+ Phân tích kết quả, hiệu quả kinh tế nuôi gà thịt của các hộ chăn nuôi theo haihình thức CN và BCN ở thị xã Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên Huế.. + Thông qua hàm sản xuất Cobb - Douglas đã
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ KHOA KINH TẾ VÀ PHÁT TRIỂN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
SO SÁNH HIỆU QUẢ KINH TẾ NUÔI GÀ THỊT THEO HÌNH THỨC CÔNG NGHIỆP VÀ BÁN CÔNG NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN
THỊ XÃ HƯƠNG THỦY, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
NGUYỄN THÙY DUNG
KHÓA HỌC 2008 - 2012
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ KHOA KINH TẾ VÀ PHÁT TRIỂN
- -KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
SO SÁNH HIỆU QUẢ KINH TẾ NUÔI GÀ THỊT THEO HÌNH THỨC CÔNG NGHIỆP VÀ BÁN CÔNG NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN
THỊ XÃ HƯƠNG THỦY, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
Sinh viên thực hiện Nguyễn Thùy Dung Lớp: K42A-KTNN
Giảng viên hướng dẫn Th.S Nguyễn Lê Hiệp
Huế, 05/2012
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 3lực của bản thân tôi còn nhận được sự giúp đỡ của các tổ chức và cá nhân Tôi xin chân thành cảm ơn:
- Quý thầy cô giáo khoa Kinh tế & Phát triển đã giảng dạy, cung cấp cho tôi những kiến thức trong suốt 4 năm học qua, tạo điều kiện cho tôi học tập và nghiên cứu Đặc biệt tôi xin được gửi lời cảm
ơn sâu sắc đến thầy giáo-Th.S Nguyễn Lê Hiệp đã định hướng và trực tiếp hướng dẫn tôi hoàn thành khoá luận tốt nghiệp này.
- UBND thị xã Hương Thủy, phòng kinh tế UBND thị xã Hương Thủy đã tạo điều kiện cho tôi thu thập một số thông tin thứ cấp và sơ cấp phục vụ cho khóa luận tốt nghiệp.
- Gia đình anh Trần Việt Quang đã tạo điều kiện cho tôi giúp đỡ, hướng dẫn tôi đi lại trong thời gian thực tập tại địa phương.
- Gia đình, bạn bè tôi đã động viên tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu để tôi hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này.
Do kiến thức và kinh nghiệm của bản thân còn nhiều hạn chế nên đề tài không tránh khỏi những sai sót, kính mong quý thầy cô giáo đóng góp ý kiến để khoá luận được hoàn chỉnh hơn.
Xin chân thành cảm ơn!
Huế, tháng 05/2012 Sinh viên thực hiện
Nguyễn Thùy Dung
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 4PHẦN I ĐẶT VẤN ĐỀ 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 3
3 Phương pháp nghiên cứu 3
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5
PHẦN II NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 6
CHƯƠNG I TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 6
1.1 Cơ sở lý luận đánh giá hiệu quả kinh tế nuôi gà thịt 6
1.1.1 Tổng quan về các vấn đề chăn nuôi gà thịt 6
1.1.1.1 Vị trí của ngành chăn nuôi gà trong nền kinh tế quốc dân 6
1.1.1.2 Các hình thức chăn nuôi gà thịt 7
1.1.1.3 Đặc điểm kinh tế - kỹ thuật của một số giống gà thịt 9
1.1.1.4 Xu hướng phát triển chăn nuôi gà hiện nay 13
1.1.2 Hiệu quả kinh tế và các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế 14
1.1.2.1 Khái niệm và bản chất của hiệu quả kinh tế 14
1.2.2.2 Các yếu tố ảnh hưởng cơ bản đến hiệu quả kinh tế chăn nuôi gà thịt 16
1.1.2.3 Hệ thống chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh tế hộ gia đình 19
1.2 Cơ sở thực tiễn 21
1.2.1 Khái quát tình hình chăn nuôi và tiêu thụ các sản phẩm gà thịt trên thế giới 21
1.2.2 Tình hình chăn nuôi và tiêu thụ các sản phẩm gà ở Việt Nam 24
1.2.2.1 Tình hình chăn nuôi gà ở Việt Nam 24
1.2.2.2 Tình hình chế biến và tiêu thụ sản phẩm gà ở Việt Nam 25
1.2.3 Những chủ trương, chính sách đã áp dụng để phát triển chăn nuôi gà thịt 27
1.2.4 Bài học kinh nghiệm từ thực tiễn chăn nuôi và tiêu thụ sản phẩm gà thịt của thế giới và Việt Nam 29
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 5THỨC CÔNG NGHIỆP VÀ BÁN CÔNG NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN THỊ XÃ
HƯƠNG THỦY 31
2.1 Đặc điểm tự nhiên, kinh tế xã hội của thị xã Hương Thủy 31
2.1.1 Đặc điểm tự nhiên 31
2.1.1.1 Vị trí địa lý và địa hình 31
2.1.1.2 Khí hậu, thủy văn 32 2.1.2 Đặc điểm kinh tế xã hội 33
2.1.2.1 Tình hình phát triển kinh tế 33
2.1.2.2 Đặc điểm dân số và lao động 34
2.1.2.3 Tình hình sử dụng đất đai 36
2.1.2.4 Đặc điểm cơ sở hạ tầng 37
2.1.3 Đánh giá về tác động của điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội đối với việc chăn nuôi gà thịt 37
2.2 Tình hình chăn nuôi gà ở thị xã Hương Thủy 40
2.3 Đặc điểm cơ bản của các hộ điều tra 43
2.3.1 Năng lực của các hộ nuôi gà thịt 43
2.3.2 Tình hình sử dụng đất đai và nguồn vốn của hộ điều tra 47
2.3.3 Đề xuất để phát triển chăn nuôi gà thịt của các hộ điều tra 48
2.4 Tình hình đầu tư chăn nuôi gà thịt theo hai hình thức CN và BCN của các hộ điều tra 51
2.4.1 Tình hình đầu tư chăn nuôi gà thịt của hai nhóm hộ điều tra vào vụ 1 51
2.4.2 Tình hình đầu tư chăn nuôi gà thịt của hai nhóm hộ điều tra vào vụ 2 Error! Bookmark not defined. 2.5 So sánh kết quả và hiệu quả nuôi gà thịt theo hai hình thức CN và BCN của các hộ điều tra trên địa bàn thị xã Hương Thủy 59
2.5.1 So sánh kết quả nuôi gà thịt theo hai hình thức nuôi CN và BCN của các hộ điều tra trên địa bàn thị xã Hương Thủy 59
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 62.5.2 So sánh hiệu quả nuôi gà thịt theo hai hình thức CN và BCN của các hộ điềutra trên địa bàn thị xã Hương Thủy 62
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 7và BCN của các hộ điều tra 64
2.6.1 Ảnh hưởng của quy mô chăn nuôi đến kết quả và hiệu quả nuôi gà thịt 64
2.6.2 Ảnh hưởng của chi phí sản xuất trực tiếp đến kết quả và hiệu quả nuôi gà thịt 67
2.7 Sử dụng hàm Cobb - Douglas phân tích mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến lợi nhuận của hoạt động chăn nuôi gà thịt 70
2.8 Thị trường đầu vào và đầu ra của hoạt động chăn nuôi gà thịt ở thị xã Hương Thủy 73
2.8.1 Thị trường đầu vào 73
2.8.2 Thị trường đầu ra 75
CHƯƠNG III ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP 78
3.1 Phương hướng, mục tiêu phát triển chăn nuôi gà thịt ở Thị xã Hương Thủy 78
3.1.1 Phương hướng phát triển chăn nuôi gà ở Thị xã Hương Thủy 78
3.1.2 Mục tiêu phát triển chăn nuôi gà ở Thị xã Hương Thủy 78
3.1.2.1 Mục tiêu tổng quát 78
3.1.2.2 Mục tiêu cụ thể 79
3.2 Những giái pháp chủ yếu phát triển chăn nuôi gà ở Thị xã Hương Thủy 79
3.2.1 Giải pháp về kỹ thuật 79
3.2.2 Giải pháp về chính sách 81
PHẦN III KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 83
1 Kết luận 83
2 Kiến nghị 84
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 8Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 9Biểu đồ: Cơ cấu sản phẩm thịt gia súc, gia cầm của thế giới năm 2009 23
Sơ đồ: Kênh tiêu thụ sản phẩm gà thịt 76
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 10Bảng 1: Cơ cấu sản xuất thịt gia súc, gia cầm trên thế giới giai đoạn 2007-2011 22
Bảng 2: Cơ cấu tiêu thụ sản phẩm thịt gia súc, gia cầm trên thế giới giai đoạn 2007 - 2011 23
Bảng 3: Tình hình dân số, lao động trên địa bàn thị xã Hương Thủy năm 2011 35
Bảng 4: Tình hình sử dụng đất đai trên địa bàn thị xã Hương Thủy 36
Bảng 5: Cơ cấu chăn nuôi gà của tỉnh Thừa Thiên Huế 40
Bảng 6: Số lượng gà trong tổng đàn gia cầm qua các năm của thị xã Hương Thủy 41
Bảng 7: Một số đặc điểm của hộ nuôi gà thịt 44
Bảng 8: Một số chỉ tiêu về tình hình nuôi gà thịt của hộ điều tra 46
Bảng 9: Tình hình sử dụng đất đai của các hộ điều tra 47
Bảng 10: Tình hình sử dụng nguồn vốn của các hộ điều tra 48
Bảng 11: Thống kê các nhu cầu về chăn nuôi gà thịt của hộ điều tra 49
Bảng 12: Chi phí sản xuất và cơ cấu chi phí sản xuất của hộ điều tra trong vụ 1 53
Bảng 13: Chi phí sản xuất và cơ cấu chi phí sản xuất của hộ điều tra trong vụ 2 57
Bảng 14: Kết quả nuôi gà thịt của các hộ được điều tra 61
Bảng 15: Hiệu quả nuôi gà thịt của các hộ điều tra 63
Bảng 16: Ảnh hưởng của quy mô nuôi đến kết quả và hiệu quả nuôi gà thịt 66
Bảng 17: Ảnh hưởng của chi phí sản xuất trực tiếp đến kết quả và hiệu quả nuôi gà thịt 69
Bảng 18: Kết quả ước lượng các nhân tố ảnh hưởng đến 71
Bảng 19: Đánh giá của hộ nuôi gà thịt về khả năng tiếp cận các đầu vào 74
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 111 Tính cấp thiết của đề tài
Thị xã Hương Thủy là một trong những vùng điển hình về chăn nuôi gà của tỉnhThừa Thiên Huế Hiện nay trên địa bàn ngoài hình thức nuôi gà công nghiệp, nhốt hoàntoàn tồn tại từ bấy lâu nay thì hình thức nuôi bán công nghiệp (bán chăn thả) đã xuấthiện ở một số xã, phường của thị xã Hai hình thức trên đều mang lại những hiệu quảkinh tế nhất định cho các hộ chăn nuôi Tuy nhiên giữa hai hình thức nuôi đang có sựkhác biệt rõ rệt kết quả và hiệu quả kinh tế Bên cạnh đó, giữa hai nhóm hộ đang nuôibằng hai hình thức này cũng có những đặc điểm khác nhau về năng lực hộ, quy mô, mứcđầu tư Đồng thời trong cả hai hình thức vẫn mang những tồn tại và khó khăn nhất địnhnhư tình trạng chăn nuôi nhỏ lẻ, manh mún, hiệu quả thấp vẫn còn phỗ biến Thêm vào
đó, người chăn nuôi lại đang thiếu vốn sản xuất, thiếu kinh nghiệm nuôi và thiếu đất đai
để mở rộng quy mô nuôi Khó khăn không chỉ dừng lại ở đó, thị trường đầu vào và đầu
ra cho hoạt động chăn nuôi gà thịt của cả hai hình thức này ở thị xã Hương Thủy vẫncòn gặp nhiều vương mắc Vì vậy, việc nghiên cứu để khuyến khích lựa chọn hình thứcnuôi phù hợp cho mỗi hộ nuôi ở địa phương cũng như các tìm ra các giải pháp cho mỗihình thức trên đây có ý nghĩa rất quan trọng, nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế và phát
triển các mô hình nuôi gà thịt Đây chính là lý do mà tôi chọn đề tài “So sánh hiệu quả
kinh tế nuôi gà thịt theo hình thức nuôi công nghiệp và bán công nghiệp trên địa bàn thị xã Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên Huế” làm đề tài nghiên cứu của mình.
2 Mục tiêu nghiên cứu
+ Hệ thống hóa những vấn đề lý luận và thực tiễn về hiệu quả kinh tế và biệnpháp nâng cao hiệu quả kinh tế nói chung và ngành nuôi gà thịt nói riêng
+ Phân tích kết quả, hiệu quả kinh tế nuôi gà thịt của các hộ chăn nuôi theo haihình thức CN và BCN ở thị xã Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên Huế
+ So sánh mức độ đạt được về kết quả và hiệu quả kinh tế mà hai nhóm hộ nuôiđạt được theo hai hình thức nuôi
+ Cung cấp thêm thông tin cho việc ra các quyết định hợp lý trong lựa chọn hìnhthức nuôi và đưa ra một số định hướng cũng như đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quảnuôi gà thịt ở thị xã Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên Huế
3 Dữ liệu phân tích và phương pháp nghiên cứu
- Dữ liệu phân tích
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 12+ Thông tin thu thập từ UBND thị xã Hương Thủy, phòng kinh tế thị xã HươngThủy, Phòng Tài nguyên và môi trường thị xã Hương Thủy, phòng thống kê thị xãHương Thủy, và số liệu từ các xã được chọn để nghiên cứu.
+ Số liệu thu thập được từ các hộ chăn nuôi gà thịt thông qua hình thức phỏngvấn trực tiếp
+ Sách báo, tạp chí, luận văn, báo cáo… có liên quan đến đề tài nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu
+ Phương pháp thu thập số liệu
+ Phương pháp thống kê
+ Phương pháp chuyên gia
+ Phương pháp so sánh
+ Phương pháp phân tổ thống kê
+ Phương pháp phân tích hồi quy
4 Các kết quả nghiên cứu đạt được
+ Phân tích được kết quả và hiệu quả kinh tế của hai hình thức nuôi, từ đó thấy rõđược hình thức nuôi gà thịt BCN đang vượt trội hơn, hiệu quả kinh tế mang lại caohơn so với hình thức nuôi CN
+ Xác định được sự ảnh hưởng của quy mô nuôi và chi phí sản xuất trực tiếp đếnkết quả và hiệu quả nuôi gà thịt của hai hình thức nuôi
+ Thông qua hàm sản xuất Cobb - Douglas đã phân tích được một số nhân tố chủyếu ảnh hưởng đến lợi nhuận nuôi gà thịt theo hai hình thức CN và BCN trên địa bàn.Trong đó các nhân tố chi phí thức ăn, công lao động, quy mô nuôi, kinh nghiệm có mốitương quan thuận với lợi nhuận, nhân tố chi phí giống có mối tương quan nghịch với lợinhuận Hình thức nuôi BCN có mức lợi nhuận cao hơn hình thức nuôi BCN và vụ 2mang lại lợi nhuận cao hơn vụ 1
+ Đề ra một số giải pháp về kỹ thuật như giải pháp thay đổ phương thức nuôi, lựachọn quy mô nuôi, vụ nuôi phù hợp…và các gải pháp về chính sách như quy hoạch,đầu tư, tín dụng… góp phần nâng cao hiệu quả kinh tế nuôi gà thịt theo hai hình thứctrên địa bàn thị xã Hương Thủy Đồng thời đưa ra những thông tin giúp cho hộ chănnuôi lựa chọn hình thức nuôi phù hợp với năng lực của hộ
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 13PHẦN I ĐẶT VẤN ĐỀ
1 Tính cấp thiết của đề tài
Nông nghiệp là một ngành sản xuất đóng vai trò hết sức quan trọng trong sự pháttriển của xã hội loài người Sản xuất nông nghiệp cung cấp những sản phẩm thiết yếucho đời sống con người như: lương thực, thực phẩm và các sản phẩm khác có nguồngốc từ lâm sản, thủy sản, đảm bảo cho sự phát triển xã hội, cung cấp nguồn nguyênliệu chính cho ngành công nghiệp chế biến thực phẩm, góp phần tăng kim ngạch xuấtkhẩu đem lại nguồn thu ngoại tệ cao, đảm bảo phát triển bền vững cho đất nước Ởnước ta, dân số sống bằng nghề nông chiếm 70% dân số cả nước, 57% lực lượng laođộng xã hội làm việc trong ngành nông nghiệp, sản xuất nông nghiệp trong nhiều năm,đặc biệt là trong những năm gần đây đã đóng góp một phần rất lớn trong tổng sảnphẩm xã hội và tổng thu nhập quốc dân
Trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội của nước ta giai đoạn 2000 - 2010 vàđến năm 2020, ngành nông nghiệp phát triển theo hướng sản xuất hàng hoá tập trung,trong đó chăn nuôi là một trong những lĩnh vực được khuyến khích phát triển Cơ cấungành chăn nuôi có xu hướng ngày càng tăng cả về tỷ trọng lẫn số lượng vật nuôi Vaitrò quan trọng của ngành chăn nuôi thể hiện rõ trong việc cung cấp thực phẩm đáp ứngnhu cầu của con người góp phần tạo việc làm tăng thu nhập, khai thác các nguồn lực ởkhu vực nông thôn
Tuy nhiên, hiện nay chăn nuôi còn chiếm tỷ trọng thấp trong cơ cấu sản xuấtnông nghiệp Nhưng trong những năm gần đây giá trị sản xuất ngành chăn nuôi có xuhướng gia tăng từ chỗ đạt 26,1 nghìn tỷ đồng năm 2005 lên 36,5 nghìn tỷ đồng năm
2010 Trong các loại vật nuôi truyền thống, gà là được xem là con vật dễ nuôi, đượcnuôi để lấy trứng và thịt, có giá trị dinh dưỡng cao, được người tiêu dùng ưa chuộng.Trong khi đó, chi phí chăn nuôi không lớn lắm, kỹ thuật chăn nuôi ít phức tạp phù hợpvới hình thức chăn nuôi ở quy mô nhỏ, nhất là đối với các nông hộ, các gia trại hiệnnay Sau ngành chăn nuôi lợn, ngành chăn nuôi gà chiếm vị trí thứ hai (gần 19%) trongtổng giá trị sản xuất của ngành chăn nuôi Chính vì lẽ đó có thể nói chăn nuôi gà làngành kinh tế không thể thiếu trong nền sản xuất nông nghiệp của Việt Nam
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 14Thừa Thiên Huế là một tỉnh có lợi thế về phát triển du lịch, dịch vụ Bên cạnh đó,Thừa Thiên Huế cũng rất chú trọng đến việc nâng cao năng suất, sản lượng nôngnghiệp để góp phần vào việc tăng trưởng kinh tế xã hội chung của toàn tỉnh Trongnhững năm gần đây, ở tỉnh Thừa thiên Huế chăn nuôi gia cầm nói chung và chăn nuôi
gà nói riêng đã có sự phát triển đáng kể, ngày càng có nhiều mô hình chăn nuôi cóhiệu quả đặc biệt là chăn nuôi gà thịt với sự đa dạng về hình thức, quy mô cũng nhưcác giống gà
Thị xã Hương Thủy là một trong những vùng điển hình về chăn nuôi gà của tỉnhThừa Thiên Huế Sản phẩm gà thịt của Hương Thủy làm ra đã đáp ứng tốt hơn nhu cầucủa người tiêu dùng trong và ngoài tỉnh Hiện nay trên địa bàn ngoài hình thức nuôi gàcông nghiệp, nhốt hoàn toàn tồn tại từ bấy lâu nay thì hình thức nuôi bán công nghiệp(bán chăn thả) đã xuất hiện ở một số xã, phường của thị xã Hai hình thức trên đều manglại những hiệu quả kinh tế nhất định cho các hộ chăn nuôi Tuy nhiên giữa hai hình thứcnuôi đang có sự khác biệt rõ rệt kết quả và hiệu quả kinh tế Bên cạnh đó, giữa hai nhóm
hộ đang nuôi bằng hai hình thức này cũng có những đặc điểm khác nhau về năng lực hộ,quy mô, mức đầu tư Đồng thời trong cả hai hình thức vẫn mang những tồn tại và khókhăn nhất định như tình trạng chăn nuôi nhỏ lẻ, manh mún, hiệu quả thấp vẫn còn phỗbiến Chính vì vậy, trong quá trình chăn nuôi gà thường khó áp dụng được các kỹ thuậtnuôi tiến bộ, đồng thời đối tượng nuôi thường mắc một số bệnh: Bệnh cầu trùng, bệnhthương hàn, bệnh dịch tả, bệnh Gumboro… đặc biệt là dịch cúm H5N1đã bùng phát trêntoàn cầu trong những năm gần đây đã gây ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt đông nuôi gàthịt ở địa phương Thêm vào đó, người chăn nuôi lại đang thiếu vốn sản xuất, thiếu kinhnghiệm nuôi và thiếu đất đai để mở rộng quy mô nuôi Khó khăn không chỉ dừng lại ở
đó, thị trường đầu vào và đầu ra cho hoạt động chăn nuôi gà thịt của cả hai hình thứcnày ở thị xã Hương Thủy vẫn còn gặp nhiều vương mắc Trong khi giá các vật tư đầuvào biến động, các chi phí ngày càng tăng cao thì giá gà thịt lại không ổn định và có xuhướng giảm Địa phương lại chưa có hệ thống thu mua sản phẩm hoàn chỉnh, do vậyngười dân không bán được giá cao, hiệu quả kinh tế mang lại chưa đạt yêu cầu Vì vậy,việc nghiên cứu để khuyến khích lựa chọn hình thức nuôi phù hợp cho mỗi hộ nuôi ởđịa phương cũng như các tìm ra các giải pháp cho mỗi hình thức trên đây có ý nghĩa rất
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 15quan trọng, nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế và phát triển các mô hình nuôi gà thịt Đây
chính là lý do mà tôi chọn đề tài “So sánh hiệu quả kinh tế nuôi gà thịt theo hình
thức nuôi công nghiệp và bán công nghiệp trên địa bàn thị xã Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên Huế” làm đề tài nghiên cứu của mình.
2 Mục tiêu nghiên cứu
- Hệ thống hóa những vấn đề lý luận và thực tiễn về hiệu quả kinh tế và biệnpháp nâng cao hiệu quả kinh tế nói chung và ngành nuôi gà thịt nói riêng
- Phân tích kết quả, hiệu quả kinh tế nuôi gà thịt của các hộ chăn nuôi theo haihình thức CN và BCN ở thị xã Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên Huế
- So sánh mức độ đạt được về kết quả và hiệu quả kinh tế mà hai nhóm hộ nuôiđạt được theo hai hình thức nuôi
- Cung cấp thêm thông tin cho việc ra các quyết định hợp lý trong lựa chọn hìnhthức nuôi và đưa ra một số định hướng cũng như đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quảnuôi gà thịt ở thị xã Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên Huế
3 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp thu thập số liệu
+ Số liệu thứ cấp gồm:
Các số liệu được cung cấp từ 5 xã, phường (phường Thủy Dương, phường ThủyPhương, phường Phú Bài, phường Thủy Lương, xã Thủy Phù) và phòng kinh tế thị xãHương Thủy, phòng thống kê thị xã Hương Thủy, phòng tài nguyên môi trường thị xãHương Thủy, UBND thị xã Hương Thủy
Ngoài ra đề tài còn thu thập và sử dụng số liệu trên Internet, thông tin đại chúng,kết hợp tìm đọc và tham khảo một số tài liệu liên quan khác
+ Số liệu sơ cấp:
Điều tra phỏng vấn trực tiếp 50 hộ gia đình, trang trại tổng hợp, gia trại chăn nuôi
gà thịt thương phẩm theo hai hình thức CN và BCN Trong đó tiến hành điều tra tại địabàn phường Thủy Dương 18 hộ; Thủy Phương: 7 hộ; Thủy Phù: 14 hộ; Phú Bài: 5 hộ;Thủy Lương: 6 hộ
Tại Thủy Dương và Thủy Phương là hai địa bàn tập trung nuôi gà thịt theo hìnhthức CN, nuôi nhốt hoàn toàn Tiến hành chọn 25 mẫu đại diện cho các hộ chăn nuôi
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 16gà thịt theo hình thức CN trên tổng số 35 hộ Tại Thủy Lương, Phú Bài và xã ThủyPhù là các địa bàn tiêu biểu trong việc nuôi gà thịt BCN (bán chăn thả) của thị xã.Chọn 25 mẫu trên tổng số 42 mẫu để tiến hành điều tra Các hộ đều được chọn theophương pháp ngẫu nhiên, không lặp.
- Phương pháp thống kê
Đây là phương pháp hệ thống hóa và phân tích, từ đó tìm ra mối liên hệ giữa cácyếu tố của quá trình sản xuất
- Phương pháp chuyên gia
Trong quá trình thực hiện đề tài tôi đã trao đổi, tham khảo ý kiến của các chuyên gia,các cán bộ chuyên môn, người nuôi gà thịt ở địa phương nhằm bổ sung, hoàn thiện nộidung nghiên cứu và kiểm chứng kết quả nghiên cứu của đề tài
- Phương pháp so sánh
Xác định mức độ biến động của các xu hướng, mức độ biến động của các chỉ tiêuphân tích Kết quả và hiệu quả kinh tế của hoạt động sản xuất được tính toán, thống kêqua các chỉ tiêu: GO, MI, NB, GO/C, GO/(C+TC)… Khi đánh giá mức độ đạt được vềmặt kết quả và hiệu quả cần so sánh các chỉ tiêu đó qua thời gian, qua không gian và giữacác chỉ tiêu đó với nhau, từ đó đưa ra nhận xét và kết luận
- Phương pháp phân tổ thống kê
Phương pháp phân tổ thống kê được sử dụng nhằm hệ thống hóa các số liệu thuthập được dưới dạng chỉ tiêu nghiên cứu, từ đó đánh giá các chỉ tiêu theo thời gian.Phương pháp này còn được dùng để phân tích sự tác động của các yếu tố đầu vào vớicác yếu tố đầu ra cũng như biểu hiện mối quan hệ giữa các yếu tố đầu ra với các yếu tốđầu vào
- Phương pháp phân tích hồi quy
Sử dụng phương pháp hồi quy nhằm xác định các nhân tố ảnh hưởng đến lợinhuận nuôi gà thịt của các hộ nuôi Công cụ để phân tích mối quan hệ này là hàm sảnxuất Cobb - Douglas Đây là mô hình biểu hiện sự phụ thuộc giữa kết quả với các yếu
tố đưa vào sản xuất
Mô hình hàm Cobb- Douglas tôi đã sử dụng có dạng như sau:
Ln(Y)=ln(A)+α1ln(X1)+α2ln(X2)+α3ln(X3)+α4ln(X4)+α5ln(X5)+α6ln(X6)+µ1D1+µ2D2
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 17Trong đó:
D1 hình thức nuôi (D1=0 nếu hộ chăn nuôi theo hình thức CN và D1=1nếu hộchăn nuôi theo hình thức BCN)
D2vụ nuôi gà trong năm (D2=0 nếu vụ nuôi là vụ 1 và D2=1 nếu vụ nuôi là vụ 2)Trong đó, chi phí thức ăn và công lao động bao gồm cả chi phí tự có của hộ nuôi
gà, bởi vì đặc điểm chung của các hộ nuôi gà trên địa bàn vẫn là sử dụng công laođộng gia đình và nguồn thức ăn tự có (đối với hộ nuôi theo hình thức BCN) nên chiphí tự có cũng ảnh hưởng nhiều đến kết quả và hiệu quả nuôi gà thịt
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu:
Đề tài tập trung nghiên cứu các vấn đề về hiệu quả kinh tế nuôi gà thịt của các hộgia đình và một số gia trại, trang trại tổng hợp theo hình thức CN và BCN trên địa bànthị xã Hương Thủy, những vấn đề về sản xuất cũng như các yếu tố tác động đến kếtquả và hiệu quả nuôi gà thịt của các hộ theo hai hình thức trong năm 2011
* Phạm vi nghiên cứu:
- Phạm vi không gian: nghiên cứu trên địa bàn thị xã Hương Thủy, tập trung chủyếu vào 4 phường: Thủy Dương, Thủy Phương, Phú Bài, Thủy Lương và xã ThủyPhù, nơi có số lượng nuôi chiếm tỷ lệ lớn trong tổng số lượng nuôi toàn thị xã
- Phạm vi thời gian: nghiên cứu thực trạng nuôi gà thịt theo hình thức CN vàBCN ở địa phương qua các năm 2009 - 2011, trong đó tập trung vào năm 2011, nhằmđưa ra định hướng và giải pháp cho những năm tới
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 18PHẦN II NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
CHƯƠNG I
TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 Cơ sở lý luận đánh giá hiệu quả kinh tế nuôi gà thịt
1.1.1 Tổng quan về các vấn đề chăn nuôi gà thịt
1.1.1.1 Vị trí của ngành chăn nuôi gà trong nền kinh tế quốc dân
Chăn nuôi là một trong hai lĩnh vực kinh tế quan trọng trong nền nông nghiệp.Đặc biệt nông nghiệp lại có ý nghĩa quan trọng đối với nước ta khi có tới hơn 70% dân
cư sống dựa vào nông nghiệp Chăn nuôi gia cầm nói chung, chăn nuôi gà thịt nóiriêng có ý nghĩa rất lớn đến nền kinh tế nước ta hiện nay, đặc biệt chăn nuôi gà thịt rấtphù hợp với điều kiện chăn nuôi của người dân nông thôn
- Chăn nuôi gà cung cấp thực phẩm có giá trị dinh dưỡng cao cho con người,hàm lượng protein của thịt gà và trứng gà rất cao Tây y cho biết trong thịt gà chứanhiều protein, cứ 100gam thịt gà có chứa 23,3 gam protein, gấp 1,5 thịt bò, gấp 2 lầnthịt dê, gấp 2,5 lần thịt lợn Gà chứa ít li-pit, trong li-pit lại đa phần là a-xít không no
và a-xít béo, nó là món ăn bổ dưỡng cung cấp protein cho người già, trẻ em, ngườibệnh [9] Bên cạnh đó, chăn nuôi gà còn cung cấp nguyên liệu cho ngành chế biến tạo
ra các loại thực phẩm ngon phục vụ cho bữa ăn hàng ngày của mọi gia đình
- Chăn nuôi gà cũng góp phần cung cấp phân bón cho ngành trồng trọt Phân gà
là một loại phân hữu cơ có thành phần dinh dưỡng cao so với các loại phân chuồngkhác như phân heo, phân trâu bò và các loại phân hữu cơ khác Thành phần dinhdưỡng chủ yếu trong phân gà như N: 1,6 - 1,7%; P2O5: 0,5 - 0,6%; K2O: 0,85%; CaO:2,4% [10] Chính vì vậy, phân gà được sử dụng bón rất hiệu quả trên nhiều loại câytrồng khác nhau, trong đó có nhóm cây rau Ngoài ra, phân gà còn làm thức ăn cho cácloại cá ăn tạp như cá rô phi, cá trắm cỏ…
- Chăn nuôi gà làm tăng thu nhập cho gia đình, đồng thời thông qua nuôi gàngười nông dân có được nguồn vốn chủ động để phục vụ cho con cái ăn học và tổchức các hoạt động văn hóa khác như: cúng, giổ, cưới hỏi, ma chay, đình đám…Bên
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 19cạnh đó, chăn nuôi gà góp phần tận dụng được công lao động trong thời gian nôngnhàn và lao động phụ của gia đình.
- Ngoài ra, hiện nay với phương thức chăn nuôi gà theo hướng an toàn sinh họcthì sản phẩm phụ từ chăn nuôi gà còn được sử dụng để làm hầm bioga, cung cấp chấtđốt cho các hộ gia đình ở nông thôn, đồng thời đảm bảo vệ sinh môi trường, tránh cáchiện tượng ô nhiễm do hoạt động chăn nuôi gà thịt gây ra
1.1.1.2 Các hình thức chăn nuôi gà thịt
- Chăn nuôi truyền thống
Đây là phương thức chăn nuôi có từ lâu đời và vẫn tồn tại phát triển ở hầu khắpvùng thôn quê Việt Nam Đặc điểm của phương thức chăn nuôi này là đầu tư vốn banđầu ít, đàn gà được thả rông, tự tìm kiếm thức ăn là chính và cũng tự ấp và nuôi con;chuồng trại đơn giản, vườn thả không có hàng rào bao che; thời gian nuôi kéo dài (đốivới gà thịt thường nuôi tới 6-7 tháng mới đạt khối lượng để giết thịt) Do chăn thả tự
do, môi trường chăn nuôi không đảm bảo vệ sinh dịch tễ khiến đàn gà dễ mắc bệnh, dễchết nóng, chết rét, tỷ lệ nuôi sống thấp, hiệu quả kinh tế không cao Tuy vậy, phươngthức chăn nuôi này có những ưu điểm nhất định như phù hợp với các giống gà địaphương, chất lượng thịt gà thơm ngon, vốn đầu tư không đòi hỏi lớn (chủ yếu là tiềnmua giống ban đầu) Chính vì thế mà đối với các nông hộ nghèo phương thức chănnuôi này dễ áp dụng và hộ nào cũng có thể nuôi vài ba chục con gà Mặc dù chưa đạtnăng suất cao và hiệu quả kinh tế thu được chưa lớn, song hầu hết số hộ lao động nôngnghiệp thường áp dụng phương thức chăn nuôi này bởi vậy hàng năm đã sản xuất rakhoảng 65% số lượng con gà thịt ở Việt Nam [13]
- Chăn nuôi bán công nghiệp (bán chăn thả)
Đây là phương thức chăn nuôi có sự kết hợp khá nhuần nhuyễn những kinhnghiệm nuôi gà truyền thống và kỹ thuật nuôi dưỡng tiên tiến Điều đó có nghĩa là chế
độ dinh dưỡng và quá trình phòng bệnh cho đàn gà đã được coi trọng hơn Mục tiêucủa chăn nuôi mang đậm tính sản xuất hàng hóa, chứ không thuần túy là sản xuất tựcung tự cấp Gà được nuôi theo từng lứa, mỗi lứa 200, 500 đến 1.000 con Để áp dụngphương thức chăn nuôi này, ngoài yêu cầu phải có vườn rộng (tối thiểu 100-200m2,tùy thuộc quy mô đàn gà) được bao bọc bởi hàng rào tre, nứa hoặc lưới B40 để thả gà
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 20lúc thời tiết đẹp thì cần phải đầu tư xây dựng và mua sắm chuồng trại, các dụng cụmáng ăn, máng uống và hệ thống sưởi ấm cho đàn gà úm Ngoài lượng thức ăn có sẵntrong tự nhiên như giun, dế, sâu bọ, rau, cỏ mà đàn gà tự kiếm ăn được, thì lượng thức
ăn do người chăn nuôi cung cấp là rất quan trọng Có như vậy mới rút ngắn được thờigian nuôi mỗi lứa và tăng năng suất của đàn gà Hiện nay, tại một số vùng quê vensông, ven bãi, ven cánh đồng sau mỗi vụ thu hoạch, sáng sớm người nông dân chở gàđến thả vào các địa điểm đó, tối lại chở gà về chuồng Đây là biện pháp nhằm tận dụngthêm thức ăn sẵn có trong tự nhiên, để giảm chi phí thức ăn cần cung cấp So vớiphương thức chăn nuôi gà truyền thống (chăn nuôi quảng canh) thì phương thức chănnuôi bán thâm canh, đàn gà tăng trọng nhanh hơn, tỷ lệ nuôi sống cao hơn, khốngchế được bệnh tật tốt hơn, thời gian nuôi mỗi lứa ngắn hơn và đạt hiệu quả kinh tếcao hơn [13]
Những năm qua phương thức chăn nuôi này đã và đang được áp dụng rộng rãitại các vùng Đồng bằng, Trung du, ven đô thị trong các nông hộ có điều kiện về vốn
và diện tích vườn tương đối lớn Hàng ngàn trang trại đã được xây dựng với quy môchăn nuôi từ 500-2000 con/lứa và số lứa nuôi trong năm trung bình từ 1-3 lứa Cácgiống gà lông màu nhập nội như Tam hoàng, Lương phượng, Kabir, gà lai đang được
sử dụng nhiều cho phương thức chăn nuôi này [13]
- Chăn nuôi công nghiệp
Những năm trở lại đây, không những đối với các giống gà lông màu nhập nội(Kabir, Tam hoàng, Lương phượng, ISA, JA47 ) mà ngay cả các giống gà địa phương(gà Ri, gà Mía) cũng được áp dụng phương thức nuôi nhốt hoàn toàn và gà được ănthức ăn CN Với cách nuôi này có thể rút ngắn thời gian nuôi từ 5-6 tháng đối với gà
Ri xuống còn 3-4 tháng Mỗi lứa có thể nuôi từ 200-500 con từ lúc 1 ngày tuổi đến lúcxuất chuồng Phương thức nuôi này thường được áp dụng tại một số địa phương ven
đô thị, nơi đất chật, không có vườn, đồi để thả gà Khi áp dụng phương thức nuôi nhốthoàn toàn đòi hỏi phải đầu tư xây chuồng trại (thường gà được nuôi trên nền chuồngrải dăm bào hoặc vỏ trấu) Gà Ri được nuôi nhốt hoàn toàn tuy mau lớn hơn, thịt mềmhơn, song chất lượng thịt không chắc đậm, mùi vị thơm ngon không bằng gà thả vườn,giá bán thấp hơn so với gà được nuôi tự do [13]
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 211.1.1.3 Đặc điểm kinh tế - kỹ thuật của một số giống gà thịt
a Đặc điểm sinh học của một số giống gà thịt được nuôi chủ yếu ở địa bànnghiên cứu
* Các giống gà nuôi CN
- Gà Lương Phượng
+ Nguồn gốc: Xuất xứ từ Trung Quốc
+ Đặc điểm ngoại hình: Gà có hình dáng bên ngoài giống với gà Ri, bộ lông cómàu vàng, dày, bóng, mượt Mào và phần đầu màu đỏ Da màu vàng, chất thịt mịn, vịđậm Gà trống có màu vàng hoặc tía sẫm, mào đơn, hông rộng, lưng phẳng, lông đuôidựng đứng, đầu và cổ gọn, chân thấp và nhỏ
+ Chỉ tiêu kinh tế: Gà xuất chuồng lúc 70 ngày tuổi cân nặng 1,5 - 1,6 kg Tiêutốn thức ăn cho 1 kg tăng trọng là 2,4 - 2,6 kg Giống gà này rất phù hợp với điều kiệnchăn thả tự do
- Gà Sasso
+ Nguồn gốc: Là giống gà nặng cân của Pháp, có thể nuôi thả vườn
+ Đặc điểm ngoại hình: Gà có lông màu nâu đỏ, da chân vàng
+ Chỉ tiêu kinh tế: Nếu nuôi theo phương pháp nửa nhốt nửa thả 90 - 100 ngày cóthể đạt trọng lượng 2,1 - 2,3 kg Tiêu tốn thức ăn 3,1 - 3,5 kg thức ăn cho 1 kg tăng trọng
* Gà nuôi BCN
- Gà Ri
+ Nguồn gốc: phổ biến nhất ở miền Bắc, miền Trung (ở miền Nam ít hơn)
+ Đặc điểm ngoại hình: Gà mái có màu lông màu vàng và nâu, có các điểm đốmđen ở cổ, đầu cánh và chót đuôi Gà trống có lông màu vàng tía, sặc sỡ, đuôi có lôngmàu vàng đen dần ở phía cuối đuôi
+ Chỉ tiêu kinh tế: Trọng lượng gà mái: 1,2 - 1,8 kg; gà trống: 1,5 - 2,1 kg Thời gianđạt trọng lượng thịt khoảng 4 - 5 tháng Sản lượng trứng bình thường (80 - 100 trứng/năm) Gà chỉ đẻ 10 - 15 trứng là lại ấp, thời gian ấp gần 1 tháng Sức kháng bệnh tốt, dễnuôi, cần cù, chăm con tốt Thịt thơm ngon, dai, xương cứng, phẩm chất trứng cao Tiêutốn thức ăn cho 1 kg tăng trọng 2,5 - 3,5 kg
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 22- Gà Tam Hoàng
+ Nguồn gốc: Xuất xứ từ tỉnh Quảng Đông, Trung Quốc
+ Đặc điểm ngoại hình: Gà có đặc điểm lông, da, chân màu vàng Cơ thể hìnhtam giác, thân ngắn, lưng phẳng, ngực nở, thịt ức nhiều, hai đùi phát triển
+Chỉ tiêu kinh tế: Gà nuôi đến 70 80 ngày tuổi đã có thể đạt trọng lượng 1,5 1,75 kg Tiêu tốn thức ăn cho 1 kg tăng trọng là 2,5 - 3 kg Gà mái bắt đầu đẻ vàokhoảng 125 ngày tuổi Sản lượng trứng đạt 135 quả/ năm Trọng lượng trưởng thành
-gà mái: 1,8 - 2,0 kg, -gà trống: 2,2 - 2,8 kg Gà có những đặc điểm rất giống với -gà Ricủa nước ta, phẩm chất thịt thơm ngon, phù hợp với điều kiện chăn thả ở Việt Namcũng như nuôi CN và BCN [14]
b Yêu cầu kỹ thuật nuôi một số giống gà thịt chủ yếu tại địa phương
* Kỹ thuật nuôi gà CN
- Giống gà:
Hiện nay trong phong trào chăn nuôi gà CN ở các vùng nông thôn nước ta, quaquá trình thử nghiệm có hai giống gà sau được nông dân địa phương ưa chuộng nhất
đó là gà Lương phượng và gà Tam hoàng
- Vệ sinh con giống:
Kiểm tra chất lượng gà con khoẻ mạnh, đồng đều và trọng lượng gà một ngàytuổi đạt trung bình 40g/con Cách ly khu vực úm gà con với khu vực nuôi gà lớn càng
xa càng tốt Nên áp dụng chương trình nuôi "vào cùng lúc, ra cùng lúc" Tránh nuôinhiều đàn gà ở nhiều lứa tuổi ở cùng một nơi Trước mỗi chuồng nên có hố sát trùng
- Vệ sinh chuồng trại
+ Đưa tất cả những trang thiết bị nhỏ ra ngoài và ngâm vào nước khoảng 3h sau
đó cọ rửa hoặc đánh sạch những chất bẩn bám trên dụng cụ nuôi
+ Sát trùng bằng thuốc sát trùng hoặc Formol 2% Dùng thuốc sát trùng chuồngtrại để sát trùng toàn bộ nền, vách, nóc chuồng, lồng úm, chụp sưởi và các dụng cụchăn nuôi: Máng ăn, máng uống Máng ăn, máng uống phải rửa sạch tối thiểu 1lần/ngày, trong 10 ngày đầu 2 lần/ngày Chuồng nuôi luôn giữ cho khô ráo, sạch sẽ,thông thoáng, nhiệt độ thích hợp theo nhu cầu của gà Sau khi sát trùng chuồng trại cần
bỏ trống chuồng ít nhất 7 ngày
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 23- Chăm sóc, nuôi dưỡng:
+ Chuồng úm:
Úm lồng: Sử dụng chuồng úm có kích thước 1m x 2m cho 100 gà trong tuần đầuvới nhiệt độ sưởi 37oC - 38oC (2 bóng đèn 100W) và giảm xuống còn 32oC - 35oC (1bóng đèn 100W) trong tuần kế, sau đó chỉ cần sưởi ban đêm
Úm nền: Phải chuẩn bị nền thật kỹ, có đổ chất độn chuồng (trấu khô sạch, nênphun thuốc diệt trùng) có độ dày tối thiểu 8cm Nguồn sưởi ấm phải được hoạt động 3
- 5 giờ trước khi đưa gà con vào Mỗi ổ úm chỉ nên úm tối đa 500 con Trong 2 - 3ngày đầu, dùng giấy báo lót đáy lồng úm, thay giấy lót mỗi ngày Nước uống phải cósẵn trước khi đưa gà con vào lồng úm Nên cho vào 1 lít nước uống 50g đường + 1gvitamin C để cho uống 12 giờ đầu tiên
+ Máng ăn: Gà dưới 1 tuần: Dùng khay cho ăn
Gà trên 1 tuần: Dùng máng dài 2m/con, tăng dần lên 5cm/con
+ Máng uống:
1 bình tròn (1 lít) cho 50 con dưới 2 tuần
1 bình (3 lít) cho 25 con trên 2 tuần hoặc 2 cm - 4 cm/con nếu máng uống dài
Nước uống: Phải trong, sạch không chứa chất độc hay vi khuẩn, nước có nhiệt độ
180C - 260C, luôn phải cấp đủ nước cho gà Mỗi ngày phải thay nước tối thiểu 2 lần.+ Thức ăn: Khi bắt gà con về nên cho gà uống nước, sau đó vài giờ mới nên cho
gà ăn Nên cho gà ăn nhiều để kích thích gà ăn nhiều và ăn hết số lượng trong ngày đểbảo đảm đủ nhu cầu cho gà phát triển tốt
Để nuôi gà CN người ta thường dùng các loại thức ăn CN khác nhau, tuỳ theođiều kiện chăn nuôi mà bà con có thể chọn một trong hai công thức pha trộn thức ănsau đây:
Loại 1: Thức ăn hỗn hợp là loại thức ăn dùng để cho gà ăn trực tiếp mà khôngcần phải pha trộn với các loại nguyên liệu khác bao gồm các loại thức ăn của các hãngnhư: Green feed, Cargil, Lái thiêu…
Loại 2: Các loại thức ăn đậm đặc pha trộn cùng với nguyên liệu sẵn có tại địaphương như: ngô, cám gạo để tạo thành loại thức ăn hỗn hợp cho gà, vừa giảm chi phí,vừa tận dụng được nguyên liệu sẵn có tại địa phương Cách pha trộn cho loại thức ănđậm đặc này như sau:
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 24Giai đoạn từ 1 đến 21 ngày tuổi: Để có 10kg thức ăn hỗn hợp cần trộn 3,5kg thức
ăn đậm đặc với 6,5kg ngô nghiền và cám gạo
Giai đoạn gà từ 22 đến 42 ngày tuổi: Để có 10kg thức ăn hỗn hợp cần trộn 3,1kgthức ăn đậm đặc với 6,9 kg ngô nghiền và cám gạo
Giai đoạn gà từ 42 ngày tuổi đến xuất chuồng: Để có 10kg thức ăn hỗn hợp cầntrộn 2,8 kg 1kg thức ăn đậm đặc với 7,2 kg ngô nghiền và cám gạo
* Kỹ thuật nuôi gà BCN
- Giai đoạn 1-4 tuần tuổi
Còn gọi là giai đoạn úm Giai đoạn này có ý nghĩa quyết định tới tốc độ tăngtrọng, tỉ lệ hao hụt và hiệu quả kinh tế
+ Phòng úm: Nên chọn phòng kín úm, không có gió lùa, được vệ sinh sát trùngsạch sẽ
+ Quây úm: Thường làm bằng cót ép, quây có hình tròn, chiều cao quây 40 đến
50 cm, mỗi quây có đường kính 3m, úm được 500 con Chú ý: Về mùa đông quây úmđược che kín bằng bạt, có chỗ thoát khí
+ Nền chuồng: Rải trấu sạch, khô Mùa hè độ dầy của trấu là 5-7cm, mùa đông là10-15cm
+ Nguồn nhiệt: dùng bóng sưởi có công suất 200-250W Bóng sưởi được treo ởgiữa quây, cách nền trấu từ 30-35cm
- Chú ý: Không treo bóng sưởi trên máng ăn, máng uống Dưới tác dụng củanhiệt sẽ phân huỷ các Vitamin làm gà còi cọc chậm lớn
+ Máng ăn: Dùng khay vuông hoặc mẹt, mỗi khay cho 50 gà
+ Máng uống: Dùng máng uống galon loại 1,8 lít hoặc 3,8 lít Mỗi máng tính cho
50 gà Các máng ăn, máng uống xếp xen kẽ nhau để tiện cho gà ăn uống
+ Phương pháp úm gà: Trước khi nhận gà về phải chuẩn bị đầy đủ các trang thiết
bị và tiến hành làm quây úm theo yêu cầu đã trình bày ở trên
Quây úm phải bật điện sưởi trước 2 giờ sau đó mới thả gà vào Đồng thời cho gà uốngnước có pha thuốc bổ: Đường Glucoza 50g + vitamin C 1g + Bcomplex 1g/1lít nước
Sau khi cho gà uống đủ nước 1-2 giờ mới cho gà ăn cám để tránh hiện tượng bộithực cho gà
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 25+ Cám gà nên chọn loại thức ăn thơm ngon, chất lượng đảm bảo, pha trộn theodúng tỉ lệ của hãng sản xuất Cứ 2-3 giờ sàng loại bỏ tạp chất và bổ sung thức ăn mới.+ Yêu cầu nhiệt độ:
Giai đoạn úm gà nhiệt độ là quan trọng nhất
Tuần thứ nhất: Nhiệt độ quây úm từ 32 - 330C
Khắc phục hiện tượng thừa hoặc thiếu nhiệt bằng cách thêm vào hoặc rút bớtbóng sưởi
+ Dãn quây gà: Vào mùa hè ta nới rộng quây vào khi gà 5 hoặc 7 ngày tuổi, mùađông khi 7 hoặc 10 ngày tuổi Khi dãn quây đồng thời nhỏ vacxin Lasota và chủng đậutheo lịch
+ Máng ăn, máng uống: Từ tuần thứ 2 trở đi thay dần khay vuông hoặc mẹtbằng máng P50, máng uống Galon bằng chậu có vòng bảo vệ để giữ cho nước uốngđược sạch
- Giai đoạn 4 tuần tuổi đến khi xuất gà
Giai đoạn này gà nuôi tự do trong sân thả vào ban ngày Vào ban đêm thì cho gàvào chuồng, lưu ý mật độ khi nhốt chuồng 6-8 con/m2(mùa hè thấp hơn) Đặc biệt lưu
ý vệ sinh phòng bệnh Yêu cầu chuồng trại vệ sinh tốt, thoáng mát Cần thường xuyêndùng thuốc phòng bệnh theo định kỳ và tuyệt đối tuân thủ quy trình dùng vacxinphòng bệnh
1.1.1.4 Xu hướng phát triển chăn nuôi gà hiện nay
Hiện nay trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng đang có nhiều hướng đicho việc chăn nuôi gà, càng ngày càng có nhiều mô hình chăn nuôi gà mới và có hiệuquả Cùng với sự phát triển của công nghệ sinh học và biến đổi gen nhiều giống gà laisiêu trứng, thịt thơm ngon đã được đưa vào nuôi hàng loạt
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 26Ở các nước phát triển hầu hết các cơ sở đều chăn nuôi theo hướng CN với sốlượng lớn, quy mô chuồng trại lớn và hiện đại, đối với các nước đang phát triển nhưViệt Nam thì hình thức nuôi CN chỉ mới ở quy mô nhỏ là chủ yếu, đa số người dânnước ta vẫn nuôi gà theo phương thức truyền thống, và gần đây thì hình thức nuôiBCN, thả vườn mới bắt đầu được ưa chuộng, sở dĩ hình thức nuôi BCN đang phát triểnmạnh vì chất lượng gà thịt thơm, ngon và đặc biệt là dai thịt nên nó rất phù hợp vớikhẩu vị của người Việt Nam Các giống gà được nuôi là giống gà lai nên sức chốngchịu bệnh tật tốt hơn, nhanh lớn nên mạng lại hiệu quả cao hơn so với nuôi các giống
gà nội theo kiểu truyền thống
Đời sống còn người ngày càng cao nên ngoài việc ăn no hay ăn ngon thì conngười quan tâm tới nhiều lĩnh vực khác như chăm sóc sức khỏe, những thú ẩm thực,thú chơi lạ, sự quan tâm đặc biệt của người dân, những giống gà làm thuốc, gà cảnh,
gà chọi…vẫn đang tiếp tục được ưa chuộng Giới chăn nuôi nắm bắt được điều đó, dovậy, một số cơ sở chăn nuôi hiện nay cũng đang nuôi nhiều giống gà mới để phục vụcho những nhu cầu đa dạng đó của người tiêu dùng
Sức khỏe của còn người có lẽ luôn là vấn đề được quan tâm hàng đầu, trongnhững năm gần đây khi có nhiều bệnh nguy hiểm, những căn bệnh khác lạ mà y họckhông thể chữa được làm cho loài người càng lo lắng cho sức khỏe của mình cũng nhưthế hệ tương lai, do vậy, ngoài việc bảo vệ môi trường sống trong lành thì con ngườiquan tâm nhiều tới vệ sinh an toàn thực phẩm Các thực phẩm hiện nay được sản xuấthàng loạt, không đủ đảm bảo vệ sinh, chứa nhiều chất gây nguy hiểm cho tính mạngcủa con người, vì thế, người mua hàng luôn soi xét kỹ lưỡng thực phẩm trước khi mua.Với yêu cầu khắt khe như vậy của thị trường, hiện nay người chăn nuôi đang nỗ lựcchăn nuôi gà theo hướng an toàn sinh học, nhằm tạo ra những sản phẩm sạch để đápứng được nhu cầu khách hàng, kể cả những khách hàng khó tính nhất
1.1.2 Hiệu quả kinh tế và các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế
1.1.2.1 Khái niệm và bản chất của hiệu quả kinh tế
Trang 27Theo GS.TS Ngô Đình Giao cho rằng: "Hiệu quả kinh tế là tiêu chuẩn cao nhất của mọi sự lựa chọn kinh tế của các doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường có sự quản lý của nhà nước"
Theo TS Nguyễn Tiến Mạnh cho rằng: "Hiệu quả kinh tế là phạm trù khách quan phản ánh trình độ lợi dụng các nguồn lực (nhân lực, vật lực, tài lực, tiền vốn) để đạt được các mục tiêu đã được xác định Theo quan điểm này thì hoàn toàn có thể tính toán được hiệu quả kinh tế mà sự vận động và biến đổi không ngừng của các hoạt động kinh tế, không phụ thuộc vào quy mô và tốc độ biến động khác nhau của chúng" Theo Farell (1957), Fchultz (1966), Rizzo (1979) và Ellí (1993) cho rằng: "Hiệu quả kinh tế đựơc xác định bởi việc so sánh giữa kết quả đạt được và chi phí bỏ ra để đạt được kết quả"
Như vậy có thể nói “Hiệu quả kinh tế của một hiện tượng (hoặc quá trình) kinh
tế là một phạm trù kinh tế khách quan phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực (nhân lực, tài lực, vật lực, tiền vốn) để đạt được mục tiêu xác định” Từ khái niệm khái quát
này, có thể hình thành công thức biểu diễn khái quát phạm trù hiệu quả kinh tế như sau:
H = Q/C (1)Với H là hiệu quả kinh tế của một hiện tượng (quá trình kinh tế) nào đó; Q là kếtquả thu được từ hiện tượng (quá trình) kinh tế đó và C là chi phí toàn bộ để đạt đượckết quả đó Và như thế cũng có thể khái niệm ngắn gọn: Hiệu quả kinh tế phản ánhchất lượng hoạt động kinh tế và được xác định bởi tỷ số giữa kết quả đạt được với chiphí bỏ ra để đạt được kết quả đó, chúng ta có thể hiểu hiệu quả kinh tế của hoạt độngsản xuất kinh doanh là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực(lao động, máy móc, thiết bị, nguyên vật liệu và tiền vốn) nhằm đạt được mục tiêu màdoanh nghiệp đã xác định
b Bản chất
Bản chất của hiệu quả kinh tế là mối tương quan so sánh tương đối và tuyệt đốigiữa lượng kết quả thu được và lượng chi phí bỏ ra Để đạt được cùng một khối lượngsản phẩm người ta có thể bằng nhiều cách khác nhau song do sự mâu thuẫn giữa nhucầu tăng lên của con người với sự hữu hạn của nguồn tài nguyên, nên khi đánh giá kếtquả của một quá trình sản xuất kinh doanh cần phải xem xét kết quả đó được tạo ra
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 28như thế nào và mất bao nhiêu chi phí Việc đánh giá kết quả của hoạt động sản xuấtkinh doanh không chỉ dừng lại ở việc đánh giá số lượng sản phẩm đạt được mà cònphải đánh giá chất lượng của hoạt động đó Đánh giá chất lượng của hoạt động sảnxuất kinh doanh chính là đánh giá hiệu quả kinh tế trên phạm vi xã hội, các chi phí bỏ
ra để thu được kết quả phải là chi phí lao động xã hội Từ đó bản chất của hiệu quảkinh tế xã hội chính là hiệu quả của lao động xã hội, thước đo của hiệu quả là sự tiếtkiệm lao động xã hội và tiêu chuẩn của hiệu quả là tối đa hoá kết quả đạt được và tốithiểu hoá chi phí bỏ ra dựa trên các nguồn lực hiện có Vì vậy đánh giá các hiệu quảkinh tế cần phải xem xét đến các nguồn lực, và chỉ khi nào việc sử dụng các nguồn lựcđạt được cả hiệu quả kỹ thuật và hiệu quả phân bổ thì khi đó sản xuất mới đạt đuợchiệu quả kinh tế
1.2.2.2 Các yếu tố ảnh hưởng cơ bản đến hiệu quả kinh tế chăn nuôi gà thịt
* Các yếu tố chủ quan ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế chăn nuôi gà thịt
- Kinh nghiệm, kiến thức chăn nuôi
Kinh nghiệm và kiến thức ảnh hưởng không nhỏ đến kết quả và hiệu quả kinh tếchăn nuôi gà thịt Nếu người nuôi không có kiến thức chăn nuôi sẽ hạn chế việc ápdụng những tiến bộ kỹ thuật chăn nuôi, không nắm bắt được thông tin về thị trườngdẫn đến thua thiệt trong mặc cả giá bán sản phẩm Từ đó làm giảm lợi nhuận, hiệu quảnuôi mang lại thấp Ngược lại đối với người có kiến thức, thường xuyên tham khảohọc hỏi những kỹ thuật chăn nuôi mới, liên tục cập nhật thông tin thị trường, diễn biếngiá cả đầu vào và đầu ra, họ sẽ biết nắm bắt những cơ hội để nuôi có hiệu quả cũngnhư bán sản phẩm với giá cao, mang lại mức lợi nhuận tối đa
Từ ngàn đời nay trong trồng trọt và chăn nuôi người nông dân luôn coi kinhnghiệm là một yếu tố không thể thiếu để đạt được kết quả cao trong sản xuất Đối vớichăn nuôi gà thịt cũng như vậy, họ xem kinh nghiệm là một trong những yếu tố thenchốt để mang lại kết quả cao Những người có kinh nghiệm nuôi lâu năm sẽ nắm bắt rõđặc điểm sinh học của gà, biết được những căn bệnh cũng như triệu chứng bệnh của gà
để phòng và chửa bệnh một cách kịp thời, những quy luật về sự thay đổi thời tiết đểđiều chỉnh mức nhiệt độ thích hợp cho gà…điều này làm giảm tỷ lệ hao hụt trong mỗilứa nuôi, đưa lại kết quả nuôi cao cho hộ
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 29- Vốn
Đây là yếu tố đầu vào rất quan trọng cho quá trình chăn nuôi của hộ Theo nghĩarộng thì vốn bao gồm tất cả tư liệu sản xuất, tri thức, sức khỏe, khả năng tổ chức quảnlý… Trong chăn nuôi gà, vốn được xem là các yếu tố đầu vào cho quá trình chăn nuôinhư giống, thức ăn, thuốc thú y…Vốn có ảnh hưởng rất lớn đến quá trình chăn nuôi,khi có vốn người chăn nuôi có thể mở rộng được quy mô và tăng mức đầu tư Đối vớichăn nuôi gà thịt thì vốn được đầu tư vào xây dựng chuồng trại, sau đó cứ mỗi vụ nuôi
hộ chăn nuôi lại phải chi thêm một khoản chi phí sản xuất trực tiếp đến cuối vụ mớithu hồi được chi phí sản xuất trực tiếp và một phần để khấu hao TSCĐ Vì vậy, đây làđiều thường gây khó khăn cho người chăn nuôi không có vốn để đầu tư nhiều cho sảnxuất Đặc điểm của vốn trong sản xuất nông nghiệp nói chung và chăn nuôi gà thịt nóiriêng độ rủi ro khá cao, một trận dịch lớn thì nguồn vốn sản xuất trực tiếp sẽ chỉ cònlại con số không, vì vậy, gây tâm lý e ngại đầu tư nên không mang lại kết quả tốt
- Quy mô nuôi
Trong chăn nuôi quy mô có ảnh hưởng quan trọng đến sản lượng thu được, từ đóảnh hưởng đến lợi nhuận và hiệu quả kinh tế của các hộ chăn nuôi Nếu được nuôi vớiquy mô lớn người chăn nuôi sẽ dễ dàng áp dụng các kỹ thuật nuôi tiến bộ, chăm sócthú y đồng loạt Do vậy, đối tượng nuôi không mắc một số bệnh Ngoài ra khi nuôiquy mô lớn thì các chí phí đầu vào giảm bớt do mua với số lượng lớn, các dịch vụ đầuvào cũng được phục vụ chu đáo hơn Chi phí nuôi giảm, tỷ lệ hao hụt thấp là một điềukiện để hộ nuôi tăng giá trị sản xuất, từ đó tăng hiệu quả kinh tế Tuy nhiên quy môlớn lại gặp nhiều rủi ro, nếu xẩy ra dịch bệnh thiệt hại là rất lớn, mức đầu tư cao nênchỉ có những hộ có đủ năng lực tài chính mới có thể thực hiện được
* Các yếu tố khách quan ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế chăn nuôi gà thịt
- Thị trường
Thị trường là một nhân tố ảnh hưởng khá rõ đến kết quả và hiệu quả chăn nuôi gàthịt Bất cứ hoạt động sản xuất và tiêu thụ hàng hóa dịch vụ nào cũng chịu sự tác độngqua lại của cung cầu trên trị trường Do vậy, chăn nuôi và tiêu thụ sản phẩm gà thịtcũng chịu ảnh hưởng của yếu tố thị trường, bao gồm cả thị trường đầu vào và đầu ra
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 30Đối với thị trường đầu vào, khi giá cả đầu vào ổn định và ở mức thấp hộ chănnuôi sẽ yên tâm hơn Bên cạnh đó các dịch vụ của các đầu vào như vận chuyển, cungcấp thông tin, kỹ thuật sử dụnggiống, thức ăn, thuốc thú y…cũng là một việc làm hếtsức quan trọng để giúp người dân tăng mức độ tin cậy với các đầu vào này.Đồng thờikhi hệ thống đầu vào được trang bị tốt sẽ là cơ sở cho việc giảm khoảng chênh lệch giágiữa các khâu trung gian và giảm chi phí sản xuất Đây cũng là một yếu tố góp phầnnâng cao hiệu quả trong chăn nuôi.
Giá cả đầu ra luôn là vấn là vấn đề được người chăn nuôi quan tâm và ảnh hưởng rấtnhiều đến tâm lý của người chăn nuôi Khi giá cả thị trường đầu ra ổn định sẽ kích thíchngười chăn nuôi tăng mức đầu tư Khi thị trường mất ổn định, giá cả bấp bênh, ngườichăn nuôi sẽ lo lắng, việc đầu tư sẽ phần đó giảm đi do tâm lỹ sợ hãi và hoang mang
- Khí hậu, thời tiết
Trong sinh thái chăn nuôi hiện đại, các yếu tố khí hậu, thời tiết được đặc biệt chú
ý Cũng như con người, cây trồng, các sinh vật khác, vật nuôi chịu nhiều ảnh hưởng,tác động từ phía môi trường ngoài Các yếu tố khí tượng thuỷ văn như: độ ẩm khôngkhí, nhiệt độ, tốc độ gió, hướng gió, lượng bốc hơi nước, lượng mưa, số ngày mưatrong tháng, trong năm… đều ít nhiều ảnh hưởng đến sức khoẻ vật nuôi, nhất là vậtnuôi quy mô nhỏ với các chuồng nuôi đơn giản
Đối với chăn nuôi gà thịt, trước khi xây dựng chuồng trại, người dân thường cânnhắc kỹ các yếu tố khí hậu, thời tiết để tránh cho gà phần nào các yếu tố bất lợi củamôi trường: che chắn để tránh gió lùa vào mùa đông, làm nền chuồng cao, làm mái haitầng…Các tỉnh miền trung nói chung và tỉnh Thừa Thiên Huế nói riêng thường xuấthiện những trận gió lào, những đợt mưa rét kéo dài…làm ảnh hưởng nghiêm trọng tớisức khoẻ gà thịt
Nguồn thức ăn cho gà thịtcũng phải chịu nhiều tác động từ phía môi trườngngoài Với thức ăn tự có của hộ gia đình, chủ yếu là các sản phẩm cây trồng, thời tiếtảnh hưởng tới cây trồng theo mùa vụ, khi thời tiết thuận lợi, các loại cây trồng của hộđược mùa, sẽ kéo theo nguồn thức ăn cho gà được phong phú, dồi dào
Bên cạnh đó, các yếu tố dịch bệnh cũng ảnh hưởng lớn đến chăn nuôi gà thịt.Dịch bệnh các loại gia cầm nói chung thường phát theo mùa, phụ thuộc vào các yếu tố
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 31thời tiết và khí hậu Sự phát triển, tăng trưởng của các tác nhân gây bệnh như vi khuẩn,
vi rút, ký sinh trùng, nấm…quan hệ mật thiết với các yếu tố khí hậu, thời tiết
- Thể chế, chính sách
Thể chế, chính sách của Nhà nước, của chính quyền địa phương cũng có tầm ảnhhưởng rất lớn đến sự phát triển ngành chăn nuôi gà thịt Một chính sách nới lỏng,thông thoáng trong tín dụng khuyến nông, tiếp cận khoa học kỹ thuật sẽ giúp ngườidân mạnh dạn đầu tư chăn nuôi, mở rộng quy mô chăn nuôi Ngược lại một chính sáchquá chặt chẻ và ràng buộc và thụ động sẽ cản trở sự đầu tư của hộ chăn nuôi
1.1.2.3 Hệ thống chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh tế nuôi gà thịt
- Tổng giá trị sản xuất (GO): Được tính bằng sản lượng các loại sản phẩm Qinhânvới giá đơn vị sản phẩm tương ứng (Pi): GO
- Thu nhập hỗn hợp (MI): Được tính bằng tổng giá trị sản xuất (GO) trừ đi chi phísản xuất của hộ: MI = GO - C
+ Chi phí sản xuất (C): Là toàn bộ chi phí bằng tiền của hộ để tiến hành sản xuấtkinh doanh, bao gồm chi phí sản xuất trực tiếp (TT) cộng với (+) lãi tiền vay ngân hàng(i) và khấu hao TSCĐ (De)
+ Chi phí sản xuất trực tiếp (TT): là toàn bộ chi phí bằng tiền mặt của hộ để tiếnhành sản xuất kinh doanh như mua vật tư, thuê lao động, thuê các dịch vụ khác, cáckhoản chi phí này thường được tính theo giá thị trường
+ Chi phí tự có (TC): Là các khoản chi phí mà hộ gia đình không phải dùng tiềnmặt để thanh toán và gia đình có khả năng cung cấp như lao động gia đình, vật tư giađình tự sản xuất…Thông thường các khoản chi phí này được tính theo “chi phí cơ hội”
- Lợi nhuận kinh tế ròng (NB): Là phần còn lại của tổng giá trị sản xuất (GO) saukhi trừ đi chi phí sản xuất (C); các khoản vật tư tự sản xuất; lao động gia đình (TC) Haylợi nhuận kinh tế ròng là phần còn lại của thu nhập hỗn hợp (MI) sau khi các khoản vật
tư tự sản xuất; và lao động gia đình (TC) Lợi nhuận kinh tế ròng được xác định bởicông thức sau: NB=GO - C - TC hay NB=MI - TC
Hiệu quả kinh tế được đo lường bằng các chỉ tiêu kinh tế tương đối, thể hiện quan
hệ so sánh giữa các yếu tố đầu ra và đầu vào của hoạt động sản xuất kinh doanh
H = Q/C (1) h = C/Q (2
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 32Trong đó:
H, h: Hiệu quả kinh tế
Q: Kết quả sản xuất kinh doanh
C: Chi phí sản xuất
H: Thể hiện một đồng chi phí sản xuất (đơn vị đầu vào) cho ra bao nhiêu đồnggiá trị sản lượng (đơn vị đầu ra)
h: Thể hiện để đạt được một đơn vị sản lượng (đơn vị đầu ra) cần bao nhiêu đơn
vị chi phí sản xuất (đơn vị đầu vào)
Hai loại chỉ tiêu này có ý nghĩa khác nhau, nhưng do mối quan hệ khác nhau,nhưng do có mối quan hệ mật thiết với nhau và cùng được sử dụng để phản ánh hiệuquả kinh tế của nông hộ Ngoài các chỉ tiêu trên, còn thể dùng các chỉ tiêu cận biên để
đo lường mức hiệu quả kinh tế của hộ như sau:
Hb= (3) hb= (4)Trong đó:
Hb, hb: Hiệu quả kinh tế cận biên
Q: Lượng kết quả tăng thêm
C: Lượng chi phí tăng thêm
Hb: Thể hiện nếu tăng thêm một đơn vị chi phí sẽ tăng thêm bao nhiêu đơn vị kết quả
hb: Thể hiện để tăng thêm một đơn vị kết quả cần tăng thêm bao nhiêu đơn vị chi phíCác chỉ tiêu này có ý nghĩa rất quan trọng trong phân tích kinh tế Vì quy luật cậnbiên là nguyên lý quan trọng điều chỉnh hành vi của nông hộ trong đầu tư phát triểnsản xuất
Tùy mục đích tính toán, mà các chỉ tiêu ở mẫu số và tử số của công thức trên có thểthay đổi rất linh hoạt Ví dụ, kết quả sản xuất có thể được tính toán là: tổng giá trị sản xuất(GO), thu nhập hỗn hợp (MI) hay lợi nhuận kinh tế ròng (NB)
Tương tự các chỉ tiêu chi phí sản xuất (C) cũng có thể thay đổi rất linh hoạt Vídụ: chi phí sản xuất có thể sử dụng là: Tổng chi phí sản xuất, chi phí sản xuất bằng tiềncủa hộ (Cbt), chi phí sản xuất (C)
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 33Ngoài ra chúng ta còn có thể sử dụng chỉ tiêu lợi nhuận kinh tế ròng bình quântrên một công lao động (NB/LĐ) để tính toán chính xác một công lao động của hộ từviệc nuôi gà thịt tạo ra bao nhiêu lợi nhuận Từ đó, so sánh lợi nhuận tạo ra từ mộtcông lao động giữa hai hình thức nuôi và so sánh với giá một công lao động bình quântrên địa bàn để đưa ra kết luận hộ có nên tiếp tục thực hiện hoạt động kinh tế đó haykhông.
1.2 Cơ sở thực tiễn
1.2.1 Khái quát tình hình chăn nuôi và tiêu thụ các sản phẩm gà thịt trên thế giới
Chăn nuôi gia cầm nói chung chăn nuôi gà thịt nói riêng trong mấy chục năm trởlại đây đã trở thành nguồn sản xuất theo kiểu CN với hiệu quả kinh tế cao Chăn nuôi
gà thịt thế giới phát triển nhanh cả về đàn con, chất lượng sản phẩm cũng được nânglên rõ rệt Nhiều phương thức chăn nuôi mới ra đời đã làm đa dạng phong phú thêmphương thức, mục đích chăn nuôi Nhu cầu dinh dưỡng và thưởng thức sản phẩm gàthịt ngày càng cao, vì thế gà thịt phát triển cả về số lượng, qui mô, tốc độ, giá trị Cáckhâu về giống, thuốc thú y, thức ăn, kỹ thuật đã được coi trọng và có những đầu tưthích đáng
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 34Bảng 1: Cơ cấu sản xuất thịt gia súc, gia cầm trên thế giới
Nguồn: FAO World Food Outlook, 2011
Số liệu bảng trên cho thấy: Sản lượng thịt gia cầm tăng nhanh hơn sản phẩm thịt
bò và thịt lợn Năm 2007, sản lượng thịt gia cầm thế giới đạt 89 triệu tấn, thịt lợn là103,6 triệu tấn, thịt bò 66,4 triệu tấn, thịt dê cừu là 14 triệu, nhưng ước tính đến năm
2011 (sau 5 năm) sản lượng thịt gia cầm tăng lên 101,1 tấn, trong khi, thịt bò chỉ đạt
64 triệu tấn, thịt lợn đạt 110,2 triệu tấn, thịt dê cừu đạt 13 triệu tấn Ước tính sản lượngthịt gia cầm năm 2011 so với năm 2010 tăng 3,1%, trong khi đó thịt bò giảm 0,5%, sảnlượng thịt lợn tăng 0,9% và sản lượng thịt dê cừu giảm 0,1% Qua đó cho thấy sảnphẩm thịt gia cầm ngày càng được sản xuất nhiều hơn nhằm đáp ứng nhu cầu cao củangười tiêu dùng
Trong các thịt gia cầm thì thịt gà chiếm 86% tổng lượng thịt gia cầm, phần cònlại là các loại thịt gia cầm như thịt vịt, thịt ngan, thịt ngỗng
Tổng sản lượng thịt sản xuất năm 2009 của thế giới trên 281 triệu tấn, trong đóthịt trâu chiếm 3,3 triệu tấn, thịt bò 61,8 triệu, thịt dê 4,9 triệu tấn, thịt cừu 8,1 triệutấn, thịt lợn 106 triệu tấn, thịt gà 79,5 triệu tấn, thịt vịt 3,8 triệu tấn và còn lại là cácloại thịt khác như thỏ, ngựa, lạc đà, lừa
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 35Biểu đồ: Cơ cấu sản phẩm thịt gia súc, gia cầm của thế giới năm 2009
Qua biểu đồ trên ta thấy cơ cấu về thịt của thế giới nhiều nhất là thịt lợn chiếm38%, thịt gà 28%, thịt bò 22% tổng sản lượng thịt, còn lại là thịt dê, cừu, ngựa, trâu,vịt và các vật nuôi khác Như vậy, trong cơ cấu sản phẩm thịt của ngành chăn nuôi thìthịt gà vẫn giữ một vai trò quan trọng, đứng vị trí thứ 2 về số lượng sản xuất cũng nhưtiêu thụ các sản phẩm thịt của ngành chăn nuôi thế giới
Chăn nuôi gia cầm phát triển kéo theo thương mại các sản phẩm gia cầm trên thếgiới cũng phát triển mạnh trong vòng 35 năm qua
Bảng 2: Cơ cấu tiêu thụ sản phẩm thịt gia súc, gia cầm
trên thế giới giai đoạn 2007-2011
Nguồn: FAO World Food Outlook, 2011
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 36Qua bảng số liệu trên ta thấy: sản phẩm thịt gia cầm ngày càng được ưa chuộng
và được tiêu thụ nhiều hơn Năm 2011, ước tính sản phẩm thịt gia cầm tăng lượng tiêuthụ lên 3,7% so với năm 2010
1.2.2 Tình hình chăn nuôi và tiêu thụ các sản phẩm gà ở Việt Nam
1.2.2.1 Tình hình chăn nuôi gà ở Việt Nam
Chăn nuôi gà nói riêng và chăn nuôi gia cầm nói chung là nghề sản xuất truyềnthống lâu đời và chiếm vị trí quan trọng thứ hai trong tổng giá trị sản xuất của ngànhchăn nuôi nước ta Chăn nuôi gà chiếm 72-73% trong tổng đàn gia cầm hàng năm.Chăn nuôi gà phát triển mạnh nhất là các vùng Đồng bằng sông Hồng, Đồng bằngsông Cửu Long và Đông Bắc chiếm 60% đàn gà của cả nước Các vùng phát triển tiếptheo là Đông Nam bộ và Bắc Trung bộ, chiếm 26%, các vùng có sản lượng thấp nhất
là Tây Bắc và Tây Nguyên, chỉ chiếm từ 4-5% về số lượng đầu con [11]
Hiện nay chăn nuôi gà ở nước ta có ba hình thức chăn nuôi cơ bản đó là: chănnuôi theo phương thức truyền thống thường thấy ở các nông hộ nhỏ lẻ, chăn nuôi BCNthả vườn hoặc thả đồi và cuối cùng là hình thức chăn nuôi CN
Việt Nam có nhiều giống gà nội được chọn lọc thuần hoá từ lâu đời như gà Ri, gàMía, gà Hồ, gà H’mông, gà Tre, gà Ác Một số giống trong đó có chất lượng thịttrứng thơm ngon như gà Ri, gà H’mông Tuy nhiên, do không được đầu tư chọn lọc laitạo nên năng suất còn rất thấp Một số giống quý nhưng chỉ tồn tại ở một số địa bàn rấthẹp như gà Hồ, gà Đông Tảo, gà Mía Việc sản xuất và cung cấp con giống diễn ra tạicác hộ gia đình chăn nuôi chủ yếu theo hình thức tự sản, tự tiêu tại địa phương Hiệnnay, cả nước chỉ có một cơ sở nghiên cứu chọn lọc, cải tạo giống gà Ri nhưng quy môquần thể và đầu tư kinh phí còn rất hạn chế, giống được cải tiến chậm, chất lượng chưacao, số lượng đưa ra sản xuất chưa nhiều Ngoài ra, trong những năm qua, nước ta đãnhập 14 giống gà Các giống nhập khẩu chủ yếu là bố mẹ và một số ít giống ông bànhư các giống gà Tam hoàng, gà Lương phượng, gà Sacso, gà Plymouth, gàHubbard… Tuy nhiên, công nghệ chăn nuôi chưa hoàn toàn đồng bộ nên năng suấtcủa các giống nhập khẩu nuôi ở nước ta chỉ đạt 85-90% so với năng suất chuẩn củagiống [11]
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 37Do phương thức chăn nuôi nhỏ lẻ, thả rông, buôn bán, giết mổ phân tán, khôngđảm bảo an toàn sinh học nên dịch bệnh vẫn thường xuyên xẩy ra, gây tổn thất lớn vềkinh tế Các bệnh thường gặp là Niucátxơn, Gumbôrô, Tụ huyết trùng, Dịch tả v.v Trong đó, tỉ lệ gia cầm bị bệnh Niucátxơn từ 40-53%, bệnh Gumbôrô 27-32%, tụhuyết trùng 14-15% Theo số liệu điều tra của Viện Chăn nuôi Quốc gia, tỉ lệ chết từkhi nở ra cho đến lúc trưởng thành của đàn gà nuôi thả rông là 47%; chi phí thuốc thú
y trị bệnh lên đến 10-12% giá thành Đặc biệt dịch cúm gia cầm đã bùng phát ở nước
ta từ tháng 12/2003 đến nay Qua hai năm dịch đã phát 4 đợt Tổng số gia cầm (cả gà
và vịt) chết và tiêu huỷ qua 4 đợt dịch là trên 51 triệu con, thiệt hại ước tính gần10.000 tỷ đồng [11] Trong năm 2011, dịch bệnh trên gia cầm tuy có diễn biến phứctạp nhưng cơ bản đã được khống chế, so với cùng kỳ năm 2010, dịch đã giảm Tuynhiên, dịch cúm gia cầm cao do vi rút cúm gia cầm H5N1 đã xuất hiện nhánh mới ởhầu hết các tỉnh Bắc Bộ, Trung Bộ và Tây Nguyên làm cho hiệu quả của vacxin đang
sử dụng không cao
Mặc dù tình hình chăn nuôi gà của Việt Nam đã có rất nhiều sự thay đổi tuynhiên bên cạnh đó vẫn tồn tại những thách thức trong chăn nuôi gà như chăn nuôi gàchủ yếu là nhỏ lẻ, phân tán trong nông hộ, năng suất và hiệu quả chăn nuôi thấp,nguồn lực đầu tư cho chăn nuôi của xã hội là nhỏ bé, thách thức của quá trình hội nhậpcũng là một bài toán khó cho chăn nuôi gà Việt Nam mà chúng ta cần phải giải quyết
1.2.2.2 Tình hình chế biến và tiêu thụ sản phẩm gà ở Việt Nam
Trước khi dịch cúm bùng phát, hệ thống giết mổ, chế biến gia cầm ở nước ta hếtsức lạc hậu Hầu hết gia cầm (cả gà và vịt) được giết mổ thủ công, phân tán ở khắpmọi nơi (tại chợ buôn bán gia cầm, trên hè phố, trong thôn xóm, trong hộ gia đìnhv.v ); vệ sinh an toàn thực phẩm không bảo đảm Trước dịch, cả nước có khoảng 28
cơ sở lớn chế biến thịt, nhưng nguyên liệu chế biến chủ yếu là thịt lợn và trâu bò, sảnlượng thịt gà, vịt không đáng kể Vì vậy, hơn 95% sản phẩm thịt gia cầm được tiêu thụ
Trang 38quốc (FAO) đã cảnh báo: các chợ buôn bán, giết mổ gia cầm sống là kho lưu trữ vànguồn lây truyền bệnh cúm ở Việt Nam.
Trước diễn biến phức tạp của dịch cúm, do yêu cầu của thị trường sử dụng sảnphẩm đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm, nhiều địa phương, doanh nghiệp đã đầu tưxây dựng các cơ sở, dây chuyền giết mổ, chế biến sản phẩm gia cầm Nhiều doanhnghiệp đã phát triển chăn nuôi gắn liền với giết mổ, chế biến của đơn vị để đảm bảokhép kín, an toàn nguồn nguyên liệu Tuy nhiên, phần lớn các dây chuyền giết mổ tạicác địa phương hiện nay vẫn là thủ công,bán công nghiệp, mức đầu tư thấp Cơ sở vậtchất như nhà xưởng, kho tàng, thiết bị làm lạnh, xử lý môi trường chưa được quantâm đầu tư đúng mức Nhiều cơ sở tận dụng nhà xưởng cũ, nhà giết mổ nằm sátchuồng gà, cơ sở giết mổ nằm ngay trong khu dân cư, nhiều sản phẩm chưa thực sựđảm bảo vệ sinh Lao động kỹ thuật thiếu nghiêm trọng Số cơ sở chế biến để nâng caogiá trị sản phẩm vẫn còn rất nhỏ bé
Trước dịch cúm gia cầm trên 95% sản phẩm bán là tươi sống và hoàn toàn tiêuthụ trong nước [11] Gà sống và sản phẩm được bán khắp nơi, trong các chợ nôngthôn, chợ phiên, chợ nông sản và các chợ thành thị Sản phẩm không chế biến, khôngbao gói, không đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm Trong thời gian dịch cúm gia cầmxảy ra, do tâm lý e ngại lây truyền bệnh dịch, do không có CN chế biến, giết mổ, sảnphẩm không được chế biến bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm nên người dân không
sử dụng sản phẩm gia cầm Trong thời gian từ tháng 9-12/2006, thị trường gần nhưhoàn toàn đóng băng, sản phẩm thịt, trứng ứ đọng, gây tổn thất nghiêm trọng chongành chăn nuôi và gây thiệt hại cho cả người tiêu dùng Điều đó cho thấy, khi CN chếbiến, giết mổ chưa phát triển thì cả chăn nuôi và thị trường đều không bền vững Hiệnnay do một số tỉnh, thành phố đã tăng cường quản lý và có chính sách hỗ trợ, khuyếnkhích ổn định thị trường Một số doanh nghiệp đã đầu tư xây dựng các cơ sở giết mổ,chế biến tập trung, cung cấp cho thị trường một lượng sản phẩm bảo đảm vệ sinh nhấtđịnh, bước đầu tạo niềm tin và thói quen sử dụng sản phẩm qua chế biến, giết mổ chongười tiêu dùng Tuy nhiên, trong thời gian gần đây, sau khi dịch cúm gia cầm tạmlắng, việc quản lý buôn bán sản phẩm nhiều nơi bị buông lỏng, xu hướng vận chuyển,buôn bán, sử dụng gia cầm sống, nhất là tại các vùng nông thôn đang có chiều hướng
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 39phát triển trở lại cũng là nguyên nhân làm các nhà đầu tư e ngại trong việc xây dựngcác cơ sở giết mổ chế biến tập trung.
Trong những năm qua, tình hình nhập khẩu thịt gia cầm (mà chủ yếu là thịt gàcông nghiệp đông lạnh) vẫn chiếm tỉ lệ áp đảo cả về số lượng lẫn kim ngạch nhậpkhẩu Năm 2011 nước ta đã nhập 93.800 tấn thịt gà công nghiệp đông lạnh, chiếm83,2% tổng lượng thịt các loại nhập khẩu và tăng 35,3% so với năm 2010 TheoAgroMonitor, tổng hợp từ số liệu của Tổng cục Hải quan, Kim ngạch nhập khẩu thịtgia cầm năm 2011 là 95,3 triệu USD chiếm 61,9% tổng kim ngạch nhập khẩu thịt cácloại và tăng 37,56% so với năm 2010, tương đương tăng 26,03 triệu USD Mỹ vẫn làthị trường xuất khẩu thịt gia cầm lớn nhất vào Việt Nam với 74,34 triệu USD, tăng33,5% so với năm 2010; thứ 2 là Braxin với kim ngạch đạt 10,05 triệu USD Thịt gà
từ Brazin vào Việt nam năm 2011 đã tăng mạnh so với năm trước (tăng 85,4%) Tiếptheo là Hàn Quốc, đạt 7,33 triệu USD, tăng 53,1% Như vậy cả 3 thị trường này đã chiphối tới 96,2% tổng kim ngạch nhập khẩu thịt gia cầm năm 2011 [12]
1.2.3 Những chủ trương, chính sách đã áp dụng để phát triển chăn nuôi gà thịt
Trong thời gian vừa qua Nhà nước ta thực hiện được một số chủ trương, chínhsách nhằm thúc đầy phát triển chăn nuôi gà thịt trong cả nước và thực tiễn cũng đãđem lại cho người chăn nuôi cũng như ngành chăn nuôi gà nhưng kết quả đáng kể
Trước hết phải kể đến đó là chủ trương tiêm phòng miễn phí một số loại vacxincho gà thịt như vacxin cúm gia cầm, vacxin tụ huyết trùng Sau dịch cúm gia cầm năm
2005 chính phủ đã có quyết định hỗ trợ kinh phí phòng chống dịch cúm gia cầm như
hỗ trợ kinh phí tiêu hũy gia cầm bị bệnh, hỗ trợ kinh phí phòng bệnh cho gia cầm khi
có dịch, khoanh nợ trong thời gian một năm cho các hộ nuôi… Để việc phòng chốngdịch cúm gia cầm mang lại hiệu quả cao, ngành chăn nuôi có thể chủ động kiểm soát
và khống chế được dịch cúm gia cầm trong năm 2008-2010, thanh toán bệnh cúm giacầm trong năm 2015, giảm đến mức thấp nhất thiệt hại do dịch bệnh gây ra, đảm bảo
vệ sinh môi trường và an toàn thực phẩm đối với sản phẩm gà, Chính phủ đã miễn phíhoàn toàn tiền vacxin cúm gia cầm cho hộ chăn nuôi và đề nghị thú y các địa phươngchịu trách nhiệm tổ chức tiêm cho đàn gia cầm Thành quả đạt được của chủ trương làdịch cúm gia cầm cho đàn gà thịt của một số địa phường đã được khống chế, năm
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 402011 tuy dịch có xuất hiện trở lại ở một số vùng nhưng chỉ dừng lại ở phạm vi nhấtđịnh và không gây ảnh hưởng nhiều cho ngành chăn nuôi gà thịt.
Một trong nhưng chương trình đã được khuyến khích phát triển trong thời gianvừa qua là chương trình khuyến nông chăn nuôi gia cầm an toàn sinh học góp phầnkiểm soát và khống chế dịch cúm gia cầm, tăng năng suất, chất lượng và xóa đói giảmnghèo cho hộ chăn nuôi Chương trình đã đưa một số giống gà lông màu như gà TamHoàng, Lương Phượng, Isa-colour, Kabir vào nuôi ở một số tỉnh đạt kết quả rất tốt,khối lượng gà đạt 2,2-2,5kg ở 3 tháng tuổi Đây là chương trình được bà con nông dân
cả nước hưởng ứng rất nhanh, thực hiện tương đối dễ và có hiệu quả cao
Chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn là một hệ thốngcác biện pháp, chính sách của Nhà nước nhằm khuyến khích các tổ chức tín dụng chovay, đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn nhằm chuyển dịch cơ cấu kinh tếtrong nông nghiệp, nông thôn, xây dựng cơ sở hạ tầng, xóa đói giảm nghèo và từngbước nâng cao đời sống của nhân dân Để cho hộ chăn nuôi được vay vốn và mở rộngquy mô, đặc biệt là các hộ khó khăn về nguồn lực tài chính Nhà nước đã thực hiệnchính sách cho vay với lãi suất ưu đãi từ ngân hàng chính sách xã hội thông qua hộinông dân với lãi suất hiện tại là 0,65%/tháng Bên cạnh đó, Nhà nước còn khuyếnkhích quỹ tiết kiệm của hội phụ nữ cho các hội viên vay vốn nhằm tạo nguồn vốn chocác chị em phát triển chăn nuôi, tăng thu nhập cho gia đình Ngoài ra, các ngân hàng,
tổ chức tài chính đã thực hiện cho các đối tượng chính sách và các chương trình kinh
tế vay theo chỉ định của Chính phủ, được Chính phủ bảo đảm các điều kiện để thựchiện thông qua các chính sách đối với nông nghiệp, nông thôn, nông dân trong từngthời kỳ
Về đất đai, các địa phương đang tiến tới hoàn thiện quy hoạch, dồn điền đổi thửa
để dành đủ quỹ đất cho nhu cầu phát triển chăn nuôi nói chung và chăn nuôi gà thịt nóiriêng theo hướng trang trại, CN và BCN gắn với cụm giết mổ, nhằm từng bước đưachăn nuôi gà thịt ra khỏi khu dân cư Trong trường hợp phải thuê đất, người chăn nuôi
sẽ được miễn hoặc giảm tối thiểu 20 - 50% tiền sử dụng đất tuỳ từng trường hợp.Riêng về thuế, sẽ áp dụng khung thuế ưu đãi cao nhất về các loại thuế đối với cơ sở,doanh nghiệp chăn nuôi trang trại, công nghiệp; các cơ sở giết mổ, chế biến thực phẩm
Trường Đại học Kinh tế Huế