Kết quả mà khóa luận đặt ra là xây dựng được phần mềm cho phép tổ chức thi các môn học dưới hình thức trắc nghiệm trên máy tính một cách trực quan, với đề thi được tạo từ ngân hàng câu h
Trang 1LỜI CẢM ƠN
Sau một thời gian thực hiện khóa luận tốt nghiệp, đến nay mọi công việc liên quan đến khóa luận đã hoàn tất Để có được sự thành công này , trước tiên, em xin gửi lời cảm ơn chân thành tới tất cả các thầy cô giáo trường Đại học Kinh tế Huế, đặc biệt là các thầy cô ở Khoa Hệ Thống Thông tin Kinh tế, những người đã dày công dạy dỗ, truyền đạt những kinh nghiệm quý báu
Em cũng xin bày tỏ lời cảm ơn chân thành tới Thạc sĩ Lê Viết Mẫn, người đã tận tình hướng dẫn em trong suốt quá trình làm khóa luận tốt nghiệp Thầy đã giúp đỡ em rất nhiều từ việc hình thành những ý tưởng ban đầu cũng như hướng dẫn quá trình thực hiện ý tưởng và sau đó là góp
ý, chỉnh sửa để đề tài được hoàn thành tốt nhất có thể
Xin cảm ơn chân thành đến ba mẹ, người thân những người đã luôn dành tình yêu thương, hỗ trợ, theo dõi bước đi của em trong suốt những tháng năm trên ghế giảng đường, tạo điều kiện thuận lợi nhất để em có thể hoàn thành khóa luận của mình
Cám ơn bạn bè những người đã luôn sát cánh, cùng chia sẻ khó khăn
và giúp đỡ trong quá trình học tập Mặc dù đã cố gắng hoàn thành khóa
luận trong phạm vi và khả năng cho phép nhưng chắc chắn sẽ không tránh
khỏi những thiếu sót Em rất mong nhận được sự đóng góp, bổ sung ý kiến
của quý Thầy Cô và các bạn để khóa luận ngày càng hoàn thiện hơn
Trang 2MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT v
DANH MỤC HÌNH ẢNH, SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ vi
DANH MỤC BẢNG BIỂU viii
TÓM TẮT NGHIÊN CỨU ix
PHẦN I MỞ ĐẦU 10
1 Lý do chọn đề tài 10
2 Mục tiêu nghiên cứu 11
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 11
4 Phương pháp nghiên cứu 11
5 Nội dung của khóa luận 12
PHẦN II NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 13
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TRẮC NGHIỆM KHÁCH QUAN 13
1.1 Tổng quan về trắc nghiệm khách quan 13
1.1.1 Tự luận và trắc nghiệm khách quan 13
1.1.2 Những trường hợp dùng trắc nghiệm 15
1.1.3 Quy trình xây dựng đề thi trắc nghiệm khách quan, ngân hàng câu hỏi 16
1.2 Một số dạng câu hỏi trắc nghiệm khách quan thường gặp 17
1.2.1 Câu trắc nghiệm đa lựa chọn (multiple choice question) 17
1.2.2 Câu trắc nghiệm đúng – sai (true - false question) 19
1.2.3 Câu trắc nghiệm ghép đôi (matching question) 19
1.2.4 Câu trắc nghiệm điền khuyết (filling question) 20
1.2.5 Câu trắc nghiệm hình ảnh (image question) 21
1.3 Tính tin cậy và tính giá trị của bài trắc nghiệm 22
1.3.1 Tính tin cậy (Reliability) 22
1.3.2 Tính giá trị (Validity) 23
1.3.3 Mối liên hệ giữa tính tin cậy và tính giá trị 24
1.4 Đánh giá câu trắc nghiệm 24
1.4.1 Độ khó của câu hỏi trắc nghiệm 24
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 31.4.3 Độ tin cậy của bài trắc nghiệm 29
1.5 Đánh giá một số phần mềm hiện nay 35
1.6 Kết luận 36
CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP LUẬN XÂY DỰNG HỆ THỐNG THI VÀ ĐÁNH GIÁ CÂU HỎI, ĐỀ THI TRẮC NGHIỆM KHÁCH QUAN 37
2.1 Tổng quan về ngôn ngữ lập trình C-Sharp (C#) 37
2.2 Môi trường phát triển tích hợp Microsoft Visual Studio 39
2.3 Tổng quan về kiến trúc ADO.NET 40
2.3.1 Giới thiệu 40
2.3.2 Các ưu điểm của ADO.NET 41
2.4 Tổng quan về hệ quản trị CSDL MS SQLServer và ngôn ngữ T-SQL 43
2.4.1 Giới thiệu hệ quản trị CSDL Microsoft SQL Server 43
2.4.2 Giới thiệu ngôn ngữ T-SQL (Transact-SQL) 45
2.5 Các sơ đồ phân tích hệ thống 47
2.6 Thư viện công cụ thiết kế của DevExpress 50
2.7 Kết luận 50
CHƯƠNG 3 PHÂN TÍCH, THIẾT KẾ, XÂY DỰNG PHẦN MỀM THI, ĐÁNH GIÁ CÂU HỎI, ĐỀ THI TRẮC NGHIỆM KHÁCH QUAN 51
3.1 Hệ thống hỗ trợ thi trắc nghiệm 51
3.2 Phân tích hệ thống 52
3.2.1 Sơ đồ phân rã chức năng (BFD – Business Function Diagram): 52
3.2.2 Mô tả chức năng 53
3.2.3 Sơ đồ ngữ cảnh (Context Diagram) 56
3.2.4 Sơ đồ mô hình luồng dữ liệu (DFD – Data Flow Diagram): 57
3.3 Thiết kế cơ sở dữ liệu 61
3.3.1 Liệt kê các tập thực thể và thuộc tính tương ứng 61
3.3.2 Mối quan hệ giữa các tập thực thể 63
3.3.3 Sơ đồ thực thể - mối quan hệ 64
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 43.4 Thiết kế thuật toán 70
3.4.1 Đăng nhập hệ thống 70
3.4.2 Tạo đề, trộn đề 70
3.4.3 Đánh giá độ đo câu hỏi, bài trắc nghiệm 71
3.4.4 Thống kê kết quả bài làm của thí sinh 71
3.4.5 Xây dựng lớp DataProvider dùng chung 71
3.5 Thiết kế giao diện 72
3.6 Kết luận 74
PHẦN 3 KẾT LUẬN 75
TÀI LIỆU THAM KHẢO 76
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 5DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT
CSDL: cơ sở dữ liệu
TNKQ: trắc nghiệm khách quan
TN: trắc nghiệm
XML: eXtensible Markup Language (ngôn ngữ đánh dấu mở rộng)
HTTP: Hypertext Transfer Protocol (giao thức truyền tải siêu văn bản)
HQTCSDL: hệ quản trị cơ sở dữ liệu
SQL: Structured Query Language (ngôn ngữ hỏi có cấu trúc)
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 6DANH MỤC HÌNH ẢNH, SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ
Hình 1.1 Dạng câu trắc nghiệm đa lựa chọn 18
Hình 1.2 Dạng câu trắc nghiệm đúng/sai 19
Hình 1.3 Dạng câu trắc nghiệm ghép đôi 20
Hình 1.4 Dạng câu trắc nghiệm điền khuyết 20
Hình 1.5 Dạng câu trắc nghiệm hình ảnh 21
Hình 2.1 Kiến trúc ADO.NET 43
Hình 2.2 Hệ quản trị CSDL MSSSQL Server 2008 R2 45
Hình 2.3 Mối liên hệ giữa SQLServer và C# 47
Hình 2.4 DevExpress Framework 50
Hình 3.1 Sơ đồ Use-case hệ thống hỗ trợ thi trắc nghiệm 51
Hình 3.2 Sơ đồ chức năng BFD 53
Hình 3.3 Chức năng quản lý hệ thống 53
Hình 3.4 Chức năng tạo đề, trộn đề, phân mã đề thi 54
Hình 3.5 Chức năng thi trắc nghiệm 54
Hình 3.6 Chức năng đánh giá 55
Hình 3.7 Chức năng thống kê 55
Hình 3 8 Sơ đồ ngữ cảnh 56
Hình 3.9 Sơ đồ phân rã mức 0 57
Hình 3.10 Sơ đồ phân rã mức 1 cho chức năng 1.0 58
Hình 3.11 Sơ đồ phân rã mức 1 cho chức năng 2.0 59
Hình 3.12 Sơ đồ phân rã mức 1 cho chức năng 3.0 60
Hình 3.13 Sơ đồ phân rã mức 1 cho chức năng 4.0 60
Hình 3.14 Sơ đồ phân rã mức 1 cho chức năng 5.0 61
Hình 3.15 Sơ đồ thực thể mối quan hệ 64
Hình 3.16 Mô hình dữ liệu quan hệ 69
Hình 3.17 Giải thuật đăng nhập hệ thống 70
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 7Hình 3.18 Giải thuật tạo đề, trộn đề 70
Hình 3.19 Giải thuật đánh giá độ đo câu hỏi, bài trắc nghiệm 71
Hình 3.20 Giải thuật thống kê kết quả bài làm 71
Hình 3.21 Giao diện chính chương trình 72
Hình 3.22 Giao diện tạo đề, ấn định đề, xem đề 72
Hình 3.23 Giao diện nhập danh sách thí sinh 73
Hình 3.24 Giao diện làm bài thi trắc nghiệm 73
Hình 3.25 Giao diện đánh giá 74
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 8DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 1.1 So sánh giữa tự luận và trắc nghiệm 14
Bảng 1.2 Tương quan số lựa chọn và độ may rủi của câu đa lựa chọn 18
Bảng 1.3 Tỷ lệ may rủi và độ khó vừa phải của một số dạng câu hỏi trắc nghiệm 26
Bảng 1.4 Điểm bài làm và điểm câu trắc nghiệm 28
Bảng 1.5 Kết luận độ phân cách 29
Bảng 1.6 Điểm số của mỗi thí sinh 32
Bảng 1.7 Điểm bài làm mỗi thí sinh 34
Bảng 1.8 Độ khó từng câu trắc nghiệm 34
Bảng 1.9 Kết luận độ tin cậy 35
Bảng 1.10 So sánh các phần mềm trắc nghiệm 36
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 9Kết quả mà khóa luận đặt ra là xây dựng được phần mềm cho phép tổ chức thi các môn học dưới hình thức trắc nghiệm trên máy tính một cách trực quan, với đề thi được tạo từ ngân hàng câu hỏi, bảo đảm tính khách quan của đề thi bằng cách bóc ngẫu nhiên các câu hỏi từ ngân hàng theo ma trận, tự động trộn câu hỏi, câu trả lời để tạo sự khác biệt lớn giữa các đề thi Hỗ trợ đánh giá câu hỏi, đề thi, phân tích kết quả thi từ đó đưa ra kết luận về chất lượng câu hỏi nói riêng và chất lượng ngân hàng đề nói chung.
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 10PHẦN I MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Hiện nay thi trắc nghiệm là một hình thức thi rất phổ biến, nhờ vào đặc điểm luôn
có sự rõ ràng của đáp án, tính khách quan trong cách đánh giá kết quả của người học, chính xác và thuận tiện cho cả người ra đề thi và người thi, hình thức thi này đã được áp dụng ở hầu khắp hệ thống giáo dục trên thế giới
Tại Việt Nam, trong những năm gần đây, song song với việc đổi mới phương pháp dạy và học, việc đổi mới hình thức thi cử cũng trở thành một việc làm cấp thiết Trong các hình thức thi cử, trắc nghiệm khách quan là hình thức được nhiều người chú
ý nhất do những ưu điểm của nó trong việc kiểm tra, đánh giá trình độ người dự thi dựa trên các tiêu chí khách quan, trung thực, kiểm tra được nhiều kiến thức Do đó, trắc nghiệm khách quan đang là khuynh hướng của hầu hết các kỳ thi
Làm bài thi trắc nghiệm trên giấy hiện nay đang rất phổ biến, tuy nhiên lại không thuận tiện trong các vấn đề như tổ chức thi (thời gian, không gian), in ấn, phân phối đề thi, thu bài, chấm bài… Hiện nay, các hệ thống thi trắc nghiệm trên máy tính đang phát triển rất mạnh cùng với sự phát triển của cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin Có thể dự đoán rằng trong tương lai không xa, các kì thi sẽ được tổ chức thi trực tuyến, đặc biệt là với quy mô trong nhà trường
Trắc nghiệm khách quan ngày càng được sử dụng rộng rãi do tính ưu việt của nó,
là sự lựa chọn cần thiết và đang được khuyến khích trong các kỳ thi, kiểm tra đánh giá Kết quả đánh giá mà câu trắc nghiệm mang lại trong những lần kiểm tra phụ thuộc rất lớn vào chất lượng của những câu hỏi trong đề thi, cho nên việc đánh giá chất lượng câu hỏi trắc nghiệm là việc làm cấp thiết và quan trọng bằng việc loại bỏ đi những câu khó hay có độ phân biệt thấp và đánh giá độ tin cậy của toàn bài trắc nghiệm để tạo ra những ngân hàng đề chất lượng hơn Việc tiến hành đánh giá độ đo của câu hỏi trắc nghiệm, bài thi trắc nghiệm thường được tiến hành sau các kì thi dựa vào kết quả làm bài của thí sinh, thông qua đó rút ra được các kết luận về các câu hỏi trong ngân hàng đề
Nhận thấy được tầm quan trọng và hữu ích của hình thức thi trắc nghiệm, đồng thời muốn tạo ra một chương trình hỗ trợ thi trắc nghiệm có thể xử lý tự động từ khâu
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 11tạo đề, trộn đề đến việc tổ chức thi và trả kết quả, cũng như đánh giá chất lượng câu hỏi
trong ngân hàng, tôi đã lựa chọn đề tài Xây dựng phần mềm thi và đánh giá câu hỏi,
đề thi trắc nghiệm khách quan làm đề tài khóa luận tốt nghiệp của mình
2 Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu đặt ra là nghiên cứu tổng quan về lý thuyết trắc nghiệm khách quan và các phương pháp đánh giá câu hỏi, đề thi trắc nghiệm, cùng với việc tìm hiểu, khảo sát những hệ thống thi trắc nghiệm khác để thực hiện xây dựng hệ thống thi trắc nghiệm
với đề thi được lấy từ phần mềm hỗ trợ quy trình soạn thảo đề thi trắc nghiệm khách quan đã có, hỗ trợ đánh giá câu hỏi trắc nghiệm để nâng cao chất lượng câu hỏi trắc
nghiệm trong ngân hàng Nghiên cứu các công cụ, nền tảng lập trình được sử dụng để xây dựng hệ thống: ADO.NET, C#, MS SQLServer2008, T-SQL, DevExpress Cài đặt triển khai hệ thống qua mạng, kiểm lỗi và hoàn thiện các tính năng theo yêu cầu của đề tài đặt ra
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: các dạng câu hỏi trắc nghiệm theo chuẩn IMS, các công thức dùng để tính độ khó, độ phân cách hay các độ đo khác của câu hỏi trắc nghiệm, độ tin cậy của bài thi trắc nghiệm Quy trình tạo đề, trộn đề và làm bài thi trên hệ thống
Phạm vi nghiên cứu: quy trình tạo đề, trộn đề, làm bài thi và các tiêu chí đánh giá câu hỏi trắc nghiệm, đề thi trắc nghiệm, thống kê kết quả sau kỳ thi, hỗ trợ công việc chấm bài, thống kê kết quả bài làm và thống kê độ đo câu hỏi
Thời gian: từ 10/02/2014 đến 17/05/2014
4 Phương pháp nghiên cứu
* Phương pháp nghiên cứu lý thuyết:
Phương pháp quan sát: trực tiếp quan sát và sử dụng thử một số phần mềm thi trắc nghiệm hiện hành, để phân tích ưu nhược điểm, các quy trình cơ bản đối với phần mềm thi trắc nghiệm khách quan
Phương pháp thu thập tài liệu: thông qua quá trình thu thập tài liệu từ các nguồn như sách báo, mạng internet, tổng hợp các tài liệu, nghiên cứu tài liệu, ngôn ngữ và công
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 12Phương pháp phân tích, thiết kế hệ thống: Dựa trên những thông tin thu được để tiền hành phân tích, thiết kế hệ thống bao gồm những chức năng chính của phần mềm
sẽ xây dựng thông qua quá trình mô hình hóa hệ thống, chuẩn hóa cơ sở dữ liệu một cách phù hợp
* Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm:
Phân tích yêu cầu thực tế và xây dựng các bước phân tích hệ thống để hỗ trợ lập trình, xây dựng ứng dụng Đánh giá kết quả đạt được, triển khai, bảo trì
5 Nội dung của khóa luận
Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, khóa luận gồm 3 chương với kết cấu như sau:
Chương I: Cơ sở lý luận về trắc nghiệm khách quan – Trình bày tổng quan lý
thuyết trắc nghiệm và các phương pháp đánh giá độ đo của câu hỏi, đề thi trắc nghiệm
Chương II: Phương pháp luận xây dựng phần mềm thi, đánh giá câu hỏi, đề thi trắc nghiệm khách quan – Giới thiệu ngôn ngữ, các công cụ, nền tảng, môi trường
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 13PHẦN II NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TRẮC NGHIỆM KHÁCH QUAN
Nội dung của chương này tập trung nghiên cứu tổng quan về lý thuyết trắc nghiệm khách quan, các dạng câu hỏi trắc nghiệm khách quan và các tiêu chí cũng như cách thức để đánh giá chất lượng của câu hỏi và đề thi trắc nghiệm khách quan Trên cơ
sở lý thuyết đó, khóa luận khảo sát và đưa ra một số nhận xét, đánh giá cho phần mềm trắc nghiệm hiện nay
1.1 Tổng quan về trắc nghiệm khách quan
1.1.1 Tự luận và trắc nghiệm khách quan
Tự luận và trắc nghiệm khách quan đều là những phương tiện kiểm tra khả năng học tập, và cả hai đều là trắc nghiệm Các bài kiểm tra thuộc loại tự luận mà xưa nay vốn quen thuộc với chúng ta cũng là những bài trắc nghiệm nhằm khảo sát khả năng của học sinh về các môn học Các chuyên gia đo lường gọi chung các hình thức kiểm tra này là “trắc nghiệm tự luận” (essay-type-test) để phân biệt với loại trắc nghiệm gọi
là “trắc nghiệm khách quan” (objective test) Thật ra, việc dùng từ “khách quan” này để phân biệt hai loại kiểm tra nói trên cũng không đúng hẳn, vì trắc nghiệm tự luận không nhất thiết là trắc nghiệm “chủ quan” và trắc nghiệm khách quan không phải là hoàn toàn
“khách quan” Tại Việt Nam, các tài liệu thường ghi là “trắc nghiệm khách quan”, không phải hiểu theo nghĩa đối lập với một đo lường chủ quan nào, mà nên hiểu là hình thức kiểm tra này có tính khách quan cao hơn cách kiểm tra, đánh giá bằng tự luận chẳng hạn
Để thuận tiện trong cách gọi, nên trong nội dung của khóa luận này từ “tự luận”
sẽ được dùng thay cho trắc nghiệm tự luận và từ “trắc nghiệm” thay cho trắc nghiệm khách quan Bảng so sánh dưới đây chúng ta sẽ có một cái nhìn rõ ràng hơn giữa tự luận
và trắc nghiệm
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 14Bảng 1.1 So sánh giữa tự luận và trắc nghiệm
Một câu hỏi thuộc loại tự luận đòi hỏi thí
sinh phải tự mình soạn câu trả lời và diễn
tả câu trả lời bằng ngôn ngữ của mình
Một câu hỏi trắc nghiệm buộc thí sinh phải lựa chọn câu trả lời đúng nhất trong một số câu đã cho sẵn
Một bài tự luận gồm số câu hỏi tương đối
ít và có tính cách tổng quát, đòi hỏi thí
sinh phải triển khai câu trả lời bằng lời lẽ
dài dòng
Một bài trắc nghiệm thường gồm nhiều câu hỏi có tính cách chuyên biệt chỉ đòi hỏi những câu trả lời ngắn gọn
Trong khi làm một bài tự luận, thí sinh
phải bỏ ra phần lớn thời gian để suy nghĩ
và viết
Trong khi làm một bài trắc nghiệm, thí sinh dùng nhiều thời gian để đọc và suy nghĩ
Chất lượng của một bài tự luận tùy thuộc
chủ yếu vào kỹ năng của người chấm bài
Chất lượng của một bài trắc nghiệm được xác định một phần lớn do kỹ năng của người soạn thảo bài trắc nghiệm
Một bài thi theo lối tự luận tương đối dễ
soạn, nhưng khó chấm và khó cho điểm
chính xác
Một bài thi trắc nghiệm khó soạn, nhưng việc chấm và cho điểm tương đối dễ dàng
và chính xác
Thí sinh có nhiều tự do bộc lộ cá tính của
mình trong câu trả lời, và người chấm bài
cũng có tự do cho điểm các câu trả lời
theo xu hướng riêng của mình
Người soạn thảo trắc nghiệm có nhiều tự
do bộc lộ kiến thức và các giá trị của mình qua việc đặt các câu hỏi, nhưng chỉ cho thí sinh quyền tự do chứng tỏ mức độ hiểu biết của mình qua tỉ lệ câu trả lời đúng Trong các câu hỏi tự luận, nhiệm vụ học
tập của người học và trên cơ sở đó giám
khảo thẩm định mức độ hoàn thành nhiệm
vụ ấy không được phát biểu một cách rõ
ràng
Trong các câu hỏi trắc nghiệm, nhiệm vụ học tập của người học và trên cơ sở đó giám khảo thẩm định mức độ hoàn thành các nhiệm vụ ấy được phát biểu một cách
rõ ràng
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 15Một bài tự luận cho phép và đôi khi
Sự phân bố điểm số của một bài thi tự luận
có thể được kiểm soát một phần lớn do
người chấm
Phân bố điểm số của thí sinh hầu như hoàn toàn được quyết định do bài trắc nghiệm
Tuy nhiên tự luận hay trắc nghiệm chung quy vẫn là những phương pháp kiểm tra kết quả học tập cho nên chúng vẫn có những điểm chung sau:
Thứ nhất, trắc nghiệm hay tự luận đều có thể đo lường hầu hết mọi thành quả học
tập quan trọng mà một bài khảo sát bằng lối viết có thể khảo sát được
Thứ hai, trắc nghiệm và tự luận có thể được sử dụng để khuyến khích học sinh
học tập nhằm đạt đến các mục tiêu: hiểu biết các nguyên lý, tổ chức và phối hợp các ý tưởng, ứng dụng kiến thức giải quyết các vấn đề
Thứ ba, trắc nghiệm và tự luận đòi hỏi sự vận dụng ít nhiều phán đoán chủ quan Thứ tư, giá trị cả hai loại trắc nghiệm và tự luận tùy thuộc vào tính khách quan
và đáng tin cậy của chúng
Trang 16- Khi ta có nhiều câu trắc nghiệm tốt đã được dữ trữ sẵn để có thể lựa chọn và cấu trúc lại một bài thi trắc nghiệm mới Đặc biệt là muốn chấm nhanh và công bố kết quả sớm
- Khi muốn ngăn ngừa nạn học tủ, học vẹt, gian lận trong thi cử của thí sinh
1.1.3 Quy trình xây dựng đề thi trắc nghiệm khách quan, ngân hàng câu hỏi
Để xây dựng một đề thi trắc nghiệm khách quan, cũng một ngân hàng câu hỏi trắc nghiệm, phải thực hiện theo một quy trình tuần tự như sau:
Xác định mục tiêu cụ thể
Cá nhân tự viết câu hỏi
Trao đổi trong nhóm
Duyệt lại câu hỏi
Lập đề trắc nghiệm thử
Trắc nghiệm thử
Phân tích kết quả trắc nghiệm thử
Chỉnh lý các câu hỏi đưa vào ngân hàng
Lập đề trắc nghiệm chính thức
Tổ chức thi
Chấm thi và phân tích kết quả, đánh giá câu hỏi, đề thi
- Xác định mục tiêu cụ thể (bảng đặc trưng 2 chiều): bao gồm việc liệt kê các mục tiêu
cụ thể liên quan đến các năng lực cần đo lường và cây kiến thức đối với từng phần của môn học Sau đó tùy vào mục đích hay mức độ quan trọng mà quyết định số câu hỏi cho phù hợp
- Cá nhân tự viết câu hỏi: mỗi cá nhân thực hiện việc soạn câu hỏi thông qua bảng
“Nhiệm vụ”, tại đây mô tả đầy đủ thông tin vùng kiến thức cần soạn và số câu phải soạn
- Trao đổi trong nhóm: câu hỏi sau khi được nhập vào ngân hàng sơ bộ sẽ được các cá
nhân (giáo viên) khác cùng trao đổi, thảo luận nhằm đảm bảo tính đúng đắn và phù hợp của câu hỏi
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 17- Duyệt lại câu hỏi: duyệt câu hỏi là căn cứ để hệ thống tự động hoặc quản lý hệ thống
thực hiện chuyển câu hỏi vào ngân hàng chính thức
- Lập đề trắc nghiệm thử: thực hiện việc tạo đề một cách ngẫu nhiên theo ma trận từ
ngân hàng sơ bộ
- Trắc nghiệm thử: sau khi lập đề trắc nghiệm thử sẽ cho tiến hành thi thử, lấy kết quả
làm căn cứ cho việc đánh giá câu hỏi, đánh giá đề thi
- Phân tích kết quả trắc nghiệm thử: phân tích độ khó, độ phân cách của câu hỏi, độ
tin cậy của đề thi
- Chỉnh lý các câu hỏi đưa vào ngân hàng: câu hỏi sau khi soạn nếu chưa được công
khai duyệt sẽ được chính cá nhân soạn chỉnh lý hoặc dựa vào kết quả đánh giá câu hỏi
để chỉnh sửa cho phù hợp
- Lập đề trắc nghiệm chính thức: tạo đề thi chính thức với câu hỏi được lấy từ ngân
hàng chính thức
- Tổ chức thi
- Chấm thi và phân tích kết quả, đánh giá câu hỏi, đề thi: thực hiện chấm bài thi và trả
kết quả cho thí sinh, phân tích kết quả bài làm, và thực hiện đánh giá các độ đo câu hỏi,
đề thi
Trong khóa luận này sẽ nghiên cứu 3 nội dung Lập đề trắc nghiệm chính thức,
Tổ chức thi và Chấm thi, phân tích kết quả, đánh giá câu hỏi, đề thi trong quy trình trên
1.2 Một số dạng câu hỏi trắc nghiệm khách quan thường gặp
1.2.1 Câu trắc nghiệm đa lựa chọn (multiple choice question)
- Cấu trúc của câu trắc nghiệm dạng đa lựa chọn
+ Phần câu hỏi: là một câu hỏi (kết thúc là dấu chấm hỏi) hay câu chưa hoàn tất Trong phần này, người soạn trắc nghiệm đặt ra một vấn đề hay đưa ra một ý tưởng
rõ ràng giúp cho người trả lời hiểu rõ câu trắc nghiệm ấy muốn hỏi điều gì để lựa chọn câu trả lời thích hợp
+ Phần lựa chọn: có thể có 3,4,5 lựa chọn hoặc nhiều hơn Mỗi lựa chọn là
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 18nhất, gọi là “đáp án” Những lựa chọn còn lại đều phải sai, là câu gây nhiễu Điều quan trọng người soạn thảo cần lưu ý là phải làm sao cho các câu nhiễu này đều hấp dẫn ngang nhau đối với những học sinh chưa nắm vững kiến thức, thúc đẩy học sinh ấy chọn vào những câu nhiễu này
Ví dụ: Câu trắc nghiệm đa lựa chọn
Hình 1.1 Dạng câu trắc nghiệm đa lựa chọn
- Câu trắc nghiệm dạng này có ưu điểm:
+ Độ may rủi thấp: nếu câu trắc nghiệm có N lựa chọn thì độ may rủi là 1/N
Ta có bảng tương quan giữa số lựa chọn và độ may rủi của câu hỏi dạng này như sau:
Bảng 1.2 Tương quan số lựa chọn và độ may rủi của câu đa lựa chọn
Số lựa chọn Độ may rủi
+ Nếu soạn đúng quy cách, kết quả có tính tin cậy và tính giá trị cao
+ Có thể khảo sát thành quả học tập của một số đông học sinh, chấm bài nhanh, kết quả chính xác
+ Có thể được sử dụng để kiểm tra các kỹ năng nhận thức bậc cao
- Bên cạnh đó, câu trắc nghiệm đa lựa chọn vẫn có một số nhược điểm:
+ Tuy độ may rủi thấp nhưng người trả lời vẫn có thể đoán mò
+ Vì có nhiều phương án lựa chọn nên khó xây dựng được các câu hỏi có chất lượng cao
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 19+ Để có được một bài trắc nghiệm có tính tin cậy và tính giá trị cao, người soạn thảo trắc nghiệm phải đầu tư nhiều thời gian và phải tuân thủ đầy đủ các bước soạn thảo câu trắc nghiệm
1.2.2 Câu trắc nghiệm đúng – sai (true - false question)
- Cấu trúc của câu trắc nghiệm dạng đúng sai: gồm một câu phát biểu và phần trả lời là lựa chọn Đúng hoặc Sai
Ví dụ: Câu trắc nghiệm đúng/sai
Hình 1.2 Dạng câu trắc nghiệm đúng/sai
- Ưu điểm của dạng câu này:
+ Dễ xây dựng + Có thể đặt được nhiều câu hỏi trong một bài trắc nghiệm với thời gian cho trước, điều này làm tăng tính tin cậy của bài trắc nghiệm nếu như các câu trắc nghiệm Đúng – Sai được soạn thảo theo đúng cách
+ Trong khoảng thời gian ngắn có thể soạn được nhiều câu trắc nghiệm Đúng – Sai vì người soạn trắc nghiệm không cần phải tìm ra phần trả lời cho học sinh lựa chọn
- Nhược điểm của dạng câu này:
+ Độ may rủi cao (50%) do đó dễ khuyến khích sự đoán mò
+ Thường chỉ được dùng để kiểm tra mức độ nhận biết, hiểu
1.2.3 Câu trắc nghiệm ghép đôi (matching question)
- Cấu trúc của câu trắc nghiệm dạng ghép đôi: gồm có 3 phần
+ Phần chỉ dẫn cách trả lời: chỉ ra cho người trả lời biết cách ghép hai cột với nhau cho đúng, có ý nghĩa, hợp logic
+ Phần gốc (cột 1, vế trái): gồm những câu ngắn, đoạn, chữ,
+ Phần lựa chọn (cột 2, vế phải): cũng gồm những câu ngắn, đoạn, chữ,
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 20Ví dụ: Câu trắc nghiệm ghép đôi
Hình 1.3 Dạng câu trắc nghiệm ghép đôi
- Ưu điểm của dạng câu này:
+ Dễ xây dựng
+ Có thể hạn chế sự đoán mò bằng cách tăng số lượng lựa chọn
- Nhược điểm của dạng câu này:
+ Chỉ chủ yếu dùng để kiểm tra khả năng nhận biết
+ Thông tin có tính dàn trãi, không nhấn mạnh được những điều quan trọng
1.2.4 Câu trắc nghiệm điền khuyết (filling question)
- Cấu trúc của câu trắc nghiệm dạng điền khuyết: có 2 dạng
+ Dạng 1 gồm những câu hỏi với lời giải đáp ngắn + Dạng 2 gồm những câu phát biểu với một hay nhiều chỗ để trống mà người trả lời phải điền vào bằng một từ hay một nhóm từ ngắn
Ví dụ: Câu trắc nghiệm điền khuyết
Hình 1.4 Dạng 1 câu trắc nghiệm điền khuyết
- Ưu điểm của dạng câu này:
+ Dễ xây dựng
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 21+ Người trả lời không thể đoán mò
- Nhược điểm của dạng câu này:
+ Thường chỉ được dùng để kiểm tra trình độ mức độ nhận biết, hiểu
+ Khó đánh giá nội dung trả lời
1.2.5 Câu trắc nghiệm hình ảnh (image question)
- Cấu trúc của câu trắc nghiệm dạng hình ảnh: gồm phần chỉ dẫn trả lời hướng dẫn cho người làm bài cách để trả lời và hình ảnh kèm theo
- Ưu điểm của dạng câu này:
+ Dễ xây dựng
+ Xác suất trả lời đúng thấp vì chỉ có một vùng lựa chọn đúng trong vô số vùng lựa chọn
- Nhược điểm của dạng câu này:
+ Thường chỉ được dùng để kiểm tra trình độ mức độ nhận biết, hiểu
Ví dụ: Câu trắc nghiệm hình ảnh
Hình 1.5 Dạng câu trắc nghiệm hình ảnh
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 221.3 Tính tin cậy và tính giá trị của bài trắc nghiệm
1.3.1 Tính tin cậy (Reliability)
Tính tin cậy (độ tin cậy) của một dụng cụ đo là khái niệm cho biết mức độ ổn định, vững chãi của các kết quả đo được khi tiến hành đo vật thể đó nhiều lần Tính tin cậy của một bài trắc nghiệm là khi một học sinh làm nhiều lần bài trắc nghiệm này vào những thời điểm cách xa nhau thì các kết quả điểm số thu được đều khá ổn định (các điểm số của các lần đo không chênh lệch quá nhiều) Độ tin cậy thường được biểu hiện bằng một con số trong khoảng từ 0 đến 1 Độ lớn càng gần với 1 thì càng tin cậy và ngược lại Tính tin cậy là khái niệm cho biết bài trắc nghiệm đo bất cứ cái gì mà nó đo với sự tin cậy có căn cứ và ổn định có thể có Nghĩa là một bài trắc nghiệm có tính tin cậy cao khi ta dùng các hình thức khác nhau của cùng một trắc nghiệm hoặc tiến hành hành một trắc nghiệm nhiều lần trên cùng một học sinh thì vẫn thu được những kết quả thể hiện được thứ hạng tương đối của học sinh ấy trong nhóm Tuy nhiên trong thực tế không bao giờ có một bài khảo sát nhiều lần cho cùng một học sinh cách nhau một khoảng thời gian ngắn vì như vậy thường bị tác động của các yếu tố “quen thuộc” của trí nhớ và trình độ luyện tập Kết quả lần sau chắc chắn sẽ tốt hơn lần trước Còn nếu khoảng cách giữa hai lần làm bài trắc nghiệm dài trên cùng một học sinh thì lại bị ảnh hưởng của tính biến đối bản thân học sinh đó Sử dụng một bài trắc nghiệm để đo lường thành tích học tập của học sinh nghĩa là chúng ta muốn xem tri thức của học sinh đó đối với kiến thức đã học đạt được ở mức độ nào Thực ra, chúng ta không thể đo được toàn
bộ tri thức mà không bị ảnh hưởng bởi những sai số tham gia vào quá trình đo lường, những sai số đó có thể do:
- Thí sinh có thể làm đúng câu trắc nghiệm bằng cách đoán mò với những bài câu trắc nghiệm đa lựa chọn, đúng-sai Do đó, điểm số khi làm xong một bài trắc nghiệm bao gồm những câu trả lời đúng do đoán mò và những câu làm đúng do hiểu biết Vì vậy, không xác định được học sinh có điểm cao thì giỏi hơn học sinh có điểm thấp Do
đó, nếu có nhiều bài làm trắc nghiệm theo lối đoán mò thì bài trắc nghiệm đó có tính tin cậy thấp và điểm số của bài trắc nghiệm đó sẽ không đáng tin cậy
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 23- Tính tin cậy của bài trắc nghiệm phụ thuộc vào tính chất khó hay dễ của bài trắc nghiệm: nếu một bài trắc nghiệm gồm toàn những câu dễ khiến cho học sinh kém và học sinh giỏi đều làm được hoặc những bài trắc nghiệm khó khiến học sinh kém không làm được thì chúng ta không thể phân biệt được trình độ khác nhau của học sinh Vì vậy, một bài trắc nghiệm tốt là một bài mà kết quả làm bài của học sinh có tất cả các điểm số
từ 1 đến 10 ( thang điểm 10) để giúp phân loại học sinh
- Tính tin cậy của bài trắc nghiệm phụ thuộc vào độ dài của bài trắc nghiệm, một bài trắc nghiệm quá ngắn không làm cho điểm số trải đủ rộng để cho ra kết quả tốt
Để đảm bảo tối đa tính tin cậy của một bài trắc nghiệm, cần phải:
- Làm giảm những sai số của trắc nghiệm đến mức tối thiểu:
+ Tăng độ dài bài trắc nghiệm, bài trắc nghiệm càng dài tính tin cậy càng cao, miễn là nhóm học sinh được khảo sát không thay đổi và những câu trắc nghiệm mới được thêm vào cũng tốt như những câu trước Nhưng bài trắc nghiệm không nên quá dài, khiến yếu tố ảnh hưởng đến kết quả trắc nghiệm
+ Gia tăng khả năng phân cách của các câu trắc nghiệm Trong khi soạn các câu trắc nghiệm, cần phải chọn ra những câu hỏi có khả năng phân biệt được học sinh giỏi và yếu Như vậy sẽ tạo ra sự khác biệt về điểm số, sự biến thiên về điểm số trong nhóm càng cao thì hệ số tin cậy càng lớn
- Viết những lời chỉ dẫn thật rõ ràng để học sinh khỏi nhầm lẫn
1.3.2 Tính giá trị (Validity)
Tính giá trị (hay độ giá trị) của bài trắc nghiệm cho biết mức độ mà nó đo được cái định đo Tính giá trị liên quan đến mức độ mà bài trắc nghiệm phục vụ được cho mục đích đo lường của ta với nhóm người muốn khảo sát
Khi nói đến tính giá trị, cần phải đặt các câu hỏi:
- Bài trắc nghiệm có đạt được mục đích đo lường của nó hay không?
- Bài trắc nghiệm đo lường trên nhóm người nào?
Nói cách khác, khái niệm giá trị chỉ có ý nghĩa khi ta xác định rõ ta muốn đo lường cái gì và với nhóm người nào
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 241.3.3 Mối liên hệ giữa tính tin cậy và tính giá trị
Tính tin cậy là điều kiện cần cho tính giá trị Một bài trắc nghiệm có thể đáng tin cậy nhưng lại không có giá trị Bởi vì bài trắc nghiệm có tính tin cậy cao có thể cho ra những điểm số đáng tin nhưng nó lại không đo lường đúng loại kiến thức học tập mà ta mong muốn học sinh thể hiện Ngược lại, một bài trắc nghiệm có tính giá trị bắt buộc phải có tính tin cậy cao Hay nói cách khác, một bài trắc nghiệm không có tính tin cậy thì không thể nào có tính giá trị được
Tính tin cậy và tính giá trị khác nhau ở chỗ:
- Tính tin cậy liên quan đến sự vững chãi của điểm số (yếu tố bên trong) nên nó không cần sự hỗ trợ của những tiêu chuẩn ở bên ngoài
- Còn tính giá trị liên quan đến mục đích của sự đo lường nên nó được xác định bằng cách đối chiếu với những tiêu chuẩn ở bên ngoài
1.4 Đánh giá câu trắc nghiệm
Đánh giá các câu trả lời của thí sinh trong một bài trắc nghiệm là việc làm cần thiết và hữu ích, giúp chúng ta biết được:
- Câu nào là quá khó, câu nào là quá dễ
- Câu nào có độ phân cách cao, nghĩa là phân biệt được học sinh giỏi với học sinh yếu kém
- Lý do vì sao câu trắc nghiệm không đạt được hiệu quả mong muốn và cần phải sửa đổi như thế nào cho tốt hơn
Một bài trắc nghiệm sau khi đã được sửa đổi lại trên căn bản của sự phân tích các câu trắc nghiệm, có khả năng đạt được tính tin cậy cao hơn là một bài trắc nghiệm có cùng số câu hỏi nhưng chưa được thử nghiệm và phân tích Chúng ta phải đánh giá câu
trắc nghiệm trên hai phương diện: độ phân cách và độ khó
1.4.1 Độ khó của câu hỏi trắc nghiệm
1 Định nghĩa
Khi làm một bài trắc nghiệm, ta thường thấy rằng bài trắc nghiệm đó dễ khi chúng ta biết giải hầu hết các câu hỏi, ngược lại bài trắc nghiệm đó khó nếu bạn không biết giải đáp cho phần lớn các câu hỏi Nhưng chắc chắn bạn sẽ thấy khó có thể giải
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 25thích được tại sao một số câu hỏi lại khó hơn một số câu hỏi khác Người ta gặp phải vấn đề khó khăn như vậy trong việc giải thích và định nghĩa tính chất khó hay dễ của các câu trắc nghiệm căn cứ vào đặc tính nội tại của chúng Vì vậy, họ áp dụng lối định nghĩa độ khó của câu trắc nghiệm căn cứ vào số người trả lời đúng câu trắc nghiệm Nếu tất cả hoặc số đông người đều lựa chọn đáp án đúng thì câu trắc nghiệm ấy được xem như là dễ Nếu không có hoặc một số ít người trả lời đúng thì câu trắc nghiệm ấy là khó
2 Công thức tính độ khó
Độ khó của một câu trắc nghiệm thường được tính theo công thức sau:
Độ khó câu i = 𝑛𝑖𝑁𝑖Trong đó: ni là số người trả lời đúng câu i
Ni là tổng số người trả lời câu i
3 Độ khó vừa phải của câu hỏi trắc nghiệm
Để có thể kết luận một câu trắc nghiệm là khó, dễ hay vừa sức Trước hết ta phải tính độ khó của câu hỏi trắc nghiệm ấy rồi so sánh với độ khó vừa phải của loại câu trắc nghiệm đó
* Nếu độ khó câu trắc nghiệm > độ khó vừa phải: ta kết luận câu trắc nghiệm ấy khó so với trình độ học sinh làm trắc nghiệm
* Nếu độ khó câu trắc nghiệm < độ khó vừa phải: ta kết luận câu trắc nghiệm ấy
dễ so với trình độ học sinh làm trắc nghiệm
* Nếu độ khó câu trắc nghiệm ≈ độ khó vừa phải: ta kết luận câu trắc nghiệm ấy vừa sức so với trình độ học sinh làm trắc nghiệm
Độ khó vừa phải được tính theo công thức sau:
Độ 𝑘ℎó 𝑣ừ𝑎 𝑝ℎả𝑖 = 100% + % 𝑚𝑎𝑦 𝑟ủ𝑖
2
Ta có thể đánh giá được % may rủi của một số dạng câu hỏi như sau:
- Dạng câu hỏi Đúng/Sai có 2 phương án trả lời, vì vậy khả năng để người làm bài trả lời ngẫu nhiên đúng câu hỏi này là 1/2 (hoặc chọn Đúng hoặc chọn Sai), như vậy
ta có tỉ lệ may rủi là 50%
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 26- Với dạng đa lựa chọn, tức là có nhiều hơn 2 phương án trả lời (n phương án) thì
ta cũng có thể tính được khả năng người làm trả lời đúng một cách ngẫu nhiên là 1/n Suy ra % may rủi là (1/n) x 100
- Đối với 2 dạng câu điền khuyết và hình ảnh, là những dạng câu có 1 và chỉ 1 cách trả lời đúng trong vô số cách trả lời, chính vì vậy khả năng để có thể trả lời ngẫu nhiên đúng dạng câu này là 1/∞, giá trị này tiệm cận 0, cho nên ta có thể xem % may rủi của 2 dạng câu này là 0%
- Riêng với dạng câu ghép đôi, là dạng câu cho trước k vị trí và n phương án lựa chọn Người trả lời phải sắp xếp các phương án vào các vị trí để được câu trả lời đúng Như vậy số cách để lấy ra một bộ có kể thứ tự gồm k phần tử khác nhau từ n phần tử là chỉnh hợp chập k của n (Ak ) Trong các cách đó, cũng chỉ có duy nhất một cách lấy là đúng Suy ra, khả năng để trả lời ngẫu nhiên đúng câu ghép đôi là:
1/ Ak = n!1
(n−k)!
=(n−k)!n! % may rủi: (n−k)!
n! 𝑥100 = a%
Từ đây, ta có bảng thể hiện tỷ lệ may rủi và độ khó vừa phải của các dạng câu hỏi là:
Bảng 1.3 Tỷ lệ may rủi và độ khó vừa phải của một số dạng câu hỏi trắc nghiệm
Loại câu trắc nghiệm Tỉ lệ % may rủi Độ khó vừa phải
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 272 Các phương pháp tính độ phân cách:
Để tính độ phân cách của câu hỏi, chúng ta có thể dùng một trong hai phương pháp sau:
a Đơn giản theo lối thủ công
Sau khi đã chấm và cộng tổng điểm của từng bài trắc nghiệm, ta có thể thực hiện
các bước sau để biết được độ phân cách của một câu trắc nghiệm:
Bước 1: Xếp đặt các bài làm của học sinh (đã chấm, cộng điểm) theo thứ tự tổng
điểm từ cao đến thấp
Bước 2: Căn cứ trên tổng số bài trắc nghiệm, lấy 27% của tổng số bài làm có
điểm số từ bài cao nhất trở xuống xếp vào nhóm CAO và 27% tổng số bài làm có điểm
số từ bài thấp nhất trở lên xếp vào nhóm THẤP
Bước 3: Tính tỉ lệ phần trăm học sinh làm đúng câu trắc nghiệm riêng cho từng
nhóm bằng cách đếm số người làm đúng trong mỗi nhóm và chia cho số người của nhóm (số người của nhóm = 27% tổng số bài)
Bước 4: Tính độ phân cách (D)
D = tỉ lệ % nhóm CAO làm đúng câu TN – tỉ lệ % nhóm THẤP làm đúng câu TN
b Công thức tương quan điểm nhị phân (point biserial correlation)
𝐷 = 𝑁 ∑ 𝑋𝑌 − ∑ 𝑋 ∑ 𝑌
√[𝑁 ∑ 𝑋2− (∑ 𝑋)2][𝑁 ∑ 𝑌2− (∑ 𝑌)2]Trong đó:
D: độ phân cách của câu trắc nghiệm N: số bài làm
X: điểm số câu trắc nghiệm của mỗi thí sinh (X=0 hoặc X=1) Y: tổng điểm bài làm của mỗi thí sinh
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 28Ví dụ: Ta có tổng điểm (Y) và điểm số (X) về một câu trắc nghiệm trong 1 bài
gồm 60 câu của 16 thí sinh trong bảng sau đây:
Bảng 1.4 Điểm bài làm và điểm câu trắc nghiệm
Thí sinh Tổng điểm (Y) Điểm (X) X 2 Y 2 XY
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 29D>=0.40 Câu trắc nghiệm có độ phân cách tốt
0.30<=D<=0.39 Câu trắc nghiệm có độ phân cách khá tốt 0.20<=D<=0.29 Câu trắc nghiệm độ phân cách tạm được,
cần phải điều chỉnh D<=0.19 Câu trắc nghiệm độ phân cách kém, cần
loại bỏ hoặc sửa chữa
1.4.3 Độ tin cậy của bài trắc nghiệm
1 Định nghĩa
Độ tin cậy của bài trắc nghiệm là hệ số tương quan của tỉ lệ trả lời đúng/ sai giữa các lần trắc nghiệm bằng các đề trắc nghiệm tương đương
Độ tin cậy của các điểm số đối với bài trắc nghiệm giúp ta biết được trắc nghiệm
đã đo lường cái mà nó định đo tốt đến mức nào Điều này có nghĩa là nếu cùng những học sinh đó, ta cho làm cùng một bài trắc nghiệm lần thứ hai, thì kết quả thu được sẽ gần giống nhau đến mức nào
Độ tin cậy không phải là một thuộc tính của tự thân bài trắc nghiệm mà là thuộc tính của bài trắc nghiệm khi nó được đem ra áp dụng với nhóm thí sinh nào đó Bài trắc nghiệm càng thích hợp với mức độ khả năng của nhóm bao nhiêu thì độ tin cậy của các điểm số lại càng cao Khả năng của các phần tử trong nhóm càng phân tán rộng thì độ tin cậy của các điểm số trên bài trắc nghiệm lại càng cao
Hệ số tương quan được sử dụng như là một số đo lường độ tin cậy Một trong các đặc tính của hệ số tương quan là nó cung cấp cho ta một thứ đo lường tương đối thay vì tuyệt đối về sự tương đồng giữa hai tập hợp điểm số của cùng một số người Nếu sự
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 30ấy sẽ cao Nhưng ngược lại, nếu sự khác biệt giữa các điểm số của cùng một người tương đối lớn so với sự khác biệt giữa những người khác nhau thì độ tin cậy sẽ thấp
Ta cần phải có hai số đo lường độc lập cho mỗi phần tử trong nhóm và các số đo lường này được lấy từ những bài trắc nghiệm tương đương về cùng một đặc điểm (khả năng) nào đó
2 Các phương pháp tính độ tin cậy của bài trắc nghiệm
Có nhiều phương pháp nhằm có được những số đo lường độc lập cần thiết để tính
hệ số tin cậy của bài trắc nghiệm Thông dụng nhất hiện nay là phương pháp chia đôi bài trắc nghiệm và phương pháp Kuder Richardson Ngoài ra cũng còn một số phương pháp khác như: phương pháp trắc nghiệm hai lần, phương pháp sử dụng các dạng trắc nghiệm tương đương,…
a Trắc nghiệm hai lần (test – retest): Phương pháp đơn giản nhất để có các số đo lường
độc lập là ra một bài trắc nghiệm hai lần với cùng một nhóm thí sinh, rồi tính hệ số tương quan giữa hai tập hợp điểm số của lần thứ nhất và lần thứ hai
Tuy nhiên, phương pháp này có nhược điểm:
- Như ta đã biết, một tập hợp các câu hỏi trong bài trắc nghiệm chỉ là một mẫu trong số rất lớn các câu trắc nghiệm có thể có được về khả năng ta muốn khảo sát Nếu
sử dụng một tập hợp các câu trắc nghiệm hai lần cho một nhóm thí sinh thì ta không thể nào biết được rằng các điểm số có thay đổi hay không và thay đổi bao nhiêu, nếu người
ta sử dụng một tập hợp các câu hỏi khác với cùng nhóm thí sinh ấy
- Các giải đáp của thí sinh trong lần khảo sát thứ nhất không độc lập với các giải đáp của họ trong lần thứ hai Các giải đáp ở lần thứ hai có thể bị ảnh hưởng do thí sinh còn nhớ lại giải đáp của mình trong lần thứ nhất, hay do những kinh nghiệm đã thu thập được sau lần khảo sát thứ nhất
- Nếu có khoảng thời gian giữa hai lần khảo sát thứ nhất và thứ hai thì các sai số
đo lường có thể bị lẫn lộn với những thay đổi thật sự của học sinh về khả năng do quá trình học tập
b Các dạng trắc nghiệm tương đương (equivalent forms): Nếu ta có hai hay nhiều bài
trắc nghiệm được soạn thảo làm sao cho các điểm số trên hai bài trắc nghiệm ấy tương đương với nhau, và nếu mỗi học sinh trong nhóm đều làm cả hai bài trắc nghiệm, thì hệ
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 31số tương quan giữa hai tập hợp điểm số về hai bài ấy sẽ là số phỏng định hệ số tin cậy của chúng Nhưng việc soạn thảo những bài trắc nghiệm tương đương như vậy rất công phu và phức tạp, cho nên việc tính hệ số tin cậy theo cách này rất ít khi sử dụng
c Phương pháp chia đôi bài trắc nghiệm (split halves method): Một bài trắc nghiệm
duy nhất được phân ra thành hai nửa tương đương Hai nửa này được xem như là hai bài trắc nghiệm phụ và các điểm số của chúng là những điểm độc lập cần thiết để tính độ tin cậy Thông thường, người ta phân bài trắc nghiệm ra hai nửa theo các câu mang số chẵn và các câu mang số lẻ Sau đó, người ta tính hệ số tương quan giữa điểm số các câu lẻ (X) với điểm số các câu chẵn (Y) theo công thức:
𝑟𝑥𝑦 = 𝑁 ∑ 𝑋𝑌 − ∑ 𝑋 ∑ 𝑌
√[𝑁 ∑ 𝑋2− (∑ 𝑋)2][𝑁 ∑ 𝑌2− (∑ 𝑌)2]Nhưng đó chỉ là hệ số tương quan giữa hai bài trắc nghiệm được rút ngắn lại chỉ còn một nữa Để có một số phỏng định độ tin cậy của toàn bài trắc nghiệm, người ta còn phải điều chỉnh hệ số tương quan giữa hai bài trắc nghiệm ngắn ra thành hệ số tương quan của một bài trắc nghiệm gấp đôi Điều này có thể tính bằng công thức Spearman-Brown
Công thức tổng quát Spearman-Brown được sử dụng để tiên đoán sự gia tăng độ tin cậy bằng cách tăng chiều dài của bài trắc nghiệm
𝑟𝑛 = 𝑛𝑟𝑠(𝑛 − 1)𝑟𝑠+ 1Trong đó: n là hệ số độ dài của bài trắc nghiệm
𝑟𝑠 là hệ số tương quan Khi ta cần tiên đoán độ tin cậy của một bài trắc nghiệm dài gấp đôi như trong trường hợp phỏng định độ tin cậy theo phương pháp chia đôi bài trắc nghiệm thì công thức sẽ như sau:
r = 2𝑟𝑥𝑦
𝑟𝑥𝑦 + 1Trong đó:
𝑟
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 32r là độ tin cậy của toàn bài trắc nghiệm
Ví dụ: Một bài trắc nghiệm được chia đôi thành 2 bài trắc nghiệm ngắn mang
những câu hỏi số chẵn và những câu hỏi số lẻ Có 15 thí sinh làm 2 bài trắc nghiệm ngắn trên
Ta gọi:
X: là tổng số điểm của một thí sinh làm bài trắc nghiệm câu hỏi lẻ
Y: là tổng số điểm của một thí sinh làm bài trắc nghiệm câu hỏi chẵn
Ta có số điểm của mỗi thí sinh như sau:
Bảng 1.6 Điểm số của mỗi thí sinh
Trang 33Ta có hệ số tương quan giữa điểm số các câu lẻ (X) với điểm số các câu chẵn (Y)
k số câu hỏi trong bài trắc nghiệm
𝜎𝑖2 biến lượng (độ lệch tiêu chuẩn bình phương) của mỗi câu trắc nghiệm
𝜎2 biến lượng của bài trắc nghiệm, tức biến lượng điểm của các cá nhân trong nhóm về toàn thể bài trắc nghiệm
Kuder-Richardson cũng đưa ra công thức khác suy ra từ công thức trên khi câu trắc nghiệm làm đúng được tính là 1 và câu làm sai được tính là 0 Công thức này được gọi là công thức Kuder-Richardson
𝑟 = 𝑘
𝑘 − 1(1 −
∑ 𝑝𝑞
𝜎2 ) (1) Trong đó: k: số câu hỏi trong bài trắc nghiệm
p: tỉ lệ số trả lời đúng cho một câu trắc nghiệm (độ khó câu trắc nghiệm)
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 34𝜎2 biến lượng của bài trắc nghiệm, tức biến lượng điểm của các cá nhân trong nhóm về toàn thể bài trắc nghiệm
𝜎2 =N ∑ 𝑌2− (∑ 𝑌)
2
N(N − 1) (2) Trong đó: N: số thí sinh tham gia làm bài trắc nghiệm
Y: tổng điểm bài làm của mỗi thí sinh
Ví dụ: Bài trắc nghiệm gồm 10 câu, có 10 thí sinh dự thi, ta có tổng điểm bài làm
của các thí sinh như sau:
Bảng 1.7 Điểm bài làm mỗi thí sinh Bảng 1.8 Độ khó từng câu trắc nghiệm
Thí sinh Tổng điểm (Y) Y
Trang 35e Kết luận từ độ tin cậy
Sau khi có được độ phân cách r, chúng ta sẽ đối chiếu với bảng sau để đưa ra kết luận về độ phân cách của câu hỏi
Bảng 1.9 Kết luận độ tin cậy
Trên 0.70 Bài trắc nghiệm có độ tin cậy tạm chấp
nhận Nhỏ hơn hoặc bằng 0.70 Bài trắc nghiệm có độ tin cậy không cao,
có nhiều câu hỏi phải chỉnh sửa
1.5 Đánh giá một số phần mềm hiện nay
Với sự phổ biến của thi trắc nghiệm nên trên thị trường hiện nay có nhiều phần mềm hỗ trợ cho việc soạn thảo, quản lý ngân hàng câu hỏi, tạo đề thi trắc nghiệm khách quan như McBank, McMix, TestProBasic, ExamSoft, UQUIZ Tuy nhiên các phần mềm này thường tập trung vào soạn thảo, quản lý câu hỏi, đề thi, hỗ trợ thi nhưng quy trình đánh giá tự động câu hỏi, thống kê kết quả đều chưa đáp ứng được hoặc bị bỏ qua
vì chủ yếu là làm trắc nghiệm cho hình thức thi giấy Các dạng câu hỏi hỗ trợ chỉ dừng lại ở mức câu đa lựa chọn, câu trả lời đúng-sai Các chương trình của nước ngoài hoặc
do nước ngoài đầu tư, tiện ích và nhiều chức năng hơn, phù hợp với hệ thống khảo thí trực tuyến qua mạng (các hệ đào tạo và thi trắc nghiệm của các công ty hàng đầu trên thế giới như IBM, HP, Cisco,…) Tuy nhiên các hệ thống này có giá thành rất cao, và không phải hoàn toàn phù hợp với môi trường giáo dục tại Việt Nam Trong phạm vi của khóa luận, nhằm lựa chọn một số tiêu chí để xây dựng phần mềm có những tính năng gì vượt trội so với các phần mềm đã có, khóa luận đưa ra một số tiêu chí đánh giá giữa các phần mềm về khả năng tạo đề, trộn đề, tổ chức thi, chấm bài, đánh giá và thống
kê kết quả như sau:
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 36Bảng 1.10 So sánh các phần mềm trắc nghiệm
Phần mềm
Tiêu chí
Khóa luận McBank
Test Professional
Exam Soft UQUIZ
Chấm bài bằng máy quét,
là cơ sở để xây dựng phần mềm thi, đánh giá câu hỏi, đề thi trắc nghiệm khách quan
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 37CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP LUẬN XÂY DỰNG HỆ THỐNG THI VÀ ĐÁNH GIÁ CÂU HỎI, ĐỀ THI TRẮC NGHIỆM KHÁCH QUAN
Nội dung chương này sẽ giới thiệu môi trường, các công cụ hỗ trợ, nền tảng và
công nghệ để xây dựng chương trình cũng như lưu trữ dữ liệu và phương pháp phân tích
hệ thống thông tin cơ bản
2.1 Tổng quan về ngôn ngữ lập trình C-Sharp (C#)
Ngôn ngữ C# được phát triển bởi đội ngũ kỹ sư của Microsoft, trong đó người
dẫn đầu là Anders Hejlsberg và Scott Wiltamuth Cả hai người này điều là những người
nổi tiếng, trong đó Anders Hejlsberg được biết đến là tác giả của Turbo Pascal, một ngôn
ngữ lập trình PC phổ biến Và ông đứng đầu nhóm thiết kế Borland Delphi, một trong
những thành công đầu tiên của việc xây dựng môi trường phát triển tích hợp (IDE) cho
lập trình client/server
Ngôn ngữ C# là một ngôn ngữ được dẫn xuất từ C, C++ và Java, nhưng nó được
tạo từ nền tảng phát triển hơn Microsoft bắt đầu với công việc trong C, C++ và Java và
thêm vào những đặc tính mới để làm cho ngôn ngữ này dễ sử dụng hơn Nhiều trong số
những đặc tính này khá giống với những đặc tính có trong ngôn ngữ Java Không dừng
lại ở đó, Microsoft đưa ra một số mục đích khi xây dựng ngôn ngữ này Những mục
đích này được được tóm tắt như sau:
C# là ngôn ngữ đơn giản
C# là ngôn ngữ hiện đại
C# là ngôn ngữ hướng đối tượng
C# là ngôn ngữ mạnh mẽ và mềm dẻo
C# là ngôn ngữ có ít từ khóa
ữ hướng module C# sẽ trở nên phổ biến
C# là ngôn ngữ đơn giản
C# loại bỏ một vài sự phức tạp và rối rắm của những ngôn ngữ như Java và c++,
bao gồm việc loại bỏ những macro, những template, đa kế thừa, và lớp cơ sở ảo (virtual
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 38Ngôn ngữ C# đơn giản vì nó dựa trên nền tảng C và C++ Nếu chúng ta thân thiện với C và C++ hoặc thậm chí là Java, chúng ta sẽ thấy C# khá giống về diện mạo, cú pháp, biểu thức, toán tử và những chức năng khác được lấy trực tiếp từ ngôn ngữ C và C++, nhưng nó đã được cải tiến để làm cho ngôn ngữ đơn giản hơn Một vài trong các
sự cải tiến là loại bỏ các dư thừa, hay là thêm vào những cú pháp thay đổi
C# là ngôn ngữ hiện đại
Những đặc tính như là xử lý ngoại lệ, thu gom bộ nhớ tự động, những kiểu dữ liệu mở rộng, và bảo mật mã nguồn là những đặc tính được mong đợi trong một ngôn ngữ hiện đại C# chứa tất cả những đặc tính trên
C# là ngôn ngữ hướng đối tượng
Những đặc điểm chính của ngôn ngữ hướng đối tượng (Object-oriented language)
là sự đóng gói (encapsulation), sự kế thừa (inheritance), và đa hình (polymorphism) C#
hỗ trợ tất cả những đặc tính trên
C# là ngôn ngữ mạnh mẽ và cũng mềm dẻo
Với ngôn ngữ C# chúng ta chỉ bị giới hạn ở chính bởi bản thân hay là trí tưởng tượng của chúng ta Ngôn ngữ này không đặt những ràng buộc lên những việc có thể làm C# được sử dụng cho nhiều các dự án khác nhau như là tạo ra ứng dụng xử lý văn bản, ứng dụng đồ họa, bản tính, hay thậm chí những trình biên dịch cho các ngôn ngữ khác
C# là ngôn ngữ ít từ khóa
C# là ngôn ngữ sử dụng giới hạn những từ khóa (chỉ khoảng 80 từ khóa và mười mấy kiểu dữ liệu được dựng sẵn) Phần lớn các từ khóa được sử dụng để mô tả thông tin Chúng ta có thể nghĩ rằng một ngôn ngữ có nhiều từ khóa thì sẽ mạnh hơn Điều này không phải sự thật, ít nhất là trong trường hợp ngôn ngữ C#, chúng ta có thể tìm thấy rằng ngôn ngữ này có thể được sử dụng để làm bất cứ nhiệm vụ nào
C# là ngôn ngữ hướng module
Mã nguồn C# có thể được viết trong những phần được gọi là những lớp, những lớp này chứa các phương thức thành viên của nó Những lớp và những phương thức có thể được sử dụng lại trong ứng dụng hay các chương trình khác Bằng cách truyền các
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 39mẫu thông tin đến những lớp hay phương thức chúng ta có thể tạo ra những mã nguồn dùng lại có hiệu quả
C# sẽ là một ngôn ngữ phổ biến
Ngôn ngữ này có một số lý do để trở thành một ngôn ngữ phổ biến Một trong những lý do chính là Microsoft và sự cam kết của NET Microsoft muốn ngôn ngữ C# trở nên phổ biến, nó được sử dụng bởi Microsoft Nhiều sản phẩm của công ty này đã chuyển đổi và viết lại bằng C# Bằng cách sử dụng ngôn ngữ này Microsoft đã xác nhận khả năng của C# cần thiết cho những người lập trình
Micorosoft NET là một lý do khác để đem đến sự thành công của C# .NET là một sự thay đổi trong cách tạo và thực thi những ứng dụng Ngoài hai lý do trên ngôn ngữ C# cũng sẽ trở nên phổ biến do những đặc tính của ngôn ngữ này được đề cập trong mục trước như: đơn giản, hướng đối tượng, mạnh mẽ
2.2 Môi trường phát triển tích hợp Microsoft Visual Studio
Microsoft Visual Studio là môi trường phát triển tích hợp (Integrated Development Environment - IDE) được phát triển từ Microsoft, là một loại phần mềm máy tính có công dụng giúp đỡ các lập trình viên trong việc phát triển phần mềm, cung cấp một môi trường phát triển hợp nhất nhiều ngôn ngữ
Microsoft Visual Studio được dùng để phát triển console (thiết bị đầu cuối – bàn giao tiếp người máy) và GUI (giao diện người dùng đồ họa) cùng với các trình ứng dụng như Windows Forms, các web sites, cũng như ứng dụng, dịch vụ wed (web applications, and web services) Chúng được phát triển dựa trên một mã ngôn ngữ gốc (native code ) cũng như mã được quản lý (managed code) cho các nền tảng được được hỗ trợ Microsoft Windows, Windows Mobile, NET Framework, NET Compact Framework và Microsoft Silverlight
Visual Studio hỗ trợ rất nhiều ngôn ngữ lập trình, có thể kể tên như sau: C/C++ ( Visual C++), VB.NET (Visual Basic NET), và C# (Visual C#)… cũng như hỗ trợ các ngôn ngữ khác như F#, Python, và Ruby, ngoài ra còn hỗ trợ cả XML/XSLT, HTML/XHTML, JavaScript và CSS…
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 40trọng của chức năng Designer được xem là một trong những điểm nhấn của Microsoft Visual Studio
- WinForms Designer: đây là công cụ tạo giao diện đồ họa dùng WinForms
Điểm đặc biệt ở đây là giao diện với người dùng sinh động, dễ nắm bắt Nó bao gồm các phím bấm, thanh tác vụ, hay các box đa dạng (textbox, list box, grid view…) Người lập trình có thể di chuyển, kéo ra, nhúng thả chúng một cách dễ dàng
- WPF Designer: WPF Designer còn có tên mã là Cider, được hỗ trợ trong Visual
Studio 2008 Nó tạo các mã XAML cho giao diện người sử dụng (UI), mã này tích hợp với trình ứng dụng Microsoft Expression Design
- Web designer: Visual Studio cũng hỗ trợ công cụ thiết kế trang web, trong đó
cho phép các công cụ thiết kế trang web được kéo, thả, rê, nhúng một cách dễ dàng… Công cụ này dùng để phát triển trình ứng dụng ASP.NET và hỗ trợ HTML, CSS and JavaScript
- Class designer: Đây là công cụ dùng để thực thi và chỉnh sửa lớp Nó có thể
dùng mã C# và VB.NET …
- Data designer: Đây là công cụ dùng để chỉnh sửa một cách sinh động, linh hoạt
các lược đồ dữ liệu, bao gồm nhiều loại lược đồ, liên kết trong và ngoài
- Mapping designer: Đây là công cụ tạo các mối liên hệ giữa sơ đồ dữ liệu và
các lớp để quản lý dữ liệu một cách hiệu quả hơn
2.3 Tổng quan về kiến trúc ADO.NET
2.3.1 Giới thiệu
ADO.NET (ActiveX Data Object for NET Framework) là một công nghệ truy cập cơ sở dữ liệu được phát triển với Microsoft, có thể truy cập bất cứ loại nguồn dữ liệu (datasource) nào Đây là một tập hợp những lớp hướng đối tượng, cung cấp một tập hợp phong phú các cấu kiện dữ liệu (data component) cho phép tạo ra những ứng dụng
cơ sở dữ liệu có hiệu năng cao, mức độ tin dùng tốt và có thể dễ dàng tăng quy mô theo thời gian trong một môi trường ứng dụng client-server cũng như môi trường phân tán (distributed) trên Internet/Intranet
Trên một mô hình ADO.NET, các ứng dụng sẽ kết nối về nguồn dữ liệu khi đọc
Trường Đại học Kinh tế Huế