Tuy nhiên, thực tế cho thấy cùng với quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa,nền kinh tế xã hội của thành phố đang có những bước phát triển nhanh chóng, đời sốngnhân dân không ngừng được
Trang 1ĐẠI HỌC HUẾ
KHOA KINH TẾ PHÁT TRIỂN
Trang 2ĐẠI HỌC HUẾ
Trang 3Để hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này, ngoài sự cố gắng, nổ lực của bản
cô trong Trường, trong Khoa cũng như Ban giám hiệu Trường Đại học Kinh tế Đại học Huế nên bản thân tôi thật sự đã có những bước trưởng thành đáng kể về
-m ặt kiến thức, nhờ đó mà tôi đã trang bị được cho mình những kiến thức cần thiết
để hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này Vì vậy, lời đầu tiên tôi muốn gởi lời cám
ơn chân thành đến Ban giám hiệu Trường Đại học Kinh tế - Đại học Huế, ban chủ
nhi ệm Khoa Kinh tế phát triển cùng các thầy, cô giáo trong trường đã tận tình dạy
d ỗ và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập.
Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến thầy giáo Thạc sĩ: Nguyễn
này.
nguyên môi trường Thành phố Đông Hà, Phòng Quan trắc môi trường Tỉnh
Qu ảng Trị và Công ty TNHH MTV Môi trường và Công trình Đô thị Đông Hà
đã tạo điều kiện thuận lợi và cung cấp cho tôi số liệu cần thiết phục vụ cho quá
Cu ối cùng, xin cám ơn đến tất cả bản bè, người thân đã động viên, giúp
đỡ tôi trong suốt quá trình học tập nói chung và trong thời gian làm đề tài
Do h ạn chế về kiến thức cũng như thời gian nên đề tài không tránh khỏi
nh ững thiếu sót Rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của quý thầy, cô.
Hu ế, tháng 5 năm 2011
Sinh viên
Lê H ữu Tâm
Đại học Kinh tế Huế
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CÁM ƠN i
MỤC LỤC ii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT iv
DANH MỤC CÁC BIỂU BẢNG v
TÓM TẮT NGHIÊN CỨU vi
PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ 9
1 Tính cấp thiết của đề tài 9
2 Mục tiêu nghiên cứu 11
3 Phạm vi và đối tượng nghiên cứu 11
4 Phương pháp nghiên cứu 11
PHẦN II: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 13
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 13
1.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN 13
1.1.1 Các khái niệm về môi trường 13
1.1.2 Các khái niệm về chất thải rắn đô thị 18
1.1.3 Các vấn đề về chất thải rắn đô thị 20
1.1.3.1 Nguồn phát sinh chất thải rắn đô thị 20
1.1.4 Mô hình quản lý chất thải rắn đô thị hiện nay 25
1.1.5 Một số văn bản pháp luật liên quan tới quản lý CTR đô thị ở Việt Nam 28
1.1.6 Tác động của chất thải rắn đến môi trường 28
1.1.7 Các chỉ tiêu đánh giá tác động của chất thải rắn đến môi trường 30
1.2 CƠ SỞ THỰC TIỄN 31
1.2.1 Tình hình quản lý chất thải rắn đô thị ở Việt Nam 31
1.2.2 Hiện trạng phát sinh chất thải rắn và những vấn đề cấp bách liên quan đến chất thải rắn ở Thành phố Đông Hà - Tỉnh Quảng Trị 37
CHƯƠNG 2: TÌNH HÌNH QUẢN LÝ CHẤT THẢI RẮN VÀ NHỮNG TÁC ĐỘNG ĐẾN MÔI TRƯỜNG Ở THÀNH PHỐ ĐÔNG HÀ - TỈNH QUẢNG TRỊ 40
2.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 40
Đại học Kinh tế Huế
Trang 52.1.1 Điều kiện tự nhiên 40
2.1.2 Hiện trạng phát triển kinh tế - xã hội 48
2.2 Tình hình quản lý chất thải rắn ở Thành phố Đông Hà - Tỉnh Quảng Trị 52
2.2.1 Tình hình chung về chất thải rắn đô thị ở Thành phố Đông Hà 52
2.2.2 Tình hình quản lý chất thải rắn ở Thành phố Đông Hà 56
2.2.3 Hệ thống quản lý chất thải rắn sinh đô thị ở Thành phố Đông Hà 60
2.3 Đánh giá hệ thống quản lý chất thải rắn đô thị ở Thành phố Đông Hà và những tác động của chất thải rắn đến chất lượng môi trường 62
2.3.1 Đánh giá hệ thống quản lý chất thải rắn đô thị ở Thành phố Đông Hà 62
2.3.2 Tác động của chất thải rắn đến chất lượng môi trường 63
2.4 Dự báo lượng chất thải rắn đô thị phát sinh của Thành phố đến năm 2020 71
CHƯƠNG III : GIẢI PHÁP QUẢN LÝ CHẤT THẢI RẮN ĐÔ THỊ Ở THÀNH PHỐ ĐÔNG HÀ - TỈNH QUẢNG TRỊ 74
3.1 Cơ sở khoa học 74
3.2 Giải pháp tổng thể 74
3.3 Giải pháp cụ thể 75
3.3.1 Giải pháp về tổ chức và tăng cường năng lực quản lý chất thải rắn 75
3.3.2 Giải pháp tài chính 77
3.3.3 Xây dựng phương án thu gom và xử lý chất thải rắn hợp lý 77
3.3.4 Giải pháp tuyên truyền, nâng cao nhận thức cộng đồng 81
3.3.5 Các giải pháp về công nghệ, kỹ thuật 82
3.3.6 Giải pháp xã hội hóa công tác quản lý chất thải rắn 82
PHẦN III: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 84
1 Kết luận 84
2 Kiến nghị 84
TÀI LIỆU THAM KHẢO 86
Đại học Kinh tế Huế
Trang 6DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
CTR Chất thải rắn
TNHH MTV Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên
TN&MT Tài nguyên và môi trường
KTXH Kinh tế - xã hội
BVMT Bảo vệ môi trường
PGS TS Phó Giáo sư - Tiến sĩ
UBND Uỷ ban nhân dân
NXB Nhà xuất bản
KPH Không phát hiện
TCVN Tiêu chuẩn Việt Nam
QCVN Quy chuẩn Việt Nam
BTNMT Bộ Tài nguyên môi trường
Trang 7DANH MỤC CÁC BIỂU BẢNG
1 Nguồn phát sinh chất thải rắn đô thị 20
2 Tiêu chuẩn tạo rác trung bình theo đầu người đối với từng loại chất thải rắn đô thị 21
3 Thành phần hóa học các hợp phần cháy được của chất thải rắn 23
4 Thành phần có khả năng phân huỷ sinh học của một số chất hữu cơ tính theo hàm lượng lignin 23
5 Quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở Thành phố Đông Hà 49
6 Đặc điểm dân cư, lao động của Thành phố Đông Hà 50
7 Khối lượng chất thải rắn đô thị thu gom hàng năm 53
8 Thành phần chất thải rắn sinh hoạt của Thành phố Đông Hà năm 2009 54
9 Thống kê số lượng rác thải y tế phát sinh 55
10 Tỷ lệ thu gom chất thải rắn tại các phường 56
11 Thời gian và vị trí lấy mẫu không khí 64
12 Kết quả phân tích chất lượng không khí 64
13 Vị trí và thời gian lấy mẫu nước 65
14 Kết quả phân tích chất lượng nước mặt 65
15 Vị trí và thời gian lấy mẫu nước rò rỉ rác 67
16 Kết quả phân tích chất lượng nước rò rỉ từ bãi chôn lấp 67
17 Vị trí và thời gian lấy mẫu đất 70
18 Kết quả phân tích chất lượng đất 70
19 Dự báo lượng chất thải rắn sinh hoạt năm 2020 72Đại học Kinh tế Huế
Trang 8- Trên cơ sở đó đề xuất các giải pháp quản lý chất thải rắn phù hợp với yêu cầubảo vệ môi trường và phát triển bền vững đô thị.
3 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp tổng hợp tài liệu
- Phương pháp so sánh
- Phương pháp chuyên gia, chuyên khảo
4 Dữ liệu phục vụ nghiên cứu
- Số liệu thứ cấp: Báo cáo thống kê, sách báo, internet, giáo trình, báo cáo khoahọc, luận văn tốt nghiệp và các công trình nghiên cứu khoa học khác
- Những số liệu sau khi thu thập sẽ được tổng hợp, phân tích phù hợp với nộidung nghiên cứu của đề tài
- Từ những cơ sở lý luận và thực tiễn nghiên cứu ở Thành phố Đông Hà, đề tài đã
đề xuất những giải pháp quản lý chất thải rắn phù hợp với yêu cầu bảo vệ môi trường
và phát triển bền vững đô thị
Đại học Kinh tế Huế
Trang 9PHẦN I
ĐẶT VẤN ĐỀ
1 Tính cấp thiết của đề tài
Hệ thống đô thị đóng vai trò như một hệ thống “khung xương” phát triển của mỗilãnh thổ, mỗi quốc gia Những quốc gia phát triển là những nước có mạng lưới đô thịdày đặc với sự phân hóa sâu sắc về quy mô dân số và lãnh thổ, cũng như cấu trúckhông gian của nó Sự tiến bộ của cách mạng khoa học - kỹ thuật nói riêng và tiến bộ
xã hội nói chung đã giúp cho đô thị phát triển, hạn chế nhiều mặt tiêu cực của đô thị,làm cho đô thị và nông thôn gần nhau hơn thông qua sự phân công lao động xã hội.Theo Báo cáo Chương trình phát triển của Liên hợp quốc (năm 1990) đã chỉ rarằng, quá trình đô thị hóa là con đường văn minh của loài người, bởi các đô thị là nơichủ yếu tạo ra của cải vật chất cho loài người Đô thị như một ngôi nhà lớn mà conngười cùng chung sống, sinh hoạt, làm việc, học tập Phát triển đô thị hay đô thị hóamột vùng dân cư là quy luật phát triển của xã hội, không nằm ngoài quy luật phát triểncủa tự nhiên Một đô thị phát triển sẽ tạo sức thu hút con người đến với nó
Tại Việt Nam, qua những kết quả nghiên cứu gần đây của nhiều tổ chức cá nhântrong nước và nước ngoài Trong 20 năm qua, Việt Nam đã đạt được những bước tiếnđáng kể về phát triển kinh tế - xã hội Từ năm 2005 đến nay, GDP liên tục tăng, bìnhquân đạt trên 7%/năm Năm 2005, tốc độ này đạt 8,43%, là mức tăng trưởng cao nhấttrong vòng 9 năm qua Đến cuối năm 2005, dân số Việt Nam là 83.119.900 người Từnăm 2000 - 2005, dân số Việt Nam tăng 5,48 triệu người, trong đó tỷ lệ dân số thànhthị tăng từ 24,18% năm 2000 - 26,97% năm 2005, tương ứng tỷ lệ dân số nông thôngiảm từ 75,82% xuống 73,93% Theo thống kê năm 2010, dân số thành thị lên tới 30,4triệu người, chiếm 33% dân số và dự đoán đến năm 2020 khoảng 46 triệu người,chiếm 45% dân số cả nước Đến tháng 6/2010 cả nước có 747 đô thị, trong đó: loại đặcbiệt là 2 (Hà Nội, TP Hồ Chí Minh); loại I là 7; loại II là 13; loại III là 44; loại IV là
44 và loại V là 637.[1]
Tuy nhiên bên cạnh những thành tựu về kinh tế - xã hội nhằm đáp ứng nhữngnhu cầu và lợi ích của con người, đô thị hóa quá nhanh đã tạo ra sức ép về nhiều mặt,dẫn đến suy giảm chất lượng môi trường và phát triển không bền vững Lượng chất
Đại học Kinh tế Huế
Trang 10thải rắn phát sinh tại các đô thị và khu công nghiệp với nhiều thành phần phức tạp đãgây ra tình trạng ô nhiễm môi trường rất nghiêm trọng ở nhiều vùng khác nhau.
Thành phố Đông Hà được thành lập theo Nghị quyết số 33/NQ - CP của Chínhphủ vào ngày 11 tháng 8 năm Có thể nói, đây là sự kiện có ý nghĩa vô cùng to lớn đốivới Thành phố Đông Hà nói riêng và Tỉnh Quảng Trị nói chung trong sự nghiệp côngnghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước Dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ và những nổ lựccủa nhân dân, nền kinh tế Đông Hà đã có những bước phát triển vượt bậc và đã đạtđược những kết quả quan trọng trên nhiều lĩnh vực, đóng góp quan trọng vào sự tăngtrưởng kinh tế chung toàn tỉnh
Là một Thành phố mới được thành lập, so với nhiều thành phố khác trên cả nước,Đông Hà là Thành phố có tiềm năng phát triển, cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướngtăng tỷ trọng thương mại - dịch vụ, công nghiệp - xây dựng luôn duy trì được tốc độtăng trưởng khá Đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân không ngừng được cảithiện và nâng cao Văn hóa - xã hội có những chuyển biến tích cực, nếp sống văn minh
đô thị từng bước hình thành, quốc phòng - an ninh được giữ vững và tăng cường Đó lànhững nền tảng cơ bản tạo đà cho Đông Hà phát triển trong giai đoạn tiếp theo
Tuy nhiên, thực tế cho thấy cùng với quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa,nền kinh tế xã hội của thành phố đang có những bước phát triển nhanh chóng, đời sốngnhân dân không ngừng được nâng cao, đồng thời các hoạt động sản xuất kinh doanhcũng tăng lên rất nhiều lần trong những năm gần đây đã làm cho lượng chất thải rắn vàchất thải rắn nguy hại thải ra môi trường ngày càng nhiều Mặt khác, chất thải rắnkhông được thu gom và xử lý đảm bảo yêu cầu vệ sinh mà chỉ vứt bừa bãi ra các lưuvực sông, suối, sân vườn hay các khu vực đất trống hoặc nếu được thu gom thì cũngchỉ đổ tạm thời tại các bãi rác không được đầu tư và vận hành theo đúng yêu cầu củabãi chôn lấp rác thải hợp vệ sinh do đó tình trạng ô nhiễm môi trường vì thế ngày càngnghiêm trọng và trở thành mối quan tâm chung cho công tác quản lý cũng như cộngđồng dân cư
ch ất thải rắn đô thị đến chất lượng môi trường ở Thành phố Đông Hà - Tỉnh
Qu ảng Trị” làm khóa luận tốt nghiệp.
Đại học Kinh tế Huế
Trang 112 Mục tiêu nghiên cứu
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về chất thải rắn và những tác động củachất thải rắn đến môi trường
- Đánh giá tình hình quản lý chất thải rắn ở Thành phố Đông Hà - Tỉnh QuảngTrị
- Phân tích, đánh giá những tác động của chất thải rắn đến chất lượng môitrường thông qua các chỉ tiêu về nồng độ các chất trong môi trường không khí, môitrường nước và môi trường đất tại bãi chôn lấp rác thải của Thành phố
- Trên cơ sở đó đề xuất các giải pháp quản lý chất thải rắn phù hợp với yêu cầubảo vệ môi trường và phát triển bền vững đô thị
3 Phạm vi và đối tượng nghiên cứu
3.1 Ph ạm vi nghiên cứu
Phạm vi không gian: Đề tài được thực hiện trên địa bàn Thành phố Đông Hà
-Tỉnh Quảng Trị
- Phạm vi thời gian: Từ tháng 01/2011 - 04/2011.
3.2 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài được xác định là chất thải rắn đô thị và nhữngtác động của chất thải rắn ở bãi rác đến chất lượng môi trường trên địa bàn Thành phốĐông Hà - Tỉnh Quảng Trị
4 Phương pháp nghiên cứu
4.1 Phương pháp tổng hợp tài liệu
- Thu thập số liệu thứ cấp: Để tiến hành thực hiện đề tài, tôi đã tiến hành thu thập
số liệu từ nhiều nguồn khác nhau: Các báo cáo của Phòng Tài nguyên và Môi trườngThành phố Đông Hà, Công ty TNHH MTV Môi trường Công trình Đô thị Đông Hà,Phòng Quan trắc Môi trường Tỉnh Quảng Trị, Cục Thống kê Tỉnh Quảng Trị Ngoài
ra, đề tài còn sử dụng phương pháp tổng hợp tài liệu trên sách báo, Internet, giáo trình,báo cáo khoa học, luận văn tốt nghiệp và các công trình nghiên cứu khoa học khác
- Những số liệu sau khi thu thập sẽ được tổng hợp, phân tích phù hợp với nộidung nghiên cứu của đề tài
4.2 Phương pháp so sánh
Đại học Kinh tế Huế
Trang 12Sử dụng các bảng biểu, số liệu thu thập được để phân tích, so sánh với các tiêuchuẩn, quy chuẩn môi trường Việt Nam Từ đó rút ra những kết luận về thực trạng chấtlượng môi trường ở Thành phố Đông Hà do tác động của chất thải rắn.
4.3 Phương pháp chuyên gia, chuyên khảo
Trong thời gian thực hiện đề tài, thu thập số liệu và đi thực tập ở Phòng Tàinguyên và Môi trường Thành phố Đông Hà, tôi đã nhận được những ý kiến đóng gópquý báu về chuyên môn Những ý kiến đóng góp của các chuyên gia về môi trường hếtsức có ý nghĩa và giúp cho đề tài được hoàn thiện hơn
Đại học Kinh tế Huế
Trang 13PHẦN II KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
Luật Bảo vệ Môi trường (BVMT) Việt Nam sửa đổi (2006) có định nghĩa:
“Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và vật chất nhân tạo bao quanh conngười, có ảnh hưởng đến đời sống, sản xuất, sự tồn tại phát triển của con người và sinhvật”
“Hoạt động bảo vệ môi trường là hoạt động giữ cho môi trường trong lành, sạchđẹp; phòng ngừa, hạn chế tác động xấu đối với môi trường, ứng phó sự cố môi trường;khắc phục ô nhiễm, suy thoái, phục hồi và cải thiện môi trường; khai thác, sử dụnghợp lý và tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên; bảo vệ đa dạng sinh học”
“Thành phần môi trường là các yếu tố vật chất tạo thành môi trường như: đất,nước, không khí, âm thanh, ánh sáng, sinh vật, hệ sinh thái, và các hình thái vật chấtkhác”
Các yếu tố xã hội - nhân văn chưa được coi là yếu tố môi trường
Bách khoa toàn thư về môi trường (1994) đưa ra một định nghĩa ngắn gọn và đầy
đủ hơn về môi trường :
“Môi trường là tổng thể các thành tố sinh thái tự nhiên, xã hội - nhân văn và cácđiều kiện tác động trực tiếp hay gián tiếp lên phát triển, lên đời sống và hoạt động củacon người trong thời gian bất kỳ”
Có thể phân tích định nghĩa này chi tiết hơn như sau :
- Các thành tố sinh thái tự nhiên gồm: Đất trồng trọt; Lãnh thổ; Nước; Khôngkhí, Động, thực vật; Các hệ sinh thái; Các trường vật lý (nhiệt, điện, từ, phóng xạ)
- Các thành tố xã hội - nhân văn gồm:
Đại học Kinh tế Huế
Trang 14Dân số và động lực dân cư, tiêu dùng, xả thải; Nghèo đói; Giới; Dân tộc, phongtục, tập quán, văn hoá, lối sống, thói quen vệ sinh; Luật, chính sách, hương ước, lệlàng ; Tổ chức cộng đồng, xã hội…
- Các điều kiện tác động (chủ yếu và cơ bản là hoạt động phát triển kinh tế) gồm:Các chương trình và dự án phát triển kinh tế, hoạt động quân sự chiến tranh ; Cáchoạt động kinh tế : nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp, công nghiệp, du lịch, xâydựng, đô thị hoá ; Công nghệ, kỹ thuật, quản lý
Ba nhóm yếu tố trên tạo thành ba phân hệ của hệ thống môi trường, bảo đảmcuộc sống và sự phát triển của con người với tư cách là thành viên của một cộng đồnghoặc một xã hội.[2]
1.1.1.2 Ô nhi ễm môi trường
Ô nhiễm môi trường là sự tích luỹ trong môi trường các yếu tố (vật lý hoá học,sinh học) vượt quá tiêu chuẩn chất lượng môi trường, khiến cho môi trường trở nênđộc hại đối với con người, vật nuôi, cây trồng Ô nhiễm môi trường là yếu tố có thểđịnh lượng được
- Yếu tố hoá học : các chất khí, lỏng và rắn
- Yếu tố sinh học : vi trùng, ký sinh trùng, virut
Tổ hợp các yếu tố trên có thể làm tăng mức độ ô nhiễm lên rất nhiều
Các tác nhân gây ô nhiễm xuất phát từ nguồn ô nhiễm, lan truyền theo cácđường: nước mặt, nước ngầm, không khí, theo các vectơ trung gian truyền bệnh (côntrùng, vật nuôi), người bị nhiễm bệnh, thức ăn (của người hoặc động vật)
Nguồn ô nhiễm gồm hai loại :
- Nguồn điểm (ví dụ bãi rác, cống xả)
- Nguồn điện (ví dụ khu vực nông nghiệp)
Mặc dù chất gây ô nhiễm có thể có từ nguồn gốc tự nhiên, nhưng phần lớn cácnguồn ô nhiễm là từ nguồn nhân tạo, liên quan đến hoạt động sản xuất và hoạt độngsống của con người Gần đây còn xuất hiện khái niệm "ô nhiễm văn hoá", "ô nhiễm xãhội" đo hành vi và lối sống của con người, gây hại cho văn hoá, thuần phong mỹ tục vàtrật tự an toàn xã hội Tuy nhiên, chưa có tiêu chuẩn môi trường nào quy định mức độcác hành vi này
Đại học Kinh tế Huế
Trang 15a Ô nhiễm nước
Ô nhiễm nước là sự thay đổi theo chiều xấu đi các tính chất vật lý hoá học sinh học của nước, với sự xuất hiện các chất lạ ở thể lỏng, rắn làm cho nguồn nước trởnên độc hại với con người và sinh vật Làm giảm độ đa dạng sinh vật trong nước Xét
-về tốc độ lan truyền và quy mô ảnh hưởng thì ô nhiễm nước là vấn đề đáng lo ngại hơn
ô nhiễm đất
Các yếu tố đánh giá độ nhiễm:
Tác nhân gây ô nhiễm: các yếu tố vật lý (pH, độ màu, độ đục, chất rắn tổng số gồm chất rắn lơ lửng và chất rắn hoà tan độ dẫn điện, độ axit, độ kiềm, độ cứng); cácyếu tố hoá học (DO, BOD, COD, NH4+, NO3-, NO2-, P, CO2, SO22-, Cl-, các hợp chấtphenol, hoá chất bảo vệ thực vật, lignin, kim loại năng); các yếu tố sinh học
-b Ô nhiễm không khí
Ô nhiễm môi trường không khí là sự có mặt một chất lạ hoặc một sự biến đổiquan trọng trong thành phần không khí, làm cho không khí không sạch hoặc gây ra sựtỏa mùi, có mùi khó chịu, giảm tầm nhìn xa do bụi
Hiện nay, ô nhiễm khí quyển là vấn đề thời sự nóng bỏng của cả thế giới chứkhông phải riêng của một quốc gia nào Môi trường khí quyển đang có nhiều biến đổi
rõ rệt và có ảnh hưởng xấu đến con người và các sinh vật Hàng năm con người khaithác và sử dụng hàng tỷ tấn than đá, dầu mỏ, khí đốt Đồng thời cũng thải vào môitrường một khối lượng lớn các chất thải khác nhau như: chất thải sinh hoạt, chất thải từcác nhà máy và xí nghiệp làm cho hàm lượng các loại khí độc hại tăng lên nhanhchóng
Các yếu tố đánh giá độ nhiễm:
- SO2 (toát nhiên liệu hoá thạch): gây mưa axit, khói mù axit - smog, giảm chứcnăng hô hấp, viêm phế quản mãn tính thạch cao hoá các công trình xây dựng bằng đá
nước mắt và viêm phế quản
- F (khói nhà máy): gây cháy lá cây biến dạng xương mủn răng
- CFCS (dung môi máy lạnh, bình xịt ): gây hiệu ứng nhà kính và thủng tầngôzôn
Đại học Kinh tế Huế
Trang 16- CO (đốt cháy không hoàn toàn nhiên liệu): nhiễm độc hô hấp.
- CO2 ( núi lửa phun, đốt nhiên liệu): khí nhà kính chủ yếu
- Pb(C2H5)4 ( đốt xăng pha chì): nhiễm độc thần kinh, cao huyết áp, đột quỵ,nhồi máu cơ tim, trẻ chậm lớn
- Amiăng (công nghiệp luyện kim và xây dựng): gây ung thư phổi
- Hoá chất bảo vệ thực vật (vùng trồng trọt): nhiễm độc thần kinh, hại gan, thận,biến đổi di truyền
- Hydrôcacbua thơm đa vòng (đốt xăng dầu, sơn, chất thơm): gây ung thư
- Chất phóng xạ (nổ hạt nhân, điện hạt nhân, bệnh viện, phòng thí nghiệm): gâytổn thương tế bào và cơ chế di truyền
-Vi trùng, vi rút: gây lao, bạch hầu, tụ cầu, cúm
- Tiếng ồn: đo bằng deciben (dB)
Các yếu tố đánh giá độ nhiễm:
- Các tác nhân gây ô nhiễm: phân bón vô cơ, hoá chất bảo vệ thực phẩm, chấtdiệt cỏ, chất phóng xạ, kim loại nặng, nhiều loại vi trùng và ký sinh trùng (trực khuẩn
lỵ, phảy, khuẩn tả, trực khuẩn thương hàn và phó thương hàn, lỵ amip, giun đũa, giun
Đại học Kinh tế Huế
Trang 17xoắn, giun móc, xoắn trùng vàng da, trực trùng than, nấm ăn da, uốn ván các loại vinhbại liệt, viêm màng não, sốt phát ban, viêm cơ tim, viêm não trẻ sơ sinh).
- Nguồn phát xả ô nhiễm chủ yếu là chất thải của người và động vậtphân bón,hoá chất bảo vệ thực phẩm và chất độc dùng trong chiến tranh.[2]
1.1.1.3 Tiêu chu ẩn môi trường
Theo Luật Bảo vệ Môi trường của Việt Nam:
“Tiêu chuẩn môi trường là những chuẩn mức, giới hạn cho phép, được quy địnhdùng làm căn cứ để quản lý môi trường”
Vì vậy, tiêu chuẩn môi trường có quan hệ mật thiết với sự phát triển bền vữngcủa mỗi quốc gia Hệ thống tiêu chuẩn môi trường là một công trình khoa học liênngành, nó phản ánh trình độ khoa học, công nghệ, tổ chức quản lý và tiềm lực kinh tế -
xã hội có tính đến dự báo phát triển Cơ cấu của hệ thống tiêu chuẩn môi trường baogồm các nhóm chính sau:
Những quy định chung
- Tiêu chuẩn nước, bao gồm nước mặt nội địa, nước ngầm, nước biển và venbiển, nước thải
- Tiêu chuẩn không khí, bao gồm khói bụi, khí thải (các chất thải)
- Tiêu chuẩn liên quan đến bảo vệ đất canh tác, sử dụng phân bón trong sản xuấtnông nghiệp
- Tiêu chuẩn về bảo vệ thực vật, sử dụng thuốc trừ sâu, diệt cỏ
- Tiêu chuẩn liên quan đến bảo vệ các nguồn gen, động thực vật, đa dạng sinhhọc
- Tiêu chuẩn liên quan đến bảo vệ cảnh quan thiên nhiên, các di tích lịch sử, vănhoá
- Tiêu chuẩn liên quan đến môi trường do các hoạt động khai thác khoáng sảntrong lòng đất, ngoài biển [12]
1.1.1.4 Qu ản lý môi trường
Quản lý chất lượng môi trường là sự tác động liên tục, có tổ chức, có phươnghướng và mục đích xác định của một chủ thể (con người, địa phương, quốc gia, tổchức quốc tế ) đối với một đối tượng nhất định (môi trường sống) nhằm khôi phục,
Đại học Kinh tế Huế
Trang 18duy trì và cải thiện tốt hơn môi trường sống của con người trong những khoảng thờigian dự định.
Bản chất của việc quản lý môi trường là hạn chế hành vi vô ý thức hoặc có ý thứccủa con người trong quá trình sống, sản xuất - kinh doanh gây tác động đến môitrường chủ yếu (các hành vi có tác động xấu đến môi trường) để tạo ra được môitrường ổn định, luôn ở trạng thái cân bằng
Các hành vi vô ý thức là các hoạt động do không nhận thức và không nắm bắtđược các quy luật của tự nhiên, xã hội và của bộ phận dị dưỡng trong hệ sinh thái (cácsinh vật lớn tiêu thụ - các sinh vật ăn sinh vật, mà chủ yếu là con người) gây ra Chínhcác hành vi vô ý thức này đã phá vỡ trạng thái nội cân bằng của môi trường hoặc đẩy
xa môi trường ra ngoài trạng thái nội cân bằng đó
Các hành vi có ý thức là các hoạt động có chủ đích của con người vì lợi ích cánhân, cục bộ, nhất thời gây ra làm đảo lộn trạng thái nội cân bằng của hệ môi trường(nguồn nước, nguồn ánh sáng, đất đai, thảm thực vật, chỉ số đa dạng của các loài, chỉ
số âm thanh, khí hậu…)
Quản lý môi trường có các đặc thù sau :
- Quản lý môi trường là hoạt động mang tính trách nhiệm có ý thức của conngười;
- Các hoạt động quản lý môi trường mang tính liên tục theo thời gian và theokhông gian;
- Các hoạt động quản lý môi trường là trách nhiệm của mọi người theo mối quan
hệ ràng buộc lẫn nhau (có tổ chức);
- Các hoạt động quản lý môi trường phải nhằm đạt được những mục đích cơ bản
là bảo vệ môi trường và phát triển bền vững;
- Hoạt động quản lý môi trường còn là công việc đòi hỏi phải có sự nỗ lực chungcủa mọi quốc gia trên toàn thế giới.[13]
1.1.2 Các khái niệm về chất thải rắn đô thị
Trang 19duy trì sự tồn tại của cộng đồng ) Trong đó quan trọng nhất là các loại chất thải sinh
ra từ các hoạt động sản xuất và hoạt động sống
Theo bản chất nguồn tạo thành, chất thải rắn được phân thành các loại:
Chất thải rắn sinh hoạt: là những chất thải liên quan đến hoạt động sống của conngười, nguồn tạo thành chủ yếu từ các khu dân cư, các cơ quan, trường học, các trungtâm dịch vụ, thương mại
Chất thải rắn công nghiệp: là chất thải phát sinh từ các hoạt động sản xuất côngnghiệp, tiểu thủ công nghiệp Các chất nguy hại do cac cơ sở công nghiệp hóa chất thải
ra có tính độc hại cao, tác động xấu đến sức khỏe, do đó việc xử lý chúng phải cónhững giải pháp kỹ thuật để hạn chế tác động độc hại đó
Chất thải xây dựng: là các phể thải như đất, đá, gạch ngói, bê tông vỡ do các hoạtđộng phá dỡ, xây dựng công trình
Chất thải y tế: là chất thải có chứa các chất hoặc hợp chất có một trong các đặctính gây nguy hại trực tiếp hoặc tương tác với các chất khác gây nguy hại tới môitrường và sức khỏe của cộng đồng Theo quy chế quản lý chất thải y tế, các loại chấtthải y tế nguy hại được phát sinh từ các hoạt chuyên môn trong các bệnh viện, trạm xá
và trạm y tế
Chất thải rắn (chủ yếu là chất thải rắn đô thị hay rác thải đô thị) là yếu tố làm nảysinh hàng loạt các vấn đề về môi trường sinh thái, chúng đang có nguy cơ đe doạ môitrường sống ở các đô thị Chất thải rắn đô thị không những là vấn đề nhức nhối đối vớicác nhà lãnh đạo, quản lý, quy hoạch mà còn là sự lo lắng của các cư dân ở các đô thị
Vì vậy quan tâm nghiên cứu và tìm hiểu về chất thải rắn, vấn đề về môi trường
do chất thải rắn gây ra là công việc hết sức cần thiết nhằm bảo vệ môi trường và tái sửdụng chúng vào mục đích có lợi cho xã hội và nền kinh tế.[3]
1.1.2.2 Khái ni ệm về Quản lý chất thải rắn
Theo Nghị định 59/2007/NĐ - CP định nghĩa về quản lý chất thải rắn như sau:Hoạt động quản lý chất thải rắn bao gồm các hoạt động quy hoạch quản lý, đầu
tư xây dựng cơ sở quản lý chất thải rắn, các hoạt động phân loại, thu gom, lưu giữ, vậnchuyển, tái sử dụng, tái chế và xử lý chất thải rắn nhằm ngăn ngừa, giảm thiểu nhữngtác động có hại đối với môi trường và sức khoẻ con người
Đại học Kinh tế Huế
Trang 20Hệ thống quản lý chất thải rắn đô thị là một cơ cấu tổ chức quản lý chuyên trách
về CTR đô thị có vai trò kiểm soát các vấn đề có liên quan đến CTR liên quan đến vấn
1.1.3 Các vấn đề về chất thải rắn đô thị
1.1.3.1 Nguồn phát sinh chất thải rắn đô thị
Hiện nay, chất thải rắn đô thị đang ngày càng gia tăng do tác động của sự bùng
nổ dân số, phát triển kinh tế - xã hội, sự thay đổi tính chất tiêu dùng trong các đô thị vàvùng nông thôn Trong đó, các nguồn chủ yếu phát sinh ra chất thải rắn đô thị baogồm:Từ các khu dân cư (chất thải sinh hoạt); Từ các trung tâm thương mại; Từ cáccông sở, trường học, công trình công cộng, dịch vụ đô thị, sân bay; Từ các hoạt độngcông nghiệp, hoạt động xây dựng đô thị; Từ các trạm xử lý chất thải…[4]
Bảng 1: Nguồn phát sinh chất thải rắn đô thị
Nguồn Các hoạt động và khu vực liên
quan đến việc sản sinh ra rác
Thức ăn thừa, rác, tro,chất thải rắn do quátrình phá vỡ, xây dựng
và các loại khác
phần trênKhu
công cộng
Đường phố, khu vui chơi, bãibiển, công viên,
Chất thải rắn và cácloại khác
(Nguồn: Giáo trình quản lý chất thải rắn đô thị, GS.TS.Trần Hiếu Nhuệ, năm 2001)
1.1.3.2 Lượng chất thải rắn đô thị phát sinh
Lượng chất thải tạo thành hay còn gọi là tiêu chuẩn tạo rác được định nghĩa làlượng rác thải phát sinh từ hoạt động của một người trong một ngày đêm(kg/người/ngày.đêm) Tiêu chuẩn tạo rác trung bình theo đầu người đối với từng loạichất thải rắn mang tính đặc thù của từng địa phương và phụ thuộc vào mức sống, vănminh của dân cư ở mỗi khu vực.[4]
Đại học Kinh tế Huế
Trang 21Bảng 2: Tiêu chuẩn tạo rác trung bình theo đầu người đối với từng loại chất
thải rắn đô thị
Nguồn Tiêu chuẩn (kg/người.ngđ)
Khoảng giá trị Trung bình
Sinh hoạt đô thị 1 - 3 1,59
Công nghiệp 0,5 - 1,6 0,86
Vật liệu phế thải bị tháo dỡ 0,05 - 0,4 0,27
Nguồn thải sinh hoạt khác 0,05 - 0,3 0,18
(Nguồn: Giáo trình quản lý chất thải rắn đô thị, GS.TS.Trần Hiếu Nhuệ, năm 2001)
Các yếu tố ảnh hưởng đến tốc độ phát sinh và lượng rác thải.[5]
- Điều kiện địa lý - khí hậu
- Tập quán sinh hoạt của dân tộc, tôn giáo
- Nhận thức về môi trường và thái độ của cộng đồng
- Mức độ phát triển kinh tế, trình độ sản xuất, tái chế, dịch vụ
- Luật pháp, chính sách về quản lý rác
1.1.3.3 Tính ch ất vật lý, hoá học, sinh học của chất thải rắn đô thị
a Tính chất vật lý
Khối lượng riêng
Khối lượng riêng được định nghĩa là khối lượng riêng trên một đơn vị thể tích,tính bằng kg/m3 Khối lượng riêng của chất thải rắn đô thị sẽ rất khác nhau tuỳ theophương pháp lưu trữ: (1) để tự nhiên không chứa trong thùng, (2) chứa trong thùng vàkhông nén, (3) chứa trong thùng và nén
Khối lượng riêng của chất thải rắn đô thị sẽ khác nhau tuỳ theo vị trí địa lý, mùatrong năm, thời gian lưu trữ khối lượng riêng của chất thải rắn đô thị lấy từ các xe ép
Trang 22lĩnh vực quản lý chất thải rắn, phương pháp khối lượng ướt thông dụng hơn Theo cáchnày, độ ẩm của chất thải rắn có thể biểu diễn dưới dạng phương pháp sau:
- M: độ ẩm (%)
- w: khối lượng ban đầu của mẫu chất thải rắn (kg)
- d: khối lượng của mẫu chất thải rắn sau khi đã sấy khô đến khối lượng không
8
1
+ 41.S ]Trong đó:
- C : Lượng cacbon tính theo %
- H : Hydro tính theo %
- O : Oxi tính theo %
Đại học Kinh tế Huế
Trang 23- S : Sunfua tính theo %
Bảng 3 Thành phần hóa học các hợp phần cháy được của chất thải rắn
Hợp phần % Trọng lượng theo trạng thái khô
Khả năng phân huỷ sinh học của các thành phần chất hữu cơ
Hàm lượng chất rắn bay hơi (VS), xác định bằng cách nung ở nhiệt độ 5500C,thường được sữ dụng để đánh giá khả năng phân huỷ sinh học của chất hữu cơ trongchất thải rắn sinh hoạt Tuy nhiên, việc sử dụng chỉ tiêu VS để biểu diễn khả năngphân huỷ sinh học của phần chất hữu cơ có trong chất thải rắn sinh hoạt là khôngchính xác vì một số thành phần chất hữu cơ rất dễ bay hơi nhưng rất khó bị phân huỷsinh học (ví dụ: giấy in báo và nhiều loại cây kiểng)
Bảng 4: Thành phần có khả năng phân huỷ sinh học của một số chất hữu cơ tính
theo hàm lượng lignin
Đại học Kinh tế Huế
Trang 24vói hydro tạo thành H2S.
- Giai đoạn đầu của ấu trùng: 20 giờ
- Giai đoạn thứ hai của ấu trùng: 24 giờ
- Giai đoạn thứ ba của ấu trùng: 3 ngày
- Giai đoạn nhộng: 4 - 5 ngày
Tổng cộng: 9 - 11 ngày
1.1.3.4 Quá trình thu gom - V ận chuyển chất thải rắn
Thu gom chất thải là quá trình thu nhặt rác thải từ các nhà dân, các công sở hay
từ những điểm thu gom, chất chúng lên xe và chở đến địa điểm xử lý, chuyển tiếp,trung chuyển hay chôn lấp
Dịch vụ thu gom rác thải có thể chia ra thành hai loại: sơ cấp và thứ cấp
- Thu gom sơ cấp (thu gom ban đầu) là thu gom rác thải từ nguồn phát sinh ra nó
và chở đến bãi chứa chung, các địa điểm hoặc bãi chuyển tiếp
Đại học Kinh tế Huế
Trang 25- Thu gom thứ cấp (thu gom ban đầu) là thu gom các loại chất thải rắn từ cácđiểm thu gom chung (điểm cẩu rác) trước khi vận chuyển chúng theo từng thành phầnhoặc cả tuyến thu gom đến một trạm trung chuyển, một cơ sở xử lý hay bãi chôn lấpbằng các loại phương tiện chuyên dụng có động cơ.
Quá trình vận chuyển bao gồm bốc xếp chất thải rắn từ thùng lên xe rồi chuyểnchở chất thải rắn từ các vị trí đặt các thùng chứa tới điểm tập trung (trạm trung chuyển,trạm xử lý hoặc bãi chôn lấp) Thời gian thao tác tại bãi thải bao gồm thời gian bốc dỡ
và thời gian chờ đợi Ngoài ra quá trình vận chuyển còn tính đến thời gian hoạt độngngoài hành trình (thời gian tính toán đển kiểm tra phương tiện, thời gian đi từ cơ quantới vị trí bốc xếp đầu tiên, thời gian khắc phục do ngoại cảnh gây ra, thời gian bảodưỡng, sửa chữa thiết bị…)
1.1.4 Mô hình quản lý chất thải rắn đô thị hiện nay
Do tính chất quan trọng của chất thải rắn nên cần phải có một số biện pháp khốngchế ô nhiễm Một trong những mục tiêu quan trọng để quản lý chất thải rắn là giảmđược nguồn sinh ra chất thải rắn bằng cách hoàn lưu tái sử dụng, thu gom, vận chuyển,chế biến và chôn lấp hợp vệ sinh Nói cách khác là nhằm đưa ra mức độ thích hợp vàthỏa mãn được việc bảo vệ tài nguyên
Vào những năm đầu thế kỷ, lượng chất thải Thành phố tạo ra còn nhiều hạn chế
do dân số còn rất ít, các chất hữu cơ được đưa vào đất như phân bón và thương mạihiện đang còn vắng bóng Thực tế này vẫn còn đúng đối với một số vùng, đặc biệt ởvùng nông thôn các nước đang phát triển, nhưng trong bức tranh chung sự thay đổiđang diễn ra rất nhanh Thực vậy, tiêu chuẩn của cuộc sống tiến bộ chứng minh điều
đó Các sản phẩm cũ kỹ bị thu hẹp lại và thái độ của người tiêu dùng về chất thải cũngphát triển Ở hầu hết các nước, sự đô thị hóa diễn ra rất nhanh, kết quả hiển nhiên làtăng đáng kể chất thải đô thị
Theo mức độ đô thị hóa, lượng chất thải tăng lên theo đầu người ở một số nước:
Trang 26- Thụy Điển 0,8 kg/người/ngày
- Trung Quốc 0,5 kg/người/ngày
- Việt Nam dao động từ 0,35 - 1,2 kg/người/ngày
Quản lý chất thải đô thị là điều quan trọng đầu tiên và có khả năng xem xét mức
độ quan trọng của nó Tuy thế, việc giải quyết vẫn còn chung chung tùy thuộc vào cácnhà chức trách địa phương.[6]
Các bi ện pháp khống chế ô nhiễm đối với chất thải rắn đô thị
a Hoàn lưu, tái sử dụng
Phân loại rác trong gia đình và tái sử dụng là việc làm lớn nhất để giảm chất thải
và bảo vệ tài nguyên
Kinh nghiệm một số nước cho thấy có đến 90% chai và trên 90% can được đưavào sử dụng lại trung bình từ 15 - 20 lần Để thực hiện được cần phải có vị trí để tậptrung thuận tiện cho người dân, hiện nay phương pháp thường dùng hơn cả là hệ thốngthu gom Ở những địa điểm trung tâm, người ta đặt các thùng chứa thích hợp, có thểđược thiết kế để thu nhận “sản phẩm mong muốn”, chẳng hạn màu trắng để thu gomthủy tinh thu gom tập trung là biện pháp thích hợp để phục vụ cộng đồng nói chung
và việc hoàn lưu - tái sử dụng cũng đạt kết quả cao hơn Hơn nữa, thu gom tập trung làbiện pháp rất đơn giản: các chất thải thu gom được đem tới nơi chứa tạm thời hoặctrực tiếp đến khu chế biến
Hoàn lưu - tái sử dụng về mặt kinh tế không có lợi nhưng chính quyền phảikhuyến khích quần chúng phải quan tâm và ủng hộ việc này Môi trường chỉ có ýnghĩa thật sự khi giảm được lượng chất thải, bảo vệ tài nguyên, giảm tiêu hao nănglượng, giảm sử dụng nước
b Thu gom
Ở đô thị, chất thải thường đặt ngay ở vỉa hè hoặc sau khu xây dựng, đựng trongcác túi nylon, thùng rác, hoặc được mang tới nơi công cộng riêng biệt và đặt vào cácthùng rác kín hơn Đối với khu vực có số dân cư khoảng 500 người có một chỗ thugom là tốt nhất
Sự hợp lý hóa hệ thống thu gom chất thải là điều quan trọng, có thể thu gom đến
80 - 85% chất thải rắn vào nơi thu gom thống nhất Nghiên cứu quản lý chất thải rắn
Đại học Kinh tế Huế
Trang 27không nên cho rằng chất thải được thu gom chờ vứt bỏ Trong việc hợp lý hóa hệthống thu gom, cần xác định mức độ phục vụ đã đề ra như thu gom thường xuyên,phân tích kho chứa tạm thời và phương pháp thu gom đã sử dụng cũng như tính phùhợp của tuyến đường thu gom.
c Vận chuyển
Khi trung tâm đô thị phát triển và khả năng chôn lấp chất thải ngày càng cạn kiệt,cần phải đẩy mạnh việc chuyên chở chất thải và tất nhiên tại điểm nào đó mà sựchuyên chở phải dùng đến các loại phương tiện chuyên chở lớn Để thuận tiện thựchiện các công việc trên, tăng số lượng trạm trung chuyển Chất rắn chở đi có thể cóhoặc không được ép, điều này cũng cần tính toán đến trong quá trình xây dựng trạmchung chuyển, sức chứa của bãi chứa và khả năng vận chuyển
d Chế biến
Chất thải đô thị có thể chế biến trước khi đem vứt bỏ Mục tiêu của chế biến chấtthải nhằm giảm lượng thải, lấy lại những chất còn có khả năng sử dụng và thu nănglượng
Do giá trị của nguồn không đáng kể, về mặt kinh tế, lợi nhuận về chế biến chấtthải rất ít Chôn lấp trực tiếp vẫn là biện pháp kinh tế nhất, song các yêu cầu về khuchôn lấp gần trung tâm bị cạn kiệt, phải vận chuyển đến khu vực xa hơn, kết quả làmtăng giá vận chuyển Chỉ tới lúc đó khả năng hướng tới việc lấy lại các chất có thể sửdụng mới có sứ hấp dẫn kinh tế hơn Các bước của quá trình chế biến chất thải:
- Phân loại: có thể phân loại thu công hay cơ khí
- Gắn liền với quy hoạch vùng
- Gần đô thị phục vụ
- Đường giao thông
- Vùng thủy lợi
- Điều kiện khí hậu
Tại vùng chôn lấp, xảy ra quá trình phân hủy kỵ khí chất hữu tạo biogas, có thểdùng làm nguyên liệu trong công nghiệp
Đại học Kinh tế Huế
Trang 281.1.5 Một số văn bản pháp luật liên quan tới quản lý CTR đô thị ở Việt Nam
- Luật Bảo vệ môi trường (BVMT) do Chủ tịch nước ký sắc lệnh ban hành số L/CTN ngày 10/ 01/1994;
29 Nghị định số 175 về Hướng dẫn thi hành Luật Bảo vệ môi trường ban hànhngày18/10 /1994;
- Luật Hàng hải Việt Nam ban hành ngày 30/6/1990;
- Luật Bảo vệ sức khỏe cộng đồng ban hành năm 1991;
- Luật Dầu mỏ, ban hành tháng 7/1993;
- Luật Đất đai, ban hành tháng 7/1993;
- Luật Khoáng sản, ban hành ngày 20/3/1996;
- Luật Thương mại, ban hành ngày 10/5/1996;
- Quy chế quản lý chất thải nguy hại, ban hành ngày 16/7/1999;
- Tiêu chuẩn Việt Nam về phân loại những hợp chất độc hại và yêu cầu an toàn,TCVN 3164 - 1979, ban hành ngày 01/01/1981;
- Tiêu chuẩn Việt Nam về hóa chất nguy hiểm, Quy phạm an toàn trong sản xuất,
sử dụng, bảo quản và vận chuyển, TCVN 5507 - 1991, ban hành năm 1991;
- Chiến lược Quản lý chất thải rắn đô thị và Quyết định số 152/1999/QĐ-TTgngày 10/7/1999 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt chiến lược quản lý chấtthải rắn tại các đô thị và khu công nghiệp Việt Nam đến năm 2000;
- Quy chế quản lý chất thải y tế - Bộ Y tế - Hà Nội 1999
- Tiêu chuẩn cho phép của khí thải lò đốt chất thải y tế TCVN 6560 - 1999;
- Chất thải rắn - bãi chôn lấp hợp vệ sinh - Yêu cầu chung về bảo vệ môi trườngTCVN 6696 - 2000;
- Văn bản hướng dẫn thực hiện bảo vệ môi trường trong quản lý và phát triển đôthị, nông thôn và đầu tư xây dựng năm 2000
1.1.6 Tác động của chất thải rắn đến môi trường
Hiện nay, tổng lượng chất thải rắn ở các đô thị ngày càng tăng, nhưng khả năngthu gom chỉ đạt được 45% - 50% Mặt khác, chất thải rắn được thu gom chủ yếu đổvào các bãi rác một cách tạm bợ, đại khái mà không được xử lý, chôn lấp theo quy
Đại học Kinh tế Huế
Trang 29hoạch và hợp vệ sinh gây ảnh hưởng xấu tới môi trường không khí, đất, nguồn nướcmặt và nước ngầm.[6]
1.1.6.1 Ảnh hưởng của chất thải rắn đến môi trường nước
Chất thải rắn đặc biệt là chất hữu cơ trong môi trường nước sẽ bị phân hủy nhanhchóng Tại các bãi rác, nước trong bãi rác sẽ tách ra kết hợp với các nguồn nước khácnhư: nước mưa, nước ngầm, nước mặt, hình thành nước rò rỉ Nước rò rỉ di chuyểntrong bãi rác sẽ làm tăng khả năng phân hủy sinh học trong rác cũng như trong quátrình vận chuyển các chất gây ô nhiễm ra môi trường xung quanh
Các chất ô nhiễm trong nước rò rỉ gồm các chất được hình thành trong quá trìnhphân hủy sinh học, hóa học, Nhìn chung mức độ ô nhiễm trong nước rò rỉ rất cao(COD: từ 3000 - 45000 mg/l; N-NH3: từ 10 - 800 mg/l; BOD5: từ 2000 - 30000 mg/l;TOC (cacbon hữu cơ tổng hợp): từ 1500 - 20000 mg/l; phospho tổng cộng: từ 1 - 70mg/l…và lượng lớn các vi sinh vật)
Đối với bãi rác thông thường (lớp bãi rác không lớp chống thắm, sụt lún, hoặclớp chống thấm bị thấm…) Các chất ô nhiễm sẽ thấm sâu vào nước ngầm gây ô nhiễmcho tầng nước ngầm và sẽ rất nguy hiểm cho con người khi sử dụng tầng nước nàyphục vụ cho ăn uống, sinh hoạt Ngoài ra chúng còn rỉ ra bên ngoài bãi rác gây ônhiễm nguồn nước mặt
Nếu rác thải có chứa kim loại nặng, nồng độ kim loại nặng lên men acid sẽ caohơn so với giai đoạn lên men metan Các hợp chất hydroxyt vòng thơm, acid humic vàacid fulvic có thể tạo phúc với Feralit, Pb, Cu, Cd, Mn, Zn… Hoạt động của các vikhuẩn kị khí khử sắt có hóa trị 3 thành Feralit có hóa trị 2 sẽ kéo theo sự hòa tan cáckim loại như: Ni, Cd, Pb, Zn Vì vậy khi kiểm soát chất lượng nước ngầm trong khuvực bãi rác phải kiểm tra xác định nồng độ kim loại nặng trong thành phần nước ngầm.Ngoài ra, nước rò rỉ có thể chứa các hợp chất hữu cơ độc hại: chất hữu cơ bịHalogen hóa, các hyrocacbon đa vòng thơm, chúng có thể gây đột biến gen, gây ungthư Các chất này nếu thấm vào tầng nước ngầm hoặc nước mặt sẽ xâm nhập vàochuỗi thức ăn gây hậu quả vô cùng nghiêm trọng cho sức khỏe tính mạng của conngười ở hiện tại và cả thế hệ con cháu mai sau
Đại học Kinh tế Huế
Trang 301.1.6.2 Ảnh hưởng của chất thải rắn đến môi trường đất
Các chất thải hữu cơ sẽ được vi sinh vật phân hủy trong môi trường đất ở haiđiều kiện hiếu khí và kị khí, khi có độ ẩm thích hợp sẽ tạo ra các hàng loạt sản phẩmtrung gian, cuối cùng hình thành các chất khoáng đơn giản H2O, CO2, CH4…
Với một lượng rác và nước rỉ rác vừa phải thì khả năng tự làm sạch của môitrường đất sẽ phân hủy các chất này trở thành những chất ít ô nhiễm hoặc không ônhiễm Nhưng với lượng rác quá lớn vượt quá khả năng tự làm sạch của đất thì môitrường đất sẽ trở nên quá tải và bị ô nhiễm Các chất ô nhiễm này cùng với kim loạinặng, các chất độc hại cùng với vi trùng theo nước trong đất chảy xuống nguồn nướcngầm làm ô nhiễm nguồn nước này
Đối với rác không phân hủy (nhựa, cao su…) nếu không có giải pháp thích hợp
sẽ là nguy cơ gây thoái hóa và giảm độ phì nhiêu của đất
1.1.6.3 Ảnh hưởng của chất thải rắn đến môi trường không khí
Các chất thải rắn thường có một phần có thể bay hơi và mang theo mùi làm ônhiễm không khí Cũng có thể có những chất thải có khả năng phát tán vào không khígây ô nhiễm không khí trực tiếp, cũng có loại rác dễ phân hủy (thực phẩm, trái cây hưhỏng…) trong điều kiện nhiệt độ và độ ẩm thích hợp (nhiệt độ tốt nhất là 350C và độ
ẩm thích hợp là 70 - 80%) sẽ được các vi sinh vật phân hủy tạo mùi hôi, nhiều loại khí
ô nhiễm có tác động xấu đến môi trường đô thị, sức khỏe và khả năng hoạt động của
1.1.7 Các chỉ tiêu đánh giá tác động của chất thải rắn đến môi trường
1 Chất lượng môi trường
không khí
- Tìm hiểu về các thành phần của không khí: Nhiệt
- Lấy kết quả phân tích nồng độ các khí: CO, SO2,
H2S, NH3trong môi trường từ Phòng quan trắc môitrường
- So sánh nồng độ các chất trong không khí vớitiêu chuẩn môi trường TCVN 5937 - 2005
Đại học Kinh tế Huế
Trang 312 Chất lượng môi trường
nước
- Tìm hiểu về thành phần các chất: pH, DO, Độ
TSS, Cu, Zn
- Lấy kết quả phân tích nồng độ các chất: pH, DO,
TSS, Cu, Zn từ Phòng quan trắc môi trường
- So sánh nồng độ các chất trong nước với quychuẩn môi trường QCVN 08 - 2008/BTNMT
3 Chất lượng môi trường
đất
- Tìm hiểu về thành phần các chất: Cu, Zn, Pb,
Cd, As
- Lấy kết quả phân tích nồng độ các chất: Cu, Zn,
Pb, Cd, As từ Phòng quan trắc môi trường
- So sánh nồng độ các chất trong nước với tiêuchuẩn môi trường TCVN 7209 - 2002
- Quan sát hệ sinh thái trên cạn và dưới nước tạikhu vực nghiên cứu
- Dựa trên những kết quả phân tích của Phòngquan trắc môi trường để đánh giá các tác động củachất thải rắn đến môi trường sinh thái
1.2 CƠ SỞ THỰC TIỄN
1.2.1 Tình hình quản lý chất thải rắn đô thị ở Việt Nam
1.2.1.1 Tình hình phát sinh ch ất thải rắn ở Việt Nam
Theo số liệu điều tra năm 2007 của Tổng cục Môi trường (Cục Bảo vệ Môitrường trước đây) chất thải rắn trong cả nước phát sinh khoảng 17 triệu tấn, trong đórác thải tại đô thị khoảng 6,5 triệu tấn (năm 2008 là 7,8 triệu tấn theo báo cáo của BộXây dựng)
Ngoại trừ một số ít địa phương như Hà Nội, Huế, TP.Hồ Chí Minh, Đà Nẵngđang thí điểm phân loại rác thải sinh hoạt tại nguồn theo dự án 3R, còn lại hầu hết rác
Đại học Kinh tế Huế
Trang 32thải sinh hoạt vẫn là một mớ tổng hợp các chất hữu cơ từ các gia đình cho tới nơi xửlý.
Điều đáng lo ngại là tới thời điểm này, việc xử lý chất thải rắn vẫn chưa đi theohướng tái chế như mong muốn Khoảng 70% chất thải sinh hoạt đô thị được thu gom
và khoảng 80% số chất thải này vẫn được xử lý theo cách chôn lấp Còn rác thải nôngthôn thì hầu như được đổ bừa bãi ra ven làng, ao hồ, bãi sông, bãi tạm hoặc tự đốt HộiXây dựng Việt Nam cảnh báo, trong số 91 bãi rác lớn trên cả nước chỉ có 17 bãi hợp
vệ sinh, chiếm khoảng 15%
Lượng chất thải rắn tại các đô thị ở nước ta đang có xu thế phát sinh ngày càngtăng, tính trung bình mỗi năm tăng khoảng 10% Tỷ lệ tăng cao tập trung ở các đô thịđang có xu hướng mở rộng, phát triển mạnh cả về quy mô lẫn dân số và các khu côngnghiệp, như các đô thị tỉnh Phú Thọ (19,9%), Thành phố Phủ Lý (17,3%), Hưng Yên(12,3%), Rạch Giá (12,7%), Cao Lãnh (12,5%) Các đô thị khu vực Tây Nguyên có tỷ
lệ phát sinh chất thải rắn tăng đồng đều hàng năm và với tỷ lệ tăng ít hơn (5,0%).Tổng lượng phát sinh chất thải rắn tại các đô thị loại III trở lên và một số đô thịloại IV là các trung tâm văn hóa, xã hội, kinh tế của các tỉnh thành trên cả nước lênđến 6,5 triệu tấn/năm, trong đó chất thải rắn phát sinh từ các hộ gia đình, nhà hàng, cácchợ và kinh doanh là chủ yếu Lượng còn lại từ các công sở, đường phố, các cơ sở y
tế Chất thải nguy hại công nghiệp và các nguồn chất thải y tế nguy hại ở các đô thị tuychiếm tỷ lệ ít nhưng chưa được xử lý triệt để vẫn còn tình trạng chôn lấp lẫn với chấtthải rắn đô thị
Kết quả điều tra tổng thể năm 2006 - 2007 cho thấy, lượng chất thải rắn đô thịphát sinh chủ yếu tập trung ở 2 đô thị đặc biệt là Hà Nội và TP Hồ Chí Minh Tuy chỉ
có 2 đô thị nhưng tổng lượng chất thải rắn phát sinh tới 8.000 tấn/ngày (2.920.000tấn/năm) chiếm 45,24% tổng lượng chất thải rắn phát sinh từ tất cả các đô thị
Tính theo vùng địa lý (hay vùng phát triển kinh tế - xã hội) thì các đô thị vùngĐông Nam bộ có lượng chất thải rắn lớn nhất tới 2.450.245 tấn/năm (chiếm 37,94%tổng lượng phát sinh chất thải rắn các đô thị loại III trở lên của cả nước), tiếp đến làcác đô thị vùng Đồng bằng sông Hồng có lượng phát sinh chất thải rắn đô thị là1.622.060 tấn/năm (chiếm 25,12%) Các đô thị khu vực miền núi Tây Bắc bộ có lượng
Đại học Kinh tế Huế
Trang 33phát sinh chất thải rắn đô thị thấp nhất chỉ có 69.350 tấn/năm (chiếm 1,07%), tiếp đến
là các đô thị thuộc các tỉnh vùng Tây Nguyên, tổng lượng phát sinh chất thải rắn đô thị
là 237.350 tấn/năm (chiếm 3,68%) Đô thị có lượng chất thải rắn phát sinh lớn nhất làTP.Hồ Chí Minh (5.500 tấn/ngày), Hà Nội (2.500 tấn/ngày); đô thị có lượng chất thảirắn phát sinh ít nhất là Bắc Kạn - 12,3 tấn/ngày; Thị xã Gia Nghĩa 12,6 tấn/ngày, CaoBằng 20 tấn/ngày; TP Đồng Hới 32,0 tấn/ngày; Thành phố Yên Bái 33,4 tấn/ngày vàthị xã Hà Giang 37,1 tấn/ngày
Tỷ lệ phát sinh chất thải rắn đô thị bình quân trên đầu người tại các đô thị đặcbiệt và đô thị loại I tương đối cao (0,84 - 0,96 kg/người/ngày); đô thị loại II và loại III
có tỷ lệ phát sinh chất thải rắn đô thị bình quân trên đầu người là tương đương nhau(0,72 - 0,73 kg/người/ngày); đô thị loại IV có tỷ lệ phát sinh chất thải rắn đô thị bìnhquân trên một đầu người đạt khoảng 0,65 kg/người/ngày
Tỷ lệ phát sinh chất thải rắn tính bình quân lớn nhất tập trung ở các đô thị pháttriển du lịch như Thành phố Hạ Long 1,38 kg/người/ngày; Thành phố Hội An 1,08kg/người/ngày; Thành phố Đà Lạt 1,06 kg/người/ngày; Thành phố Ninh Bình 1,30kg/người/ngày Các đô thị có tỷ lệ phát sinh chất thải rắn tính bình quân đầu ngườithấp nhất là Thành phố Đồng Hới (Tỉnh Quảng Bình) chỉ 0,31 kg/người/ngày; Thị xãGia Nghĩa 0,35 kg/người/ngày; Thị xã Kon Tum 0,35 kg/người/ngày; Thị xã Cao Bằng0,38 kg/người/ngày Trong khi đó tỷ lệ phát sinh bình quân đầu người tính trung bìnhcho các đô thị trên phạm vi cả nước là 0,73 kg/người/ngày
Theo số liệu của Bộ Xây dựng, tính đến năm 2009 tổng lượng chất thải rắn đô thịphát sinh trên toàn quốc ước tính khoảng 21.500 tấn/ngày Dự báo của Bộ Xây dựng
và Bộ Tài nguyên môi trường cho biết, đến năm 2015, khối lượng chất thải rắn phátsinh từ các đô thị ước tính khoảng 37 nghìn tấn/ngày và năm 2020 là 59 nghìntấn/ngày cao gấp 2 - 3 lần hiện nay Như vậy, với lượng chất thải rắn đô thị gia tăngnhanh chóng và các công nghệ hiện đang sử dụng không thể đáp ứng yêu cầu do điềukiện Việt Nam mật độ dân số cao, quỹ đất hạn chế, việc xác định địa điểm bãi chôn lấpkhó khăn, không đảm bảo môi trường và không tận dụng được nguồn tài nguyên từ rácthải Việc áp dụng các công nghệ mới hạn chế chôn lấp chất thải rắn nhằm tiết kiệmquỹ đất, đảm bảo môi trường và tận dụng nguồn tài nguyên từ rác thải là cấp bách
Đại học Kinh tế Huế
Trang 34Tỷ lệ phần trăm các chất có trong rác thải không ổn định, rất biến động theo mỗiđịa điểm thu gom rác, phụ thuộc vào mức sống và phong cách tiêu dùng của nhân dân
ở mỗi địa phương Tính trung bình, tỷ lệ thành phần các chất hữu cơ chiếm 45% - 60%tổng lượng chất thải, tỷ lệ thành phần nilon, chất dẻo chiếm từ 6 - 16%, độ ẩm trungbình của rác thải từ 46% - 52%
Theo Chi cục Bảo vệ môi trường Hà Nội, tổng lượng chất thải rắn của Thành phố
Hà Nội hiện nay ước khoảng 5.000 tấn/ngày, trong đó có khoảng 3.500 tấn là chất thảisinh hoạt đô thị và khoảng 1.500 tấn chất thải sinh hoạt nông thôn
Tại các vùng ngoại thành Hà Nội, lâu nay xuất hiện tình trạng rác thải sinh hoạt
đổ tràn lan khắp các ngõ xóm, đường quốc lộ, tỉnh lộ, gây ô nhiễm môi trường và ảnhhưởng đến cảnh quan Mặc dù biết rõ việc ô nhiễm và ảnh hưởng đến đời sống củangười dân, nhưng do thiếu nguồn kinh phí và không có kế hoạch thu gom nên chínhquyền đành đứng “nhìn”
Phần lớn các khu vực ngoại thành Hà Nội hiện nay chưa có các điểm tập kết rácthải sinh hoạt, đặc biệt là ở các vùng nông thôn Những bãi rác được xả “vô tư” rađường mà không hề được thu gom, tập kết để xử lý Tình trạng ô nhiễm môi trường,mất mỹ quan đô thị do rác thải trên những trục đường quốc lộ, tỉnh lộ là hệ quả tất yếucủa việc không có các điểm tập kết rác để xử lý Thậm chí, các đống rác ven các
1.2.1.2 Qu ản lý chất thải rắn ở Việt Nam
Quản lý chất thải rắn tại Việt Nam, nhất là tại các thành phố như Hà Nội, thànhphố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, Hải Phòng….đang là thách thức lớn đối với các nhà quản
lý Tốc độ tăng rác thải không chỉ vì dân số đô thị tăng, sản xuất, dịch vụ tăng, mà còn
vì mức sống của người dân đang ngày một tăng lên Tỷ lệ thu gom chất thải rắn đô thị
ở các quận nội thành đạt khoảng 95%, còn các huyện ngoại thành tỷ lệ này chỉ đạt60%; Lượng chất thải rắn công nghiệp được thu gom đạt 85 - 90% và chất thải nguyhại mới chỉ đạt khoảng 60 - 70%
Cơ chế quản lý tài chính trong hoạt động thu gom rác thải chủ yếu dựa vào kinhphí từ ngân sách nhà nước, chưa huy động được các thành phần kinh tế tham gia, tínhchất xã hội hóa hoạt động thu gom còn thấp, người dân chưa thực sự chủ động tham
Đại học Kinh tế Huế
Trang 35gia vào hoạt động thu gom cũng như chưa thấy rõ được nghĩa vụ đóng góp kinh phícho dịch vụ thu gom rác thải.
Có thể nói, hiện nay trên địa bàn của các đô thị nhỏ vẫn chưa có hệ thống thugom, vận chuyển chất thải rắn một cách có hệ thống xuyên suốt toàn tỉnh, mà tùy theoyêu cầu bức xúc của các huyện, thị và mỗi địa phương, hình thành một xí nghiệp côngtrình công cộng hoặc đội vệ sinh để tiến hành thu gom rác thải sinh hoạt và một phầnrác thải công nghiệp tại các khu trung tâm nhằm giải quyết yêu cầu thu gom rác hàngngày
Theo nghiên cứu của URENCO, ở nhiều nước đang phát triển trên thế giới, chiphí cho công tác quản lý chất thải rắn đô thị chiếm xấp xỉ 20% tổng chi ngân sách đôthị Ở nước ta, các nhà chuyên môn đánh giá, tổng chi cho quản lý chất thải rắn cũngchiếm khoảng 6,7% tổng chi phí ngân sách đô thị Tuy nhiên vẫn có từ 5 - 7% lượngchất thải rắn hàng ngày chưa được thu gom, xử lý Hơn nữa, các biện pháp xử lý rácthải hiện nay vẫn chủ yếu là chôn lấp Nhưng bãi rác Nam Sơn cũng chỉ xử lý đượckhoảng 1.603 tấn/ngày (xử lý bằng phương pháp chôn lấp) Các nhà khoa học đã đưa
ra nhiều giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý chất thải rắn ở Hà Nội, trong đóviệc đầu tư sản xuất phân compost từ chất thải được đặt lên hàng đầu
Tại các Thành phố, việc thu gom và xử lý chất thải đô thị thường do Công ty Môitrường đô thị (URENCO) đảm nhận Tuy nhiên đã xuất hiện các tổ chức tư nhân thamgia công việc này Việc thu gom chất thải rắn và quét dọn đường phố thường làm vàoban đêm để tránh nắng nóng ban ngày và tắc nghẽn giao thông
URENCO cho biết, trung bình mỗi ngày công ty thu gom hơn 2.000 tấn rác thải,trong đó, thành phần rác hữu cơ nếu được phân loại tốt sẽ tận dụng được tới 40%.Hiện nay, công nhân của Công ty này tự phân loại được 100 tấn rác hữu cơ/ngày đểlàm phân bón ở nhà máy xử lý rác thải Cầu Diễn Theo tính toán của cơ quan chuyênmôn, nếu thực hiện tốt mô hình 3R (Reduce: giảm thiểu, Reuse: tái sử dụng, Recycle:tái chế) mỗi tháng Thành phố Hà Nội sẽ tiết kiệm được gần 4 tỷ đồng chi phí xử lý rác.URENCO đưa ra mục tiêu từ 2010 đến 2020, lượng rác thải trên địa bàn Thànhphố Hà Nội sẽ được phân loại tại nguồn và phấn đấu đến 2010 sẽ tận dụng được 30%
Đại học Kinh tế Huế
Trang 36rác Như vậy, mỗi người dân đều có thói quen phân loại rác ngay tại nhà thì sẽ tậndụng được rác để tái chế, tiết kiệm được tài nguyên, tiết kiệm được sức người.[7]
1.2.1.3 Những hạn chế trong công tác quản lý chất thải rắn ở Việt Nam
Việc thu gom, vận chuyển chất thải sinh hoạt còn nhiều hạn chế: Mất vệ sinh cục
bộ bởi phương thức thu gom hiện nay hầu hết là gián tiếp, thông qua các xe đẩy tay từcác khu vực dân cư, tập kết về một điểm tự phát rồi chuyển lên ô tô chuyên dụng tạicác ngã tư, góc đường… Việc rác thải chưa được phân loại tại nguồn cũng gây khókhăn cho việc vận chuyển, xử lý
Năng lực của các xí nghiệp môi trường đô thị về thiết bị, phương tiện thu gomvẫn còn thiếu, tải trọng nhỏ, cũ, hỏng…chưa theo kịp các yêu cầu thực tế Đối với khuvực ngoại thành thì lại có đặc điểm diện tích rộng, dân cư không tập trung, thành phầnrác thải “phong phú hơn” do hoạt động nông nghiệp: các loại bao bì phân bón, vỏ hộpthuốc trừ sâu…khó thu gom do ý thức người dân chưa cao và hệ thống vận chuyển bịhạn chế cả về nhân lực lẫn phương tiện
Ngay cả công tác xử lý, tiêu hủy, tái chế rác thải hiện cũng còn rất nhiều hạn chếchủ yếu dựa vào việc chôn lấp tại bãi rác Nam Sơn (chất thải ở đây hầu như khôngđược phân loại) Còn riêng nhà máy chế biến rác thải tại Cầu Diễn, mới chỉ đạt sảnlượng khoảng 7.000 tấn/năm, nghĩa là chỉ có khoảng 7% lượng rác thải sinh hoạt đượctái chế thành phân vi sinh
Hiện nay, chỉ tính riêng Hà Nội vẫn còn 66% số xã chưa có nơi chôn lấp hoặc xử
lý rác thải Khu vực ngoại thành có 361/435 xã, thị trấn đã thành lập tổ thu gom rác;trong đó có 148 xã đã tổ chức chuyển rác đi xử lý, chôn lấp tại bãi rác tập trung củaThành phố (đạt tỷ lệ 34%), còn lại vẫn chủ yếu tổ chức chôn lấp hoặc đổ ra các bãi đấttrống công cộng ngay tại địa phương Trung tâm Nước sạch và Vệ sinh môi trườngnông thôn Hà Nội cho biết: Để nâng cao đời sống vật chất cho người dân khu vựcngoại thành, Hà Nội đặt mục tiêu đến năm 2015, 100% số xã ở khu vực ngoại thành có
xử lý rác thải sinh hoạt và đến năm 2020, 100% làng nghề bị ô nhiễm nặng được xử lýchất thải
Theo đó, trong giai đoạn từ nay đến hết năm 2010, Thành phố sẽ đầu tư mở rộngcác khu xử lý rác thải tập trung ở Nam Sơn (Sóc Sơn) và Núi Thoong (Chương Mỹ);
Đại học Kinh tế Huế
Trang 37chuẩn bị đầu tư xây dựng một số khu xử lý rác tập trung xa trung tâm Thành phố nhưkhu Đồng Ké (huyện Chương Mỹ), khu Châu Can (huyện Phú Xuyên) Các huyện cóđiều kiện thuận lợi về địa lý như: Thanh Trì, Từ Liêm, Gia Lâm, Đông Anh, Sóc Sơn,
Mê Linh và một số xã thuộc các huyện: Quốc Oai, Chương Mỹ, Phú Thọ, ThạchThất…sẽ tổ chức thu gom và vận chuyển rác thải đến các khu xử lý tập trung củaThành phố Ở các khu vực còn lại, UBND các huyện quy hoạch và bố trí ngân sách đểđầu tư, xây dựng ở mỗi huyện 1 bãi chôn lấp rác hợp vệ sinh quy mô cấp huyện
Trong giai đoạn từ 2011 đến 2015, Hà Nội sẽ hoàn thành việc xây dựng các khu
xử lý rác thải sinh hoạt quy mô cấp Thành phố; nâng cấp và cải tiến dây chuyền côngnghệ tại các khu xử lý hiện có và tổ chức vận chuyển rác để đi xử lý tập trung cho tất
cả các xã còn lại để đảm bảo 100% số xã được xử lý rác thải sinh hoạt.[7]
1.2.2 Hiện trạng phát sinh chất thải rắn và những vấn đề cấp bách liên quan đến chất thải rắn ở Thành phố Đông Hà - Tỉnh Quảng Trị
1.2.2.1 Tình hình phát sinh chất thải rắn ở Thành phố Đông Hà
a Rác thải sinh hoạt
Rác thải sinh hoạt chiếm tỷ trọng lớn nhất, được thải ra từ các hộ gia đình, các cơquan, trường học các khu du lịch - dịch vụ, chợ, đường phố, bến xe Các chất thải chủyếu là rác thực phẩm, giấy loại, các loại phân bùn, cặn bã trong các công trình vệsinh
Dân số toàn Thành phố Đông Hà (theo cuộc tổng điều tra dân số ngày 1/04/2009)
là 82.739 người, do đó lượng rác thải sinh hoạt thải ra mỗi ngày của Thành phố là rấtlớn được tính vào khoảng 50 tấn rác/ngày (trung bình một người thải khoảng0,6kg/ngày) Do mật độ dân số giữa các phường trong Thành phố Đông Hà là khôngđồng đều nên khối lượng và thành phần rác thải ở các phường cũng khác nhau dẫn đếnkhó khăn cho công tác lựa chọn và phân vùng, phân tuyến cho công tác thu gom và xử
lý chất thải rắn
b Rác thải công nghiệp
Theo niên giám thống kê Đông Hà năm 2008 thì các cơ sở kinh doanh đang hoạtđộng trên địa bàn Thành phố là 554 doanh nghiệp, trong đó rất nhiều các loại hình sảnxuất kinh doanh khác nhau, từ khai khoáng, chế biến đến thương mại dịch vụ đối với
Đại học Kinh tế Huế
Trang 38mỗi loại hình sản xuất sẽ tạo ra một nguồn chất thải tương ứng Trong số các chất thải
từ sản xuất kinh doanh thì có một số chất thải rắn có tính chất nguy hại khi được thảitrực tiếp vào môi trường
Nhìn chung chất thải rắn được thải ra từ các hoạt động công nghiệp ở Thành phốĐông Hà ước tính khoảng 10 - 20% tổng lượng rác thải sinh hoạt, tức là 10,2 tấn/ngày,song cho tới nay loại chất thải công nghiệp này vẫn chưa được thu gom và quản lý tốt,chủ yếu được các chủ doanh nghiệp tái sử dụng hay hợp đồng với công ty môi trườngthu gom trong đó có không ít những chất độc hại vẫn chưa được phân loại và xử lýmột cách khoa học Mặt khác, đối với những cơ sở có lượng chất thải không nhiều thìthường được chủ cơ sở đổ chung với rác thải thông thường sau đó hợp đồng đơn vị thugom trên địa bàn vận chuyển đi xử lý
c Rác thải y tế
Trên địa bàn Thành phố có 2 bệnh viện với 550 giường bệnh, 01 trung tâm y tế
dự phòng tỉnh, 01 phòng khám sức khoẻ cán bộ và và 9 trạm y tế của 9 phường với 58giường bệnh trong Thành phố Ngoài ra, trên địa bàn Thành phố các phòng khám tưnhân chiếm một lượng rất lớn Theo điều tra cho thấy, lượng chất thải rắn không nguyhại khoảng 0,6 - 1,2 tấn/ngày, lượng chất thải rắn nguy hại khoảng 120 - 240 kg/ngày
d Lượng chất thải rắn phát sinh ở một số lĩnh vực khác
- Lượng chất thải rắn phát sinh từ thương mại, du lịch chiếm 1% tổng chất thảirắn sinh hoạt Tức là 0,51 tấn/ngày
- Lượng chất thải rắn từ các khu công cộng 10% tổng chất thải rắn sinh hoạt,tức là 5,1 tấn/ngày
- Lượng chất thải rắn từ hoạt động xây dựng 20% tổng chất thải rắn sinh hoạt,
tức là 10,2 tấn/ngày.
Vậy tổng lượng chất thải được phát sinh trên Thành phố Đông Hà trong mộtngày là khoảng 77 tấn/ngày Nếu lấy tỷ trọng của rác là 0,5 tấn/m3 thì tổng lượng rácthải ra của Thành phố là 155 m3rác thải/ngày.[8]
Đại học Kinh tế Huế
Trang 391.2.2.2 Nh ững vấn đề cấp bách liên quan đến chất thải rắn hiện nay ở Thành phố Đông Hà - Tỉnh Quảng Trị
Chất thải rắn là sự đồng hành tất yếu trong mọi hoạt động kinh tế và phát triển.Trong điều kiện tiến bộ khoa học và công nghệ hiện nay và trong tầm nhìn dài hạn,lượng chất thải nói chung và chất thải rắn nói riêng có xu hướng gia tăng cùng với sựgia tăng của sản xuất và tiêu dùng trong quá trình phát triển của xã hội Sự gia tăng củachất thải rắn đã, đang và vẫn tiếp tục là một nguyên nhân chính của tình trạng ô nhiễmmôi trường và suy giảm chất lượng môi trường, đe dọa tính bền vững trong quá trìnhphát triển cả ở tầm vĩ mô (quốc gia) cả ở tầm trung mô (địa phương, khu vực) và cả ởtầm vi mô (cơ sở sản xuất kinh doanh)
Ở Thành phố Đông Hà tuy đã có mạng lưới thu gom, xử lý chất thải rắn nhưngchỉ đáp ứng được một phần trong công tác thu gom chất thải rắn hiện nay Đặc biệt,khi Thành phố Đông Hà lên Thành phố với việc cải tạo, chỉnh trang và mở rộng khônggian đô thị, đẩy mạnh tốc độ phát triển công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp hướng côngnghiệp hóa - hiện đại hóa, nông nghiệp phát triển theo hướng sản xuất hàng hóa thìmạng lưới thu gom và xử lý hiện tại càng không thể đáp ứng yêu cầu, do: tỷ lệ thugom tại các phường ngoại thị thấp; phương tiện, nhân lực thu gom còn hạn chế; chấtthải rắn xây dựng chưa được thu gom và xử lý thích hợp; chất thải rắn nguy hại ngàycàng tăng; các điểm tập kết, tuyến thu gom chưa hợp lý, chưa đáp ứng yêu cầu về bảo
vệ môi trường; chưa có chế tài phù hợp và ý thức của người dân chưa cao trong vấn đềmôi trường nói chung, thu gom xử lý chất thải rắn nói riêng
Trước thực trạng đó, cần phải có sự điều chỉnh, cải tạo mạng lưới thu gom và
xử lý chất thải rắn nhằm đáp ứng kịp thời yêu cầu hiện tại và phát triển tương lai.Đại học Kinh tế Huế [9]
Trang 40CHƯƠNG 2
TÌNH HÌNH QUẢN LÝ CHẤT THẢI RẮN VÀ NHỮNG TÁC ĐỘNG ĐẾN
MÔI TRƯỜNG Ở THÀNH PHỐ ĐÔNG HÀ - TỈNH QUẢNG TRỊ
2.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu
2.1.1 Điều kiện tự nhiên
2.1.1.1 V ị trí địa lý
Thành phố Đông Hà là tỉnh lỵ - trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội củatỉnh Quảng Trị, nằm ở tọa độ 16o07’53’’- 16o52’22’’ vĩ độ Bắc, 107o04’24’’-
- Phía Bắc giáp huyện Gio Linh và Cam Lộ,
- Phía Nam giáp huyện Triệu Phong,
- Phía Đông giáp huyện Gio Linh và Triệu Phong,
- Phía Tây giáp huyện Cam Lộ
Tổng diện tích tự nhiên là 72,96 km2, dân số trung bình năm 2009 có 82.739người, chiếm 1,54% diện tích và 12,9% dân số toàn tỉnh Mật độ dân số 1.134
4, 5, Đông Giang, Đông Thanh, Đông Lương và Đông Lễ
Thành phố Đông Hà nằm trên giao điểm quốc lộ 1A với đường 9 xuyên Á (Hànhlang Đông - Tây) nối với Lào, Thái Lan, Myanma và các nước trong khu vực; cáchkhông xa các đô thị phát triển và tiềm năng như Thành phố Huế (70 km), Thành phốĐồng Hới (93 km); km; cách cảng Cửa Việt 16 km, sân bay Phú Bài (Huế) 84 km,cách cửa khẩu quốc tế Lao Bảo 83 km
Từ khi được nâng cấp lên đô thị loại III và thành lập Thành phố Đông Hà trựcthuộc tỉnh, tăng trưởng kinh tế của Thành phố có xu hướng phát triển nhanh, cơ cấukinh tế chuyển dịch tích cực, hạ tầng đô thị tiếp tục được đầu tư chỉnh trang, hoànthiện Bộ mặt kinh tế - xã hội Thành phố có những nét khởi sắc mới, tạo đà cho những
2.1.1.2 Địa hình, địa mạo
a Địa hình
Lãnh thổ Thành phố Đông Hà có thể quy về 2 dạng địa hình cơ bản sau:
Đại học Kinh tế Huế