1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực trạng quản lý chất thải rắn y tế tại bệnh viện đa khoa thành phố vinh, nghệ an

82 684 6

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 82
Dung lượng 0,98 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nếu không được quản lý tốt,các thành phần nguy hại trong chất thải y tế như vi sinh vật gây bệnh, chất gây độc, gây ung thư có thể tạo ra nguy cơ đáng kể đối với sức khỏe cộng đồng và mô

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ KHOA KINH TẾ VÀ PHÁT TRIỂN



KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

THỰC TRẠNG QUẢN LÝ CHẤT THẢI RẮN

Y TẾ TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA THÀNH PHỐ

VINH TỈNH NGHỆ AN

Sinh viên thực hiện Giáo viên hướng dẫn

Nguyễn Thị Lương ThS Trần Đoàn Thanh Thanh

Lớp: K42 TNMT

HUẾ, 5/2012

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 2

ngoài s ự n ỗ l ự c c ủ a b ả n thân , còn có sự d ạ y

d ỗ t ậ n tình c ủ a quý th ầy cô, cơ quan thự c

t ậ p, s ự động viên giúp đỡ c ủ a b ạ n bè và người thân, tôi đ ã hoàn thành khóa lu ậ n

Gia đ ình b ạn bè, người thân đ ã độ ng viên, giúp

đỡ tôi h ọ c t ậ p, th ự c t ậ p và hoàn thành khóa lu ậ n này.

Do th ờ i gian và kinh nhi ệ m c ủ a b ả n thân còn h ạ n

ch ế nên khóa lu ậ n không th ể tránh kh ỏ i nh ữ ng thi ế u sót Kính mong s ự góp ý ki ế n c ủ a quý th ầ y cô và nh ữ ng người quan tâm để đề tài đượ c hoàn thi ện hơn, cũng

n hư giúp tôi nâng cao năng lự c cho quá trình công tác sau này c ủ a b ả n thân.

Xin chân thành c ảm ơn!

Hu ế, tháng 5 năm 2012 Sinh viên th ự c hi ệ n

Nguy ễ n Th ị Lương

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 3

M Ụ C L Ụ C

Trang

PHẦN I ĐẶT VẤN ĐỀ 1

1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI 1

2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 2

3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3

3.1 Phương pháp thu thập số liệu 3

3.1.1 Thông tin và số liệu thứ cấp 3

3.1.2 Thông tin và số liệu sơ cấp 3

3.2 Phương pháp phân tích số liệu 3

3.3 Phương pháp tổng hợp và xử lý số liệu 3

4 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU 3

4.1 Đối tượng nghiên cứu 3

4.2 Phạm vi nghiên cứu 3

PHẦN II NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 4

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ QUẢN LÝ CHẤT THẢI Y TẾ 4

1.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN 4

1.1.1 Một số khái niệm liên quan 4

1.1.1.1 Chất thải y tế 4

1.1.1.2 Chất thải nguy hại 4

1.1.1.3 Chất thải y tế nguy hại 4

1.1.1.4 Quản lý chất thải y tế 5

1.1.2 Phân loại chất thải y tế 5

1.1.2.1 Chất thải lây nhiễm 5

1.1.2.2 Chất thải hóa học nguy hại 6

1.1.2.3 Chất thải phóng xạ 6

1.1.2.4 Các bình chứa khí có áp suất 6

1.1.2.5 Chất thải thông thường 6

1.1.3 Nguồn phát sinh chất thải 7 Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 4

1.1.4 Tính chất của chất thải rắn y tế 8

1.1.4.1 Tính chất vật lý 8

1.1.4.2 Tính chất hóa học 9

1.1.5 Những nguy cơ của chất thải rắn y tế 9

1.1.5.1 Các kiểu nguy cơ 9

1.1.5.2 Những đối tượng có thể tiếp xúc với nguy cơ 9

1.1.5.3 Các nguy cơ từ chất thải truyền nhiễm và các vật sắc nhọn 10

1.1.5.4 Những mối nguy cơ từ loại chất thải hoá chất và dược phẩm 11

1.1.5.5 Những nguy cơ từ chất thải gây độc gen 12

1.1.5.6 Tính nhạy cảm xã hội 13

1.1.6 Một số phương pháp xử lý chất thải rắn y tế 13

1.1.6.1 Tiệt trùng bằng hóa chất 13

1.1.6.2 Xử lý bằng công nghệ vi sóng 14

1.1.6.3 Phương pháp chôn lấp chất thải rắn y tế 14

1.1.6.4 Phương pháp thiêu đốt chất thải rắn y tế 14

1.2 CƠ SỞ THỰC TIẾN 15

1.2.1 Thực trạng quản lý chất thải rắn y tế trên thế giới 15

1.2.1.1 Thực trạng phát sinh chất thải rắn y tế 16

1.2.1.2 Phân loại chất thải y tế 16

1.2.1.3 Quản lý xử lý chất rắn thải y tế 17

1.2.2 Thực trạng quản lý chất thải rắn y tế ở Việt Nam 17

1.2.2.1 Tình hình chung 17

1.2.2.2 Lượng chất thải phát sinh 18

1.2.2.3 Xử lý chất thải rắn y tế 19

1.2.2.4 Những tồn tại, khó khăn trong việc quản lý chất thải rắn y tế 21

1.2.3 Thực trạng quản lý chất thải y tế tại tỉnh Nghệ An 22

CHƯƠNG 2: HIỆN TRẠNG QUẢN LÝ CHẤT THẢI RẮN Y TẾ TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA THÀNH PHỐ VINH 24

2.1 TỔNG QUAN VỀ BỆNH VIỆN ĐA KHOA THÀNH PHỐ VINH 24

2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển 24

2.1.2 Cơ cấu tổ chức 24 Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 5

2.1.3 Hoạt động chuyên môn 26

2.1.4 Cơ sở hạ tầng 26

2.2 TÌNH HÌNH QUẢN LÝ CHẤT THẢI RẮN Y TẾ CỦA BỆNH VIỆN 27

2.2.1 Khối lượng chất thải rắn phát sinh tại bệnh viện 27

2.2.2 Hệ thống quản lý hành chính trong quản lý chất thải y tế của bệnh viện 28

2.2.3 Quy trình kỹ thuật quản lý chất thải rắn y tế của Bệnh viện 29

2.2.3.1 Nguồn phát sinh chất thải rắn y tế của bệnh viện 30

2.2.3.2 Tình hình phân loại chất thải của Bệnh viện 31

2.2.3.3 Công tác thu gom chất thải ở bệnh viện 33

2.2.3.4 Vận chuyển chất thải bệnh viện 33

2.2.3.5 Hoạt động lưu trữ chất thải 34

2.2.3.6 Công tác xử lý chất thải y tế nguy hại tại bệnh viện 35

2.2.4 Công tác giám sát quản lý chất thải rắn y tế của bệnh viện 37

2.2.4.1 Giám sát quy trình thu gom, phân loại và vệ sinh 37

2.2.4.2 Giám sát quá trình xử lý rác thải nguy hại tại bệnh viện 37

2.2.4.3 Giám sát tình hình nhiễm khuẩn tại bệnh viện 37

2.2.5 Công tác kiểm soát ô nhiễm môi trường tại bệnh viện 38

2.3 ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG QUẢN LÝ CHẤT THẢI Y TẾ Ở BỆNH VIỆN THÔNG QUA CÁC ĐỐI TƯỢNG ĐIỀU TRA 39

2.3.1 Thông tin chung về mẫu điều tra 39

2.3.2 Đánh giá về tình hình phân loại rác thải 40

2.3.2.1 Nhận thức về mức độ quan trọng của việc phân loại rác thải y tế tại nguồn 40

2.3.2.2 Nhận thức của bệnh nhân và người nhà bệnh nhân về việc thực hành phân loại và bỏ rác đúng nơi quy định 41

2.3.2.3 Những khó khăn gặp phải trong việc phân loại rác thải tại nguồn 43

2.3.2.4 Ý kiến đánh giá chung về tình hình phân loại rác thải y tế của bệnh viện44 2.3.3 Đánh giá về tình hình thu gom rác thải y tế 45

2.3.4 Đánh giá về tình hình vận chuyển 46

2.3.5 Đánh giá về tình hình lưu trữ rác 46

2.3.6 Đánh giá về tình hình xử lý rác thải y tế của bệnh viện 47

2.3.7 Cán bộ và nhân viên bệnh viện bị thương tích do chất thải y tế 49

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 6

2.3.8 Khó khăn trong công tác quản lý chất thải rắn của bệnh viện 50

2.3.9 Đánh giá chung về công tác quản lý chất thải rắn y tế của bệnh viện 51

2.4 DỰ BÁO LƯỢNG PHÁT SINH CHẤT THẢI BỆNH VIỆN ĐẾN NĂM 2015 52

2.4.1 Dự báo số giường bệnh 52

2.4.2 Dự báo tải lượng chất thải rắn y tế 52

CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP QUẢN LÝ CHẤT THẢI RẮN Y TẾ TẠI BỆNH VIỆN ĐK TP VINH 54

3.1 ĐỀ XUẤT XÂY DỰNG HỆ THỐNG QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG 54

3.1.1 Cơ cấu tổ chức 54

3.1.2 Nhiệm vụ của ban môi trường 54

3.1.3 Đào tạo nhận thức về công tác bảo vệ môi trường 55

3.2 GIẢI PHÁP CHO CÔNG TÁC QUẢN LÝ CHẤT THẢI RẮN Y TẾ TẠI BỆNH VIỆN ĐK TP VINH 55

3.2.1 Hệ thống quản lý hành chính 55

3.2.1.1 Kiểm soát ô nhiễm do chất thải 55

3.2.1.2 Tăng cường pháp chế đối với các trường hợp vi phạm 55

3.2.1.3 Nâng cao trình độ nhận thức 55

3.2.2 Hệ thống quản lý kỹ thuật 56

3.2.2.1 Phân loại chất thải tại nguồn 56

3.2.2.2 Công tác thu gom 57

3.2.2.3 Công tác vận chuyển 57

3.2.2.4 Công tác lưu trữ chất thải 57

3.2.2.5 Về công tác xử lý rác thải y tế nguy hại tại bệnh viện 58

3.2.3 Quản lý nội quy 58

3.2.4 Giải pháp kêu gọi đầu tư 58

PHẦN III KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 59

I KẾT LUẬN 59

II KIẾN NGHỊ 60

TÀI LIỆU THAM KHẢO 61 PHỤ LỤC

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 7

DANH MỤC SƠ ĐỒ - HÌNH VẼ

Sơ đồ 1: Hoạt động khám và điều trị của bệnh nhân 7

Sơ đồ 2: Sơ đồ của bệnh viện ĐK TP Vinh, Nghệ An 25

Sơ đồ 3: Quy trình quản lý chất thải rắn trong bệnh viện từ nguồn phát sinh đến xử lý 29

Hình 1: Bệnh viện Đa khoa Thành phố Vinh 24

Hình 2: Túi màu xanh đựng chất thải thông thường 32

Hình 3: Túi màu vàng các chất thải lâm sàng không sắc nhọn 32

Hình 4: Đựng các vật sắc nhọn 32

Hình 5: Chất thải không sắc nhọn 32

Hình 6: Bảng hướng dẫn nội quy bỏ rác đúng nơi quy định của Bệnh viện 32

Hình 7: Công nhân vận hành lò đốt Chuwastar ở BVĐK TP Vinh 35

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 8

DANH MỤC BẢNG - BIỂU

Bảng 1: Thành phần chất thải rắn bệnh viện trung bình ở Việt Nam 8

Bảng 2: Số lượng rác thải y tế phát sinh theo tuyến bệnh viện 16

Bảng 3: Chất thải rắn y tế phát sinh theo giường bệnh tại Việt Nam 19

Bảng 4: Khối lượng chất thải rắn phát sinh tại bệnh viện từ năm 2007 - 2011 27

Bảng 5: Phân loại chất thải và xác định nguồn thải tại BVĐK TP Vinh 30

Bảng 6: Bảng dầu đốt chất thải y tế nguy hại/tháng của BV ĐK TP Vinh 36

Bảng 7: Thông tin chung về mẫu điều tra 40

Bảng 8: Đánh giá về tầm quan trọng của việc phân loại rác thải tại nguồn của nhóm 1 và nhóm 2 41

Bảng 9: Liên quan giữa kiến thức, thái độ của bệnh nhân với thực hành bỏ rác đúng nơi quy định. 41

Bảng 10: Khó khăn khi phân loại rác y tế tại nguồn của nhóm 1 & 2 43

Bảng 11: Đánh giá của nhóm 1 và 2 về tình hình phân loại rác thải của bệnh viện. 44

Bảng 12: Đánh giá về thời gian thu gom của nhóm 1 và 2 45

Bảng 13: Ảnh hưởng của việc đốt rác tại bệnh viện đến các đối tượng điều tra. 47

Bảng 14: Liên quan giữa vị trí với việc ảnh hưởng của việc đốt rác đến các đối tượng được phỏng vấn ở nhóm 3. 48

Bảng 15: Tỷ lệ cán bộ và nhân viên bệnh viện bị thương tích do chất thải y tế 49

Bảng 16: Những khó khăn trong công tác quản lý chất thải rắn của bệnh viện. 50

Bảng 17: Đánh giá chung của các nhóm điều tra về tình hình quản lý chất thải rắn y tế tại BVĐK TP Vinh. 51

Bảng 18: Dự báo tải lượng chất thải rắn y tế 53

Biểu đồ 1: Liên quan giữa kiến thức, thái độ của bệnh nhân với thực hành bỏ rác đúng nơi quy định 42

Biểu đồ 2: Ảnh hưởng của việc đốt rác tại bệnh viện đến các đối tượng điều tra 47

Biểu đồ 3: Tỷ lệ cán bộ và nhân viên bệnh viện bị thương tích do chất thải y tế 49 Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 9

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

CTR : Chất thải rắnCTRYT : Chất thải rắn y tếCRTSH : Chất thải rắn sinh hoạtCTRNH : Chất thải rắn nguy hại

BV : Bệnh viện

TP : Thành phốTNMT : Tài nguyên môi trường

QCVN : Quy chuẩn Việt NamTNHH : Trách nhiệm hữu hạnKSNK : Kiểm soát nhiễm khuẩnNKBV : Nhiễm khuẩn bệnh viện

CT : Cổ TruyềnGMHS : Gây mê hồi sức

CĐHA : Chuẩn đoán hình ảnh

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 10

hơn chất thải rắn là rất cần thiết Đó cũng chính là lý do và mục đích nghiên cứu của

đề tài: “Thực trạng quản lý chất thải rắn y tế tại bệnh viện Đa khoa Thành Phố

Vinh, Nghệ An’’

2 Mục tiêu nghiên cứu cụ thể của đề tài

- Hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về chất thải rắn y tế và quản lý chấtthải rắn y tế

- Đánh giá thực trạng quản lý chất thải rắn y tế của bệnh viện ĐK TP Vinh

- Dự báo tổng khối lượng rác y tế của bệnh viện đến năm 2015

- Đề xuất một số giải pháp nhằm góp phần khắc phục những hạn chế mà bệnhviện mắc phải trong quá trình quản lý chất thải rắn của bệnh viện

3 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp điều tra, khảo sát bằng phiếu điều tra cho 3 nhóm đối tượng:

Nhóm 1: Bệnh nhân và người nhà bệnh nhân;

Nhóm 2: Cán bộ và nhân viên bệnh viện;

Nhóm 3: Các hộ dân sống xung quanh bệnh viện

- Phương pháp thống kê mô tả: Các thông tin và số liệu được cụ thể hoá thành

các bảng biểu, sơ đồ và đồ thị thống kê mô tả

Ngoài các phương pháp trên, đề tài còn sử dụng phương pháp chuyên gia;Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 11

phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử.

Thông qua phỏng vấn, đề tài đã thu thập được các ý kiến đánh giá cuả các đối tượng

có liên quan về công tác quản lý chất thải rắn y tế của bệnh viện, từ đó làm rõ hơn thựctrạng cũng như chỉ ra được những khó khăn và hạn chế trong công tác quản lý chất thảirắn y tế của bệnh viện hiện nay Đó là cơ sở để đề xuất các giải pháp nhằm làm tốt hơncông tác quản lý chất thải rắn y tế của bệnh viện

5 H ạn chế của đề tài

Do thời gian thực tập có hạn, bản thân tiếp cận với nghiên cứu khoa học chưa sâu

nên đề tài này chỉ giới hạn trong việc đánh giá thực trạng quản lý chất thải rắn y tế

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 12

PHẦN I ĐẶT VẤN ĐỀ

1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI

Đã từ lâu, y tế đã đóng một vai trò quan trọng trong cuộc sống của tất cả mọingười Y tế là một trong các thành phần của sự phát triển kinh tế - xã hội của một địaphương, một khu vực Ngành y tế đã phòng và chữa trị các loại bệnh của các sinh vật(con người và động vật) bị nhiễm bệnh, trong đó có các bệnh bị gây nên do ô nhiễmmôi trường Thế nhưng, chính quá trình hoạt động của mình ngành y tế cũng đã gây

nên rất nhiều vấn đề gây ô nhiễm môi trường và ảnh hưởng đến sức khỏe của con

người và hoạt động sống của các sinh vật Việc giải quyết sự ô nhiễm môi trường

trong các hoạt động của ngành y tế đã là một vấn đề nhức nhối của toàn xã hội và trênthế giới Mỗi ngày, môi trường sống của chúng ta phải tiếp nhận hàng trăm tấn chấtthải rắn y tế từ các bệnh viện thải ra Nếu không được giải quyết sớm, chất thải bệnhviện sẽ là nguồn gây bệnh đe dọa trực tiếp tới đời sống của cộng đồng dân cư

Theo báo cáo của Bộ Y Tế, tính đến năm 2010, Việt Nam có 1.186 bệnh viện vớicông suất 187.843 giường bệnh Chúng là các nguồn thải chất thải nguy hại lớn nhất, phátsinh khoảng 350 tấn chất thải y tế/ngày trong đó có 40 tấn chất thải nguy hại/ngày, dễ gâynguy hiểm và cần được xử lý theo quy định đặc biệt bao gồm các chất tiết dịch, bông

băng, bơm kim tiêm và các vật sắc nhọn, dược phẩm, hóa chất các chất phóng xạ, và cả

các bộ phận của cơ thể người bệnh bị cắt bỏ sau phẫu thuật Nếu không được quản lý tốt,các thành phần nguy hại trong chất thải y tế như vi sinh vật gây bệnh, chất gây độc, gây

ung thư có thể tạo ra nguy cơ đáng kể đối với sức khỏe cộng đồng và môi trường [11]

Ước tính khoảng 50% số bệnh viện hiện nay đang phân loại, thu gom chất thải y

tế theo đúng quy định [1] Tuy nhiên, đã có nhiều chương trình trên phương tiện thông

tin đại chúng đề cập đến thực trạng quản lý chất thải không an toàn Ví dụ như rác thải

y tế bệnh phẩm chưa được phân theo đúng chủng loại, chưa được khử khuẩn khi thải

bỏ Nhà lưu chứa không đúng tiêu chuẩn không đảm bảo vệ sinh và có nguy cơ lâynhiễm cao cho cộng đồng Rác thải y tế ở một số địa phương hiện đang là một trong

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 13

những vấn đề bức xúc bởi ngay cả ở các bệnh viện tuyến Tỉnh, hiện nay nhiều địa

phương vẫn chưa có lấy một nơi tập kết chất thải

Các vấn đề trên xuất phát từ nhiều lý do, trong đó có áp lực về nhu cầu khámchữa bệnh của nhân dân, sự quá tải của nhiều bệnh viện, thiếu kinh phí để đầu tư cáctrang thiết bị hiện đại để xử lý chất thải, sự thiếu đồng bộ về cơ sở hạ tầng của bệnhviện nên dẫn tới vệ sinh môi trường của nhiều bệnh viện chưa được đảm bảo, gây ảnh

hưởng xấu đến sức khỏe của người dân Để đạt được mục tiêu quản lý chất thải y tế

một cách hiệu quả - chi phí là một thách thức lớn, đòi hòi nỗ lực của Chính phủ, cácngành, các bệnh viện, công nhân môi trường và các cá nhân

Bệnh viện ĐK TP Vinh là bệnh viện đa khoa lớn của TP Vinh, Nghệ An Cónhiều trang thiết bị hiện đại, người dân đến khám và điều trị tại bệnh viện đa khoathành phố ngày càng tăng Mỗi ngày, bệnh viện tiếp nhận từ 350 - 400 bệnh nhân gópphần giảm tải cho bệnh viện tuyến Tỉnh Và vì thế thì lượng chất thải thải ra của bệnhviện cũng tăng lên Vì vậy, việc phát sinh và thải bỏ chất thải y tế nếu không đượckiểm soát chặt chẽ sẽ gây nguy hại đến môi trường xung quanh và ảnh hưởng trực tiếp

đến sức khỏe người dân

Xuất phát từ những lý do trên, tôi chọn đề tài: “Thực trạng quản lý chất thải

rắn y tế tại bệnh viện Đa khoa Thành Phố Vinh, Nghệ An’’ để làm luận văn tốt

nghiệp

2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

- Hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về chất thải rắn y tế và quản lý chấtthải rắn y tế

- Đánh giá thực trạng quản lý chất thải rắn y tế của bệnh viện ĐK TP Vinh

- Dự báo tổng khối lượng rác y tế của bệnh viện đến năm 2015

- Đề xuất một số giải pháp nhằm góp phần khắc phục những hạn chế mà bệnhviện mắc phải trong quá trình quản lý chất thải rắn của bệnh viện

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 14

3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 Phương pháp thu thập số liệu

3.1.1 Thông tin và s ố liệu thứ cấp

Thông tin về số liệu thứ cấp được thu thập từ nhiều nguồn khác nhau của các

Cơ quan Ban ngành trên địa bàn nghiên cứu như bệnh viện, Sở Y Tế, Sở Tài Nguyên

và Môi Trường… Ngoài ra đề tài còn sử dụng các kết quả nghiên cứu của các tổ chức

và cá nhân đã được công bố trên Internet, sách báo và các tạp chí có liên quan khác…

3.1.2 Thông tin và s ố liệu sơ cấp

Để có cơ sở đánh giá thực trạng quản lý chất thải y tế của bệnh viện, đề tài đã sử

dụng phương pháp điều tra, khảo sát bằng phiếu điều tra cho 3 nhóm đối tượng:

- Nhóm 1: Bệnh nhân và người nhà bệnh nhân

- Nhóm 2: Cán bộ và nhân viên bệnh viện

- Nhóm 3: Các hộ dân sống xung quanh bệnh viện

3.2 Phương pháp phân tích số liệu

Phương pháp thống kê mô tả: Các thông tin và số liệu được cụ thể hoá thành các

bảng biểu, sơ đồ và đồ thị thống kê mô tả

Ngoài các phương pháp trên, đề tài còn sử dụng phương pháp thảo luận nhóm;phương pháp chuyên gia; phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử

3.3 Phương pháp tổng hợp và xử lý số liệu

Toàn bộ số liệu điều tra được nhập và xử lý trên phần mềm excel theo các chỉtiêu nghiên cứu của đề tài

4 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Quản lý chất thải rắn y tế

4.2 Phạm vi nghiên cứu

V ề không gian: Bệnh viện Đa khoa TP Vinh - Tỉnh Nghệ An.

V ề thời gian: Đề tài đánh thực trạng quản lý chất thải rắn y tế của BV qua 3

năm 2009 - 2011

V ề nội dung: Chất thải y tế có thể tồn tại ở ba dạng đó là rắn, lỏng và khí Đề tài

chỉ tập trung nghiên cứu thực trạng quản lý chất thải rắn y tế tại bệnh viện ĐK TP Vinh

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 15

PHẦN II NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ QUẢN LÝ CHẤT THẢI Y TẾ

Chất thải y tế có thể ở dạng rắn, lỏng và khí

Chất thải y tế thường bao gồm cả các loại chất thải có đặc tính và tác động đốivới môi trường sức khoẻ giống như các chất thải thông thường khác

1.1.1.2 Ch ất thải nguy hại

Là chất thải có chứa các chất hoặc hoá chất có một trong các đặc tính gây nguyhại trực tiếp (dễ cháy, dễ nổ, làm ngộ độc, gây ăn mòn, dễ lây nhiễm với các đặc tínhnguy hại), hoặc tương tác với các chất khác gây nguy hại tới môi trường và sức khoẻ

con người

Do có các đặc tính và tiềm năng gây rủi ro về môi trường và sức khoẻ mà cácloại chất thải y tế nguy hại đòi hỏi phải được thu gom, phân loại và tiêu huỷ theonhững quy trình đặc biệt và đảm bảo an toàn có áp dụng các công nghệ phức tạp và

thường là tốn kém để tránh thoát thải ra môi trường bên ngoài

1.1.1.3 Ch ất thải y tế nguy hại

Là chất thải có một trong các thành phần như: máu, dịch cơ thể, chất bài tiết, các

bộ phận hoặc cơ quan con người, động vật, bơm, kim tiêm và các vật sắc nhọn, dượcphẩm, hoá chất và các chất phóng xạ dùng trong y tế Nếu những chất này không đượchuỷ sẽ gây nguy hại cho môi trường và sức khoẻ con người

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 16

1.1.1.4 Qu ản lý chất thải y tế

Là các hoạt động kiểm soát chất thải trong suốt quá trình từ khi chất thải phát

sinh đến xử lý bắt đầu từ khâu thu gom, vận chuyển, lưu trữ và tiêu huỷ chất thải y tế

nguy hại

Thu gom: Là việc tách, phân loại, tập hợp, đóng gói và lưu trữ tạm thời tại điểm

tập trung của cơ sở y tế

Vận chuyển: Là quá trình chuyên chở chất thải từ nơi phát sinh đến xử lý ban đầu,

lưu trữ, tiêu huỷ

Xử lý ban đầu: Là quá trình khử khuẩn hoặc tiết khuẩn các chất thải có nguy cơ

lây nhiễm cao ngay gần nơi phát sinh khi vận chuyển tới nơi lưu trữ hoặc tiêu huỷ

Tiêu huỷ: Là quá trình sử dụng công nghệ nhằm cô lập (bao gồm cả chôn lấp)

chất thải nguy hại làm mất khả năng nguy hại với môi trường và sức khoẻ con người

1.1.2 Phân loại chất thải y tế

Theo Quyết định Số: 43/2007/QĐ-BYT về việc ban hành quy chế quản lý chấtthải y tế của Bộ trưởng Bộ Y Tế năm 2007 [16] Căn cứ vào các đặc điểm lý học, hóahọc, sinh học và tính chất nguy hại, chất thải trong các cơ sở y tế được phân thành 5nhóm sau:

1.1.2.1 Ch ất thải lây nhiễm

Gồm 5 nhóm nhỏ:

Nhóm A:

Chất thải nhiễm khuẩn chứa mầm bệnh vi khuẩn, virus, ký sinh trùng, nấm v.v.,bao gồm các vật liệu thấm máu, dịch, chất bài tiết của bệnh nhân như gạc, bông, găngtay, bột bó gãy xương, dây truyền máu…

Nhóm B:

Là các vật sắc nhọn như kim tiêm, lưỡi dao, cán dao mổ, mảnh thuỷ tinh vỡ vàmọi vật dụng có thể gây ra vết cắt hoặc chọc thủng, cho dù chúng có thể bị nhiễmkhuẩn hoặc không nhiễm khuẩn

Nhóm C:

Rác thải có nguy cơ lây nhiễm cao phát sinh từ các phòng xét nghiệm: găng tay,lam kính, ống nghiệm, bệnh phẩm sau khi xét nghiệm, túi đựng máu, bệnh phẩm saukhi cần thiết…

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 17

Nhóm D:

Rác thải dược phẩm: dược phẩm quá hạn, bị nhiễm khuẩn, dược phẩm bị bỏ,không còn nhu cầu sử dụng và thuốc gây độc tế bào

Nhóm E:

Là mô, cơ quan nội tạng người bệnh, động vật, mô cơ thể (nhiễm khuẩn hay

không nhiễm khuẩn), chân tay, nhau thai, bào thai…

1.1.2.2 Ch ất thải hóa học nguy hại

Chất hóa học nguy hại sử dụng trong y tế Chất gây độc tế bào, gồm: vỏ cácchai thuốc, lọ thuốc, các dụng cụ dính thuốc gây độc tế bào và các chất tiết từ ngườibệnh được điều trị bằng hóa trị liệu Chất thải chứa kim loại nặng: thủy ngân (từ nhiệt

kế, huyết áp kế thủy ngân bị vỡ, chất thải từ hoạt động nha khoa), cadimi (Cd) (từ pin,

ắc quy), chì (từ tấm gỗ bọc chì hoặc vật liệu tráng chì sử dụng trong ngăn tia xạ từ các

khoa chẩn đoán hình ảnh, xạ trị)

1.1.2.3 Ch ất thải phóng xạ

Chất thải phóng xạ sinh ra trong các cơ sở y tế từ các hoạt động chuẩn đoán định

vị khối, hóa trị liệu và nghiên cứu phân tích dịch mô cơ thể Chất thải phóng xạ tồn tại

1.1.2.5 Ch ất thải thông thường

Chất thải thông thường là chất thải không chứa các yếu tố lây nhiễm, hoá họcnguy hại, phóng xạ, dễ cháy, nổ, bao gồm:

Chất thải sinh hoạt phát sinh từ các buồng bệnh (trừ các buồng bệnh cách ly)

Chất thải phát sinh từ các hoạt động chuyên môn y tế như các chai lọ thuỷ tinh,chai huyết thanh, các vật liệu nhựa, các loại bột bó trong gẫy xương kín Những chấtthải này không dính máu, dịch sinh học và các chất hoá học nguy hại

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 18

Chất thải phát sinh từ các công việc hành chính: giấy, báo, tài liệu, vật liệu

đóng gói, thùng các tông, túi nylon, túi đựng phim

Chất thải ngoại cảnh: lá cây và rác từ các khu vực ngoại cảnh

1.1.3 Nguồn phát sinh chất thải

Toàn bộ chất thải rắn trong bệnh viện phát sinh từ các hoạt động diễn ra trongbệnh viện, bao gồm:

Các hoạt động khám chữa bệnh như: chẩn đoán, chăm sóc, xét nghiệm, điều trịbệnh, phẩu thuật,… (Sơ đồ 1)

Sơ đồ 1: Hoạt động khám và điều trị của bệnh nhân

Các hoạt động nghiên cứu, thí nghiệm trong bệnh viện

Các hoạt động hàng ngày của nhân viên bệnh viện, bệnh nhân và thân nhân

Hầu hết, các CTR y tế là các chất thải sinh học độc hại và mang tính đặc thù, nếu

không được phân loại cẩn thận trước khi xả chung với các loại chất thải sinh hoạt sẽ

gây ra những nguy hại đáng kể Các nguồn xả chất lây lan độc hại chủ yếu là các khuvực xét nghiệm, khu phẫu thuật, bào chế dược phẩm

Khoa dược Phòng kế hoạch tổng hợp

Nhà bếp Cung cấp thuốc, y cụ cần thiết Quản lý hồ sơ bệnh án

Khám bệnh Chẩn đoán Xét nghiệm

Trang 19

1.1.4 Tính chất của chất thải rắn y tế

1.1.4.1 Tính ch ất vật lý

Thành phần vật lý:

Đồ bông vải sợi: gồm bông gạc, băng, quần áo cũ, khăn lau, vải trải…

Đồ giấy: hộp đựng dụng cụ, giấy gói, giấy thải thừ nhà vệ sinh…

Đồ thủy tinh: chai lọ, ống tiêm, bông tiêm, thủy tinh, ống nghiệm…

Đồ nhựa, hộp đựng, bơm tiêm, dây chuyền máu, túi đựng…

Đồ kim loại: kim tiêm, dao mổ, hộp đựng…

Bệnh phẩm, máu mủ dính ở băng gạc…

Rác rưởi, lá cây, đất đá…

Theo kết quả phân tích của DEA (2004) [18] thành phần chất thải thông thường

và chất thải nhiễm khuẩn được trình bày như sau:

- Thành phần chất thải rắn thông thường (rác sinh hoạt y tế): Giấy và các loạigiấy thấm: 60%; Plastic: 20%; Kim loại thủy tinh và các hợp chất vô cơ: 7%; Các loạihỗn hợp khác: 3%

- Thành phần của chất thải nhiễm khuẩn: Giấy và quần áo: 50 - 70%; Plastic: 20

- 60%; Thủy tinh: 10 - 20%; Chất dịch: 1 - 10%

Kết quả trên 80 bệnh viện trong phạm vi cả nước về thành phần chất thải rắn y tế

được chia ra như sau:

Bảng 1: Thành phần chất thải rắn bệnh viện trung bình ở Việt Nam

- Giấy các loại và carton 2,9

- Đồ thủy tinh và đồ nhựa (Ví dụ: kim tiêm, lọ thuốc, bơm tiêm) 3,2

- Bông băng, bó bột … (vật liệu hấp thụ chất lây nhiễm) 8,8

- Túi nhựa các loại: PE, PP, PVC 10,1

- Các vật sắc nhọn (kim tiêm, dao kéo mổ, các dụng cụ cắt gọt, ) 0,4

(Nguồn: Báo cáo hội thảo quản lý chất thải y tế Hà Nội, 1998).

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 20

1.1.4.2 Tính ch ất hóa học

 Thành phần hóa học:

Những chất vô cơ, kim loại, bột bó, chai lọ thủy tinh, hóa chất, thuốc thử…

Những chất hữu cơ: đồ vải sợi, giấy, phần cơ thể, đồ nhựa…

 Nếu phân tích nguyên tố thì thấy gồm những thành phần C, H, O, N, S, Cl…

Trong đó:

Thành phần hữu cơ: phần vật chất có thể bay hơi sau khi được nung ở nhiệt độ

950oC

Thành phần vô cơ (tro) là phần tro còn lại sau khi nung rác ở 195oC

Thành phần phần trăm các nguyên tố được xác định để tình giá trị nhiệt lượngcủa chất thải y tế

1.1.5 Những nguy cơ của chất thải rắn y tế

Chất thải y tế bao gồm một lượng lớn chất thải nói chung và trong đó có CTR vàcũng như các loại khác CTRYT cũng có thể tạo nên những mối nguy cơ cho sức khỏe

con người

1.1.5.1 Các ki ểu nguy cơ

Việc tiếp xúc với các chất thải rắn y tế có thể gây nên bệnh tật hoặc tổn thương.Bản chất mối nguy cơ của chất thải rắn y tế có thể được tạo ra do một hoặc nhiều đặc

trưng cơ bản sau đây:

Chất thải y tế chứa đựng các yếu tố truyền nhiễm

Là chất độc hại có trong rác thải y tế

Các loại hoá chất và dược phẩm nguy hiểm

Các vật sắc nhọn

1.1.5.2 Nh ững đối tượng có thể tiếp xúc với nguy cơ

Tất cả các cá nhân tiếp xúc với chất thải y tế nguy hại là những người có nguy cơtiềm tàng, bao gồm những người làm việc trong các cơ sở y tế, những người ở ngoài

các cơ sở y tế làm nhiệm vụ vận chuyển các chất thải y tế và những người trong cộngđồng bị phơi nhiễm với chất thải do hậu quả của sự sai sót trong khâu quản lý chất

thải Dưới đây là những nhóm chính có nguy cơ cao:

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 21

Bác sĩ, y tá, hộ lý và các nhân viên hành chính của bệnh viện.

Bệnh nhân điều trị nội trú hoặc ngoại trú

Khách tới thăm hoặc người nhà bệnh nhân

Những công nhân làm việc trong các dịch vụ hỗ trợ phục vụ cho các cơ sởkhám chữa bệnh và điều trị, chẳng hạn như giặt là, lao công, vận chuyển bệnh nhân…

Những người làm việc trong các cơ sở xử lý chất thải (tại các bãi đổ rác thải,các lò đốt rác) và những người bới rác, thu gom rác

Ngoài ra còn có các mối nguy cơ liên quan với các nguồn chất thải y tế quy mônhỏ, rải rác, dễ bị bỏ quên Chất thải từ những nguồn này có thể sản sinh ra từ những

tủ thuốc gia đình hoặc do những kẻ tiêm chích ma túy vứt ra

1.1.5.3 Các nguy cơ từ chất thải truyền nhiễm và các vật sắc nhọn

Các vật thể trong thành phần của chất thải rắn y tế có thể chứa đựng một lượngrất lớn bất kỳ tác nhân vi sinh vật gây bệnh truyền nhiễm nào Các tác nhân gây bệnhnày có thể xâm nhập vào cơ thể người thông qua các cách thức sau:

Qua da (qua một vết thủng, trầy sước hoặc vết cắt trên da)

Qua các niêm mạc (màng nhầy)

Qua đường hô hấp (do xông, hít phải)

Qua đường tiêu hóa

Một mối nguy cơ rất lớn hiện nay đó là virus gây hội chứng suy giảm miễn dịch(HIV) cũng như các virus lây qua đường máu như viêm gan B, C có thể lan truyền racộng đồng qua con đường rác thải y tế Những virus này thường lan truyền qua vếttiêm hoặc các tổn thương do kim tiêm có nhiễm máu người bệnh

Do sự quản lý yếu kém các chất thải y tế tại các cơ sở y tế, một số vi khuẩn đã có

tính đề kháng cao đối với các loại thuốc kháng sinh và các hoá chất sát khuẩn Điềunày đã được minh chứng, chẳng hạn các plasmit từ các động vật thí nghiệm có trong

chất thải y tế đã được truyền cho vi khuẩn gốc qua hệ thống xử lý chất thải Hơn nữa,

vi khuẩn E.Coli kháng thuốc đã cho thấy nó vẫn còn sống trong môi trường bùn hoạttính mặc dù ở đó có vẻ như không phải là môi trường thuận lợi cho loại vi sinh vật này

trong điều kiện thông thường của hệ thống thải bỏ và xử lý rác, nước

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 22

Độ tập trung của các tác nhân gây bệnh và các vật sắc nhọn bị nhiễm các vi sinh

vật gây bệnh (đặc biệt là những mũi kim tiêm qua da) trong rác thải y tế thực sự lànhững mối nguy cơ tiềm ẩn đối với sức khỏe Những vật sắc nhọn trong rác thải y tế

được coi là một loại rác thải rất nguy hiểm bởi nó gây những tổn thương kép: vừa có

khả năng gây tổn thương lại vừa có khả năng lây truyền các bệnh truyền nhiễm

1.1.5.4 Nh ững mối nguy cơ từ loại chất thải hoá chất và dược phẩm

Nhiều loại hoá chất và dược phẩm được sử dụng trong các cơ sở y tế là nhữngmối nguy cơ đe dọa sức khỏe con người (các độc dược, các chất gây độc gen, chất ănmòn, chất dễ cháy, các chất gây phản ứng, gây nổ, gây shock phản vệ…) Các loại chất

này thường chiếm số lượng nhỏ trong chất thải y tế, với số lượng lớn hơn có thể tìm

thấy khi chúng quá hạn, dư thừa hoặc hết tác dụng cần vứt bỏ Những chất này có thểgây nhiễm độc khi tiếp xúc cấp tính và mạn tính, gây ra các tổn thương như bỏng, ngộ

độc Sự nhiễm độc này có thể là kết quả của quá trình hấp thụ hoá chất hoặc dược

phẩm qua da, qua niêm mạc, qua đường hô hấp hoặc đường tiêu hoá Việc tiếp xúc vớicác chất dễ cháy, chất ăn mòn, các hoá chất gây phản ứng (formaldehyd và các chất dễ

bay hơi khác) có thể gây nên những tổn thương tới da, mắt hoặc niêm mạc đường hô

hấp Các tổn thương phổ biến hay gặp nhất là các vết bỏng

Các chất khử trùng là những thành phần đặc biệt quan trọng của nhóm này,

chúng thường được sử dụng với số lượng lớn và thường là những chất ăn mòn Cũng

cần phải lưu ý rằng những loại hoá chất gây phản ứng có thể hình thành nên các hỗnhợp thứ cấp có độc tính cao

Các loại hóa chất diệt côn trùng quá hạn lưu trữ trong các thùng bị rò rỉ hoặc túirách thủng có thể ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến sức khoẻ của bất cứ ai tới gần

và tiếp xúc với chúng Trong những trận mưa lớn, các hóa chất diệt côn trùng bị rò rỉ cóthể thấm sâu vào đất và gây ô nhiễm nước ngầm Sự nhiễm độc có thể xảy ra do tiếp xúctrực tiếp với sản phẩm, do hít phải hơi độc hoặc do uống phải nước hoặc ăn phải thức ăn

đã bị nhiễm độc Các mối nguy cơ khác có thể là các vụ hỏa hoạn hoặc ô nhiễm do việc

xử lý chất thải không đúng cách chẳng hạn như thiêu huỷ hoặc chôn lấp

Các sản phẩm hoá chất được thải thẳng vào hệ thống cống thải có thể gây nên các

ảnh hưởng bất lợi tới hoạt động của hệ thống xử lý nước thải sinh học hoặc gây ảnhTrường Đại học Kinh tế Huế

Trang 23

hưởng độc hại tới hệ sinh thái tự nhiên nhận được sự tưới tiêu bằng nguồn nước này.

Những vấn đề tương tự như vậy cũng có thể bị gây ra do các sản phẩm của quá trìnhbào chế dược phẩm bao gồm các kháng sinh và các loại thuốc khác, do các kim loạinặng như thuỷ ngân, phenol và các dẫn xuất, các chất khử trùng và tẩy uế

1.1.5.5 Nh ững nguy cơ từ chất thải gây độc gen

Đối với các nhân viên y tế chịu trách nhiệm tiếp xúc và xử lý loại chất thải gâyđộc gen, mức độ ảnh hưởng của những mối nguy cơ bị chi phối bởi sự kết hợp giữa

bản chất của chất độc và phạm vi, khoảng thời gian tiếp xúc với chất độc đó Quá trìnhtiếp xúc với các chất độc trong công tác y tế có thể xảy ra trong lúc chuẩn bị hoặctrong quá trình điều trị bằng các thuốc đặc biệt hoặc bằng hóa trị liệu Những phươngthức tiếp xúc chính là hít phải dạng bụi hoặc dạng phun sương qua đường hô hấp; hấpthụ qua da; qua đường tiêu hóa do ăn phải thực phẩm nhiễm thuốc, hóa chất hoặc chấtbẩn có tính độc Việc nhiễm độc qua đường tiêu hóa là kết quả của những thói quenxấu chẳng hạn như dùng miệng để hút ống pipet trong khi định lượng dung dịch Mốinguy hiểm cũng có thể xảy ra khi tiếp xúc với các loại dịch thể và các chất tiết củanhững bệnh nhân đang được điều trị bằng hóa trị liệu

Độc tính đối với tế bào của nhiều loại thuốc chống ung thư là tác động đến các

chu kỳ đặc biệt của tế bào, nhằm vào các quá trình đặc biệt trong nội bào như quá trìnhtổng hợp ADN hoặc phân bào nguyên phân Các thuốc chống ung thư khác, chẳng hạn

như nhóm alkyl hoá, không phải là pha đặc hiệu, chỉ biểu hiện độc tính tại một vàiđiểm trong chu kỳ tế bào Các nghiên cứu thực nghiệm cho thấy nhiều loại thuốc

chống ung thư lại gây nên ung thư và gây đột biến Khối u thứ phát, xảy ra sau khi ung

thư nguyên phát đã bị tiêu diệt, được biết hình thành do sự kết hợp của các công thức

hoá trị liệu

Nhiều loại thuốc có độc tính gây kích thích cao độ và gây nên những hậu quả hủyhoại cục bộ sau khi tiếp xúc trực tiếp với da hoặc mắt Chúng cũng có thể gây chóngmặt, buồn nôn, đau đầu hoặc viêm da

Cần phải đặc biệt cẩn thận trong việc sử dụng và vận chuyển chất thải genotoxic,việc đào thải những chất thải như vậy vào môi trường có thể gây nên những hậu quảsinh thái thảm khốc

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 24

1.1.5.6 Tính nh ạy cảm xã hội

Ngoài việc lo ngại đối với những mối nguy cơ tác động lên sức khoẻ, cộng đồng

thường cũng rất nhạy cảm với những ấn tượng khi nhìn thấy loại chất thải thuộc về

giải phẫu, các bộ phận của cơ thể người bị cắt bỏ như tứ chi, rau thai bào nhi

Đối với một số nền văn hóa, đặc biệt là ở châu Á, những niềm tin tôn giáo và đời

sống tâm linh đòi hỏi các phần của cơ thể phải được trả lại cho gia đình người bệnhtrong những chiếc quan tài nhỏ và được mai táng trong nghĩa địa

1.1.6 Một số phương pháp xử lý chất thải rắn y tế

Mục đích của việc xử lý rác thải y tế là loại bỏ những đặc tính nguy hiểm như lâynhiễm, truyền bệnh để biến chúng thành rác thải thông thường và có thể xử lý giống

như các loại rác phổ thông khác như chôn xuống đất hoặc cho thoát vào hệ thống nước

thải Từng Chính phủ sẽ có quy định cụ thể đối với cách thức xử lý rác thải y tế, các

quy định này phù hợp với hướng dẫn chung về xử lý rác thải y tế của những tổ chức

mang tính toàn cầu như Liên hợp quốc, Tổ chức y tế thế giới

Hiện quả của từng hình thức xử lý rác thải y tế được đo lường qua những chỉ sốkiểm nghiệm chất vi sinh Chỉ số này sử dụng để xác định sự tồn tại của các chất visinh gây hại Một hệ thống xử lý rác thải y tế tốt phải đảm bảo không còn dấu hiệu nàocho thấy còn lượng lớn chất vi sinh chưa được xử lý

Việc áp dụng các phương pháp nào còn phụ thuộc nhiều vào các yếu tố như hoàncảnh, điều kiện kinh tế, xã hội, môi trường… của các quốc gia, địa phương và các cơ

sở y tế Dưới đây là một số phương pháp xử lý rác thải y tế:

1.1.6.1 Ti ệt trùng bằng hóa chất

Xử lý rác thải y tế bằng hóa chất tức là sử dụng hóa chất để loại bỏ sự độc hạicủa rác thải y tế, biến chúng thành rác thải thông thường Hóa chất được kết hợp với

nước nóng để khử trùng Các loại hóa chất hay sự dụng là Chlorine, khí Ozone,

Formaldehyde, Ethylene, khí oxit, khí propylene oxide và axít periacetic Công nghệnày cho phép xử lý triệt để một số loại rác thải, tuy nhiên nó vẫn tạo ra những hiệu ứngphụ đối với phần rác thải sau xử lý Vì vậy việc sử dụng cách thức tiệt trùng bằng hóachất ít được sử dụng trong các bệnh viện do các loại rác thải y tế rất đa dạng dẫn tới

khó đảm bảo rác thải sau xử lý hoàn toàn đã tiệt trùng

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 25

sóng được đánh giá không phù hợp với một số loại rác thải chứa hóa chất do tạo ra

những tác động phụ có thể ảnh hưởng tới sức khỏe của người tham gia vào quy trình

xử lý rác thải

1.1.6.3 Phương pháp chôn lấp chất thải rắn y tế

Trong hầu hết các cơ sở y tế nhỏ lẻ thì chất thải y tế được chôn lấp tại bãi cônghay chôn lấp trong khu đât của một số bệnh viện Trường hợp chôn lấp trong bệnhviện, chất thải được chôn vào trong các hố đào và lấp đất lên, nhiều khi lớp đất phủ lênquá mỏng không đảm bảo vệ sinh

Tại các bệnh viện không có lò đốt tại chỗ, bào thai, nhau thai và bộ phận cơ thể

bị cắt bỏ sau phẫu thuật được thu gom để đem chôn trong khu đất của bệnh viện hoặcchôn trong nghỉa trang của địa phương Nhiều bệnh viện hiện nay gặp khó khăn trongviệc tìm kiếm diện tích đất để chôn

Vật sắc nhọn được chôn lấp cùng với các chất thải y tế khác tại khu đất bệnh việnhay tại các bãi rác công cộng, dễ gây rủi ra cho nhân viên thu gom, vận chuyển chấtthải và cộng đồng

Hiện tại, còn một số bệnh viện chất thải nhiễm khuẩn nhóm A vẫn được trộn lẫnvới chất thải sinh hoạt mà không được xử lý đặc biệt gì trước khi tiêu hủy và được thải

ra bãi rác, gây ô nhiễm nghiêm trọng cho môi trường

1.1.6.4 Phương pháp thiêu đốt chất thải rắn y tế

Phương pháp thiêu đốt là một kỹ thuật được áp dụng khi một lượng lớn các chất

thải nguy hại cần được tiêu hủy Phương pháp này đảm bảo khả năng phân hủy chấtthải có hiệu quả cao đối với hầu hết các chất thải hữu cơ và lượng khí thải sinh ra với

lượng nhỏ có thể kiểm soát được

Đốt chất thải là quá trình oxy hóa chất thải bằng oxy của không khí ở nhiệt độ

cao Bằng cách đốt chất thải nguy hại ta có thể giảm thể tích của nó đến 80 - 90% Nếu

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 26

nhiệt độ lò đốt < 8000C dioxin và furan sẽ hình thành Nhiệt độ lò đốt từ 900 - 12000Chợp chất PCB là hợp chất hữu cơ chứa Cl sẽ cháy hết Sản phẩm cuối cùng của quátrình đốt phải là các chất không nguy hại như H2O, CO2…

Xử lý bằng phương pháp đốt có ý nghĩa quan trọng là làm giảm tới mức nhỏ nhấtchất thải cho khâu xử lý cuối cùng, nếu xử lý bằng công nghệ tiên tiến còn có tác dụngbảo vệ môi trường Đây là phương pháp xử lý tốn kém nhất, so với phương pháp chônlấp hợp vệ sinh thì chi phí đốt 1 tấn rác cao hơn khoảng 10 lần Tuy nhiên, đốt rác y tếgồm nhiều chất khác nhau sinh khói độc và dễ sinh dioxin nếu giải quyết việc xử lýkhông tốt

Năng lượng phát sinh có thể tận dụng cho các lò hơi, lò sưởi hoặc các công

nghiệp cần nhiệt và phát điện Mỗi lò đốt cần được trang bị một hệ thống xử lý khí thảirất tốn kém nhằm khống chế ô nhiễm không khí do quá trình đốt có thể gây ra

Công nghệ đốt có ưu điểm:

Loại trừ các chất độc hại có thể gây bệnh ung thư, một số chất thải có các mầmbệnh mà chúng có thể gây ra các bệnh truyền nhiễm, các chất thải có hoạt tính sinhhọc có khả năng gây ra những tác động bất lợi đến quá trình xử lý khác

Công nghệ này cho phép xử lý được toàn bộ chất thải mà không cần sử dụngnhiều diện tích đất để chôn lấp rác

Một lượng lớn nhiệt lượng sinh ra có thể sử dụng cho các mục đích khác

Nhược điểm của phương pháp này là:

Vận hành dây chuyền phức tạp, đòi hỏi năng lực kỹ thuật và tay nghề cao

Giá thành đầu tư lớn, chi phí tiêu hao năng lượng và chi phí xử lý cao

Những tiềm năng tác động lên môi trường và con người có thể xảy ra…

Một số chất ô nhiễm không khí có thể hình thành trong quá trình đốt như: HCl,

SO2,CO2, CO, NOx, kim loại nặng và bụi có thể gây ra các tác động bất lợi

1.2 CƠ SỞ THỰC TIẾN

1.2.1 Thực trạng quản lý chất thải rắn y tế trên thế giới

Nghiên cứu về CTRYT đã được tiến hành tại nhiều nước trên thế giới, đặc biệt ở

các nước phát triển như Anh, Mỹ, Nhật, Canada Các nghiên cứu đã quan tâm đếnTrường Đại học Kinh tế Huế

Trang 27

nhiều lĩnh vực như tình hình phát sinh; phân loại CTRYT; quản lý CTRYT (biện pháplàm giảm thiểu chất thải, tái sử dụng , xử lý, đánh giá hiệu quả của các biện pháp xử lýchất thải ); tác hại của CTRYT đối với môi trường, sức khoẻ; biện pháp làm giảm táchại của CTRYT đối với sức khỏe cộng đồng, sự đe dọa của chất thải nhiễm khuẩn tớisức khỏe cộng đồng, những vấn đề liên quan của y tế công cộng với CTRYT; tổn

thương nhiễm khuẩn ở y tá, hộ lý và người thu gom rác; nhiễm khuẩn bệnh viện,

nhiễm khuẩn ngoài bệnh viện đối với người thu nhặt rác, vệ sinh viên và cộng đồng;

người phơi nhiễm với HIV, HBV, HCV ở nhân viên y tế [12]

1.2.1.1 Th ực trạng phát sinh chất thải rắn y tế

Bảng 2: Số lượng rác thải y tế phát sinh theo tuyến bệnh viện

(Nguồn: Hội thảo quản lý môi trường trong ngành y tế 5-6/03/2002).

Khối lượng CTRYT phát sinh thay đổi theo khu vực địa lý, theo mùa và phụthuộc vào các yếu tố khách quan như: cơ cấu bệnh tật, dịch bệnh, loại, quy mô bệnhviện, phương pháp và thói quen của nhân viên y tế trong việc khám, chữa bệnh và

chăm sóc bệnh nhân và thải rác của bệnh nhân ở các khoa phòng

1.2.1.2 Phân lo ại chất thải y tế

Theo khuyến cáo của Tổ chức Y tế thế giới (1992), ở các nước đang phát triển cóthể phân loại CTYT thành các loại sau: Chất thải không độc hại (chất thải sinh hoạtgồm chất thải không bị nhiễm các yếu tố nguy hại); chất thải sắc nhọn (truyền nhiễmhay không truyền nhiễm); chất thải nhiễm khuẩn (khác với các vật sắc nhọn nhiễmkhuẩn); chất thải hoá học và dược phẩm (không kể các loại thuốc độc đối với tế bào);chất thải nguy hiểm khác (chất thải phóng xạ, các thuốc độc tế bào, các bình chứa khí

có áp suất cao) [12]

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 28

Ở Mỹ phân loại chất thải y tế thành 8 loại: Chất thải cách ly (chất thải có khảnăng truyền nhiễm mạnh); Những nuôi cấy và dự trữ các tác nhân truyền nhiễm và chế

phẩm sinh học liên quan; Những vật sắc nhọn được dùng trong điều trị, nghiên cứu ;Máu và các sản phẩm của máu; Chất thải động vật (xác động vật, các phần của cơthể ); Các vật sắc nhọn không sử dụng; Các chất thải gây độc tế bào; Chất thải phóng

xạ [12]

1.2.1.3 Qu ản lý xử lý chất rắn thải y tế

Theo Tổ chức Y tế thế giới, có 18 - 64% cơ sở y tế chưa có biện pháp xử lý chấtthải đúng cách Tại các cơ sở Y tế 12,5% công nhân xử lý chất thải bị tổn thương do

kim đâm xảy ra trong quá trình xử lý CTRYT Tổn thương này cũng là nguồn phơi

nhiễm nghề nghiệp, với máu phổ biến nhất do dùng hai tay tháo lắp kim và thu gomtiêu huỷ vật sắc nhọn Có khoảng 50% số bệnh viện trong diện điều tra vận chuyểnCTRYT đi qua khu vực bệnh nhân và không đựng trong xe thùng có nắp đậy [14]

Ở các nước phát triển đã có công nghệ xử lý CTRYT đáng tin cậy như đốt rác

bằng lò vi sóng, tuy nhiên đây không phải là biện pháp hữu hiệu được áp dụng ở các

nước đang phát triển, vì vậy, các nhà khoa học ở các nước Châu Á đã tìm ra một sốphương pháp xử lý chất thải khác để thay thế như Philippin đã áp dụng phương pháp

xử lý rác bằng các thùng rác có nắp đậy; Nhật Bản đã khắc phục vấn đề khí thải độchại thoát ra từ các thùng đựng rác có nắp kín bằng việc gắn vào các thùng có nhữngthiết bị cọ rửa; Indonexia chủ trương nâng cao nhận thức trước hết cho các bệnh viện

về mối nguy hại của CTRYT gây ra để bệnh viện có biện pháp lựa chọn phù hợp

1.2.2 Thực trạng quản lý chất thải rắn y tế ở Việt Nam

1.2.2.1 Tình hình chung

Phần lớn các bệnh viện ở Việt Nam được xây dựng trong giai đoạn đất nước cònnghèo, lại mới trải qua chiến tranh, nhận thức về vấn đề môi trường chưa cao nên cácbệnh viện đều không có hệ thống xử lý chất thải nghiêm túc, đúng quy trình kỹ thuật

Cơ sở vật chất kỹ thuật để xử lý triệt để các loại chất thải độc hại còn bị thiếu thốn

nghiêm trọng Bên cạnh đó công tác quản lý còn lỏng lẻo và chưa có quy trình xử lýtriệt để

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 29

Kết quả điều tra năm 2002 của Bộ Y tế tại 294 bệnh viện trong cả nước cho thấy94,2% bệnh viện phân loại CTRYT tại nguồn phát sinh, chỉ có 5,8% bệnh viện chưathực hiện Các bệnh viện tuyến Trung ương, tuyến Tỉnh, bệnh viện tư nhân thực hiệnphân loại CTRYT ngay tại nguồn tốt hơn các bệnh viện tuyến huyện và bệnh việnngành Có 93,9% bệnh viện thực hiện tách riêng vật sắc nhọn ra khỏi CTRYT, hầu hếtcác bệnh viện sử dụng chai nhựa, lọ truyền đã dùng để đựng kim tiêm Nhưng quakiểm tra thực tế, việc phân loại CTRYT ở một số bệnh viện chưa chính xác, làm giảmhiệu quả của việc phân loại chất thải 85% bệnh viện sử dụng mã màu trong việc phânloại, thu gom và vận chuyển chất thải [19].

Kết quả thanh tra, kiểm tra của Bộ Y tế (2004) về CTRYT ở 175 bệnh viện tại 14Tỉnh thành cho thấy số bệnh viện có thùng chứa chất thải chiếm 76%, có bể chứa rácchiếm 9,6%, có nắp đậy thùng rác hoặc mái che bể chứa rác chiếm 43%, rác được đểriêng biệt chiếm 19,3% trong tổng số bệnh viện, nơi chứa rác thải đảm bảo vệ sinhchiếm 35,5%; 29% bệnh viện chôn CTRYT trong bệnh viện; có 3,2% bệnh viện vừachôn, vừa đốt trong bệnh viện Hầu hết các CTRYT trong bệnh viện đều không được

xử lý trước khi đem đốt hoặc chôn Một số ít bệnh viện có lò đốt CTRYT nhưng lạiquá cũ kỹ và gây ô nhiễm môi trường [12]

Kết quả kiểm tra của Bộ Y tế (2007) tại 4 bệnh viện Hà Nội, Bệnh viện Lao vàbệnh viện phổi Trung ương được đánh gía là bệnh viện quản lý rác thải tốt nhất trong 4bệnh viện được kiểm tra nhưng Đoàn kiểm tra đã phát hiện trong buồng bệnh chỉ có

thùng đựng rác sinh hoạt thiếu thùng chứa đờm của bệnh nhân Ở Bệnh viện Việt Đức

tất cả rác thải đều chứa chung trong một loại túi đựng rác màu vàng [13]

Theo báo cáo của Bộ Y tế (2009), tỷ lệ bệnh viện thực hiện phân loại CTRYT là

95,6% và thu gom hàng ngày là 90,9% Phương tiện thu gom CTRYT như túi, thùngđựng chất thải, xe đẩy rác, nhà chứa rác còn thiếu và chưa đồng bộ, hầu hết chưa đạt

tiêu chuẩn theo yêu cầu của Quy chế quản lý CTYT Chỉ có khoảng 50% các bệnhviện trên phân loại, thu gom đạt yêu cầu theo quy chế [14]

1.2.2.2 Lượng chất thải phát sinh

Theo kết quả khảo sát của Vụ Điều trị - Bộ Y tế tại 24 bệnh viện năm 1998, chothấy tỷ lệ phát sinh chất thải y tế theo từng tuyến, loại bệnh viện, cơ sở y tế rất khác

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 30

nhau Trong cùng một bệnh viện, các khoa khác nhau sẽ có lượng chất thải rắn y tếphát sinh khác nhau, trong một bệnh viện đa khoa, khoa hồi sức cấp cứu, khoa sản,khoa ngoại có lượng CTRYT phát sinh lớn nhất [12].

Bảng 3: Chất thải rắn y tế phát sinh theo giường bệnh tại Việt Nam

Tuyến bệnh viện Đơn vị Tổng lượng

CTRYT CTRYT nguy hại

- Bệnh viện trung ương (kg/GB) 0,97 0,16

Hình thức xử lý chất thải rắn trong bệnh viện ở nước ta rất đa dạng, phụ thuộc

vào quy mô, điều kiện của từng bệnh viện

Theo báo cáo diễn biến môi trường Việt Nam (2004) Việt Nam đã xây dựng

được 43 lò đốt CTRYT hiện đại, nâng công suất xử lý lên 28.840 kg/ngày Công suất

thiết kế của một lò đốt khoảng 40kg/h - 50 kg/h Tuy nhiên đại đa số các lò đốt chưa

sử dụng hết công suất, khi so sánh tổng công suất của các lò đốt với lượng CTRYTphát sinh cho thấy các lò đốt được lắp đặt đã đáp ứng đủ khối lượng phát sinh tại thời

điểm Qua đó đã chứng tỏ rằng vẫn còn một khối lượng lớn CTRYT phát sinh chưađược thu gom và xử lý đúng cách [10]

Thiêu đốt CTRYT bằng lò thủ công hoặc đốt ngoài trời: Hiện nay, phần lớn các

bệnh viện trong cả nước, nhất là bệnh viện tuyến Tỉnh và tuyến Huyện thiêu đốtCTRYT bằng các lò đốt thủ công không có hệ thống xử lý khí thải hoặc đốt ngoài trời.Nghiên cứu 6 bệnh viện tuyến tỉnh năm 2003 cho thấy: chỉ có 2/6 bệnh viện xử lý rácbằng lò đốt chuyên dụng, còn 4/6 bệnh viện chôn lấp hoặc sử dụng lò đốt thủ công vàtuyến huyện là 97/201 lò đốt Tuy nhiên chỉ có 197 lò đốt 2 buồng, còn lại là lò thủcông [2]

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 31

Chôn lấp chất thải rắn y tế: Theo báo cáo của Bộ Y tế (2009), đến năm 2006 cả

nước vẫn còn 26,7% bệnh viện đang thực hiện chôn lấp CTRYT hoặc đốt thủ công

ngoài trời, chủ yếu tập trung ở các bệnh viện tuyến huyện và một số bệnh viện tuyếntỉnh [13]

Ngày 15/11/2011 Thủ tướng Chính phủ hành Quyết định số 2038/QĐ-TTg phêduyệt đề án tổng thể xử lý chất thải y tế giai đoạn 2011 - 2015 và định hướng đến năm

2020 Mục tiêu cụ thể đến năm 2015 đối với chất thải rắn là: 100% các cơ sở y tếtuyến Trung ương và tuyến tỉnh, 70% các cơ sở y tế tuyến huyện và 100% các cơ sở y

tế tư nhân thực hiện xử lý chất thải rắn bảo đảm tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật quốcgia về môi trường Trong đó đến hết năm 2012, 100% các cơ sở y tế gây ô nhiễm môi

trường nghiêm trọng thực hiện xử lý chất thải rắn bảo đảm tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ

thuật quốc gia về môi trường; 30% các cơ sở y tế còn lại ở tuyến huyện và 100% cáctrạm y tế, chất thải rắn nguy hại tại các cơ sở này được xử lý ban đầu trước khi thải ra

môi trường [8]

Tiếp theo quyết định trên là ngày 8/02/2012, Thủ tướng Chính phủ đã ban hànhQuyết định số 170/QĐ-TTg phê duyệt Quy hoạch tổng thể hệ thống xử lý chất thải rắn

y tế nguy hại đến năm 2025 [9]

Theo đó, đến năm 2015, 100% lượng chất thải rắn y tế nguy hại tại các cơ sở y tếđược thu gom, phân loại và vận chuyển đến các cơ sở xử lý, trong đó 70% lượng chất

thải rắn y tế nguy hại được xử lý đảm bảo các tiêu chuẩn về môi trường

Giai đoạn đến năm 2025, 100% lượng chất thải rắn y tế nguy hại tại các cơ sở y

tế được thu gom, vận chuyển và xử lý đảm bảo các tiêu chuẩn về môi trường

Dự báo khối lượng chất thải rắn y tế nguy hại phát sinh trên địa bàn cả nước năm

2015 là 50.071 kg/ngày, năm 2025 là 91.991 kg/ngày

Công nghệ xử lý chất thải rắn y tế nguy hại bao gồm công nghệ đốt và không đốt.Việc lựa chọn công nghệ xử lý (đốt hay không đốt) dựa vào các tiêu chí sau: Thànhphần, tính chất chất thải rắn y tế nguy hại; khả năng phân loại, cô lập chất thải rắn y tếtại nguồn thải; khối lượng chất thải rắn y tế nguy hại cần xử lý; vị trí đặt cơ sở xử lýchất thải rắn y tế nguy hại; khả năng tài chính và khả năng quản lý vận hành của từng

địa phương

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 32

Quyết định nêu rõ, trên cơ sở công tác quản lý chất thải rắn y tế nguy hại đề xuất

3 mô hình xử lý chất thải rắn y tế nguy hại gồm: (i) Mô hình xử lý tập trung; (ii) Môhình xử lý theo cụm bệnh viện; (iii) Mô hình xử lý tại các cơ sở y tế

1.2.2.4 Nh ững tồn tại, khó khăn trong việc quản lý chất thải rắn y tế

Hiện nay, chất thải bệnh viện đang trở thành vấn đề môi trường và xã hội cấpbách của nước ta Hiện trạng quản lý và xử lý chất thải rắn bệnh viện kém hiệu quả

đang gây dư luận trong cộng đồng và đặt ra nhiều thách thức đối với nhiều cấp, ngành,đặt biệt là ngành y tế Tuy nhiên giải quyết vấn đề này không phải một sớm một chiều,

vì chúng ta đang đối mặt với rất nhiều khó khăn, bất cập và nhất là thiếu đồng bộ

- Nguồn kinh phí đầu tư cho chất thải y tế lớn Vốn đầu tư cần được huy động từcác nguồn ngân sách nhà nước, hỗ trợ của các tổ chức quốc tế, nguồn giúp đỡ của cácchính phủ và tổ chức phi chính phủ Hiện nay các bệnh viện có lò đốt nhưng kinh phí

để chi trả cho năng lượng để vận hành, xử lý tro, để trả lương cho nhân công còn chưađược quy định sẽ lấy từ đâu Các bệnh viện không thể tự tiện nâng giá khám bệnh để

bù vào chi phí xử lý chất thải của mình Vì vậy có bệnh viện tuy đã trang bị lò đốt rác

y tế nhưng vẫn không vận hành vì không có đủ kinh phí

- Nhận thức về thực hành xử lý chất thải rắn y tế trong cán bộ y tế, nhân viên trựctiếp làm công tác xử lý chất thải bệnh viện vẫn còn chưa cao, làm ảnh hưởng khôngnhỏ đến chất lượng và hiệu quả phân loại, thu gom và vận chuyển, tiêu huỷ chất thải.Một số lãnh đạo bệnh viện chưa thực sự quan tâm đến việc xử lý chất thải Việc tuyêntruyền giáo dục ý thức cộng đồng vẫn chưa sâu rộng, đôi khi dư luận qua báo chí cònlàm dân hoang mang, gây tâm lý quá lo sợ đối với chất thải bệnh viện từ đó gây sức ép

không đáng có đối với các cơ quan quản lý chuyên ngành

- Môi trường thực hiện pháp chế chưa thuận lợi mặc dù đã có luật bảo vệ môi

trường, qui chế quản lý chất thải nguy hại do thủ tướng chính phủ ban hành và qui chế

quản lý chất thải y tế do bộ trưởng bộ y tế ban hành nhưng các văn bản pháp quy này

chưa thực sự thấm sâu vào đới sống Việc thực hiện đúng quy chế quản lý chất thải y

tế mới chỉ có ở một số ít bệnh viện Nhiều nơi chính quyền, lãnh đạo chỉ huy bệnh việnvẫn chưa quan tâm đầu tư kinh phí và phương tiện để thực hiện quy chế

- Các giải pháp về xử lý chất thải chưa đồng bộ, sự phối hợp liên ngành còn kémhiệu quả trong mọi công đoạn xử lý chất thải Nhiều nơi bệnh viện đã phân loại chất

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 33

thải y tế và chất thải sinh hoạt nhưng do Công Ty Công Trình Đô Thị chưa có lò đốt

nên đã từ chối vận chuyển và xử lý chất thải y tế Hiện nay vẫn chưa có quy định cụ

thể trách nhiệm của từng bộ, ngành phối hợp hoạt động trong từng công đoạn quản lýchất thải y tế

1.2.3 Thực trạng quản lý chất thải y tế tại tỉnh Nghệ An

Tỉnh Nghệ An hiện có một bệnh viện Trung ương, 12 bệnh viện tuyến tỉnh, 20bệnh viện đa khoa tuyến huyện, 20 trung tâm y tế và hệ thống các trạm y tế xã,

phường, thị trấn Ngoài ra, còn có 9 bệnh viện tư nhân và hàng trăm cơ sở khám chữa

bệnh tư nhân trên địa bàn toàn tỉnh [3]

Hệ thống cơ sở y tế dày đặc này hàng ngày đã thải ra một lượng rất lớn các chấtthải y tế nguy hại, trong đó Bệnh viện đa khoa huyện Đô Lương trung bình mỗi ngày

có khoảng 50kg rác thải; Bệnh viện đa khoa Quỳnh Lưu 45kg/ngày; Bệnh viện QuỳHợp 35kg/ngày; Bệnh viện Quỳ Châu 30kg/ngày [3]

Riêng trên địa bàn thành phố Vinh là nơi thải ra lượng rác thải nhiều nhất, ước tính

năm 2012 các cơ sở y tế trên địa bàn thành phố Vinh và vùng phụ cận tổng lượng chất

thải rắn y tế phát sinh là 2.293.062 kg, trong đó chất thải rắn nguy hại 573.266 kg Hiệnnay, tỉnh Nghệ An có lò đốt Hoval là lớn nhất, đặt tại Bệnh viện Hữu Nghị ĐK Nghệ

An, công suất đốt 400 - 500 kg/ngày Lò đốt này không chỉ "bao tiêu" cho các bệnhviện, các cơ sở công lập tại TP Vinh, mà còn phục vụ cho các huyện lân cận như HưngNguyên, Nghi Lộc và thị xã Cửa Lò Hằng ngày xe ô tô chuyên dụng của Bệnh việnHữu Nghị Đa Khoa tỉnh Nghệ An đến các cơ sở y tế này để thu gom và chuyển rác y tếnguy hại về xử lý tại lò đốt này Trung bình mỗi ngày thu gom được 300 - 350 kg (vẫn

chưa đạt công suất thiết kế) Hiện nay ở tuyến huyện, các bệnh viện đã có lò đốt riêng là

Kỳ Sơn, Thanh Chương, Nam Ðàn, Diễn Châu, Quỳnh Lưu, Quỳ Châu, bệnh viện ĐK

TP Vinh Ngoài ra, Bệnh viện Lao và bệnh Phổi cũng đã lắp đặt được hệ thống này.Thời gian tới, ba bệnh viện khác là Yên Thành, Ðô Lương và Tân Kỳ cũng sẽ đượctrang bị Như vậy là còn 9 bệnh viện còn lại (tỷ lệ 45%) chưa có lò đốt rác [3]

Dù rác của các bệnh viện này đã được phân loại, thu gom nhưng sau đó chỉ đổ

đống rồi đốt hoặc chôn lấp nên đã gây ô nhiễm rất nặng nề cho môi trường xung

quanh Theo phản ánh của chính các bệnh viện thì do lò đốt của các bệnh viện đượcnhập khẩu nguyên chiếc từ nước ngoài về, cho nên việc thay thế các bộ phận mỗi lúc

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 34

có sự cố lại mất rất nhiều thời gian và kinh phí Mỗi lúc lò đốt bị ngưng trệ, rác không

được thu gom, xử lý kịp thì tình trạng ô nhiễm lại càng nguy hại hơn nhiều

Việc xử lý rác thải y tế còn quá nhiều bất cập bởi nguy cơ lây lan mầm bệnh nếukhông có phương tiện vận chuyển chuyên dụng và nếu chôn lấp có thể gây ô nhiễmnguồn nước Mặt khác, việc xử lý rác thải nguy hại bằng lò thiêu ngoài trời, thủ công

đã và đang gây ra tình trạng ô nhiễm cũng như thải ra rất nhiều chất độc hại ảnh hưởng

tới sức khoẻ người dân như: Furan, và kim loại nặng như chì, cadimi… gây mưa axit,gây hiệu ứng nhà kính, làm ô nhiễm môi trường đất cũng như nước ngầm do tro lò đốt

có chứa kim loại nặng độc hại

Và hiện nay UBND tỉnh Nghệ An giao Sở Y tế Nghệ An làm chủ đầu tư, chủ trìphối hợp với các Sở: Kế hoạch và đầu tư, Tài nguyên và Môi trường, Xây dựng, Khoahọc và Công nghệ, Tài chính để lựa chọn phương án, địa điểm vị trí công nghệ xử lýchất thải rắn y tế nguy hại tập trung, xây dựng và hoàn thiện đề án "Đầu tư xây dựngTrung tâm xử lý chất thải rắn y tế nguy hại tập trung" cho các cơ sở y tế khu vực thànhphố Vinh và các huyện phụ cận, giai đoạn 2012 - 2020 bằng công nghệ vi sóng hiện

đại và tiên tiến nhất, với công suất 2500 – 3000 kg/ngày Công nghệ vi sóng sử dụngnăng lượng vi sóng ở tần số khoảng 2450 MHz để khử khuẩn Kết hợp hơi nước (bão

hoà) ở áp suất thường hoặc áp suất cao làm ẩm tất cả bề mặt chất thải, làm tăng hiệusuất diệt khuẩn, vận hành đơn giản, chi phí đầu tư và vận hành thấp; tăng khả năng táichế chất thải an toàn… Công nghệ không đốt này đang là một xu thế của thế giới vì nókhông thải ra khí độc hại Ưu điểm của công nghệ này là phát huy được hiệu quả cao

đối với các chất thải lây nhiễm, chi phí vận hành thấp, không gây ô nhiễm môi trường

thứ phát, thân thiện với môi trường [3]

Đây là hướng đi mới, một dấu hiệu đáng mừng để tỉnh Nghệ An giải quyết một

số vấn đề khó khăn mà tỉnh gặp phải về xử lý rác thải y tế trong thời gian qua Tuynhiên, đề án trên đang gặp phải rất nhiều khó khăn về vốn, kỹ thuật Để đạt đượcthành công thì cần phải có sự nỗ lực rất lớn của các cấp chính quyền trên địa bàn Tỉnh

và các Cơ sở y tế

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 35

CHƯƠNG 2: HIỆN TRẠNG QUẢN LÝ CHẤT THẢI RẮN Y TẾ TẠI

BỆNH VIỆN ĐA KHOA THÀNH PHỐ VINH

2.1 TỔNG QUAN VỀ BỆNH VIỆN ĐA KHOA THÀNH PHỐ VINH

2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển

Tên bệnh viện: Bệnh viện Đa khoa Thành phố Vinh

Địa chỉ: 178, Trần Phú, Thành Phố Vinh, Nghệ An

Điện thoại: 0383 844 626

Hình 1: Bệnh viện Đa khoa Thành phố Vinh

Bệnh viện Đa khoa Thành phố Vinh được phát triển từ Bệnh viện Vinh thành lậpngày 15/10/1965, tại Hưng Chính, Hưng Nguyên Lúc đầu, Bệnh viện chỉ có 26 cán bộ

y tế với quy mô 50 giường bệnh Năm 1991, Bệnh viện được sát nhập với Bệnh việnVinh, Phòng y tế Thành phố Vinh và Nhà hộ sinh Thành phố thành Trung tâm y tếThành phố Vinh Đến nay, bệnh viện có 220 giường bệnh

Nhiệm vụ: Chăm sóc sức khoẻ ban đầu và khám chữa bệnh cho nhân dân trên địabàn thành phố và các huyện phụ cận

2.1.2 Cơ cấu tổ chức

Tổng số cán bộ y tế và nhân viên lao động vệ sinh bệnh viện là 235 người trong

đó: Thạc sỹ, bác sỹ chuyên khoa I là 25 người, dược sỹ đại học 2 người, bác sỹ 49người và còn lại là y sỹ, y tá, hộ lý

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 36

Sơ đồ 2: Sơ đồ của bệnh viện ĐK TP Vinh, Nghệ An

Nhà

chứa rác

sinh hoạt

HÀM MẶT

Tầng 3

Nhà số 1

Cổng phụ

CỔNG CHÍNH

Tầng 2BAN GIÁM ĐỐC - TỔ CHỨCTÀI CHÍNH KẾ TOÁN KHOA PHẪUTHUẬT-GMHS

Nhà

số 3 Nhà số 4

Nhà số 5

Khu xử

lý chất thải y tế

Nhà số 2 1

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 37

Khóa luận tốt nghiệp đại học GVHD: Th.S Trần Đoàn Thanh Thanh

2.1.3 Hoạt động chuyên môn

Bệnh viện đầu tư các trang thiết bị y tế hiện đại và đồng bộ để góp phần nâng caochất lượng khám chữa bệnh cho người dân Hiện nay, Bệnh viện đa khoa thành phố

Vinh đã áp dụng cải tiến thành công trong phẩu thuật u xơ, phẩu thuật tiền liệt tuyến,

phẩu thuật tiết niệu, gan mật, chấn thương chỉnh hình Đặc biệt, một bước tiến mới

trong điều trị cho bệnh nhân là bệnh viện đã tiến hành phẫu thuật nội soi ổ bụng, sản

khoa, phẫu thuật nội soi tai mũi họng Đồng thời, bệnh viện còn tổ chức khám và

điều trị cho bệnh đái thái đường, bệnh bướu cổ Nhờ sự tâm huyết, nhiệt tình và năng

lực của bác sỹ trẻ, người dân đến khám và điều trị tại bệnh viện đa khoa thành phố

ngày càng tăng Mỗi ngày, bệnh viện tiếp nhận từ 350 - 400 bệnh nhân góp phần giảm

tải cho bệnh viện tuyến Tỉnh

2.1.4 Cơ sở hạ tầng

Cơ sở hạ tầng của BVĐK TP Vinh được xây dựng khá hiện đại với các khoa,

phòng khám và điều trị bệnh được trang bị máy móc, thiết bị y tế đầy đủ Hiện nay,bệnh viện đang thực hiện cải tạo, xây mới và nâng cấp hạ tầng cơ sở nhằm đáp ứngcho nhu cầu khám, chữa bệnh và chăm sóc sức khỏe của người dân Ngoài ra, bệnhviện có khuôn viên rộng và trồng khá nhiều cây xanh nên điều kiện khí hậu ở đây rấttốt, bảo đảm môi trường trong lành cho bệnh nhân phục hồi sức khỏe

Xây mới khối nhà kỹ thuật 3 tầng: Tầng 1: Khoa xét nghiệm; Tầng 2: Khoa gây

mê phẫu thuật và hồi sức cấp cứu; Tầng 3: Đông y

Cải tạo và nâng cấp:

 Nhà số 1: Khoa khám bệnh; Ban Giám đốc; Phòng tài chính kế toán; Phòng

tổ chức cán bộ; Phòng kế hoạch tổng hợp; Phòng điều dưỡng; Phòng hành chính

 Nhà số 2: Khoa Dược; Chẩn đoán hình ảnh

 Nhà số 3: Khoa Ngoại; Khoa Sản

 Nhà số 4: Khoa Mắt; Nhi; Tai - Mũi - Họng; Răng - Hàm - Mặt

 Nhà số 5: Khoa Nội tổng hợp

 Nhà số 6: Khoa Lây; Kiểm soát nhiễm khuẩn

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 38

2.2 TÌNH HÌNH QUẢN LÝ CHẤT THẢI RẮN Y TẾ CỦA BỆNH VIỆN

Xã hội ngày càng phát triển, việc bảo vệ môi trường ngày càng được quan tâm,quản lý chất thải bệnh viện là một trong những khâu quan trọng trong việc bảo vệ môi

trường bệnh viện vì lượng chất thải y tế bênh viện phát sinh hằng ngày rất lớn và chứa

nhiều thành phần nguy hại Do đó đòi hỏi phương thức quản lý bao gồm hệ thống phânloại, thu gom vận chuyển, lưu trữ và xử lý phải đảm bảo ô nhiễm không gia tăng vàkhông gây ô nhiễm môi trường

2.2.1 Khối lượng chất thải rắn phát sinh tại bệnh viện

Bệnh viện ĐK TP Vinh hàng ngày có lưu lượng từ 300 - 400 bệnh nhân điều trịnội trú và khoảng trên 400 người đến khám khoại trú Bên cạnh đó, bệnh viện còn là

cơ sở thực hành của Trường Đại học Y Nghệ An và một số trường trung cấp khác

trong Tỉnh, với lưu lượng sinh viên đến thực tập hàng ngày khá lớn Các dịch vụ y tếcủa bệnh viện đang thải ra một lượng lớn rác thải Điều đó được thể hiện qua bảng sau:

Bảng 4: Khối lượng chất thải rắn phát sinh tại bệnh viện từ năm 2007 - 2011

lượng

chất thảirắn

(Nguồn: Khoa kiểm soát nhiễm khuẩn BVĐK TP Vinh).

Qua bảng 4 ta thấy khối lượng chất thải rắn của bệnh viện từ năm 2007 đến 2011

có xu hướng tăng lên theo số giường bệnh Năm 2007 số giường bệnh là 190, đến năm

2011 con số đó là 220, tăng 30 giường, chiếm 15,8% so với năm 2007 Vì thế mà khối

lượng chất thải rắn của bệnh viện cũng tăng theo, thể hiện là năm 2007 khối lượng

chất thải rắn của bệnh viện là 65.664 kg, mà đến năm 2011con số lên đến 93.487 kg,

tăng 42,4% so với năm 2007 Như vậy ta thấy tốc độ tăng của số lượng chất thải rắnTrường Đại học Kinh tế Huế

Trang 39

tăng nhanh hơn so với số giường bệnh Điều này chứng tỏ khối lượng chất thải rắn của

bệnh viện không chỉ phụ thuộc vào số giường bệnh mà còn phụ thuộc vào các yếu tốkhác nữa

Khối lượng chất thải rắn thay đổi theo từng khu vực, theo mùa và phụ thuộc vàonhiều yếu tố khách quan như quy mô bệnh viện, điều kiện kinh tế địa phương, lưu

lượng bệnh nhân, phương pháp, thói quen của nhân viên y tế trong khám chữa bệnh

Bảng 4 cũng cho thấy, tổng lượng chất thải rắn y tế/ngày của bệnh viện gia tăng theo

số tăng giường bệnh Lượng chất thải y tế/GB/ngày tại Bệnh viện ĐK TP Vinh (năm

2011 là 1,18kg/GB/ngày) cao hơn một số kết quả nghiên cứu trước đây ở trong nướcnhư Bộ Y tế (2006), thì là 1kg/GB/ngày Tuy nhiên theo nghiên cứu Tổ chức y tế Thế

giới (1994) thì lượng phát sinh rác thải của bệnh viện ĐK TP Vinh là hợp lý (0,5 1,8kg/GB/ngày)

-2.2.2 Hệ thống quản lý hành chính trong quản lý chất thải y tế của bệnh viện

Hệ thống quản lý hành chính trong công tác quản lý chất thải BVĐK TP Vinhbao gồm sự phối hợp của các phòng ban trong bệnh viện, gồm ban lãnh đạo bệnh viện,khoa kiểm soát nhiễm khuẩn, và tất cả các khoa phòng trong bệnh viện Trong đó,khoa chống nhiễm khuẩn chịu trách nhiệm chính trong việc theo dõi, giám sát, điều traviệc thực hiện quy chế quản lý chất thải, vệ sinh môi trường và quy chế xử lý chất thảicủa bệnh viện

Cơ cấu tổ chức của khoa kiểm soát nhiễm khuẩn (KSNK)

Khoa kiểm soát nhiễm khuẩn được thành lập nhằm quản lý tất cả các hoạt độngtrong bệnh viện, bao gồm kiểm soát nhiễm khuẩn, ngăn ngừa ô nhiễm, quy trình thựchành tiệt khuẩn, khử khuẩn, quy trình vệ sinh, công tác xử lý chất thải, quản lý đồvải… để thực hiện mục tiêu bảo vệ môi trường, nâng cao chất lượng điều trị cho bệnhnhân, an toàn cho nhân viên y tế

Nhiệm vụ của khoa KSNK

- Chịu trách nhiệm chung trước Ban giám đốc về mọi hoạt động của khoa, xâydựng kế hoạch và điều hành công tác trong khoa

- Tham gia xây dựng quy trình kiểm soát nhiễm khuẩn của khoa

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 40

- Kiểm tra, đôn đốc cán bộ, hộ lý thực hiện tốt quy chế bệnh viện, báo cáo kịpthời với Giám đốc những đột xuất xảy ra ở các khoa.

- Đề xuất mua sắm trang thiết bị hóa chất, vật tư tiêu hao, hóa chất phục công táckiểm soát nhiễm khuẩn trong toàn đơn vị

- Hướng dẫn và kiểm tra việc ghi sổ sách việc mua sắm dụng cụ bằng kim loại và

đồ vải phục vu chăm sóc bệnh nhân

- Chỉ đạo, giám sát, phát hiện và đề xuất giải pháp can thiệp kịp thời những

trường hợp nhiễm khuẩn liên quan đến công tác y tế

- Kiểm tra, theo dõi, quản lý phân loại rác thải

- Lên kế hoạch tập huấn cho cán bộ về chuyen môn và công tác phòng chốngnhiễm khuẩn, phân loại rác thải

- Sẵn sàng có mặt kịp thời để trả lời những thắc mắc về kiểm soát nhiễm khuẩncho các khoa phòng và phát hiện những điểm yếu hoặc không an toàn trong các biệnpháp phòng chống nhiễm khuẩn mà các khoa phòng đang áp dụng

- Giám sát nhân viên thực hiện tốt quá trình tiêu hủy rác thải y tế nguy hại

- Phối hợp các khoa, phòng có liên quan đánh giá hiệu quả việc thực hiện các kỹthuật chuyên môn kiễm soát nhiễm khuẩn

- Định kỳ sơ kết công tác kiểm soát nhiễm khuẩn trình lên ban giám đốc

2.2.3 Quy trình kỹ thuật quản lý chất thải rắn y tế của Bệnh viện

Sơ đồ 3: Quy trình quản lý chất thải rắn trong bệnh viện từ nguồn phát sinh đến xử lý

Chất thảirắn Phân loại Thu gom

Vậnchuyển

Nhà chứarác sinhhoạt

Nhà chứarác nguyhại

Công ty môi

trường đô

thị Vinh

ĐốtTrường Đại học Kinh tế Huế

Ngày đăng: 19/10/2016, 22:27

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Hoàng Thị Liên (2009), Nghiên cứu thực trạng và một số yếu tố liên quan đến quản lý chất thải y tế tại bệnh viện đa khoa Trung ương Thái Nguyên, Luận văn thạc sỹ y học, Đại học y Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu thực trạng và một sốyếu tố liên quan đếnquản lý chất thải y tế tại bệnh viện đa khoa Trung ương Thái Nguyên
Tác giả: Hoàng Thị Liên
Năm: 2009
2. Phạm Ngọc Đăng (2004), Quản lý môi trường đô thị và khu công nghiệp, Nhà xuất bản Xây dựng, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: (2004), Quản lý môi trường đô thịvà khu công nghiệp
Tác giả: Phạm Ngọc Đăng
Nhà XB: Nhàxuất bản Xây dựng
Năm: 2004
3. Xuân Tiến (2011), Thực trạng quản lý chất thải rắn y tế Nghệ An, Trường Đại học Y Nghệ An, Nghệ An Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng quản lý chất thải rắn y tếNghệAn
Tác giả: Xuân Tiến
Năm: 2011
4. Bộ Y tế (2008), "Quy chế quản lý chất thải y tế", Quyết định số 43/2007/QĐ- BYT/BYT-KCB ngày 10/10/2008, Bộ Y tế, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy chếquản lý chất thải y tế
Tác giả: Bộ Y tế
Năm: 2008
5. Bộ Y Tế (2010), Dự thảo báo cáo quản lý các nguy cơ môi trường của dự án hỗ trợ xử lý chất thải bệnh viện nguồn vay ngân hàng thế giới, Quyết định số 4448 /QĐ-BYT ngày 18/11/20110, Bộ Y Tế, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dựthảo báo cáo quản lý các nguy cơ môi trường của dựánhỗ trợ xử lý chất thải bệnh viện nguồn vay ngân hàng thế giới
Tác giả: Bộ Y Tế
Năm: 2010
7. Sở Y tế Hà Nội (1998), Báo cáo hội thảo quản lý chất thải y tế Hà Nội, 1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo hội thảo quản lý chất thải y tếHà Nội
Tác giả: Sở Y tế Hà Nội
Năm: 1998
8. Bộ Y Tế (2011), Phê duyệt đề án tổng thể chất thải y tế giai đoạn 2012-2015 và định hướng đến năm 2020, Quyết định số 2038/QĐ-TTg, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phê duyệt đề án tổng thểchất thải y tế giai đoạn 2012-2015và định hướng đến năm 2020, Quyết định số 2038/QĐ-TTg
Tác giả: Bộ Y Tế
Năm: 2011
9. Bộ Y Tế, (2012), Quyết định số 170/QĐ-TTg phê duyệt Quy hoạch tổng thể hệ thống xử lý chất thải rắn y tế nguy hại đến năm 2025, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 170/QĐ-TTg phê duyệt Quy hoạch tổng thểhệthống xửlý chất thải rắn y tếnguy hại đến năm 2025
Tác giả: Bộ Y Tế
Năm: 2012
10. Bộ Tài nguyên và Môi trường (2004), Chất thải rắn - Báo cáo diễn biến môi trường Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chất thải rắn - Báo cáo diễn biến môitrường Việt Nam
Tác giả: Bộ Tài nguyên và Môi trường
Năm: 2004
11. Bộ Y tế (2010), Báo cáo Hội nghị "Tổng kết ngành y tế năm 2009 và triển khai công tác y tế năm 2010", Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổng kết ngành y tế năm 2009 và triểnkhai công tác y tế năm 2010
Tác giả: Bộ Y tế
Năm: 2010
12. Bộ Y tế (2006), Sức khỏe môi trường, Nhà xuất bản Y học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sức khỏe môi trường
Tác giả: Bộ Y tế
Nhà XB: Nhà xuất bản Y học
Năm: 2006
13. Bộ Y tế (2009), Vệ sinh môi trường Dịch tễ (tập I), Nhà xuất bản Y học, Hà Nội.Trường Đại học Kinh tế Huế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vệ sinh môi trường Dịch tễ(tập I)
Tác giả: Bộ Y tế
Nhà XB: Nhà xuất bản Y học
Năm: 2009
6. Bộ Y Tế (2006), Quyết định số 33/2006/QĐ-BYT ngày 24 tháng 10 năm 2006 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ 1: Hoạt động khám và điều trị của bệnh nhân - Thực trạng quản lý chất thải rắn y tế tại bệnh viện đa khoa thành phố vinh, nghệ an
Sơ đồ 1 Hoạt động khám và điều trị của bệnh nhân (Trang 18)
Hình 1: Bệnh viện Đa khoa Thành phố Vinh - Thực trạng quản lý chất thải rắn y tế tại bệnh viện đa khoa thành phố vinh, nghệ an
Hình 1 Bệnh viện Đa khoa Thành phố Vinh (Trang 35)
Sơ đồ 2: Sơ đồ của bệnh viện ĐK TP Vinh, Nghệ An - Thực trạng quản lý chất thải rắn y tế tại bệnh viện đa khoa thành phố vinh, nghệ an
Sơ đồ 2 Sơ đồ của bệnh viện ĐK TP Vinh, Nghệ An (Trang 36)
Bảng 4: Khối lượng chất thải rắn phát sinh tại bệnh viện từ năm 2007 - 2011 - Thực trạng quản lý chất thải rắn y tế tại bệnh viện đa khoa thành phố vinh, nghệ an
Bảng 4 Khối lượng chất thải rắn phát sinh tại bệnh viện từ năm 2007 - 2011 (Trang 38)
Sơ đồ 3: Quy trình quản lý chất thải rắn trong bệnh viện từ nguồn phát sinh đến xử lý - Thực trạng quản lý chất thải rắn y tế tại bệnh viện đa khoa thành phố vinh, nghệ an
Sơ đồ 3 Quy trình quản lý chất thải rắn trong bệnh viện từ nguồn phát sinh đến xử lý (Trang 40)
Bảng 5: Phân loại chất thải và xác định nguồn thải tại BVĐK TP Vinh - Thực trạng quản lý chất thải rắn y tế tại bệnh viện đa khoa thành phố vinh, nghệ an
Bảng 5 Phân loại chất thải và xác định nguồn thải tại BVĐK TP Vinh (Trang 41)
Hình 4: Đựng các vật sắc nhọn - Thực trạng quản lý chất thải rắn y tế tại bệnh viện đa khoa thành phố vinh, nghệ an
Hình 4 Đựng các vật sắc nhọn (Trang 43)
Hình 7: Công nhân vận hành lò đốt Chuwastar ở BVĐK TP Vinh - Thực trạng quản lý chất thải rắn y tế tại bệnh viện đa khoa thành phố vinh, nghệ an
Hình 7 Công nhân vận hành lò đốt Chuwastar ở BVĐK TP Vinh (Trang 46)
Bảng 7: Thông tin chung về mẫu điều tra - Thực trạng quản lý chất thải rắn y tế tại bệnh viện đa khoa thành phố vinh, nghệ an
Bảng 7 Thông tin chung về mẫu điều tra (Trang 51)
Bảng 8: Đánh giá về tầm quan trọng của việc phân loại rác thải tại nguồn - Thực trạng quản lý chất thải rắn y tế tại bệnh viện đa khoa thành phố vinh, nghệ an
Bảng 8 Đánh giá về tầm quan trọng của việc phân loại rác thải tại nguồn (Trang 52)
Bảng 9: Liên quan giữa kiến thức, thái độ của bệnh nhân với thực hành bỏ rác - Thực trạng quản lý chất thải rắn y tế tại bệnh viện đa khoa thành phố vinh, nghệ an
Bảng 9 Liên quan giữa kiến thức, thái độ của bệnh nhân với thực hành bỏ rác (Trang 52)
Bảng 13: Ảnh hưởng của việc đốt rác tại bệnh viện đến các đối tượng điều tra. - Thực trạng quản lý chất thải rắn y tế tại bệnh viện đa khoa thành phố vinh, nghệ an
Bảng 13 Ảnh hưởng của việc đốt rác tại bệnh viện đến các đối tượng điều tra (Trang 58)
Bảng 15: Tỷ lệ cán bộ và nhân viên bệnh viện bị thương tích do chất thải y tế - Thực trạng quản lý chất thải rắn y tế tại bệnh viện đa khoa thành phố vinh, nghệ an
Bảng 15 Tỷ lệ cán bộ và nhân viên bệnh viện bị thương tích do chất thải y tế (Trang 60)
Bảng 18: Dự báo tải lượng chất thải rắn y tế - Thực trạng quản lý chất thải rắn y tế tại bệnh viện đa khoa thành phố vinh, nghệ an
Bảng 18 Dự báo tải lượng chất thải rắn y tế (Trang 64)
Bảng hỏi số 1: - Thực trạng quản lý chất thải rắn y tế tại bệnh viện đa khoa thành phố vinh, nghệ an
Bảng h ỏi số 1: (Trang 74)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w