nước thải công nghiệp, Sở Tài nguyên - Môi trường tỉnhBắc Ninh đã ra thông báo nộp phí cho 563 cơ sở có thải nước ở tất cả 8 huyện, thị xã,song chỉ có 213 cơ sở nghiêm túc thực hiện nghĩa vụ, chiếm 37,83% tổng số cơ sởthuộc diện phải nộp và số kinh phí thu được chỉ là 113 triệu đồng, đạt gần 40% kế hoạch
Để công tác thu phí được triển khai rộng, sát với thực tế, đồng thời tạo điều
kiện thuận lợi cho các cơ sở đến nộp phí, Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh đã chỉ đạocác phòng Tài nguyên và Môi trường các huyện, thị xã tổ chức thu phí, ra thông báo sốphí phải nộp theo từng quý đối với các doanh nghiệp có nước thải trên địa bàn và mởtài khoản tiền gửi thu phí bảo vệ môi trường tại kho bạc nhà nước ở địa phương
- Tỉnh Vĩnh Phúc.
Từ năm 2004 đến nay, Sở Tài nguyên & Môi trường Vĩnh Phúc đã nhiều lần
thông báo và hướng dẫn các doanh nghiệp kê khai nộp phí nước thải nhưng kết quả thu
Đại học Kinh tế Huế
Trang 39phí đạt rất thấp Đến nay, trên địa bàn toàn tỉnh mới chỉ có trên 60 đơn vị sản xuất thực
hiện nghĩa vụ nộp phí nước thải công nghiệp trong khi đó tỉnh có hàng trăm doanhnghiệp đã đi vào sản xuất với nhiều ngành nghề khác nhau, có khá nhiều doanh nghiệp
có lượng nước thải nằm trong quy định phải nộp phí nhưng các doanh nghiệp này vẫn
trốn tránh không nộp Một số doanh nghiệp khi kê khai nộp phí nước thải còn mang tính
đối phó, kê khai chưa chính xác Có doanh nghiệp cố tình kê khai lưu lượng và các
thông số ô nhiễm có trong nước thải thấp, hoặc kê khai chiếu lệ gây khó khăn cho quátrình thẩm định
Qua hơn 4 năm thực hiện việc thu phí nước thải công nghiệp, số phí thu được
còn rất thấp so với tốc độ phát triển công nghiệp hàng năm của tỉnh Năm 2004, toàntỉnh thu được trên 85 triệu đồng, năm 2007 là 157 triệu đồng, năm 2008 thu được gần
200 triệu đồng Việc thu phí bảo vệ môi trường đối với nước thải công nghiệp còn thấp
và gặp rất nhiều khó khăn
Từ kinh nghiệm thu phí của các địa phương ta rút ra được kết luận là hiệu quả
thu phí nước thải công nghiệp theo nghị định 67/2003/NĐ-CP của Chính phủ về phínước thải chưa cao, nguyên nhân của việc này là do:
+ Không xác định được lưu lượng nước thải và hàm lượng các chất gây ô nhiễm
có trong nước thải của các doanh nghiệp để tính ra khoản thu phí cho đúng thực tế Bởi
vì theo quy định, việc nộp phí là do doanh nghiệp tự kê khai và số phí phải đóng lại tínhtheo 6 chất gây ô nhiễm
+ Số lượng các doanh nghiệp nằm trong danh sách phải nộp phí là rất lớn trênmột phạm vi rộng nhưng bộ máy quản lý còn yếu, nguồn nhân lực và cán bộ chuyêntrách về công tác này còn mỏng
+ Phương thức thu phí hiện nay quá rườm rà, tốn rất nhiều thời gian và công sức
+ Ý thức chấp hành nộp phí nước thải công nghiệp và nhận thức của các doanhnghiệp, các cá nhân về tầm quan trọng của việc bảo vệ môi trường còn hạn chế
Đại học Kinh tế Huế
Trang 40CHƯƠNG II TÌNH HÌNH THU PHÍ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG ĐỐI VỚI NƯỚC THẢI CÔNG NGHIỆP THEO NGHỊ ĐỊNH 67/2003/NĐ-CP TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ VINH,
TỈNH NGHỆ AN
2.1 Khái quát về địa bàn nghiên cứu
2.1.1 Điều kiện tự nhiên
2.1.1.1 Vị trí địa lý, địa hình, diện tích
Thành phố Vinh là trung tâm kinh tế, chính trị của tỉnh Nghệ An và đã đượcChính phủ quy hoạch để trở thành trung tâm kinh tế - văn hóa của vùng Bắc Trung BộViệt Nam Hiện nay, thành phố Vinh là một trong 7 đô thị loại 1 trực thuộc tỉnh, là trungtâm kinh tế lớn nhất khu vực Bắc Miền Trung của Việt Nam - Đô thị loại I, với diện tích10.497,58 km²
Thành phố Vinh có tọa độ địa lý từ 18°38'50” đến 18°43’38” vĩ độ Bắc, từ
105°56’30” đến 105°49’50” kinh độ Đông Vinh là thành phố nằm bên bờ sông Lam,
phía Bắc giáp huyện Nghi Lộc, phía Nam và Đông Nam giáp huyện Nghi Xuân, phíaTây và Tây Nam giáp huyện Hưng Nguyên Thành phố cách thủ đô Hà Nội 295 km vềphía Bắc, cách Thành phố Hồ Chí Minh 1.424 km, cách thủ đô Viên Chăn (Lào) 400 km
về phía Tây
Địa hình Thành phố Vinh được kiến tạo bởi hai nguồn phù sa, đó là phù sa sông
Lam và phù sa của biển Đông Sau này sông Lam đổi dòng chảy về mạn Rú Rum, thìmiền đất này còn nhiều chỗ trũng và được phù sa bồi lấp dần Địa hình bằng phằng và
cao ráo nhưng không đơn điệu, có núi Dũng Quyết hùng vĩ và dòng sông Lam thơ mộng
bao quanh, tạo nên cảnh quan thiên nhiên của thành phố rất hài hòa và khoáng đạt
Đại học Kinh tế Huế